Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Văn Tá
KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN II
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Văn Tá
KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG CAO ĐẲNG AN NINH NHÂN DÂN II
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là sản phẩm khoa học do chính tôi thực hiện, dưới
sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Thị Tứ
Đề tài này không phải là sự sao chép, cắt dán một cách máy móc, tùy tiện các tài liệu trước đó, mà là sự phân tích, đánh giá, nhận định của cá nhân tôi từ các dữ liệu tham khảo có ghi rõ nguồn gốc cùng với kết quả khảo sát thực tế
Các số liệu nghiên cứu trong đề tài là hoàn toàn trung thực, chính xác Các nguồn thông tin được xử lý khách quan và dựa trên dữ liệu hoàn toàn có thật Các kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa từng được công bố
Chúng tôi cam đoan những thông tin trên hoàn toàn là sự thật Nếu có gì sai, chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Trần Văn Tá
Trang 4Tác giả xin gửi lời biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, Phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh đã tổ chức, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành chương trình học tập lớp cao học Tâm lý học khoá 26
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban chủ nhiệm khoa Tâm lý học, quý Thầy, Cô khoa Tâm lý học đã giảng dạy, giúp đỡ lớp cao học Tâm lý học khoá 26 trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Tâm lý học Nguyễn Thị Tứ - người hướng dẫn khoa học đã luôn động viên, khích lệ và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Cao đẳng ANND II, lãnh đạo Bộ môn tâm lý, Phòng Quản lý học viên, các đồng nghiệp cùng sinh viên nhà trường đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Trần Văn Tá
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT 7
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Ngoài nước 7
1.1.2 Trong nước 13
1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài 17
1.2.1 Kỹ năng 17
1.2.2 Thích ứng 24
1.2.3 Kỹ năng thích ứng 31
1.2.4 Môi trường sinh hoạt 34
1.2.5 Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt 35
1.2.6 Sinh viên năm nhất 36
1.3 Cơ sở lý luận về kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm I tại các trường CAND 36
1.3.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên năm nhất các trường CAND 36
1.3.2 Đặc điểm môi trường sinh hoạt của sinh viên năm I trường Cao đẳng ANND II 41
1.3.3 Biểu hiện kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất các trường CAND 45
Trang 61.4.1 Các yếu tố chủ quan 54
1.4.2 Các yếu tố khách quan 56
Tiểu kết chương 1 58
Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT TRƯỜNG CĐ ANND II 59
2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 59
2.1.1 Mẫu khảo sát 59
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 59
2.2 Thực trạng kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất trường CĐ ANND II 64
2.2.1 Nhận thức của sinh viên năm I về KNTƯ với MTSH tại Trường CĐ ANND II 64
2.2.2 Thái độ của sinh viên năm nhất khi thực hiện kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt 70
2.2.3 Hành động thực hiện kỹ năng thích ứng với các hoạt động trong môi trường sinh hoạt tại trường CĐ ANND II của sinh viên năm nhất 75
2.2.4 Kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất qua các tình huống 83
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất 104
2.3.1 Các yếu tố chủ quan 105
2.3.2 Các yếu tố khách quan 107
2.4 Một số biện pháp giúp cho kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất trường CĐ ANND II được tốt hơn 110
Trang 72.4.3 Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp tác
động đến kỹ năng thích ứng với môi trường sinh hoạt của sinh
viên năm nhất 115
Tiểu kết chương 2 122
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128 PHỤ LỤC
Trang 8Ký hiệu viết tắt Ý nghĩa
CĐ ANND II Cao đẳng An ninh nhân dân II
Trang 9Bảng 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 59Bảng 2.2 Cách quy đổi điểm các câu 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 61Bảng 2.3 Nhận thức của SV năm I về khái niệm KNTƯ với MTSH 64Bảng 2.4 Nhận thức về tầm quan trọng của KNTƯ với MTSH của SV
năm I 65Bảng 2.5 Nhận thức về các thao tác của KNTƯ 66Bảng 2.6 So sánh nhận thức về các thao tác của KNTƯ của SV năm I
ngành Trinh sát an ninh và Trinh sát ngoại tuyến 67Bảng 2.7 Nhận thức về các vấn đề trong MTSH 68Bảng 2.8 Cảm xúc khi thực hiện hoạt động thích ứng 70Bảng 2.9 So sánh mức độ cảm xúc giữa SV nam và SV nữ khi thực hiện
hoạt động thích ứng 71Bảng 2.10 Mức độ chủ động và mức độ hài lòng của sinh viên năm I khi
thực hiện KNTƯ với các hoạt động sinh hoạt tại trường 73Bảng 2.11 Mức độ thực hiện các thao tác của KNTƯ và mức độ hiệu quả
thực hiện thao tác của KNTƯ 76Bảng 2.12 Tương quan giữa nhận thức các thao tác KNTƯ và mức độ
biểu hiện, kết quả thực hiện KNTƯ của SV năm I 78Bảng 2.13 So sánh mức độ thực hiện thao tác KNTƯ của SV thi tuyển,
SV tốt nghiệp các trường văn hóa – BCA và cán bộ, chiến sĩ
cử đi học 78Bảng 2.14 Bảng so sánh sự khác biệt giữa những nhóm SV có lý lịch đầu
vào khác nhau ở mức độ thực hiện thao tác 4,5,6 79Bảng 2.15 Bảng mức độ thực hiện KNTƯ và mức độ hiệu quả đối với các
hoạt động cần thích ứng 80
Trang 10nhất 83
Bảng 2.17 Tình huống 1 84
Bảng 2.18 Tình huống 2 85
Bảng 2.19 Tình huống 3 87
Bảng 2.20 Tình huống 4 89
Bảng 2.21 Tình huống 5 91
Bảng 2.22 Tình huống 6 93
Bảng 2.23 Tình huống 7 95
Bảng 2.24 Tình huống 8 97
Bảng 2.25 Tình huống 9 99
Bảng 2.26 Tình huống 10 101
Bảng 2.27 Thực trạng KNTƯ với MTSH của SV năm I Trường CĐ ANND II 102
Bảng 2.28 So sánh điểm trung bình chung thực trạng KNTƯ với MTSH giữa SV nam và SV nữ 102
Bảng 2.29 So sánh điểm trung bình chung thực trạng KNTƯ với MTSH giữa SV ngành TSAN và TSNT 103
Bảng 2.30 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến KNTƯ của SV năm I 105
Bảng 2.31 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới KNTƯ của SV năm I 107
Bảng 2.32 Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp tác động đến KNTƯ với MTSH của sinh viên năm I 116
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bất kỳ sự vật nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải không ngừng thay đổi, hoàn thiện nhằm thích ứng với môi trường Đề tồn tại và phát triển, con người phải thích ứng với các thay đổi của môi trường sống bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Nếu không thích ứng được, tất yếu con người sẽ bị tụt hậu, không phát triển hoặc thậm chí không thể tồn tại trong môi trường mới Khi làm quen với môi trường sống mới, mỗi cá nhân không tránh khỏi những bỡ ngỡ ban đầu và phải có sự nỗ lực trong một khoảng thời gian mới có thể hòa nhập và thích ứng Do vậy, việc tìm hiểu về KNTƯ giúp cá nhân thích ứng với môi trường xung quanh là hết sức cần thiết Sinh viên năm I hầu hết là học sinh phổ thông trung học mới tốt nghiệp, chưa quen với cuộc sống cần sự tự lập cao trong trường đại học Họ phải tập thích nghi và làm quen với một môi trường mới, một cuộc sống mới độc lập hơn, với nhiều mối quan hệ hơn, do vậy khó tránh khỏi những khó khăn, đòi hỏi cần được trang bị những KNTƯ cần thiết
Cũng như nhiều trường cao đẳng, đại học khác ở khu vực phía Nam, trường
CĐ ANND II tuyển sinh từ Quảng Trị tới Cà Mau, SV của trường tới từ nhiều miền tổ quốc với nhiều thói quen, nhiều cách sống và phong tục khác nhau chưa kể tới việc sống trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau về mặt khách quan và chủ quan Trường CĐ ANND II là trường thuộc lực lượng vũ trang nên tất cả các
SV chính quy phải cùng sống, cùng sinh hoạt, học tập tập trung, do đó SV năm I của trường sẽ gặp nhiều bỡ ngỡ với việc làm quen với cuộc sống mới khác hơn rất nhiều với học sinh phổ thông Trong sinh hoạt tại các trường thuộc lực lượng CAND đòi hỏi SV phải có kỹ năng thích ứng nhanh chóng, vì vậy, đối với SV năm
I nếu không thích ứng kịp thời với MTSH sẽ làm giảm hiệu quả học tập và rèn luyện cũng như ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo của nhà trường
Thực tế cho thấy, SV năm I khi bước vào môi trường sinh hoạt mới vẫn còn lúng túng trong sinh hoạt, chưa thích ứng được với môi trường sinh hoạt CAND
Trang 12nên kết quả học tập phần nào chưa tốt Từ đó, để chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới
sự thích ứng của SV năm I và góp phần tìm ra giải pháp giúp SV nhanh chóng hòa
nhập với môi trường mới, tôi quyết định chọn vấn đề: “Kỹ năng thích ứng với môi
trường sinh hoạt của sinh viên năm nhất Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu lý luận xác định thực trạng KNTƯ với MTSH của SV năm I Trường CĐ ANND II, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp giúp cho KNTƯ với MTSH của SV năm I được tốt hơn
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Kỹ năng thích ứng với MTSH của sinh viên năm I Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khác thể chính: Sinh viên năm I Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II Khách thể bổ trợ: Cán bộ Phòng quản lý học viên Trường Cao đẳng An ninh nhân dân II
4 Giả thuyết nghiên cứu
Phần lớn SV năm I trường CĐ ANND II có KNTƯ với MTSH ở mức độ trung bình
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ với MTSH của SV năm I bao gồm
cả những yếu tố chủ quan lẫn khách quan, trong đó các yếu tố chủ quan của SV ảnh hưởng mạnh hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hoá những vấn đề lý luận có liên quan đến KNTƯ với MTSH của SV năm I
5.2 Xác định thực trạng KNTƯ với MTSH của SV năm I trường CĐ ANND II
và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
Trang 135.3 Đề xuất một số biện pháp giúp cho KNTƯ với MTSH của SV năm I tốt hơn
6 Giới hạn nghiên cứu
6.1 Giới hạn khách thể nghiên cứu
Đề tài khảo sát trên khách thể chính là SV năm I trường CĐ ANND II, cụ thể đó là 200 SV các lớp: H04S, K40S
Khách thể bổ trợ là 20 Cán bộ quản lý học viên đã và đang trực tiếp quản lý sinh viên năm I
6.2 Giới hạn đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng mức độ biểu hiện KNTƯ với MTSH của SV năm I trên bình diện nhận thức, thái độ và hành động của SV trong các hoạt động sau của SV năm I: Tuân thủ điều lệnh; Chấp hành nội quy, quy định; Xây dựng mối quan hệ với mọi người xung quanh; Tham gia các hoạt động đoàn, hội; Sử dụng cơ sở vật chất tại trường
7 Hướng tiếp cận nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
7.1 Hướng tiếp cận nghiên cứu
Hướng tiếp cận nghiên cứu của đề tài dựa trên các quan điểm chính sau:
7.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống - cấu trúc
Trong quá trình nghiên cứu đề tài KNTƯ với MTSH cần phải xem xét một cách toàn diện cấu trúc nhiều mặt, nhiều mối quan hệ liên hệ bên trong, bên ngoài của thực trạng KNTƯ và cả những yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của SV
để đề ra những biện pháp giúp quá trính thích ứng diễn ra thuận lợi
7.1.2 Quan điểm tiếp cận lịch sử - Logic
Khi nghiên cứu KNTƯ với MTSH cần phải tìm hiểu thực trạng KNTƯ trong thời gian và không gian cụ thể với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể Dựa vào lịch sử nghiên cứu đề tài để nghiên cứu thực trạng KNTƯ của SV, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ của SV năm I trong MTSH tại các trường CAND
Trang 147.1.3 Quan điểm tiếp cận thực tiễn
Xuất phát từ thực tiễn MTSH trong lực lượng vũ trang nói chung, trường
CĐ ANND II nói riêng của SV năm I trường CĐ ANND II, đề tài nghiên cứu đi tìm hiểu thực trạng KNTƯ với MTSH của SV năm I trường CĐ ANND II thông qua cấu trúc nhận thức, thái độ và hành động Phát hiện những khó khăn trong thực tiễn quá trình thích ứng; Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến SV trong quá trình thích ứng để từ đó đề xuất những phương hướng, biện pháp phù hợp với thực tiễn, từ thực tiễn thích ứng để kiểm tra những kết quả nghiên cứu, làm cho lý luận gắn với thực tiễn
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, tổng hợp và đánh giá các công trình nghiên cứu trước, từ đó chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận cho việc chọn lựa và thiết lập công cụ nghiên cứu
và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cách thực hiện
Phương pháp này được thực hiện thông qua các quá trình như phân tích, tổng hợp, phân loại và hệ thống hóa các tài liệu nhằm sắp xếp những tri thức về môi trường, MTSH, SV, kỹ năng, thích ứng, KNTƯ… để xác định những cơ sở
lý luận cần thiết cho đề tài
Trang 157.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Là phương pháp chủ yếu để thu thập số liệu khẳng định tính khách quan của đề tài
Mục đích: Tìm hiểu thực trạng KNTƯ của SV năm I với MTSH trong CAND; Biện pháp giúp cho KNTƯ với MTSH của SV năm I tốt hơn
Nội dung: Bảng hỏi được xây dựng dựa trên các nội dung chính sau:
- Nhận thức về KNTƯ trong MTSH của SV năm I
- Thái độ đối với những vấn đề trong MTSH của SV năm I
- Hành động nhằm thực hiện KNTƯ với những vấn đề trong MTSH của SV năm I thông qua các thao tác của KNTƯ
- Các yếu tố ảnh hưởng đến KNTƯ với MTSH của SV năm I tại trường CĐ ANND II
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.2.2 Phương pháp bài tập tình huống
+ Mục đích: Nhằm tìm hiểu mức độ biểu hiện KNTƯ với MTSH của SV năm I tại trường CĐ ANND II trong những tình huống cụ thể
+ Cách tiến hành: Xây dựng tình huống giả định, thực hiện bài tập tình huống trên SV
7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn
+ Mục đích: Nhằm thu thập thêm thông tin, giải thích và đánh giá về sự hiểu biết cũng như thái độ của SV năm I về KNTƯ với MTSH, nhận xét của giáo viên, cán bộ quản lý về biểu hiện KNTƯ với MTHT ở SV năm I
+ Cách tiến hành: Trò chuyện, trao đổi trực tiếp với SV, giáo viên phòng Quản lý học viên, giáo viên chủ nhiệm các lớp được chọn làm khách thể nghiên cứu, nhằm làm rõ thêm những thông tin thu được từ các phương pháp khác
7.2.2.4 Phương pháp thống kê toán học
Là phương pháp sử dụng một số đại lượng cơ bản trong tính toán đo lường
Trang 16và phân tích số liệu nhằm giúp người nghiên cứu có thông tin cá biệt chuyển thành thông tin tổng thể, qua đó có thể nhận thức đối tượng nghiên cứu một cách tổng thể Cụ thể chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để xử lý và phân tích
số liệu nghiên cứu của đề tài
8 Nội dung nghiên cứu
Trang 17Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
VỀ KỸ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI MÔI TRƯỜNG SINH HOẠT
CỦA SINH VIÊN NĂM NHẤT
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ngoài nước
Kỹ năng thích ứng là một yếu tố hết sức quan trọng giúp con người có thể tồn tại và phát triển một cách tối ưu trước những biến đổi của môi trường sống Theo đó, việc nghiên cứu về KNTƯ đã được các nhà khoa học tâm lý nghiên cứu từ rất lâu Các nghiên cứu này tuy chưa hệ thống hoặc chưa trực tiếp đề cập đến yếu tố KNTƯ, song yếu tố “Kỹ năng” và “Thích ứng” đã được các nhà khoa học đặc biệt chú ý và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau
Trước hết, khái niệm “Kỹ năng” đã được nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristot (384-322) xem như một phẩm chất, một phần phẩm hạnh của con người Ông cho rằng nội dung phẩm hạnh là “Biết định hướng, biết làm việc, biết tìm tòi” Thế kỷ 19, các nhà giáo dục học nổi tiếng như J.J Rutxo (Pháp), K.D.Usinxki (Nga), I.A.Kômenxki (Tiệp Khắc) cũng đã đề cập đến KNTƯ của học sinh và con đường hình thành kỹ năng này
Từ thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, “kỹ năng” được đẩy mạnh nghiên cứu với ý nghĩa thực tiễn cao Nhưng nhìn chung, việc nghiên cứu “Kỹ năng” xuất phát từ hai trường phái: tâm lý học hành vi (Đại điện là J.B.Oatson, B.F.Skiner, E.L.Toocdai, E.Tomen…) và tâm lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Liên Xô (cũ) khởi xướng
Tuy nhiên, các nhà tâm lý, giáo dục học Liên Xô khi nghiên cứu về “kỹ năng” lại phân theo hai hướng chính:
- Hướng nghiên cứu kỹ năng ở mức độ lý luận: Nghĩa là nghiên cứu bản chất, các quy luật hình thành và mối liên hệ giữa KN và kỹ xảo
- Hướng nghiên cứu KN ở mức độ ứng dụng: Nghĩa là nghiên cứu KN của
Trang 18con người trong các lĩnh vực đời sống cụ thể Chẳng hạn như lĩnh vực sản xuất công nghiệp, lĩnh vực sư phạm, lĩnh vực hoạt động tổ chức…
Về khái niệm “Thích ứng” vốn là một phạm trù cơ bản của sinh học nhưng qua thời gian, nó đã vượt ra ngoài phạm vi sinh học, đi vào hầu hết các lĩnh vực khoa học và đời sống con người, đặc biệt là tâm lý học, điều đó được thể hiện qua quan điểm về thích ứng của một số trường phái Tâm lý học sau đây:
* Vấn đề thích ứng trong Phân tâm học
Theo lý thuyết của Sigmund Freud, nhân cách là một cấu trúc tổng thể gồm
ba yếu tố: "Cái nó", "Cái tôi" và "Cái siêu tôi" Ba yếu tố này có vai trò và chức năng khác nhau trong quá trình hình thành nhân cách con người Trong đó, "Cái nó" là nguồn cung cấp năng lượng cho mọi hoạt động của con người "Cái nó" hoạt động theo nguyên tắc thoả mãn, đòi hỏi phải giảm căng thẳng ngay lập tức Nhưng "cái nó" luôn luôn bị cấm đoán bởi "Cái siêu tôi" Trong sự vận hành của
ba thành tố này thì "Cái tôi" luôn nằm ở giữa "Cái tôi" phải trì hoãn những đòi hỏi của "cái nó" và đáp ứng khát vọng vươn tới sự hoàn thiện của "cái siêu tôi"
"Cái tôi" phải đáp ứng cả hai bằng cách hướng tới sự cân bằng giữa đòi hỏi của
"Cái nó" và "cái siêu tôi: Sự cân bằng đó chính là sự thích ứng Và như vậy theo Freud con người có được là do hành vi thích nghi, là có khả năng chế ngự, kiểm soát được các xung năng, có khả năng giải quyết tốt xung khắc giữa “Cái nó” và
“Cái siêu tôi”
Các nhà phân tâm học mới đã chú ý hơn đến vai trò của yếu tố xã hội trong hành vi thích ứng của nhân cách Erik Erikson đã chỉ ra “Sự thích ứng tâm lý là
sự thiết lập các quan hệ xã hội của các cá nhân với những người xung quanh” [22]
Các nhà tâm thần học theo Freud cho rằng “Thích ứng của con người là khả năng duy trì quan hệ giữa cá nhân với môi trường sống của mình, được xác định bằng mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản và mức độ chấp nhận về mặt xã hội của hệ thống ứng xử đó Vì vậy thực chất quá trình hình thành nhân cách là quá
Trang 19trình cá nhân thích ứng với xã hội” [40]
Quan điểm hoàn toàn mới về đối tượng nghiên cứu của tâm lý học, thuyết hành vi đã giải quyết vấn đề “thích ứng” theo một phương hướng khác Lý luận thích ứng của Watson dựa trên những thành tựu của ngành tâm lý học động vật được áp dụng trong nghiên cứu tâm lý con người (Thorndike, Morgan…) Watson cho rằng: Tất cả mọi hành vi ứng xử với nghĩa là thích ứng đều được hình thành thông qua quá trình học tập, tiếp thu kinh nghiệm của cá thể (Tập nhiễm) Đó là quá trình cá nhân học được những hành vi mới cho phép giải quyết những yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống Sự kém thích ứng là không học hỏi được hoặc hành vi học không đáp ứng được yêu cầu môi trường [32] Như vậy, J.Watson coi con người với bộ kỹ xảo đã học được là một cơ thể sống, hành động thích ứng với những đòi hỏi của môi trường
Lý thuyết hành vi hiện đại còn được phát triển theo hướng Tâm lý học nhận thức Đại diện tiêu biểu cho hướng này là Walter Mischel, ông chú trọng đến vai trò nhận thức của con người trong quá trình thích ứng, đặc biệt là các kỹ xảo tinh thần bên cạnh các kỹ xảo hành vi Cùng với việc nhấn mạnh vai trò của yếu
tố bên trong, ông đã phát hiện ra tính tích cực của chủ thể thích ứng Đó không phải là quá trình thụ động như phái hành vi cổ điển quan niệm, mà có sự tương quan giữa ý nghĩa bên trong với hành vi bên ngoài, và hành vi được điều chỉnh bởi ý nghĩa bên trong đó [32] Tóm lại, chủ nghĩa hành vi vẫn chưa vạch rõ được bản chất của sự thích ứng, nhưng cũng đã có những đóng góp nhất định vào việc giải quyết vấn đề
Trang 20* Vấn đề thích ứng trong Tâm lý học chức năng
Herbert Spencer cho rằng “Cuộc sống là sự thích nghi liên tục của các quan
hệ bên trong với bên ngoài”; Theo đó, thích ứng là chức năng tâm lý, chức năng
ý thức con người Các hiện tượng tâm lý, ý thức là hình thức của sự thích ứng được biểu hiện bằng hệ thống hành vi Thích ứng tâm lý có cùng bản chất với thích nghi sinh học, thích ứng tuân theo những quy luật khách quan của sinh học
là “Biến dị”, “di truyền”, “Chọn lọc tự nhiên” Và tâm lý, ý thức là các hình thức mới của sự thích ứng giữa cơ thể người với môi trường Quan điểm này chưa thấy được bản chất xã hội của sự thích ứng của con người
William James kế thừa và phát triển tư tưởng của Spencer, đưa ra quan niệm: “Tâm lý học phải nghiên cứu, xem xét các hiện tượng tâm lý tồn tại để khắc phục cái gì? Nghiên cứu xem cá nhân có sử dụng những chức năng tâm lý
để thích ứng với những biến đổi của môi trường thế nào và tìm ra con đường để
cá nhân có thích ứng hiệu quả”
Như vậy, Spencer và James đã có công xây dựng cơ sở của tâm lý học thích ứng với tư tưởng chủ đạo là: Tâm lý, ý thức có chức năng là thích ứng và
là công cụ để thích ứng Ý thức đóng vai trò tiếp nhận, phân loại, lựa chọn, so sánh, các kích thích của môi trường để điều chỉnh hành vi của cơ thể đáp ứng với yêu cầu và điều kiện mới của nó Với ý nghĩa đó, “Ý thức” và “Hoàn cảnh
có vấn đề” là những khái niệm cơ bản của tâm lý học chức năng
Như vậy bên cạnh những đóng góp nhất định, quan điểm của Spencer và James còn mang tính thực dụng, duy tâm chưa giải quyết được vấn đề bản chất
xã hội của tâm lý cũng như bản chất của sự thích ứng tâm lý ở người
* Vấn đề thích ứng trong Tâm lý học phát triển
Jean Piaget là nhà Tâm lý học người Thuỵ Sĩ đã có nhiều nghiên cứu và đưa ra lý thuyết về sự thích nghi trong mối tương quan giữa tâm lý học và giáo dục học Theo Piaget, nếu một kinh nghiệm không hợp với cơ cấu nhận thức của một người, thì sự mất cân bằng diễn ra và xuất hiện khuynh hướng thay đổi cơ
Trang 21cấu nhận thức để tiếp thu kinh nghiệm mới Quy trình biến đổi này gọi là sự thích nghi, đại khái giống như sự học tập Piaget tin rằng hầu như mọi kinh nghiệm của một người đều bao gồm cả sự tiếp thu lẫn thích nghi, bởi vì mọi kinh nghiệm đã có đều có phần không giống với bất cứ kinh nghiệm nào chúng
ta đã có trước kia
Theo Piaget, sự thích ứng có ba mức độ: (1) Thích ứng sinh học (Thích ứng vật chất); (2) Thích ứng tâm lý (Thích ứng chức năng) có nguồn gốc sinh học; (3) Thích ứng trí tuệ Piaget đã có những đóng góp quan trọng vào lý luận về sự thích ứng tâm lý ở con người và cơ chế phát triển của thích ứng nhận thức Tuy nhiên, Piaget đã nhìn nhận sự phát triển tâm lý dưới góc độ thích nghi sinh học, ông chủ yếu chú ý tới mặt hình thức của sự thích ứng mà chưa quan tâm đúng mức đến bản chất, nội dung xã hội - lịch sử sự thích ứng tâm lý người [22]
* Vấn đề thích ứng trong tâm lý học hoạt động
Ra đời từ những năm 20 của thế kỷ XX, trường phái tâm lý học hoạt động lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở thế giới quan và phương pháp luận
TLH hoạt động đã phê phán những sai lầm của các nhà TLH thuộc các trường phái khác, ví dụ tâm lý học hành vi coi con người là “cái máy phản ứng” hay “Loài động vật có vú thượng đẳng”, phân tâm học coi con người là thực thể sinh học do bản năng quyết định Các công trình nghiên cứu của L.X Vưgôtxki, A.N Leonchiep, X.L Rubistêin, A.R Luria… đã xác lập cơ sở lý luận, phương pháp của tâm lý học Marxist, thông qua các phạm trù: “Hoạt động, ý thức, nhân cách” Các phạm trù này đóng vai trò nền tảng, quyết định trong việc giải quyết các vấn đề cụ thể trong nghiên cứu tâm lý L X Vưgôtxki đã chỉ ra sự khác biệt giữa sự thích ứng tâm lý - xã hội ở người và sự thích nghi sinh học ở động vật Bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hoá, xã hội, con người một mặt hình thành các dạng thức cấp cao của hành vi, mặt khác, hình thành các chức năng tâm lý cấp cao để trở thành chủ thể của các hành vi đó [18]
Trang 22A N Leonchiep đã phân tích sự khác nhau giữa sự phát triển của con người với sự thích nghi của cá thể sinh học về nội dung và cơ chế Ông chỉ rõ
“Sự khác biệt cơ bản giữa các quá trình thích nghi và các quá trình lĩnh hội, tiếp thu là ở chỗ: Quá trình thích nghi sinh vật là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài, năng lực và hành vi của cơ thể; quá trình lĩnh hội hay tiếp thu ở người thì khác “Đó là quá trình mang lại kết quả cá thể tái tạo lại được những năng lực
và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử” Như vậy về bản chất, nội dung của sự thích ứng ở người và thích nghi sinh vật có sự khác biệt về chất Theo TLH hoạt động: “Con người vừa là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, thống nhất ở bản chất xã hội của nó, con người lấy làm đối tượng nghiên cứu ở đây là một tồn tại xã hội, lịch sử, tồn tại lý trí, lao động, tình cảm” [18] Nhân cách con người được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp Con người tiếp thu những tri thức kinh nghiệm do loài người đạt được trước đó, đồng thời thông qua hoạt động giao tiếp con người tác động, cải tạo môi trường xung quanh và bản thân mình Thích ứng chính là quá trình sống, phát triển của mỗi
cá nhân Quá trình đó diễn ra ở cả bình diện sinh vật và bình diện xã hội, trong
đó bình diện xã hội là chủ yếu
Thích ứng của con người là thích ứng trong cuộc sống cộng đồng với các quan hệ xã hội cụ thể Là một quá trình tích cực, sự thích ứng ấy thể hiện trong tâm thế của cá nhân hướng tới các ứng xử giữa người với người, trong thái độ đối với hệ thống giá trị xã hội hiện tại được thừa nhận chung và được thừa nhận chính trong tập thể nơi con người đó sống và hoạt động Rõ ràng, quan niệm của TLH hoạt động về thích ứng đã thoát khỏi ảnh hưởng của lý luận thích nghi sinh học, chỉ ra được bản chất hoạt động, nội dung lịch sử - xã hội, tính tích cực của hiện tượng thích ứng con người
D.A Andreeva là một tác giả đã đóng góp nhiều nghiên cứu về sự thích ứng Theo bà “Thích ứng là sự thích nghi đặc biệt của cá nhân với điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào những điều kiện mới một cách không
Trang 23gượng ép”, từ đó bà đã đưa ra khái niệm: “Thích ứng là một quá trình tạo ra chế
độ hoạt động tối ưu và có mục đích nhân cách” [18], trong đó con người vừa thích nghi với điều kiện mới vừa phải chủ động thâm nhập vào những điều kiện
đó để xây dựng một chế độ hoạt động mới, phù hợp và đáp ứng được những yêu cầu mới Trong cuốn “Con người và xã hội” (1973), А Andreeva trong việc so sánh khái niệm “Thích ứng” và “Xã hội hoá” đã nhấn mạnh vai trò tích cực chủ thể với môi trường mới
Như vậy, với cách tiếp cận khoa học về vấn đề thích ứng, các nhà TLH hoạt động đã chỉ ra được bản chất hoạt động, nội dung xã hội, lịch sử, tính tích cực và các chỉ số của hiện tượng thích ứng ở người
1.1.2 Trong nước
Trong những thập kỷ gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về “Kỹ năng” thuộc các lĩnh vực hoạt động cụ thể được các nhà tâm lý học và giáo dục học Việt nam quan tâm Về kỹ năng lao động có Trần Trọng Thủy, Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Huân… Về kỹ năng sư phạm có Nguyễn Như An, Nguyễn Ngọc Bảo… Về kỹ năng giao tiếp có Nguyễn Thạc, Hoàng Anh… Về kỹ năng học tập của SV có Hà Thị Đức, Trần Quốc Thành… Tuy nhiên về “KNTƯ” thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến Riêng về “Thích ứng” và đặc biệt
là sự thích ứng học đường, thời gian qua ở Việt Nam có khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, tuy chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn đề cụ thể Chẳng hạn:
"Thích ứng" là một khái niệm quan trọng trong tâm lý học, là vấn đề được nhiều nhà tâm lý học Việt Nam quan tâm nghiên cứu Do đó, trong lịch sử đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của Việt Nam về sự thích ứng Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi xin khái quát một số công trình nghiên cứu của tác giả trong nước
Trang 24* Một số nghiên cứu về thích ứng với thay đổi môi trường văn hóa, kinh tế - xã hội
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu theo hướng này rất ít Trong số các công trình đã được công bố chúng tôi đưa ra một số công trình sau:
Nghiên cứu của tác giả Lã Văn Mến (1987): “Tìm hiểu sự thích ứng với đời sống tập thể của sinh viên năm thứ nhất” Trong công trình nghiên cứu của mình tác giả cho thấy sự thích ứng với đời sống tập thể của sinh viên diễn ra rất chậm chạp, phụ thuộc nhiều vào các yếu tố khách quan như điều kiện sinh hoạt thấp kém, điều kiện sinh hoạt còn khó khăn, nội quy, quy chế không chặt chẽ
Công trình nghiên cứu của Lâm Như Tạng về: “Sự thích ứng trong quá trình hội nhập quốc tế” đã đề cập đến khía cạnh xã hội của những người đến công tác, học tập, giao lưu quốc tế ở những quốc gia khác nhau Trên thực tế, mỗi quốc gia có hệ thống ngôn ngữ, phong tục, tập quán, văn hóa khác nhau điều đó đỏi hỏi người nhập cư cần phải có sự hiểu biết để biến đổi hành vi tương ứng cho phù hợp Theo tác giả Lâm Như Tạng, thích ứng xã hội, thích ứng với điều kiện sống mới có thể hiểu như là sự “Hội nhập” – hội nhập vào cuộc sống mới, vào môi trường mới Khi cuộc sống thay đổi, môi trường sống thay đổi thì con người cũng cần có sự thay đổi nhất định về tâm lý và hành vi của cá nhân cho phù hợp với sự thay đổi của cuộc sống giúp họ có thể hội nhập với cuộc sống mới dễ dàng Theo tác giả, đây chính là khả năng con người cần rèn luyện
để thích ứng (Hội nhập) khi cuộc sống thay đổi: “Nhập giang tùy khúc, đáo xứ tùy tục”
Tác giả cho rằng, muốn sự thích ứng diễn ra được tốt nhất thì phải có sự thích ứng từ hai phía: Phía người mới đến phải thích ứng mới môi trường mới và người bản địa phải thích ứng với sự thay đổi của cuộc sống khi có người mới đến Đây là điều kiện cần thiết tạo nên sự thông hiểu, đồng cảm lẫn nhau giữa người bản địa và người di cư đến, là nền tảng của sự ổn định trong xã hội có nhiều biến động phức tạp trong thời kỳ hội nhập Có những trường hợp hội nhập
Trang 25không tốt gây cản trở xã hội nên có những điều tiêu cực xảy ra vì thiếu hiểu biết của cả hai bên, thiếu sự thông cảm, thiếu tinh thần khoan dung xây dựng lẫn nhau, biến thành những vấn đề nan giải cho xã hội chúng ta
* Một số nghiên cứu về thích ứng nghề nghiệp
Công trình nghiên cứu về “Kế hoạch đường đời và tự xác định nghề nghiệp của thanh niên – SV” của Nguyễn Thạc Trong công trình này tác giả đã đề cập đến sự thích ứng nghề nghiệp và chỉ ra được ý nghĩa của nó với việc lựa chọn nghề nói riêng và đối với cả cuộc đời người sinh viên nói chung Theo tác giả, thích ứng tốt sẽ tạo ra được sự ổn định nghề nghiệp và đảm bảo niềm tin vào sự đúng đắn trong việc lựa chọn nghề, là cơ sở để tự khẳng định nhân cách và củng
cố xu hướng nghề nghiệp của bản thân
Tác giả Nguyễn Xuân Thức với công trình nghiên cứu: “Các biện pháp nâng cao sự thích ứng với hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa cho SV của sinh viên sư phạm” Đây là khía cạnh thích ứng với nghề sư phạm mà mỗi sinh viên sư phạm cần phải được rèn luyện ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường Theo tác giả, sự thích ứng này chính là nhân tố tâm lý bên trong tạo nên kết quả của hoạt động thực tập sư phạm và sự phát triển nhân cách nghề nghiệp của sinh viên sư phạm
* Một số nghiên cứu về thích ứng học tập
Từ năm 1994 đến năm 1996, Vũ Thị Nho và các cán bộ thuộc Trung tâm Tâm - sinh lý học lứa tuổi, Viện Khoa học Giáo dục đã thực hiện đề tài cấp Bộ mang tên "Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu học" Tác giả xem xét sự thích nghi với hoạt động học tập ở học sinh bậc tiểu học biểu hiện thông qua các hành vi học tập trên lớp Kết quả nghiên cứu này đã chỉ ra các yếu
tố ảnh hưởng đến quá trình thích nghi như: quá trình giáo dục ở bậc mẫu giáo, điều kiện gia đình, giáo viên tiểu học, môi trường sư phạm, văn hoá ứng xử trong các quan hệ ở trường, phương pháp dạy học
Trang 26Năm 1998 có luận văn Thạc sĩ của tác giả Lê Thị Hương về "Nghiên cứu
sự thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất trường Cao đẳng
Sư phạm Thanh Hoá" Tác giả cho rằng "thích ứng với hoạt động học tập của sinh viên là một quá trình người sinh viên tích cực chủ động làm quen, hoà nhập vào các điều kiện học tập mới khác về chất so với hoạt động học tập trong trường phổ thông trung học nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người cán bộ trong tương lai, thực hiện hiệu quả mục tiêu đào tạo của nhà trường và đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện đại"
Năm 2009, Luận án tiến sĩ của tác giả Đỗ Thị Thanh Mai về “Mức độ thích ứng với HĐHT của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội” Tác giả đã nhận xét: Sinh viên hệ Cao đẳng thích ứng không giống nhau với hoạt động thực hành các môn học tại trường Đa số SV năm thứ ba hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội thích ứng ở mức độ trung bình với hoạt động thực hành môn học tại trường Trước khi tốt nghiệp, số SV thích ứng tốt với hoạt động thực hành môn học vẫn chiếm tỉ lệ chưa cao Mức độ thích ứng với hoạt động thực hành của SV chịu sự chi phối của nhiều nhân tố Các yếu tố chủ quan như: chỉ số phát triển trí thông minh, kiểu tính cách, sức khỏe,
sự nỗ lực cá nhân Các yếu tố khách quan như: việc tổ chức đào tạo của nhà trường, sự nhiệt tình và phương pháp dạy của giáo viên Đồng thời nâng cao nhận thức và thái độ đối với hoạt động thực hành môn học của SV sẽ nâng cao được kỹ năng thực hành môn học của SV, đồng thời nâng cao được mức độ thích ứng với hoạt động thực hành môn học của SV, nâng cao được kết quả học tập của họ [33]
Năm 2009, Luận án tiến sĩ của tác giả Đặng Thị Lan về “Mức độ thích ứng với hoạt động học tập một số môn học chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của SV Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội” Tác giả rút ra một số kết luận sau: Mức độ thích ứng với hoạt động học tập một số môn học chung và môn đọc hiểu tiếng nước ngoài của SV Trường Đại học Ngoại ngữ -
Trang 27Đại học quốc gia Hà Nội còn thấp So mới mức độ thích ứng với hoạt động học tập một số môn học chung thì mức độ thích ứng hoạt động học tập môn đọc hiểu tiếng nước ngoài là thấp hơn Có nhiều yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến mức độ thích ứng với hoạt động học tập của SV Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội, trong đó yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều hơn Hành động học là yếu tố chủ quan và cơ sở vật chất là yếu tố khách quan có ảnh hưởng nhiều nhất đến mức độ thích ứng với hoạt động học của họ Nếu tổ chức và hướng dẫn SV thực hành một số hành động học cơ bản sẽ nâng cao khả năng thích ứng với hoạt động học tập theo tín chỉ của SV
Nghiên cứu của Hoàng Thế Hải và cộng sự (năm 2012) về đề tài “Sự thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng”, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng còn thấp, sự khác biệt về mức độ thích ứng giữa các hành động học tập cơ bản là không lớn [13]
Như vậy, chúng ta thấy rằng trong các công trình nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều chưa có nhiều công trình nghiên cứu về KNTƯ nhất là KNTƯ
với MTSH
1.2 Các khái niệm cơ bản có liên quan đến đề tài
1.2.1 Kỹ năng
1.2.1.1 Các quan niệm về kỹ năng
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều khái niệm khác nhau về kỹ năng, dười đây là một số khái niệm kỹ năng theo từ điển và theo một số tác giả tiêu biểu:
* Theo từ điển
Theo từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [16, tr.157]
Trang 28Theo từ điển Giáo dục học “Kỹ năng là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [10, tr.220]
Theo Việt Nam Tự điển thì “Kỹ” có nghĩa là “Nghề” trong từ “Kỹ nghệ”,
có nghĩa là “Khéo, đến nơi đến chốn, mất nhiều công phu” trong từ “Kỹ càng,
kỹ lưỡng”; “Năng” có nghĩa là “Tài giỏi” trong từ “Năng thần: bề tôi tài giỏi”,
có nghĩa là “C thể làm được” trong từ “Năng lực” [25, tr.269]
Từ điển Oxford định nghĩa kỹ năng “Skill” là khả năng tìm ra giải pháp
cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện [39]
Theo từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, kỹ năng là “Năng
lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng Kỹ năng được hình thành qua luyện tập” [5]
Từ điển Tâm lý học của Liên Xô cũ (1983) cũng định nghĩa: “Kỹ năng là
giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới - cái dựa thêm một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kỹ xảo”
[1, tr.98]
Từ điển Tâm lý học của Mỹ do tác giả J P Chaplin chủ biên (1968) định
nghĩa kỹ năng là “Thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành
động một cách trôi chảy và đúng đắn” [2]
* Theo tác giả:
V A Krutretxki (1980) cho rằng “Kỹ năng là phương thức thực hiện hoạt
động, cái mà con người lĩnh hội được” Trong quá trình luyện tập, trong hoạt
động thực hành kỹ năng dần được hoàn thiện và trong mối quan hệ đó hoạt động của con người cũng trở nên được hoàn hảo hơn trước [1, tr.96]
Trang 29Hai nhà nghiên cứu K K Platonov và G G Golubev (1977) cũng cho rằng: Kỹ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian
tương ứng Đồng thời, “Kỹ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là
sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [1, tr.100]
N Đ Lêvitôv cho rằng, “Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác
nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có chiếu cố đến những điều kiện nhất định” [43, tr.190]
A V Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực
hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, tác giả viết: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm
vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” [45]
Ở Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Ánh Tuyết, Ngô Công Hoàn, Lê Văn Hồng, Nguyễn Quang Uẩn cũng có quan niệm như các tác giả nói trên Như tác
giả Lê Văn Hồng có viết: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (Khái niệm,
cách thức, phương pháp…) để giải quyết một nhiệm vụ mới” [9, tr.118]
Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong quyển “Tâm lý học lao động” cũng
cho rằng kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kỹ thuật của hành động, có kỹ năng [6]
Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho
rằng: “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở
của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng đã
viết: kỹ năng cũng có những đặc điểm khác nữa là “Hành động chưa được khái
quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan
Trang 30trọng” [1]
Như vậy, có thể thấy kỹ năng được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau theo những quan điểm trên, kỹ năng đã được nhìn nhận ở cả những kỹ năng mang tính phức tạp Kỹ năng cũng được khẳng định là năng lực vận dụng tri thức thì kỹ năng là một mức độ của năng lực Nói một cách khác, một người có
kỹ năng thì người đó đang hình thành một năng lực tương ứng với kỹ năng đó Chính vì vậy tác giả Đặng Thành Hưng (2004) cho rằng kỹ năng là một thành phần quan trọng trong cấu trúc năng lực [14] Còn tác giả Huỳnh Văn Sơn, trong một nghiên cứu đã cho rằng kỹ năng có nhiều dạng, có những kỹ năng khá đơn
giản, nhưng cũng có những kỹ năng rất phức tạp Và “Những kỹ năng có thể
chia thành những kỹ năng chung và những kỹ năng chuyên biệt” [26] Tác giả
Huỳnh Văn Sơn cũng khẳng định: “Một kỹ năng không bao giờ đứng riêng lẻ
mà luôn có sự “Tham gia” của các kỹ năng khác có liên quan” [27]
Từ những quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, kỹ năng không chỉ là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Vì vậy, chúng tôi đồng ý với khái niệm về kỹ năng của tác giả Vũ Dũng
1.2.1.2 Đặc điểm của kỹ năng
Nhận thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình chủ thể thực hiện một hành động, một kỹ năng nào đó thì chính chủ thể phải nhận biết được những nội dung, nhiệm vụ, các thao tác và những hành động cụ thể để thực hiện kỹ năng đó
Cùng với nhận thức đúng đắn thì thái độ tích cực, tâm thế sẵn sàng sẽ giúp chủ thể vượt qua các trở ngại và khó khăn để thực hiện kỹ năng một cách dễ dàng có nhận thức đầy đủ, thái độ tích cực nhưng nếu không hành động để thực hiện kỹ năng thì kỹ năng cũng không được hình thành Kỹ năng được hình thành thông qua hoạt động Để có thể hoạt động hiệu quả, con người phải có kỹ năng
Trang 31và kỹ năng chỉ có thể phát triển thông qua thực tiễn hoạt động Muốn tăng mức
độ kỹ năng, con người phải thường xuyên rèn luyện Khi thực hiện kỹ năng, chủ thể phải thực hiện các loại tri giác khác nhau để kiểm tra các thao tác thực hiện Trong quá trình thực hiện kỹ năng, tùy vào từng năng lực, kỹ năng của mỗi chủ thể mà các thao tác được thực hiện đầy đủ, chính xác đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện kỹ năng, thường những động tác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ
Trong kỹ năng có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: Có nghĩa là kỹ năng không nhất thiết gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp kỹ năng ở mức độ cao thì chủ thể có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang những đối tượng mới
1.2.1.3 Các mức độ của kỹ năng
Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau về mức độ của kỹ năng Nhưng đa phần các tác giả đều phân chia kỹ năng thành năm mức độ từ những kỹ năng ban đầu đến kỹ năng đạt ở mức độ hoàn hảo Dựa theo quan điểm của V P Bexpalko, có năm mức độ kỹ năng sau:
- Mức độ 1: Kỹ năng ban đầu
Chủ thể đã có kiến thức về nội dung một dạng kỹ năng nào đó và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, chủ thể sẽ có thể tái hiện những thao tác, hành động nhất định nào đó Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì chủ thể thường chỉ thực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người đi trước
- Mức độ 2: Kỹ năng mức thấp
Khác với mức độ 1, ở mức độ kỹ năng mức thấp, chủ thể đã có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song, ở mức độ kỹ năng này, chủ thể chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới
Trang 32- Mức độ 3: Kỹ năng trung bình
Chủ thể tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế
- Mức độ 4: Kỹ năng cao
Một sự khác biệt thể hiện ở mức độ kỹ năng cao là chủ thể đã tự lựa chọn
hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, chủ thể đã biết di chuyển kỹ năng trong phạm vi nhất định
- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Chủ thể nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết lựa chọn những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì
1.2.1.4 Sự hình thành kỹ năng
Tâm lý học Mácxit đã khẳng định: Tâm lý con người có bản chất là hoạt động Nói cách khác tâm lý, ý thức (Trong đó có kỹ năng) được nảy sinh, hình thành và phát triển trong quá trình chủ thể tiến hành hoạt động Vì vậy, kỹ năng được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Tác giả Robert J
Sternberg (2003) ở đại học Yale nhìn nhận “Thực chất của sự hình thành kỹ
năng là tạo điều kiện để chủ thể nắm vững một hệ thống phức tạp các bước, các thao tác làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng những tình huống, các nhiệm
vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [46]
Vì vậy, muốn hình thành kỹ năng, cần thực hiện được các yêu cầu cơ bản sau:
Giúp chủ thể biết cách tìm tòi và từ đó nhận biết những thông tin đã biết, chưa biết cần phải thu thập cũng như mối quan hệ giữa chúng
Giúp chủ thể hình thành một mô hình khái quát để giải quyết nhiệm vụ Đồng thời, trên cơ sở đó, chủ thể có sự liên tưởng đến các đối tượng cùng loại
Trang 33Giúp chủ thể xác lập được mối liên hệ giữa mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng để từ đó có thể tự chọn lựa được những thao tác, hành động đúng đắn và phù hợp để hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn và phức tạp hơn nảy sinh trong các trường hợp khác
Để hình thành được một kỹ năng hay làm cho quá trình hình thành kỹ năng đạt hiệu quả, cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng Sự hình thành kỹ năng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:
- Nội dung của nhiệm vụ
Nội dung nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hoá sẵn hay bị che phủ bị những yếu tố phụ nào đó và làm lệch hướng tư duy và ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng
Chính vì thế, để hình thành kỹ năng hiệu quả, cần thiết lập thao tác xác định nội dung của nhiệm vụ sao cho thật rõ ràng và cụ thể Nhất thiết cần trả lời những câu hỏi như: nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì, thực hiện nhiệm vụ đó nghĩa là thực hiện những yêu cầu cụ thể nào
- Tâm thế và thói quen của chủ thể
Một minh chứng rõ nét nhất về sự ảnh hưởng của tâm thế đến sự hình thành
kỹ năng đó là những học sinh đã sẵn sàng tham gia vào việc học tập một môn học thì sẽ dễ dàng hình thành những kỹ năng liên quan đến môn học này Vì thế, tạo ra một tâm thế thuận lợi, tích cực sẽ giúp chủ thể hình thành kỹ năng một cách dễ dàng hơn
Ngoài ra, yếu tố thói quen đôi khi là một yếu tố thuận lợi, nhưng cũng có thể là một yếu tố bất lợi trong một số trường hợp cần hình thành kỹ năng Do vậy, khi hình thành kỹ năng, cần chú ý đến việc phát huy những thói quen sẽ hỗ trợ cho việc hình thành kỹ năng và tiến hành làm thay đổi một thói quen nào đó nếu nó là yếu tố cản trở cho quá trình hình thành kỹ năng
- Khả năng tư duy
Trong quá trình thực hiện một nhiệm vụ, thông thường chủ thể phải vận
Trang 34dụng rất nhiều những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp để nhận biết nội dung nhiệm vụ Do vậy, khả năng phân tích, khái quát hoá đối tượng tốt thì quá trình hình thành kỹ năng sẽ diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn
Do vậy, khi hình thành kỹ năng, cũng cần phải lưu ý đến nội dung nhiệm
vụ, các yếu tố thuộc về chủ thể như: tâm thế, thói quen, khả năng tư duy Cũng cần chú ý rằng những khó khăn trong việc hình thành một kỹ năng nào đó là làm cách nào để chủ thể nhận dạng được các kiểu nhiệm vụ, tìm kiếm, phát hiện những thuộc tính và những mối quan hệ vốn có trong từng nhiệm vụ để lựa chọn
và sử dụng đúng đắn, phù hợp những thao tác, hành động thực hiện mục đích nhất định
thuật ngữ của sinh học dùng để chỉ hoạt động hoặc quá trình thích nghi, thích ứng
Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học Xã hội năm 1994 định nghĩa khái
niệm “Thích nghi” là “Có những biến đổi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh,
môi trường mới”; còn “Thích ứng” là “Những thay đổi cho phù hợp với các điều kiện, yêu cầu mới”
Từ điển TLH do Nguyễn Khắc Viện chủ biên, xuất bản 1994 đặt hai khái
niệm này trong một mục Tác giả cho rằng: “Một sinh vật sống trong một môi
trường có nhiều biến động bằng cách thay đổi phản ứng của bản thân, hoặc tìm cách thay đổi môi trường Bước đầu là điều chỉnh phản ứng sinh lý (thích nghi với điều kiện nhiệt độ, môi trường), sau này là thay đổi các ứng xử, đây là thích
Trang 35nghi tâm lý”
Theo cuốn Từ điển Tâm lý học của tác giả Vũ Dũng xuất bản năm 2008,
“Thích ứng là phản ứng của cơ thể với những thay đổi của môi trường” Về
nguyên tắc có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi các điều kiện của môi trường: 1/ Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo
và hoạt động của các cơ quan; Đây là phương thức phổ biến với động vật và thực vật 2/ Thích ứng bằng cách thay đổi hành vi mà không thay đổi tổ chức; Phương thức này chỉ đặc trưng cho động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lý Theo quan niệm này thì khái niệm thích ứng cũng có điểm đồng nghĩa với thích nghi [4]
Các nhà khoa học đã đưa ra rất nhiều khái niệm thích ứng ở các khía cạnh khác nhau, nhưng cho đến nay vẫn chưa có khái niệm nào được thừa nhận rộng rãi bởi hai lý do:
Thứ nhất: Trong tâm lý học ít có công trình nghiên cứu lý luận nào chuyên biệt về vấn đề thích ứng
Thứ hai: Thích ứng là vấn đề phức tạp, có thể tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trên thực tế, các trường phái tâm lý học khác nhau thường xem xét bản chất của sự thích ứng trong khi giải quyết các phạm trù, khái niệm cơ bản của trường phái mình
Theo tác giả E.A Ermoleava, “Thích ứng là quá trình thích nghi của người
mới lao động, với những đặc điểm và điều kiện lao động trong một tập thể nhất định” [38]
Theo tác giả D.A Andreeva, “Thích ứng” được hiểu như “Một thích nghi
đặc biệt của cá nhân vào những điều kiện mới, là sự thâm nhập của cá nhân vào những điều kiện đó một cách không gượng ép” [38]
Quá trình thích ứng diễn ra theo 3 mức độ:
Mức độ 1: Cá nhân hòa đồng với nhóm, tổ chức bằng cách điều chỉnh các nhu cầu, suy nghĩ, hành vi… của mình theo các chuẩn mực
Trang 36Mức độ 2: Cá nhân có những sáng kiến từng bước góp phần thay đổi chuẩn mực
Mức độ 3: Là mức độ cao nhất và cũng là mục tiêu cuối cùng cần đạt tới của quá trình thích ứng, đó là cá nhân làm thay đổi hệ thống chuẩn mực, xây dựng hệ thống chuẩn mực mới và có những biện pháp để duy trì chuẩn mực ấy
Như vậy, “Thích ứng” và “Thích nghi” tuy tương đồng về mặt ý nghĩa, nhưng
vẫn có một số khác biệt cần phân biệt giữa chúng
Theo A.N Lêônchiev đã khẳng định: “Sự khác biệt cơ bản giữa các qua
trình thích nghi theo đúng nghĩa của nó là các quá trình tiếp thu, lĩnh hội là ở chỗ thích nghi là quá trình thích nghi sinh vật, là quá trình thay đổi các thuộc tính của loài, năng lực của cơ thể là hành vi loài của cơ thể Còn quá trình tiếp thu, lĩnh hội thì khác: đó là quá trình mang lại kết quả là cá thể tái tạo lại năng lực và chức năng người đã hình thành trong quá trình lịch sử” Sự khác nhau
giữa thích nghi và thích ứng là quá trình giúp con người đạt được nhờ sự tác động của di truyền A.N Lêônchiev làm rõ sự khác nhau giữa thích nghi sinh học
và thích ứng tâm lý người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu hiện tượng này
cả về lý luận và thực tiễn Theo chúng tôi, thích ứng là quá trình chủ thể tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ, hành động nhằm đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động để hoạt động có kết quả, thích ứng được thể hiện qua nhận thức, thái độ, hành động của họ
1.2.2.2 Đặc điểm của thích ứng
Sự thích ứng của con người có đặc điểm sau đây:
- Thích ứng là quá trình tích cực của chủ thể trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường mới, với những hoạt động có những yêu cầu mới Kích thích chỉ xảy ra khi xuất hiện kích thích mới từ môi trường sống mới Khi điều kiện kích thích thay đổi, những đặc điểm về cơ thể, đặc điểm tâm lý trong cấu trúc tâm lý không còn thích hợp để phản ứng thích hợp với môi trường sống mới buộc chủ thể phải thay đổi cấu trúc tâm lý bên trong, trên cơ sở đó
Trang 37điều chỉnh, hình thành hành vi mới cho phù hợp với điều kiện kích thích mới Kích thích tác động đến chủ thể có thể là một kích thích đơn, có thể là hệ thống kích thích Tùy theo dạng kích thích này, thì phản ứng thích ứng của chủ thể có tính chất khác nhau
- Sự phản ứng của con người được thể hiện bằng một hệ thống phản ứng phù hợp với các kích thích nhằm tạo ra sự cân bằng, sự hòa nhập trong môi trường sống mới Kết quả là cá nhân hòa nhập được với cộng đồng, hòa nhập với cuộc sống lao động sản xuất, với đời sống văn hóa xã hội và sinh hoạt cộng đồng tại môi trường sống mới, đem lại sự thoải mái tinh thần trong môi trường sống mới Kết quả của sự thích ứng là làm thay đổi cấu trúc bên trong hoặc dẫn đến sự thay đổi cấu trúc bên trong của chủ thể Đối với sự thích ứng của con người thì đó là sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của chủ thể thích ứng
- Biểu hiện khách quan nhất, rõ nét nhất của thích ứng là có được hành vi phù hợp với hoạt động Sự thay đổi trực tiếp của cấu trúc bên trong (Cấu trúc cơ thể - như thay đổi nội tiết tố, chiều cao, cân nặng, cấu tạo của cơ thể sinh vật )
để thích ứng với sự thay đổi của môi trường sẽ tạo ra dạng kích thích đơn giản nhất – kích thích sinh học
Sự thay đổi cấu trúc tâm lý: thay đổi tư duy, tình cảm, tính cách, thái độ, xu hướng, niềm tin cho phù hợp với tác động của môi trường sống thay đổi Đây chính là thích ứng tâm lý
1.2.2.3 Phân biệt “Thích ứng” và “Thích nghi”
Theo quan niệm hiện nay, thích ứng được hiểu đồng nghĩa với khái niệm thích nghi, hai khái niệm này có sự tương đồng rõ nét, đó là sự biến đổi, sự điều chỉnh của cơ thể khi môi trường sống thay đổi Trong tâm lý học, khái niệm
“Thích ứng ” bắt nguồn từ khái niệm “Thích nghi” trong sinh vật học, vì vậy xét
về mặt hình thức, cách hiểu như trên là phù hợp Tuy nhiên, điều khác biệt căn bản giữa hai thuật ngữ này là:
“Thích nghi” được dùng trước hết và phổ biến trong sinh vật học Theo
Trang 38A.N Leonchiev, “Sự phát triển của con người không phải là quá trình thích nghi
hiểu theo nghĩa của từ này” Charles Darwin là người đầu tiên đưa phạm trù
“Thích nghi” vào ngành sinh vật học để chỉ ra các quá trình biến đổi về cấu trúc
và chức năng của cơ thể trước sự thay đổi của môi trường Sự “Thích nghi cảm
giác” xảy ra khi cơ thể sinh vật chịu kích thích trong thời gian nhất định đến
mức nó quen và không còn phản ứng với kích thích ấy nữa Thích nghi là quá
trình xảy ra ở mọi sinh vật sống Còn “Thích ứng” thể hiện tính tích cực, chủ
động của cá thể trước những biến đổi của môi trường xung quanh (Cả môi trường tự nhên và xã hội) Với ý nghĩa đó, tâm lý học thường dùng thuật ngữ
“Thích ứng” để tránh trùng lặp với thuật ngữ “Thích nghi” của sinh học Thông
thường các nhà nghiên cứu phân biệt hai loại thích ứng tâm lý cơ bản sau:
“Thích ứng tâm lý” và “Thích ứng tâm lý xã hội”
1.2.2.4 Thích ứng tâm lý
Sự thích ứng tâm lý diễn ra ở cả người và động vật Đó là quá trình cơ thể sinh vật xác lập được sự cân bằng với môi trường thường xuyên biến động thông qua cơ chế phản xạ có điều kiện của hệ thần kinh não bộ Sự thích ứng này có được khi hệ thần kinh phát triển, cho phép có khả năng đáp ứng với những kích thích gián tiếp, đón trước, hoặc tái tạo gần kề Như vậy, thích ứng tâm lý đã làm cho cơ thể sinh vật có thể tồn tại và phát triển tốt hơn trong môi trường đầy biến động
Để làm rõ được bản chất của thích ứng, cần xuất phát từ quan điểm tâm lý học hoạt động Mọi hiện tượng tâm lý cá nhân (Trong đó có vấn đề thích ứng) đều phát sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động Hoạt động vừa là đối tượng, vừa là phương thức của sự thích ứng Điều đó có nghĩa là đã nói đến thích ứng là nói đến thích ứng trong hoạt động cụ thể và muốn thích ứng tốt thì chủ thể phải đi vào hoạt động và tham gia hoạt động Không thể có sự thích ứng diễn ra bên ngoài hoạt động được Qua hoạt động, chủ thể lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội - lịch sử, hình thành nên cấu tạo
Trang 39tâm lý mới, tích cực, chủ động khắc phục những khó khăn chủ quan và khách quan để có hành vi thích hợp, phù hợp với hoàn cảnh đảm bảo hoạt động có hiệu quả Hay nói cách khác: quá trình thích ứng trong hoạt động được đặc trưng bởi những biến đổi ở cá nhân trên hai mặt Thứ nhất là sự biến đổi về mặt tâm lý với việc phát sinh, hình thành và phát triển của các cấu tạo tâm lý mới Thứ hai là những biến đổi về mặt hành vi với việc hình thành các phương thức hành vi mới Cả hai mặt này đều giúp chủ thể thích ứng tốt với môi trường sống Từ đó, chúng tôi cho rằng: Thích ứng tâm lý là quá trình con người tích cực, chủ động thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi nhằm đáp lại một cách phù hợp những đòi hỏi của điều kiện, môi trường sống luôn luôn thay đổi, nhờ đó con người hòa nhập được với môi trường sống
1.2.2.5 Thích ứng tâm lý - xã hội
Theo Darwin, con người được xếp vào loài động vật bậc cao tiên tiến nhất,
có cách thức tổ chức cuộc sống đặc biệt: xã hội Xã hội ấy có những quy tắc, chuẩn mực đòi hỏi mỗi người phải tuân theo Vì vậy, để tồn tại và phát triển trong xã hội, con người không những cần thích ứng với các điều kiện tự nhiên,
mà còn phải điều chỉnh bản thân sao cho phù hợp trước những yêu cầu của xã hội Quá trình thích ứng này đòi hỏi một sự chủ động, tích cực hoạt động để lĩnh hội, tiếp thu các giá trị, chuẩn mực hoặc làm thay đổi môi trường theo hướng mong đợi Đó chính là sự thích ứng tâm lý- xã hội, hình thức thích ứng cao hơn hẳn về chất so với động vật, chỉ có ở con người
Theo Theo A.N Leonchiev, “Thích nghi sinh học là quá trình thay đổi các
thuộc tính của loài và năng lực hành vi của cơ thể, còn cơ chế của sự thích ứng tâm lý - xã hội là quá trình lĩnh hội” Đây là quá trình mỗi cá thể người tái tạo
lại những năng lực mà loài người đã hình thành trong lịch sử, không phải bằng
cơ chế di truyền sinh học, mà bằng cơ chế “Di truyền xã hội” Những năng lực
đó chính là những cấu tạo tâm lý mới mà các cơ chế sinh học (Bẩm sinh và di truyền) của con người chỉ là những điều kiện bên trong- tiền đề vật chất cần
Trang 40thiết, chứ không có ý nghĩa quyết định
Tác giả Nguyễn Khắc Viện cho rằng: “Thích ứng tâm lý- xã hội” là khả năng “Một cá nhân tiếp cận các giá trị của một xã hội, hoà nhập được vào xã
hội ấy” Nghĩa là sự thích nghi xã hội được đồng nhất với kết quả của quá trình
xã hội hoá cá nhân Không thích nghi biểu hiện qua những hành vi trái ngược
với tập tục, sống “Ngoài rìa”, có thể dẫn đến phạm pháp
Thích ứng tâm lý – xã hội là quá trình tương tác giữa con người với môi trường khi con người gia nhập vào các mối quan hệ xã hội, ở đó xuất hiện sự thay đổi, biến đổi các yếu tố tâm lý trong cấu trúc của cá nhân, của nhóm nhằm đáp ứng các yêu cầu khi họ tham gia vào các mối quan hệ xã hội trong hoạt động và giao tiếp khác nhau, theo chuẩn mực xã hội nhất định Như vậy, bản chất của quá trình thích ứng là quá trình cá nhân đó tích cực tham gia vào các mối quan hệ xã hội, thâm nhập vào môi trường xã hội Trên cơ sở đó họ thay đổi nhận thức, biến đổi nhận thức, thái độ, hành vi của cá nhân cho phù hợp với chuẩn mực của xã hội Sự biến đổi đó cho phép cá nhân làm chủ các hoạt động
và quá trình giao tiếp của mình Cuộc sống luôn luôn có những biến động, luôn
có sự thay đổi; do vậy, thích ứng là quá trình diễn ra liên tục trong hoạt động sống của con người Bất kỳ sự thay đổi nào đó từ môi trường sống, môi trường quan hệ xã hội đòi hỏi ở cá nhân một vị thế xã hội nhất định Đòi hỏi đó dẫn tới việc cá nhân phải có sự điều chỉnh nhận thức, thái độ và hành vi nhằm thích ứng với sự thay đổi từ môi trường sống đó
Sự thích ứng tâm lý - xã hội của con người là một quá trình bị quy định bởi hai mặt: bên trong và bên ngoài Bên trong gồm các yếu tố: nhu cầu, động cơ, thái độ, năng lực, kinh nghiệm… bên ngoài là các yêu cầu, điều kiện của hoàn cảnh sống cụ thể, của xã hội nói chung
Kết quả của quá trình thích ứng tâm lý - xã hội của một cá nhân được xác định bởi hai tiêu chí: thứ nhất, đó là sự hình thành, phát triển và hoàn thiện tâm
lý, ý thức, nhân cách của bản thân; thứ hai, đó là thái độ, sự biểu hiện các cảm