Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Võ Thị Trúc Quyên
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH
LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Mã số : 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG BÁ VŨ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3Tác giả
Võ Thị Trúc Quyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành với sự cố gắng, nỗ lực hết mình của bản thân tác giả cùng sự giúp đỡ tận tình của nhiều thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và các em học sinh
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời tri ân đến:
- TS Dương Bá Vũ: thầy đã dành nhiều thời gian tận tình hướng dẫn, góp ý, sửa chữa, bổ sung những ý kiến và kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Các thầy cô khoa Hóa học cùng phòng Sau đại học trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên hoàn thành khóa học
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu cùng tập thể giáo viên, học sinh các trường trung học phổ thông Gò Công, trường trung học phổ thông Gò Công Đông, trường trung học phổ thông Tân Phước, trường Văn Hóa II – Bộ Công
An và trường trung học phổ thông Vĩnh Bình (tỉnh Tiền Giang) đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng, xin trân trọng gửi lời cảm tạ đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp…những người đã luôn quan tâm, giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt chặng đường vừa qua
TP Hồ Chí Minh, năm 2017
Tác giả
Trang 5Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 4
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Các nghiên cứu về SĐTD 4
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về NL tự học 6
1.2 Định hướng đổi mới giáo dục THPT theo hướng tiếp cận NL 7
1.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông từ định hướng tư duy sang định hướng NL 7
1.2.2 Đổi mới PPDH nhằm chuyển định hướng nội dung sang định hướng NL 7
1.2.3 Khái niệm NL 9
1.3 NL tự học 9
1.3.1 Khái niệm NL tự học 9
1.3.2 Vai trò của NL tự học 12
1.3.3 Cấu trúc của NL tự học 14
1.4 Sơ đồ tư duy 17
1.4.1 Khái niệm SĐTD 17
1.4.2 Vai trò của SĐTD trong việc phát triển NL tự học của HS 18
1.4.3 Qui tắc thiết kế SĐTD 19
1.4.4 Một số cách sử dụng SĐTD để hướng dẫn HS tự học 20
1.5 Thực trạng sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học của HS ở một số trường THPT 23
Trang 61.5.1 Mục đích điều tra 23
1.5.2 Đối tượng điều tra 23
1.5.3 Nội dung điều tra 24
1.5.4 Kết quả điều tra 24
Tiểu kết chương 1 33
Chương 2 SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH LỚP 10 THPT 34
2.1 Tổng quan về chương trình Hóa học lớp 10 THPT 34
2.1.1 Mục tiêu dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh 34
2.1.2 Cấu trúc chương trình chương Oxi – Lưu huỳnh 36
2.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học cho HS trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT 37
2.2.1 Mối quan hệ giữa SĐTD với NL tự học 37
2.2.2 Điều kiện dạy và học ở một số trường THPT 39
2.2.3 Phương pháp dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh 40
2.3 Một số biện pháp góp phần phát triển NL tự học cho HS thông qua việc sử dụng SĐTD 41
2.3.1 Hướng dẫn HS tự làm việc với SGK Hóa học 41
2.3.2 Hướng dẫn HS kết hợp nghe giảng với tự ghi chép 42
2.3.3 Hướng dẫn HS làm việc với SGK ở nhà trước giờ học 44
2.3.4 Hướng dẫn HS tự thiết lập SĐTD trong hoạt động tự học 45
2.4 Thiết kế SĐTD nội dung kiến thức các bài dạy chương Oxi – Lưu huỳnh, lớp 10 THPT 46
2.5 Đánh giá sự phát triển NL tự học của HS thông qua việc sử dụng SĐTD 52
2.6 Một số giáo án thực nghiệm 54
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 80
3.3 Đối tượng thực nghiệm 80
Trang 73.5.2 Thu thập và xử lí kết quả thực nghiệm 84
3.5.3 Phân tích kết quả định lượng 92
3.5.4 Phân tích kết quả định tính 92
3.5.5 Các bài học rút ra từ thực nghiệm 95
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Phụ lục 1 BÀI KIỂM TRA SỐ 1 P1 Phụ lục 2 BÀI KIỂM TRA SỐ 2 P3 Phụ lục 3 BÀI KIỂM TRA SỐ 3 P5 Phụ lục 4 BÀI KIỂM TRA SỐ 4 P7 Phụ lục 5 PHIẾU KHẢO SÁT LẤY Ý KIẾN GIÁO VIÊN P10 Phụ lục 6 PHIẾU KHẢO SÁT LẤY Ý KIẾN HỌC SINH P14 Phụ lục 7 MỘT SỐ SĐTD DO HỌC SINH THIẾT KẾ THEO BÀI HỌC
CHƯƠNG OXI – LƯU HUỲNH P18
Trang 8Phòng thí nghiệm PTN Phương pháp dạy học PPDH Phương trình hóa học PTHH Sách giáo khoa SGK
Trang 9Thực nghiệm TN Thực nghiệm sư phạm TNSP
Trung học cơ sở THCS Trung học phổ thông THPT
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Số lượng phiếu tham khảo ý kiến GV và HS 24
Bảng 1.2 Thời gian HS dành cho việc tự học môn Hóa học 25
Bảng 1.3 Ý kiến của HS về lí do phải tự học 25
Bảng 1.4 Các hoạt động tự học của HS ở nhà 26
Bảng 1.5 Hoạt động của HS khi GV yêu cầu chuẩn bị bài trên lớp 26
Bảng 1.6 Những khó khăn của HS trong quá trình tự học 27
Bảng 1.7 Thực trạng sử dụng SĐTD trong học tập của HS lớp 10 THPT hiện nay 28
Bảng 1.8 Bảng khảo sát tình hình GV hướng dẫn HS các phương pháp tự học môn Hóa học 28
Bảng 1.9 Mức độ cần thiết của việc phát triển NL tự học cho HS THPT 28
Bảng 1.10 Khả năng tự học của từng đối tượng HS 29
Bảng 1.11 Tác dụng của việc rèn luyện NL tự học cho HS THPT 29
Bảng 1.12 Nguyên nhân NL tự học của HS thấp 30
Bảng 1.13 Các NL được hình thành khi sử dụng SĐTD trong học tập của HS lớp 10 THPT 30
Bảng 1.14 Mức độ cần thiết của việc sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học cho HS lớp 10 THPT 31
Bảng 3.1 Các lớp TN và ĐC 80
Bảng 3.2 Bảng điểm kiểm tra bài kiểm tra 15 phút lần 1 84
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra
15 phút lần 1 84
Bảng 3.4 Phân loại kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 1 85
Bảng 3.5 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 15 phút lần 1 85
Bảng 3.6 Bảng điểm kiểm tra bài kiểm tra 15 phút lần 2 86
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra
15 phút lần 2 86
Bảng 3.8 Phân loại kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 2 87
Bảng 3.9 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 15 phút lần 2 87
Trang 11Bảng 3.15 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra
15 phút lần 4 90 Bảng 3.16 Phân loại kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 4 91 Bảng 3.17 Tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra 15 phút lần 4 91 Bảng 3.18 Đánh giá hiệu quả sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học của HS 93
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Khung SĐTD câm TCHH axit sunfuric 23
Hình 2.1 SĐTD bài 29: Oxi – Ozon 47
Hình 2.2 SĐTD bài 30: Lưu huỳnh Error! Bookmark not defined Hình 2.3 SĐTD bài 32: Hiđrosunfua – Lưu huỳnh đioxit – Lưu huỳnh trioxit 49
Hình 2.4 SĐTD bài 33: Axit sunfuric – Muối sunfat 50
Hình 2.5 SĐTD bài 34: Luyện tập: Oxi – Lưu huỳnh 51
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 85
Hình 3.2 Biểu đồ so sánh kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 1 85
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút lần 2 87
Hình 3.4 Biểu đồ so sánh kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 2 87
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút lần 3 89
Hình 3.6 Biểu đồ so sánh kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 3 89
Hình 3.7 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra 15 phút lần 4 91
Hình 3.8 Biểu đồ so sánh kết quả học tập các lớp TN – ĐC bài kiểm tra 15 phút lần 4 91
Trang 13học Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau mỗi sinh viên mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoa học về đời sống xã hội Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình [2], [3]
Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: “Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân” [31]
Trên tinh thần ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt
có vị trí cực kì quan trọng trong chiến lược giáo dục và đào tạo của đất nước Hướng đổi mới để phát triển toàn diện trong giáo dục con người là phát triển các NL của HS Một trong các NL cần thiết trong học tập và sáng tạo của HS là NL tự học Từ phát triển NL tự học của HS, HS có thể tự phát triển các NL khác để phù hợp với bản thân
và sở thích của mình Lí luận và thực tiễn dạy học đều cho thấy, tự học có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình học tập Học trên lớp chỉ có thời gian nhất định còn tự học mới là quá trình lâu dài, học suốt đời Vì vậy, bồi dưỡng NL tự học cho HS đặc biệt là
ở lớp 10 – lớp đầu cấp THPT là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết của người GV Hóa học Và SĐTD là một trong những công cụ đắc lực giúp HS ghi nhớ, ôn tập một cách logic có thể hình thành NL tự học cho HS Việc rèn luyện cho HS sử dụng SĐTD
là một trong những biện pháp hữu hiệu giúp HS tăng cường khả năng tự học để vận dụng kiến thức bổ ích đã học vào giải quyết vấn đề thực tiễn Các kiến thức môn Hóa học trong chương trình phổ thông là một chuỗi các kiến thức logic, cần có một công cụ giúp cho HS ghi nhớ các kiến thức một cách khoa học, đó là lí do đề tài nghiên cứu
Trang 14“Sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT” ra đời Hi vọng đề tài sẽ là một kinh
nghiệm để phát triển các nội dung còn lại trong chương trình giáo dục trung học của
bộ môn Hóa học
2 Mục đích nghiên cứu
Sử dụng SĐTD phát để triển NL tự học cho HS góp phần nâng cao chất lượng dạy và học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT
3 Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng SĐTD trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT để phát triển NL tự học cho HS
- Nghiên cứu quan hệ giữa SĐTD và NL tự học để làm cơ sở cho việc thiết kế bài học theo hướng dạy học đã đề ra
- Nghiên cứu sách giáo khoa lớp 10 THPT – Chương VI: Oxi – Lưu huỳnh
- Sử dụng SĐTD trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT để phát triển NL tự học cho HS trong một số bài học cụ thể
- Thiết kế công cụ đánh giá NL tự học của HS
- Thực nghiệm sư phạm đánh giá sự phát triển NL tự học của HS qua việc sử dụng SĐTD trong dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT
- Xử lí thống kê các số liệu, rút ra nhận xét và kết luận
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT
- Đối tượng nghiên cứu: việc sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học cho HS
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: chương Oxi – Lưu huỳnh, chương trình Hóa học lớp 10 THPT
- Địa bàn nghiên cứu: trường THPT Gò Công, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang
- Thời gian nghiên cứu: học kì 2 năm học 2016 – 2017
Trang 15đến đề tài; tổng hợp và hệ thống hóa vấn đề
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7.3 Các phương pháp toán học
Phương pháp thống kê và xử lí số liệu
8 Điểm mới của đề tài nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề về NL tự học, SĐTD
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học của HS qua
dạy học chương Oxi – Lưu huỳnh lớp 10 THPT
- Thiết kế công cụ đánh giá NL tự học của HS
Trang 16Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
SV áp dụng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng rất quan tâm đến việc sử dụng SĐTD trong dạy học qua việc ban hành kế hoạch tập huấn cho cán bộ quản lí giáo dục và GV áp
dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học mới (64/KH – BGDĐT) trong đó có kĩ
thuật sử dụng SĐTD
Riêng về bộ môn Hóa học, bài báo của tác giả Vũ Thị Thu Hoài, đăng trên tạp chí Tạp chí Giáo dục số 340 (kì II tháng 8) tháng 8/2014 về vấn đề “Sử dụng SĐTD hướng dẫn HS ôn tập tổng kết” hay bài báo của Thạc sĩ Phạm Hùng Thiện, phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Hoa Lư – Ninh Bình đăng trên tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 7/2012 về vấn đề “Sử dụng SĐTD vào giảng dạy môn Hóa học”, BGD&ĐT đã một lần nữa khẳng định vai trò ngày càng quan trọng của việc áp dụng SĐTD vào dạy học
Học giả người Anh, Tony Buzan đã nghiên cứu và giới thiệu SĐTD vào cuối thập niên 60 (thế kỷ XX) [28] Đây không chỉ đơn thuần là công cụ ghi chép hoàn chỉnh mà là một phương pháp tư duy nhằm nâng cao khả năng tiếp nhận, ghi nhớ thông tin và kích thích khả năng sáng tạo của con người Theo GS Tony Buzan, chúng
ta phải ghi chép nhưng cách chúng ta ghi chép phải phản ánh đúng cách bộ não làm việc (bộ não ghi nhớ bằng hình ảnh và sự liên hệ) Đó là cơ sở ban đầu cho sự ra đời của SĐTD
Trang 17học cơ bản, khoa học thông tin, khoa học nhận thức, sinh lí học thần kinh, ngôn ngữ học thần kinh, ngữ nghĩa học Tony Buzan từng nhận bằng danh dự về tâm lí học, văn chương Anh, toán học và nhiều môn khoa học tự nhiên của trường ĐH British Columbia năm 1964 Năm 1964, ông tốt nghiệp trường đại học Columbia Anh Ông đã viết 92 đầu sách và được dịch ra trên 30 thứ tiếng, với hơn 3 triệu bản, tại 125 quốc gia trên thế giới Tony Buzan được biết đến nhiều nhất qua cuốn “Use your head” Trong
đó, ông trình bày cách thức ghi nhớ tự nhiên của não bộ cùng với các phương pháp SĐTD Ngoài ra, ông còn có một số sách nổi tiếng khác như Use your memory, Mind Map Book Năm 2007, ông đã đến Việt Nam để trao đổi về lĩnh vực nghiên cứu của mình
Trở lại với SĐTD, phương pháp SĐTD giúp người sử dụng khai thác tiềm năng của cả não trái lẫn não phải, hai bộ não kết hợp hài hòa vì vậy bộ óc sẽ làm việc tốt hơn, quá trình suy nghĩ diễn ra hiệu quả hơn Nhìn dưới góc độ tâm lí học, SĐTD sử dụng nhiều hiện tượng tâm lí cùng tham gia đặc biệt là hai hiện tượng tâm lí mà ai cũng có sẵn là liên tưởng và tưởng tượng [23], [24], [25]
Cụ thể hơn, SĐTD là một công cụ tổ chức tư duy Đây là phương pháp dễ nhất
để chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não SĐTD là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó: “sắp xếp” ý nghĩ SĐTD là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng Tính hấp dẫn của hình ảnh, âm thanh,… gây ra những kích thích rất mạnh lên hệ thống rìa của não giúp cho việc ghi nhớ được lâu bền và tạo ra những điều kiện thuận lợi để vỏ
Trang 18não phân tích, xử lí, rút ra kết luận hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
1.1.2 Các công trình nghiên cứu về NL tự học
1) GS Nguyễn Cảnh Toàn (1998), Quá trình dạy tự học, Nxb Giáo dục
2) GS Nguyễn Cảnh Toàn (2001), Tuyển tập tác phẩm tự giáo dục tự học tự nghiên cứu, Tập 1 và 2, Trường ĐHSP Hà Nội, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Ở hai công trình trên tác giả đã nêu lên các khái niệm về tự học, các lý luận về tự học và cách dạy tự học Tác giả cũng đã nêu lên được các biện pháp để phát triển năng lực tự học cho HS Tuy nhiên các biện pháp đưa ra còn chung chung, chưa đề cập đến
4) GS.TSKH Thái Duy Tuyên với bài viết “Một số vấn đề cần thiết khi hướng dẫn học sinh tự học” đăng trên tạp chí Giáo dục số 82 năm 2004
5) GS.TSKH Thái Duy Tuyên (2008), “Phương pháp truyền thống và đổi mới”, Nxb Giáo dục
Trong 2 công trình trên tác giả đã đưa ra một số vấn đề về hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tự học, cách biên soạn giáo trình theo hướng bồi dưỡng phương pháp tự học
6) Đặng Thành Hưng với bài viết “Bản chất và điều kiện của việc tự học” đăng trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 78 năm 2012
Trong công trình này tác giả đã nêu lên bản chất của tự học, những điều kiện của
tự học và việc giáo dục năng NL tự học cho HS
Nhìn chung, các công trình lí luận về tự học đều rút ra dựa trên kinh nghiệm và phương pháp tự học của mình Các tác giả đều chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng của hoạt động tự học, các yếu tố ảnh hưởng và phương pháp nhằm hình thành và phát triển
Trang 19Theo [6], chương trình giáo dục định hướng phát triển NL (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều
từ những năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục định hướng NL nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
1.2.2 Đổi mới PPDH nhằm chuyển định hướng nội dung sang định hướng NL
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển NL tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lí chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS
Chương trình dạy học định hướng phát triển NL không qui định những nội dung dạy học chi tiết mà qui định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cở sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp,
tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Trong chương trình định hướng phát triển
NL, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua
hệ thống các NL Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã qui định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lí chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Trang 20Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển NL:
Mục tiêu dạy học được mô tả
không chi tiết và không nhất
thiết phải quan sát, đánh giá
được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục
Nội dung
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựa vào
các khoa học chuyên môn,
không gắn với các tình huống
thực tiễn Nội dung được qui
định chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã qui định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ qui định những nội dung chính, không quy định chi tiết
Phương
pháp
dạy học
GV là người truyền thụ tri thức,
là trung tâm của quá trình dạy
- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành
Đánh giá
kết quả
học tập
của HS
Tiêu chí đánh giá được xây
dựng chủ yếu dựa trên sự ghi
nhớ và tái hiện nội dung đã học
Tiêu chí đánh giá dựa vào NL đầu ra,
có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
Trang 21Việc dạy học theo quan điểm phát triển NL không chỉ giới hạn trong tri thức và
kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực NL:
Học nội dung
chuyên môn
Học phương pháp – chiến lược
Học giao tiếp – xã hội
Học tự trải nghiệm – đánh giá
Thu thập, xử lí, đánh giá, trình bày thông tin
- Các phương pháp chuyên môn
- Làm việc trong nhóm
- Tạo điều kiện cho sự hiểu biết
về phương diện xã hội
- Học cách ứng
xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột
- Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu
- Xây dựng KH phát triển cá nhân
- Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức
và văn hoá, lòng tự trọng
NL
chuyên môn
NL phương pháp
Trang 22chứng, và cần thiết kế các tiết học, bài học đó theo cơ chế logic – tâm lí của việc học, tức là chú ý tới logic của môn học và tâm lí của người học Cần thiết kế được cách học các mẫu, để từ đó khái quát hóa thành mô hình, phạm trù cho rất nhiều tình huống tương tự Học một để biết mười chính là ngụ ý nói tới việc học phương pháp học Phương pháp học là công cụ cơ bản để tự học Nếu chỉ biết học thuộc lòng, hay đánh dấu những ý, đoạn cần thiết thì NL này mới ở mức độ nhận thức ra cái cần học, chưa
có kĩ năng, ý chí học tập Mà chưa có kĩ năng, chưa có quyết tâm học thì không thể có
NL tự học
Việc tự học giữ một vị trí quan trọng trong phương pháp học tập ở trường đại học, tự học giúp cho HS nắm vững kiến thức nói chung và phát huy tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS nói riêng Nhiều nghiên cứu của các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
- Theo [11]: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học
và rèn luyện kĩ năng thực hành”
- Nhà tâm lí học N.ARubakin [19]: “Tự tìm lấy kiến thức – có nghĩa là tự học
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của chủ thể”
- Theo N.D Levitov [14]: “Tự học là hoạt động tích cực của cá nhân với các thành phần tâm lý của tác giả sự lĩnh hội, đó là thái độ tích cực của người học, trong tự học các quá trình tư duy, các quá trình ghi nhớ,… các quá trình tâm lí có liên quan mật thiết với nhau để hoạt động tự học đạt kết quả”
- Theo tác giả Lê Khánh Bằng [1]: “Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định”
- Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thị Đức trong cuốn “Lí luận dạy học đại học” [10]: “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo
chương trình và sách giáo khoa đã được qui định”
Trang 23của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
- Theo Trần Bá Hoành [12]: Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quĩ thời gian không nhiều khi học ở nhà trường Tự học giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn Khi HS biết cách tự học, họ sẽ có ý thức và xây dựng thời gian tự học, tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lí thuyết với thực hành, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
- Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến các định nghĩa như sau:
+ Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định Tự học của HS còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông + NL tự học là khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng, hiệu quả cao NL tự học là NL chung, quan trọng cần rèn luyện và phát triển cho HS ở mọi cấp học để giúp HS có khả năng học tập suốt đời và để tự bồi dưỡng NL tự học là NL hết sức quan trọng vì tự học là chìa khoá tiến vào thế kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Có
NL tự học mới có thể học suốt đời được Vì vậy, quan trọng nhất đối với HS là học cách học
+ NL tự học còn là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Để rèn luyện NL tự học cho HS, trong quá trình dạy học, GV cần biết hướng dẫn và tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi cho
Trang 24HS hoạt động nhằm phát triển NL tư duy, sự linh hoạt, sự sáng tạo cho người học Qua đó người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Ngay từ khi còn học ở trường THPT, nếu HS rèn luyện tốt NL tự học, có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng,… HS sẽ dễ dàng thích ứng với PPDH hiện nay
1.3.2 Vai trò của NL tự học
Trong quá trình dạy học, GV luôn giữ một vai trò quan trọng đặc biệt không thể thiếu được đó là sự tổ chức, điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động học tập của HS Nhưng thực tế cho thấy rằng, dù GV có kiến thức uyên thâm đến đâu, phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng HS không chịu đầu tư thời gian, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát với tri thức, không có sự say mê học tập, không
có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lí, không tự giác tích cực trong học tập thì việc học tập không đạt kết quả cao được Theo [17], tác giả Phan Bích Ngọc dẫn lời của Aditxterrec rằng chỉ có truyền thụ tài liệu của GV mà thôi thì dù có nghệ thuật đến đâu chăng nữa cũng không đảm bảo được việc lĩnh hội tri thức của HS Nắm vững kiến thức thực sự lĩnh hội chân lí, cái đó HS phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân Điều đó lại khẳng định thêm vai trò của việc tự học
Khi bàn về vai trò của tự học nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười đã phát biểu [31]:
“Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau đó cũng là truyền thống quí báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được NL sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục Qui mô của giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân
tự học” (Trích thư gửi Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày 06/01/1998)
Vì vậy, có thể khẳng định vai trò của hoạt động tự học luôn giữ một vị trí rất quan trọng trong quá trình học tập của người học Tự học là yếu tố quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập
Trang 25Thứ hai, tự học không những giúp người học không ngừng nâng cao chất lượng
và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp họ có được hứng thú, thói quen và sự tự giác để làm phong phú thêm, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp họ tránh được sự lạc hậu trước sự biến đổi không ngừng của khoa học và công nghệ trong thời đại ngày nay
Thứ ba, tự học còn có vai trò to lớn trong việc giáo dục, hình thành nhân cách cho người học Việc tự học rèn luyện cho người học thói quen độc lập suy nghĩ, độc lập giải quyết vấn đề khó khăn trong nghề nghiệp, trong cuộc sống, giúp cho họ tự tin hơn trong việc lựa chọn cuộc sống cho mình Hơn thế, tự học thúc đẩy lòng ham học, ham hiểu biết, khát khao vươn tới những đỉnh cao của khoa học, sống có hoài bão, ước
mơ Do vậy, mỗi HS hãy xây dựng cho mình một thói quen, một phương thức tự học thích hợp nhất
Thứ tư, tự học là con đường tự khẳng định của mỗi người Trong quá trình học tập, nếu bồi dưỡng được ý chí và NL tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở người học tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh của quá trình học tập, vượt lên trên mọi khó khăn, trở ngại bên ngoài Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực, nhân tố quyết định chất lượng đào tạo
Trong xã hội phát triển vai trò của giáo dục ngày càng quan trọng, là động lực thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Giáo dục phải đào tạo được thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có đủ tri thức, NL và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm phát triển xã hội Muốn vậy thế hệ trẻ phải có NL đặc biệt đó là khả năng tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện và những khả năng này phải được hình thành từ cấp tiểu học
Có như vậy mới rèn luyện cho họ được kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, không ngừng nâng cao vốn hiểu biết về văn hoá, khoa học kĩ thuật và hiện đại hoá vốn tri thức của
Trang 26mình để trở thành người công dân, người lao động với đầy đủ hành trang bước vào cuộc sống
1.3.3 Cấu trúc của NL tự học
Trong các NL chung của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo
dục và Đào tạo (7/2017) [6] thì NL tự học được xếp vào NL hàng đầu (NL tự chủ và tự học) Tự học là một vấn đề quan trọng của đổi mới phương pháp giáo dục Tự học đặt
ra vấn đề giải phóng tiềm năng sáng tạo cho mỗi người, hình thành phương pháp tư duy, đạt được hiệu quả bền vững của giáo dục nhà trường Đây là tư tưởng đầy nhân văn và dân chủ Nó giúp con người có được công cụ để học tập suốt đời Với tư tưởng này, lối giáo dục mang tính giáo điều, nhồi nhét, áp đặt, chỉ bằng cách học thuộc lòng không thể giữ vị trí độc quyền
Để hình thành NL tự học cho HS, cần xây dựng hệ thống nội dung học tập logic, chặt chẽ và hướng dẫn HS chiếm lĩnh nội dung đó bằng các việc làm cụ thể, sao cho đạt kết quả chắc chắn, không may rủi, qua đó nhằm khuyến khích và khơi gợi HS tự tìm hiểu, tự khám phá kiến thức mới gần giống như cái đã học, trong phạm vi khả năng có thể của mỗi em
NL tự học không phải là NL giải lại các bài toán thầy đã dạy NL tự học là NL nắm được phương pháp để giải quyết được các nhiệm vụ, bài toán, tình huống tương
tự tình huống đã học, có thay đổi về lượng và một số các yếu tố khác như thời gian, địa điểm, người thực hiện …
đủ
Xác định được mục tiêu học tập đã đầy
đủ nhưng chưa xác định được trọng tâm
Xác định được mục tiêu học tập đầy đủ và đúng trọng tâm
Trang 27vụ học
tập
đâu là nhiệm vụ chính
và nhiệm vụ học tập nhưng chưa khắc phục được những mặt còn hạn chế
Xác định được các yêu cầu cần đạt
nhiệm vụ học tập
và khắc phục dần những mặt còn hạn chế
Xác định được các yêu cầu cần đạt trong mục tiêu, nhiệm vụ học tập và khắc
những mặt còn hạn chế
Lập và thực hiện được KH tự học nhưng chưa hợp lí, chưa biết cách điều chỉnh KH cho phù hợp
Lập, thực hiện và duy trì khá tốt KH
tự học, biết cách điều chỉnh KH phù hợp với điều kiện học
Hình thành được cách học tập riêng nhưng còn mang tính cá nhân tuy
Hình thành được
logic, khoa học,
từ đó đạt được kết
Trang 28quả cao trong học tập
sự giúp đỡ của người khác
Tìm được nguồn tài liệu học tập nhưng chưa biết cách chọn lọc tài liệu phù hợp với
nhiệm vụ học tập
đã đề ra
Tìm được nguồn tài liệu học tập, biết cách đánh giá chọn lọc tài liệu phù hợp với các mục tiêu, nhiệm
Xử lí được một số thông tin đơn giản trong khả năng của bản thân và có cách ghi nhớ riêng để sử dụng, bổ sung khi cần thiết
Biết cách tóm tắt, ghi ý chính thông tin thu thập, biết
sử dụng các kí hiệu riêng để thuận tiện cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
Trang 29chưa có biện pháp điều chỉnh cách học tập phù hợp
khắc phục hạn chế và có kế hoạch điều chỉnh cách học tập
nhân chính dẫn đến thất bại trong học tập
Rút được kinh nghiệm trong quá trình học tập, tìm được các nguyên nhân dẫn đến thất bại trong học tập nhưng đó chưa phải nguyên nhân chính
Rút được kinh nghiệm trong quá trình học tập, tìm
nhân chính dẫn đến thất bại từ đó khắc phục, điều chỉnh cách học tập phù hợp
1.4 Sơ đồ tư duy
1.4.1 Khái niệm SĐTD
SĐTD, còn gọi là bản đồ tư duy hoặc lược đồ tư duy, là một hình thức ghi chép sử dụng phối hợp các yếu tố bao gồm những đường nét, hình ảnh, từ ngữ và màu sắc để ghi nhớ, mở rộng, đào sâu các ý tưởng do đó nó kích thích sự hoạt động của bộ não SĐTD là biểu hiện của tư duy mở rộng, nó có chức năng tự nhiên trong tư duy
Có thể xem SĐTD như chiếc chìa khóa vạn năng để khai thác tiềm năng của bộ não
Có thể áp dụng SĐTD vào mọi mặt của cuộc sống, qua đó nâng cao kết quả học tập và khả năng tư duy mạch lạc nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động
Trang 30SĐTD – một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa có tác dụng lưu giữ, sắp xếp và xác lập ưu tiên đối với mỗi loại thông tin; là công cụ lý tưởng hỗ trợ cho các cuộc thảo luận, khuyến khích HS liên kết giữa các chủ
đề, hình thành lan tỏa ý tưởng và ý kiến cá nhân
Theo [26], SĐTD được bắt đầu bằng một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm sau đó các ý tưởng được phát triển bằng các nhánh đặc trưng cho những ý chính và được nối với hình ảnh trung tâm Những nhánh chính này được phân thành những nhánh nhỏ hơn nhằm đào sâu ý tưởng hay đi sâu vào nội dung cần ghi chép, ghi nhớ Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng được liên kết với nhau khiến SĐTD có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng hoặc xây dựng mô hình về đối tượng cần nghiên cứu
SĐTD có thể được viết trên giấy, trên bảng trong, trên bảng hay thực hiện trên máy tính SĐTD tuy được vẽ trên mặt giấy phẳng nhưng lại biểu thị hiện thực đa chiều (xác định được khoảng không gian, thời gian và màu sắc)
1.4.2 Vai trò của SĐTD trong việc phát triển NL tự học của HS
- Khi GV trình bày nội dung bài dạy dưới sạng SĐTD, HS hình dung được cách ghi chép nội dung bài học dưới dạng sơ đồ, biết sử dụng các từ khóa hoặc hình ảnh để
mô tả chủ đề hay nội dung học tập; qua đó dần hình thành hoạt động tư duy độc lập, tăng tính chủ động, tích cực
- Với các bài nghiên cứu kiến thức mới mà có một số nội dung tách biệt nhau, GV hướng dẫn các nhóm HS tự đọc tài liệu, tóm tắt nội dung dưới dạng SĐTD và trình bày, tạo điều kiện cho HS thể hiện NL thu nhận, xử lí thông tin, trình bày nội dung học tập một cách logic, sáng tạo và giúp học sinh tự tin hơn
- Thông qua việc thiết lập SĐTD, HS thể hiện được sự sáng tạo, ý tưởng riêng của mình và từ đó GV có thể đánh giá được NL của HS một cách đầy đủ và chính xác
- Việc thiết lập SĐTD hình thành cho HS thói quan tìm tòi, đào sâu suy nghĩ có khoa học làm chủ được kiến thức, xây dựng lòng tin cho HS trong học tập, xóa bỏ được tình trạng nhút nhát, rụt rè, ngại khó của HS; đồng thời góp phần phát triển nhân cách và thói quen làm việc, giải quyết những vấn đề gặp phải trong cuộc sống sau này thấu tình hợp lí, đầy tính nhân văn
Trang 31phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình, có được phương pháp học tập độc lập, tích cực từ đó NL tự học dần được phát triển
1.4.3 Qui tắc thiết kế SĐTD
1.4.3.1 Trình tự phân cấp
Việc sử dụng phân cấp và phân hạng với ý chủ đạo có hiệu quả đẩy mạnh NL tư
duy của não rất lớn
1.4.3.2 Trình tự đánh số
Nếu SĐTD dùng cho mục đích cụ thể như soạn diễn văn, làm tiểu luận, bài kiểm tra, mà ta cần diễn đạt ý tưởng theo một trình tự cụ thể thì ta cần đánh số các nhánh sơ đồ theo trình tự mong muốn
1.4.3.3 Các bước vẽ SĐTD
Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm
Bước đầu tiên trong việc tạo ra một SĐTD là vẽ chủ đề ở trung tâm một mảnh giấy
- Vẽ chủ đề ở trung tâm để từ đó phát triển ra các ý khác
- Có thể sử dụng tự do tất cả các màu sắc tùy thích
- Chủ đề cần được làm nổi bật cho dễ nhớ
- Có thể bổ sung thêm từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng
Ý tưởng trung tâm (hoặc hình ảnh)
Trang 32Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
- Tiêu đề phụ nên được vẽ gắn liền với trung tâm
- Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc (chứ không nằm ngang) để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ, vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
- Nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh
- Bất cứ lúc nào có thể, hãy dùng biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thời gian
- Hãy phát huy và sáng tạo thêm nhiều cách viết tắt cho riêng mình
Bước 4: Hãy để trí tưởng tượng bay bổng
Có thể thêm nhiều hình ảnh nhằm giúp các ý quan trọng thêm nổi bật cũng như giúp việc ghi nhớ tốt hơn
1.4.4 Một số cách sử dụng SĐTD để hướng dẫn HS tự học
1.4.4.1 Chuẩn bị bài ở nhà
GV định hướng cho HS chuẩn bị bài ở nhà bằng cách lập một SĐTD về bài học, những đề mục sẽ có trong bài học mới Điều này sẽ bắt buộc HS phải đọc bài và nghiên cứu bài trước, giúp HS nắm được một cách khái quát những kiến thức sẽ có trong bài học mới SĐTD nếu thực hiện tốt nó sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian tự học của HS
1.4.4.2 Kiểm tra kiến thức bài cũ
GV ra câu hỏi như thông thường, yêu cầu HS trình bày ngắn gọn bằng SĐTD hoặc yêu cầu HS trình bày bằng SĐTD rồi giải thích, minh họa
Cách làm này giúp HS phải tự lực học tập với SĐTD, nắm được ý chính từng mục trong từng bài và khắc sâu kiến thức trọng tâm
VD: Dùng SĐTD kiểm tra kiến thức của HS qua bài 32: Hiđrosunfua – Lưu huỳnh đioxit – Lưu huỳnh trioxit (tiết 1)
Trang 33Hình ảnh GV kiểm tra kiến thức bài 32: Hiđrosunfua – Lưu huỳnh đioxit –
Lưu huỳnh trioxit dưới dạng lập SĐTD ở lớp TN
1.4.4.3 Quá trình tiếp thu bài mới
Để giúp HS làm quen với SĐTD và cách thiết lập, GV cần trình bày nội dung bài dạy dưới dạng SĐTD để HS hình dung được cách ghi chép nội dung bài học dưới dạng
sơ đồ
Từ chủ đề của bài học, GV nêu các câu hỏi định hướng nội dung bài học và vẽ các nhánh của SĐTD Sau đó GV triển khai các hoạt động học tập tổ chức cho HS tìm hiểu các nội dung của từng nhánh (đọc tài liệu, trả lời câu hỏi, quan sát thí nghiệm, nêu nhận xét ) để làm nổi bật rõ trọng tâm bài học GV tóm tắt các nhận xét của HS và điền vào các nhánh của SĐTD Kết thúc các hoạt động là SĐTD hoàn chỉnh về nội dung bài học
Trang 34Qua đó, GV kết hợp giới thiệu về cách trình bày một nội dung hoặc chủ đề dưới dạng SĐTD, yêu cầu HS về nhà học bài và thiết kế lại SĐTD theo cách của mình Việc
khi cần một cách nhanh chóng, thuận tiện
1.4.4.4 Củng cố bài học
Sử dụng sơ đồ trong việc củng cố bài học giúp HS tư duy tốt hơn, không khí lớp
học sinh động hơn từ đó các em ý thức tự học tập Với thế mạnh của SĐTD là kiến
thức được hệ thống hóa dưới dạng sơ đồ, các đường nối là sự diễn tả mạch logic kiến thức hoặc các mối quan hệ nhân quả hay quan hệ tương đương, cộng thêm màu sắc của các đường nối, màu sắc của các đơn vị kiến thức, sẽ giúp HS nhìn thấy “bức tranh tổng thể” cả một phần kiến thức đã học
Củng cố rất quan trọng trong quá trình dạy học Được làm việc với SĐTD HS sẽ
hệ thống từng phần, toàn bài và khắc sâu kiến thức trọng tâm
HS có thể xây dựng SĐTD sau mỗi bài học qua sơ đồ câm hoặc qua hệ thống câu
hỏi của GV sẽ dần hình thành thói quen tự học với SĐTD, tự xây dựng SĐTD
VD: - Dùng SĐTD củng cố kiến thức cho HS qua bài 29: Oxi – Ozon
Hình ảnh GV củng cố kiến thức TCHH của Oxi, Ozon qua bài 29: Oxi – Ozon
dưới dạng lập SĐTD ở lớp TN
- HS tự thiết lập SĐTD để củng cố kiến thức bài 30: Lưu huỳnh
Trang 35Hình ảnh GV củng cố kiến thức TCHH của Lưu huỳnh trong bài 30: Lưu huỳnh dưới dạng lập SĐTD ở lớp TN 1.4.4.5 Hướng dẫn HS tự học, tự ôn tập
GV có thể hướng dẫn HS tự ôn tập và hệ thống hóa kiến thức bằng cách đưa ra các sơ đồ câm để HS tự điền, trên cơ sở đó HS tự xây dựng SĐTD cho mình thông qua hoạt động nhóm dưới sự tổ chức của GV hoặc tự học ở nhà
VD: Khung sơ đồ câm về TCHH axit sunfuric để HS tự điền các thông tin
Hình 1.1 Khung SĐTD câm TCHH axit sunfuric
1.5 Thực trạng sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học của HS ở một số trường THPT
1.5.2 Đối tượng điều tra
Để khảo sát một số thông tin liên quan đến việc sử dụng SĐTD để phát triển NL
tự học của HS lớp 10 trong dạy học Hóa học ở trường THPT, chúng tôi tiến hành tham
Trang 36khảo ý kiến của 30 GV trực tiếp giảng dạy bộ môn Hóa học tại 5 trường THPT: THPT
Gò Công, THPT Gò Công Đông, THPT Tân Phước, trường Văn Hóa II – Bộ Công An
và THPT Vĩnh Bình trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của 235 HS ở 3 trường THPT: THPT Gò Công, THPT Gò Công Đông và trường Văn Hóa II – Bộ Công An trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; trong đó đa phần là HS có hạnh kiểm tốt, học lực trung bình – khá trở lên
1.5.3 Nội dung điều tra
Nội dung điều tra theo 2 phiếu: Phiếu khảo sát lấy ý kiến GV và phiếu khảo sát lấy ý kiến HS (phụ lục 5 và 6)
* Phiếu khảo sát lấy ý kiến GV: chúng tôi sử dụng 9 câu hỏi về các vấn đề:
- Tìm hiểu thực trạng NL tự học của HS THPT
- Tìm hiểu quan niệm của GV về NL tự học của HS THPT: đối tượng HS phù hợp với việc tự học, tác dụng của việc rèn luyện và mức độ biểu hiện của NL tự học
- Biện pháp và công cụ các thầy/cô đã sử dụng để phát triển NL tự học của HS
- Tìm hiểu việc sử dụng SĐTD để phát triển NL tự học của HS lớp 10 THPT
* Phiếu khảo sát lấy ý kiến HS: chúng tôi sử dụng 12 câu hỏi về các vấn đề:
- Tìm hiểu nhận thức của HS về: SĐTD, vai trò của việc tự học
- Tìm hiểu về thời gian và phương pháp tự học của HS
- Tìm hiểu những khó khăn của HS trong quá trình tự học và tính hiệu quả mà việc
tự học mang lại
1.5.4 Kết quả điều tra
* Về số lượng phiếu tham khảo ý kiến và HS:
Bảng 1.1 Số lượng phiếu tham khảo ý kiến GV và HS
Đối tượng
điều tra
Số phiếu phát ra
Số phiếu thu vào
Số phiếu không hợp lệ
Tỉ lệ
số phiếu đạt
Trang 373 3 giờ/ tuần 25 10,9
Nhận xét: Theo phân phối chương trình bộ môn Hóa học lớp 10 THPT, thời
gian trên lớp đối với ban cơ bản là 2 tiết/tuần Do đó thời gian tự học của HS cần phải phù hợp với thời gian được phân phối trên lớp Thực tế điều tra cho thấy thời gian dành cho tự học của đa số HS không cố định (43,4 %) Việc tự học của HS mang tính chất tùy hứng và rảnh lúc nào học lúc đó
Bảng 1.3 Ý kiến của HS về lí do phải tự học
Ngoài ra một số ý kiến cho rằng:
- Tự học giúp HS học tập tốt hơn
- Tự học giúp HS tự đánh giá năng lực của bản thân để phấn đấu học tập tốt hơn
Nhận xét: Đa số HS được khảo sát chọn tự học để rèn luyện tính tự giác, kiên trì
và có trách nhiệm (89,1 %) Kế đến, việc tự học giúp HS hiểu và nhớ bài lâu hơn (80,9
%) Phát huy tính tích cực, tự lập của HS được xếp thứ ba với tỉ lệ 66,5 %, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đứng thứ tư với tỉ lệ 53,5 % Số lượng HS chọn kích thích
Trang 38hứng thú và động cơ học tập đúng đắn thấp hơn nhiều so với các lí do khác (36,5 %) Kết quả trên cho thấy các em đã hiểu được vai trò của tự học nhưng tỉ lệ chưa cao Do chưa nắm được tầm quan trọng của việc tự học nên sự đầu tư thời gian và công sức cho hoạt động tự học còn ở mức thấp
Bảng 1.4 Các hoạt động tự học của HS ở nhà
Nhận xét: Kết quả trên cho thấy đa số HS chưa tổ chức được các hoạt động
tự học ở nhà Thời gian tự học chủ yếu các em dành cho việc học bài, làm bài tập (92,6
%) và chuẩn bị bài mới trên lớp theo hướng dẫn của GV (85,2 %) Số lượng HS tự học thêm phần kiến thức do nhu cầu của bản thân, tự rèn kĩ năng giải bài tập, xem thêm tài liệu tham khảo còn rất thấp (từ 37 đến 40,4 %) Việc tự học của HS lớp 10 THPT chưa
có sự tự giác, đa phần chỉ thực hiện yêu cầu của GV (trên 80 %) Do đó GV phải là người dẫn dắt HS tự hình thành mục đích, động cơ học tập cho mình để phát triển dần
NL tự học của HS
Bảng 1.5 Hoạt động của HS khi GV yêu cầu chuẩn bị bài trên lớp
Trang 39STT Những khó khăn của HS
trong quá trình tự học
Số lượng
Tỉ lệ
%
Nhận xét: Kết quả điều tra cho thấy, những khó khăn HS gặp phải trong quá trình
tự học phụ thuộc vào các yếu tố:
- Yếu tố khách quan:
+ Sự hướng dẫn, tổ chức hoạt động học tập của GV
+ Mục tiêu môn học: Kiến thức khá rộng, đòi hỏi kĩ năng giải quyết các vấn
đề trong học tập
+ Điều kiện vật chất: Thiếu thời gian tự học, thiếu tài liệu học tập …
- Yếu tố chủ quan: Bản thân HS: Chưa được trang bị phương pháp tự học cần thiết; thiếu tính kiên trì, tự giác, thiếu kĩ năng làm việc độc lập
* Mức độ sử dụng sử dụng SĐTD trong học tập của HS lớp 10 THPT hiện nay:
Trang 40Bảng 1.7 Thực trạng sử dụng SĐTD trong học tập của HS lớp 10 THPT hiện nay
Nhận xét: Thực tế điều tra thấy rằng, phần lớn HS chưa biết cách sử dụng SĐTD
trong học tập (59,1 %), thỉnh thoảng các em mới được GV yêu cầu sử dụng (28,7 %)
Có quá ít HS biết tận dụng công cụ này để phát triển NL học tập của mình (12,2 %) 1.5.4.2 Kết quả điều tra từ GV
* Mức độ hướng dẫn HS các phương pháp tự học môn Hóa học của GV
Bảng 1.8 Bảng khảo sát tình hình GV hướng dẫn HS các phương pháp tự học môn Hóa học
Nhận xét: Có rất ít GV (31,8 %) hướng dẫn HS các phương pháp tự học bộ môn,
thỉnh thoảng HS mới được GV hướng dẫn các phương pháp tự học (55,2 %) Chỉ có 13,0 % GV thường xuyên hướng dẫn HS các phương pháp tự học Từ kết quả trên cho thấy hiện nay GV vẫn chưa chú trọng nhiều đến việc hướng dẫn HS tự học
* Đánh giá sự cần thiết của việc phát triển kĩ năng tự học cho HS THPT
Bảng 1.9 Mức độ cần thiết của việc phát triển NL tự học cho HS THPT