Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Cường
XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TRUNG HỌC
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn
và chỉ bảo của TS Nguyễn Thị Tứ
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phạm Thị Cường
Trang 4LỜI CẢM ƠN Luận văn thạc sĩ chuyên ngành tâm lí học với đề tài “Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường Trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng của bản thân và được
sự giúp đỡ, động viên khích lệ của các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và người thân Qua trang viết này tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến:
Quý Thầy Cô Phòng Sau đại học đã hỗ trợ và tạo điều kiện để tác giả được tham gia học tập và hoàn thành Luận văn
Tác giả cũng gửi lời cảm ơn đến các anh chị và các bạn trong lớp Cao học Khóa 26 đã hợp tác và chia sẻ kiến thức Cảm ơn Ban Giám hiệu và các thầy cô ở
4 trường Trung học cơ sở: THCS Kim Đồng, TH Thực hành Sài Gòn, THCS Nguyễn Hiền và THCS Lý Tự Trọng đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn thành trọn vẹn luận văn Đồng thời, tác giả cũng chân thành cảm ơn quý phụ huynh học sinh, các thầy cô giáo và các bạn học sinh đã nhiệt tình hợp tác để trả lời bảng hỏi và phỏng vấn
Tác giả xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với cô giáo TS Nguyễn Thị Tứ - nhà khoa học đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, truyền lửa cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết để tác giả thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Khoa Tâm lý giáo dục đã tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn ủng hộ, đồng hành, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện Luận văn
Tác giả luận văn Phạm Thị Cường
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 7
1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các quan điểm khác nhau về xung đột tâm lí 7
1.1.2 Hướng nghiên cứu của các nhà Tâm lí học Việt Nam 9
1.2.Các khái niệm cơ bản 13
1.2.1 Xung đột 13
1.2.2 Xung đột tâm lí 14
1.2.3 Học sinh THCS 19
1.2.4 Giáo viên 20
1.2.5 Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS 21
1.3.Biểu hiện của Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS 25
1.3.1 Đặc điểm phát triển tâm lí tuổi học sinh THCS 25
1.3.2 Biểu hiện XĐTL giữa giáo viên và học sinh THCS 33
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến XĐTL giữa giáo viên và học sinh THCS 40
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2 THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ MỘT SỐ TRƯỜNG TẠI TP HỒ CHÍ MINH 46
2.1 Thể thức nghiên cứu 46
Trang 62.1.1 Mẫu khách thể 46
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 47
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh một số trường THCS tại TP Hồ Chí Minh 49
2.2.1 Thực trạng tần suất xung đột tâm lí giữa GV và học sinh THCS 49
2.2.2 Thực trạng mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS trong các lĩnh vực hoạt động 52
2.2.3 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS qua các vấn đề cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động 53
2.2.4 Thực trạng về thời điểm xảy ra XĐTL giữa GV và HS THCS 55
2.2.5 Thực trạng mức độ biểu hiện XĐTL giữa giáo viên và học sinh THCS 56
2.2.6 Thực trạng về mối quan hệ với giáo viên sau khi xảy ra XĐTL của HS THCS 66
2.2.7 Nguyên nhân xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS 67
2.3 Một số biện pháp giải quyết thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS tại TP Hồ Chí Minh 74
2.3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 74
2.3.2 Một số biện pháp 75
2.3.3 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Tiểu kết chương 2 90
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 92 PHỤ LỤC
Trang 7Xung đột tâm lý liên nhân cách XĐTLLNC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Mẫu khách thể nghiên cứu 46
Bảng 2.2 Tần suất XĐTL giữa GV và học sinh THCS 50
Bảng 2.3 Tần suất XĐTL giữa GV và HS THCS xét theo giới tính, khối lớp và địa bàn 50
Bảng 2.4 Mức độ biểu hiện xung đột tâm lí giữa GV và học sinh THCS 52
Bảng 2.5 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS qua các vấn đề cụ thể trong từng lĩnh vực hoạt động 54
Bảng 2.6 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS về mặt nhận thức 56
Bảng 2.7 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS về mặt cảm xúc 59
Bảng 2.8 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS về mặt phản ứng khi có XĐ 61
Bảng 2.9 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS về mặt hành vi giải quyết 63
Bảng 2.10 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS qua các mặt biểu hiện 65
Bảng 2.11 Mức độ biểu hiện XĐTL giữa GV và HS THCS xét theo giới tính và khối lớp 66
Bảng 2.12 Mức độ biểu hiện mối quan hệ với giáo viên sau khi xảy ra XĐTL của HS THCS 66
Bảng 2.13 Nhóm các nguyên nhân gây XĐTL giữa GV và HS THCS 67
Bảng 2.14 Các nguyên nhân thuộc nhóm từ phía học sinh 68
Bảng 2.15 Các nguyên nhân thuộc nhóm từ phía thầy cô 69
Bảng 2.16 Các nguyên nhân thuộc nhóm sự khác biệt về đặc điểm tâm lí giữa GV và HS THCS 71
Bảng 2.17 Nhóm các yếu tố ngoại cảnh tác động đến XĐTL giữa GV và HS THCS 73
Bảng 2.18 Kết quả khảo sát thực trạng tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 88
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Thời điểm xuất hiện XĐTL giữa GV và HS THCS 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cùng với gia đình, nhà trường là môi trường giáo dục có tầm quan trọng vô cùng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Hoạt động dạy học trong nhà trường được coi là hoạt động trung tâm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường, trong đó không thể không nhắc đến vai trò của người giáo viên Thầy cô giáo không chỉ dạy kiến thức mà còn định hướng con đường và cách sống cho các em Thầy cô giáo không chỉ truyền đạt tri thức mà còn là những hiểu biết giá trị và lối sống nhân văn cao đẹp
Tuổi học sinh Trung học cơ sở là một giai đoạn phát triển tâm lí đầy biến động của một đời người Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt, các em đang tách dàn khỏi thời thơ ấu để tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn là người trưởng thành Chính điều này tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức… của thời kì này Ở lứa tuổi này có nhiều thay đổi về thể chất, tâm sinh
lý, dễ chịu tác động của những biến đổi trong xã hội, vai trò của gia đình và nhà trường càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết [38] Trong khi đó, sự phát triển kinh
tế xã hội hiện nay cùng với xu thế giao lưu, hội nhập quốc tế, văn hóa xã hội mang tính chất toàn cầu, ngoài những tác động tích cực còn có những mặt hạn chế làm cho các mối quan hệ cũng như tác động giáo dục và ảnh hưởng của giáo dục nhà trường có chiều hướng giảm sút Thầy cô nhiều khi do không hiểu học sinh đầy đủ cộng với những ảnh hưởng từ biến động của xã hội, kinh tế, văn hóa đã áp dụng nhiều biện pháp giáo dục cứng nhắc Trong quan hệ giữa thiếu niên với thầy cô giáo cũng thường hay xảy ra các mâu thuẫn Những xung đột của thiếu niên với thầy cô giáo thường dẫn đến những hậu quả xấu đối với sự phát triển tâm lí của các em Sự rối nhiễu tâm lí, sự sai lệch hành vi phần lớn có căn nguyên từ xung đột giữa người lớn với thiếu niên lứa tuổi này [28]
Trên thực tiễn, xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh nếu không được giải quyết ổn thỏa sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho các mối quan hệ trong nhà trường, ảnh hưởng tới sự phát triển nhân cách của trẻ Bầu không khí nhà trường không lành mạnh sẽ kéo theo những cảm xúc tiêu cực trong gia đình như bất mãn,
Trang 11chống đối… Hậu quả của xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh lứa tuổi học sinh THCS tuy chưa được các nhà tâm lí học chính thức thống kê trên phạm vi cả nước, nhưng thường xuyên được ghi nhận và đăng tải trên các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Lao Động, Phụ Nữ,… trong những năm gần đây Những vụ việc bạo lực học đường mà nguyên nhân của nó xuất phát từ những xung đột, mâu thuẫn của các em học sinh trong những năm gần đây đã và đang là vấn đề nhức nhối của gia đình, nhà trường và toàn xã hội
Về mặt lý luận, đã có nhiều nghiên cứu về lứa tuổi THCS cũng như xung đột tâm lí của lứa tuổi này với cha mẹ, với người lớn.Tuy nhiên, những nghiên cứu về xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh còn quá ít ỏi, đặc biệt những năm gần đây chưa có đề tài nào nghiên cứu về xung đột tâm lí của học sinh THCS với giáo viên tại TPHCM Đây sẽ là những cung cấp cần thiết về mặt lí luận cho những nghiên cứu sau này liên quan tới sự xung đột tâm lí với thầy cô giáo của học sinh lứa tuổi THCS có nhiều thay đổi này
Cùng với sự phát triển của xã hội, vấn đề mâu thuẫn giữa giáo viên và học sinh lứa tuổi THCS đang là vấn đề nóng bỏng và cần có sự quan tâm của toàn xã hội, đặc
biệt là những nhà giáo dục Vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài: “Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh ở một số trường THCS tại TPHCM” làm đề tài nghiên cứu
Như một cách kiểm chứng lại những kiến thức đã học, tìm hiểu xung đột tâm lí giữa thầy cô và học sinh lứa tuổi THCS cùng những nguyên nhân chính của nó, thực trạng
về những cách giải quyết mâu thuẫn, xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh lứa tuổi THCS
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh một số trường THCS tại TPHCM Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh và giáo viên giải quyết xung đột tâm lí tốt hơn
3 Đối tượng và khách thể
a Đối tượng nghiên cứu
Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS
Trang 12b Khách thể nghiên cứu
Giáo viên và học sinh THCS một số trường THCS tại Tp HCM
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4 1 Giới hạn đối tượng và nội dung nghiên cứu
Đề tài tìm hiểu về thực trạng xung đột tâm lí giữa thầy cô và học sinh THCS tại
Tp HCM, gồm: Thực trạng mức độ biểu hiện các xung đột tâm lí, thực trạng các vấn
đề gây xung đột, nguyên nhân của thực trạng, tác động của xung đột tâm lí đến học
sinh THCS và các biện pháp giải quyết xung đột của học sinh và thầy cô khi có xung
đột trên 3 bình diện: nhận thức, thái độ và hành động
Đề tài tập trung nghiên cứu xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh được
nhìn từ phía học sinh Trung học cơ sở
4.2 Giới hạn khách thể nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trên khách thể là 400 học sinh lớp 8 và lớp 9 ở các
trường THCS trên địa bàn Quận 5 và Quận Gò Vấp
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh
THCS
5.2 Xác định thực trạng biểu hiện xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh
THCS Phân tích nguyên nhân của thực trạng này
5.3 Đề xuất một số biện pháp nhằm giúp học sinh và giáo viên giải quyết tốt hơn
những xung đột tâm lí
6 Giả thuyết khoa học
6.1 Có sự khác biệt về tần suất và mức độ biểu hiện xung đột tâm lí giữa các nhóm
khách thể với một số đặc điểm về giới tính, khối lớp và địa bàn nghiên cứu
6.2 Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS xảy ra ở mức độ cao
Nguyên nhân chính gây ra xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCSlà do
sự khác biệt về đặc điểm tâm lí, trong đó có sự khác biệt về nhận thức của giáo
viên và học sinh về vấn đề học tập và rèn luyện
Trang 137 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Cơ sở phương pháp luận
7.1.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống – cấu trúc trong việc nghiên cứu lý luận về xung đột tâm lí giữa thầy cô và học sinh THCS tại TP HCM gồm những mặt như: Khái niệm, ý nghĩa, nội dung, mối tương quan, kết luận
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Ngày nay, xã hội không ngừng phát triển kéo theo nhiều thay đổi trong các mối quan hệ, đặc biệt là mối quan hệ giữa thầy cô – học sinh Khoảng cách thế hệ, sự khác biệt trong nhận thức đã gây ra nhiều xung đột tâm lí trong mối quan hệ giữa thầy cô và học sinh Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Nhận biết được những khó khăn đó, người nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu đề tài này, mặc dù đây không phải là vấn đề mới nhưng lại là vấn đề mang tính thực tiễn sâu sắc nhưng vẫn quyết định lựa chọn đề tài này nhằm đưa ra góc nhìn tổng quát về thực trạng từ đó có những biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề do thực tiễn đặt trong nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
Nghiên cứu và hệ thống hóa tài liệu những tri thức lý luận và thực có liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xác định xơ sở lý luận cho vấn đề và định hướng nghiên
cứu thực tiễn
Phương pháp này diễn ra theo các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa những lý thuyết cũng như những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trên cơ sở các công trình đã được công bố trên các tạp chí, sách báo… nhằm mục đích lựa chọn được những khái niệm và công cụ nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài và định hướng cho việc nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi
Là phương pháp thu thập dữ liệu từ mẫu chọn trong đó sử dụng công cụ chính là bảng hỏi để phục vụ mục đích nghiên cứu Cùng với phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 14thì đây là phương pháp chính được sử dụng nhằm thực hiện mục đích của đề tài nghiên cứu Phương pháp này sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi được soạn thảo dựa trên mục đích nghiên cứu
Cách thức thực hiện: Để có được bảng hỏi theo đúng yêu cầu nghiên cứu, chúng tôi sẽ tiến hành thiết kế bảng hỏi qua 3 giai đoạn khác nhau:
Giai đoạn 1: Thiết kế bảng hỏi
Giai đoạn 2: Khảo sát thử trên 20 học sinh và giáo viên để chỉnh sửa bảng hỏi, bổ sung và hoàn thiện bảng hỏi cho phù hợp với yêu cầu của đề tài Bảng hỏi chính thức này sẽ được thực hiện trong giai đoạn 3
Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức
Mục đích: Tìm hiểu thực trạng xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS qua tỷ lệ phần trăm mối quan hệ có xung đột, các mức độ xung đột, nguyên nhân xung đột, những dạng thức ứng phó khi có xung đột tâm lí xảy ra, các yếu tố ảnh hưởng và các kết luận nghiên cứu
Cách thức: Sẽ phát bảng hỏi cho cả 2 nhóm khách thể là giáo viên và học sinhTHCS ở những địa bàn đề tài tiến hành nghiên cứu Việc khảo sát trên học sinh được thực hiện ngay tại lớp học Bảng hỏi dành cho giáo viên sẽ được thu xếp thực hiện sau những tiết dạy hoặc trong thời gian các thầy cô giáo trống tiết, chờ tiết dạy tiếp theo
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Là phương pháp thu thập dữ liệu bằng việc hỏi có định hướng, mục đích đối với một số khách thể nghiên cứu Nhằm mục đích tìm hiểu vấn đề sâu hơn và rộng hơn so với bảng hỏi được sử dụng trong đề tài này, khai thác sâu về các thông tin ẩn, thêm các dẫn chứng cụ thể và các ý kiến đánh giá của cả thầy cô giáo cũng như học sinh về xung đột tâm lí và cách giải quyết xung đột tâm lí giữa thầy cô và học sinh THCS Tìm hiểu thêm những trường hợp có xung đột tâm lí điển hình giữa giáo viên và học sinh Tìm hiểu ý kiến của các chuyên gia tư vấn tâm lí, các nhân viên trong nhà trường THCS
Trang 15Đề tài sẽ phỏng vấn 20 học sinh và 10 giáo viên trên tổng số khách thể nghiên cứu để tìm hiểu thêm những trường hợp có xung đột tâm lí điển hình giữa giáo viên và học sinh
Đề tài cũng sẽ tiến hành phỏng vấn và hỏi ý kiến của các chuyên gia, các cán bộ đang làm việc trong nhà trường để có cái nhìn tương đối đầy đủ hơn về thực trạng và cách thức giải quyết xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS
7.2.2.3 Phương pháp xử lí số liệu
Phương pháp này sử dụng một số phương pháp toán học như: thống kê, lập bảng,
xử lí thông tin và số liệu thu thập được từ điều tra và thực nghiệm Trong đó phần mềm được sử dụng để xử lí và phân tích số liệu nghiên cứu cho đề tài này là
SPSS 23.0
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XUNG ĐỘT TÂM LÍ GIỮA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các quan điểm khác nhau về xung đột tâm lí
1.1.1.1 Các quan điểm trong Tâm lí học phương Tây về xung đột tâm lí
Trong Tâm lí học Phương Tây, có hai hướng nghiên cứu chủ yếu Hướng nghiên cứu thứ nhất đi sâu nghiên cứu XĐTL bên trong nhân cách và hướng nghiên cứu thứ hai đi sâu nghiên cứu XĐTLLNC và XĐTL giữa các nhóm xã hội
Hướng nghiên cứu thứ nhất được nghiên cứu sâu rộng ở Tâm lí học đại cương, tâm lí học sư phạm, tâm bệnh học và phân tâm học Ở hướng này có một số nhà tâm lí tiêu biểu như: K Lewin, N.Miller, S Freud, Erich From [9] và các nhà tâm lí học thuộc hướng nghiên cứu này cho rằng XĐTL là sự đấu tranh giữa các lực lượng tâm lí: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi Trong quá trình này thường xuyên diễn ra sự dồn nén, sự thỏa hiệp và sự giải tỏa bằng các hình thức khác nhau Cuộc sống của trẻ lứa tuổi THCS đầy những căng thẳng và xung đột, lúc thì yêu thương, lúc thì căm ghét, lúc thì phụ thuộc vào bố mẹ và những người lớn
Hướng nghiên cứu thứ hai (từ những năm 60) bắt đầu được nghiên cứu bởi các nhà tâm lí học xã hội mà mục đích chủ yếu là nghiên cứu XĐTLLNC và XĐTL giữa các nhóm xã hội Ở hướng nghiên cứu này, có hai lý thuyết tâm lí học chủ yếu đó là thuyết động lực và thuyết tâm lí học xã hội nhận thức
J.Piaget và các nhà tâm lí học nhận thức, nghiên cứu sự hình thành – phát triển các cấu trúc nhận thức và trí tuệ cá nhân Trong đó xung đột được đề cập như một trạng thái thiếu hụt, mất cân bằng giữa các quá trình đồng hóa và điều ứng các kích ứng từ môi trường.Theo J.Piaget, sự phát triển tâm lí trẻ em là sự phát triển các sơ đồ nhận thức, “Sự phát triển nhận thức bắt nguồn từ sự đan xen thường xuyên giữa đồng hóa và điều ứng Đồng hóa duy trì và bổ sung cho các năng lực hữu hiệu và các bài học đã học được Còn điều ứng thì bắt nguồn từ những vấn đề mới mà môi trường đặt
ra Nhưng sự không thống nhất giữa ý tưởng cũ với những trải nghiệm mới của trẻ là
Trang 17một tác nhân, động lực mới quan trọng tạo thành những thay đổi trong quá trình phát triển nhận thức [12]
Dưới góc độ Tâm lí học hoạt động, L.X.Vugoxki và các nhà tâm lí học cùng xu hướng quan tâm tới xung đột với tư cách là mâu thuẫn giữa các yếu tố tâm – sinh lý bên trong của cá nhân với các yếu tố bên ngoài thuộc về môi trường Sự tác động của các yếu tố bên ngoài phải thông qua yếu tố bên trong Khi sự phát triển của các yếu tố bên trong và điều kiện khách quan bên ngoài không thống nhất với nhau sẽ dẫn đến xung đột tâm lí, cá nhân sẽ lâm vào trạng thái khủng hoảng trong quá trình phát triển Điều này rất phổ biến trong thời điểm chuyển từ lứa tuổi này sang lứa tuổi khác [20] Tác giả Erik J Van Slyke đã tiếp cận xung đột giữa trên nguyên lý lắng nghe, lắng nghe được xem là một bí quyết để tạo nên những giải pháp cho xung đột Theo lý giải của tác giả, xung đột nảy sinh là do chúng ta không nắm bắt được động cơ, công việc và mục đích của người khác và từ đó họ cũng không lắng nghe ta và dẫn đến xung đột Tác giả hướng dẫn chúng ta cách giải quyết xung đột, trước tiên phải đi từ sự lắng nghe bản thân sau đó mới đến lắng nghe người khác [9]
Cùng với các lý thuyết nói trên, vấn đề XĐTLLNC và XĐTL liên nhóm luôn thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều tác giả như: Coser, Elton Mayo, A.M Robert và Ph Tilman,… Có nhiều lý thuyết và quan điểm khác nhau về vấn đề xung đột, nhìn chung, các lý thuyết và quan điểm đó bước đầu khám phá ra bản chất, chức năng của xung đột; các dấu hiệu biểu hiện của xung đột, nguyên nhân gây ra xung đột và một số cách thức giải quyết xung đột Tuy vậy, phương pháp luận tiếp cận của các quan điểm tâm
lí học khác nhau đã nêu ở trên chủ yếu đứng trên các quan điểm triết học thực chứng, thực dụng; nghiên cứu con người trong sự đối lập với xã hội nên kết quả nghiên cứu của họ còn nhiều hạn chế, không phản ánh được bản chất của quan hệ liên nhân cách Cách tiếp cận này hoàn toàn khác với cách tiếp cận của Tâm lí học Mác xít về xung đột và bản chất của xung đột [32]
1.1.2.1 Quan điểm của các nhà Tâm lí học Mác xít về xung đột tâm lí
Vấn đề XĐTL cũng được các nhà Tâm lí học Mác xít nghiên cứu theo hai góc độ: Góc độ tâm lí học cá nhân đó là XĐTL bên trong nhân cách; góc độ tâm lí học xã hội đó là xung đột tâm lí liên nhân cách và xung đột tâm lí giữa các nhóm xã hội Các
Trang 18tác giả tiêu biểu như: A.G.Kovaliop, A.V Petrovxki, G.L Smirnop,… Nghiên cứu XĐTL trong mối quan hệ liên nhân cách trong gia đình trên cở sở quá trình tổ chức hoạt động chung, thông qua tính quy định của các nhân tố lịch sử - xã hội Việc nghiên cứu lý luận được coi trọng nhưng việc nghiên cứu ứng dụng – thực tiễn chưa được thực hiện nhiều [21] Tác giả A.V.Ptrovxki (1982) đi sâu nghiên cứu xung đột lứa tuổi thiếu niên với người lớn Ông cho rằng nguyên nhân xung đột là do người lớn không biết cách và không muốn tìm cho thiếu niên một vị trí bên cạnh mình [22]
Ở Việt Nam có thể kể đến là: Phạm Tất Dong, Mai Hữu Khuê, Nguyễn Ngọc Phú, Đỗ Long, Ngô Công Hoàn, Nguyễn Quang Uẩn, Vũ Dũng,… Thành tựu của các nhà tâm lí học Mác xít, đặc biệt các nhà tâm lí học Xô Viết trong việc nghiên cứu về XĐTL trong tập thể thể hiện trước hết ở chỗ họ đã từng bước hoàn thiện khái niệm, nêu rõ ảnh hưởng tiêu cực của XĐTL đến cá nhân và tập thể, chỉ ra nguồn gốc, nguyên nhân cơ bản gây ra XĐTL trong tập thể, một số tác giả đã đề cập đến những vấn đề có tính quy luật của xung đột, đưa ra các biện pháp tâm lí nhằm phòng ngừa và giải quyết XĐTL trong tập thể Thành tựu về XĐTL mà các nhà tâm lí học Mác xít khám phá ra
là cơ sở lý luận quan trọng giúp ta có thể kế thừa, bổ sung hoàn chỉnh thêm, đóng góp một phần đáng kể vào việc phòng ngừa và giải quyết XĐTL trong các tập thể hiện nay [28]
1.1.2 Hướng nghiên cứu của các nhà Tâm lí học Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề xung đột ở lứa tuổi ở thiếu niên hay học sinh THCS cũng có
một số tác giả nghiên cứu, cả về nghiên cứu lý luận và nghiên cứu thực tiễn
1.1.2.1 Nghiên cứu lý luận
Hiện nay, tại Việt Nam vấn đề xung đột ở độ tuổi thiếu niên hay học sinh THCS vẫn chưa được nghiên cứu và hệ thống thành lý luận chung cho vấn đề được hình thành dựa trên kiến thức về Tâm lí học Gia đình, Tâm lí học lứa tuổi nhưng chỉ được
đề cập ở một khía cạnh đặc điểm, bản chất vấn đề, chưa đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng và giải pháp Từ những năm 1990, những nghiên cứu lý luận về xung đột xuất hiện bởi các nhà Tâm lí học xã hội, Xã hội học, Tâm lí học Gia đình, Tâm lí học Quản
lý với các tác giả tiêu biểu như Ngô Công Hoàn, Vũ Dũng, Nguyễn Khắc Viện, Trần
Trang 19Trọng Thủy,… Các nghiên cứu này đã đóng góp cơ sở lý luận về xung đột trong các mối quan hệ gia đình hay trong quản lý
Ngô Công Hoàn (1993) đã nghiên cứu về bản chất xung đột, cho rằng sự xung đột trong gia đình là “Sự xung đột về nhận thức, quan điểm, thái độ và những thói quen hành vi ứng xử trong tổ chức đời sống sinh hoạt của các thành viên ở gia đình” Tác giả nhận mạnh sự bất hòa, xung đột trong nhận thức phải bộc lộ qua hành vi và thái độ của các thành viên mới được xem là xung đột [14]
Tác giả Vũ Dũng đã đưa ra khái niệm phân biệt giữa mâu thuẫn và xung đột, trong đó xung đột là mức độ cao hơn của mâu thuẫn và là sự va chạm của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lí của các cá nhân trong hoạt động chung của tổ chức Xung đột xuất phát từ những sự đối lập, va chạm về nhận thức, quan điểm, phải bộc lộ qua thái độ và hành vi ứng xử, nếu chỉ dừng lại ở nhận thức thì chưa phải là xung đột [4]
Tác giả Lê Đức Phúc (2003) trong Kỷ yếu hội thảo: Gia đình và sự phát triển
nhân cách thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay, Hội thảo Khoa học Tâm lí Giáo dục Tp
Hồ Chí Minh, tr.118 đã đưa ra năm cấp độ xung đột thường thấy trong cuộc sống hằng ngày: cấp độ cá nhân, cấp độ cha mẹ - con, cấp độ anh chị em trong gia đình và cấp độ nhiều thế hệ
Tác giả Nguyễn Ngọc Phú đã đề cập đến vấn đề XĐTL và giải quyết vấn đề XĐTL trong lãnh đạo, quản lý bộ đội nhằm xây dựng quân đội vững mạnh Cũng liên quan đến vấn đề này có công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Minh Tuấn và Nguyễn Văn Tuân Trong công trình nghiên cứu của mình, họ đã tìm hiểu được những biểu hiện của xung đột giữa các cá nhân trong tập thể quân nhân và ảnh hưởng của xung đột tới bầu không khí tâm lí trong tập thể [36]
Trong thập niên đầu của thế kỷ XXI này còn phải kể đến những đề tài nghiên cứu
về xung đột tâm lí trong tập thể và trong mối liên hệ liên nhân cách Các đề tài này đã
hệ thống được những quan điểm lý luận khác nhau về xung đột, tìm ra nguyên nhân xung đột và phương pháp giải quyết xung đột trong quan hệ vợ chồng, trong tập thể quân nhân ở đơn vị cơ sở quân đội và trong hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo [34]
Trang 201.1.2.2 Nghiên cứu thực tiễn
Tại Việt Nam, có khá nhiều nghiên cứu thực tiễn về xung đột trong các mối quan
hệ liên nhân cách như “Nghiên cứu sự xung đột trong quan hệ vợ chồng” (2001) của tác giả Cao Thị Huyền Nga phân tích thực trạng trên 450 gia đình và 30 cặp hiện có xung đột, Nguyễn Đình Mạnh (2006) nghiên cứu vấn đề “Xung đột tâm lí trong tình yêu nam nữ của sinh viên” trên 624 sinh viên và 15 cặp sinh viên hiện đang có xung đột, vấn đề “Xung đột gia đình ở vùng ven đô đang trong quá trình đô thị hóa” được Trần Thu Hương (2007) tiến hành nghiên cứu trên 475 người Các nghiên cứu đều nhằm tìm hiểu nhận thức, quan điểm chung về vấn đề xung đột, nguyên nhân của các vấn đề đó và từ đó đề xuất biện pháp tác động Các biện pháp đề xuất của các tác giả
đã đóng góp vào cơ sở lí luận chung về vấn đề xung đột những cách thức, giải pháp để giải quyết cho các vấn đề xung đột liên nhân cách
Ở lứa tuổi thiếu niên hay tuổi học sinh THCS, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về xung đột trong lứa tuổi này, đặc biệt là xung đột với cha mẹ
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết, trong tác phẩm “Khi con đến tuổi dậy thì” đã cung
cấp cho cha mẹ một số biểu hiện về lứa tuổi thiếu niên và đưa ra một số câu chuyện về
sự xung đột giữa thiếu niên với cha mẹ nhắm giúp cha mẹ có kinh nghiệm thêm trong việc giáo dục con cái [37]
Tác giả Ngô Thị Kim Dung với công trình “Một số biểu hiện xung đột tâm lí của thiếu niên trong quan hệ với cha mẹ” đã chỉ ra được những biểu hiện xung đột tâm lí, nguyên nhân và biện pháp khắc phục những xung đột tâm lí của thiếu niên trong quan
hệ với cha mẹ [dẫn theo 28]
Tác giả Lê Minh Nguyệt trong công trình “Tương tác giữa cha mẹ và con với sự phát triển tâm lí của trẻ em” cũng đã đề cập về những xung đột của thiếu niên với cha/mẹ, hình thức biểu hiện, mức độ, nguyên nhân dẫn đến các xung đột tâm lí của các
em Từ đó, tác giả đưa ra các phương thức giải quyết xung đột tâm lí giữa thiếu niên với cha mẹ [28]
Tác giả Đặng Thị Mai Hiên trong “Tìm hiểu một số biểu hiện xung đột tâm lí của học sinh trung học cơ sở trong quan hệ với cha mẹ” đã tập trung nghiên cứu xung đột tâm lí ở hai góc độ: Hình thức và mức độ biểu hiện xung đột tâm lí ở học sinh trung
Trang 21học cơ sở trong quan hệ với cha mẹ Từ đó, xác định nguyên nhân và những phương thức giải quyết các xung đột tâm lí của thiếu niên với cha mẹ [15]
Tác giả Nguyễn Thị Tế trong “Một số biểu hiện xung đột tâm lí trong quan hệ cha mẹ với con cái lứa tuổi thiếu niên về nhu cầu độc lập” đã chỉ ra những biểu hiện cụ thể của xung đột tâm lí giữa cha mẹ với con về nhu cầu độc lập trong các lĩnh vực: học tập, quan hệ bạn bè, sinh hoạt hằng ngày,… và đưa ra các biện pháp tác động phù hợp nhằm khắc phục những xung đột tâm lí trên [dẫn theo 18]
Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) đã tiến hành nghiên cứu sâu về vấn đề “Xung đột tâm lí giữa cha mẹ và con lứa tuổi học sinh trung học cơ sở về nhu cầu độc lập” trên
1460 học sinh THCS và 1460 cha mẹ của học sinh các trường THCS Tác giả đã sử dụng trị liệu hành vi nhận thức để giải quyết xung đột giữa cha mẹ và con cái liên quan đến vấn đề thần tượng Nghiên cứu đã đưa ra một hệ thống lý luận chung nhất về xung đột cũng như bản chất của xung đột giữa cha mẹ và con cái lứa tuổi THCS về nhu cầu độc lập, đồng thời có nghiên cứu thực nghiệm nhằm có góc nhìn toàn diện hơn về vấn đề này
Trong lĩnh vực giao tiếp, tác giả Dương Thủy Nguyên (2016) đã chỉ ra được những biểu hiện chính và những nội dung mà lứa tuổi học sinh THCS ở Đồng Nai thường xảy ra xung đột với chính cha mẹ mình Từ đó đã có những biện pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả trong giao tiếp với cha mẹ [27]
Như vậy, các công trình nghiên cứu đã cho thấy xung đột tâm lí là tất yếu trong quá trình trẻ tham gia vào các hoạt động đa dạng và các mối quan hệ liên nhân cách
Từ đó các tác giả chỉ ra được những nguyên nhân và phương thức giải quyết xung đột
để thúc đẩy sự phát triển của trẻ em Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên tập trung nghiên cứu xung đột mà chưa đi sâu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới xung đột tâm lí cúa thiếu niên
Xung đột tâm lí trong các mối quan hệ của học sinh THCS đã được quan tâm bởi nhiều nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực xã hội khác nhau Tuy nhiên, vấn đề xung đột tâm
lí trong các mối quan hệ ở nhà trường mà đặc biệt là với các thầy cô giáo ở nước ta vẫn chưa được chú trọng đến Nhận thấy, trong giai đoạn xã hội có nhiều thay đổi lớn như sự xuất hiện của mạng xã hội, công nghệ điện tử, sự hội nhập của nhiều nền văn
Trang 22hóa nước ngoài đa dạng và những bước chuyển trên đang ảnh hưởng mạnh mẽ tới tính chất mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh, ảnh hưởng tới qua trình rèn luyện nhân cách và kết quả học tập của các em lứa tuổi có nhiều thay đổi nay Chính vì thế, người nghiên cứu lựa chọn nghiên cứu vấn đề xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS trên cơ sở kế thừa và phát huy những cơ sở lý luận có sẵn, tạo thêm góc nhìn mới về vấn đề không còn mới mẻ nhưng lại rất ít nghiên cứu này ở Việt Nam
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Xung đột
Xung đột có nguồn gốc từ tiếng Latinh là “Conflictus” - tức là sự va chạm, bất hòa, sự tranh cãi, đụng độ, chống đối giữa những khuynh hướng đối lập nhau trong ý thức của mỗi cá nhân; trong sự tác động qua lại giữa các cá nhân hay nhóm người gắn liền với các trạng thái cảm xúc tiêu cực
Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên (2011), xung đột được hiểu
theo hai nghĩa:
Thứ nhất: XĐ là sự đánh nhau giữa các lực lượng đối địch
Thứ hai: XĐ là sự va chạm, chống chọi nhau do có mâu thuẫn gay gắt [41] Theo từ điển tâm lí học do tác giả Nguyễn Khắc Viện chủ biên cho rằng: XĐ là
sự tranh chấp giữa những xu hướng lợi ích trong đó chủ thể thấy mình bị giằng xé giữa những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau [42] Trong định nghĩa trên, tác giả bàn đến XĐ ở khía cạnh XĐ nội tâm của chủ thể
Trong từ điển tâm lí học do tác giả Vũ Dũng chủ biên định nghĩa: Xung đột là sự mâu thuẫn về các mục tiêu, lợi ích, quan điểm, ý kiến, cách nhìn có khuynh hướng đối lập của những người đối lập hoặc các chủ thể có tác động qua lại với nhau [3] Định nghĩa này tiếp cận dưới góc độ các yếu tố tạo nên XĐ
Các nhà nghiên cứu khoa học xã hội đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về xung đột:
Erik J Van Slyke trong tác phẩm Nghệ thuật lắng nghe để xử lý xung đột cho rằng XĐ là sự cạnh tranh giữa các phe liên quan, phụ thuộc lẫn nhau, có nhận thức XĐ
với nhau về mục đích, ước mơ hay ý kiến Nó là tình trạng mà người ta không thể tán thành hay hòa thuận với ai khác Trong định nghĩa này, tác giả đã nhấn mạnh nhận
Trang 23thức là nguyên nhân dẫn đến XĐ, ngoài ra XĐ xuất hiện ở mối quan hệ mà giữa những
cá nhân có sự phụ thuộc lẫn nhau [9]
Tác giả Văn Kim Cúc (2003) ghi định nghĩa: Xung đột là sự bất đồng quan điểm, bất đồng nhận thức, từ đó dẫn đến những ứng xử không phù hợp với nhau, không hòa đồng với nhau [2] Tác giả đã tiếp cận XĐ dưới góc độ nhận thức và ứng xử - khi nhận thức bất đồng sẽ dẫn đến việc xuất hiện những ứng xử không không phù hợp Như vậy, trong XĐ, có mối quan hệ giữa nhận thức với cảm xúc và hành vi
Từ các định nghĩa trên về XĐ, có thể tiếp cận XĐ theo hai hướng:
XĐ nội tâm: Diễn ra trọng nội tại của chủ thể, chủ thể cảm thấy bị giằng xé giữa những sức mạnh ngược chiều và ngang sức nhau
XĐ liên cá nhân: Là XĐ diễn ra giữa chủ thể này với chủ thể khác, giữa nhóm này với nhóm khác và nó có đặc điểm như sau:
- Có sự khác nhau giữa các cá nhân
- Tạo ra trạng thái căng thẳng ở mỗi cá nhân khi diễn ra XĐ
- XĐ diễn ra ở các cá nhân có mối liên quan với nhau và tạo ra những biến đổi tâm lí ở mỗi cá nhân
Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận XĐ theo hướng XĐ liên cá nhân và chúng tôi hiểu về XĐ như sau: XĐ là sự bất đồng quan điểm, sự va chạm, mâu thuẫn ở mức
độ cao giữa những chủ thể có mối quan hệ qua lại với nhau
1.2.2 Xung đột tâm lí
Nếu như XĐ theo quan điểm triết học luôn tồn tại ở mọi sự vật hiện tượng thì XĐTL chỉ xuất hiện ở con người Với những đặc trưng của con người, nên XĐTL diễn
ra dưới cơ chế đặc thù và được phân thành nhiều loại
1.2.2.1 Định nghĩa xung đột tâm lí
Trong Triết học, xung đột thường được hiểu là mức độ cao của mâu thuẫn, thậm chí là mâu thuẫn đối kháng, là phương thức để giải quyết mâu thuẫn, mở đường cho sự phát triển, còn trong tâm lí học xung đột có phổ rộng hơn, không chỉ là mức độ cao của mâu thuẫn, mà ngay cả khi có sự khác nhau, sự đối lập của các hiện tượng tâm lí trong một chủ thể hoặc giữa các chủ thể cũng được coi là mức độ nhất định của xung
Trang 24đột Nói cách khác, xung đột tâm lí có biên độ khác nhau đến mâu thuẫn, xung khắc nhau về các yếu tố tâm lí cá nhân hoặc giữa các cá nhân, các nhóm xã hội [28]
Trong Triết học, xung đột chỉ xảy ra khi mâu thuẫn trở nên đối kháng không điều hòa được.Trong Tâm lí học, xung đột không nhất thiết chỉ từ mâu thuẫn đối kháng mà
từ nhiều mức độ khác nhau Bởi lẽ, trong một cá nhân có một nhân cách, nhận thức, thái độ sống, quan điểm,… và nhiều khi đối lập với người khác Vì thế, trong hoạt động cùng nhau, sự va chạm, bất đồng giữa người này với người khác là điều khó tránh khỏi
XĐ dù diễn ra dưới dạng XĐ nội tâm hay XĐ liên cá nhân (diễn ra giữa mỗi cá nhân, nhóm hay dân tộc) đều có biểu hiện tâm lí của cá nhân, nhóm hay dân tộc đó Khái niệm XĐTL nhấn mạnh hơn những biểu hiện về tâm lí như xu hướng đối lập, các trạng thái cảm xúc, hành vi ứng xử, và được định nghĩa theo các hướng tiếp cận khác nhau, thể hiện ở một số định nghĩa sau:
Tác giả A.V Petrovxki định nghĩa: XĐTL là sự va chạm của những quan điểm, hoài bão, lợi ích đối lập nhau [29]
Tác giả Mai Hữu Khuê (1993) nghiên cứu XĐTL trong quá trình tổ chức, quản lý cho rằng: XĐTL là mâu thuẫn giữa các chủ thể về vị thế xã hội, quyền lợi, uy tín cá nhân [19] Trong định nghĩa của A.V Petrovxki và Mai Hữu Khuê, XĐTL được tiếp cận dưới góc độ các yếu tố tạo nên XĐ
Trong cuốn tâm lí học quản lý của tác giả Vũ Dũng, XĐTL được định nghĩa là sự
va chạm, mâu thuẫn ở mức độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lí của các
cá nhân, trong hoạt động chung của tổ chức [4]
Tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) trong luận án của mình cho rằng XĐTL là sự
va chạm, đụng độ, đấu tranh giữa những mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lí khác biệt, tồn tại trong một cơ cấu thống nhất của bản thân mỗi người, hoặc giữa các
cá nhân trong mối quan hệ liên nhân cách hay liên nhóm, cùng với những trạng thái cảm xúc tiêu cực như: hoang mang, lo lắng, khó chịu, bực bội, phẫn nộ, căm giận [21] Tác giả Đỗ Hạnh Nga (2005) cho rằng: XĐTL là sự va chạm, mâu thuẫn ở mức
độ cao của các xu hướng đối lập nhau trong tâm lí – ý thức của mỗi cá nhân, trong quan hệ qua lại giữa các cá nhân hay các nhóm người, nó biểu hiện trong các trải
Trang 25nghiệm cảm xúc kèm theo những chấn động về tình cảm (thường là những cảm xúc
âm tính: nóng giận, bực bội, khó chịu,…) [25] Trong định nghĩa XĐTL của Nguyễn Đình Mạnh và Đỗ Hạnh Nga đã bàn dưới góc độ nguyên nhân gây XĐTL và biểu hiện của nó
Từ định nghĩa trên về xung đột, có thể nhấn mạnh một số điểm sau:
Thứ nhất: Xung đột tâm lí là hiện tượng tâm lí phổ biến trong quá trình tồn tại và phát triển của cá nhân và nhóm xã hội; là thuộc tính của tương tác và quan hệ xã hội Không có tương tác và hoạt động cùng nhau thì sẽ không có xung đột [28]
Thứ hai: Xung đột tâm lí không phải là một trạng thái tĩnh, mà là một quá trình động, theo một vòng khâu của tương tác và hoạt động của chủ thể: bắt đầu từ sự thống nhất -> sự khác nhau -> sự khác biệt -> sự đối lập -> sự mâu thuẫn -> xung khắc Chính trong quá trình đi từ sự đồng nhất đến xung khắc thường diễn ra quá trình điều chỉnh, giải quyết nhằm khắc phục xung đột ở các mức khác nhau [28]
Thứ ba: Xung đột không phải bao giờ cũng dẫn đến sự triệt tiêu, phá hủy, mang tính chất tiêu cực, mà có cả ý nghĩa tích cực Xung đột là phương thức giải quyết mâu thuẫn, đưa sự vật phát triển lên trình độ mới [28]
Thứ tư: Xung đột tâm lí có phổ rất rộng, bao gồm một dải từ sự khác nhau, bất đồng, mâu thuẫn, đến va chạm giữa các yếu tố tâm lí trong mỗi chủ thể hoặc giữa các chủ thể Xung đột bao giờ cũng được xảy ra trong tương tác giữa các yếu tố tâm lí của
cá nhân hoặc tương tác giữa hai hay nhiều chủ thể Không có xung đột ngoài tương tác [28]
Thứ năm: Xung đột tâm lí có thể diễn ra trong một chủ thể, trong đó chủ thể thấy mình bị thôi thúc bởi sức mạnh của sự khác biệt, đối lập nhau của các hiện tượng tâm
lí của bản thân (các nhu cầu, giá trị, động cơ khác nhau, trái ngược nhau,…) – xung đột nội tâm (nội xung đột) Xung đột cũng có thể diễn ra giữa nhiều cá nhân với nhau, giữa chủ thể này với chủ thể khác – xung đột liên nhân cách Xung đột cũng có thể xảy
ra giữa nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác – xung đột nhóm xã hội [28]
Thứ sáu: Nguyên nhân dẫn đến sự XĐTL là do sự khác biệt, đối lập về những mục đích, lợi ích, những xu hướng tâm lí; sự khác biệt, mâu thuẫn về nhận thức, cảm xúc,… của các cá nhân hay nhóm
Trang 26Thứ bảy: XĐTL đều dẫn đến sự biến đổi tâm lí của các cá nhân thể hiện ở mặt nhận thức, thái độ, hành vi chủ yếu theo hướng tiêu cực
Từ việc tìm hiểu về cơ chế XĐTL và những định nghĩa trên, chúng tôi hiểu về
XĐTL như sau: XĐTL là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn giữa các yếu tố tâm li
của các chủ thể có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau; biểu hiện qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi theo xu hướng phá hủy mối quan hệ
1.2.2.2 Hình thức xung đột tâm lí
XĐTL có thể diễn ra dưới dạng XĐTL nội tâm hay XĐTL liên cá nhân, mỗi kiểu
XĐ diễn ra theo cơ chế riêng Trong phạm vi đề tài, chúng tôi nghiên cứu về XĐTL liên cá nhân và cơ chế XĐTL ở dạng này được thể hiện như sau:
Theo các nhà tâm lí học thì xung đột liên cá nhân được khởi đầu bởi sự đối lập công khai giữa các cá nhân và kéo dài cho đến khi sự đối lập này chấm dứt Có thể hiểu cơ chế của XĐTL liên cá nhân như sau: Do sự khác nhau về nhu cầu, lợi ích, sự hiểu biết, khác nhau về hệ giá trị, quan điểm sống giữa các cá nhân trong hoạt động cùng nhau đã tạo ra những mâu thuẫn, bất đồng giữa họ Những mâu thuẫn, bất đồng này thoạt đầu gây ra tâm trạng bực bội, khó chịu Những trạng thái cảm xúc tiêu cực
đó tích tụ dần đến một thời điểm nào đó khi mâu thuẫn, bất đồng trở nên gay gắt thì nó tạo thành những XĐ mạnh hơn như cãi lại, chống đối, đối kháng lại Như vậy, XĐ
là hiện tượng bùng nổ mạnh mẽ của những mâu thuẫn, bất đồng bị dồn nén và tích dần khiến trở thành những mâu thuẫn và bất đồng sâu sắc hơn và gay gắt hơn [dẫn theo 32]
1.2.2.3 Phân loại xung đột tâm lí
XĐTL được phân thành nhiều loại dựa trên các tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chủ thể tham gia xung đột: Có thể chia xung đột tâm lí thành xung đột liên cá nhân và xung đột liên nhóm
Xung đột liên cá nhân: Những cá nhân có ảnh hưởng qua lại lẫn nhau nên đã kìm hãm mục tiêu chung hoặc đi theo những giá trị và chuẩn mực không thống nhất với nhau
Xung đột liên nhóm: Các bên tham gia XĐ là các nhóm xã hội không theo đuổi mục tiêu như nhau và bằng những hành động thực tế của mình, họ cản trở nhau
Trang 27Trong phạm vi đề tài, XĐTL giữa giáo viên và học sinh được xếp vào loại XĐ liên cá nhân
- Căn cứ vào tính chất quan trọng: XĐ được chia thành hai loại là xung đột chủ yếu và xung đột thứ yếu
XĐ chủ yếu: Do có sự va chạm lớn về quyền lợi của nhau gây ra Muốn giải quyết XĐ này, các bên cần phải bàn bạc, phải có bên nhường nhịn, hy sinh quyền lợi của mình
XĐ thứ yếu: Do sự khác nhau về nhu cầu, thị hiếu nho nhỏ, mỗi người chỉ cần có
sự thông cảm và nhân nhượng lẫn nhau là giải quyết xong
- Căn cứ vào vào thời gian tồn tại của XĐ: XĐ chia làm 2 loại gồm XĐ diễn ra trong thời gian ngắn và XĐ diễn ra trong thời gian dài
- Căn cứ vào biểu hiện, XĐ được chia thành XĐ công khai và XĐ ngấm ngầm
XĐ công khai, tức có sự biểu hiện ra bên ngoài mà có thể dễ dàng quan sát thấy
XĐ ngấm ngầm, loại xung đột không biểu hiện ra bên ngoài, không thể quan sát
- Căn cứ vào chủ thể tạo ra xung đột, có thể chia XĐ thành 3 dạng khác nhau: Xung đột giữa các thành viên trong gia đình: Xung đột vợ - chồng; xung đột anh (chị) – em; xung đột cha/mẹ - con,…
Xung đột trong nhà trường: Xung đột giữa giáo viên – học sinh; giữa giáo viên – giáo viên, giữa học sinh – học sinh, giữa giáo viên với các lực lưỡng tham gia giáo dục học sinh,…
Xung đột xã hội: Xung đột giữa các thành viên trong cộng đồng có những vai trò khác nhau: Xung đột giữa nhân viên – cán bộ quản lí, giữa các đồng nghiệp,…
1.2.2.4 Các mức độ xung đột tâm lí
Có thể thấy rõ sự khác nhau giữa các nhà nghiên cứu khi xác định các tiêu chí để phân tích các mức độ xung đột Nhà nghiên cứu Zacke, căn cứ vào cường độ căng thẳng trong quan hệ đưa ra ba mức độ của xung đột và dấu hiệu kèm theo
- Mức độ 1: Thái độ tiêu cực kéo dài trong quan hệ Dấu hiệu của thái độ này có thể là: Lo lắng, giọng nói không thân thiện, hay kêu ca, không hiểu nhau, ý kiến khác nhau,…
Trang 28- Mức độ 2: Sự căng thẳng tiêu cực Dấu hiệu là: Lời lẽ kích động, quan điểm khác nhau, lâu bền không bằng lòng kéo dài, chống đối, nghe trộm,…
- Mức độ 3: Xung đột: Dấu hiệu bùng nổ, cắn dứt, xúc phạm đến nhau, cãi nhau, từ bỏ công việc,…
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà Tâm lí học về vấn đề này (Murrich Zamses, V.A Sysenko…) có thể đưa ra cách phân định như sau:
Mức độ 1 (Sự đồng nhât): Giữa các cá nhân, giữa các nhóm, giữa các cá nhân với nhóm,… có sự tương đồng, thống nhất hay hòa hợp về nhận thức, quan điểm, thái độ, hành động Tuy nhiên, trong sự đồng nhất vẫn có dấu hiệu sự khác biệt chưa có cơ hội bộc lộ ra ngoài Chúng ta không thấy xung đột vì xung đột ở dạng ẩn dấu (đồng nhất tiêu cực)
Mức độ 2 (Sự khác nhau): Ở mức độ này, sự khác nhau về nhận thức, thái độ hành động giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm đã được bộc lộ ra ngoài Xung đột bắt đầu xuất hiện nhưng chưa gay gắt
Mức độ 3 (Sự đối lập): Giữa các cá nhân với nhau có sự ngược nhau về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động Sự ngược chiều nhau dần được bộc lộ và xung đột dần trở nên gay gắt
Mức độ 4 (Mâu thuẫn): Đó là sự chống đối lại nhau giữa các chủ thể trong tương tác, trong quan hệ Tuy nhiên, sự chống đối này chưa đến mức đối kháng và vẫn có thể điều hòa được
Mức độ 5 (Xung đột bùng nổ): Trong giai đoạn này, xung đột đã trở nên rất gay gắt không thể điều hòa được giữa các cá nhân, giữa cá nhân với nhóm về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động Có sự phản kháng mạnh mẽ từ hai bên xung đột
1.2.3 Học sinh THCS
Học sinh THCS là thuật ngữ dùng để chỉ nhóm học sinh đang theo học tại các trường THCS (từ lớp 6 – 9), trong độ tuổi từ 11 – 15 tuổi Theo Tâm lí học lứa tuổi, tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 đến 15 tuổi, các em được vào học ở trường trung học cơ sở (từ lớp 6 - 9) Lứa tuổi này có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ sang
Trang 29tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “Thời kỳ quá độ”, “Tuổi khó bảo”, “Tuổi khủng hoảng”, “Tuổi ẩm ương”,…
Tâm lí học phát triển phương Tây thường quan niệm đây là giai đoạn đầu của tuổi vị thành niên Tâm lí học phát triển Liên Xô thường quan niệm đây là tuổi thiếu niên hoặc tuổi học sinh trung học cơ sở Ở Việt Nam, tên gọi và giới hạn độ tuổi cũng mang tính chuẩn tương đối mà thôi
Về thể chất, dấu hiệu cơ bản để nhận biết một trẻ em đã bước sang tuổi thiếu niên là hiện tượng dậy thì Về độ tuổi, đa số thiếu niên ở trong độ tuổi 11, 12 đến 14,
15 tuổi Ở Việt Nam, lứa tuổi này gần trùng với thời điểm trẻ học ở bậc trung học cơ
sở, vì vậy tuổi thiếu niên còn được gọi là tuổi học sinh trung học cơ sở Có nhiều trẻ dậy thì vào đầu cấp học, bên cạnh đó cũng có nhiều trẻ dậy thì sớm hơn hoặc muộn hơn
Với thời điểm kết thúc tuổi thiếu niên, các chỉ số thường gắn liền với sự trưởng thành về mặt cơ thể và sinh dục, còn về phương diện xã hội thì không rõ ràng Ở các nước phát triển, trẻ em dậy thì và có tính tự lập sớm nên thời điểm chấm dứt tuổi thiếu niên thường sớm hơn so với trẻ em ở nước ta [31]
1.2.4 Giáo viên
Giáo viên là người giảng dạy, giáo dục cho học viên, lên kế hoạch, tiến hành các tiết dạy học, thực hành và phát triển các khóa học nằm trong chương trình giảng dạy của nhà trường đồng thời cũng là người kiểm tra, ra đề, chấm điểm thi cho học sinh để
đánh gia chất lượng từng học trò Giáo viên nam thường được gọi là thầy giáo còn
giáo viên nữ thường được gọi là cô giáo (Theo Wikipedia)
Theo thông tư liên tịch quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên trung học phổ thông công lập thì người giáo viên trung học cần có những năng lực: Năng lực tìm hiểu đối tượng, môi trường giáo dục; năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục; năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục (gồm năng lực dạy học và năng lực giáo dục nghĩa hẹp); năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục; năng lực hoạt động xã hội ; năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giáo dục; năng lực phát triển nghề nghiệp Trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay cần đặc
Trang 30biệt nhấn mạnh các năng lực chẩn đoán, đánh giá, giải quyết các vấn đề và cần chú ý những yêu cầu mới về năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục
1.2.5 Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS
Trong quan hệ, trong tương tác giữa giáo viên và học sinh, cùng với xung đột xã hội, giữa giáo viên và học sinh luôn xuất hiện sự khác nhau, đối lập, mâu thuẫn về các yếu tố tâm lí như nhận thức, thái độ hay hành động của giáo viên, của học sinh về các lĩnh vực học tập, quan hệ với bạn bè, rèn luyện các phẩm chất đạo đức,… Điều đó dẫn đến xung đột tâm lí giữa giáo viên với học sinh
Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh được xem xét dưới góc độ là một hiện tượng tâm lí xã hội Nó phản ánh mối quan hệ liên nhân cách đặc thù giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy, giáo dục và rèn luyện nhân cách Trong đó, thầy cô giáo có vai trò là người lớn, giảng dạy các môn văn hóa, tri thức và giáo dục nhân cách cho học sinh; còn học sinh có vai trò là người chịu sự dạy bảo, lĩnh hội tri thức và giáo dục nhân cách của các thầy cô giáo Mối quan hệ liên nhân cách này có những điểm khác với những mối quan hệ liên nhân cách như: quan hệ cha mẹ - con cái, anh chị em ruột thịt,…
Từ góc độ tâm lí học lứa tuổi trung học cơ sở, nguyên nhân gây nên những xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh thường liên quan đến những vấn đề về sự khác biệt nhận thức giữa giáo viên và học sinh, cách giải thích đối với những vấn đề về bạn
bè, ăn mặc, học tập Những tương tác giữa thầy cô và học sinh khi xảy ra va chạm, mâu thuẫn và xung đột thường bắt đầu từ phía thầy cô khi thầy cô tự ý áp đặt hoặc ngăn chặn học sinh vì những biểu hiện tự ý, tự quyết định hành động làm trái với những quy định của nhà trường Học sinh thường có hành vi chống đỡ, phản ứng lại
Trang 31hay những hành động ngầm nhằm chống lại những đòi hỏi hay yêu cầu từ phía thầy cô
và nhà trường Đồng thời, xung đột tâm lí ảnh hưởng thế nào đến sự phát triển nhân cách của học sinh tuổi trung học cơ sở phụ thuộc rất nhiều vào cách thức mà các em giải quyết xung đột ấy
Tóm lại, XĐTL giữa giáo viên và học sinh THCS là sự bất đồng, va chạm, mâu thuẫn giữa các yếu tố tâm lí của giáo viên và của học sinh trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau; được bộc lộ lộ qua nhận thức, trạng thái cảm xúc và hành vi khác nhau ở giáo viên và học sinh THCS
1.2.5.2 Các giai đoạn xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS/ các mức
độ XĐTL
Cũng như các loại xung đột khác, xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh diễn
ra ở nhiều mức độ khác nhau Có thể phân chia thành năm mức độ cơ bản từ thấp đến cao của loại xung đột này như sau [28]:
- Mức độ 1: (Đồng nhất) là mức độ mà ở đó các em và thầy cô giáo của các em vẫn có sự tương đồng, hòa hợp trong nhận thức, quan điểm, thái độ và hành vi
cư xử Tuy nhiên, trong sự đồng nhất ẩn dấu sự khác biệt chưa có cơ hội bộc
lộ ra ngoài Sự đồng nhất chia làm hai loại: Sự đồng nhất tích cực và sự đồng nhất tiêu cực
Đồng nhất tích cực là sự đồng nhất về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động của thiếu niên và cha mẹ các em Sự thống nhất này có ý nghĩa thúc đấy sự phát triển tâm lí của trẻ
Đồng nhất tiêu cực: là sự đồng nhất trong cách nghĩ, cách làm,… của thiếu niên với thầy cô giáo Nhưng sự đồng nhất này lại có tác dụng ngược trở lại so với loại đồng nhất tích cực Nó kìm hãm sự phát triển của trẻ
- Mức độ 2 (Khác nhau): Là mức độ mà ở thầy cô và học sinh không có sự đồng nhất Giữa giáo viên và học sinh có sự khác nhau về suy nghĩ, thái độ và hành động Sự khác nhau này sẽ dẫn đến các mâu thuẫn và xung đột
- Mức độ 3 (Đối lập): Là mức độ mà ở cả giáo viên và học sinh có sự trái ngược, đối lập nhau về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành vi Xung đột
Trang 32tâm lí ở các em xuất hiện và ngày càng phát triển lên ở mức cao hơn Quan hệ giữa giáo viên và học sinh có sự nặng nề, căng thẳng
- Mức độ 4 (Mâu thuẫn): Đó là sự chống đối lại giáo viên của học sinh Sự chống đối này chưa đến mức đối kháng và vẫn có thể dung hòa được
- Mức độ 5 (Xung đột gay gắt – Có sự đối kháng): Trong giai đoạn này, ở giáo viên và học sinh có sự bất đồng sâu sắc về nhận thức, quan điểm, thái độ và hành động làm cho xung đột tâm lí trở nên gay gắt, không thể điều hòa được, các em học sinh có những thái độ và hành động chống đối lại các thầy cô giáo
1.2.5.3 Các phương thức giải quyết XĐTL giữa giáo viên và HS THCS
Khi nghiên cứu về vấn đề này, nhìn chung các tác giả đều đi đến thống nhất rằng: Bản chất của điều hòa xung đột là tìm ra những phương pháp hữu hiệu để giải quyết xung đột
Theo tác giả Lê Minh Nguyệt, xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh được biểu hiện dưới nhiều phương thức, nhưng nhìn chung có 5 phương thức biểu hiện chính thường thấy sau:
Thứ nhất: Phương thức tranh cãi Đây là hình thức xung đột biểu hiện bằng ngôn ngữ nói – hình thức biểu hiện thường thấy nhất Khi có sự ấm ức, bất bình với giáo viên, các em thường phản ứng ngay lại bằng lời nói Thông thường các em cho rằng đó
là sự thanh minh, giải thích, còn các thầy cô giáo thì cho rằng các em cãi lí với mình Thứ hai: Phương thức chống đối lại thầy cô giáo Khi có mâu thuẫn, xung đột với giáo viên mà các em có thái độ ngang bướng, cứng đầu, cứng cổ, khó bảo, phủ nhận mọi uy tín và kinh nghiệm của các thầy cô giáo, làm ngược lại với yêu cầu của thầy cô giáo Sự im lặng cũng là một biểu hiện của sự chống đối Trong mối quan hệ này, nó thể hiện ở chỗ các em lảng tránh tranh cãi khi có bất đồng ý kiến với các thầy cô giáo Khi các thầy cô giáo góp ý, mặc dù bản thân các em không phục, không chấp nhận ý kiến của giáo viên nhưng các em vẫn cứ yên lặng và sau đó các em làm theo ý kiến riêng của mình
Thứ ba: Phương thức dọa dẫm, đòi hỏi, yêu sách Đây là hình thức mà trẻ báo trước cho các thầy cô giáo và gia đình biết trước những hậu quả của việc học làm: Bỏ học, không tới lớp, không học bài,…
Trang 33Thứ tư: Phương thức gây áp lực tâm lí đối với thầy cô giáo Gây áp lực tâm lí với các thầy cô giáo là hình thức biểu hiện xung đột tâm lí mà ở đây các em học sinh dùng những cách thức như khóc lóc, giận dỗi, tránh gặp mặt, bỏ đi,… tác động trực tiếp giáo viên làm cho các giáo viên phải nhượng bộ, thỏa mãn những yêu cầu và đòi hỏi của các em
Thứ năm: Phương thức các hành vi lệch lạc của trẻ như xa lánh các thầy cô giáo, thu mình, bỏ trường bỏ lớp bỏ bạn bè, đi lang thang rơi vào các tệ nạn xã hội, nhiều
em rơi vào trầm cảm, rối loạn cách thức trong xã hội,…
Theo tác giả Nguyễn Đình Mạnh (2007) nêu lên 3 cách thức giải quyết XĐ gồm [21]:
Lảng tránh XĐ: Biểu hiện đặc trưng là lảng tránh, không muốn gặp mặt, im lặng
khi buộc phải gặp nhau Lảng tránh cả những người muốn giúp đỡ, hòa giải Theo tác giả đây là cách xử lý tiêu cực
Đấu tranh với thái độ bất cần: Biểu hiện đặc trưng của cách này là không cần
suy nghĩ để tìm hiểu nguyên nhân XĐ; không quan tâm ý kiến, quan điểm của người khác; tranh luận đến cùng để bảo vệ ý kiến; dọa chấm dứt nếu yêu cầu không được đáp ứng
Hợp tác với thái độ chân thành: Biểu hiện là cùng nhau tìm hiểu nguyên nhân
XĐ; tìm cơ hội để ở bên nhau; cùng trao đổi, thảo luận chân thành về vấn đề XĐ; cùng tìm kiếm các biện pháp giải quyết XĐ
Theo M Zamses có những phản ứng điển hình để giải quyết XĐ đó là [dẫn theo 24]
Sự kiềm chế: Con người huy động mọi khả năng để giải quyết vấn đề nảy sinh cả
khi nó xuất hiện và phát triển ngoài ý muốn của họ Kiềm chế là phương thức chủ yếu
để bình thường hóa mối quan hệ giữa hai người
Cự tuyệt giải quyết vấn đề: Điều này xuất phát từ nhiều động cơ khác nhau, một
số người không tin rằng mình có khả năng giải quyết các khó khăn, số khác lại nghĩ
“đó không phải là việc của tôi”; một số người cự tuyệt giải quyết nó, rút lui để có thể tỉnh táo xem xét sự việc đã xảy ra; một số khác lại muốn có thời gian thu thập thông
Trang 34tin trước khi đến quyết định cuối cùng Tất cả những phản ứng cự tuyệt như trên rất
nguy hiểm nếu các chủ thể không nhận ra đã đến lúc giải quyết XĐ, XĐ đã chín muồi
Phản ứng bằng sự tấn công: Tấn công có thể giúp kìm hãm khủng hoảng đã chín
muồi, giúp người trong cuộc trở lên nhẹ nhõm nhưng điều quan trọng là làm sao
những lời lẽ tấn công không trở thành sự lăng mạ, sỉ nhục
Phản ứng tích cực bằng sự tha thứ, niềm tin, sự chân thành: Nhiều thầy cô giáo
và học sinh khi có những xung đột, mâu thuẫn đã hàn gắn và giữ gìn được tình cảm thầy trò, mối quan hệ học sinh – giáo viên nhờ vào sự chân thành, niềm tin và nghị lực Lòng tin, sự chân thành đã giúp cho cả giáo viên và học sinh dám nhìn thẳng vào sự thật và giải quyết nó một cách hiệu quả và triệt để
1.3 Biểu hiện của Xung đột tâm lí giữa giáo viên và học sinh THCS
1.3.1 Đặc điểm phát triển tâm lí tuổi học sinh THCS
Học sinh THCS có lứa tuổi từ 11 – 15 tuổi, là giai đoạn nối tiếp bước sang tuổi thanh niên Vì vậy nó mang một số tính chất của cả hai giai đoạn này, và đặc trưng của giai đoạn THCS là sự phát triển có nhiều biến động, diễn biến tâm lí phức tạp [38]
1.3.1.1 Điều kiện về sinh lý
Đặc trưng phát triển của tuổi thiếu niên chính là hiện tượng dậy thì – sự trưởng thành về mặt tính dục Những thay đổi về chiều cao, cân nặng, hệ cơ xương, tim mạch
và nội tiết tạo ra những đặc điểm và cấu tạo tâm lí mới ở các em Không hiểu được khó khăn của các em học sinh lứa tuổi THCS trong giai đoạn phát triển này, người lớn
sẽ có xu hướng làm tổn thương trẻ thông qua ngôn ngữ và hành động, gây ra bất hòa, mâu thuẫn trong mối quan hệ
Sự phát triển nhanh và mạnh nhưng lại không đồng đều về mặt sinh lý khiến trẻ gặp nhiều vấn đề trong việc kiểm soát cơ thể và cảm xúc của mình Đặc điểm nổi bật
là các em có xu hướng trở nên nhạy cảm và bốc đồng, dễ bị kích động và không làm chủ được cảm xúc, lời nói và hành động của chính mình Chính vì vậy, ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh các em thiếu niên vụng về, lóng ngóng; hay những đứa trẻ có tính khí thất thường, cùng với lời nói khó nghe của chúng,…
Do sự thay đổi cơ bản về mặt tâm sinh lý, nhất là khi bước vào tuổi dậy thì, trẻ đã
có nhiều thay đổi cơ bản về cơ thể cũng như nhận thức, điều này làm cho trẻ ấn tượng
Trang 35rằng “mình không còn là trẻ con nữa”, nó cảm thấy rằng mình là “người lớn một cách
có căn cứ” Tuy nhiên, người lớn vẫn coi thiếu niên là những đứa trẻ Từ đó, nảy sinh mâu thuẫn giữa người lớn và thiếu niên [7]
Cũng với những nhận định như trên, Iacopxon cho rằng sự thay đổi về mặt tâm sinh lý của cơ thể mà thiếu niên thường mơ ước được người khác tin cậy và cho phép làm việc gì đó Tuy nhiên cũng như trước đây, người lớn vẫn cấm đoán các em nhiều điều, can thiệp vào chế độ sinh hoạt của các em, còn thiếu niên lại không muốn có sự kiểm tra như vậy Do vậy, thiếu niên có những ác cảm như không bằng lòng, bực tức, giận dữ với người lớn [7]
1.3.1.2 Hoạt động giao tiếp của thiếu niên
Hoạt động giao tiếp la hoạt động chủ đạo của thiếu niên Hoạt động giao tiếp của tuổi thiếu niên có những thay đổi về chất so với hoạt động giao tiếp ở tuổi nhi đồng, đặc biệt là trong giao tiếp với người lớn và bạn bè đồng trang lứa Giao tiếp mang tính chất tâm tình trở thành hoạt động chủ đạo của tuổi thiếu niên [38]
a Giao tiếp với người lớn
Nét đặc trưng trong giao tiếp với người lớn là sự cải tổ lại mối quan hệ không bình đẳng giữa các em với người lớn ở lứa tuổi nhi đồng, hình thành kiểu quan hệ mới dựa trên cơ sở của sự bình đẳng và tôn trọng Quan hệ với người lớn thường có một số đặc điểm sau:
Một là sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự thay đổi về điều kiện sống và các dạng hoạt động học tập, giao tiếp,… làm xuất hiện ở thiếu niên một cảm giác mới
“cảm giác mình là người lớn” L.X.Vưgotxki cho đây là cấu tạo tâm lí mới trung tâm trong nhân cách của thiếu niên Các em cảm thấy mình không còn là trẻ con nữa, nhưng cũng chưa phải là người lớn thực sự Các em học đòi và bắt chước người lớn nhưng thực chất các em còn hiểu mơ hồ về người lớn Các em có xu hướng vươn lên làm người lớn và luôn cố gắng để mọi người công nhận rằng mình đã lớn nên trong suy nghĩ và hành động các em thường bộc lộ nhu cầu được độc lập, được tự khẳng định mình “Cảm giác mình đã là người lớn” là nét đặc trưng trong nhân cách thiếu niên, vì nó biểu hiển lập trường sống mới của thiếu niên đối với người lớn và thế giới xung quanh Điều này được biểu hiện rất phong phú về nội dung và hình thức: về hình
Trang 36thức, các em bắt đầu quan tâm đến cách ăn mặc, đi đứng, nói năng,… về nội dung, các
em quan tâm đến những phẩm chất và năng lực riêng Trong học tập, các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có lập trường và quan điểm riêng Trong gia đình và xã hội, các em muốn được độc lập và không phụ thuộc vào người lớn
Hai là nhu cầu được độc lập, được tự khẳng định mình trong quan hệ với người lớn được thể hiện rất cao Các em đòi hỏi người lớn phải đối xử thật bình đẳng, tôn trọng, tin tưởng và mở rộng quyền độc lập của các em Nếu người lớn không thay đổi cách đối xử, vẫn đối xử với các em theo kiểu các em là trẻ con, ra lệnh cho các em, can thiệp thô bạo vào từng việc làm của các em, theo dõi, kiểm soát chặt chẽ việc học của các em thì bằng cách này hay cách khác, các em sẽ có những thái độ và phản ứng tiêu cực, chống đối lại người lớn một cách công khai hay ngấm ngầm: cãi lại người lớn, né tránh người lớn, không phục tùng yêu cầu của người lớn,…[38]
Ba là trong quan hệ với người lớn, ở thiếu niên xuất hiện nhiều mâu thuẫn Trước hết là những mâu thuẫn nội tại bên trong của trẻ Một mặt các em có nhu cầu muốn được độc lập, thoát khỏi sự giám sát của người lớn, mặt khác các em vẫn có nhu cầu muốn được người lớn gần gũi, chia sẻ và động viên định hướng cho mình Tiếp theo là những mâu thuẫn giữa bản thân thiếu niên và người lớn Một mặt thiếu niên cảm thấy mình đã là người lớn, muốn được người lớn đối xử bình đẳng và tôn trọng Tuy nhiên, không phải tất cả người lớn đều bắt nhịp được những mong muốn của thiếu niên và dễ dàng thay đổi kiểu quan hệ cũ (không bình đẳng) sang kiểu quan hệ mới,
mà thông thường người lớn đã quen đối xử với các em như trẻ nhỏ Hơn nữa, sự thay đổi nào cũng cần có thời gian và bản thân người lớn cũng sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải thay đổi thói quen Vì lẽ đó nên giao tiếp giữa người lớn với thiếu niên thường xảy ra nhiều xung đột [38]
Bốn là, trong tương tác với người lớn, thiếu niên thường có xu hướng cường điệu hóa những tác động của người lớn mà bản thân các em cho là không phù hợp Các
em hay suy diễn, thổi phồng những tác động đó Chỉ cần người lớn hành xử làm tổn thương các em chút ít thì các em thường xem đó là sự xúc phạm lớn và phản ứng tiêu cực với cường độ mạnh, trong khi đó những hành vi có thể gây nguy hại đến tính mạng người khác và bản thân thì lại xem nhẹ [38]
Trang 37b Giao tiếp với bạn bè
Sự giao tiếp với bạn bè vượt ra ngoài phạm vi độc lập, phạm vi nhà trường, nó bao quát những hứng thú mới, những quan hệ mới và nổi lên thành một lĩnh vực độc lập rất quan trọng trong đời sống của thiếu niên Ngoài nhu cầu độc lập, lứa tuổi thiếu niên bắt đầu xuất hiện nhu cầu kết bạn tâm tình, nguyện vọng hòa mình vào tập thể
Từ nhu cầu tìm được chỗ đứng trong bạn bè, trẻ bước đầu hình thành những năng lực
xã hội Có thể thấy, mối quan hệ bạn bè có ảnh hưởng đến hành vi và thái độ của thiếu niên Giao tiếp bạn bè có giá trị rất lớn, đôi khi giá trị nâng cao đến mức các em đẩy lùi học tập xuống hàng thứ hai, hạ thấp cả mối quan hệ với người thân trong gia đình Các em dễ bị ảnh hưởng bởi hành vi, ngôn ngữ, thói quen của đối tượng bạn bè mình lựa chọn.Các em quan niệm giao tiếp với bạn bè cùng tuổi là quan hệ riêng của cá nhân vì thế nó được phép hành động một cách độc lập theo ý mình Chính vì vậy, sự can thiệp tế nhị của người lớn khiến cho thiếu niên cảm thấy bị xúc phạm và các em thường có biểu hiện chống đối lại Nếu như quan hệ giữa các em và người lớn không thuận lợi thì vị trí của mối quan hệ bạn bè càng lớn và ảnh hưởng của bạn bè đến thiếu niên càng mạng Dấu ấn đặc biệt trong đời sống tình cảm của thiếu niên là ở các em đã xuất hiện tình bạn khác giới Sự phát triển về mặt sinh lý kéo theo sự xuất hiện những rung cảm giới tính đầu đời Sang đến cuối tuổi thiếu niên, các em đã xuất hiện kiểu quan hệ “yêu đương – bạn bè” ở mức độ thấp Sự thay đổi về mặt tình cảm này khiến các bậc cha mẹ, thầy cô lo lắng và có xu hướng áp đặt các em mạnh mẽ hơn, có thể nảy sinh mâu thuẫn, xung đột Nhu cầu kết bạn, khao khát tìm kiếm một vị trí trong lòng bạn sẽ biến thành động cơ chủ đạo trong các hành động của thiếu niên Nhu cầu kết bạn của giai đoạn này phát triển rất mạnh Tình bạn của thiếu niên đã trở nên sâu sắc, gắn bó với nhau hơn thành những nhóm bạn thân Trò chuyện tâm tình, trao đổi tâm tư nguyện vọng giữ một vị trí quan trọng trong giao tiếp của thiếu niên Bên cạnh
đó, mối quan hệ của các em với bạn khác giới cũng phát triển, xuất hiện những rung động, những cảm xúc mới lạ đối với bạn khác giới [23]
1.3.1.1 Đặc điểm hoạt động nhận thức của thiếu niên
Đặc trưng nổi bật trong hoạt động nhận thức của thiếu niên là tính mục đích, tính chủ định phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức: tri giác Trí nhớ,
Trang 38chú ý, tư duy, tưởng tưởng [38]
Tri giác có chủ định dần thay thế tri giác không chủ định Các loại tri giác không gian, thời gian, tri giác vận động, tri giác con người phát triển mạnh Thiếu niên tri giác có mục đích, trình tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn so với nhi đồng Khả năng phân tích và tổng hợp cũng tăng cao, khả năng quan sát cũng phát triển mạnh, trở thành một thuộc tính ổn định của cá nhân Tuy nhiên, tri giác của các em cũng có nhiều hạn chế: hấp tấp, vội vàng, tính tổ chức và tính hệ thống trong tri giác còn yếu Trí nhớ có chủ định của thiếu niên nổi bật lên, trí nhớ từ ngữ - trí nhớ logic phát triển mạnh Ghi nhớ máy móc nhường chỗ cho ghi nhớ có mục đích, ý nghĩa và logic Tuy vậy, mặc dù các em có khả năng ghi nhớ có ý nghĩa song khi gặp khó khăn thường từ bỏ ghi nhớ có ý nghĩa Các em có khuynh hướng muốn tái hiện lại kiến thức bằng ngôn ngữ của chính mình, chống lại yêu cầu của giáo viên khi giáo viên bắt học thuộc lòng từng câu chữ…
Tư duy trừu tượng phát triển mạnh là nét đặc thù trong sự phát triển tư duy của thiếu niên Tư duy của các em có căn cứ, các em biết vận dụng thao tác tư duy một cách linh hoạt, biết lập luận giải quyết vấn đề một cách có cơ sở, biết vận dụng lý thuyết vào thực tiễn.Tính phê phán của tư duy phát triển, các em không dễ tin như tuổi nhi đồng, các em biết phát hiện ra cái sai của thầy cô, biết nhận xét lời nói của thầy cô, biết đề ra những thắc mắc và muốn được giải đáp đến cùng Tính độc lập và sáng tạo trong tư duy được hình thành và phát triển cũng là một đặc điểm quan trọng trong sự phát triển tư duy lứa tuổi này Các em muốn được độc lập lĩnh hội tri thức, muốn giải quyết bài tập và nhiệm vụ theo những quan điểm, lập luận riêng, không thích rập khuôn như tuổi nhi đồng Thiếu niên ưa lập luận và hay cãi lý với người lớn Tuy nhiên, trong tư duy còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn, các em có suy nghĩ nhưng nhiều lúc không diễn đạt một cách trôi chảy, thấu đáo những suy nghĩ của mình Theo Piaget
13 – 15 tuổi nằm trong giai đoạn trí tuệ “thao tác hình thức”, đây là giai đoạn hình thành phức tạp của hoạt động phân tích – tổng hợp, phát triển hình thức suy luận giả thuyết – diễn dịch Chính vì vậy, hoạt động tư duy của học sinh 13 - 15 tuổi có những chuyển biến căn bản, tư duy trừu tượng và tư duy phê phán được phát triển, thay đổi mối quan hệ giữa tư duy hình tượng cụ thể với tư duy trừu tượng Do đó, học sinh lứa
Trang 39tuổi này có khuynh hướng muốn có ý tưởng riêng, có quan điểm và phán đoán của bản thân, có thái độ phê phán với những câu nói, biểu hiện hành vi của những người lớn [13]
Tưởng tưởng có chủ định phát triển mạnh ở thiếu niên, khả năng sáng tạo các hình ảnh mới trong tưởng tưởng rất đa dạng, óc tưởng tưởng rất phong phú.Trong đời sống, các em có nhiều ước mơ đẹp nhưng mang tính viển vông, xa rời thực tế Các em trai thích chơi game, đọc truyện,… “thần tượng hóa” các nhân vật
Chú ý có chủ định được tăng cường Các thuộc tính cơ bản của chú ý phát triển
về chất so với lứa tuổi nhi đồng Sức tập trung của chú ý cao hơn, lâu hơn Sự phân tán chú ý ít hơn, khả năng duy trì chú ý được bền vững hơn Tuy nhiên, sự phát triển của chú ý thiếu niên diễn ra rất phức tạp, có nhiều mâu thuẫn Một mặt, chú ý có chủ định của các em phát triển mạnh bền vững Mặt khác, những ấn tượng và rung động mạnh
mẽ lại làm cho chú ý của các em không được bền vững Điều đó phụ thuộc vào điều kiện học tập, nội dung tài liệu, tâm trạng và thái độ của các em với việc học
Ngôn ngữ của thiếu niên phát triển mạnh, vốn từ tăng lên rõ rệt, đặc biệt vốn từ khoa học Khả năng nói, viết, sử dụng ngữ pháp đúng hơn Các em thích nói những từ trào phúng, từ lóng,… Nhiều em có thể làm thơ, viết truyện ngắn có giá trị Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế: viết lách còn cẩu thả, sai chính tả,…
Hoạt động trí tuệ của học sinh 13 – 15 tuổi có tính tổ chức và cao hơn lứa tuổi trước Các em có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật hiện tượng Khối lượng tri giác được tăng lên, tri giác trở nên có kế hoạch, có trình tự và toàn diện Trí nhớ và chú ý cũng được thay đổi về chất nhờ có sự tăng cường tính có chủ định và dần dần mang tinh chất của hững quá trình có điều khiển, điều chỉnh và có
tổ chức
1.3.1.2 Đặc điểm đời sống xúc cảm – tình cảm của thiếu niên
Đời sống xúc cảm – tình cảm của thiếu niên phát triển mạnh, dần hình thành lên những loại tình cảm cấp cao đa dạng, phong phú và có chiều sâu Xúc cảm – tình cảm mang tính bồng bột giảm đi, nhường chỗ cho các loại xúc cảm – tình cảm biết phục tùng ý chí Xúc cảm – tình cảm có nhiều thay đổi về nội dung và các biểu hiện hình thức so với tuổi nhi đồng Các mức độ của đời sống xúc cảm – tình cảm dần hình
Trang 40thành các loại tình cảm cấp cao, được củng cố và phát triển sâu sắc theo năm tháng Các loại tình cảm đạo đức: tình cảm gia đình, tình cảm bạn bè (cùng giới và khác giới), tình cảm tập thể phát triển mạnh Trong tình cảm trí tuệ, những rung động liên quan đến nhu cầu nhận thức, nhu cầu khám phá, phát hiện cái mới được phát triển, vượt ra khỏi lĩnh vực học tập và trường học, đem lại cho thiếu niên nhiều cảm xúc khác nhau Trong tình cảm thẩm mỹ, quan điểm về cái đẹp của thiếu niên phong phú, sâu sắc hơn tuổi nhi đồng Nhiều em đã có những sáng tác thơ văn, hội họa, âm nhạc
có giá trị, bộc lộ tình cảm với cái đẹp trong cuộc sống Tuy nhiên, điểm đặc trưng trong các biểu hiệ của đời sống tình cảm trên các phương diện sinh lý, nhận thức, hành
vi là tính mâu thuẫn, chưa ổn định và dễ thay đổi Các trạng thái xúc cảm –tình cảm thường có cường độ khá mạnh, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, các xúc cảm tích cực và tiêu cực nhanh chóng thay thế nhau
Do vốn hiểu biết và xã hội ngày một phong phú thêm nên các em biết khá rõ điều
gì bị ngăn cấm trong hành vi của mình, cái gì đáng hổ thẹn, những động cơ nào không được cha mẹ và thầy cô đồng tình Vì thế, các em quan tâm tìm hiểu những bí mật ẩn náu trong những mối quan hệ với người lớn, kèm theo tính xấu hổ thể hiện rõ nét hơn
so với lứa tuổi trước đây Điều này thể hiện ở các hình thức hành vi không thích hợp với các em và thể hiện trong thái độ đối với những điều mà người lớn do thiếu ý tứ có thể nói tới nhất là lại nói một cách thô lỗ Trong quan hệ với người lớn, lứa tuổi học sinh THCS, đặc biệt là giai đoạn 12,5 – 13,5 tuổi, thường tỏ ra vụng về và có thể có những rung cảm đau khổ khi cha mẹ hay thầy cô có những nhận xét rằng em vụng về, nói năng không đúng lúc hoặc không gãy gọn Nhưng nếu những lời nhận xét này động chạm đến tính tự ti thì có thể làm các em xúc động (thể hiện bằng cách vô lễ, khóc lóc) hoặc bực tức ngấm ngầm hoặc buồn rầu vì cho rằng mình không có năng lực hay mình không có may mắn,… và tất cả những hoàn cảnh đó có thể làm cho tuổi học sinh THCS lâm vào tâm trạng ủ rũ, ngượng ngùng hoặc có thể bọc lộ tình cảm một cách thái quá dẫn đến xung đột với cha mẹ, thầy cô như cãi lại, nói hỗn,…[33] Tuy nhiên, tình cảm tích cực vẫn chiếm ưu thế ở tuổi học sinh THCS Các em thích làm những công việc công ích, tham gia vào các tổ chức xã hội Trong mối quan hệ với người lớn, các em tỏ ra biết thận trọng và kiềm chế, nhất là khi người lớn tỏ ra tôn