1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)

133 107 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

Bùi Linh Phụng

KĨ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

QUỐC GIA CỦA HỌC SINH KHỐI 12

TẠI TP BẢO LỘC – LÂM ĐỒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Trang 2

Bùi Linh Phụng

KĨ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI KÌ THI TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA CỦA HỌC SINH KHỐI 12 TẠI TP BẢO LỘC – LÂM ĐỒNG

Chuyên ngành : Tâm lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ TỨ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là sản phẩm khoa học do chính tôi thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Tâm lí học Nguyễn Thị Tứ

Đề tài: “Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 tại TP Bảo Lộc – Tỉnh Lâm Đồng” được nghiên cứu lần đầu tiên

Các số liệu nghiên cứu trong đề tài là hoàn toàn trung thực, chính xác Các nguồn thông tin được xử lý khách quan và dựa trên dữ liệu hoàn toàn có thật Các kết quả nghiên cứu trong đề tài chưa từng được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào

Tác giả luận văn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Quý Thầy Cô khoa Tâm lí học, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập đại học Xin chân thành cám ơn Quý Thầy Cô đã tận tình giảng dạy cho lớp Cao học Tâm lí học khoá 26, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Tâm lí học Nguyễn Thị Tứ - người hướng dẫn khoa học đã tận tâm, tận tình hướng dẫn, động viên và luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cảm ơn Quý Thầy Cô, chuyên viên, cán bộ phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tổ chức, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho học viên cao học Tâm lí học khoá 26

Xin cảm ơn Quý Thầy Cô thuộc các trường THPT: Bảo Lộc, Chuyên Bảo Lộc, Nguyễn Du, Nguyễn Tri Phương, Lộc Phát Cảm ơn các bạn học sinh đã không ngần ngại giúp đỡ tôi thực hiện các khảo sát

Xin cảm ơn các anh chị lớp Cao học Tâm lí khoá 26 đã luôn động viên, giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, các từ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các sơ đồ và biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KĨ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI KÌ THI

THPT QUỐC GIA CỦA HỌC SINH KHỐI 12 7

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Trên thế giới 7

1.1.2 Ở Việt Nam 11

1.2 Một số khái niệm cơ bản 15

1.2.1 Kĩ năng 15

1.2.2 Thích ứng 23

1.2.3 Kĩ năng thích ứng 27

1.2.4 Kì thi THPT quốc gia 33

1.2.5 Kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia 35

1.3 Biểu hiện kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 36

1.3.1 Đặc điểm tâm lí của học sinh khối 12 36

1.3.2 Biểu hiện kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 39

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 42

1.4.1 Yếu tố chủ quan 42

1.4.2 Yếu tố khách quan 44

Trang 6

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KĨ NĂNG THÍCH ỨNG VỚI KÌ THI

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG QUỐC GIA CỦA HỌC SINH

KHỐI 12 TẠI THÀNH PHỐ BẢO LỘC – LÂM ĐỒNG 47

2.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng kĩ năng thích ứng kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 47

2.1.1 Mẫu khách thể 47

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu 48

2.1.3 Tiêu chí và thang đánh giá KNTƯ với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng 50

2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ thông quốc gia của học sinh khối 12 53

2.2.1 Những vấn đề của học sinh khối 12 trong kì thi THPT quốc gia 53

2.2.2 Thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng 59

2.3 Đánh giá của học sinh khối 12 về các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng 79

2.3.1 Yếu tố khách quan 80

2.3.2 Yếu tố chủ quan 81

2.4 Một số biện pháp nhằm cải thiện kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng 83

2.4.1 Cơ sở đề xuất biện pháp 83

2.4.2 Các biện pháp nhằm cải thiện kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 84

2.4.3 Đánh giá tính cần thiết của một số biện pháp cụ thể 87

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kĩ năng 21 Bảng 2.1 Thống kê mẫu khách thể nghiên cứu 47 Bảng 2.2 Mức độ gặp phải những vấn đề chủ quan trong kì thi THPT quốc

gia của học sinh khối 12 54 Bảng 2.3 Mức độ biểu hiện những vấn đề khách quan trong kì thi THPT quốc

gia của học sinh khối 12 58 Bảng 2.4 Mức độ biểu hiện nhận thức chung của học sinh khối 12 về KN TƯ

với kì thi THPT quốc gia 59 Bảng 2.5 Nhận thức của học sinh khối 12 về tầm quan trọng của KN TƯ với

kì thi THPT quốc gia 60 Bảng 2.6 Nhận thức của HS khối 12 về khái niệm KN TƯ với kì thi THPT

quốc gia 61 Bảng 2.7 Nhận thức của học sinh khối 12 về các bước của KN TƯ với kì thi

THPT quốc gia 63 Bảng 2.8 So sánh nhận thức của học sinh khối 12 về KN TƯ với kì thi THPT

quốc gia theo khối thi, giới tính 65 Bảng 2.9 Cảm xúc của học sinh khối 12 trong quá trình học tập chuẩn bị cho

kì thi THPT quốc gia 67 Bảng 2.10 So sánh cảm xúc của học sinh khối 12 trong quá trình học tập

chuẩn bị cho kì thi THPT quốc gia theo khối thi, giới tính 68 Bảng 2.11 Mức độ biểu hiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của HS khối 12

về các hành động cụ thể 70 Bảng 2.12 So sánh mức đô biểu hiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của

học sinh khối 12 theo khối thi, giới tính 72 Bảng 2.13 Mức độ biểu hiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của học sinh

khối 12 trong các tình huống giả định 73 Bảng 2.14 Mức độ thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12

trong từng tình huống giả định cụ thể 74

Trang 9

Bảng 2.15 Mức độ KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 77 Bảng 2.16 So sánh mức độ KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của học sinh

khối 12 theo giới tính, khối thi 78 Bảng 2.17 Một số yếu tố khách quan (từ phía nhà trường, gia đình và xã hội) 80 Bảng 2.18 Một số yếu tố chủ quan (từ phía bản thân học sinh) 82 Bảng 2.19 Một số biện pháp cải thiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia thuộc

nhóm biện pháp giáo dục và tự giáo dục 88 Bảng 2.20 Một số biện pháp cải thiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia thuộc

nhóm biện pháp hỗ trợ, tạo điều kiện 90 Bảng 2.21 Một số biện pháp cải thiện KN TƯ với kì thi THPT quốc gia thuộc

nhóm biện pháp quản lý 91

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ biểu hiện nhận thức chung của học sinh khối 12 về

KN TƯ với kì thi THPT quốc gia 59 Biểu đồ 2.2 Mức độ kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của HS

khối 12 77 Biểu đồ 2.3 So sánh điểm trung bình giữa yếu tố khách quan và yếu tố

chủ quan 79

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong bối cảnh đất nước đang đổi mới, toàn Đảng toàn dân dốc sức thực hiện mục tiêu chiến lược đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa Vị thế Việt Nam đang dần được khẳng định trên trường quốc tế ở hầu hết nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội Quá trình mở cửa hội nhập với các quốc gia trên thế giới muốn diễn rathành công đòi hỏi phải có

sự góp mặt của đông đảo các tầng lớp nhân dân, trong đó thế hệ trẻ giữ vai trò tiên phong mà HS THPT là một đại diện tiềm năng Có thể nói, đây là nguồn nhân lực dồi dào, dễ dàng thích ứng với những yêu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của xã hội Việc đối mặt với thách thức mới, mang tầm quốc tế vừa là điều kiện, vừa là cơ hội

để phát triển bản thân mỗi người, đồng thời qua đó mỗi người chúng ta nói chung

và HS nói riêng đang trực tiếp hoặc gián tiếp góp sức mình một cách hiệu quả vào tiến trình phát triển chung của đất nước Do đó, chú trọng phát triển và đào tạo năng lực thích ứng cho HS là một nhiệm vụ rất quan trọng Điều này được khẳng định trong Nghị quyết 29 tại Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đưa ra mục tiêu: “Đối với giáo dục THPT, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.” [2]

Trên tinh thần Nghị quyết số 29, năm 2015 Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định, HS học hết chương trình THPT sẽ không có hai kì thi riêng rẽ để xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH, CĐ mà chỉ phải tham gia một kì thi quốc gia duy nhất Kết quả thi của thí sinh sẽ được sử dụng để xét tốt nghiệp THPT và là một căn

cứ quan trọng để các trường ĐH, CĐ tuyển sinh

Trang 12

Diễn biến quá trình triển khai Nghị quyết trong hai năm qua cho thấy kì thi THPT quốc gia có nhiều cải tiến so với trước đây Đó là xu hướng tất yếu phù hợp với cách dạy, cách học, kiểm tra và đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực, phẩm chất HS Phương án này ưu việt hơn các kì thi THPT trước, trong đó, công tác tổ chức kì thi được rút ngắn lại, GV không phải chấm thi, trừ môn Ngữ văn; giảm áp lực và chi phí cho HS và phụ huynh; ngoài ra, kì thi sẽ tăng tính toàn diện cho mỗi

HS, các em được tăng quyền lựa chọn ở môn thi cũng như nguyện vọng tại các trường ĐH, CĐ, kiến thức được mở rộng hơn cho HS theo hướng tích hợp, các em chú trọng hơn đến những môn xã hội, không xem nhẹ những môn này như thời gian trước nữa Tuy nhiên, vẫn còn đó nhiều bất cập phải thay đổi Kì thi mới khiến phụ huynh, HS thậm chí cả GV gặp không ít bỡ ngỡ và khó khăn Phần lớn HS học lệch chỉ chọn những môn theo khối mình dự định thi, gây khó khăn cho công tác giáo dục trong nhà trường Thêm nữa, vì áp lực trong công tác quản lý, dạy học… nhà trường cố gắng xóa bỏ hoặc hạn chế tư tưởng học tủ, học lệch này ở HS Bên cạnh những giải pháp đúng đắn tích cực, vẫn có những giải pháp chưa khoa học, đè nặng lên tâm lí HS… Tính mới của kì thi, áp lực quản lý từ nhà trường, dư luận đa chiều

từ bạn bè dễ khiến HS vào trạng thái lo âu, mệt mỏi Trong khi đó, vẫn tồn tại tình trạng phụ huynh đặt kì vọng quá nhiều vào con mình, đòi hỏi quá sức so với học lực của con, hoặc mong muốn con thi vào khối thi, ngành nghề trái ngược với sở thích của con, điều này cũng làm HS thêm phần căng thẳng

Trước những khó khăn đó, đòi hỏi cấp thiết HS phải biết sàng lọc thông tin, lựa chọn hướng đi cho mình và ứng phó một cách hiệu quả với hoàn cảnh không thuận lợi Kĩ năng sống, kĩ năng mềm vì đó trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, trong đó thích ứng là một trong những kĩ năng thiết thực giúp HS vượt qua được những khó khăn, bất lợi kể trên Việc tìm hiểu về những lo lắng, cách ứng phó và khả năng thích ứng của HS giúp nhà giáo dục, phụ huynh có những định hướng đúng đắn trong việc chuẩn bị hành trang cho các em

Như vậy, có thể khẳng định KN TƯ với kì thi THPT quốc gia thực sự quan trọng đối với HS khối 12 Bên cạnh những nghiên cứu khác nhau về kĩ năng sống,

Trang 13

kĩ năng mềm ở nhiều đối tượng khác nhau thì những nghiên cứu về KN TƯ chưa thực sự đa dạng Đặc biệt, nghiên cứu về KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của HS khối 12 nói chung và HS khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng nói riêng vẫn chưa được quan tâm đúng mức

Từ những cơ sở trên, đề tài: “Kĩ năng thích ứng với kì thi trung học phổ

thông quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng” được

tiến hành nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định thực trạng KN TƯ với kì thi THPT quốc gia của HS khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện kĩ năng thích ứng cho HS

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12

3.2 Khách thể nghiên cứu: Học sinh khối 12

4 Giới hạn nghiên cứu

4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung tìm hiểu thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của HS khối 12 trên bình diện nhận thức, thái độ và hành động đối với các vấn

đề trong thi cử cũng như quá trình chuẩn bị và dự thi của HS khối 12

4.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu: 353 học sinh khối 12

4.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Các trường THPT tại địa bàn thành

Trang 14

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Hệ thống hóa một số nghiên cứu lí luận về kĩ năng, thích ứng nói chung

và thích ứng với kì thi THPT quốc gia nói riêng để từ đó xây dựng khái niệm công

cụ của đề tài: kĩ năng, thích ứng, kĩ năng thích ứng, kì thi THPT quốc gia,…

5.2 Khảo sát thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học

sinh khối 12 tại một số trường trên địa bàn thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng và tìm

ra nguyên nhân của thực trạng

5.3 Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm cải thiện kĩ năng thích ứng với kì

thi THPT quốc gia của học sinh khối 12

6 Giả thuyết nghiên cứu

Đa số học sinh khối 12 có kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia chỉ đạt

ở mức trung bình

Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là

do nhận thức của học sinh khối 12 về kì thi THPT quốc gia còn hạn chế

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Mục đích: nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và cơ sở lí luận của đề tài; là

nguồn quan trọng cho việc thiết kế công cụ nghiên cứu trong chương trình rèn luyện

KN TƯ với kì thi THPT quốc gia; là cứ liệu cần thiết làm sáng tỏ và đối chiếu trong việc bình luận kết quả nghiên cứu

Nội dung: nghiên cứu những vấn đề lí luận, thành tựu lí thuyết, chủ trương và

chính sách liên quan đến chương trình rèn luyện kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia,…

Cách thực hiện: Đọc, phân tích, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên

cứu trong và ngoài nước về kĩ năng, kĩ năng sống, kĩ năng thích ứng trên cả phương diện lí luận lẫn thực tiễn để hệ thống hoá và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu

Trang 15

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực trạng

7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích: xác định những vấn đề và thực trạng kĩ năng thích ứng với kì thi

THPT quốc gia của học sinh khối 12 tại thành phố Bảo Lộc – Lâm Đồng

Nội dung: xác định những vấn đề trong kì thi THPT quốc gia; đo lường mức

độ thích ứng,…

Cách thực hiện: Dựa trên cơ sở lí luận đề tài xây dựng phiếu thăm dò mở bao

gồm các câu hỏi về từng mặt cần khảo sát của kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia Các ý kiến trả lời được tổng hợp và phân loại nhằm cải biến các câu hỏi

mở thành câu hỏi lựa chọn Những câu hỏi này kết hợp với phần trưng cầu ý kiến đánh giá bảng hỏi trở thành phiếu thăm dò thử nghiệm Từ các ý kiến thu về ở phiếu thăm dò thử nghiệm, thực hiện kiểm nghiệm độ tin cậy và hoàn thiện thành bảng hỏi chính thức

7.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được lựa chọn như một phương pháp bổ trợ, sử dụng

để điều tra sâu một số trường hợp tiêu biểu và thu thập thông tin một cách trực tiếp Ngoài ra, phương pháp còn được dùng để đánh giá mức độ trung thực trong việc trả lời bảng hỏi của khách thể

Cách thực hiện:

- Liên hệ với khách thể khảo sát

- Nêu mục đích, lý do và tính bảo mật thông tin để xin sự đồng thuận phỏng vấn

- Tiến hành phỏng vấn từ các ý trả lời tiêu biểu của khách thể trong phiếu khảo sát

- Ghi chép phần phỏng vấn

- Phân tích kết quả phỏng vấn

7.2.3 Phương pháp xử lý thông tin

Mục đích: xử lý thông tin thu được từ các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

nêu trên, kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu

Trang 16

Nội dung: thống kê mô tả để tính tần số, tỉ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ

lệch chuẩn và tiến hành kiểm nghiệm ANOVA, T-Test để làm rõ sự khác biệt về một số biểu hiện của kĩ năng thích ứng giữa các biến số khác nhau

Cách thực hiện: Sử dụng phần mềm SPSS for window phiên bản 22.0 nhằm

xử lý dữ kiện thu được, phân tích số liệu và đánh giá kết quả thu được

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KĨ NĂNG THÍCH ỨNG

VỚI KÌ THI THPT QUỐC GIA CỦA HỌC SINH KHỐI 12

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Trên thế giới

Trong lịch sử tiến bộ và phát triển loài người, thích ứng luôn là một trong những thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, được các nhà khoa học quan tâm Tính đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu thích ứng với môi trường

và thích ứng ở con người Thuật ngữ thích ứng được sử dụng ngày càng nhiều trong tâm lí học và các ngành khoa học xã hội khác

Nhà tâm lí học người Anh Herpert Spencer (1820 - 1903) với tác phẩm

“Những nguyên lý tâm lí học” (1895) là người khởi xướng của tâm lí học thích ứng

Dựa trên thuyết tiến hoá Ch.Dawin và J.Lamak, ông đã phân tích quá trình thích

ứng tâm lí ở con người và cho rằng “Cuộc sống là sự thích ứng liên tục của các mối

quan hệ bên trong với mối quan hệ bên ngoài” [40] Spencer đã mở ra con đường

nghiên cứu quan trọng về thích ứng tâm lí nhưng việc xây dựng cơ chế thích ứng chỉ mang tính chất sinh học và các quá trình tâm lí, ý thức được coi là một công cụ của cơ thể nhằm thích ứng với môi trường

W.James (1842 - 1910) với tác phẩm “The Principles of Psychology” ông cho rằng đối tượng nghiên cứu của tâm lí học chính là “nghiên cúu mối quan hệ giữa

các quan hệ bên trong và quan hệ bên ngoài” và ông khẳng định đây chính là: Bản

chất của quá trình thích ứng của cá thể [38]

Như vậy, H.Spencer và W.James đã xây dựng cơ sở tâm lí học của hành vi thích ứng với tư tưởng chủ đạo là tâm lí, ý thức có chức năng thích ứng và là công

cụ giúp con người thích ứng Đây là một trong những đóng góp quan trọng cho việc

Trang 18

thích ứng, tuy nhiên, hạn chế của hai ông là xem xét các hiện tượng tâm lí dưới góc

độ sinh học, không thấy được bản chất xã hội của thích ứng ở con người

S.Freud (1856-1939) đã cho rằng: để tồn tại, con người phải đạt được sự cân bằng, sự hài hòa giữa cái ấy và cái siêu tôi - đó là sự thích ứng Về thực chất, S.Freud chỉ coi trọng con người bản năng Trong việc nghiên cứu hành vi thích ứng của con người, ông đã phát hiện ra mặt vô thức và vai trò của nó trong điều chỉnh hành vi; vai trò và cơ chế điều chỉnh của cái tôi, sự có mặt của cái siêu tôi [29] Hạn chế của S.Freud là xem thích ứng của con người là thích nghi mang tính sinh vật, không thấy được bản chất xã hội - lịch sử của nó

Năm 1968, một số nhà tâm lí, giáo dục học Liên Xô (cũ) như N.D.Carsev, L.N.Khadecva, K.D.Pavlov đã nêu ra tiêu chuẩn sinh lý của sự thích ứng, trong đó

họ đã nghiên cứu khá sâu sắc cơ sở sinh lý của sự thích ứng ở học sinh với chế độ

học tập và rèn luyện trong nhà trường Những phản ứng sinh lý, những biến đổi của

các hệ số tương quan đặc biệt là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh được tác giả quan tâm

và chỉ ra những biến đổi cụ thể [11]

Năm 1969, E.A Ermoleava nghiên cứu “Đặc điểm thích ứng xã hội và nghề

nghiệp ở sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm” Tác giả đã đưa ra khái niệm

“thích ứng là quá trình thích nghi của người lao động trong tập thể nhất định” và

đã đưa ra chỉ số cho sự thích ứng nghề nghiệp của sinh viên đã tốt nghiệp trường sư phạm

Năm 1971, X.A Kughen và O.N Nhicandov đã nghiên cứu “Sự thích ứng với

hoạt động lao động của các kỹ sư trẻ” Các tác giả này đã đưa ra nhiều mức độ

thích ứng khác nhau trong hoạt động lao động của các kỹ sư vào nghề [11]

Năm 1972, D.A.Andreeva đã phân tích sâu sắc khái niệm thích ứng Bà đã nêu lên sự khác nhau cơ bản giữa thích ứng với thích nghi sinh học, đặc biệt bà đã sử dụng các nguyên tắc hoạt động theo quan điểm tâm lí học hiện đại để nghiên cứu

Bà cho rằng: “Thích ứng là quá trình tạo ra một chế độ hoạt động tối ưu và có mục

đích của nhân cách” [11]

Trang 19

Năm 1973, D.A.Andreeva lại phân tích khái niệm thích ứng một cách sâu sắc hơn khi so sánh với khái niệm xã hội hoá D.A.Andreeva đã kết luận khái niệm

thích ứng và xã hội hoá khác nhau thật sự về nội dung “Thích ứng” phản ánh quá

trình thích nghi đặc biệt của con người với những điều kiện hoạt động mới, là sự thâm nhập của con người vào những điều kiện đó một cách không gượng ép “Xã hội hóa” về cơ bản phản ánh sự tác động của xã hội tới cá nhân

Năm 1979, tác giả Golomstooc A E đã đưa ra quan điểm về sự thích ứng nghề nghiệp Ông không sử dụng thuật ngữ thích ứng mà không sử dụng thuật ngữ thích hợp để nói lên sự thích nghi đặc biệt của con người với hoạt động nghề nghiệp [10]

Tác giả A G Côvaliep đã chỉ rõ: Trong xã hội hiện đại, khi mức độ tích cực

xã hội của sinh bị giảm sút, trong điều kiện đó, cần phải xác định được các cơ chế nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình thích ứng của sinh viên, đưa ra được các phương tiện phát triển quá trình này, và biên soạn tài liệu phương pháp khoa học cho các nhà giáo dục bậc đại học để giáo dục sự thích ứng cho sinh viên,…[8] Hai tác giả E.P Ilin và V.A Nhikitin khẳng định: tính hiệu quả của quá trình

giáo dục và việc xây dựng “sức khỏe” đạo đức và tâm lí trong quá trình giáo dục sẽ

phụ thuộc vào vấn đề sinh viên thích ứng với tốc độ như thế nào với các điều kiện, hoàn cảnh mới Hay tác giả Pêtoropxky A.V cho rằng: sự thích ứng xã hội là quá trình thích nghi tích cực của cá nhân hoặc tập thể (lớp, nhóm) với các điều kiện vật chất, các tiêu chuẩn và giá trị được xác định của môi trường xã hội

Năm 1980, trong tập chí “Những vấn đề tâm lí học” số 4, A.A Krintreva đã trình bày những nghiên cứu của mình về những đặc điểm tâm lí của sự thích ứng

đối với sản xuất ở những học sinh mới ra trường ở các trường trung cấp kỹ thuật chuyên nghiệp và trường phổ thông trung học Tác giả cho rằng: thích ứng là quá

trình làm quen với sản xuất, là quá trình gia nhập dần vào sản xuất A.A Krintreva cũng đưa ra một số chỉ số đặc trưng của sự thích ứng nghề nghiệp đó là:

+ Sự thích ứng nhanh chóng nắm vững chuyên ngành sản xuất, các chuẩn mực

Trang 20

kỹ thuật

+ Sự phát triển tay nghề

+ Vị trí xã hội trong tập thể

+ Sự hài lòng đối với công việc và vị thế của mình trong tập thể [8]

Năm 1986, A.V Petrovxki và các đồng nghiệp đã nghiên cứu về vấn đề thích ứng môi trường học tập của sinh viên Ông cho rằng thích ứng môi trường học tập của sinh viên là một quá trình phức tạp, diễn ra nhiều mặt: 1/ Thích nghi với hệ thống học tập mới; 2/ Thích nghi với chế độ làm việc và nghỉ ngơi; 3/ Thích nghi với các mối quan hệ mới

Năm 2005, nhóm tác giả P.J Rottinghaus, S.X Day và F.H Borgen trong một công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề là xu hướng mà mỗi cá nhân đưa ra khả năng của bản thân để xây dựng và điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của mình, đặc biệt là đối mặt với những tình huống không biết trước Đề cập đến tiến trình, tầm quan trọng của mối quan hệ giao thoa giữa môi trường làm việc và năng lực của mỗi cá nhân, nhấn mạnh đến khả năng điều chỉnh và vấn đề mà mỗi cá nhân phải đối mặt, khả năng xoay sở với những vấn đề rắc rối về nghề nghiệp,…[39]

Cùng năm 2005, trong tác phẩm “The relationship between spirituality,

religiousness and career adaptibility” R.D Duffy và D.L Blustein đã cho rằng:

Khả năng thích ứng nghề được hiểu như sự tự quyết định về nghề, sự tự lựa chọn nghề, tự mong muốn đạt được những kết quả nhất định về nghề, tìm kiếm những trường học nghề phù hợp với khả năng của mình [37]

Năm 2009, Peter Creed, Tracy Fallon và Michelle Hood thuộc trường Đại học

Griffith Australia đã có công trình nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa thích ứng nghề

và mối quan tâm về nghề trong giới trẻ” Họ đã tiến hành nghiên cứu 245 sinh viên

năm thứ nhất về các mối quan tâm về nghề nghiệp, sự thích ứng nghề, xu hướng về nghề, Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Thích ứng nghề có mối quan hệ bên trong và có thể bị ảnh hưởng bởi những nhân tố đầu tiên (kế hoạch xây dựng nghề,

Trang 21

khám phá nghề, xu hướng nghề, sự quyết định nghề, ) Những nhân tố thích ứng nghề có mối quan hệ nội hàm và bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác [36]

Sự thích ứng trong môi tường giáo dục phải được xem xét như là sự tham gia của cá nhân trong môi trường văn hoá - xã hội, như là một quá trình mà ở đó các thông số chủ yếu của tính cách xã hội của cá nhân phải diễn ra phù hợp với các điều kiện giáo dục - theo nhận định của tác giả V.Duranop

Như vậy, việc nghiên cứu về thích ứng với môi trường được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau và thích ứng là một khái niệm được nghiên cứu trên phạm

vi rộng, ở nhiều lĩnh vực khác nhau như sinh vật học, kinh tế, xã hội, tâm lí và giáo dục

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về thích ứng nói chung và thích ứng nghề nghiệp nói riêng, đã có nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau

Năm 1981, tác giả Bùi Ngọc Dung với đề tài “Bước đầu tìm hiểu sự thích ứng

nghề nghiệp của giáo viên tâm lí – giáo dục” Trong đó tác giả đã đưa ra một số chỉ

số khách quan và chủ quan để đánh giá khả năng thích ứng nghề nghiệp của giáo viên tâm lí – giáo dục [5]

Năm 1982, tác giả Nguyễn Ngọc Bích với đề tài “Thích ứng học đường của

sinh viên sư phạm” Tác giả đã phân tích hiện trạng về sự thích ứng của sinh viên

sư phạm, những yếu tố chủ quan và khách quan hướng đến sự thích ứng đó Luận điểm mà tác giả đưa ra là: Sự thích ứng với trường học và nghề nghiệp của sinh viên là quá trình thích nghi, hài lòng với các hoạt động học tập, nghề nghiệp trong hoàn cảnh nhất định [3]

Năm 1996, tác giả Vũ Thị Nho cùng nhóm nghiên cứu trong đề tài cấp bộ đã thực hiện đề tài: “Sự thích ứng với hoạt động học tập của học sinh tiểu học” Trong

đó, tác giả đã phân tích nội dung: sự thích nghi với hoạt động học tập ở học sinh bậc tiểu học, đây chính là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này, phân tích đặc điểm hiện trạng sự thích nghi với hoạt động học tập của học sinh tiểu học Ngoài ra, nhóm

Trang 22

nghiên cứu còn khảo sát những yếu tố ảnh hưởng chi phối nó, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp nhằm giúp trẻ nhanh chóng thích ứng với hoạt động học tập để đạt kết quả cao trong hoạt động [26]

Năm 2000, tác giả Nguyễn Văn Hộ đã có nhiều công trình nghiên cứu giá trị

về giáo dục hướng nghiệp và thích ứng nghề thông qua tác phẩm “Thích ứng sư

phạm”, tác giả đưa ra các khái niệm về thích ứng, thích ứng sư phạm, phân tích các

nội dung về hình thành khả năng thích ứng về lối sống cho sinh viên sư phạm, hình thành khả năng thích ứng với tay nghề trong quá trình đào tạo cho sinh viên sư phạm: thích ứng với quy trình lên lớp, thích ứng với hoạt động giảng dạy trên lớp, thích ứng với hoạt động thiết kế nội dung công tác chủ nhiệm lớp, thích ứng với hoạt động ứng xử trong công tác giáo dục, bên cạnh đó, tác giả đề ra một số giải pháp giúp SV đại học thích ứng với nghề Sư phạm… [14], [15], [16]

Năm 2000, tác giả Phan Quốc Lâm đã bảo về luận án tiến sỹ với đề tài “Sự

thích ứng với hoạt động học tập của học sinh lớp 1” Luận án đã đưa ra chỉ ra

những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự thích ứng của hoạt động học tập của học sinh lớp 1 Trên cơ sở đó, nhằm nâng cao mức độ thích ứng cho học sinh [19] Năm 2004, tác giả Trần Thị Minh Đức đã chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa

học đặc biệt cấp ĐHQG: “Nghiên cứu sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất –

Đại học Quốc gia Hà Nội với môi trường Đại học” [8]

Năm 2006, tác giả Nghiêm Thị Đương với đề tài: "Nghiên cứu xu hướng nghề

Sư phạm của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Nhà trẻ - Mẫu giáo TƯ 1", đã xây dựng

một hệ thống lý luận về nghề Sư phạm của SV CĐSP Nhà trẻ - Mẫu giáo, đưa ra một số biện pháp nhằm hình thành xu hướng nghề Sư phạm cho SV CĐSP nhà trẻ mẫu giáo [9]

Năm 2012, tác giả Dương Thị Nga bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Phát

triển năng lực thích ứng nghề cho sinh viên Cao đẳng sư phạm” Tác giả rút ra kết

luận: năng lực thích ứng nghề của sinh viên Cao đẳng sư phạm các tỉnh miền núi phía Bắc còn nhiều hạn chế, chủ yếu ở mức độ trung bình và thấp Cũng trong đề tài này, tác giả đưa ra một số biện pháp thực nghiệm nhằm nâng cao năng lực thích ứng

Trang 23

nghề cho sinh viên Cao đẳng sư phạm như: năng lực thích ứng với việc tự học và hoàn thiện các phẩm chất nhân cách nhà giáo, năng lực thích ứng với hoạt động dạy học, năng lực thích ứng với hoạt động giáo dục, năng lực thích ứng với thực tế giáo dục ở trường phổ thông, [25]

Năm 2013, tác giả Nguyễn Thị Út Sáu nghiên cứu đề tài: “Thích ứng với hoạt

động học tập theo hệ tín chỉ của sinh viên đại học Thái Nguyên” Sau quá trình

nghiên cứu, tác giả đưa ra kết luận: cần nâng cao nhận thức của sinh viên về quy chế đào tạo học tập theo hệ thống tín chỉ, tạo sự thích ứng về mặt pháp chế cho sinh viên; Hướng dẫn hành động học tập theo tín chỉ cho sinh viên; Phát triển năng lực

tự học cho sinh viên [29]

Năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Như Hồng nghiên cứu đề tài: “Khả năng thích

ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm tại ĐH Quy Nhơn trong thực tập sư phạm”

Tác giả rút ra kết luận: thực trạng khả năng thích ứng nghề nghiệp của sinh viên sư phạm trường ĐH Quy Nhơn trong thực tập sư phạm đạt ở mức “trung bình” là chủ yếu Kết quả của thực trạng trên chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan Trong đó các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng nhiều hơn so với các yếu tố khách quan Đồng thời, tác giả đưa ra các biện pháp để nâng cao khả năng thích ứng của sinh viên như: đa dạng hoá các hình thức tổ chức trong hoạt động thực tập sư phạm, phối hợp chặt chẽ giữa GV trường sư phạm với các giáo viên hướng dẫn trong việc giáo dục nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm, phát triển năng lực tự học,

tự nghiên cứu, tự rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp cho sinh viên sư phạm [17]

Năm 2015, tác giả Lê Thị Thảo nghiên cứu đề tài: “Kĩ năng thích ứng với môi

trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp của sinh viên hệ ngoài sư phạm trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh” Sau quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy

kĩ năng thích ứng của sinh viên với môi trường doanh nghiệp chỉ đạt ở mức trung bình Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do sinh viên chưa chủ động tham gia vào các hoạt động kĩ năng để rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp, sinh viên chưa có

sự chuẩn bị chu đáo cho kì thực tập tốt nghiệp tại doanh nghiệp, mặc cảm mình là sinh viên thực tập Nguyên nhân khách quan của thực trạng này là chương trình các

Trang 24

môn học tại trường quá nặng về lí thuyết, thiếu thời gian để sinh viên thực hành và làm quen với nghề, thiếu đi những đội nhóm về kĩ năng để sinh viên tham gia học tập rèn luyện Trong đề tài, tác giả đã đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng thích ứng với môi trường doanh nghiệp trong đợt thực tập tốt nghiệp của sinh viên

hệ cử nhân trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh như: đối với sinh viên cần xây dựng động cơ, lí tưởng, hứng thú nghề nghiệp bằng nhiều hình thức; về phía trường đại học cần đổi mới phương pháp giảng dạy, cải tiến nội dung, phương pháp và hình thức thực hành sát với thực tiễn [31]

Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến sự thích ứng của hoạt động học tập, thích ứng nghề nghiệp, chưa có những đề tài nghiên cứu sâu về thích ứng với kì thi THPT quốc gia

Ở Việt Nam, trước khi hai kì thi tốt nghiệp phổ thông và tuyển sinh đại học gộp làm một, thì tình trạng luyện thi đại học, học tủ, học lệch vẫn là một vấn đề nhức nhối và rất được sự quan tâm của dư luận Nguyên Phó thủ tướng, Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Nguyễn Thiện Nhân lúc còn tại vị cũng phải nói

lên rằng "Còn thi đại học, còn lò luyện thi”.

Ý định tổ chức một kì thi quốc gia chung tại Việt Nam đã từng được dự định

và lấy ý kiến từ năm 2009 và có thể tổ chức lần đầu vào năm 2010, nhưng do chưa chuẩn bị đầy đủ nên các nhà làm giáo dục Việt Nam đành phải hoãn lại, mặc dù 90% các nước trên thế giới đã tổ chức kì thi "2 trong 1" này

Tuy nhiên, bắt đầu cho việc tổ chức một kì thi quốc gia chung tại Việt Nam lại được nhắc đến từ năm 2014, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép thí sinh thi tốt nghiệp với 4 môn, trong đó Toán và Ngữ văn là 2 môn bắt buộc.Tháng 8 năm 2014, khi tổ chức xong kì thi đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã tổ chức lấy ý kiến dư luận về kì thi.Sau khi được đông đảo nhân dân và dư luận ủng hộ, ngày 9 tháng 9 năm 2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam chính thức chốt phương án thi quốc gia kể từ năm 2015và năm đầu tổ chức là từ ngày 01/07 – 04/07/2015 Ngày

26 tháng 2 năm 2015, Bộ Giáo dục Việt Nam đã ban hành Quy chế thi của kì thi

Trang 25

Đối với kì thi THPT quốc gia năm 2017, về cơ bản vẫn giữ những nội dung chính liên quan công tác thi, tổ chức ra đề thi, chấm thi, phúc khảo, công bố điểm như năm 2016 Theo dự thảo, kì thi THPT quốc gia nhằm mục đích lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp THPT, cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông và cung cấp dữ liệu làm căn cứ để tuyển sinh đại học, cao đẳng.

Như vậy, có rất nhiều các công trình, nhiều tác phẩm được nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước về vấn đề thích ứng, thích ứng với hoạt động học tập, cung cấp nền tảng lí luận và phương pháp quý báu cho các đề tài nghiên cứu sau này Tuy nhiên, các tác giả chỉ mới xây dựng lí luận và phương pháp kĩ năng thích ứng xã hội nói chung, đối tượng người đi làm và sinh viên nói riêng, hầu như chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu, đề cập đến kĩ năng thích ứng với kì thi THPT quốc gia của học sinh khối 12 Vì vậy tác giả đã chọn lĩnh vực này làm đề tài nghiên cứu

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Kĩ năng

1.2.1.1 Định nghĩa kĩ năng

Theo từ điển tiếng Việt, kĩ năng là “thói quen áp dụng vào thực tiễn những

kiến thức đã học hoặc là những kết quả của quá trình luyện tập” [18]

Trong tiếng Anh, “skill” nghĩa là KN Từ điển Oxford định nghĩa kĩ năng là

khả năng tìm ra giải pháp cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện [32]

Còn theo từ điển Giáo dục học, KN là “khả năng thực hiện đúng hành động,

hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [33]

Theo từ điển Tâm lí học do tác giả Vũ Dũng biên soạn, KN là “năng lực vận

dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội

để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ KN, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục, và còn phải tập trung chú ý căng thẳng KN được hình thành qua luyện

Trang 26

tập” [7]

Trong từ điển Tâm lí học của A.M Colman, “KN là sự thông thạo, hiểu biết

chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định;

cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành” [6]

Theo từ điển tiếng Việt (1992) định nghĩa “Kĩ năng là khả năng vận dụng

những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [27, tr.157]

Theo từ điển Giáo dục học “Kĩ năng là khả năng thực hiện đúng hành động,

hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ” [13, tr.220]

Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả

một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã

có để hành động phù hợp những điều kiện cho phép” [30, tr.6]

Như vậy, khái niệm kĩ năng được nhắc đến khá nhiều từ nhiều góc độ khác nhau Vì vậy để xây dựng được một cơ sở lí luận về kĩ năng cho đề tài thì cần phải

có thời gian, nghiên cứu và tổng hợp các nguồn tài liệu khác nhau Trong giới hạn của đề tài này, tôi xin đưa ra những tổng hợp theo những lí luận nghiên cứu về kĩ năng, trên cơ sở đó xây dựng hệ thống bảng hỏi và những nghiên cứu về sau

Trong tâm lí học tồn tại hai quan niệm khác nhau về kĩ năng:

Quan niệm thứ nhất cho rằng KN là mặt kĩ thuật của thao tác, hành động, hoạt động

Trong từ điển tâm lí học của Mỹ do tác giả J.P Chaplin chủ biên (1968) định nghĩa kĩ năng là “thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn” [4]

Tác giả Trần Trọng Thủy (1978) trong “Tâm lí học lao động” cho rằng kĩ

năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn [6]

Trang 27

Các tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Oánh cho rằng:

“Kĩ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri

thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng đã viết: kĩ năng cũng

có những đặc điểm khác nữa là “hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa

chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng” [1]

Từ việc tìm hiểu các định nghĩa về KN theo quan niệm thứ nhất, ta nhận thấy

có nét tương đồng trong cách xem xét vấn đề của các tác giả về KN, coi đó như là phương thức thực hiện hành động và dựa trên cơ sở tri thức mà chủ thể đã biết Đặc biệt, các tác giả chú trọng đến mặt kĩ thuật của KN, mô tả những KN đơn giản có thể quan sát được thông qua các thao tác cụ thể, được hình thành do sự bắt chước Tuy vậy, khi xem xét mối quan hệ giữa KN và năng lực theo hướng này thì khó lí giải được sự hình thành năng lực, vì nếu chỉ xem xét KN như mặt kĩ thuật của thao tác thì KN chưa thể hình thành năng lực

Quan niệm thứ hai xem KN là một biểu hiện của năng lực con người

Từ điển Tiếng Nga (1968) định nghĩa: KN là khả năng làm một cái gì đó, khả

năng này được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm [21]

K.K Platonov và G.G.Glolubev (1977) cho rằng KN là năng lực của con người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong những khoảng thởi gian tương ứng K.K Platonov (1963) khẳng định:

“KN luôn luôn được nhận thức Cơ sở tâm lí của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” [12]

A.V Petrovski cho rằng “kĩ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, Petrovski đã viết: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay khái niệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lí luận

Trang 28

hay thực hành xác định được gọi là KN” [28]

Tác giả Đỗ Thị Châu (1999) xem xét KN một cách toàn diện trên cả hai khía cạnh: Thứ nhất KN là mặt kĩ thuật của thao tác hay hành động nhất định (không có

KN chung chung, trừu tượng, tách rời hành động); Thứ hai KN là một biểu hiện của năng lực con người nên vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt và tính mục đích Để có KN hành động, cá nhân không chỉ hiểu sâu sắc về hành động (mục đích, phương thức, điều kiện hành động) mà phải mềm dẻo, linh hoạt triển khai hành động trong mọi hoàn cảnh theo đúng logic của nó đối với mọi điều kiện có thể đạt được mục đích của hành động có kết quả trong một hoàn cảnh cụ thể mà con người phải đạt được kết quả tương ứng trong những điều kiện khác nhau [4]

Tác giả Nguyễn Thị Thúy Dung (2009) cho rằng: kĩ năng là một biểu hiện năng lực của con người thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào

đó bằng cách tiến hành đúng đắn kĩ thuật của hành động trên cở sở vận dụng các tri thức và kinh nghiệm vốn có của hành động đó” [6, tr 41]

Từ những quan điểm nêu trên, có thể nhận thấy, KN không chỉ là thao tác mà còn là biểu hiện của năng lực Muốn thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn cần phải áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Mỗi hành động, hoạt động trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau đòi hỏi những thao tác khác nhau Có nghĩa rằng, một người có KN hành động là phải nắm chắc mặt kĩ thuật của thao tác hành động trong từng bối cảnh cụ thể Mặt khác, có thể hiểu KN là năng lực của con người, là tri thức, hiểu biết của con người về hành động, hoạt động Để con người an tâm hành động, trước hết chủ thể phải hiểu về mục đích, phương thức và điều kiện diễn

ra hành động đó trên cơ sở đó lập phương án thực hiện một cách có hiệu quả nhất Cách xem xét KN nghiêng về năng lực của con người để thực hiện các công việc có kết quả đã bao hàm cả quan niệm KN là kĩ thuật hành động, bởi chỉ khi có sự vận dụng tri trức vào thực tiễn thì mới có kết quả công việc chất lượng Nếu thiếu một trong hai yếu tố trên thì chủ thể sẽ khó thực hiện hành động, hoạt động hiệu quả như

Trang 29

mục tiêu kế hoạch ban đầu mình đã đề ra

Trên cơ sở đó, đề tài xác định:

Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện có kết quả một hành động, một hoạt động nào đó phù hợp với những điều kiện cho phép

1.2.1.2 Đặc điểm cũa kĩ năng

Trong KN, ý thức đóng vai trò tích cực và thường trực Trong quá trình thực hiện một hành động, chủ thể thực hiện một KN nào đó thì chính chủ thể luôn sử dụng ý thức để nhận biết được các thao tác và hành động cụ thể

Khi thực hiện KN, chủ thể phải sử dụng các loại tri giác khác nhau để kiểm tra các thao tác thực hiện

Trong KN, tùy vào từng mức độ KN của mỗi chủ thể mà các thao tác đượng thực hiện đầy đủ, chính xác đến mức độ nào Tuy nhiên, khi thực hiện KN, thường những động tác thừa, động tác phụ chưa được loại trừ

Trong KN, có sự thống nhất giữa tính ổn định và tính linh hoạt: nghĩa là KN không nhất thiết gắn liền với một đối tượng nhất định, mà trong trường hợp KN ở mức độ cao thì chủ thể có khả năng di chuyển linh hoạt và dễ dàng sang đối tượng mới

1.2.1.3 Các mức độ của kĩ năng

Mỗi nhà nghiên cứu có một cách phân chia khác nhau về mức độ của KN Tuy nhiên, đa phần các tác giả đều phân chia KN thành năm mức độ từ những KN ban đầu đến KN đạt ở mức độ hoàn hảo

Theo quan điểm của V.P Bexpalko, có năm mức độ KN từ những KN ban đầu đến những KN đạt mức độ hoàn hảo sau: [6]

- Mức độ 1: KN ban đầu: Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng

KN nào đó và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, người học sẽ có thể tái

Trang 30

hiện được những thao tác, hành động nhất định nào đó Tuy nhiên, ở mức độ KN ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của KN này dưới sự hướng dẫn của người dạy

- Mức độ 2: KN mức thấp: Ở mức độ KN mức thấp, người học đã có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song,

ở mức độ KN này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới

- Mức độ 3: KN trung bình: Người học tự thực hiện thành thạo các thao tác đã biết trong các tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các KN sang các tình huống mới còn hạn chế

- Mức độ 4: KN cao: Một sự khác biệt thể hiện KN ở mức độ cao là người học

đã tự lựa chọn các hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển KN trong phạm vi nhất định

- Mức độ 5: KN hoàn hảo: Đây là mức độ cao nhất của KN Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì

Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lí học của Nga và cũng là quan niệm của tác giả K.K Platonov và G.G Golubev, đưa ra năm mức độ hình thành KN như sau:

Trang 31

Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kĩ năng

1 Mức độ 1 Có KN sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và sai,

dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

2 Mức độ 2 Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ

3 Mức độ 3 Có những KN chung nhưng còn mang tính chất rời rạc, riêng lẻ

4 Mức độ 4 Có những KN chuyên biệt để hành động

5 Mức độ 5 Vận dụng sáng tạo những KN trong các tình huống khác nhau

KN được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Để có thể hoạt động hiệu quả, con người phải có KN và KN chỉ có thể phát triển thông qua thực tiễn hoạt động Muốn nâng cao được m ức độ kĩ năng, con người phải thường xuyên học tập và rèn luyện

1.2.1.4 Sự hình thành kĩ năng và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành

kĩ năng

KN được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động Để có thể hoạt động hiệu quả, con người phải có KN và KN chỉ có thể phát triển thông qua thực tiễn hoạt động

Tác giả Robert J Srernberg (2003) ở Đại học Yale thừa nhận: “Thực chất của

sự hình thành KN là tạo điều kiện để chủ thể nắm vững một hệ thống phức tạp các bước, các thao tác và làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong các tình huống, các nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể” [41]

Vì vậy, muốn hình thành KN, cần thực hiện được các yêu cầu cơ bản sau:

- Giúp chủ thể biết cách tìm tòi và từ đó nhận biết những thông tin đã biết, chưa biết cần phải thu thập cũng như mối quan hệ giữa chúng

- Giúp chủ thể hình thành một mô hình khái quát để giải quyết nhiệm vụ Đồng thời, trên cơ sở đó, chủ thể có sự liên tưởng đến các đối tượng cùng loại

Trang 32

- Giúp chủ thể xác lập được mối liên hệ giữa mô hình khái quát và các kiến thức tương ứng để từ đó có thể tự chọn lựa được những thao tác, hành động đúng đắn và phù hợp để hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn và phức tạp hơn nảy sinh trong các trường hợp khác

- Để hình thành được một KN hay làm cho quá trình hình thành KN hiệu quả, cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành KN Sự hình thành KN chịu

sự ảnh hưởng của các yếu tố sau đây:

+ Nội dung của nhiệm vụ

Nội dung nhiệm vụ đặt ra được trừu tượng hóa sẵn hay bị che phủ bị những yếu tố phụ nào đó và làm lệch hướng tư duy và ảnh hưởng đến sự hình thành KN Chính vì thế, để hình thành KN hiệu quả, cần thiết lập thao tác xác định nội dung của nhiệm vụ sao cho thật rõ ràng và cụ thể Nhất thiết cần trả lời những câu hỏi như: nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì, thực hiện nhiệm vụ đó nghĩa là thực hiện những yêu cầu cụ thể nào

+ Tâm thế và thói quen của chủ thể

Một minh chứng rõ nét nhất về sự ảnh hưởng của tâm thế đến sự hình thành

KN đó là những học sinh đã sẵn sàng tham gia vào việc học tập một môn học thì sẽ

dễ dàng hình thành những KN liên quan đến môn học này Vì thế, tạo ra một tâm thế thuận lợi, tích cực sẽ giúp chủ thể hình thành KN một cách dễ dàng hơn

Ngoài ra, yếu tố thói quen đôi khi là một yếu tố thuận lợi, nhưng cũng có thể

là một yếu tố bất lợi trong một số trường hợp cần hình thành KN Do vậy, khi hình thành KN, cần chú ý đến việc phát huy những thói quen sẽ hỗ trợ cho việc hình thành KN và tiến hành làm thay đổi một thói quen nào đó nếu nó là yếu tố cản trở cho quá trình hình thành KN

Trang 33

+ Khả năng tư duy

Trong quá trình thực hiện một nhiệm vụ, thông thường chủ thể phải vận dụng rất nhiều những thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp để nhận biết nội dung nhiệm vụ Do vậy, khả năng phân tích, khái quát hóa đối tượng tốt thì quá trình hình thành KN sẽ diễn ra nhanh chóng và dễ dàng hơn Khi hình thành KN, cũng cần phải lưu ý đến nội dung nhiệm vụ, các yếu tố thuộc về chủ thể như: tâm thế, thói quen, khả năng tư duy Cũng cần chú ý rằng những khó khăn trong việc hình thành một KN nào đó là làm cách nào để chủ thể nhận dạng được các kiểu nhiệm

vụ, tìm kiếm, phát hiện những thuộc tính và những mối quan hệ vốn có trong từng nhiệm vụ để lựa chọn và sử dụng đúng đắn, phù hợp những thao tác, hành động thực hiện mục đích nhất định

1.2.2 Thích ứng

1.2.2.1 Định nghĩa thích ứng

Thuật ngữ “thích ứng” đã được đề cập đến từ rất lâu và hiện nay được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống

Theo tác giả Lê Ngọc Lan: “Sự thích nghi thấp nhất của giới sinh vật là thích

nghi sinh học Sự thích nghi này đảm bảo cho cá thể sinh vật tồn tại trong môi trường tương đối ổn định Trong điều kiện môi trường thay đổi nhanh chóng, có biến động cao thì động vật bậc cao đã đưa sự thích nghi lên một trình độ mới cả

về nội dung và hình thức Động vật không chỉ thụ động đáp ứng các kích thích của môi trường mà còn có các phản ứng đáp lại các kích thích đó một cách kịp thời - thích ứng Sự thích ứng này được thực hiện bằng cơ chế phản xạ của hệ thần kinh”

[20, tr.18-20]

Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998) thì “Thích ứng là phù hợp với điều kiện

mới, nhờ những thay đổi, điều chỉnh nhất định” [35]

Theo từ điển Tâm lí (2001), TƯ là “bước đầu điều chỉnh những phản ứng sinh

lý (thích nghi với nhiệt độ cao hay thấp, môi trường khô hay ẩm), sau là thay đổi

Trang 34

cách ứng xử” [34]

Theo tác giả Trần Thị Minh Đức, “Thích ứng là một quá trình hòa nhập tích

cực với hoàn cảnh có vấn đề, qua đó cá nhân đạt được sự trưởng thành về mặt tâm lí” [8, tr.29]

Theo tác giả Phùng Đình Mẫn: “Thích ứng ở con người là thích ứng với hoạt

động và trong hoạt động Khi tiến hành bất kì hoạt động nào, con người cũng phải thích ứng với nó Đó là điều kiện quyết định hiệu quả lao động” [24]

Theo tác giả Lê Thị Minh Loan, “Thích ứng là quá trình cá nhân lĩnh hội một

cách tích cực, chủ động các điều kiện mới hay hoàn cảnh mới, qua đó đạt được các mục đích, yêu cầu đề ra và sự trưởng thành về mặt tâm lí, nhân cách” [22]

Từ điển tâm lí học do Vũ Dũng chủ biên, “thích ứng” phản ứng của cơ thể với

những thay đổi từ môi trường Về nguyên tắc có hai phương thức thích ứng khác nhau của cơ thể đối với những thay đổi khác nhau của điều kiện môi trường: Thích ứng bằng cách thay đổi cấu tạo và hoạt động của các cơ quan; đây là phương thức phổ biến ở động vật và thực vật; Thích ứng bằng thay đổi hành vi mà không phải thay đổi tổ chức, phương thức này chỉ đặc trưng ở động vật và gắn liền với sự phát triển tâm lí Phương thức thích ứng này được phân chia thành hai hướng khác nhau [7]

+ Thay đổi chậm những hành vi được thừa kế - bản năng, mà sự tiến hóa của những bản năng này diễn ra dưới ảnh hưởng của những thay đổi môi trường với tốc

độ chậm

+ Phát triển năng lực học tập của cá nhân, năng lực “hành động hợp lý” – những thay đổi nhanh của hành vi, “sáng tạo” ở mức nhất định những phương thức hành vi mới để đáp lại những thay đổi nhanh của môi trường mà bản năng bị bất lực; những hoạt động này không nhất thiết phải cố định, phải di truyền, vì sự ưu việt của chúng là tính mềm dẻo cao; vì vậy, chỉ có những khả năng hành động quy định thứ bậc cao của tổ chức tâm lí sinh vật mới được di truyền

Trang 35

Có thể hiểu thích ứng tâm lí là một cấu trúc tâm lí gồm hai yếu tố cơ bản: thứ nhất, nắm được những phương thức hành vi thích hợp, đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống và hoạt động; thứ hai, hình thành những cấu tạo tâm lí mới, tạo nên tính chủ thể của hành vi và hoạt động Hai yếu tố này gắn bó chặt chẽ với nhau tạo nên

sự thích ứng ở con người Qua đó, con người điều chỉnh được hệ thống thái độ, hành vi hiện có và hình thành được hệ thống thái độ, hành vi phù hợp với môi trường đã thay đổi

Thích ứng tâm lí của con người là sự thích ứng tích cực bằng hoạt động và thông qua hoạt động Mức độ thích ứng của mỗi cá nhân phụ thuộc vào mức độ tích cực hoạt động và hiệu quả hoạt động của chính bản thân người đó Chính vì vậy, để đánh giá mức độ thích ứng của cá nhân phải dựa vào mức độ phù hợp của hành vi, ứng xử của cá nhân với điều kiện sống và hoạt động của người đó Có thể khẳng định rằng, hoạt động vừa là phương thức, vừa là biểu hiện khách quan của sự thích ứng tâm lí – xã hội của cá nhân Bên cạnh đó, hoạt động của con người diễn ra trong mối quan hệ giữa con người với con người Vậy nên, sự thích ứng tâm lí ở con người là sự thích ứng trong quan hệ xã hội Ngoài ra, thích ứng tâm lí còn là biểu hiện của sự phát triển và hoàn thiện nhân cách, nó đảm bảo cho cá nhân đáp ứng được với yêu cầu, điều kiện mới của cuộc sống và hoạt động Mặt khác, thích ứng còn là điều kiện của việc tiếp thu những phương thức hành vi, hoạt động mới, là điều kiện cho sự phát triển tâm lí cá nhân Xét ở góc độ ý thức, sự thích ứng tâm lí còn được xem là sự hình thành những cấu trúc tâm lí, ý thức và tự ý thức giúp con người định hướng, điều khiển, điều chỉnh một cách tích cực và tự giác thái độ, hành

vi của bản thân để đáp ứng yêu cầu, điều kiện mới của hoạt động

Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm thích ứng:

Thích ứng là quá trình chủ thể điều chỉnh nhận thức, thái độ, hành vi phù hợp với điều kiện sống nhằm lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội – lịch sử để hình thành những hành vi mới, phẩm chất thói quen mới

Trang 36

1.2.2.2 Đặc điểm của thích ứng

Thích ứng của con người có những đặc điểm cơ bản như sau:

Thứ nhất: Thích ứng là quá trình tích cực của chủ thể trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể với môi trường sống mới, với các hoạt động có những yêu cầu mới

Thứ hai: Thích ứng chỉ nảy sinh khi chủ thể thay đổi môi trường sống mới hoặc tiến hành các hành động với những yêu cầu mới Khi điều kiện sống có nhiều biến đổi, những yêu cầu của các hoạt động mới mẻ thì đặc điểm cơ thể, đặc điểm tâm lí trong cấu trúc tâm lí không còn thích hợp để phản ứng với môi trường sống mới buộc chủ thể phải có sự thay đổi cấu trúc tâm lí bên trong, trên cơ sở đó điều chỉnh, hình thành hành động mới cho phù hợp với yêu cầu mới

Thứ ba: Kết quả của thích ứng là chủ thể hình thành cấu tạo tâm lí mới bao gồm nhận thức, thái độ và hành động nhằm đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động hoặc môi trường mới

Thứ tư: Biểu hiện khách quan nhất, rõ nét nhất của thích ứng là có được hành động phù hợp đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động [23]

1.2.2.3 Phân loại thích ứng

Nhìn chung, ở nhiều góc độ, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm thích ứng khác nhau Và biểu hiện của sự thích ứng cũng được chia ra thành nhiều mức độ cao thấp khác nhau Sau đây là các mức độ thích ứng theo quan điểm của chúng tôi:

Thích ứng sinh lý: Là mức độ thấp nhất, đầu tiên của sự thích ứng Mức độ

này được đặc trưng ở những phản ứng có tính chất tự động của cơ thể trước những biến đổi của môi trường sống trực tiếp để tạo ra sự cân bằng Cơ chế thích ứng sinh

lý là phản xạ không điều kiện

Thích ứng tâm lí: Đây là loại hình thích ứng ở trình độ cao hơn, xuất hiện ở

người và các động vật có hệ thần kinh trung ương Đặc trưng của thích ứng tâm lí là

Trang 37

cơ thể thích ứng không chỉ với những tác động trực tiếp, mà còn với kích thích gián tiếp có tính chất tín hiệu của môi trường Cơ chế thích ứng tâm lí là các phản xạ có điều kiện

Thích ứng tâm lí- xã hội: Thể hiện sự thích ứng ở trình độ cao nhất chỉ có ở

con người Đặc trưng của hình thức này là con người sống trong môi trường xã hội tiếp nhận được các giá trị xã hội, hòa nhập vào xã hội và có khả năng đáp ứng được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội Sự cân bằng giữa cơ thể và môi trường ở trình độ này là sự cân bằng tích cực, tự giác Cơ chế của sự thích ứng xã hội là hoạt động và giao tiếp của con người [31]

1.2.3 Kĩ năng thích ứng

1.2.3.1 Định nghĩa kĩ năng thích ứng

Kĩ năng thích ứng là một khái niệm được xây dựng trên cơ sở kết hợp của hai khái niệm: kĩ năng và thích ứng Do vậy, cần tìm hiểu, làm rõ hai khái niệm kĩ năng

và thích ứng trước khi có nhận thức đúng về khái niệm kĩ năng thích ứng

Từ những kết quả nghiên cứu về kĩ năng và thích ứng ở trên, chúng ta có thể hiểu:

Kĩ năng thích ứng là khả năng chủ thể tích cực vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm nhằm điều chỉnh nội dung, phương thức hoạt động và giao tiếp của bản thân phù hợp với yêu cầu mới từ môi trường bên ngoài đảm bảo đạt mục tiêu, hiệu quả trong hoàn cảnh mới tạo nên những nét tâm lí mới cho chính chủ thể

1.2.3.2 Đặc điểm của kĩ năng thích ứng

Thứ nhất: kĩ năng thích ứng là quá trình hoạt động tích cực của chủ thể trong quá trình tác động qua lại giữa chủ thể và môi trường sống mới, với các hoạt động

có những yêu cầu mới

Thứ hai: kĩ năng thích ứng chỉ nảy sinh khi chủ thể thay đổi môi trường sống mới hoặc tiến hành các hành động với những yêu cầu mới Khi điều kiện sống có

Trang 38

nhiều biến đổi, những yêu cầu của hoạt động mới mẻ thì đặc điểm cơ thể, đặc điểm tâm lí trong cấu trúc tâm lí không còn thích hợp để phản ứng với môi trường sống mới buộc chủ thể phải thay có sự thay đổi cấu trúc tâm lí bên trong, trên cơ sổ điều chỉnh, hình thành hành động mới cho phù hợp với yêu cầu mới

Thứ ba: kết quả của kĩ năng thích ứng là chủ thể hình thành cấu tạo tâm lí mới bao gồm nhận thức, thái độ, hành vi, thói quen nhằm đáp ứng yêu cầu mới

Thứ tư: biểu hiện khách quan nhất, rõ nét nhất của kĩ năng thích ứng là có được hành động phù hợp đáp ứng yêu cầu mới của hoạt động [31]

1.2.3.3 Các giai đoạn của kĩ năng thích ứng

Nhắc đến các giai đoạn của KN thích ứng, các nghiên cứu đã phân chia một cách chi tiết, cụ thể dựa trên các giai đoạn chính sau: trước khi thích ứng, trong khi thích ứng và sau khi thích ứng

Để có thể thích ứng một vấn đề, chúng ta cần trải qua các bước cơ bản sau:

- Giai đoạn 1: Nhận ra vấn đề

Khi gặp phải một vấn đề mới bao giờ cũng xuất hiện những khó khăn nhất định, nó có thể ở những mức độ khác nhau Khi chủ thể chưa nhận ra vấn đề tức chủ thể cũng chưa có hành động nào vì thực sự chưa biết vấn đề đang gặp phải là gì Để sớm nhận ra vấn đề đòi hỏi nhiều ở kinh nghiệm, tri thức và KN của chủ thể Đôi khi những khó khăn được che dấu bởi các biểu hiện thông thường hàng ngày, hoặc tích lũy trong quá trình sống, hoặc chủ thể chủ quan, xem nhẹ những dấu hiệu nhận diện khó khăn Những câu hỏi sau đây sẽ giúp chủ thể tìm ra vấn đề như: “Chuyện

gì sẽ xảy ra nếu ”; “Giả sử việc này không được thực hiện ” Những câu hỏi này

sẽ thực sự cần thiết để tránh trường hợp tưởng tượng quá xa hiện thực và làm cho những chuyện đơn giản bị nhầm tưởng là vấn đề, hay thấy vấn đề tồn tại khắp mọi nơi Hoặc có trường hợp, có những vấn đề đôi khi không cần phải giải quyết hay đưa ra giải pháp nào thì chúng cũng sẽ được “qua đi” Nhưng ngược lại, có một số trường hợp, nếu chủ thể không giải quyết thì nó sẽ không bao giờ mất đi, thậm chí vấn đề sẽ trở nên trầm trọng hơn [23]

Trang 39

Khi chủ thể đã nhận ra vấn đề thì cá nhân phải xác định trách nhiệm nhằm thích ứng với khó khăn, đồng thời tìm kiếm nguồn hỗ trợ chủ thể, từ đó giúp chủ thể nhận ra rằng có khó khăn đang tồn tại, cần phải thích ứng và đáng để thích ứng Tiếp đó, chủ thể phải xác định mục tiêu khi thích ứng với khó khăn Mục tiêu này sẽ định hướng cho chủ thể xây dựng kế hoạch thích ứng, phải dốc sức để thực hiện điều đó, là cơ sở giúp chủ thể đánh giá hiệu quả của kĩ năng thích ứng

- Giai đoạn 2: Hiểu vấn đề chủ thể đang gặp phải

Một trong những yêu cầu quan trọng khi thích ứng với vấn đề là xác định nguyên nhân của vấn đề Tuy nhiên, khi một vấn đề xảy ra, nó dễ bị che khuất bởi các tình tiết khác nhau dẫn đến nhiều trường hợp chủ thể không xác định được nguyên nhân thực sự là gì Chính vì vậy, khi chủ thể có một vấn đề và xác định mình là người giải quyết nó, thích ứng với nó thì đòi hỏi chủ thể phải định nghĩa (chỉ ra, mô tả) một cách rõ ràng, tìm hiểu càng nhiều thông tin càng tốt để từ đó nhận diện các mâu thuẫn tồn tại trong vấn đề như mâu thuẫn bên trong chủ thể hay mâu thuẫn bên ngoài Từ đó, chủ thể hiểu vấn đề và tìm ra được cách thích ứng với khó khăn đó Như vậy, hiểu vấn đề có một giá trị quan trọng là giúp chủ thể xác định nguyên nhân của vấn đề bao gồm nguyên nhân trực tiếp và cả nguyên nhân gián tiếp [17]

- Giai đoạn 3: Đề ra các giải pháp thích ứng

Với mỗi vấn đề, chủ thể sẽ có những giải pháp tốt nhất để thích ứng một cách hiệu quả, do đó, chủ thể phải dựa trên những thông tin thu thập được từ vấn đề với

kì thi THPT quốc gia đã được xác định để liệt kê các giải pháp thích ứng khác nhau Mỗi giải pháp sẽ có những ưu điểm và khuyết điểm khác nhau nên nếu càng nhiều giải pháp được đưa ra thì chủ thể càng có thêm cơ hội để lựa chọn ra giải pháp tốt nhất Vì vậy, ở giai đoạn này, chủ thể có thể liệt kê tất cả những gỉải pháp hình dung

để sau đó xác định một giải pháp tốt nhất cho bản thân mình

- Giai đoạn 4: Chọn giải pháp tốt nhất

Giai đoạn chọn giải pháp tốt nhất là một giai đoạn đòi hỏi chủ thể phải có sự

Trang 40

so sánh các giải pháp với nhau, đồng thời chủ thể cũng phải tiến hành phân tích những ưu và khuyết điểm cũng như những rủi ro của từng phương án Bên cạnh đó, chủ thể phải dựa trên mục tiêu đã đề ra khi thích ứng với kì thi THPT quốc gia để lựa chọn phươ̛ng án tốt nhất

Như vậy, giải pháp tốt nhất là giải pháp chứa đựng nhiều ưu điểm nhất, ít rủi

ro nhất, phù hợp với hoàn cảnh và khả năng thực thi của chủ thể, đồng phải đáp ứng, thoả mãn được mục tiêu đề ra Theo Howard Senter (2005), một phương án tốt nhất là phương án: có tác dụng: giải quyết được vấn đề trong một thời gian nhất định hay vĩnh viễn; có hiệu quả: giải quyết vấn đề mà không tạo ra những vấn đề mới; khả thi: thoả mãn được các điều kiện của vấn đề,…

- Giai đoạn 5: Thực thi giải pháp

Có thể nói đây là giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình thích ứng bởi vì nếu chủ thể không thực hiện tốt ở giai đoạn này thì toàn bộ quá trình thực hiện kĩ năng thích ứng sẽ thất bại

Thực thi giải pháp là biến những ý tưởng của giải pháp tốt nhất được lựa chọn bằng việc lên một kế hoạch thực hiện với sự cân nhắc nhiều yếu tố như thời gian, bối cảnh, địa điểm, các phương tiện cũng như các cá nhân hỗ trợ Từ đó, chủ thể tiến hành những hành động cụ thể để thực thi giải pháp tốt nhất đã lựa chọn

- Giai đoạn 6: Theo dõi và đánh giá giải pháp

Đây là giai đoạn cuối cùng trong kĩ năng thích ứng Nếu như chủ thể dừng quá trình thực hiện kĩ năng thích ứng ở giai đoạn thực thi giải pháp thì chủ thể sẽ không xác định được quá trình thích ứng có thành công hay không [11]

Do đó, sau khi thực thi giải pháp, chủ thể cần dựa trên mục tiêu đã đề ra để xác định những mục tiêu nào đã đạt được và mục tiêu nào chưa hoàn thành Bằng cách này, chủ thể có thể kiểm tra xem cách giải quyết đó có thành công như mong đợi hay không, có tạo những ảnh hưởng không mong đợi nào không và quan trọng nhất là rút kinh nghiệm cho bản thân Hoặc đặt trường hợp vấn đề vẫn chưa được giải quyết thì chủ thể phải thực hiện lại từ bước đầu tiên của kĩ năng thích ứng

Ngày đăng: 04/04/2018, 12:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w