Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá trong kiểm định chất lƣợng giáo dục ở trƣờng Đại học Sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1Hồ Thị Thanh Nguyên
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2được sự giúp đỡ tận tình của các Thầy/ Cô Trường ĐH Sư phạm TP.HCM, đặc biệt là quý Thầy/ Cô của Khoa Khoa học Giáo dục Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới quý Thầy/ Cô đã giảng dạy, cho tôi thêm niềm tin và nghị lực, trang bị cho tôi những kiến thức quý báu trong hai năm học tập tại trường
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi đến TS Nguyễn Đức Danh lời cảm ơn chân thành và sâu sắc, người đã dành rất nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua, cũng như truyền cảm hứng cho tôi về đam mê và tính chuyên nghiệp trong Nghiên cứu khoa học
Tôi trân trọng cảm ơn Thầy trưởng phòng và Quý đồng nghiệp ở phòng Tổ chức – Hành chính, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đã hỗ trợ, tạo điều kiện tối đa để tôi dành thời gian cho việc học cao học trong 2 năm qua
Tôi chân thành cảm ơn quý Thầy, quý Cô thuộc Hội đồng Tự đánh giá, Thành viên nhóm chuyên trách, cảm ơn các anh/ chị là cán bộ quản lý tại các đơn vị, Chuyên viên các phòng ban và Giảng viên các khoa đã dành thời gian tham gia vào nghiên cứu này
Tôi xin cảm ơn sự động viên, khích lệ của gia đình và các bạn học viên cùng khoá, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù tôi đã cố gắng thật nhiều trong quá trình thực hiện luận văn, song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp, chia
sẻ ý kiến của quý Thầy/ Cô và bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tháng 09/2017 Tác giả luận văn
Hồ Thị Thanh Nguyên
Trang 3hiện Các tài liệu sử dụng trong Luận văn này được trích dẫn đầy đủ và chính xác, được ghi trong phần danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu khảo sát và những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trên tạp chí khoa học dưới bất kỳ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Người thực hiện
Hồ Thị Thanh Nguyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM KẾT
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4 Giả thuyết nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của luận văn 10
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 11
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 11
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới 11
1.1.2 Nghiên cứu trong nước 13
1.2 Một số khái niệm cơ bản 16
1.2.1 Quản lý 16
1.2.2 Quản lý giáo dục 16
1.2.3 Kiểm định 19
1.2.4 Chất lượng 21
1.2.5 Chất lượng giáo dục 21
1.2.6 Kiểm định chất lượng GD 23
1.2.7 TĐG trong kiểm định CL GD 25
1.3 Các vấn đề cơ bản về KĐCL GD ở trường ĐH 25
Trang 51.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá CL GD 28
1.3.4 Nguyên tắc và chu kỳ KĐCL GD 28
1.3.5 Điều kiện đăng ký KĐCL GD 29
1.4 Hoạt động TĐG trong KĐCL GD ĐH 29
1.4.1 Vai trò TĐG trong KĐCL GD 29
1.4.2 Quy trình TĐG trong KĐCL GD 30
1.5 Quản lý hoạt động TĐG trong KĐCL GD ĐH .35
1.5.1 Quản lý việc lập kế hoạch TĐG và đảm bảo thực hiện mục tiêu TĐG 35
1.5.2 Quản lý hoạt động của các nhóm chuyên trách trong hoạt động TĐG 36
1.5.3 Quản lý việc thu thập thông tin, minh chứng 37
1.5.4 Quản lý việc xử lý, phân tích thông tin, minh chứng và đánh giá mức độ đạt được của các tiêu chí 38
1.5.5 Quản lý việc viết báo cáo các tiêu chuẩn và báo cáo TĐG 39
1.5.6 Quản lý các điều kiện đảm bảo hoạt động TĐG 40
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 42
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 43
2.1 Khái quát về trường ĐH Sư phạm TP.HCM 43
2.1.1 Về cơ cấu tổ chức 43
2.1.2 Về đội ng .44
2.1.3 Về đào tạo 45
2.1.4 Về cơ sở vật chất và điều kiện phục vụ nghiên cứu, giảng dạy và học tập 45
2.1.5 Về nghiên cứu khoa học 45
2.1.6 Về hợp tác quốc tế 46
2.2 Mô tả các thức tổ chức nghiên cứu đề tài 47
2.2.1 Mẫu nghiên cứu 49
2.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 54
Trang 62.3.1 Thực trạng tình hình thực hiện hoạt động TĐG tại trường ĐH Sư phạm
TP.HCM 55
2.3.2 Thực trạng nhận thức của đội ng CBQL hoạt động TĐG trong KĐCL GD và hoạt động TĐG 58
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM 60
2.4.1 Thực trạng quản lý công tác lập kế hoạch hoạt động TĐG đáp ứng mục tiêu TĐG của hội đồng TĐG trường 61
2.4.2 Thực trạng quản lý hoạt động của các nhóm chuyên trách trong hoạt động TĐG 69 2.4.3 Thực trạng quản lý việc xác định và thu thập thông tin, minh chứng 77
2.4.4 Thực trạng quản lý việc xử lý, phân tích thông tin, minh chứng và đánh giá mức độ đạt được của các tiêu chí 82
2.4.5 Thực trạng quản lý việc viết báo cáo các tiêu chí/ tiêu chuẩn và báo cáo TĐG 83 2.4.6 Thực trạng quản lý các điều kiện đảm bảo công tác TĐG 87
2.5 Đánh giá chung 91
2.5.1 Điểm mạnh 91
2.5.2 Hạn chế 91
2.5.3 Thời cơ 92
2.5.4 Thách thức 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 94
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 96
3.1 Nguyên tắc và cơ sở đề xuất các biện pháp 96
3.1.1 Nguyên tắc gắn lý luận với thực tiễn 96
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa và tính phát triển 96
Trang 73.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 97
3.2 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM 97
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho CB, GV và sinh viên về hoạt động KĐCL GD và hoạt động TĐG 98
3.2.2 Biện pháp 2: Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động và hệ thống văn bản quy định về hoạt động TĐG 100
3.2.3 Biện pháp 3: Tăng cường hiệu quả các hoạt động của nhóm chuyên trách trong hoạt động TĐG 103
3.2.4 Biện pháp 4: Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ng CB tham gia hoạt động KĐCL GD và hoạt động TĐG 105
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy trình TĐG trong KĐCL GD 107
3.2.6 Biện pháp 6: Tăng cường các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động TĐG 110
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 111
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất 112
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 116
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 117
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121 PHỤ LỤC
Trang 91 Bảng 2.1 Số lượng đội ngũ giảng viên trường ĐH Sư phạm
4 Bảng 2.4 So sánh việc định kỳ rà soát, kiểm tra và chỉ đạo
điều chỉnh kế hoạch để đảm bảo mục tiêu TĐG 62
5 Bảng 2.5 So sánh mức độ phù hợp khi phân công công
việc của các thành viên trong nhóm chuyên trách 65
6
Bảng 2.6 Thực trạng việc phân công công việc phù hợp với
năng lực và phạm vi đang phụ trách của các thành viên
trong nhóm chuyên trách
67
7 Bảng 2.7 Thực trạng việc thường xuyên kiểm tra, đánh giá
và chỉ đạo nhóm chuyên trách trong quá trình thực hiện 69
8 Bảng 2.8 Thực trạng việc tham gia tập huấn hoạt động
TĐG của các thành viên tham gia hoạt động TĐG 71
9 Bảng 2.9 Thực trạng việc tổ chức tuyên truyền, vận động
sự tham gia, ủng hộ của các thành viên trong nhà trường 73
10 Bảng 2.10 So sánh việc thảo luận nội dung báo cáo của
các nhóm chuyên trách
79
11 Bảng 2.11 Thực trạng hỗ trợ chế độ, chính sách cho CB
12 Bảng 2.12 Thực trạng hỗ trợ cơ sở hạ tầng, phương tiện
13 Bảng 3.1 Khách thể thực hiện khảo nghiệm các biện pháp 106
Trang 101 Sơ đồ 1.1 Khái niệm quản lý 14
2 Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm định chất lượng GD 24
3 Sơ đồ 2.1 Cấu trúc tổ chức của nghiên cứu 44
4 Sơ đồ 3.1 Cơ sở và nguyên tắc đề xuất biện pháp 89
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hoá chất lượng là thành tố quan trọng trong việc xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng (ĐBCL) bên trong trường đại học (ĐH) Các tác động từ bên ngoài c ng là một nguồn lực gia tang chất lượng trường ĐH Những tác động ngoại sinh đó thách thức lớn cho sự tồn tại và phát triển đòi hỏi các cơ sở giáo dục (CSGD) ĐH, buộc phải cải tiến liên tục về chất lượng (CL) đào tạo như: quản trị, giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học Một trong các tác động ngoại sinh đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các trường ĐH về CLGD Đó c ng là chủ đề nhận được quan tâm đặc biệt từ các nhà quản lý giáo dục (QLGD) Họ không ngừng nghiên cứu nhằm tìm kiếm những giải pháp giúp cho các trường có thể đứng vững trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập GD ĐH khu vực và quốc tế
ĐBCL trong đường ĐH nhằm mục đích để mọi người hiểu được tầm quan trọng của CL trong GD ĐH Cụ thể là tổ chức và triển khai công tác ĐBCL, giúp nâng cao nhận thực về hiệu quả quản trị và hoạt động của ĐH Công việc này thúc đẩy mỗi người hiểu rõ trách nhiệm của mình trong công việc hàng ngày để có thể phát huy khả năng tốt nhất, phù hợp với mục tiêu phát triển của nhà trường
Mô hình ĐBCL GD của Việt Nam có 3 thành phần quan trọng gồm: Hệ thống ĐBCL bên trong trường; Hệ thống ĐBCL bên ngoài trường (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá); và Hệ thống các tổ chức ĐBCL (các tổ chức đánh giá ngoài và các tổ chức kiểm định độc lập) Căn cứ theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục (CLGD) các trường ĐH đã được ban hành từ năm 2007 theo Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01 tháng 11 năm 2007 của
Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá CL GD trường ĐH thì các trường ĐH ở Việt Nam đều phải thực hiệm KĐCL bao gồm 2 khâu là TĐG và đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn này [4] Vào ngày 19 tháng 5 năm 2017, Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT về việc ban hành Quy định về KĐCL CSGD ĐH, thông tư này có hiệu lực từ ngày 04 tháng 7 năm 2017
Hiện nay, xã hội đang ngày càng mở cửa hơn với thế giới bên ngoài, chất lượng của các sản phẩm trong tất cả các thành phần kinh tế c ng ngày càng trở thành vấn đề
Trang 12thiết yếu đối với tất cả mọi người và với Chính phủ từ khi chất lượng trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu trong thế giới thị trường đầy cạnh tranh Không ngạc nhiên, khi trong GD vấn đề chất lượng đang gây nhiều sự chú ý từ các thành phần khác nhau trong xã hội, đặc biệt là từ khi hệ thống GDĐH đang cố gắng thực hiện cơ chế ĐBCL trong GDĐH Trong các ấn bản thuộc lĩnh vực GD, chất lượng được xem như sự đáp ứng được mục tiêu được nhiều nhà GD, QL Việt Nam đồng tình nhất
Hiện nay, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đang thực hiện TĐG trong KĐCL theo 10 tiêu chuẩn, 61 tiêu chí tại Quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT và Công văn số 1237/KTKĐCLGD-KĐĐH ngày 03 tháng 8 năm 2016 của Cục Khảo thí và KĐCL
GD, Bộ GD&ĐT về việc sử dụng tài liệu hướng dẫn đánh giá CL trường ĐH
Tự đánh giá (TĐG) là một khâu quan trọng trong tổng thể các hoạt động KĐCL các trường ĐH Trong quá trình này, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM căn cứ vào các tiêu chuẩn KĐCL của Bộ GD&ĐT để tiến hành xem xét, TĐG và báo cáo về thực trạng CL, hiệu quả các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ ra những mặt mạnh và mặt yếu cần khắc phục, cải tiến, từ đó đề ra các biện pháp điều chỉnh các nguồn lực và thực hiện các quá trình nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo đã đề ra TĐG thể hiện tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và dịch vụ xã hội theo chức năng nhiệm vụ được giao và phù hợp với sứ mạng và mục tiêu của nhà trường
Kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCL GD) là hoạt động đánh giá của các tổ chức chuyên nghiệp, độc lập với các CSGD nhằm xem xét, công nhận CSGD đạt chuẩn chất lượng GD Tuy hoạt động này không trực tiếp tạo ra CL GD, nhưng quá trình phấn đấu để được công nhận đạt tiêu chuẩn CL đòi hỏi các CSGD phải không ngừng hoàn thiện và nâng cao CL các chuẩn mực đầu vào, quy trình đào tạo và các chuẩn mực đầu ra, do đó tạo ra CL ở tất cả các khâu liên quan trong mỗi CSGD
TĐG là khâu đầu tiên trong tổng thể các hoạt động KĐCL GD, TĐG không chỉ
là hoạt động quan trọng để tham gia KĐCL GD mà còn thể hiện tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong tất cả các hoạt động, nghiên cứu và dịch vụ xã hội Mục đích của TĐG không chỉ là đảm bảo cho nhà trường đào tạo có CL cao mà còn mang lại động lực cải tiến và nâng cao CL chương trình đào tạo c ng như CL của toàn
Trang 13trường Nó còn là cơ sở quan trọng giúp nhà trường nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của nhà trường trong tương lai TĐG đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai Các giải thích, nhận định, kết luận đưa ra trong quá trình TĐG phải dựa trên các minh chứng cụ thể, rõ ràng, bao quát hết các tiêu chí trong các tiêu chuẩn
Mặc dù hoạt động TĐG đã được Bộ GD&ĐT ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn từ năm 2007, đi kèm là nhiều đợt tập huấn công tác này cho các trường trực thuộc Nhưng tính đến thời điểm hiện nay, các trường ĐH trên cả nước trực thuộc Bộ, trong
đó có trường ĐH Sư phạm TP.HCM mới bắt đầu tiến hành TĐG Tính đến ngày 31/01/2015 theo số liệu thống kê của Bộ GD&ĐT, đã có 194 trường ĐH, 197 trường cao đ ng và 118 trường trung cấp chuyên nghiệp đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện của các trường vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, dẫn đến hiệu quả của hoạt động TĐG chưa cao, chưa thật sự đạt được mục tiêu KĐCL
GD ĐH và đáp ứng yêu cầu đào tạo của nhà trường [13]
Tổng hợp từ những phân tích trên có thể thấy tầm quan trọng của hoạt động TĐG trong ĐBCL GD ĐH chưa được quan tâm đúng mức Bên cạnh đó, việc thiếu hụt các nghiên cứu về TĐG, hay có thể nói gần như là chưa có, để lại một lỗ hỏng lớn
trong cơ sở dữ liệu của hoạt động này Vì vậy đề tài: ―Biện pháp quản lý hoạt động
tự đánh giá trong kiểm định chất lượng giáo dục ở trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh‖ đã được thiết kế và tiến hành nghiên cứu để bổ sung dữ
liệu còn thiếu và góp phần cải thiện, nâng cao hiệu quả tiến hành TĐG cho nhà trường Dung lượng của công trình này c ng phù hợp với luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục, chuyên ngành Quản lý Giáo dục
Trang 143 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác QL hoạt động kiểm định chất lượng trường đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu
Công tác QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM đã được quan tâm và triển khai thưc hiện trong thời gian qua Tuy nhiên, công tác QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD này vẫn còn hạn chế như sự khuyến khích, hỗ trợ thực hiện, đánh giá quá trình thực hiện TĐG chưa thật sự xuyên suốt và hiệu quả
Nếu khảo sát và đánh giá được thực trạng QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM thì người nghiên cứu có thể đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD tại trường ĐH Sư phạm TP.HCM
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động TĐG và QL hoạt động TĐG trong KĐCL
Trong đó, nội dung QL sẽ bao gồm các vấn đề: cấu trúc của TĐG và nội dung của TĐG Cụ thể, QL cấu trúc của TĐG được cấu thành bởi các tiểu mục: công tác lập
Trang 15kế hoạch hoạt động TĐG đáp ứng mục tiêu TĐG của Hội đồng TĐG Trường; các hoạt động của nhóm chuyên trách trong hoạt động TĐG; việc xác định và thu thập thông tin, minh chứng; việc xử lý, phân tích thông tin, minh chứng và đánh giá mức độ đạt được của các tiêu chí; việc viết báo cáo tiêu chuẩn và báo cáo TĐG; các điều kiện hỗ trợ cho hoạt động TĐG Đồng thời, QL cấu trúc của TĐG gồm các thành phần: Mục tiêu của TĐG, CL của nhóm chuyên trách, năng lực cung cấp minh chứng, CL minh chứng c ng như độ tin cậy của báo cáo TĐG
Các yếu tố trên hợp thành hệ thống và được vận hành trong mối tương tác qua lại tạo nên hiệu quả của quá trình TĐG trong KĐCL GD ĐH Đồng thời các yếu tố khác: nguồn lực thông tin, nguồn lực tài chính, văn hoá CL của nhà trường… c ng góp phần tác động lên CL hoạt động TĐG
6.1.2 Tiếp cận lịch sử - logic
Người nghiên cứu tìm hiểu công tác QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD ĐH
đã thực hiện trong các giai đoạn lịch sử và trong yêu cầu cấp thiết của xã hội đối với việc nâng cao CL KĐCL nói chung và cụ thể ở đây là TĐG trong KĐCL GD
6.1.3 Tiếp cận thực tiễn
Thực tiễn yêu cầu trường ĐH phải đạt chuẩn trong KĐCL GD ĐH của Bộ GD&ĐT, Trường ĐH Sư phạm TP.HCM đã thực hiện TĐG trong KĐCL GD nhằm đánh giá rộng hơn những tiêu chuẩn mà trường đạt được trong quá trình phát triển, đáp ứng yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, so sánh, tổng hợp và hệ thống hoá các tài liệu lý thuyết và quá trình
QL hoạt động TĐG nói chung và hoạt động TĐG trong KĐCL GD ĐH nói riêng;
c ng như việc thực hiện TĐG trong hệ thống văn bản của Bộ GD&ĐT (Quyết định, Thông tư, Công văn…); trang web của các trường/cục; c ng như các sách chuyên
ngành và tạp chí về Giáo dục và Khoa học giáo dục
6.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.2.1 Tiếp cận nghiên cứu theo hướng định tính
Trang 16Như tất cả mọi nhà nghiên cứu, câu hỏi chúng tôi phải đối mặt đầu tiên khi bắt đầu thực hiện đề tài này là sử dụng cách tiếp cận nào cho những câu hỏi nghiên cứu
mà chúng tôi mong muốn tìm thấy lời giải đáp Thứ nhất, nhu cầu về mối liên hệ giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn đang tăng lên và cần phải có cái nhìn sâu hơn về các quá trình khác nhau trong một môi trường kinh tế xã hội phức tạp đang thay đổi nhanh chóng; và cả hai yêu cầu được sử dụng nghiên cứu định tính đạt được tốt hơn nghiên cứu định lượng Thứ hai, một số vấn đề về các phương pháp định tính đã bắt đầu được làm rõ [45]
Trong đào tạo và đào tạo sau ĐH, sự hiểu biết về các yêu cầu chính thức và không chính thức của môn học là rất quan trọng để đạt được kết quả thành công trong việc viết bất kỳ bài báo, luận án,… Những yêu cầu này đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu liên quan đến các phương pháp định tính - rõ ràng là một phương pháp hợp
lệ trong khoa học QL và khoa học kinh tế Những mong đợi chính bao gồm:
(a) đóng góp và giá trị ban đầu
(b) kiên định trình bày kiến thức trong một lĩnh vực và phương pháp
(c) nghiên cứu "chất lượng tốt‖
(d) lý do cho bất kỳ quyết định nào trong quá trình nghiên cứu [45]
Chúng tôi đứng ở vai trò là người QLGD nhìn vào một hiện trạng TĐG, vì nguồn tài liệu chủ yếu chúng tôi tiếp cận là từ hệ thống văn bản của Bộ GD&ĐT Như vậy, đối với nội dung hoàn toàn mới, cùng với mong muốn đi sâu vào phân tích thực trạng QL, cùng với điều kiện thực tế về nguồn lực nhân sự, thời gian c ng đều ủng hộ chúng tôi lựa chọn nghiên cứu định tính làm phương pháp chủ đạo để tiếp cận vấn đề
Nghiên cứu định tính ở đề tài này cho phép chúng tôi tiếp cận nhằm tìm cách
mô tả và phân tích đặc điểm môi trường và hành vi của con người và của nhóm người
từ quan điểm của nhà nghiên cứu Bên cạnh đó, nghiên cứu định tính cung cấp thông tin toàn diện về các đặc điểm của môi trường xã hội nơi nghiên cứu được tiến hành Đời sống được nhìn nhận như một chuỗi các sự kiện liên kết chặt chẽ với nhau mà cần được mô tả một cách đầy đủ để phản ánh được cuộc sống thực tế hàng ngày
Nghiên cứu định tính dựa trên một chiến lược nghiên cứu linh hoạt và có tính biện chứng Phương pháp này cho phép chúng tôi phát hiện những chủ đề quan trọng
Trang 17mà các nhà nghiên cứu có thể chưa bao quát được trước đó Trong nghiên cứu định tính, một số câu hỏi nghiên cứu và phương pháp thu thập thông tin được chuẩn bị trước, nhưng chúng có thể được điều chỉnh cho phù hợp khi những thông tin mới xuất hiện trong quá trình thu thập Đó là một trong những khác biệt cơ bản giữa phương pháp định tính và phương pháp định lượng
6.2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong nghiên cứu định tính, thu thập và phân tích thông tin bằng nhiều dạng khác nhau Nó có xu hướng tập trung vào khai thác càng nhiều chi tiết càng tốt, một số lượng nhỏ các trường hợp hoặc các ví dụ được xem là thú vị hoặc rõ ràng với mục đích để đạt được chiều sâu hơn là bề rộng [43]
Chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu theo tiếp cận định tính là phỏng vấn sâu (in-depth interview) đối với khách thể là CBQL của hoạt động TĐG và thành viên tham gia vào hoạt động TĐG; với số lượng khách thể tham gia mà chúng tôi nghĩ
là phù hợp cho quy mô c ng như thời gian thực hiện đề tài Ngoài ra chúng tôi c ng quan sát (direct observation) các buổi làm việc của các nhóm chuyên trách và nghiên cứu tài liệu (document/ documentation) để thu thập các dữ liệu bổ sung mà chúng tôi không phỏng vấn được
Đối với phỏng vấn sâu: Chúng tôi sử dụng các câu hỏi mở để thu thập dữ liệu thay vì dùng một công cụ thu thập dữ liệu có sẵn khác với mong muốn tìm ra được chính xác những vấn đề chúng tôi muốn biết [41] Những nội dung phỏng vấn đều được ghi âm để có thể lưu lại chính xác những điều mà người cung cấp thông tin truyền đạt Ngoài ra, vì đối diện trực tiếp, tính vô danh của người được phỏng vấn cần được chúng tôi đảm bảo, chúng tôi c ng sẽ tôn trọng những yêu cầu bảo mật về thông tin nếu có những chia sẻ mà người tham gia không muốn công bố trong đề tài (dù chúng vẫn tồn tại trong các băng dữ liệu ghi âm) Việc phỏng vấn là ghi âm đều được
sự đồng ý của các chủ thể phỏng vấn qua việc ký các biên bản xác nhận tham gia nghiên cứu
Chọn mẫu phỏng vấn sâu: Với việc chọn mẫu có chủ đích, người tham gia nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi hiểu được hiện tượng trung tâm của vấn đề này một cách tốt nhất Vì vậy với nhóm khách thể thành viên tham gia hoạt động TĐG, chúng tôi sẽ
Trang 18lựa chọn những GV, CV có thể cho chúng tôi đầy đủ thông tin một cách chính xác nhất, trong đó bao gồm cả thành viên nhóm chuyên trách, thành viên nhóm thư ký và CBQL các đơn vị Riêng ở nhóm CBQL hoạt động TĐG, chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên trong Hội đồng TĐG Trong nghiên cứu này, chúng tôi phỏng vấn 16 người, mẫu CBQL là 3 và mẫu thành viên tham gia hoạt động TĐG là 13
Đối với phương pháp quan sát: Mục đích quan sát là ghi nhận thực tế QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD ĐH, dùng làm tư liệu đối chiếu với thông tin mà chúng tôi thu thập được trong quá trình phỏng vấn sâu Mẫu quan sát là những buổi làm việc của hội đồng TĐG, của các nhóm chuyên trách trong thời gian phù hợp với tiến độ nghiên cứu
Đối với phương pháp nghiên cứu tài liệu: Một số nội dung được ghi nhận ở các tài liệu chúng tôi được giới thiệu, hoặc đã công bố trên các phương tiện truyền thông, chúng tôi sẽ chọn phương pháp thu thập dự liệu để tránh làm mất thời gian của khách thể phỏng vấn
6.2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phỏng vấn sâu: Trước hết, dữ liệu ghi âm được ghi lại bằng văn bản, chúng tôi
sẽ phân tích nội dung để phân loại ý và thống kê tần suất [27] [41] Một số nội dung sẽ được trích dẫn nguyên văn trong những trường hợp cần thiết
Quan sát: Các thông tin ghi nhận được qua buổi quan sát sẽ được mô tả lại một cách ngắn gọn bằng biên bản quan sát, kèm hình ảnh minh hoạ thực tế
Nghiên cứu tài liệu: Với hệ thống tài liệu tiếp cận được, chúng tôi sẽ thống kê, liệt kê hoặc trích dẫn các dữ liệu
Cách xử lý số liệu chi tiết hơn sẽ được thể hiện ở chương sau
6.2.2.4 Vấn đề tồn tại của tiếp cận định tính
Mỗi người nghiên cứu đều sàng lọc các thông tin, dữ liệu thông qua lăng kính
cá nhân trong phân tích dữ liệu định tính Vì bản chất của nghiên cứu định tính là sự diễn giải của người nghiên cứu dựa trên những trải nghiệm cá nhân, trong một bối cảnh chính trị xã hội, các mốc thời gian và không gian cụ thể để mô tả hiện tượng, phân nhóm dữ liệu thành các chủ đề hay chủng loại, diễn giải và rút ra kết luận dựa trên nhận định cá nhân và đặt ra những câu hỏi sâu xa hơn Mặc dù chúng tôi luôn ý
Trang 19thức đƣợc việc phải tôn trọng sự thật của thông tin và hiện tƣợng mình quan sát đƣợc
ở một mức độ cao nhất
Trang 207 Đóng góp của luận văn
Hoạt động đánh giá, KĐCL ĐH đang nổi lên như một nhu cầu cấp thiết Trong
đó các trường ĐH cần liên tục TĐG để có điều chỉnh kịp thời nâng cao CL hoạt động Nghiên cứu này, trên góc độ tiếp cận riêng sẽ mang lại nhiều thông tin phân tích độc lập về chính hiệu quả hoạt động TĐG của một trường ĐH Các phân tích mà nghiên cứu thu được sẽ là kênh tham khảo quan trọng để các trường điều chỉnh hoạt động TĐG của mình trong tương lai
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRONG KIỂM ĐỊNH
CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu trên thế giới
CL đã trở thành một vấn đề rất quan trọng đối với các cơ sở GD ĐH nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh trong môi trường thay đổi và năng động như hiện nay Theo Chacha (2002), cho rằng: ―Đặc trưng của các trường ĐH trên thế giới là CL và sự nổi trội, công bằng, đáp ứng và cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả, quản trị và QL tốt các nguồn tài nguyên‖ [37]
Một nghiên cứu cho thấy, tính đến năm 2025, nhu cầu toàn cầu về GD ĐH dự kiến sẽ đạt 263 triệu sinh viên, tăng từ dưới 100 triệu sinh viên vào năm 2000 [42] Điều này có thể cho thấy sự gia tăng 163 triệu sinh viên trong 25 năm [42] Khi nhu cầu về CLGD tăng lên, thì nhu cầu về ĐBCL ngày càng tăng đối với các trường ĐH trên toàn thế giới, nơi có sự gia tăng về sinh viên, GV, chương trình đào tạo và các cơ
sở GD ĐH trong các mạng lưới toàn cầu [39], [50]
Toàn cầu hoá trong GD ĐH đã dẫn đến ―nhu cầu ngày càng tăng về trách nhiệm và sự minh bạch… dẫn đến nhu cầu phát triển văn hoá CL, đồng thời giải quyết những thách thức của GD ĐH trong xu thế toàn cầu hoá‖ [48] Trong thực tế, các đánh giá ĐBCL cung cấp thông tin chi tiết bên ngoài, một cách độc lập và khách quan Các đánh giá này cung cấp những quan sát về các cơ chế, sản phẩm, chương trình, dịch vụ
và quy trình của đối tác ngoài nhà trường, và đưa ra các đề xuất để cải tiến Tuy nhiên,
―nhận thức về ĐBCL rất đa chiều và theo bối cảnh chung, còn tồn tại khoảng cách giữa các chuyên gia về ĐBCL với người nghiên cứu‖ [48] Một số khía cạnh chính của
CL trong GD ĐH bao gồm giá trị, tính nhất quán và đáp ứng các nhu cầu và mong đợi; nhưng không một khung ĐBCL nào có thể giải quyết được tất cả các khía cạnh về CL,
vì thế cần được đánh giá về các lựa chọn liên quan đến CL [38] [51]
ĐBCL có thể là động lực cho các tổ chức đạt được uy tín trong GD ĐH Tuy nhiên, ĐBCL các chương trình GD đạt chuẩn quốc gia và quốc tế đã trở thành một thách thức lớn tại nhiều nước [46] Do đó, cần có sự hợp tác của các cơ quan ĐBCL và
Trang 22quyết định công nhận KĐCL
KĐCL GD đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhưng trước đây ít được các nước khác biết đến Hiện nay KĐCL GD ngày càng trở nên phổ biến hơn bởi nó chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, duy trì các chuẩn mực CLGD và không ngừng nâng cao CL dạy
và học
KĐCL là công cụ ĐBCL GD bắt nguồn từ nền GD ĐH Mỹ từ cuối thế kỷ 19 và được sử dụng chủ yếu nhằm tăng cường trách nhiệm giải trình ở nhiều hệ thống GD
ĐH trên thế giới KĐCL được định nghĩa là ―quá trình một tổ chức chính phủ hoặc tư
nhân đánh giá chất lượng của toàn bộ cơ sở GD ĐH hoặc của một chương trình GD
cụ thể nhằm chính thức công nhận cơ sở hoặc chương trình đã đáp ứng những tiêu chuẩn hoặc tiêu chí tối thiểu nào đó do tổ chức đánh giá đặt ra‖ [49]
Có thể nói KĐCL là công cụ phổ biến nhất trong ĐBCL GD ĐH trên thế giới Những quốc gia có nền GD phát triển ở châu Âu như Hà Lan, Bỉ, Đức, đã sử dụng KĐCL từ nhiều năm nay Ở khu vực Đông Âu, các nước như Albania, Bulgaria, Hungary, and Romania c ng bắt đầu sử dụng KĐCL từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước Các nước Mỹ La tinh và vùng Vịnh như Oman, Kuwait, Qatar, Arab Xeut hay Chi Lê c ng không đứng ngoài xu hướng này
Ở khu vực châu Á và châu Á Thái Bình Dương, KĐCL có mặt ở khắp mọi nơi
từ Australia Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Brunei, Lào và Cam-pu-chia Đặc biệt khu vực Đông Nam Á đã phát triển hệ thống KĐCL riêng được biết đến với tên gọi AUN-QA dành cho các trường ĐH trong khu vực Ở khu vực châu Phi, Kenya và Nam Phi c ng là những nước đã sử dụng KĐCL
KĐCL ở nhiều nước được triển khai trên cơ sở tự nguyện, nhưng do kết quả KĐCL thường được gắn với các hình thức khuyến khích như là điều kiện để cấp ngân sách trên đầu sinh viên (ở Mỹ) và các lợi ích khác do KĐCL mang lại, nhu cầu triển khai KĐCL ngày càng tăng cao, đặc biệt ở những nước có nền GD ĐH chưa phát triển Bên cạnh đó, Bộ GD Mỹ công bố danh sách các tổ chức kiểm định mà họ công nhận Các tổ chức được công nhận chịu sự đánh giá theo chu kỳ 4 năm Tương tự, ở châu
Âu, ENQA là cơ quan đảm bảo chất lượng ‗mẹ‘ công nhận các đơn vị ĐBCL và
Trang 23KĐCL thuộc các quốc gia thành viên châu Âu nếu họ đáp ứng các tiêu chí của bộ Tiêu chuẩn và Hướng dẫn ĐBCL trong GD ĐH châu Âu do ENQA ban hành
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Chất lượng GD là vấn đề vừa cấp bách vừa lâu dài của một nền GD, được xã hội rất quan tâm Một vài năm trở lại đây, trong lý luận và thực tiễn GD Việt Nam đã
xuất hiện một khái niệm khá mới mẻ: KĐCL GD Đó là một giải pháp QL CL nhằm
đưa ra những kết quả tin cậy bằng cách kiểm soát các điều kiện, quá trình tổ chức GD thông qua những tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số ở các lĩnh vực cơ bản của hệ thống GD
c ng như của các CSGD KĐCL GD ở Hoa Kỳ và nhiều nước phát triển trên thế giới
đã trở thành hoạt động thường xuyên và thậm chí trở thành điều kiện tồn tại của nhiều CSGD [15]
Ở Việt Nam, KĐCL GD vẫn còn là lĩnh vực chưa được đánh giá và quan tâm đúng mức Có nhiều định nghĩa khác nhau của các chuyên gia về QL CL, song cho dù
đề cập đến khái niệm QL CL từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu c ng thống nhất ở một điểm chung đó là thiết lập chuẩn, đối chiếu thực trạng so với chuẩn và có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn
Để đánh giá chính xác CL, hiệu quả hoạt động của một tổ chức GD, các nhà nghiên cứu đã quan tâm đến việc xây dựng một bộ thước đo gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí chủ yếu để xem xét CL GD gắn với mục tiêu theo những yêu cầu trong những lĩnh vực, điều kiện thực tế khác nhau Tiếp đến, xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đánh giá CL GD cho từng loại hình trường và dùng quy định tiêu chuẩn đó làm công cụ để đánh giá mức độ yêu cầu và điều kiện mà các cơ sở của từng loại hình trường phải đáp ứng để được công nhận đạt chuẩn CL GD Kết quả kiểm định là thước đo CSGD trong chuẩn CL, đạt được những gì, còn thiếu những gì để điều chỉnh, bổ sung các điều kiện
và tổ chức GD nhằm đạt chuẩn CL
Ở Việt Nam, văn bản pháp quy đầu tiên nhắc đến khái niệm KĐCL GD là
Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 4/4/2001 của Chính phủ về Quy hoạch mạng
lưới trường ĐH, cao đẳng giai đoạn 2001-2010 Quyết định đã yêu cầu xây dựng hệ
thống các tiêu chí, tiêu chuẩn đào tạo cho các loại hình trường và các hình thức đào tạo, thực hiện việc KĐCL đào tạo trong toàn bộ hệ thống các trường ĐH và cao đ ng
Trang 24Tại Hội nghị lần thứ VI Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (tháng
7/2002) đã chỉ rõ: một trong những nhiệm vụ trọng tâm hiện nay của GD&ĐT là “Xây
dựng cơ quan KĐCL GD theo mục tiêu GD” Đến Hội nghị BCH Trung ương Đảng
lần thứ IX (tháng 01/2004) tiếp tục nhấn mạnh: “Đẩy mạnh việc xây dựng và triển
khai các hoạt động của hệ thống KĐCL GD” Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày
04/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt ―Quy hoạch mạng lưới trường
ĐH, cao đ ng giai đoạn 2010 - 2010‖ đã yêu cầu ngành GD&ĐT phải ―Xây dựng hệ thống các tiêu chí, tiêu chuẩn đào tạo cho các loại hình trường và hình thức đào tạo, thực hiện việc KĐCL GD trong toàn bộ hệ thống các trường ĐH và cao đ ng‖
Thực hiện chủ trương đó, ngày 01/11/2007, Bộ trưởng Bộ GD & Đào tạo đã ban hành quyết định số 65/2007/QĐ-BGDĐT về việc ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá CL GD trường ĐH với 10 tiêu chuẩn và 61 tiêu chí bao hàm hầu hết các hoạt động của trường ĐH
Hiện nay, hoạt động KĐCL GD đã được kh ng định về mặt pháp lý trong Luật
GD 2012 (Chương 7) Cho đến nay, Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về KĐCL GD nói chung và KĐCL GD ĐH, cao đ ng nói riêng, trong đó có
2 văn bản về quy trình KĐCL GD ĐH, cao đ ng, cụ thể: Quyết định BGDĐT ngày 14/12/2007 và Thông tư 62/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 ban hành quy định về Quy trình và chu kỳ KĐCL GD trường ĐH, cao đ ng và trung cấp chuyên nghiệp Văn bản tiêu chuẩn đánh giá CL GD cao đ ng: Quyết định 65/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá CL trường ĐH
76/2007/QĐ-Ngày 20/09/2010 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số
4138/QĐ-BGDĐT về việc: “Phê duyệt đề án Xây dựng và phát triển hệ thống KĐCL GD đối với
GD ĐH và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2011 - 2020 ” với hai giai đoạn: giai
đoạn một (từ năm 2011 đến 2015) với trọng tâm: “Khẩn trương hoàn thiện hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lý cho công tác KĐCL GD, thành lập Hội đồng quốc gia KĐCL GD và thành lập 3 tổ chức KĐCL GD của Nhà nước để triển khai kiểm định các CSGD” và giai đoạn hai (từ năm 2016 đến 2020) với trọng
tâm: “Củng cố hệ thống các tổ chức KĐCL GD, hình thành các tổ chức KĐCL GD do
Trang 25tổ chức, cá nhân thành lập, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về KĐCL GD
và triển khai kiểm định các trường ĐH, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp” [10]
Ngày 19/05/2017 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Thông tư số BGDĐT ban hành Quy định về KĐCL CSGD ĐH Song song đó, trong hệ thống các trường sư phạm đang đánh giá dựa trên bộ chỉ số phát triển trường sư phạm (Teacher Education Institution Development Index, viết tắt là TEIDI) là công cụ để đo lường sự phát triển năng lực của các trường sư phạm một cách toàn diện, đặc biệt là đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng của các trường sư phạm cho giáo viên và cán bộ QLGD các trường phổ thông Bộ chỉ số TEIDI bao gồm các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số được xây dựng trên cơ sở kế thừa những tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số
12/2017/TT-từ các bộ công cụ như: Bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng GD đại học của Việt Nam,
bộ tiêu chuẩn AUN kiểm định chất lượng GD đại học các nước ASEAN và bộ chỉ số đánh giá các trường sư phạm QUATI, TEIDI của Ấn Độ
Từ những cơ sở phân tích trên, chứng tỏ rằng vấn đề CL, đảm đảm CL, KĐCL
GD trong những năm gần đây đang được các cấp, các ngành và xã hội quan tâm Các nhà QLGD, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu GD đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Có thể kể đến những công trình như: ―KĐCL trong GD ĐH‖ của tác giả Nguyễn Đức Chính (2002), ―Đánh giá CL trong GD‖ của tác giả Nguyễn Đức Chính (2008); ―QL và KĐCL đào tạo nhân lực theo ISO&TQM‖ của tác giả Trần Khánh Đức (2004); ―Hệ thống ĐBCL quá trình dạy học ở trường ĐH‖ của tác giả Nguyễn Quang Giao (2012);… Có rất nhiều bài báo về lĩnh vực này trên các tạp chí khoa học, như: ―Xây dựng hệ thống ĐBCL ở các trường ĐH - Vấn đề bức thiết trong giai đoạn hiện nay‖ của tác giả Nguyễn Quang Giao trên tạp chí GD số 190/2008;
―Một số giải pháp đổi mới QL hoạt động kiểm định và đánh giá CL GD trường trung học phổ thông‖ của Phạm Anh Tuấn trên tạp chí Khoa học GD số 70/2011; ―QL CL tổng thể trong GD ĐH‖ của Trần Thị Thanh Phương trên tạp chí Khoa học GD số 85/2012
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đây có những đóng góp nhất định đối với hoạt động QL CL, ĐBCL, KĐCL GD, đồng thời nêu lên các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao CL và hiệu quả đào tạo Tuy nhiên, để thực hiện thành công và đạt
Trang 26được mục tiêu CL thực sự là việc rất khó khăn đối với các trường Con đường ngắn, mang tính quyết định cho cả trước mắt lẫn lâu dài của nhà trường đó chính là việc tham gia quá trình TĐG và KĐCL GD Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu hoạt động KĐCL
GD của trường ĐH nói chung và của trường ĐH Sư phạm TP.HCM nói riêng, luận văn hệ thống cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng để đề xuất các biện pháp QL hoạt động TĐG trong KĐCL GD nhằm mục đích QL, giám sát và không ngừng đổi mới, nâng cao CL và hiệu quả đào tạo trong giai đoạn hiện nay
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Bất kỳ một hợp tác lao động nào c ng cần tới QL C.Max kh ng định: ―Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều c ng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân
và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng‖ [29]
Tác giả Trần Kiểm định nghĩa: ―QL là tác động có mục đích đến tập thể người
để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong suốt quá trình lao động‖ [29]
Theo quan điểm hoạt động của một tổ chức: ―QL là tác động có mục đích, có
KH của chủ thể QL đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể QL nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến‖ [26]
Sơ đồ 1.1: Khái niệm quản lý [26]
Như vậy, khái niệm QL được các nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa được gắn với loại hình QL hoặc ở lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu cụ thể, song đều thống nhất ở bản chất của hoạt động QL Đó là sự tác động một cách có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục tiêu mong muốn bằng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
QL
Trang 27QLGD là một bộ phận của QL xã hội Nói đến QLGD là nói đến QL mọi hoạt động GD trong xã hội Các nhà nghiên cứu GD và QLGD đã đƣa ra một số quan niệm
về QLGD nhƣ sau:
Trang 28* Đối với cấp vĩ mô
QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có KH, có
hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các CSGD là nhà trường) nhằm thực hiện có CL và hiệu quả mục tiêu phát triển GD, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành GD [29]
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL lên hệ thống GD nhằm tạo ra tính trồi của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn luôn biến động [29]
* Đối với cấp vi mô
QLGD được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có KH, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể QL đến tập thể GV, công nhân viên, tập thể học sinh (HS), cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có CL và hiệu quả mục tiêu GD của nhà trường [29]
QLGD thực chất là những tác động của chủ thể QL vào quá trình GD (được tiến hành bởi tập thể GV và HS, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Thuật ngữ ―QL trường học/ nhà trường‖ có thể xem là đồng nghĩa với QLGD thuộc tầm vi mô Đây là những tác động QL diễn ra trong phạm vi nhà trường [29]
Từ điển GD định nghĩa khái niệm QLGD:
- QLGD là thực hiện việc QL trong lĩnh vực GD Ngày nay lĩnh vực GD mở rộng nhiều hơn so với trước, do chỗ mở rộng đối tượng GD từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn xã hội Tuy nhiên, GD thế hệ trẻ vẫn là bộ phận nòng cốt của lĩnh vực GD cho toàn xã hội
- QLGD chủ yếu là QL, GD thể hệ trẻ, GD nhà trường, GD trong hệ thống GD quốc dân
- QLGD gồm hai mặt lớn là QL nhà nước về GD, QL nhà trường và các CSGD khác QLGD là việc thực hiện và giám sát những chính sách GD đào tạo trên cấp độ quốc gia, vùng, địa phương và cơ sở
Trang 29- QLGD còn là một ngành, một bộ phận khoa học có tính chất liên ngành nhằm vận dụng những khoa học QL sao cho phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của hệ thống
GD
Từ các định nghĩa trên, người nghiên cứu hiểu QLGD là quá trình tác động có ý thức được định hướng của chủ thể QL lên các thành tố của hoạt động GD nhằm thực hiện mục tiêu của GD một cách hiệu quả
Do bản thân thuật ngữ ―kiểm định‖ là một từ Hán Việt phức tạp Do đó, để đảm bảo rằng thuật ngữ được sử dụng đúng ở cả 2 ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh chúng tôi thực hiện các bước sau: 1) tra nghĩa từ ―kiểm định‖ trong các từ điển tiếng Việt, 2) tra dịch thuật từ ―kiểm định‖ sang tiếng Anh trong các từ điển Việt Anh, 3) chọn thuật ngữ tiếng Anh phù hợp và tra nghĩa từ trong các trang tiếng Anh Kết quả thu được như sau:
Định nghĩa thuật ngữ ―kiểm định‖:
- Khi tiến hành tìm kiếm trong các từ điển tiếng Việt, từ điển Hán Nôm thì gần như không tìm được định nghĩa từ ―kiểm định‖ Tuy nhiên theo từ điển trực tuyến Việt – Hán – Nôm, chúng tôi tìm được các thuật ngữ có nghĩa gần gồm: ―kiểm‖ – tra xét;
―kiểm nghiệm‖ – kiểm tra chất lượng bằng phương pháp khoa học Như vậy nếu tìm trong từ điển Hán – Nôm thì gần như không thể tìm được nghĩa chính xác của từ
―kiểm định‖
- Chúng tôi mở rộng khu vực tìm kiếm ra các trang điện tử của các tổ chức về KĐCL, KĐCL GD thì thu được kết quả như sau: tại các trang chủ và văn bản hướng
Trang 30dẫn của Trung tâm Kiểm định chất lượng GD không tìm được nghĩa chính xác định nghĩa của thuật ngữ ―kiểm định‖ Tuy nhiên, theo Trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng (Quatest1) thì khái niệm kiểm định được xác định ―Kiểm định là việc so sánh, xác định các thông số của thiết bị với các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể có đạt yêu cầu hay không? Kết quả của việc kiểm định là do cơ quan nhà nước xác nhận đạt (hay không đạt)‖
Như vậy, nếu xác định định nghĩa ―kiểm định‖ trong tiếng Việt thì có thể chọn
sử dụng định nghĩa của Quatest1 Nhưng để hiểu rộng hơn về kiểm định với các trường ĐH cần phải bao hàm cả các chuẩn mực vô hình như: văn hoá, con người,…
Khi tra dịch thuật từ ―kiểm định‖ từ tiếng Việt sang tiếng Anh, chúng tôi tìm được các từ gồm ―assurance‖, ―test‖, ―audit‖ và ―verify‖ Sử dụng từ điển Longman, lần lượt tìm kiếm định nghĩa các từ trên riêng lẻ, đồng thời tìm các ngữ nghĩa có liên quan trong GD thì nhận thấy, từ ―assurance‖ và ―audit‖ là 2 từ phù hợp với nội hàm kiểm định Tra định nghĩa 2 từ trên, kết quả như sau:
- Assurance: technical insurance, especially to provide money when someone
dies (bảo hiểm kỹ thuật, đặc biệt là cung cấp tiền khi một người nào đó tử vong)
- Audit: formal a detailed examination of something in order to check if it is good
enough (một kỳ kiểm tra chi tiết một cách chính thức để đánh giá việc gì đó có đủ tốt hay không)
Chúng tôi nhận thấy, từ ―assurance‖ khi đứng độc lập thường được hiểu với nghĩa nghiên về việc bảo hiểm, đảm bảo chất lượng cuộc sống y tế; từ ―audit‖ về ngữ nghĩa thì sát hơn với thuật ngữ kiểm định mà Quatest1 đã định nghĩa Theo định nghĩa của Longman sau khi dịch sang tiếng Việt thì ―audit‖ có nghĩa là ―một kỳ kiểm tra chi tiết một cách chính thức để đánh giá việc gì đó có đủ tốt hay không‖ Tuy nhiên, khi tra rộng hơn ở các trang chuyên về ĐBCL GD quốc tế thì từ ―assurance‖ được dùng phổ biến hơn, đặc biệt là thường đi kèm với ―quality of assurance‖ mà nội hàm này, chúng tôi sẽ định nghĩa chi tiết hơn ở mục 1.2.7
Tổng hợp các phân tích nội hàm như trên, chúng tôi một lần nữa kh ng định rằng để đi đến một định nghĩa bao quát nhất cho thuật ngữ ―kiểm định‖ nhầm sử dụng trong GD là hết sức cần thiết Việc làm này cần sự tham gia đầy đủ hơn nữa của các
Trang 31đơn vị chuyên ngành Để sử dụng cho đề tài này, chúng tôi định nghĩa thuật ngữ ―kiểm định là việc kiểm tra, xác định thông số hữu hình và vô hình của tổ chức; và so sánh với các tiêu chuẩn do các hiệp hội, cơ quan nhà nước xác lập ra‖
1.2.4 Chất lượng
Khái niệm chất lượng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau tùy theo cách tiếp cận Do đó, khó có thể có một khái niệm chính xác về chất lượng Nhưng, chất lượng có thể được hiểu theo những cách sau:
- Chất lượng là sự xuất sắc bẩm sinh, tự nó (là cái tốt nhất) Điều này chỉ có thể hiểu được, cảm nhận được nếu ta đem so sánh chúng với những vật có cùng đặc tính với sự vật đang được xem xét Đây là cách tiếp cận tiên nghiệm về chất lượng
- Chất lượng được xem xét trên cơ sở những thuộc tính đo được Điều đó có nghĩa là chất lượng có thể được đo lường khách quan và chính xác Một sự vật có thuộc tính nào đó ở mức độ ―cao hơn‖ c ng có nghĩa là nó ―tốt hơn‖ và do đó nó c ng
có thể đắt hơn Cách tiếp cận này là cách tiếp cận dựa trên sản phẩm khi xem xét chất lượng
- Chất lượng được xem như là sự đáp ứng nhu cầu Nếu các sản phẩm và dịch vụ được cung cấp với đầy đủ những thông số kỹ thuật đã định, thì mọi sự sai lệch đều làm giảm chất lượng của sản phẩm, dịch vụ đó Cách tiếp cận này dự trên sản xuất về chất lượng
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích (mục tiêu) nếu ―nó đáp ứng nhu cầu của khách hàng‖ Trong trường hợp này chất lượng chỉ được xem xét một cách đơn giản dưới con mắt của khách hàng, tức là những người sử dụng chúng [18]
Như vậy, trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp dịch vụ thì chất lượng được xem là giá trị của tổ chức, là thước đo năng lực sản suất tạo ra sản phẩm và chất lượng luôn là mục tiêu để khách hàng tìm kiếm Trong xã hội hiện đại, chất lượng của sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được xác lập dựa trên những tiêu chí, chỉ số cụ thể Do đó, người ta
hoàn toàn có thể nhận biết, so sánh chất lượng của những vật có cùng đặc điểm
1.2.5 Chất lượng giáo dục
Bản thân chất lượng đã khó định nghĩa thì việc nói rõ chất lượng giáo dục (CLGD) lại càng khó khăn hơn Bởi vì, CLGD bản thân nó đã chứa đựng nhiều yếu tố
Trang 32vô hình và không phải lúc nào c ng nhìn thấy, đo đếm được CLGD nằm ngay trong các thành tố của GD và còn lưu lại trong mỗi con người đã được học tập, GD trong môi trường ấy
Ở cấp độ hệ thống (hệ thống GD quốc dân), CLGD được hiểu là chất lượng của
cả hệ thống GD ấy Một hệ thống GD thường phức tạp và bao gồm nhiều thành tố cấu tạo nên hệ thống Do vậy, khi nói đến CLGD của hệ thống chúng ta ngầm hiểu rằng CLGD của cả hệ thống là tổng hợp chất lượng của tất cả những gì tạo nên hệ thống Điều này nhắc nhở chúng ta phải phân biệt được giữa CLGD và QL chất lượng GD CLGD là một phạm trù triết học xác định sự vật là nó chứ không phải là cái khác, còn
QL CLGD là hành động chủ quan, có mục đích rõ ràng (hoạch định, đánh giá, thẩm định, kiểm định, giám sát, cải tiến, ) [18]
Ở cấp độ các cơ sở GD (trường học, trung tâm đào tạo), xét về chức năng và tổ chức thì c ng được coi là một hệ thống GD thu nhỏ Trong cơ sở GD có đầy đủ những thành phần của hệ thống GD, nhưng chúng có tính cụ thể và năng động hơn nhiều Do vậy, CLGD ở đây c ng chính là chất lượng của toàn bộ cơ sở GD Tuy nhiên đối với các cơ sở GD thì CLGD đáng quan tâm nhất là quá trình GD của cơ sở GD ấy
Trong chương trình hành động Dakar (Senegal - 2000), UNESCO đã đề nghị cách hiểu CLGD ở trường học hay chất lượng trường học như là đơn vị tổ chức GD thông qua 10 tham số sau:
1 Người học khỏe mạnh, được nuôi dưỡng tốt, được khuyến khích thường xuyên
để có động cơ học tập chủ động
2 Giáo viên thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức
3 Phương pháp và kỹ thuật dạy học - học tập tích cực
4 Chương trình GD thích hợp với người học và người dạy
5 Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng học tập, giảng dạy, học liệu và công nghệ GD thích hợp để tiếp cận và thân thiện với người sử dụng
6 Môi trường học tập đảm bảo vệ sinh, an toàn, lành mạnh
7 Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường, quá trình GD và kết quả GD
8 QL GD có tính tham gia và dân chủ
9 Tôn trọng và thu hút được cộng đồng c ng như nền văn hóa địa phương trong
Trang 33bộ phận cấu thành hệ thống GD quốc dân [17] [18]
Theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/05/2017 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT: ―Chất lượng của cơ sở GD là sự đáp ứng mục tiêu do cơ sở GD đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu GD của Luật GD ĐH, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước‖ [14]
Như vậy, để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dung bộ tiêu chí
có sẵn, hoặc dùng các chuẩn đã quy định; hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu đã định sẵn từ đầu của trường Trên cơ sở đánh giá, các trường ĐH sẽ được xếp loại theo 3 cấp độ: (1) Chất lượng tốt; (2) Chất lượng đạt yêu cầu; (3) Chất lượng
không đạt yêu cầu
1.2.6 Kiểm định chất lượng GD
Theo định nghĩa của tổ chức Bộ trưởng GD các nước Đông Nam Á (SEAMEO): KĐCL GD được xác định là ―một quá trình đánh giá từ bên ngoài nhằm đứa ra quyết định công nhận một trường ĐH hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực quy định‖ Hội đồng KĐCL ĐH của Hoa Kỳ (CHEA) cho rằng: kiểm định là một quá trình xem xét CL từ bên ngoài, được GD ĐH sử dụng nhằm đảm bảo và cải tiến CL [21]
Bộ GD&ĐT quy định: ―KĐCL GD trường là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn đánh giá CL GD do Bộ GD&ĐT quy định đối với trường ở từng trình độ đào tạo‖ [4]
Theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/05/2017 của Bộ trưởng Bộ
Trang 34GD&ĐT: KĐCL GD là hoạt động đánh giá và công nhận mức độ CSGD đạt tiêu chuẩn CL GD do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành‖ [14]
Việc KĐCL GD của một CSGD có nội dung quan trọng là đánh giá hệ thống
QL CL của CSGD đó và chứng minh được rằng hệ thống QL CL là có hiệu quả, đảm bảo các sản phẩm được QL trong hệ thống đúng với những đăng ký CL đã được cơ sở cam kết thực hiện trước khách hàng
KĐCL GD gồm có KĐCL CSGD (gọi tắt là kiểm định trường) và KĐCL chương trình GD (gọi tắt là kiểm định chương trình) Hai loại này có một số khác biệt, song giữa chúng c ng có những mối liên quan mật thiết với nhau, sự khác nhau giữa hai loại là ở trọng tâm chú ý của công việc đánh giá
Kiểm định trường được áp dụng đối với tất cả các trường của các cấp học và
trình độ đào tạo nhằm mục đích bảo đảm trước cộng đồng nghề nghiệp và khách hang rằng trường này thoả mãn các tiêu chí:
- Trường đã có mục tiêu đào tạo rõ ràng;
- Trường đã chuẩn bị tốt các nguồn lực cần thiết để thực hiện nhiệm vụ đào tạo của mình;
- Trường đã thực hiện tốt mục tiêu đào tạo của mình;
- Trường có kế hoạch phát triển các nguồn lực để tiếp tục thực hiện tốt các sự mệnh của mình trong tương lai [18]
Như vậy, khi kiểm định trường, trọng tâm chú ý là các điều kiện ĐBCL đào tạo
và hệ thống QL CL của nhà trường Điều hiển nhiên là với các điều kiện ĐBCL và một hệ thống QL CL tốt tất yếu sẽ cho ra những sản phẩm có CL Và như vậy, các chương trình đào tạo chỉ được xem như là một bộ phận trong việc KĐCL của nhà trường
Kiểm định chương trình được áp dụng đối với chương trình các trình độ đào
tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đ ng, ĐH, thạc sĩ và tiến sĩ Kiểm định chương trình chủ yếu nhằm kiểm định các chi tiết về đào tạo và nghiên cứu của chương trình đào tạo chuyên ngành có đạt chuẩn tối thiểu không, phù hợp với các nhu cầu của xã hội hay không,… Tất nhiên, các điều kiện chung hệ thống QL CL chung của nhà trường
c ng được đề cập đến như là bối cảnh để thực hiện quá trình GD Cho nên, không thể
Trang 35có một chương trình GD của một bậc học, cấp học, lớp học nào đó có CL tốt khi bối cảnh triển khai có nhiều khiếm khuyết [18]
Tóm lại, KĐCL GD không chỉ đánh giá xem một cơ sở đào tạo có đáp ứng các chuẩn mực hay không mà còn nâng cao tính trách nhiệm của nhà trường về CL đào tạo đồng thời mang lại động lực cải tiến và hỗ trợ nhà trường trong các hoạt động nâng cao CL đào tạo
1.2.7 TĐG trong kiểm định CL GD
Theo Thông tư 12/2017/TT-BGDĐT: TĐG (TĐG) là quá trình CSGD tự xem xét, nghiên cứu dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá CL GD do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành để báo cáo về thực trạng CL GD, hiệu quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, nhân lực, CSVC và các vấn đề liên quan khác để CSGD tiến hành điều chỉnh các nguồn lực và quá trình thực hiện nhằm đạt tiêu chuẩn CL GD
TĐG đem đến cho chúng ta một cái nhìn sâu hơn về những điểm mạnh, những tồn tại và c ng là một sự khởi đầu tốt cho việc xây dựng các chính sách nhằm thúc đẩy
sự phát triển, là điểm khởi đầu cho việc xây dựng một hệ thống ĐBCL bên trong [17]
TĐG là hoạt động tự xem xét, tự kiểm tra, đánh giá của các trường căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá CL GD do Bộ GD&ĐT ban hành để chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, xây dựng kế hoạch cải tiến CL của nhà trường và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn CL GD
Hoạt động TĐG là một khâu quan trọng, là quá trình nhà trường căn cứ vào các tiêu chuẩn KĐCL để tiến hành tự xem xét, phân tích và đánh giá tình trạng CL và hiệu quả các hoạt động của mình từ đó có các biện pháp để điều chỉnh các nguồn lực và lập
kế hoạch nâng cao CL nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Ngoài ra, TĐG còn thể hiện tính tự chủ và tính chịu trách nhiệm của nhà trường trong toàn bộ các hoạt động nghiên cứu và dịch vụ xã hội đúng với chức năng nhiệm vụ được giao
1.3 Các vấn đề cơ bản về KĐCL GD ở trường ĐH
1.3.1 Mục đích KĐCL GD
Như chúng ta đã biết, GD đại học của thế giới đang dần chuyển từ nền GD đại học theo định hướng của Nhà nước hay theo định hướng học thuật của nhà trường sang nền GD theo định hướng của thị trường Do vậy, KĐCL trở thành một công việc
Trang 36biểu hiện của nhiều nhà trường, nhiều nước trên thế giới để chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học
KĐCL là một quá trình mở và liên tục Đây là một quá trình đánh giá ngoài để đưa ra một quyết định công nhận một trường đại học hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực quy định KĐCL: với bản chất xem xét, đánh giá
và công nhận kết quả quá trình này đã và đang được sử dụng để công nhận hay cho phép mở mới một trường hay một ngành đào tạo KĐCL c ng được nhiều nước trên thế giới sử dụng để định kỳ xem xét, đánh giá và công nhận các trường đại học, cao
đ ng, hay các chương trình đào tạo đang duy trì các chuẩn mực quy định Mục đích chính của KĐCL là nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng GD, xác nhận mức độ cơ sở GD đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ
để cơ sở GD giải trình với cơ quan QL nhà nước có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lượng GD, làm cơ sở cho người học lựa chọn cơ sở GD và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực Như vậy, mục đích của KĐCL là rất rõ ràng, các nhà trường muốn tồn tại và phát triển bền vững đều phải thông qua KĐCL [4]
Cơ chế tự QL chất lượng này được áp dụng cho toàn bộ hệ thống GD quốc dân Đây là cơ chế toàn diện, nhưng là cơ chế tự nguyện Vì thế, không một trường đại học hay cao đ ng nào buộc phải được kiểm định Tuy nhiên, một trường không kiểm định thường phải chịu hậu quả to lớn về thị trường sinh viên, về bằng cấp (sinh viên ở các trường này không được học tiếp sau đại học ở các trường đã kiểm định, không được
dự thi liên thông, không được cấp chứng chỉ hành nghề, )
1.3.2 Quy trình KĐCL GD
Hiện nay, căn cứ hướng dẫn để tổ chức KĐCL GD cho các cơ sở GD ĐH tại Việt Nam theo thông tư 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/05/2017 Đây là hướng dẫn tiêu chuẩn về phương pháp, quy trình tổ chức hoạt động KĐCL GD Các cơ sở GD ĐH khi tiến hành xây dựng kế hoạch sẽ phải căn cứ theo 4 bước sau: 1) Tự đánh giá; 2) Đánh giá ngoài; 3) Thẩm định kết quả đánh giá; 4) Công nhận đạt tiêu chuẩn CL GD
Trang 37Sơ đồ 1.2 Quy trình kiểm định chất lượng GD
- Tự đánh giá: (i) lập kế hoạch TĐG; (ii) thu thập thông tin và minh chứng Xử
lý, phân tích thông tin và minh chứng thu được; (iii) viết báo cáo TĐG; (iv) công bố báo cáo TĐG trong nội bộ cơ sở GD; (v) triển khai các hoạt động sau khi hoàn thành báo cáo TĐG
- Đánh giá ngoài: (i) nghiên cứu báo cáo TĐG; thu thập xử lý các thông tin liên quan; (ii) thực hiện khảo sát sơ bộ và khảo sát chính thức; (iii) dự thảo báo cáo đánh giá ngoài, gửi cho Trường (15 ngày); (iv) Hoàn thiện báo cáo đánh giá ngoài, gửi Tổ chức KĐCL GD; Giữ bí mật thông tin trong quá trình làm việc
- Thẩm định kết quả đánh giá: quy trình như sau: (i) đại diện Lãnh đạo nhà trường báo cáo tóm tắt về nhà trường, (ii) đại diện Đoàn chuyên gia đánh giá ngoài báo cáo tóm tắt quá trình và tổng hợp kết quả đánh giá ngoài, (iii) Tiểu ban chuyên môn báo cáo kết quả thẩm định hồ sơ tự đánh giá của nhà trường, kết quả thẩm định quy trình, phương pháp, nội dung báo cáo đánh giá ngoài của Đoàn chuyên gia đánh giá ngoài và các báo cáo giám sát của Trung tâm; (iv) Hội đồng KĐCLGD tập trung vào những vấn đề cần thảo luận để đưa ra kiến nghị chung nhất về việc đề nghị nhà trường khắc phục những tồn tại, tiếp tục cải tiến nâng cao chất lượng GD;
- Công nhận đạt tiêu chuẩn CL GD: (i) công bố công khai giấy chứng nhận KĐCL GD, (ii) báo cáo Bộ GDĐT và cơ quan chủ quản kết quả KĐCLGD, kế hoạch cải tiến, nâng cao CLGD sau khi được cấp GCN, (iii) thực hiện các kiến nghị của HĐ, (iv) giữ gìn và phát huy kết quả kiểm định
Cơ sở GD tự
đánh giá
Tổ chức KĐCL
GD tiến hành đánh giá ngoài
Tổ chức KĐCL
GD đánh giá ngoài
Tổ chức KĐCL
GD thẩm định, công nhận/ không công nhận
Trang 381.3.3 Tiêu chuẩn đánh giá CL GD
Đánh giá là quá trình thu thập thông tin, chứng cứ về đối tượng cần đánh giá và đưa ra những phán xét, nhận định về mức độ đạt được theo các thang đo hoặc các tiêu chí đã được đưa ra trong các tiêu chuẩn Đánh giá có thể là đánh giá định lượng dựa vào các con số hoặc định tính theo các ý kiến và giá trị
Theo Trần Bá Hoành ―Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán
đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp
để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc‖ [17]
Đánh giá chất lượng GD là công việc xem xét hoặc kiểm tra có hệ thống, thường được tổ chức bên ngoài, để xem những hoạt động chất lượng có phù hợp với những kế hoạch chiến lược hay không và những ―sản phẩm‖ (quá trình GD) có được tiến hành hiệu quả không, c ng như có phù hợp với những mục tiêu đặt ra hay không
Tiêu chuẩn đánh giá CLGD là mức độ yêu cầu và điều kiện mà trường cần đáp ứng để được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng GD
Tiêu chuẩn đánh giá CLGD áp dụng đối với từng đối tượng KĐCL GD Mỗi tiêu chuẩn bao gồm một số tiêu chí Tiêu chí đánh giá CLGD là mức độ yêu cầu và điều kiện cần đạt được ở một khía cạnh cụ thể của mỗi tiêu chuẩn Tiêu chí được hiểu như những điều kiện ràng buộc để một sản phẩm có chất lượng
Tiêu chuẩn đánh giá CLGD được ban hành làm công cụ để trường ĐH TĐG nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo và để giải trình với các cơ quan chức năng, xã hội về thực trạng chất lượng đào tạo; Để cơ quan chức năng đánh giá và công nhận trường ĐH đạt tiêu chuẩn CLGD; Để người học có cơ sở lựa chọn trường và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực
1.3.4 Nguyên tắc và chu kỳ KĐCL GD
Nguyên tắc và chu kỳ KĐCL GD được quy định trong thông tư số BGDĐT ngày 19/05/2017 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT-BGDĐT, ban hành quy định về quy trình và chu kỳ KĐCL GD trường đại học, cao đ ng và trung cấp chuyên nghiệp
12/2017/TT-Bộ GD-ĐT quy định: việc KĐCL GD đối với các cơ sở GD là bắt buộc và định kỳ Đồng thời phải đảm bảo các nguyên tắc: Độc lập, khách quan, đúng pháp luật; trung
Trang 39thực, công khai, minh bạch và bình đ ng C ng theo yêu cầu tại thông tư, việc KĐCL
GD phải được thực hiện theo chu kỳ 5 năm/lần [8]
1.3.5 Điều kiện đăng ký KĐCL GD
Theo quy định tại thông tư 12/2017/TT cơ sở GD được phép đăng ký đánh giá ngoài với một tổ chức KĐCL GD khi có đủ các điều kiện sau: 1) Đã hoàn thành báo cáo TĐG 2) Đã công bố báo cáo TĐG trong nội bộ cơ sở GD ít nhất 30 ngày trước khi đăng ký đánh giá ngoài với một tổ chức KĐCL GD Sở dĩ cần có 2 điều kiện này
để đảm bảo rằng các cơ sở GD đã nắm rõ quy trình, phương pháp, tiêu chuẩn kiểm định Họ còn phải thực hiện TĐG một cách hoàn chỉnh trong đó bao gồm việc thu thập minh chứng, đối chiếu xem mức độ đạt được của tiêu chuẩn của nhà trường trong giai đoạn cụ thể Ngoài ra các nội dung TĐG cần công bố rỗng rãi trong thời gian nhất định để nhận phản hồi từ các bên có liên quan, và đảm bảo tính công khai, minh bạch của hoạt động TĐG Đó là các điều kiện cần và đủ để chuẩn bị cho việc đánh giá ngoài [8]
Trong quá trình TĐG, căn cứ từng tiêu chuẩn và tiêu chí, trường tập trung thực hiện những việc sau:
- Mô tả, làm rõ thực trạng của trường
- Phân tích, giải thích, so sánh và đưa ra những nhận định; chỉ ra những điểm mạnh, những tồn tại và những biện pháp khắc phục
- Lên kế hoạch hành động để cải tiến, nâng cao CL GD
Mục đích chính của hoạt động TĐG là nhằm cải tiến, nâng cao CL đào tạo và
để đăng ký KĐCL GD
TĐG là một quá trình liên tục, đòi hỏi nhiều công sức, thời gian, phải có sự
Trang 40tham gia của nhiều đơn vị và cá nhân trong toàn trường Hoạt động TĐG đòi hỏi tính khách quan, trung thực và công khai Các giải thích, nhận định, kết luận đưa ra trong quá trình TĐG phải dựa trên các minh chứng cụ thể, rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy, bao quát đầy đủ các tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn đánh giá CL GD
TĐG là một khâu quan trọng trong việc lập kế hoạch nâng cao CL đào tạo của trường TĐG giúp trường rà soát, tự xem xét thực trạng của trường, từ đó điều chỉnh mục tiêu cho giai đoạn tiếp theo, lập kế hoạch và hành động theo kế hoạch Sau đó lại tiếp tục rà soát, xem xét lại thực trạng và điều chỉnh mục tiêu theo hướng cao hơn
Chủ tịch Hội đồng TĐG có nhiệm vụ: Điều hành Hội đồng; Thành lập Ban thư
ký giúp việc cho Hội đồng; Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên của Hội đồng; Triệu tập và điều hành các phiên họp của Hội đồng; Phê duyệt kế hoạch TĐG; Chỉ đạo quá trình thu thập thông tin, minh chứng, xử lý, phân tích và viết báo cáo TĐG; Phê duyệt đề cương TĐG; Giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai TĐG và các nhiệm vụ khác
Các uỷ viên Hội đồng TĐG có nhiệm vụ thực hiện và chịu trách nhiệm về những công việc do Chủ tịch Hội đồng phân công
Giúp việc cho Hội đồng TĐG là Ban Thư ký do Trưởng đơn vị (bộ phận) chuyên trách về ĐBCL làm trưởng ban Thành viên Ban Thư ký bao gồm các CB của đơn vị (bộ phận) chuyên trách về ĐBCL và các CB khác do Hội đồng tuyển chọn
Các thành viên của Ban Thư ký được tổ chức thành các nhóm công tác chuyên