1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)

128 510 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 2,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Nguyên Duy Ý

TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA THIẾU NIÊN

MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Võ Nguyên Duy Ý

TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA THIẾU NIÊN

MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Kết quả thu được trong đề tài là trung thực, chưa từng được công bố ở đề tài khác

Người thực hiện

Trang 4

Để thuận lợi hoàn thành đề tài “Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai” tôi đã nhận được sự giúp

đỡ tận tình từ phía quý ban lãnh đạo, quý thầy cô và các bạn

Đầu tiên, tôi xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm khoa Tâm lý học cùng quý thầy cô phòng Sau đại học Trường ĐH Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình hướng dẫn cho tôi những kiến thức, kỹ năng cơ bản để thực hiện đề tài

Xin chân thành tri ân Ban giám hiệu, quý thầy cô và các bạn học sinh trường trung học cơ sở Lê Quý Đôn, Nguyễn Trãi, Ngô Quyền đã tạo rất nhiều điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ trong quá trình khảo sát thực trạng đề tài nghiên cứu

Đồng hành cùng tôi từ khi bắt đầu đến lúc hoàn thành đề tài, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Giảng viên hướng dẫn đề tài – Tiến sĩ Trần Thị Phương đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết chỉ dẫn nghiên cứu, góp ý và động viên tôi hoàn thành tốt đề tài

Cũng xin chân thành cám ơn các anh chị học viên, các bạn cao học khóa 26, ngành Tâm lý học Trường ĐH Sư Phạm thành phố Hồ Chí Minh đã ủng hộ tinh thần

và nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành đề tài bằng tất cả tâm huyết và năng lực của mình nhưng không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế về mặt kiến thức Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy cô, anh chị, các bạn để đề tài được hoàn thiện tốt hơn

Xin chân thành cám ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 09 năm 2017

Trang 5

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA THIẾU NIÊN 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.2 Cơ sở lý luận về tự nhận thức bản thân của thiếu niên 15

1.2.1 Các khái niệm công cụ 15

1.2.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của thiếu niên 38

1.2.3 Đặc điểm tự nhận thức bản thân của thiếu niên 41

1.2.4 Nội dung tự nhận thức bản thân của thiếu niên 43

1.2.5 Vai trò của tự nhận thức bản thân đối với thiếu niên 48

1.2.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tự nhận thức bản thân của thiếu niên 49

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA THIẾU NIÊN MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THỊ XÃ LONG KHÁNH, TỈNH ĐỒNG NAI 52

2.1 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 52

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 58

2.3 Một số biện pháp nâng cao tự nhận thức bản thân của thiếu niên 88

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

STT KÍ HIỆU TÊN BẢNG TRANG

1 Bảng 2.1 Thông tin khách thể khảo sát 52

2 Bảng 2.2 Bảng tiêu chí và thang đánh giá tự nhận thức

3 Bảng 2.3 Mức độ quy đổi tương ứng điểm trung bình 57

4 Bảng 2.4 Các đặc điểm bên ngoài được thiếu niên

5 Bảng 2.5 Đặc điểm bên ngoài được thiếu niên quan

8 Bảng 2.8 Mong muốn hiện tại của thiếu niên 64

9 Bảng 2.9 Hứng thú hiện tại của thiếu niên 65

10 Bảng 2.10 Hình mẫu thiếu niên muốn vươn tới trong

11 Bảng 2.11 Mức độ tự nhận thức bản thân của thiếu niên

12 Bảng 2.12 Sự tham khảo ý kiến của cha mẹ với thiếu

13 Bảng 2.13 Tự nhận thức của thiếu niên về vai trò trong

Trang 7

17 Bảng 2.17

18 Bảng 2.18 Tự nhận thức của thiếu niên về trách nhiệm

19 Bảng 2.19 Mức độ tự nhận thức bản thân của thiếu niên

về vị thế trong các mối quan hệ 78

20 Bảng 2.20 Mức độ tự nhận thức bản thân của thiếu niên 79

thiếu niên trên phương diện học lực 84

25 Bảng 2.25 Đối tượng thiếu niên thường tâm sự 85

26 Bảng 2.26 Đối tượng thiếu niên vâng lời 86

27 Bảng 2.27 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự nhận thức

Trang 8

STT KÍ HIỆU TÊN BIỂU ĐỒ TRANG

1 Biểu đồ 2.1

Tự nhận thức bản thân của thiếu niên về

2 Biểu đồ 2.2

Thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tự đánh giá mức độ tự nhận thức bản thân

80

Trang 9

Tự nhận thức đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Nhờ vào quá trình tự nhận thức, cá nhân thấu hiểu chính mình, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển, hoàn thiện nhân cách Theo Carl Roger, con người luôn có

xu hướng nhận ra mình (nhận ra khả năng tốt nhất của bản thân), vì vậy động lực của

sự phát triển nhân cách chính là khuynh hướng hiện thực hóa bản thân

“Tôi là ai? Tôi có thể làm được điều gì? Tôi có điểm mạnh, điểm yếu như thế nào?” là câu hỏi được rất nhiều người đặt ra Tiến sĩ Joyce Brothers cho rằng: “Nhận thức về bản thân của một người là cơ sở nhân cách của người đó Nó ảnh hưởng đến mọi phương diện đời sống của con người: khả năng học hỏi, khả năng trưởng thành và thay đổi, sự nghiệp và bạn đời Không quá đáng khi nói rằng, nhận thức đúng về bản thân là sự chuẩn bị khả dĩ và tốt nhất cho những thành công trong cuộc sống” [62] Tự nhận thức bản thân càng rõ ràng, con người càng có khả năng xác định chính xác giá trị của bản thân Ngoài ra, tự nhận thức bản thân còn xác định rõ những ưu điểm, khuyết điểm, từ đó con người khám phá những khả năng tiềm ẩn trong các lĩnh vực khác nhau Đồng thời, chúng ta sẽ học cách sống tích cực hơn, tránh xa lối sống tiêu cực, biết rõ đâu là điểm dừng tốt nhất cho bản thân và đặc biệt biết tự đặt ra những

Trang 10

mục tiêu thiết thực phấn đấu cho tương lai sau này

Tuổi thiếu niên là một giai đoạn phát triển tâm lý đầy biến động và diễn ra sự cải tổ rất mạnh mẽ về cơ thể cũng như sinh lý [43] Thời điểm cuối tuổi nhi đồng, bước sang tuổi thiếu niên, sự tự ý thức mới được hình thành và bộc lộ rõ nét với đầy đủ cấu trúc

và ý nghĩa của nó [43] Trên cơ sở đó, tự nhận thức về bản thân của thiếu niên cũng được hình thành và phát triển mạnh mẽ Đây là giai đoạn thiếu niên có được sự hiểu biết nhất định về bản thân như: đặc điểm hình dáng, tính cách, thói quen, thái độ, ý kiến, suy nghĩ, cảm xúc, nhu cầu, điểm tích cực và hạn chế của bản thân cũng như vai trò trong các mối quan hệ xã hội Chính sự hiểu biết này tạo nền tảng cho sự phát triển của thiếu niên ở giai đoạn tiếp theo, đồng thời cũng là bước đầu tạo điều kiện cho thiếu niên định hướng nghề nghiệp trong tương lai

Từ trước đến nay đã có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề tự ý thức và tự nhận thức bản thân trên nhiều đối tượng Tuy nhiên, các nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân một cách hệ thống, cụ thể còn hạn chế, sự tự nhận thức chỉ được đề cập như

là một trong những nội dung thành phần khi nghiên cứu về sự tự ý thức hay tự đánh giá Đặc biệt, sự tự nhận thức bản thân ở lứa tuổi thiếu niên vẫn còn đang bỏ ngỏ trong khi rõ ràng ở lứa tuổi thiếu niên sự tự nhận thức phát triển rất đáng chú ý

Thị xã Long Khánh tỉnh Đồng Nai là một trong những địa phương đang có sự phát triển mạnh mẽ với nhiều thay đổi, được xác định là hạt nhân của vùng đô thị - công nghiệp ở cực đối trọng phía Đông của Vùng, sẽ trở thành đô thị loại II trong tương lai không xa Như vậy, với điều kiện sống ngày càng được nâng cao, nhiều điều kiện thuận lợi để học tập và phát triển thì sự tự nhận thức bản thân của thiếu niên có điểm

gì nổi bật?

Với những trăn trở đó, người nghiên cứu nhận thấy sự cần thiết để tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường trung học cơ sở thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai”

2 Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng tự nhận thức bản thân của thiếu niên ở một số trường trung học

cơ sở (THCS) thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nâng cao tự nhận thức bản thân của thiếu niên

Trang 11

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Sự tự nhận thức bản thân của thiếu niên

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát thực trạng tự nhận thức bản thân của học sinh một số trường THCS thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai với nội dung cụ thể là tự nhận thức

về hình thức bên ngoài, về thuộc tính điển hình của nhân cách và vị thế trong các mối quan hệ

4.2 Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tài tập trung khảo sát:

+ 34 học sinh lớp 6 và 52 học sinh lớp 9 trường THCS Nguyễn Trãi (nội ô thị xã) + 59 học sinh lớp 6 và 60 học sinh lớp 9 trường THCS Lê Quý Đôn (vùng ven thị xã)

+ 47 học sinh lớp 6 và 66 học sinh lớp 9 trường THCS Ngô Quyền (ngoại ô thị xã)

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tự nhận thức bản thân của thiếu niên

5.2 Khảo sát thực trạng tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường THCS thị

xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng Từ đó đề xuất một số biện pháp nâng cao tự nhận thức bản thân của thiếu niên

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Sự tự nhận thức bản thân của thiếu niên một số trường THCS thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai ở mức trung bình

- Có sự khác biệt về sự tự nhận thức bản thân giữa thiếu niên nam và nữ, giữa thiếu niên lớp 6 và lớp 9 một số trường THCS thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai

Trang 12

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Đề tài tiếp cận vấn đề nghiên cứu theo hướng tiếp cận biện chứng, hướng tiếp cận

hệ thống – cấu trúc, hướng tiếp cận nhân cách và hướng tiếp cận thực tiễn

+ Hướng tiếp cận biện chứng

Việc nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của thiếu niên được phân tích dưới góc độ duy vật biện chứng và được xem xét trong mối liên hệ với thế giới khách quan bên ngoài

+ Hướng tiếp cận hệ thống – cấu trúc

Tất cả các vấn đề được nghiên cứu trong đề tài đều được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau, có ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau

+ Hướng tiếp cận nhân cách

Công tác nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân của thiếu niên được nhìn nhận theo định hướng phát triển và hoàn thiện nhân cách tổng thể, hoàn chỉnh

+ Hướng tiếp cận thực tiễn

Việc nghiên cứu trong đề tài sẽ sử dụng những cứ liệu và số liệu từ thực tiễn để khảo sát thực trạng tự nhận thức bản thân của thiếu niên

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phân tích, tổng hợp và khái quát hóa những tài liệu có liên quan đến đề tài để xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

- Xác định khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan: ý thức, tự ý thức, tự nhận thức bản thân, tự nhận thức bản thân của thiếu niên

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Trang 13

quả thăm dò mở từ HS để thiết kế bản khảo sát

+ Bước 2: Phát bản khảo sát thăm dò thử nghiệm đến 1 nhóm học sinh để lấy ý kiến chỉnh sửa phù hợp

+ Bước 3: Hoàn thiện bản khảo sát chính thức

+ Bước 4: Phát bản khảo sát chính thức và thu số liệu

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

* Mục đích nghiên cứu

Phương pháp này được sử dụng để điều tra sâu một số trường hợp tiêu biểu nhằm thu thập thông tin liên quan đến đề tài một cách trực tiếp Ngoài ra, phương pháp này còn được dùng để đánh giá mức độ trung thực trong việc trả lời bảng khảo sát của khách thể

* Cách thực hiện

- Liên hệ với khách thể khảo sát

- Nêu mục đích, lý do và tính bảo mật thông tin để xin sự đồng thuận phỏng vấn

- Tiến hành phỏng vấn từ các ý trả lời tiêu biểu của khách thể trong phiếu khảo sát

* Cách thực hiện

Đi thực tế một số trường THCS thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai và quan sát học sinh trong một số hoạt động: học tập, vui chơi…

7.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Phần mềm SPSS phiên bản 16.0 sẽ được dùng để xử lý các dữ kiện thu được, phục

vụ cho việc phân tích số liệu cũng như đảm bảo tối đa yêu cầu định lượng và tính khách quan trong quá trình nghiên cứu

Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu thu được từ phiếu khảo sát và

Trang 14

phân tích chúng theo các nhiệm vụ nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng, biểu đồ

Như vậy, quá trình nghiên cứu có sự phối hợp đồng bộ các phương pháp trên dựa trên nguyên tắc đảm bảo tính khách quan, kết hợp tính hài hòa giữa nghiên cứu định tính và định lượng Các phương pháp cụ thể kết hợp thành hệ thống phương pháp có

sự hỗ trợ, bổ sung cho nhau, tạo độ tin cậy về số liệu và các nhận xét, kết luận từ số liệu nghiên cứu

Trang 15

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ TỰ NHẬN THỨC BẢN THÂN CỦA THIẾU NIÊN

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới

Để nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân, trước tiên chúng ta cần phải đề cập đến những nghiên cứu về vấn đề ý thức và tự ý thức của con người

Tâm lý học duy tâm xem ý thức như một cái gì đó ở ngoài tâm lý (siêu tâm lý), khép kín một cách thần bí Tâm lý học duy tâm, tâm lý học hành vi cổ điển do J Watson sáng lập đã loại trừ ý thức ra khỏi đối tượng nghiên cứu của trường phái này Mặc dù sau này các nhà tâm lý học hành vi mới như E.C.Tolman, B.F Skinner đã phần nào nhận ra rằng trong nghiên cứu hành vi không thể không tính đến ý thức Song, về bản chất những nhà tâm lý học này cũng chỉ mới tạo thêm một số yếu tố làm phức tạp thêm công thức S - R, chứ chưa tạo ra một bước tiến mới về chất, chưa xem

ý thức là vấn đề mấu chốt khi nghiên cứu hành vi con người [23]

Khác với chủ nghĩa hành vi, phân tâm học do S Freud sáng lập lại cho rằng, trong đời sống tâm lý, ý thức chỉ là một phần rất nhỏ bé so với cái bản năng, cái vô thức (thuyết tảng băng trôi) Phân tâm học đi đến khẳng định động lực của đời sống tâm lý

và sự phát triển nhân cách con người nằm ở tầng sâu vô thức Với cách tiếp cận như vậy nên các nhà phân tâm học đã tập trung nghiên cứu vô thức mà xem nhẹ các vấn

đề về ý thức cũng như vai trò của nó trong đời sống con người [40]

Đầu thế kỷ XX, cùng với sự ra đời của tâm lý học Mác - xít được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử thì vấn đề ý thức, tự

ý thức mới dần được làm sáng tỏ và nghiên cứu triệt để [40]

Những công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô, đứng đầu là L.X.Vugotxki, đã chỉ ra rằng ý thức cũng như các hiện tượng tâm lý khác, là sự phản ánh thế giới khách quan vào não người, chứ không phải cái gì huyền bí vốn có từ bên trong con người phát ra hay do một đấng siêu nhiên nào đó sinh ra rồi “nhập” vào con người Thành tựu này đã đặt tiền đề cho hàng loạt công trình nghiên cứu tiếp theo

về ý thức và tự ý thức Các công trình của A.N.Leonchiev, V.A.Petrovxki,

Trang 16

B.Ph.Lomov, K.K.Platonov, V.V.Stolin, I.I.Chetxnocova đã làm sáng tỏ các khái niệm, cấu trúc, chức năng cũng như sự hình thành và phát triển ý thức, tự ý thức [10], [13], [23]

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu sâu hơn về tự ý thức như:

Nhà tâm lý học người Đức, A.Pfender, đầu thế kỷ XX đã xây dựng khái niệm tự ý thức từ sự phân biệt “Cái tôi” và tự ý thức Theo ông, tất cả các hiện tượng tâm lý là cảm xúc trực tiếp đồng nhất với ý thức, nhưng ý thức không được hiểu là sự phản ánh

mà như cái bên trong có sẵn Chủ thể tâm lý hình thành khả năng tự nhận thức về bản thân mình, hình ảnh của chính mình, hình ảnh này có hạt nhân và ngoại biên Hạt nhân gồm có cuộc sống quá khứ của con người, ý thức về những khả năng hành động khác nhau Ngoại biên gồm những gì nằm ngoài tâm lý như: quần áo, thân thể, tài sản Khi chính hình ảnh đó của chủ thể tâm lý trở thành đối tượng, nội dung của ý thức cụ thể, xuất hiện ý thức tâm lý đặc biệt là tự ý thức [21] Do đó, tự ý thức trong quan niệm của A.Pfenden giống như là màn ảnh, trên đó phóng chiếu biểu tượng về bản thân của chủ thể tâm lý

Cùng nghiên cứu về tự ý thức, GS Philippe Rochat, thuộc khoa Tâm lý học, Đại học Emory, Mỹ, đã có công trình về “Năm mức độ tự ý thức mà trẻ bộc lộc ở những năm đầu đời” [56] Trong đó, ông đã phân tích năm mức độ tự ý thức của trẻ gồm có: Mức 0: Sự hỗn loạn; Mức 1: Sự khác biệt; Mức 2: Sự định vị; Mức 3: Sự nhận ra; Mức 4: Sự bền vững; Mức 5: Sự tự ý thức Thông qua các bài tập thí nghiệm trên trẻ

ở các độ tuổi từ 0 đến 5 tuổi với gương soi, tác giả đã khẳng định mức độ của tự ý thức xuất hiện theo thứ tự thời gian, tương ứng với độ tuổi của trẻ Theo sự phát triển lứa tuổi, sự tự ý thức luôn luôn biến đổi ở các đối tượng có sự trải nghiệm khác nhau cho đến khi chết đi Do đó, khi nghiên cứu về sự tự ý thức, tác giả đã rất xem trọng yếu tố trải nghiệm mà bỏ qua các yếu tố liên quan đến đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ, với vai trò là cơ sở

Nhà tâm lý học Pháp, P.Janet, đã có bước tiến đáng kể trong sự hiểu biết bản chất của tự ý thức Quan niệm của Janet xuất phát từ việc tự thừa nhận tâm lý con người bị chế ước bởi quá trình tác động qua lại của xã hội Trong hoạt động tập thể và giao tiếp con người nhập tâm những phương thức hành vi, quan hệ, thái độ đối với thế giới

Trang 17

bên ngoài của người khác Những phương thức hành vi được nhập tâm đó sẽ thể hiện thành phương thức hành vi của con người đó Quan điểm của P.Janet về tự ý thức, như thuộc tính cơ bản của nhân cách được hình thành trong hệ thống các mối quan hệ

xã hội phức tạp Quan điểm đó đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển quan niệm duy vật về bản chất của tự ý thức [21]

Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu nhằm phân biệt khái niệm “Tự nhận thức”

và “Tự ý thức” trong quá trình hình thành nhân cách

Công trình nghiên cứu của S Franz cho rằng tự nhận thức là một thành phần của

tự ý thức Tự nhận thức là quá trình nhận thức hướng vào chính bản thân mình cùng với kết quả của quá trình đó S Franz khẳng định rằng quá trình tự nhận thức phong phú và phức tạp, nó được thực hiện trong những quá trình thành phần Các quá trình thành phần đó liên quan chặt chẽ với nhau, chỉ tách ra một cách tương đối về mặt lý thuyết [43]

Trong công trình “Vấn đề tự ý thức trong tâm lý học” (1977), I.I.Trexnôcôva đã

đưa ra các nguyên tắc duy vật biện chứng của việc phân tích tự ý thức nói chung và tự nhận thức nói riêng.Tự ý thức là quá trình tâm lý phức tạp, bản chất của nó chứa đựng trong sự nhận thức của cá nhân các “hình ảnh” của bản thân trong những điều kiện hoạt động, hành động khác nhau, trong mọi mối quan hệ qua lại với người khác Bản chất của quá trình tự ý thức thể hiện trong sự liên kết những hình ảnh đó vào một cấu tạo thống nhất trọn vẹn - biểu tượng, sau đó vào khái niệm “Cái tôi” của chính mình như một chủ thể khác với những chủ thể khác I.I.Trexnôcôva cho rằng tự nhận thức

là một thành phần trong cấu trúc của tự ý thức, trong cấu trúc đó gồm 3 mặt thống nhất: nhận thức (tự nhận thức), cảm xúc-giá trị (thái độ đối với bản thân) và hành động - ý chí, điều khiển (tự điều chỉnh, điều khiển) Trong tác phẩm này, I.I.Trexnôcôva đã phân tích quá trình phát triển tự ý thức trong sự phát triển cá thể, phân tích bản chất ba mặt của ý thức [21]

Trong tác phẩm “Hoạt động, ý thức, nhân cách” A.N.Lêônchiep đã đề cập đến vấn

đề tự ý thức của con người Ông nói: “Cũng giống như bất cứ một sự nhận thức nào

sự tự nhận thức bản thân cũng bắt đầu từ việc tách bạch ra những thuộc tính bên ngoài và là kết quả của sự so sánh và khái quát hóa, sự tách bạch ra cái bản chất”

Trang 18

Theo ông cần phải phân biệt giữa hiểu biết về bản thân và tự ý thức về mình “Ngay

từ hồi còn rất bé người ta cũng đã tích lũy được nhiều hiểu biết, những biểu tượng về bản thân Còn ý thức bản ngã, ý thức về cái tôi của mình là kết quả, là sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách” [26]

Khi nghiên cứu về tâm lý của trẻ em mẫu giáo, nhà tâm lý học V X Mukhina cũng đã đề cập đến sự tự ý thức của trẻ ở lứa tuổi này Theo ông, khi bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chỉ ý thức được chính sự kiện là nó đang tồn tại, mà nó chưa thực

sự hiểu biết gì về bản thân mình, về các phẩm chất của mình Cả trẻ mẫu giáo nhỏ tự gán cho mình tất cả những phẩm chất tốt được người lớn khen ngợi, thậm chí thường không biết những phẩm chất đó như thế nào, cũng chưa có một ý kiến đúng đắn và có

cơ sở nào về bản thân mình Trong khi đó trẻ mẫu giáo lớn ý thức được khá đúng đắn những ưu điểm và những thiếu sót của mình, tính tới thái độ của người xung quanh đối với chúng [33]

Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân trong quá trình hình thành nhân cách như:

Nhà tâm lý học S.L Rubinxtein cho rằng dấu hiệu đầu tiên của quá trình hình thành nhân cách là sự xuất hiện sự tự nhận thức bản thân

William Jame, nhà tâm lý học Mỹ, cũng đã nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân thông qua tìm hiểu khái niệm về “Cái tôi” Ông chia “Cái tôi” trong quá trình phát triển của cá nhân thành ba loại là: “Cái tôi vật chất”, “Cái tôi xã hội” và “Cái tôi tâm hồn” Trong đó khái niệm về “Cái tôi xã hội”, ông chú ý đến mối quan hệ giữa cá nhân với những người xung quanh qua việc đưa ra ví dụ: Nếu khi ta đến nơi nào đó

mà không không có ai xung quanh, không ai trả lời khi ta nói, hoặc không ai quan tâm đến việc ta làm, và nếu mỗi người ta gặp đều hành động như không có sự tồn tại của ta thì chúng ta sẽ cảm thấy không thoải mái, dễ nổi nóng Ông cho rằng “Cái tôi

xã hội” của một người nằm ở việc người khác nhận ra và có hình ảnh về anh ta như thế nào [54, tr 294] James cũng nói đến “Cái tôi chủ thể” và “Cái tôi khách thể” như

là hai mặt của “Cái tôi” khách thể Trong đó, “Cái tôi chủ thể” là “Cái tôi” mà bản thân cá nhân nhận thức được chính mình [30]

Ngoài các nghiên cứu về sự tự nhận thức bản thân kể trên, còn có một số công

Trang 19

trình khác nghiên cứu sâu hơn về sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em của một số tác giả sau:

Nhà tâm lý học người Mỹ, D.Mead, cho rằng: “Trong mối tương tác với những

người khác trong quá trình hoạt động, mỗi con người trở thành khách thể nhận thức của chính mình” Ông cho rằng tự nhận thức bản thân không thực hiện trực tiếp mà

gián tiếp, qua thái độ của cá nhân đó với những người khác trong nhóm người mà người đó đang thuộc về hoặc với toàn bộ nhóm nói chung Khi nghiên cứu sâu hơn về

sự tự nhận thức bản thân ở trẻ em, ông cho rằng nguồn gốc hình thành tự nhận thức bản thân là trò chơi của trẻ Đầu tiên đó là những trò chơi lặp lại hành động của người lớn.Trong trò chơi này trẻ thực hiện những vai xác định Sau đó là trò chơi có luật với một hay nhiều người khác lập lại quan hệ của những người xung quanh quen thuộc gần gũi với trẻ Trong loại trò chơi này trẻ nắm được hành vi của chính mình, ở trẻ hình thành biểu tượng sơ đẳng về bản thân, về khả năng của mình và những phẩm chất nhân cách riêng lẻ Trẻ có được biểu tượng, rằng nó có thể phục tùng luật chơi hay không và có thể giữ được trong bao lâu, có thể có hay không hành động phù hợp với hành động của người khác Như vậy, có thể nói trong những trò chơi đó bắt đầu hình thành ở trẻ biểu tượng về bản thân và hình thành cơ sở của tự nhận thức [21] Năm 1978, Lewis và Brooks đã có một nghiên cứu trên trẻ sơ sinh để chứng minh rằng sự tự nhận thức bản thân không phải có sẵn khi trẻ vừa sinh ra Họ đánh phấn hồng lên mũi của những đứa trẻ và đặt chúng trước gương Những đứa trẻ từ 9 đến 12 tháng tuổi để ý và giao tiếp với người trong gương mà không quan tâm gì đến vết phấn trên mũi của mình Trong khi đó những trẻ khoảng 18 tháng tuổi lại rất tò mò nhìn mình trong gương, rồi chạm vào vết phấn hồng trên mũi mình Chúng nhận ra được người trong gương chính là mình và nhận ra đặc điểm khác thường của mình [52]

Tóm lại, tự nhận thức bản thân được các nhà khoa học xem xét như một thành phần của tự ý thức hoặc được đề cập trong quá trình tìm hiểu về khái niệm “cái tôi”, trong khi đó những đề tài nghiên cứu chuyên sâu về tự nhận thức bản thân vẫn còn rất hạn chế Hơn nữa, khách thể nghiên cứu của sự tự nhận thức bản thân được quan tâm chủ yếu là trẻ em, còn những lứa tuổi khác chưa thực sự được chú ý

Trang 20

1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam

Trước đây ở Việt Nam vấn đề ý thức, tự ý thức còn ít được nghiên cứu cả về mặt

lý luận hay nghiên cứu thực nghiệm - ứng dụng Từ những thập niên cuối của thế kỷ

XX, các nhà tâm lý học Việt Nam đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về vấn đề này Chúng ta có thể kể đến các công trình nghiên cứu lý luận của các tác giả như: Lê Khanh với “Bản chất của ý thức” (2003), Đỗ Long với đề tài “Về vấn đề tự ý thức trong tâm lý học tộc người” (2005), Trần Ninh Giang “Vấn đề ý thức, tự ý thức trong tâm lý học” (2005), Vũ Dũng “Ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc và ý thức quốc gia” (2009),… Các nghiên cứu đã đi sâu vào các vấn đề lý luận, phương pháp luận về bản chất, cấu trúc của ý thức, tự ý thức trong quá trình phát triển tâm lý con người Bên cạnh đó, các vấn đề về ý thức, tự ý thức trong tâm lý tộc người, ý thức môi trường cộng đồng, ý thức quốc gia dân tộc cũng được tiến hành nghiên cứu [40]

Các công trình nghiên cứu thực tiễn về ý thức và tự ý thức ở nước ta hiện nay cũng bắt đầu được quan tâm Có thể kể ra như sau:

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thạc về tự ý thức của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi được tiến hành trên 326 trẻ tại các trường mẫu giáo ở Hà Nội năm học 1998 – 2000 Kết quả nghiên cứu cho thấy tự ý thức của trẻ 5 - 6 tuổi thể hiện cao ở tất cả các mặt;

đa số trẻ có mức độ đánh giá phù hợp cao Tự ý thức của trẻ phát triển không đồng đều ở các mặt tự ý thức và ở từng cá nhân trẻ Đồng thời, đề tài cũng đi đến khẳng định tự ý thức của trẻ em mẫu giáo mang tính trực quan [40]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị về tự ý thức nghề nghiệp của sinh viên năm 2010 trên 320 sinh viên năm thứ ba, thứ tư và thứ năm của 3 trường đại học kỹ thuật trên địa bàn Hà Nội bao gồm: Bách khoa, Xây dựng, Thủy lợi Kết quả cho thấy

6 thành tố tự nhận thức và tự nhận thức nghề nghiệp đã được xác định trên cơ sở quan điểm rằng tự ý thức là công cụ tự điều chỉnh của chủ thể hoạt động Các số liệu điều tra trên sinh viên cũng chỉ ra sự phát triển cao hơn của tự ý thức nghề nghiệp ở những sinh viên tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác có liên quan đến nghề nghiệp tương lai [40]

Khi nghiên cứu về các đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ em, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng tự ý thức của trẻ được hình thành từ cuối tuổi nhà trẻ, phát triển trong

Trang 21

suốt tuổi mẫu giáo Tác giả cũng khẳng định vai trò to lớn của khả năng tự ý thức đối với các hoạt động vui chơi học tập của trẻ ở lứa tuổi mầm non [43]

Tác giả Ngô Công Hoàn nghiên cứu sự hình thành phát triển đặc điểm tự ý thức của trẻ lứa tuổi mẫu giáo Theo tác giả tự ý thức là hạt nhân quan trọng trong nhân cách trẻ, đây là mầm mống, là tiền đề để gia đình, xã hội dựa vào đó biến quá trình giáo dục thành tự giáo dục của trẻ và người lớn sau này [21]

Các tác giả không chỉ khẳng định vai trò của việc hình thành và phát triển khả năng tự ý thức cho trẻ mà còn chỉ ra rằng: khả năng tự ý thức là một điều kiện cần thiết cho trẻ phát triển hoàn thiện nhân cách ở lứa tuổi mầm non và trường phổ thông sau này

Công trình nghiên cứu “Tự nhận thức bản thân của học sinh lớp 4, 5 tại trường tiểu học Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Ngọc Bảo Trâm, tiến hành nghiên cứu trên 100 học sinh và kết quả cho thấy tự nhận thức của học sinh lớp 4, lớp 5 về các đặc điểm hình thức bên ngoài của mình và tính cách, năng lực học tập ở mức độ trên trung bình [43]

Ngoài các công trình nghiên cứu về tự ý thức, tự nhận thức còn có những nghiên cứu về sự tự đánh giá như:

Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Đẹp, 2007, “Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh” trên 234 sinh viên ba trường Đại học tại TP.HCM là Đại học Sư Phạm, Đại học Kinh Tế và trường Đại học dân lập Văn Hiến Đề tài đã kết luận là tự đánh giá của sinh viên ở mức trung bình trong đó

tự đánh giá sự “quan tâm của gia đình” là cao nhất [6]

Đề tài “Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh” của Cao Hải An năm 2010, tiến hành nghiên cứu trên 200 sinh viên, 20 cán bộ Đoàn thanh niên và Hội sinh viên, 20 giáo viên chủ nhiệm Kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh

có mức độ đánh giá về bản thân ở mức trung bình Sự đánh giá về bản thân của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh có mối tương quan nhất định với kết quả học tập của sinh viên ở trường [58]

Nghiên cứu của Đỗ Ngọc Khanh về “Tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở ở

Trang 22

Hà Nội”, được thực hiện nghiên cứu 471 em học sinh đại diện cho 5 trường THCS: Chu Văn An, Giảng Võ, Nguyễn Trãi, Phương Liệt và Huy Vãn tại 4 quận nội thành Hà Nội Công cụ nghiên cứu là thang đo tự đánh giá được sử dụng rộng rãi nhất trong thời điểm hiện tại “Perceived compentence scale for children” được Susan Harter xây dựng năm 1979 Thang đo bao gồm 5 yếu tố: khả năng học tập, cảm xúc, khả năng giao tiếp xã hội, các hành vi đạo đức và thể chất phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS ở Việt Nam Cuối cùng tác giả đã kết luận rằng học sinh THCS ở Hà Nội

có mức độ tự đánh giá tổng thể ở mức độ trung bình Nói chung, sự tự đánh giá về học tập, đạo đức, xã hội đạt mức trung bình cao Sự tự đánh giá về mặt thể chất ở mức trung bình, trong đó các em học sinh đánh giá sức khỏe tích cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân Sự tự đánh giá về cảm xúc đạt mức trung bình thấp Các em

có sự tự đánh giá về cảm xúc tiêu cực liên quan đến khía cạnh học tập, trong khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội [24]

Tác giả Bùi Thị Hồng Thắm với đề tài “Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí của học sinh THPT” năm 2010, nghiên cứu trên 275 học sinh của 3 trường: THPT chuyên Trần Hưng Đạo, THPT Phan Bội Châu, THPT dân lập Lê Lợi tại TP Phan Thiết Kết quả nghiên cứu tác giả đã khẳng định đa phần các em chưa có khả năng

tự đánh giá biểu hiện ở mối tương quan thấp giữa tự đánh giá phẩm chất ý chí với nhận thức và đánh giá của các bên thứ hai [40]

Đề tài “Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10-15 tuổi” do Văn Thị Kim Cúc thực hiện trên khách thể là 120 trẻ (60 nam - 60 nữ) ở một số trường THCS tại Hà Nội sử dụng thang do Florence Sordes - Adler, Gvvenaelle Lévêque, Nathalie Oubravrie, Claire Sa fort - Mottay Kết quả nghiên cứu của đề tài đã cho thấy ở thanh thiếu niên

10 - 15 tuổi, sự tự đánh giá bản thân bộc lộ tính tích cực ở lĩnh vực học đường thể hiện rõ khả năng đáp ứng thích hợp của các em vào hoạt động chủ đạo, vào các quan

hệ trong cuộc sống học đường ở lứa tuổi này [40]

Tác giả Lê Ngọc Lan đã nghiên cứu về tự đánh giá trong mối liên hệ với các yếu

tố bên trong của nhân cách, sự khác nhau về giới tính, tính chất của môn học ảnh hưởng tới sự đánh giá của cá nhân trong từng giai đoạn khác nhau [25]

Tác giả Bùi Hồng Quân đã nghiên cứu về “Kỹ năng tự đánh giá của thiếu niên

Trang 23

đang sống tại các trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”

trong luận văn Thạc sỹ Tâm lý học năm 2010 Vì tự đánh giá là mức độ cao của tự ý thức nên để có thể tự đánh giá, trước tiên trẻ phải tự nhận thức rõ các giá trị về mình Trong đề tài này, tác giả cũng rất chú ý phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự đánh giá của trẻ, đặc biệt là thầy cô và bạn bè tại trung tâm [39]

Nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Nho về “Sự tự đánh giá

của học sinh cuối cấp tiểu học” Tác giả có đề cập đến sự tự nhận thức bản thân của

học sinh lớp 4, lớp 5 với vai trò là cơ sở cho sự tự đánh giá của các em Tác giả có nhấn mạnh sự tự nhận thức bản thân của học sinh ở lứa tuổi này chưa ổn định và chịu

sự ảnh hưởng nhiều từ đánh giá của người khác, ở đây là thầy cô, bạn bè [44]

Như vậy, ở Việt Nam, vấn đề tự ý thức đã được rất nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu và có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị Tuy nhiên, đề tài tự nhận thức vẫn còn rất hạn chế, chủ yếu được đề cập như là một thành phần của tự ý thức hoặc chỉ là một nội dung trong các nghiên cứu về sự tự đánh giá Hơn nữa, các đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tự nhận thức trên đối tượng trẻ em, học sinh tiểu học còn lứa tuổi thiếu niên vẫn chưa được khai thác

1.2 Cơ sở lý luận về tự nhận thức bản thân của thiếu niên

1.2.1 Các khái niệm công cụ

1.2.1.1 Khái niệm ý thức

a Định nghĩa

A.N.Leonchiev, nhà tâm lý học người Nga nổi tiếng, khi bàn về ý thức - hình thức tâm lý cơ bản đặc trưng của con người, đã khẳng định tâm lý học con người nhất thiết phải là khoa học cụ thể về ý thức, vấn đề ý thức của con người phải là một bộ phận của đối tượng của tâm lý học [40, tr.15] Cũng chính vì thế mà trong nhiều thập kỉ qua, đã

có rất nhiều quan điểm về ý thức dưới những góc độ khác nhau:

Theo nghĩa thông thường, ý thức dùng để chỉ những thái độ hay ứng xử của con người mà họ nhận biết được tính chất hợp lý, đúng đắn dựa trên sự tuân thủ những quy định của pháp luật hay chuẩn mực, yêu cầu của các nhóm xã hội, cộng đồng Ý thức theo nghĩa này là có hiểu biết, tự giác và hành động phù hợp [16, tr.72]

Từ “ý thức” còn có thể được dùng với nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng,

Trang 24

ý thức thường được dùng đồng nghĩa với tinh thần, tư tưởng… (ý thức tổ chức, ý thức

kỷ luật…) Theo nghĩa hẹp, khái niệm ý thức được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người [41, tr.79]

Tuy nhiên, để nghiên cứu ý thức dưới góc độ khoa học, vấn đề ý thức trở thành một vấn đề gay cấn trong cuộc đấu tranh tư tưởng, trong đó cách tiếp cận duy vật tự nhiên đối lập với các quan điểm duy tâm Và các luận điểm của chủ nghĩa Mác có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vấn đề ý thức là những luận điểm cho rằng cấu trúc của ý thức có tính chất xã hội – văn hóa, hình thành trong quá trình lịch sử nhân loại, chịu tác động của các cấu trúc xã hội [5, tr 1031-1032] Theo quan điểm Triết học, ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản, đối lập với phạm trù vật chất: ý thức là tính thứ hai, có sau vật chất và do vật chất quyết định, ý thức là tồn tại được nhận thức Tâm lý học Mác – xít nghiên cứu quá trình hình thành ý thức trong quá trình phát triển cá thể

Theo quan điểm Triết học duy vật biện chứng, ý thức về mặt bản chất, là sự phản ánh

hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo; ý thức

là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan [40]

Dưới góc độ Tâm lý học, ý thức là hiện tượng tâm lý của con người cụ thể, là mức

độ phản ánh tâm lý cao nhất trong các hình thức phản ánh tâm lý Hiện thực khách quan tác động vào não, làm nảy sinh những hình ảnh tâm lý (phản ánh tâm lý) Hình ảnh tâm lý này lại trở thành đối tượng của sự phản ánh tiếp theo, phản ánh lần 2 (phản ánh lại những gì đã phản ánh) Như vậy, ý thức chính là phản ánh của phản ánh [16, tr.72]

Theo quan điểm của phân tâm học, ý thức là một trạng thái tỉnh thức với chức năng

quan sát, ghi nhận, cảm nhận, nhận định đối với các sự vật bên ngoài cái tôi và đối với các suy tư, cảm xúc và hình ảnh bên trong cái tôi Ý thức như thế có thể gọi là một quang năng nhận định và là một quang năng định hướng với bốn chức năng: chức năng cảm nhận, suy tư, đánh giá và trực kiến Thể hiện các chức năng nói trên, ý thức phải liên hệ với cái Tôi như chủ thể, như động lực, như đầu não, như trung tâm [22] Cũng theo quan điểm này, S Freud đã đề cập đến ý thức trong quan hệ giữa hệ thống

vô thức - ý thức trong đời sống tinh thần của con người Ông đưa ra nhân tố “Cái tôi” được ví như là cán cân giữa “cái ấy” và “cái siêu tôi”, nó luôn cố gắng xử lý sự bướng

Trang 25

bỉnh và nôn nóng của “cái ấy”, đối chiếu hành động của mình với hiện thực, giảm căng thẳng tâm lý và đồng thời đáp ứng với khát vọng thường xuyên vươn tới sự hoàn thiện của “cái siêu tôi” Từ việc phân tích các nhân tố trong hệ thông cấu trúc trong bộ máy tâm thần, Freud xem ý thức như một cái máy chiếu quét sáng trên sân khấu, những gì nằm ngoài vùng sáng nhưng vẫn trong tầm chiếu của nó sẽ trở thành tiềm ý thức, và

“cái tôi” có trách nhiệm điều khiển máy chiếu này [35]

Theo V.N.Miaxisep nghiên cứu về thái độ, coi ý thức là sự thống nhất của phản ánh thực tại và thái độ tích cực, có mục đích của con người đối với hiện thực khách quan

Theo E.V.Sorokhova, “Ý thức được đặc trưng bởi thái độ tích cực của con người đối với thực tại, với bản thân, với cử chỉ và hành vi, hoạt động của mình - hướng vào đạt mục đích đặt ra Ý thức là năng lực (khả năng của con người) hiểu thế giới xung quanh, các quá trình diễn ra trong đó, các tư tưởng, hành động và thái độ của mình đối với thế giới cũng như với chính bản thân mình” [40]

Theo K.K.Platonov cho rằng, ý thức là sự thống nhất của mọi hình thức nhận thức, trải nghiệm của con người và thái độ của họ đối với cái mà họ phản ánh - là sự thống nhất của tất cả các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý của con người như là một nhân cách

Theo X L.Rubinstein, coi ý thức - đó không chỉ là sự phản ánh, mà còn là thái độ của con người đối với xung quanh Ý thức là sự thống nhất giữa tri thức và trải nghiệm [10]

Cùng quan điểm trên, tác giả Nguyễn Văn Đồng trong “Tâm lý học phát triển”, đã

đưa ra khái niệm về ý thức dưới dạng ý thức xã hội là: nhận thức của cá nhân về suy nghĩ, động cơ, tình cảm và ứng xử của bản thân và của người khác [7]

Theo Phạm Minh Hạc thì ở một con người, ý thức là năng lực hiểu biết được các tri

thức về thực tại khách quan nói riêng mà người đó tiếp thu được và năng lực hiểu được thế giới chủ quan trong chính bản thân người đó

Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên định nghĩa ý thức là “mức độ cao của sự

phản ánh tâm lý, của khả năng tự điều chỉnh và chỉ có ở người như một sinh vật xã hội – lịch sử”

Trang 26

Theo Tâm lý học căn bản, không một thứ ngôn ngữ nào chỉ dùng một lời mà diễn

tả trọn vẹn ý nghĩa của ý thức, nhưng mọi ngôn ngữ đều có đủ lời lẽ để diễn tả bốn hiện tượng tuy riêng biệt nhưng đều liên hệ đến ý thức, đó là: hiện tượng tỉnh thức; các cảm giác về mặt cơ thể; các nhận thức có được nhờ thính giác, thị giác và các giác quan khác; suy nghĩ cân nhắc, đánh giá, ước muốn và tin tưởng Toàn bộ những điều nhận biết mà chúng ta gọi là ý thức cũng có thể có các trạng thái khác biệt nhau, tùy thuộc vào các cơ chế sinh lý khác nhau

Tóm lại, các tác giả đã đưa ra quan điểm khác nhau về ý thức, song có thể hiểu ý thức:

+ Là năng lực hiểu được các tri thức về thế giới khách quan và năng lực hiểu được thế giới chủ quan trong chính bản thân mình

+ Là sự thống nhất của tất cả các quá trình, trạng thái và thuộc tính tâm lý của con người với tư cách là một nhân cách

+ Là sự thống nhất của tất cả các hình thức nhận thức và trải nghiệm của con người cùng thái độ của người đó đối với cái được phản ánh

+ Là sự tích lũy và sử dụng thông tin về xung quanh và về chính bản thân mình để giải quyết các vấn đề của cuộc sống [10]

Trong phạm vi đề tài, người nghiên cứu đồng quan điểm với định nghĩa “Ý thức là

hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được những tri thức mà con người tiếp thu được”

[16, tr.72]

Phản ánh tâm lý cho con người nhận thức (hiểu biết) về hiện thực xung quanh Từ những hiểu biết này, con người sàng lọc và suy luận những hiểu biết đã có để đi đến những hiểu biết cao hơn, rộng hợn, đầy đủ và bao quát hơn… Như vậy, ý thức là hiểu biết của hiểu biết (nhận thức của nhận thức) [16, tr.72]

Trang 27

những hiện tượng tâm lý đang diễn ra trong chính bản thân mình Nói cách khác, có ý thức đồng nghĩa với có hiểu biết

Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới [41, tr.79]

Sự biểu thị thái độ

Trong ý thức, con người không chỉ có được sự hiểu biết mà qua đó còn thể hiện thái độ với thế giới xung quanh Đó là thái độ yêu hay ghét, sợ hay thích, đồng tình hay phản đối, chấp nhận hay chê bai… với những điều mà con người nhận thức được Như C Mác và Ph Ăngghen đã viết: “Ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại một thái độ nào đó đối với sự vật này hay sự vật khác, động vật không biết tỏ thái độ với sự vật nào cả” Sự biểu thị thái độ cũng là một trong những tiêu chí để đánh giá ý thức của con người

Như vậy, ý thức là chức năng cao nhất của tâm lý Ý thức tiếp nhận những thông tin trong môi trường và thông tin về bản thân, chọn lọc và biểu thị những rung cảm tương ứng, từ đó vạch ra kế hoạch hành động thích hợp, hiệu quả Với đặc diểm này, ý thức được coi là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi cao nhất của con người với thế giới [16, tr.73-74]

c Cấu trúc

Ý thức là một cấu trúc bao gồm nhiều thành phần trong mối quan hệ thống nhất với nhau làm nên nội dung của ý thức con người, bao gồm: mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt năng động của ý thức

Mặt nhận thức

Ý thức bao gồm quá trình nhận thức của con người về thế giới xung quanh với các mức độ nông sâu khác nhau

Trang 28

Quá trình nhận thức cảm tính cung cấp cho con người những hiểu biết đầu tiên về thế giới, đó là những hình ảnh trực quan, sinh động, phong phú Nhận thức cảm tính vừa là mối liên hệ ban đầu vừa là khởi nguồn của hiểu biết

Từ những hiểu biết ban đầu, con người phân tích, tổng hợp và khái quát để tìm ra quy luật tồn tại, phát triển của các sự vật, hiện tượng Đây là quá trình nhận thức lý tính, mang đến cho con người những hiểu biết sâu sắc về bản chất thế giới Nhận thức

Để giáo dục ý thức cho con người, cần phải giáo dục tổng hợp cả ba mặt: nhận thức, thái độ và hành động Thiếu nhận thức dẫn đến thái độ sai và hành động mù quáng, thiếu những rung cảm sẽ dẫn đến sự máy móc và mất đi động lực hành động, thiếu hành động thì nhận thức và thái độ sẽ trở nên vô nghĩa [16, tr.74-75]

d Các cấp độ

Ý thức

Ý thức vừa là khái niệm chung bao quát, vừa là một cấp độ đầu tiên như một trình

độ phản ánh tâm lý cao mà đặc trưng là: con người nhận thức được về thế giới khách quan, tỏ thái độ và có sự chủ tâm trong hành động, thể hiện ra bên ngoài qua những hành vi, thái độ được kiểm soát Ở cấp độ này, ý thức hướng vào đối tượng là thế giới xung quanh, là người khác để nhận thức, tỏ thái độ và hành động phù hợp

Theo Tâm lý học căn bản, cấp độ này còn được gọi là ý thức khách quan, vì chúng liên hệ đến những khía cạnh của ý thức có thể được chứng minh bởi người khác Chúng ta có thể nghiên cứu nhiều tiến trình ý thức khác nhau như chú ý, nhận thức và

Trang 29

ghi nhớ Chúng ta có thể suy đoán được tiến trình nhận thức căn cứ vào khả năng do con người vận dụng để giải quyết các vấn đề

Tự ý thức

Là mức độ phát triển cao của ý thức, nhưng khác với ý thức ở đối tượng mà nó hướng vào Lúc này, đối tượng của tự ý thức không còn là thế giới khách quan, thế giới bên ngoài chủ thể mà chính là bản thân chủ thể ấy

Ý thức chủ quan liên hệ đến các cảm nhận cá nhân riêng tư của chúng ta về thế giới xung quanh – tức là theo quan điểm của chúng ta về mọi vật Tuy nhiên nhận biết của chúng ta không phải là nhận biết về tự thân thế giới xung quanh mà chính là nhận biết

về cảm nhận của chúng ta khi tiếp xúc với thế giới ấy

Đây là mức độ cao của ý thức bởi vì nó dựa trên sự hình thành ý thức, đến một mức độ và khả năng làm chủ nhất định, con người mới có thể tách mình ra với tư cách vừa là chủ thể, vừa là khách thể của sự nhận thức, đánh giá, tỏ thái độ và hành động với chính mình [16, tr.75]

Ý thức nhóm, ý thức tập thể

Trong hoạt động và giao tiếp, mỗi cá nhân là thành viên của một nhóm, một tập thể nhất định Sự liên kết, gắn bó giữa các thành viên trong nhóm cũng như những quyền lợi, trách nhiệm của nhóm được phản ánh trong ý thức mỗi cá nhân Vì thế, cá nhân không chỉ nhận thức, tỏ thái độ với bản thân, với mọi người mà hơn nữa còn là với nhóm xã hội mà họ là thành viên Lúc này, con người đã hình thành ý thức tập thể, ý thức cộng đồng như: ý thức về gia đình, dòng họ, ý thức dân tộc, ý thức quê hương bản quán, ý thức về nghề nghiệp…

Ở cấp độ này, con người hành động không chỉ theo quan điểm, niềm tin, hứng thú riêng của mình nữa mà còn hành động với ý thức tập thể, vì lợi ích chung của các thành viên trong nhóm, đại diện cho danh dự của nhóm

Khi hành động với ý thức nhóm, con người có một niềm tin mãnh liệt, sự tự hào về một tổ chức, một tập thể, một dân tộc mà cố gắng phấn đấu hết sức mình, vượt lên trên khả năng và lợi ích của cá nhân

Tóm lại, ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được những tri thức mà con

Trang 30

người đã tiếp thu được [16, tr.72] Đặc điểm của ý thức là tính nhận thức, sự biểu thị thái độ và tính chủ định dự kiến hành vi Ý thức có ba cấp độ: ý thức, tự ý thức, ý thức nhóm và ý thức tập thể Trong đó, tự ý thức được xem là mức độ phát triển cao của ý thức

1.2.1.2 Khái niệm tự ý thức

a Định nghĩa

Trên phương diện Triết học duy vật biện chứng, tự ý thức được xem xét ở việc con

người tự tách mình ra khỏi thế giới khách quan, ý thức về bản thân mình trong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài, tự nhận thức về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác có tư duy, có các hành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội, nhận thức các cử chỉ, hành động, tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng lợi ích của mình Với vai trò là một hiện tượng tâm lý cá nhân, tự ý thức xuất hiện đồng thời với ý thức,

là cái phát sinh của ý thức nhưng thể hiện ở một giai đoạn phát triển cao hơn, giúp con người nhận rõ bản thân, tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra [40, tr.18]

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam, tự ý thức là: “Việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng của mình với tư cách là một nhân cách đang tư duy và hoạt động có ý thức Nhờ tự ý thức, con người tự tách mình khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó Tự ý thức hình thành không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ…” [55]

Trên phương diện Tâm lý học, như đã trình bày, tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, đối tượng của tự ý thức chính là bản thân của chủ thể Tự ý thức là một vấn

đề được nhiều nhà khoa học xem xét nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn với nhiều góc độ và cách nhìn nhận khác nhau:

- Tự ý thức là việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình về hiểu biết, phẩm giá, lợi ích, mục đích, lý tưởng… của mình với tư cách là một nhân cách đang tư duy và hoạt động có ý thức [52]

- Theo S Franz, tự ý thức là “ý thức về chính bản thân mình, là sự trở nên có ý

Trang 31

thức đối với những hiểu biết về bản thân, sự trở nên có ý thức về những xúc cảm riêng của bản thân” [8]

- Tương tự, A G Xpirkin cũng cho rằng “Tự ý thức là sự tự giác của con người về hành động cũng như kết quả hành động của bản thân mình, về tư tưởng, tình cảm, bộ mặt đạo đức, hứng thú, lý tưởng động cơ và hành vi Đó là sự đánh giá tổng thể về bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống” [51, tr.148-149]

- Tự ý thức theo P.R Chamata - là sự nhận thức của con người về bản thân trong những quan hệ của mình với thế giới bên ngoài và với những người khác

- Theo I.I Chetxnocova sự tự ý thức như là một quá trình phức tạp nhiều bậc trên

cơ sở các quá trình tâm lý: quá trình nhận thức, xúc cảm và ý chí [10]

- Khi xem xét nội dung của tự ý thức trong một cấu trúc tầng bậc mà bậc phát triển cuối cùng là tự đánh giá, L.S Kôn đã đi đến định nghĩa: Tự ý thức là một cấu trúc tâm

lý phức tạp bao gồm: thứ nhất, ý thức về tính đồng nhất của mình; thứ hai, ý thức về cái tôi của bản thân mình như là cơ sở của tính tích cực hoạt động; thứ ba, ý thức về những thuộc tính và phẩm chất tâm lý của mình và thứ tư là hệ thống xác định những ý kiến tự đánh giá về mặt đạo đức xã hội [38, tr 9]

Tiếp nối các quan niệm trên, các nhà nghiên cứu tâm lý học Việt Nam đã vạch ra nội dung của tự ý thức như sau:

Cùng với việc xác định tự ý thức là một dạng phát triển cao của ý thức một số tác giả đã xác định thành phần của tự ý thức bao gồm: “khả năng tự nhận thức về mình; tự xác định thái độ đối với bản thân, tự điều khiển điều chỉnh, tự hoàn thiện mình” [47]

Trang 32

Như vậy, khi xem xét về bản chất tâm lý học của tự ý thức, các tác giả đã đưa ra những cách hiểu, khái niệm khác nhau nhưng đều thống nhất xem tự ý thức là “ý thức xuất hiện như năng lực hiểu được chính mình” [12, tr.62] Các tác giả cũng đề cập đến nội dung của tự ý thức, đó là toàn bộ những đặc điểm, những thuộc tính về cơ thể và tâm lý, nhân cách của bản thân chủ thể

Tóm lại, từ việc tìm hiểu các quan điểm trên người nghiên cứu đồng quan điểm với

định nghĩa: “Tự ý thức là ý thức về bản thân, bao gồm năng lực nhận thức và xác định

thái độ đối với bản thân, năng lực tự điều khiển, điều chỉnh hành vi, thái độ cũng như toàn bộ sự phát triển nhân cách” [16, tr.75]

b Biểu hiện

Cá nhân tự nhận thức, tự đánh giá về bản thân từ hình ảnh bên ngoài đến thế giới nội tâm, những diễn biến tâm lý, những đặc điểm nhân cách, những mối quan hệ và vị thế xã hội, những giá trị của bản thân

Cá nhân bày tỏ thái độ với bản thân bằng những rung cảm khác nhau như yêu, ghét, tự hào, xấu hổ, khinh bỉ, giận dữ, hoài nghi, trách cứ, tin tưởng, mãn nguyện…về chính mình

Cá nhân tự định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của bản thân theo mục đích

Tự nhận thức bản thân

Là quá trình cá nhân tự nhận thức về chính bản thân mình, thông qua đó cá nhân có

sự hiểu biết về bản thân ở các đặc điểm: hình thức bên ngoài, nội dung bên trong, vị thế và các mối quan hệ xã hội

- Về hình thức bên ngoài: là những đặc điểm về mái tóc, làn da, vóc dáng, chiều

cao, cân nặng…

- Về nội dung bên trong: thế giới nội tâm, diễn biến tâm lý, đặc điểm nhân cách…

Trang 33

- Về vị thế và các mối quan hệ xã hội: vị trí của cá nhân trong gia đình (quan hệ

với ba, mẹ, anh, chị, em…), trong nhà trường (quan hệ với thầy, cô, bạn cùng lớp, bạn cùng trường) và các tổ chức xã hội (Đoàn, Đội, câu lạc bộ…)

Tóm lại, tự nhận thức bản thân là quá trình giúp cá nhân có được sự hiểu biết về chính mình, làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của bản thân

Tự đánh giá về bản thân

Trên cơ sở tự nhận thức được đặc điểm bản thân mình, nhận thức được đặc điểm của người khác, cá nhân so sánh bản thân với người khác, tỏ thái độ hài lòng/ không hài lòng với chính mình

Cũng như nhà tâm lý học V.P Levcôvich đã định nghĩa: “Tự đánh giá là một giai đoạn cao của tự ý thức, nó không chỉ bao gồm những nhận thức bản thân mà còn có sự đánh giá đúng sức lực và khả năng của mình, bao gồm cả thái độ phê phán đối với bản thân [46]

Theo Franz, sự tự đánh giá gồm:

- Quá trình soạn thảo và tiếp nhận các thông tin khác nhau về bản thân

- Những quá trình dẫn đến sự xác định đơn giản về những hiện tượng tâm lý, những thái độ đang tồn tại của bản thân

- Cá nhân xem xét những hiện tượng đã được xác định đó trong hệ thống tiêu chuẩn đánh giá để biết các hiện tượng tâm lý tồn tại ở mức nào

- Phát biểu thành lời dưới hình thức tự đánh giá

Các thông tin bản thân có thể thu được từ hai nguồn khác nhau:

- Cá nhân tự quan sát bản thân, tự phân tích mình, thông qua quá trình tự nhận thức bản thân từ đó có được thông tin về mình

- Thu thập thông tin của những người khác về mình Kết quả thu thập thông tin phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Yếu tố bên ngoài (nội dung, chất lượng, độ phong phú của thông tin…), yếu tố bên trong (trình độ nhận thức của cá nhân, mối quan hệ giữa chủ thể và người phát ra thông tin…) Khi đã có đầy đủ thông tin, cá nhân sẽ có những cứ liệu để xem xét những hiện tượng về cơ thể và tâm lý, hành vi, thái độ của bản thân, từ

đó đối chiếu với hệ thống tiêu chuẩn đánh giá xem nó tồn tại ở mức độ nào

Trang 34

Tóm lại, tự đánh giá là hệ thống thái độ đối với bản thân, từ việc nhận thức bản thân, cá nhân tự nhận xét, đánh giá, phê bình những nét tâm lý của mình Hệ thống thái

độ đối với bản thân là rất đa dạng như: sự tự hài lòng, tự hào, tin tưởng đến thất vọng, xấu hổ hay cảm thấy tự ti về chính mình

Tự điều chỉnh, điều khiển hành vi theo mục đích tự giác

Việc tự điều chỉnh, tự điều khiển bản thân theo mục đích tự giác được thể hiện qua hành vi của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ Thông qua quá trình tự nhận thức, tự đánh giá bản thân, cá nhân sẽ tự điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với bản thân, phù hợp với mục tiêu hướng tới, phù hợp với những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức xã hội, kiềm chế những hành vi sai trái một cách tự giác, tiến đến

tự giáo dục và hoàn thiện bản thân, đáp ứng yêu cầu của xã hội

d Vai trò của tự ý thức

Tự ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức, chính nhờ sự tự ý thức, con người có được những hiểu biết về bản thân, tự tách mình ra khỏi thế giới xung quanh, xác định được vị trí và vai trò của mình trong thế giới đó Qua việc tự nhận thức, tự đánh giá những đặc điểm của bản thân mình, cá nhân có thể tự điều chỉnh, điều khiển hành vi,

từ đó hình thành khả năng tự giáo dục và tự hoàn thiện mình

Tự ý thức có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách của con người Nếu như không có tự ý thức, con người không biết được mình là ai? Mình là người như thế nào? Mình có thể làm được việc gì? Mình phải trở thành người như thế nào? Mình có vai trò gì trong các mối quan hệ và trong xã hội? Bên cạnh đó,

cá nhân cũng không thể có được sự so sánh, đánh giá mình với người khác thì không thể có được sự điều khiển, điều chỉnh hành vi phù hợp với những chuẩn mực và yêu cầu xã hội Như vậy sẽ dẫn đến nguy cơ mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến sự tiến bộ của nhân loại

Mặc dù chúng ta tự hiểu mình hơn những người khác nhưng an toàn nhất đối với một cá nhân là hãy tự tìm hiểu về bản thân thông qua tiếp xúc và trải nghiệm với những người khác Sự tăng trưởng của tự ý thức và những hiểu biết nảy sinh về bản thân như một thành viên của các tương tác xã hội là tiền đề cho rất nhiều hiểu biết và

kỹ năng xã hội

Trang 35

Khi trẻ bắt đầu thể hiện tự ý thức, chúng trở nên nhạy cảm hơn với sự khác biệt về tính cách của những người xung quanh và bắt đầu phân loại bản thân theo những tiêu chí này Những tiêu chí xã hội đầu tiên mà trẻ dùng là tuổi, giới tính và những giá trị

xã hội

Tự ý thức hình thành không những trong từng cá nhân mà cả trong những cộng đồng, tập đoàn người lớn, nhỏ Lúc này sự tự ý thức có thể trở thành bản sắc của một nhóm người, các thành viên trong nhóm không chỉ có sự hiểu biết về đặc điểm nhóm, thông qua đó có sự so sánh, đánh giá với các nhóm, tổ chức, tập thể khác Từ đó, các thành viên tự điều khiển, điều chỉnh hành vi của nhóm

1.2.1.3 Khái niệm tự nhận thức bản thân

a Nhận thức

Trong cuộc sống, con người luôn luôn nhận thức sự vật, hiện tượng xung quanh mình, đồng thời con người cũng tự nhận thức bản thân mình Chịu sự tác động của hiện thực khách quan, con người phản ánh hiện thực khách quan ấy và tạo nên đời sống tâm lý của mình Con đường phản ánh hiện thực khách quan bằng các giác quan, bằng những tín hiệu đặc biệt khác, với sự tham gia của não bộ được gọi là nhận thức [16, tr.84]

Khi nhận thức về thế giới xung quanh, con người có thể nhận thức được cả những đặc điểm bên ngoài lẫn bên trong của các sự vật, hiện tượng, nhận thức được cái đã có (quá khứ), đang có (hiện tại) và cái sẽ có (tương lai), nhận thức từ cái cụ thể đến trừu tượng, từ chi tiết đến khái quát, từ đặc điểm đến các quy luật tồn tại của sự vật, hiện tượng… Từ đó, có thể thấy nhận thức là một hoạt động tâm lý phức tạp, đa dạng và ở nhiều mức độ khác nhau

Như vậy, nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khách quan khác nhau (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm…) [43, tr.24]

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người: nhận thức,

Trang 36

tình cảm, hành động Nhận thức có quan hệ chặt chẽ với các mặt còn lại và quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác của con người [48, tr.71]

Theo Từ điển tâm lý học, nhận thức là “hiểu được một điều gì đó, tiếp thu được những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào đó…” [5]

Có nhiều quan niệm khác nhau khi xây dựng khái niệm “nhận thức”, nhưng đều cùng khẳng định rằng nhận thức là một quá trình

Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” trên mạng Internet, nhận thức là: “Quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể Sự nhận thức đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Con đường nhận thức đó được thực hiện qua cách giai đoạn từ thấp đến cao như: nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức trở về thực tiễn Do đó, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân

lí, là cơ sở động lực, mục đích của nhận thức Mục đích cuối cùng của nhận thức không chỉ để giải thích thế giới mà để cải tạo thế giới Do đó, sự nhận thức ở giai đoạn này có chức năng chỉ đạo đối với thực tiễn Sự nhận thức là một quá trình vận động không ngừng, vì nó gắn liền với hoạt động thực tiễn” [57]

Nhận thức là một quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó Biểu hiện của hoạt động nhận thức là:

- Nhận ra, biết được, hiểu được vấn đề

- Hiểu biết thấu đáo sự vật, hiện tượng [59]

Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn [60]

Theo quan điểm của Piaget, quá trình nhận thức được coi là sự tổng hợp của hai quá trình trái ngược và bổ sung lẫn nhau: Quá trình đồng hóa và quá trình điều ứng Đứng trước một sự vật, hiện tượng, để tìm hiểu hay tác động lên nó con người bước đầu vận dụng một “sơ cấu” hành động hoặc tư duy đã có từ bẩm sinh hoặc trải nghiệm trước đó là quá trình đồng hóa Tuy nhiên, con người thường gặp những sự vật hiện

Trang 37

tượng mang những đặc tính mới khác với “sơ cấu” vốn có khi ấy phải điều chỉnh tức là tạo ra mô hình sơ cấu mới để song nạp được sự vật hiện tượng mới đó, quá trình này được gọi là điều ứng Cả đồng hoá và điều ứng đều nhằm giúp cá thể thích nghi với môi trường và đạt đến sự cân bằng Quan điểm này có tác dụng rất lớn trong việc giải thích sự phát triển quá trình nhận thức và sự thích nghi của con người với môi trường Piaget đưa ra bốn giai đoạn phát triển nhận thức gồm có: giai đoạn cảm giác vận động (từ 0 đến 2 tuổi); giai đoạn tiền thao tác (từ 2 đến 6, 7 tuổi); giai đoạn thao tác cụ thể (từ 6, 7 đến 12 tuổi) và giai đoạn thao tác hình thức (từ 12 tuổi trở lên) Ông cho rằng các cá thể có thể khác nhau trong tốc độ phát triển ở mỗi giai đoạn nhưng vẫn có thể chỉ ra các giới hạn tuổi tác gần đúng cho từng giai đoạn Mặc dù, sự phát triển là một quá trình liên tục, nhưng sự biến đổi cấu trúc nhận thức của trẻ từ tuổi này sang tuổi khác cho phép suy luận về các nguyên tắc mà trẻ ở lứa tuổi nhất định sử dụng để tìm hiểu môi trường xung quanh và kiểm soát ứng xử của bản thân [7, tr.176-178] Dưới góc độ tâm lý học hoạt động, Vygotsky tuyên bố rằng nhận thức của nhân loại – thậm chí được hình thành trong sự tách biệt vốn đã là văn hóa – xã hội vì nó chịu ảnh hưởng của niềm tin, hệ thống giá trị và các công cụ thích nghi trí tuệ được truyền cho cá nhân thông qua văn hóa [7, tr.210]

Quan điểm theo lý thuyết thông tin của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa về Phương pháp dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ: quá trình nhận thức của con người được xem như quá trình thu nạp và xử lý thông tin trong một hệ thống máy tính trong đó các thông tin được các cơ quan cảm giác của con người ghi lại và xử lý, quá trình này theo họ thực chất là quá trình chuyển hóa thông tin qua lại giữa bộ nhớ động và bộ nhớ tĩnh Bộ nhớ

sử dụng như một màn hình máy tính trong cùng một lúc nó có thể hiểu và biểu diễn ra thành phản ứng bên ngoài và tối đa không tồn tại đối tượng khác nhau còn bộ nhớ tĩnh như cái thư viện khổng lồ có sức chứa gần như vô hạn Các thông tin từ bộ nhớ hoạt động có thể được ghi lại trực tiếp vào bộ nhớ tĩnh hoặc ghi vào nhờ quá trình lặp lại, ngược lại thông tin từ bộ nhớ tĩnh có thể được lấp trở lại bộ nhớ hoạt động nhờ quá trình hồi tưởng, đôi khi thông tin có thể mất đi do không có ý nghĩa hoặc không được

sử dụng lại (Hiện tượng quên) Lý thuyết thông tin về quá trình nhận thức cho phép hình dung một cách khá tường minh về quá trình nhận thức khách quan nhưng không

Trang 38

kể đến tác động qua lại với các quá trình tâm lý khác, những đặc điểm mang tính chủ quan của chủ thể, cách tiếp cận này tỏ ra tương đối thuận lợi cho viêc mô tả lại các đặc điểm hoạt động nhận thức của trẻ

Trên cơ sở phân tích các quan niệm về khái niệm “nhận thức” chúng tôi xác định khái niệm “nhận thức” như sau:

Nhận thức là một dạng hoạt động cơ bản của con người Hoạt động nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh thế giới khách quan Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan (những đặc điểm, thuộc tính, tính chất của sự vật, hiện tượng) Nói cách khác, nhận thức là quá trình chủ thể tiếp nhận những thông tin và xử lý những thông tin thu được làm cơ sở cho việc định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của mình nhằm đảm bảo sự thích ứng và phát triển của

Sự phức tạp này do các nguyên nhân sau:

Thứ nhất, con người cần phát triển khả năng nhận thức của mình, tìm kiếm những phương thức, qua đó đi tới sự tự nhận thức

Thứ hai, con người cần tích lũy những cơ sở cần thiết cho sự nhận thức của bản thân, tức là sự tích lũy để mình trở thành ai Trong quá trình đó cá nhân không ngừng phát triển sự tự nhận thức

Thứ ba, bất kỳ những kiến thức nào mà cá nhân nhận được cũng đều có thể là nhân

tố để thay đổi bản thân, nhận biết về bản thân mình và để trở thành một người khác

Do vậy, nhiệm vụ của tự nhận thức luôn mang tính chủ quan Đó là con đường dẫn tới

sự tự hoàn thiện, tự phát triển của cá nhân

Tự nhận thức bắt đầu từ rất sớm của tuổi thơ và khi đó nó đã có những hình thức và nội dung đặc trưng Đầu tiên, đứa trẻ học cách phân biệt bản thân nó với thế giới vật chất – hiện tại đứa trẻ chưa biết cái gì liên quan tới cơ thể của nó Sau đó, nó nhận thức bản thân với một tư duy khác – nó là thành viên của môi trường xã hội vi mô Trong

Trang 39

giai đoạn này đứa trẻ đã bắt đầu quan sát các hiện tượng giống nhau Mặc dù vậy, đứa trẻ vẫn còn khó khăn trong việc phân biệt nó với những người khác Đến tuổi vị thành niên, cá nhân bắt đầu nhận thức về “cái tôi lý tưởng” của mình qua hiểu biết về các đặc điểm tâm lý, tính cách và các phẩm chất đạo đức của bản thân

Quá trình tự nhận thức là quá trình kích thích mạnh mẽ sự lĩnh hội một cách tích cực các kinh nghiệm văn hoá của cá nhân Đối với lứa tuổi vị thành niên, quá trình này bắt đầu với câu hỏi: “Tôi là ai?”, “Tại sao mình lại không như vậy?”, “Tôi cần trở thành một người như thế nào?” Đó là sự nhận thức về cái tôi lý tưởng và đây chính là bắt đầu của sự tự hoàn thiện cá nhân [5, tr.968-969]

Cùng với quan điểm trên, giáo trình Tâm lý học đại cương cũng cho rằng việc mỗi người tự trả lời câu hỏi như: “Tôi là ai?”, “Tôi có vai trò gì?”, “Tôi là người như thế nào?”, “Tôi phải trở thành người như thế nào?”… là những biểu hiện của sự tự nhận thức bản thân

Trong luận văn này, tác giả đồng quan điểm với định nghĩa: “Tự nhận thức bản

thân là quá trình con người nhận thức về bản thân mình từ hình ảnh bên ngoài đến đặc điểm nhân cách, những mối quan hệ và vị thế xã hội, những giá trị của bản thân”

Nội dung tự nhận thức bản thân

Về hình thức bên ngoài: là những đặc điểm về ngoại hình như mái tóc, màu tóc, làn

da, vóc dáng, chiều cao, cân nặng…

Về đặc điểm bên trong: các thuộc tính nhân cách như:

 Xu hướng

Trong cuộc sống, con người luôn lựa chọn những đối tượng có ý nghĩa với bản thân từ thế giới khách quan, sự lựa chọn và hướng tới đối tượng này diễn ra trong một thời gian dài, ổn định và thúc đầy con người hành động tích cực chiếm lĩnh đối tượng Những thuộc tính thể hiện sự lựa chọn và tính tích cực thúc đẩy hoạt động như vậy được gọi là xu hướng của nhân cách Xu hướng quy định phương hướng mục tiêu của cuộc sống, đồng thời quy định sự phát triển toàn bộ nhân cách nói chung [16, tr.194] Như vậy, xu hướng là hệ thống những thúc đẩy quy định tính lựa chọn của các thái

độ và tính tích cực hoạt động của cá nhân [16, tr.194]

Xu hướng được biểu hiện ở các mặt chủ yếu: nhu cầu, hứng thú, lý tưởng, thế giới

Trang 40

quan và niềm tin

là nhu cầu sinh lý (khí oxy, nước, chất dinh dưỡng, sinh dục…), kế tiếp là nhu cầu an toàn (được bảo vệ, an ninh, không bị đe dọa…), tiếp theo là nhu cầu phụ thuộc (được yêu thương, tình hữu nghị, được tin cậy…), sau đó nhu cầu tự trọng (được tôn trọng,

có địa vị, giành được lòng tin, uy tín, danh dự…), cuối cùng nhu cầu cao nhất là nhu cầu phát huy bản ngã (được thể hiện khả năng, đạt được thành tích, có giá trị, phát huy được năng lực, sáng tạo…)

Hứng thú được biểu hiện ở khuynh hướng hoạt động của cá nhân với những đối tượng, biểu hiện ở sự tập trung chú ý và ghi nhớ cao, biểu hiện ở tình cảm say mê với đối tượng lựa chọn

Mỗi người có những hứng thú khác nhau Có thể phân loại hứng thú khác nhau Có thể phân loại hứng thú dựa trên nội dung hoạt động như: hứng thú vật chất, hứng thú nhận thức, hứng thú chính trị - xã hội, hứng thú nghệ thuật

 Lý tưởng

Ngày đăng: 04/04/2018, 13:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Bích (1998), Tâm lý học nhân cách một số vấn đề lý luận, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách một số vấn đề lý luận
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
2. Bộ Giáo dục và đào tạo (2003), Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
3. Lê Thị Bừng (chủ biên), Các thuộc tính điển hình của nhân cách, Khoa Tâm lý Giáo dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuộc tính điển hình của nhân cách
4. I.X. Côn (1987), Tâm lý học thanh niên, Nxb Trẻ. Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học thanh niên
Tác giả: I.X. Côn
Nhà XB: Nxb Trẻ. Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1987
5. Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển tâm lý học, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2008
6. Ngô Thị Đẹp (2007), Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố tác động đến tự đánh giá của sinh viên tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Ngô Thị Đẹp
Năm: 2007
7. Nguyễn Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
8. Franz S. (1979), Khả năng tự đánh giá phù hợp của học sinh lớp 5 – 7 – 9 đối với thái độ học tập và thái độ tập thể, Luận án tiến sỹ Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tự đánh giá phù hợp của học sinh lớp 5 – 7 – 9 đối với thái độ học tập và thái độ tập thể
Tác giả: Franz S
Năm: 1979
9. Bùi Thị Hồng Gấm (2010), Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí của học sinh trung học phổ thông, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tự đánh giá các phẩm chất ý chí của học sinh trung học phổ thông
Tác giả: Bùi Thị Hồng Gấm
Năm: 2010
10. Trần Ninh Giang, Vấn đề ý thức và tự ý thức trong tâm lý học, Tạp chí Tâm lý học, số 01, 02 – 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề ý thức và tự ý thức trong tâm lý học
11. Vũ Thị Hà (2013), Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người cảnh sát nhân dân của học viên trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân II, Luận văn thạc sỹ Tâm lý học, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng tự đánh giá phẩm chất tâm lý người cảnh sát nhân dân của học viên trường cao đẳng Cảnh sát nhân dân II
Tác giả: Vũ Thị Hà
Năm: 2013
12. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (1988), Tâm lý học tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học tập 1
Tác giả: Phạm Minh Hạc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
13. Phạm Minh Hạc (2003), Một số công trình Tâm lý học của A.N Leonchiev, Nxb Giáo dục, tr.201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số công trình Tâm lý học của A.N Leonchiev
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
14. Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc (2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
16. Lê Thị Hân và Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy (2012), Giáo trình Tâm lý học đại cương, Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học đại cương
Tác giả: Lê Thị Hân và Huỳnh Văn Sơn (chủ biên), Trần Thị Thu Mai, Nguyễn Thị Uyên Thy
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
17. Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo (2001), Từ điển Giáo dục học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2001
18. Lê Văn Hồng (chủ biên) (1999), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
19. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2007), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
20. Đào Lan Hương (2000), Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn Toán của sinh viên cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Luận án Tiến sỹ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn Toán của sinh viên cao đẳng Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Đào Lan Hương
Năm: 2000
21. Phạm Thị Hương (2005), Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi, Luận văn Thạc sỹ Tâm lý học, Hòa Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp hình thành khả năng tự nhận thức bản thân cho trẻ mẫu giáo 4-5 tuổi
Tác giả: Phạm Thị Hương
Năm: 2005

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w