Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại Hóa học 12 trung học phổ thông (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Trãi
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC DẠNG BÀI ÔN TẬP, LUYỆN TẬP
PHẦN KIM LOẠI - HÓA HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Quốc Trãi
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC DẠNG BÀI ÔN TẬP, LUYỆN TẬP
PHẦN KIM LOẠI - HÓA HỌC 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chuyên ngành : Lí luận và PPDH bộ môn Hoá học
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM THỊ BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3Luận văn được hoàn thành với sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, gia đình, bạn bè và các em học sinh
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến TS Phạm Thị
Bình đã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt thời gian tôi nghiên cứu và hoàn thành đề
tài
Tôi xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến quý thầy cô trong khoa Hóa học, phòng Sau đại học – Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, tập thể giáo viên và học sinh trường THPT Nguyễn Trãi– Tỉnh Bến Tre và THPT Chợ Gạo – Tỉnh Tiền Giang đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình thực nghiệm sư phạm theo đúng kế hoạch
Cuối cùng xin kính chúc quý Thầy, Cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Tiền Giang, tháng 10 năm 2017
Nguyễn Quốc Trãi
Trang 4Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC DẠNG BÀI ÔN TẬP, LUYỆN TẬP 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Về dạng bài ôn tập, luyện tập trong dạy học hóa học ở trường THPT 5
1.1.2 Về biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh 6
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh 7
1.2.1 Khái niệm, phân loại và cấu trúc năng lực 7
1.2.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh 9
1.2.3 Các năng lực cần phát triển cho học sinh phổ thông 9
1.2.4 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho
học sinh 10
1.3 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông 11
1.3.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức 11
1.3.2 Cấu trúc và biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức 11
1.3.3 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học hóa học 13
1.3.4 Phương pháp đánh giá năng lực vận dụng kiến thức 14
1.4 Dạy học các bài ôn tập, luyện tập trong chương trình hóa học phổ thông 16
1.4.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của bài ôn tập, luyện tập 16
1.4.2 Đặc điểm, cấu trúc của các bài ôn tập, luyện tập 17
Trang 51.5 Thực trạng việc dạy học các bài ôn tập, luyện tập ở một số trường trung học
phổ thông 24
1.5.1 Mục đích điều tra 24
1.5.2 Đối tượng và phương pháp điều tra 25
1.5.3 Nội dung điều tra 25
1.5.4 Phân tích kết quả điều tra 25
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2.PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC DẠNG BÀI ÔN TẬP, LUYỆN TẬP PHẦN KIM LOẠI - HÓA HỌC 12 THPT 32
2.1 Mục tiêu, nội dung, chương trình phần kim loại - Hóa học 12 THPT 32
2.1.1 Mục tiêu 32
2.1.2 Nội dung, chương trình 33
2.1.3 Vị trí, cấu trúc các bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT 34
2.2 Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức của học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập 36
2.2.1 Xây dựng bài kiểm tra 36
2.2.2 Xây dựng phiếu đánh giá 37
2.3 Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập 42
2.3.1 Sử dụng trò chơi học tập 42
2.3.2 Sử dụng bài tập hóa học 52
2.4 Thiết kế kế hoạch dạy học một số bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT 73
2.4.1 Bài luyện tập “Tính chất của kim loại kiềm, kiềm thổ và hợp chất của chúng” 73
2.4.2 Bài luyện tập “Tính chất của nhôm và hợp chất của nhôm” 77
Trang 6chúng" 82
Tiểu kết chương 2 83
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 84
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 84
3.3 Đối tượng, địa bàn thực nghiệm sư phạm 84
3.4 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 85
3.4.1 Nội dung thực nghiệm sư phạm 85
3.4.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 85
3.5 Phương pháp xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 86
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm 87
3.6.1 Kết quả các bài kiểm tra 87
3.6.2 Kết quả đánh giá sự phát triển NL VDKT 89
3.6.3 Xử lí số liệu TNSP và phân tích 90
3.6.4 Nhận xét, đánh giá thực nghiệm sư phạm 98
Tiểu kết chương 3 101
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103 PHỤ LỤC p1
Phụ lục 1: Phiếu khảo sát ý kiến của Giáo viên Trung học phổ thông p1 Phụ lục 2: Phiếu khảo sát ý kiến của học sinh p4 Phụ lục 3.1 Bài luyện tập “Tính chất hóa học của sắt và hợp chất của sắt” p5 Phụ lục 3.2 Bài luyện tập "Tính chất hóa học của crom, đồng và hợp chất của
chúng" p11 Phụ lục 4: Các bài kiểm tra p14
Trang 7NL VDKT Năng lực vận dụng kiến thức
NL/ VDKT Năng lực/ Vận dụng kiến thức
PP/PPDH Phương pháp /Phương pháp dạy học
SGK/ SBT Sách giáo khoa/ Sách bài tập
TN/ TNSP Thực nghiệm/ Thực nghiệm sư phạm
Trang 8Bảng 1.1 Sơ đồ cấu trúc và những tiêu chí biểu hiện năng lực vận dụng kiến
thức 12
Bảng 2.1 Cấu trúc chương trình kim loại hóa học 12 33
Bảng 2.2 Các tiêu chí và mức độ đánh giá năng lực vận dụng kiến thức 38
Bảng 2.3 Phiếu hỏi HS về mức độ đạt được của NL VDKT 41
Bảng 3.1 Danh sách lớp ĐC và TN 84
Bảng 3.2 Kết quả bài kiểm tra trước tác động của lớp TN và ĐC 88
Bảng 3.3 Bảng phân phối tần số học sinh đạt điểm Xi của bài kiểm tra lần 1 88
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số học sinh đạt điểm Xi của bài kiểm tra lần 2 89
Bảng 3.5 Các giá trị trung bình và giá trị p của T-test của các lớp TN và ĐC trước tác động 90
Bảng 3.6 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích kiểm tra lần 1 lớp TN1-ĐC1, TN2-ĐC2 91
Bảng 3.7 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích kiểm tra lần 1 lớp TN3-ĐC3, TN4-ĐC4 92
Bảng 3.8 Các tham số đặc trưng điểm bài kiểm tra đặc biệt lần 1 của cặp lớp TN-ĐC 93
Bảng 3.9 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích kiểm tra lần 2 lớp TN1-ĐC1, TN2-ĐC2 94
Bảng 3.10 Phân phối tần suất và tần suất lũy tích kiểm tra lần 1 lớp TN3-ĐC3, TN4-ĐC4 95
Bảng 3.11 Các tham số đặc trưng điểm bài kiểm tra đặc biệt lần 2 của cặp lớp TN-ĐC 96
Bảng 3.12 Phân loại kết quả học tập của học sinh qua các bài kiểm tra 96
Bảng 3.13 So sánh giá trị T-test phụ thuộc của các lớp TN và các lớp ĐC trước và sau tác động 98
Trang 9Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 lớp 12C4, 12C6 92
Hình 3.2 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 lớp 12C5, 12C7 92
Hình 3.3 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 lớp 12kA7, 12kA9 93
Hình 3.4 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 1 lớp 12kA2, 12kD4 93
Hình 3.5 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 lớp 12C4, 12C6 94
Hình 3.6 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 lớp 12C5, 12C7 94
Hình 3.7 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 lớp 12kA7, 12kA4 95
Hình 3.8 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra số 2 lớp 12kA2, 12kD4 95
Hình 3.9 Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 1) 97
Hình 3.10 Đồ thị phân loại kết quả học tập của HS (Bài KT số 2) 97
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29 của Ban chấp hành Trung ương 8, khoá XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo đã đưa ra quan điểm chỉ đạo như sau: “ Phát triển giáo
dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực (NL) và phẩm chất người học” Bên cạnh đó, nghị quyết còn chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực "[22]
Thực hiện chủ trương trên, ngành giáo dục và đào tạo đã và đang đổi mới giáo dục theo định hướng phát triển NL và phẩm chất cho HS Để đảm bảo được điều đó, một trong các nhiệm vụ quan trọng là phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học (PPDH) theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức (VDKT), rèn luyện kĩ năng, hình thành NL và phẩm chất cho HS Trong đổi mới PPDH hóa học phổ thông cần chú trọng tính phân hoá, phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo và VDKT của HS, phát triển các NL chung thông qua các nhóm NL đặc thù riêng của bộ môn Trong đó, năng lực vận dụng kiến thức (NL VDKT) hóa học là một trong những NL đặc thù cần được hình thành và phát triển cho học sinh (HS) trung học phổ thông (THPT)
Mặc khác, bài ôn tập, luyện tập là dạng bài vô cùng quan trọng trong quá trình dạy học (DH) hóa học, có tác dụng củng cố, chính xác hóa, khắc sâu và hệ thống kiến thức, phát triển các kĩ năng cơ bản như sử dụng ngôn ngữ, giải thích – VDKT, phát triển tư duy Trong dạng bài này, HS có cơ hội VDKT đã học vào giải các bài tập, tình huống cụ thể thông qua đó mà phát triển NL VDKT, NL giải quyết vấn đề,… cho HS
Trong thực tế, nhiều giáo viên (GV) thường coi giờ ôn tập, luyện tập là giờ làm bài tập do đó chưa chú ý đến việc đổi mới PPDH, phát triển NL cho HS Phương pháp
Trang 11dạy học chủ yếu là đàm thoại và sử dụng bài tập Các bài tập sử dụng trong các giờ ôn tập, luyện tập môn Hóa học ở trường phổ thông hiện nay thường nặng về lí thuyết hàn lâm, chưa chú ý đến các dạng bài tập phát triển NL cho HS như bài tập thực tiễn, bài tập thực nghiệm (TN),…do đó sẽ không phát huy được tư duy sáng tạo và khả năng VDKT cho HS
Từ những lí do trên và với mong muốn góp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực, phát triển NL cho HS trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập môn Hóa học,
chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học
sinh trong dạy học dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 trung học phổ thông”
2 Mục đích của đề tài
Nghiên cứu biện pháp phát triển NL VDKT cho HS THPT trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT, góp phần nâng cao chất lượng DH môn Hóa học ở trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về NL và NL VDKT (bao gồm: khái niệm, các biểu hiện, các biện pháp phát triển và các PP kiểm tra đánh giá NL VDKT của HS)
- Nghiên cứu thực trạng việc DH dạng bài ôn tập, luyện tập và phát triển NL VDKT cho HS trong DH môn Hóa học ở một số trường THPT tỉnh Bến Tre
- Đề xuất các biện pháp phát triển NL VDKT cho HS thông qua việc DH dạng bài ôn tập, luyện tập và vận dụng các biện pháp đó trong DH phần kim loại - Hóa học
12 THPT: sử dụng trò chơi DH và sử dụng bài tập hóa học (BTHH)
- Xây dựng bộ công cụ đánh giá NL VDKT của HS trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập
- Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả trong việc
phát triển NL VDKT của HS của các biện pháp đã đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học môn Hóa học ở trường THPT
Trang 12Đối tượng nghiên cứu: Phát triển NL VDKT của HS trong DH dạng bài ôn tập,
luyện tập môn Hóa học THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Các bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT
6 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và sử dụng trò chơi DH và BTHH trong DH các bài ôn tập, luyện tập một cách phù hợp thì sẽ phát triển NL VDKT cho HS, góp phần nâng cao chất lượng
DH môn Hóa học ở trường phổ thông
7 Các phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đã đặt ra ở trên chúng tôi sử dụng các PP nghiên cứu sau:
-Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Sử dụng phối hợp các PP phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa để ntổng quan cơ sở lí luận của đề tài và các công trình nghiên cứu cùng hướng
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng PP điều tra (bằng bảng hỏi) để tìm hiểu (thông qua HS và GV) về thực trạng DH dạng bài luyện tập ở hai trường THPT
Sử dụng PP chuyên gia (chuyên gia là các GV hóa học có nhiều kinh nghiệm DH
ở trường phổ thông) để đánh giá tính khả thi và chất lượng của hệ thống bài tập đề xuất
Sử dụng PP TNSP để kiểm định tính khả thi và tính hiệu quả các biện pháp đề xuất trong đề tài
- Phương pháp toán học
Sử dụng PP toán học thống kê để xử lí các số liệu thu thập được khi điều tra và TNSP để kết luận về tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất
8 Đóng góp mới của đề tài
- Cung cấp một vài số liệu về thực trạng DH dạng bài ôn tập, luyện tập trong DH hóa học ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bến Tre và tỉnh Tiền Giang
- Đề xuất cách xây dựng, sử dụng trò chơi DH và BTHH phát triển NL VDKT cho HS trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập Thiết kế một số trò chơi và hệ thống bài
Trang 13tập có thể sử dụng trong DH bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT
để phát triển NL VDKT cho HS
- Đề xuất bộ công cụ đánh giá NL VDKT cho HS trong DH dạng bài ôn tập,
luyện tập
- Đề xuất 4 kế hoạch DH bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT
có vận dụng các biện pháp đã đề xuất
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề phát triển năng lực vận dụng kiến
thức cho học sinh trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập
Chương 2 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong DH dạng
bài ôn tập, luyện tập phần kim loại - Hóa học 12 THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC DẠNG BÀI ÔN TẬP, LUYỆN TẬP
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Về dạng bài ôn tập, luyện tập trong dạy học hóa học ở trường THPT
Dạng bài ôn tập, luyện tập là dạng bài quan trọng nhằm giúp HS củng cố khắc sâu kiến thức và rèn luyện các kĩ năng hóa học… Vì vậy việc nghiên cứu đổi mới PPDH trong dạng bài này cũng được nhiều GV ở các trường phổ thông quan tâm
Đã có một số tác giả nghiên cứu đổi mới PPDH theo hướng tích cực, hoạt động hóa người học nhằm nâng cao chất lượng DH dạng bài ôn tập, luyện tập Một số biện pháp được quan tâm nghiên cứu như: sử dụng phương pháp Grap, sử dụng sơ đồ tư duy, sử dụng BTHH trong DH dạng bài này, cụ thể là:
- Triệu Thị Kim Loan (2011), Một số biện pháp nâng cao chất lượng giờ ôn tập,
luyện tập phần hóa học hữu cơ lớp 11 nâng cao, luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP
Tp.HCM Trong luận văn này tác giả đã đưa ra 9 biện pháp để nâng cao chất lượng giờ
ôn tập luyện tập như: sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng và bài tập bổ trợ để hướng dẫn HS chuẩn bị bài trước giờ ôn, luyện tập trên lớp; sử dụng hệ thống bài tập đúng mục tiêu, đúng chủ đề; 2;;T , sử dụng phần mềm MindMapper,…tác giả xây dựng các biện pháp theo nội dung bài học và phương thức tổ chức hoạt động DH
- Đinh Thị Mến (2011), Sử dụng phương pháp grap và sơ đồ tư duy trong giờ ôn
tập, luyện tập phần hóa phi kim lớp 11 trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ, trường
ĐHSP Tp.HCM Tác giả đã xây dựng các grap và sơ đồ tư duy cho các bài ôn tập, luyện tập; thiết kế các hoạt động có sử dụng grap và sơ đồ tư duy để nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập
- Nguyễn Thị Khánh Chi (2011), Vận dụng phương học dạy học hợp tác theo
nhóm trong các bài ôn tập, luyện tập hóa học 11 trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ,
trường ĐHSP Tp.HCM
Trang 15- Trịnh Duy Khanh (2013), Nghiên cứu và thử nghiệm một số biện pháp nâng
cao kết quả dạy học giờ ôn tập, luyện tập môn hóa học 11 cơ bản, luận văn thạc sĩ,
trường ĐHSP Tp.HCM Trong luận văn này tác giả đưa ra nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập theo trình tự bài lên lớp từ sự chuẩn bị của HS ở nhà đến quá trình học tập trên lớp và sau tiết học, trong đó chú trọng sử dụng các PP
và kỹ thuật DH hiện đại
1.1.2 Về biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh
Trong thời gian gần đây, quan điểm chỉ đạo đổi mới PPDH của Bộ Giáo dục và Đào tạo càng cho thấy tính cần thiết phải xây dựng một cách có hệ thống các dạng bài tập mang tính vận dụng thực tiễn cao Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy đã có một số tài liệu, công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này như:
- Trần Thị Tao Ly (2014), Một số biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến
thức hóa học vào thực tiễn cho học sinh THPT, luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP Hà Nội
- Đặng Thị Thanh Huyền (2015), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài
tập phần dẫn xuất của hiđrocacbon – Hóa học 11 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh, luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP Hà Nội Luận văn này tác giả
đề cặp việc biên soạn, phân loại bài tập gắn với thực tiễn theo nội dung kiến thức, chỉ
ra cách sử dụng các loại bài tập này như trong tiết học trên lớp, trong tiết luyện tập và trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp
-Nguyễn Thị Linh (2015), Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng bài tập hóa học
nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên (phần Hóa học Vô cơ – Hóa học 10 nâng cao), luận văn thạc sĩ,
trường ĐHSP Hà Nội Trong luận văn này, tác giả đã xây dựng hệ thống bài tập theo đơn vị chương, trong mỗi chương có sự phân chia thành các dạng cụ thể như: giải thích, chứng minh, VDKT lý thuyết vào thực tiễn; rèn luyện kỹ năng viết phương trình hóa học (PTHH); nhận biết, tách, điều chế và tinh chế các chất
Như vậy đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về DH dạng bài ôn tập, luyện tập cũng như phát triển NL VDKT cho HS trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập Tuy nhiên,
về cách xây dựng và sử dụng trò chơi học tập và bài tập để phát triển NL VDKT trong
DH dạng bài ôn tập, luyện tập chưa được quan tâm nhiều Chính vì vậy, chúng tôi
Trang 16chọn hướng nghiên cứu này với mong muốn góp phần đổi mới PPDH, phát triển NL VDKT cho HS, nâng cao chất lượng DH bài ôn tập, luyện tập môn Hóa học ở trường THPT
1.2 Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
1.2.1 Khái niệm, phân loại và cấu trúc năng lực
Khái niệm NL có nguồn gốc tiếng Latinh “Competentia” có nghĩa là gặp gỡ Ngày nay khái niệm NL được hiểu theo nhiều nghĩa:
Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường cho rằng: “năng lực là một thuộc tính
tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm đạo đức”[2, tr.68]
Theo dự thảo Đề án đổi mới giáo dục phổ thông 2015: “Năng lực là khả năng
thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của
cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [5, tr.6] Năng lực không phải là
một thuộc tính đơn nhất Đó là tổng thể của nhiều yếu tố có tính liên hệ và tác động qua lại Một cách cụ thể hơn, NLlà sự huy động và kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức các kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… để thực hiện thành công các yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định
Năng lực luôn tồn tại dưới hai hình thức: NL chung và NL chuyên biệt/NL đặc thù môn học Năng lực chung là NL cần thiết để cá nhân có thể tham gia hiệu quả vào nhiều hoạt động và các bối cảnh khác nhau của đời sống xã hội, NL này cần thiết cho tất cả mọi người Năng lực chuyên biệt chỉ cần thiết với một số người hoặc cần thiết ở một số tình huống nhất định Các NL chuyên biệt không thể thay thế được các NL chung Năng lực được hình thành và phát triển liên tục trong suốt cuộc đời con người vì sự phát triển NL thực chất là làm thay đổi cấu trúc nhận thức và hành động
cá nhân chứ không chỉ đơn thuần là sự bổ sung các mảng kiến thức riêng rẽ Do đó,
NL có thể bị yếu hoặc mất đi nếu chúng ta không rèn luyện tích cực và thường xuyên
Trang 17Để hình thành và phát triển NL cần xác định được các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại NL khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần NL cũng khác nhau Cấu trúc chung của NL hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 NL thành phần: NL chuyên môn, NL PP, NL xã hội, NL cá thể [2, tr 68-69]:
Năng lực hành động là sự gặp gỡ của các NL Hay các thành phần NL gặp nhau tạo thành NL hành động
Hình 1.1 Mô hình cấu trúc năng lực hành động
- Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có PP và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lí vận động
- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực PP bao gồm NL PP chung và PP chuyên môn Trung tâm của PP nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lí, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức
Nó được tiếp nhận qua việc học PP luận – giải quyết vấn đề
- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được
những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây
NL xã hội phương pháp NL
NL hành động
NL chuyên môn
NL cá thể
Trang 18dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm
Mô hình cấu trúc NL trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại NL khác nhau
Từ cấu trúc của NL cho thấy, giáo dục định hướng phát triển NL không chỉ nhằm mục tiêu phát triển chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển NL PP, NL xã hội và NL cá thể Những NL này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ
1.2.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành TW đảng khóa XI đã nhấn
mạnh:“Đổi mới căn bản, toàn diện GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện
đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; “Phát triển phẩm chất, năng lực người học, đảm bảo hài hòa giữa “dạy chữ”, “dạy người” và định hướng nghề nghiệp”[22]
Giáo dục định hướng phát triển NL nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc
DH, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng NL vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người NL giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp”
Hóa học là môn khoa học vừa có tính lí thuyết vừa có tính TN, nên có nhiều ưu thế để phát triển phẩm chất và NL người học, góp phần giúp người học VDKT vào cuộc sống Môn Hóa học ngoài nhiệm vụ góp phần phát triển các NL chung cho HS còn có nhiệm vụ phát triển một số NL đặc thù môn học như: NL sử dụng ngôn ngữ hóa học; NL thực hành thí nghiệm hóa học; NL VDKT hóa học vào cuộc sống…
1.2.3 Các năng lực cần phát triển cho học sinh phổ thông
Đào tạo theo hướng phát triển những NL của người học đã và đang trở thành một
xu thế tất yếu và phổ biến trong nền giáo dục của các nước trên thế giới Trong dự
thảo “Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
chỉ rõ các NL cần thiết của HS bao gồm NL chung và NL đặc thù môn học [4]:
Trang 19Năng lực chung là NL cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào cũng cần có để
sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành
và phát triển các NL chung của HS Các NL chung của HS là:
- Năng lực tự chủ và tự học,
- Năng lực giao tiếp và hợp tác,
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo,
Năng lực đặc thù môn học là NL mà môn học đó có ưu thế hình thành và phát
triển Một NL có thể là NL đặc thù của nhiều môn học khác nhau Ngoài những NL chung, trong quá trình học tập ở trường phổ thông, mỗi môn học đòi hỏi cần phải hình thành và phát triển NL đặc thù môn học Đối với môn Hóa học, cần hình thành và phát
triển ở HS một số NL đặc thù sau:
- Năng lực ngôn ngữ,
- Năng lực tính toán,
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội,
- Năng lực công nghệ,
- Năng lực tin học,
Năng lực VDKT là một trong những NL quan trọng cần hình thành, rèn luyện
và phát triển cho HS thông qua hoạt động giáo dục Trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài, chúng tôi đi sâu về NL VDKT hóa học
1.2.4 Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
Theo tài liệu [6], PPDH theo định hướng phát triển NL không chỉ chú ý tích cực hóa HS về hoạt động về trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện NL giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ GV-HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển NL xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần
bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển NL giải quyết các vấn đề phức hợp
Trang 20Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới PPDH thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển NL là:
- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành phát triển NL tự học (sử dụng sách giáo khoa (SGK), nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin,…) trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy
- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các PP chung và PP đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ PP nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc “Học sinh tự hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”
- Việc sử dụng PPDH phải gắn chặt với các hình thức tổ chức DH Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp,…Cần chuẩn bị tốt về PP đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kĩ năng thực hành, VDKT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị DH môn học tối thiểu đã quy định Có thể sử dụng đồ dùng DH tự làm nếu xét thấy cần thiết đối với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong DH
1.3 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường phổ thông
1.3.1 Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức
“Năng lực vận dụng kiến thức là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng, áp dụng những kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó Năng lực vận dụng kiến thức thể hiện phẩm chất, nhân cách của con người trong quá trình hoạt động để thỏa mãn nhu cầu chiếm lĩnh tri thức”[3, tr.118]
1.3.2 Cấu trúc và biểu hiện của năng lực vận dụng kiến thức
Theo tài liệu [7, tr 52-53] cho thấy: Từ cấu trúc chung của NL và đặc điểm của NL VDKT thì cấu trúc NL VDKT được dự kiến phát triển ở HS gồm có 5 NL thành phần, mỗi thành phần bao gồm các tiêu chí /biểu hiện của cá nhân Cấu trúc và những tiêu chí biểu hiện NL VDKT được mô tả bằng sơ đồ sau:
Trang 21Bảng 1.1 Sơ đồ cấu trúc và những tiêu chí biểu hiện năng lực vận dụng kiến thức
Trang 22Như vậy có thể thấy NL VDKT được biểu hiện thông qua các thao tác hành động có thể giải quyết các nhiệm vụ, tình huống khác nhau, tạo ra hứng thú học tập từ
đó hình thành ở HS niềm tin vào chân lí khoa học, về tính chân thật của kiến thức đối với cuộc sống thực tiễn
Khi phát triển NL VDKT sẽ phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của HS nhất là tổ chức những tình huống có vấn đề đòi hỏi dự đoán, nêu giả thuyết, tranh luận giữa các ý kiến trái ngược
Hiện nay DH hiện đại không nhằm truyền tải kiến thức tới HS mà quan trọng là dạy HS cách học, cách tự học vì vậy phát triển NL VDKT sẽ giúp HS tiếp nhận, lĩnh hội kiến thức vào thực tế đời sống và sản xuất
1.3.3 Phát triển năng lực vận dụng kiến thức trong dạy học hóa học
1.3.3.1 Tầm quan trọng của việc phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho học sinh THPT
Quá trình học tập sẽ giúp HS có NL hệ thống hóa kiến thức, phân loại kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó Khi VDKT chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội
Học sinh sẽ định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi VDKT hóa học phải ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì trong cuộc sống
Các em sẽ phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và môi trường Đồng thời tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của Hóa học trong cuộc sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên dựa vào các kiến thức hóa học và kiến thức liên môn khác
Thêm vào đó, các em sẽ chủ động sáng tạo lựa chọn PP, cách thức giải quyết vấn
đề Có NL hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên cứu khoa học để giải quyết các vấn đề
đó
Trang 231.3.3.2 Những biện pháp phát triển năng lực vận dụng kiến thức cho HS
GV phải nhận thức rõ, để rèn luyện và phát triển NLVDKT cho HS, GV không phải là người truyền thụ tri thức thụ động, mà là người hướng dẫn, chỉ đạo, trợ giúp, điều khiển cho quá trình học tập tích cực, chủ động của HS GV cần cho HS thấy rõ các biểu hiện và các biện pháp rèn luyện NLVDKT:
Lựa chọn nội dung DH logic, khoa học, khi DH cần tích cực minh họa nội dung bằng các ví dụ điển hình, gần gũi với HS
Tạo động cơ hứng thú cho HS tham gia tích cực vào quá trình học tập PPDH, hình thức tổ chức dạy của GV phải linh hoạt Khuyến khích các hành vi đúng của HS Tạo ra các tình huống học tập yêu cầu các mức độ VDKT từ thấp tới cao Giúp đỡ các
em khi gặp khó khăn trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập
Sử dụng các phương tiện DH: tranh ảnh, mô hình, phim, thí nghiệm… để trực quan hóa lí thuyết, khiến HS hào hứng hơn khi học tập, HS nhận thấy được sự cần thiết của NL VDKT nên tích cực rèn luyện với mọi tình huống, mọi nhiệm vụ
Sử dụng BTHH như là một công cụ rất hiệu quả và hữu ích để rèn luyện NL VDKT
Thường xuyên kiểm tra đánh giá quá trình rèn luyện NL VDKT của HS để khen ngợi, điều chỉnh kịp thời
1.3.4 Phương pháp đánh giá năng lực vận dụng kiến thức
Theo tác giả Lâm Quang Thiệp trong “Đo lường và đánh giá hoạt động giáo dục trong nhà trường” [26] cho rằng: Trong hoạt động giáo dục có một động từ quan trọng nhất, đó là học Hỗ trợ cho việc học là hoạt động dạy Có nhiều mối tương tác lên việc dạy và học, trong đó mối tương tác quan trọng nhất là đánh giá Do đó PP học, PP dạy,
PP đánh giá là các vấn đề hàng đầu mà hệ thống giáo dục phải quan tâm nghiên cứu Bất kì một quá trình giáo dục nào tác động lên một người cũng nhằm tạo ra những biến đổi nhất định trong người đó Muốn biết những biến đổi đó xảy ra ở mức độ nào, phải đánh giá hành vi của người đó trong một tình huống nhất định Sự đánh giá cho phép chúng ta xác định, một là mục tiêu giáo dục được đặt ra có phù hợp hay không và có đạt được hay không, hai là việc DH có hiệu quả hay không, người học có tiến bộ hay không Như vậy, đánh giá phải được xem là một khâu quan trọng và một bộ phận hợp
Trang 24thành quá trình giáo dục - đào tạo Không có đánh giá thì không thể biết việc học và việc dạy xảy ra như thế nào, thậm chí có thực sự xảy ra không và kết quả đạt được như thế nào
Để đánh giá NL VDKT của HS không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích khả năng vận dụng và vận dụng sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống trong học tập và trong thực tế Do đó, trong kiểm tra đánh giá cần:
1 Sử dụng phối hợp và thường xuyên các PP kiểm tra đánh giá khác nhau như viết, vấn đáp, thí nghiệm, trắc nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan
2 Sử dụng các câu hỏi phải suy luận, bài tập có yêu cầu tổng hợp, khái quát hóa, vận dụng lí thuyết vào thực tiễn
3 Chú ý kiểm tra tính linh hoạt, tháo vát trong thực hành, TN (thí nghiệm hóa học, sử dụng phương tiện trực quan)
4 Kiểm tra việc thực hiện những bài tập vận dụng và vận dụng sáng tạo, tìm ra cách giải đúng nhất, khoa học nhất và gần gũi nhất
5 Đánh giá cao những biểu hiện của VDKT, nhất là VDKT vào thực tiễn
6 Đánh giá các biểu hiện NLVDKT của HS thông qua các bài kiểm tra, quá trình tự đánh giá của HS (bảng hỏi)
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các công cụ đo lường và đánh giá NLVDKT của HS sau:
- Bài kiểm tra đặc biệt: chúng tôi thiết kế bài kiểm tra đặc biệt với hình thức là
bài kiểm tra viết, dạng bài tự luận để đánh giá NL VDKT của HS trong đó sử dụng chủ yếu các bài tập ở mức độ vận dụng, bao gồm cả những bài tập mang tính lí thuyết, các bài tập thực tiễn và bài tập thực hành thí nghiệm
- Phiếu hỏi: là một hệ thống câu hỏi được chuẩn bị sẵn theo những nội dung xác định, người được hỏi sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian xác định Chúng tôi
đã xây dựng hệ thống các câu hỏi dựa trên các biểu hiện của NL thành phần và các biểu hiện của NL VDKT
Trang 251.4 Dạy học các bài ôn tập, luyện tập trong chương trình hóa học phổ thông 1.4.1 Ý nghĩa và tầm quan trọng của bài ôn tập, luyện tập
Bài ôn tập, luyện tập là dạng bài dạy hoàn thiện kiến thức và được thực hiện sau một số bài dạy nghiên cứu kiến thức mới hoặc kết thúc kiến thức một chương, một phần của chương trình Theo tài liệu [24] bài ôn tập, luyện tập có giá trị nhận thức to lớn và có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành PP nhận thức và phát triển tư duy cho HS vì:
- Bài luyện tập giúp HS tái hiện các kiến thức đã học, hệ thống hóa các kiến thức hóa học được nghiên cứu rời rạc, tản mạn qua một số bài, một chương hoặc một phần của chương trình thành một hệ thống kiến thức có quan hệ chặc chẽ với nhau theo logic xác định Từ các hệ thống kiến thức đó giúp HS tìm ra những kiến thức cơ bản nhất và các mối liên hệ bản chất giữa các kiến thức thu nhận được để ghi nhớ và vận dụng chúng trong việc giải quyết các vấn đề học tập,…
- Thông qua các hoạt động học tập của HS trong bài ôn tập, luyện tập, GV có điều kiện củng cố, làm chính xác và chỉnh lí, phát triển và mở rộng kiến thức cho HS
- Thông qua các hoạt động học tập trong giờ ôn tập, luyện tập để hình thành và rèn luyện các kĩ năng hóa học cơ bản như: kĩ năng giải thích - VDKT, giải các dạng BTHH, sử dụng ngôn ngữ hóa học
- Thông qua các hoạt động học tập trong giờ luyện tập, tổng kết, hệ thống kiến thức mà phát triển tư duy và PP nhận thức, PP học tập cho HS Trong bài luyện tập tổng kết kiến thức, HS cần sử dụng các thao tác tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh , khái quát hóa để hệ thống hóa, nắm vững kiến thức và vận dụng chúng giải quyết các vấn đề học tập mang tính khái quát cao Khi giải quyết một vấn đề học tập, GV thường hướng dẫn HS phân tích, phát hiện vấn đề cần giải quyết, xác định kiến thức có liên quan cần vận dụng, lựa chon PP giải, lập kế hoạch giải và thực hiện kế hoạch giải, biện luận xác định kết quả đúng
Hơn nữa, thông qua bài luyện tập, ôn tập mà thiết lập mối liên hệ của các kiến thức liên môn học bao gồm các kiến thức hóa học có trong các môn khoa học khác (toán học, vật lí, sinh học, địa lí, công nghệ…) và VDKT của các môn học này để giải quyết các vấn đề học tập trong hóa học
Trang 261.4.2 Đặc điểm, cấu trúc của các bài ôn tập, luyện tập
1.4.2.1 Đặc điểm
Trong phân loại các kiểu bài DH hóa học có 3 kiểu bài [24]:
Kiểu 1: Nghiên cứu tài liệu mới
Kiểu 2: Củng cố, hoàn thiện kiến thức kĩ năng
Kiểu 3: Kiểm tra đánh giá
Dạng bài lên lớp (giờ lên lớp hay giờ học) ôn tập, luyện tập thuộc kiểu bài củng
cố hoàn thiện kiến thức kĩ năng Bài ôn tập, luyện tập có đặc điểm như sau:
- Chức năng của kiểu bài này là ôn, luyện tập
- HS ôn, luyện tập thông qua việc hệ thống hóa kiến thức hóa học
- Mặt khác HS được luyện tập các dạng bài tập theo các mức độ khác nhau: + Mức độ ôn, luyện tập đầu tiên là giúp HS nhớ chính xác kiến thức cơ bản và vận dụng theo kiểu làm mẫu – bắt chước
+ Mức độ ôn, luyện tập cao hơn là giúp HS rèn luyện tư duy sáng tạo, phát triển được NL VDKT hóa học có liên quan đến thực tiễn, biết VDKT trong các tình huống tương tự và tình huống mới
Như vậy, dạng bài luyện tập, ôn tập là dạng bài học không thể thiếu được trong môn học với giá trị nhận thức và ý nghĩa to lớn của nó trong việc hình thành phát triển
NL VDKT để từ đó hình thành thế giới quan khoa học cho HS
1.4.2.2 Cấu trúc
Hiện nay, cấu trúc các bài luyện tập trong SGK hóa học đều có hai phần: phần kiến thức cần nắm vững và bài tập
Phần kiến thức cần nắm vững mang tính chất giúp HS ôn tập các mảng kiến thức
ở những bài học trước bao gồm các kiến thức cần hệ thống củng cố và xác định mối liên hệ tương quan giữa chúng Ngoài ra, thông qua tiết ôn tập, luyện tập có thể phát hiện được những kiến thức mà HS hiểu chưa đúng hoặc có những khái quát chưa đúng bản chất của hiện tượng, cự việc GV có nhiệm vụ chỉnh lí, bổ sung thêm kiến thức cho HS đún đắn và đầy đủ hơn, đồng thời có thể mở rộng kiến thức cho HS
Phần bài tập bao gồm các dạng BTHH vận dụng các kiến thức, tạo điều kiện cho
HS rèn luyện kĩ năng hóa học như: giải thích các hiện tượng hóa học, sử dụng ngôn ngữ
Trang 27hóa học, giải các dạng BTHH đồng thời phát triển tư duy và PP nhận thức, PP học tập cho HS
Có thể nói, cùng là kiểu bài hoàn thiện kiến thức kĩ năng nhưng ở bài ôn tập chủ yếu giúp HS hoàn thiện kiến thức Đối với bài luyện tập, cái chính là giúp HS hoàn thiện
kĩ năng
1.4.3 Các phương pháp dạy học trong bài ôn tập, luyện tập
Khi tiến hành dạy bài luyện tập, ôn tập, GV thường sử dụng các PP như: PP thuyết trình nêu vấn đề khi cần hệ thống kiến thức cho chuyên đề xuyên suốt cả chương trình học hoặc cả học kì, PP này giúp HS rèn kĩ năng khái quát quá, kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; PP đàm thoại tìm tòi được sử dụng để củng cố, hệ thống hóa, VDKT và rèn kĩ năng thông qua hệ thống các câu hỏi do GV đã chuẩn bị trước; PP grap DH giúp HS hệ thống kiến thức, tìm ra mối liên hệ các kiến thức dưới dạng sơ đồ trực quan; PP sử dụng BTHH nhằm rèn kĩ năng VDKT, giải các dạng toán đặc thù môn hóa học, rèn NL tư duy; Thực tế nghiên cứu cho thấy, các PP được sử dụng hiện nay trong các giờ ôn tập, luyện tập chưa thật sự phát huy NL của HS Trong luận văn này, chúng tôi trình bày hai PP sử dụng trong bài ôn tập, luyện tập nhằm phát triển NL VDKT cho HS là PP sử dụng trò chơi và PP sử dụng BTHH
1.4.3.1 Phương pháp sử dụng trò chơi học tập
Trò chơi DH có nguồn gốc trong nền giáo dục dân gian, trong những trò chơi đầu tiên của mẹ với con, trong các trò vui và những bài hát khôi hài làm cho đứa trẻ chú ý đến những vật xung quanh, gọi tên các vật đó và dùng hình thức đó để dạy con, những trò chơi đó có chứa đựng các yếu tố DH
Có những quan niệm khác nhau về trò chơi DH Theo lí luận DH, tất cả những trò chơi gắn với việc DHnhư là PP, hình thức tổ chức và luyện tập không tính đến nội dung và tính chất của trò chơi thì đều được gọi là trò chơi DH
Trò chơi DH được tổ chức tuân theo mục đích, nội dung, các nguyên tắc và PPDH, có tổ chức, hướng dẫn để HS tìm kiếm và lĩnh hội kiếm thức, học tập và rèn luyện kĩ năng Các nhiệm vụ, quy tắc, luật chơi được quy định chặt chẽ trong khuôn khổ các nhiệm vụ học tập và định hướng vào mục tiêu, nội dung học tâp Trò chơi học tập là một cấu trúc phứt tạp bao gồm các thành tố sau:
Trang 281 Mục đích chơi: Là nhiệm vụ học tập của HS khi tham gia chơi hoặc theo dõi các bạn chơi Mục đích chi phối tất cả các yếu tố của trò chơi Khi kết thúc trò chơi mức độ đạt được của mục đích thể hiện qua kết quả mà HS thu được
2 Các hành động: là các hoạt động mà người tham gia chơi tiến hành thực hiện vai, nhiệm vụ và vai trò của mình trong trò chơi
3 Luật chơi: là những quy định nhằm đảm bảo sự định hướng các hoạt động và hành động chơi vào mục đích chơi hay nhiệm vụ học tập
4 Đối tượng hoạt động và giao tiếp: là những thành tố chính của hoạt động, tuy nhiên để đáp ứng tốt nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi
5 Các quá trình, tình huống và quan hệ: là những tiến trình, biến số, khuynh hướng của các hoạt động, hành động chơi, biểu thị tác động của luật chơi Dưới ảnh hưởng của luật chơi, chúng diễn ra như là động thái của trò chơi nhưng hướng vào mục đích của DH
Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng [14] trong “phương pháp sử dụng trò chơi trong dạy học ” cho rằng: sử dụng trò chơi trong quá trình DH có 3 mức độ:
Mức độ 1 - sử dụng trò chơi trước khi học: GV tổ chức cho người học chơi để kích hoạt không khí lớp, tạo sự hưng phấn cho sinh viên trước khi học tập
Mức độ 2 - sử dụng trò chơi như một hình thức học tập: GV tổ chức trò chơi để người học tiếp nhận nội dung một cách sinh động, hào hứng
Mức độ 3 - sử dụng trò chơi như một nội dung học tập: GV tổ chức chơi để người học trải nghiệm tình huống trong lúc chơi, từ đó người học tự khám phá nội dung học tập
Tương ứng với ba mức độ trên có thể đặt tên ba loại trò chơi là trò chơi khởi động, trò chơi kích thích học tập và trò chơi khám phá tri thức với các đặc điểm phân biệt như sau:
Trang 29Loại trò chơi Khởi động Kích thích học tập Khám phá tri thức
Mục tiêu Tạo hưng phấn trước
khi học
Kích thích tính tích cực học tập
Khám phá tri thức
Tác dụng Thư giãn, kích hoạt
tâm thế học tập
Học hào hứng, sôi động
Trải nghiệm, tạo tình huống có vấn
đề Đặc điểm Chơi ra chơi, học ra
Vậy, PP trò chơi học tập là PP tổ chức hoạt động học tập của HS mà trong đó HS lĩnh hội được các kiến thức cần thiết nhờ tham gia tích cực vào các hoạt động của trò chơi
1.4.3.2 Phương pháp sử dụng bài tập hóa học
“Bài tập là một nhiệm vụ mà người giải cần phải thực hiện Trong đó có dữ kiện
và yêu cầu cần tìm”
Trong dạy học hóa học (DHHH), việc sử dụng bài tập là hết sức quan trọng và cần thiết để nâng cao chất lượng DH Giải BTHH là lúc HS hoạt động tự lực để củng
cố và trao dồi kiến thức của mình BTHH cung cấp cho HS kiến thức và con đường để
Trang 30tiếp thu kiến thức, cả niềm vui sướng của sự phát hiện kiến thức, tìm ra đáp số Chính
vì thế, BTHH vừa là mục đích vừa là nội dung và cũng vừa là PPDH hiệu quả
Với tính đa dạng của mình bài tập hoá học có tác dụng:
- Đối với HS, nó là PP học tập tích cực, hiệu quả và giúp HS nắm vững,
chính xác hóa các kiến thức hoá học, phát triển tư duy, hình thành kĩ năng, VDKT hoá học vào thực tiễn, từ đó làm giảm nhẹ sự nặng nề căng thẳng của khối lượng kiến thức lí thuyết, củng cố kiến thức thường xuyên và có hệ thống, gây hứng thú say mê học tập cho HS
- Đối với GV, bài tập hoá học là phương tiện, là nguồn kiến thức giúp HS hình
thành khái niệm hoá học, tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS trong quá trình DH
Bài tập hóa học là phương tiện cơ bản để hình thành và rèn luyện NL VDKT cho
HS, đặc biệt là VDKT vào thực tế đời sống, sản xuất, nghiên cứu khoa học Kiến thức HS tiếp thu được chỉ có ích khi HS sử dụng nó
Trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã có những cải cách lớn trong toàn ngành giáo dục nói chung và đặc biệt là trong việc dạy và học ở trường phổ thông nói riêng; nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện về đức, trí, thể, mĩ Nội dung giáo dục, đặc biệt là nội dung, cơ cấu sách giáo khoa được thay đổi một cách hợp
lí vừa đảm bảo được chuẩn kiến thức phổ thông, cơ bản, có hệ thống vừa tạo điều kiện
để phát triển NL của mỗi HS, nâng cao NL tư duy, kĩ năng thực hành, tăng tính thực tiễn Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, PP học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng
Trang 31ham học, ham hiểu biết, NL tự học, NL VDKT vào cuộc sống
Chính vì vậy, việc xây dựng nên những BTHH mới phù hợp với định hướng đổi mới của môn Hóa học nói riêng và định hướng đổi mới giáo dục nói chung là rất quan trọng và có ý nghĩa thiết thực Cụ thể, các định hướng đổi mới trong xây dựng BTHH chú trọng các vấn đề sau:
- BTHH phải đa dạng, phải có nội dung hóa học thiết thực trên cơ sở của định hướng xây dựng chương trình hóa học phổ thông
- Nội dung bài tập phải ngắn gọn, súc tích, không quá nặng về tính toán mà cần chú ý tập trung vào rèn luyện và phát triển các NL nhận thức, tư duy Hóa học và hành động cho HS
- BTHH cần chú ý đến việc mở rộng kiến thức hóa học và các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn Thông qua các dạng bài tập này làm cho HS thấy được việc học hóa học thực sự có ý nghĩa, những kiến thức hóa học rất gần gũi, thiết thực với cuộc sống Đồng thời, các BTHH cần khai thác các nội dung về vai trò của hóa học với các vấn đề kinh tế, xã hội, môi trường và các hiện tượng tự nhiên, kích thích được sự đam mê, hứng thú học tập của HS đối với môn Hóa học
- BTHH định lượng được xây dựng trên quan điểm không phức tạp hóa bởi các thuật toán mà cần chú trọng đến nội dung hóa học và các phép tính được sử dụng nhiều trong tính toán hóa học
- Đa dạng hóa các hình thức câu hỏi, bài tập như: Sử dụng bảng biểu, sơ đồ, văn bản, hình ảnh, câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi tự luận ngắn, câu hỏi mở…
Khi sử dụng bài tập trong tiết ôn tập, luyện tập cần chú ý đến việc lưu ý lựa chọn, phân loại bài tập Hiện nay có nhiều cách phân loại bài tập hoá học dựa trên cơ
sở khác nhau: Dựa vào nội dung toán học của bài tập gồm Bài tập định tính (không
có tính toán), bài tập định lượng (có tính toán); Dựa vào nội dung của BTHH: Bài tập định lượng, bài tập lí thuyết, bài tập TN, bài tập tổng hợp.; Dựa vào tính chất hoạt động học tập của HS: Bài tập lí thuyết (không có tiến hành thí nghiệm), bài tập
TN (có tiến hành thí nghiệm); Dựa vào hình thức của bài tập: Bài tập tự luận, bài tập
Trang 32trắc nghiệm khách quan; Dựa vào đặc điểm của hoạt động nhận thức: Bài tập mức độ biết, bài tập mức độ hiểu, bài tập vận dụng và bài tập vận dụng mức độ cao (sáng tạo)… Giữa các cách phân loại không có ranh giới rõ rệt, sự phân loại thường để nhằm phục vụ cho những mục đích nhất định Nhằm phát triển NL VDKT cho HS trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập chúng tôi đề xuất sử dụng các hệ thống bài tập gồm: Bài tập vận dụng lí thuyết, bài tập thực tiễn và bài tập TN hóa học
1.4.4 Chuẩn bị cho bài ôn tập, luyện tập
1.4.4.1 Sự chuẩn bị của GV
Trong giờ học, GV cần tổ chức các hoạt động sao cho HS phải được thể hiện đúng đắn mức độ nắm vững kiến thức và phát huy tối đa NL tư duy của mình Vì vậy, khâu chuẩn bị là yếu tố quyết định đến chất lượng của bài luyện tập Khi chuẩn bị GV cần thực hiện theo các bước sau:
Nghiên cứu tài liệu:
GV cần nghiên cứu nội dung bài và các tài liệu liên quan đến bài luyện tập từ đó xác định mức độ kiến thức cần hệ thống, kiến thức cần mở rộng, phát triển và các kĩ năng cần rèn luyện, các dạng bài tập cần được lưu ý
Xác định mục tiêu bài học:
Mục tiêu bài học cần xác định rõ ràng về kiến thức, kĩ năng ở các mức độ nhận thức biết, hiểu, vận dụng,…cho từng đối tượng HS cụ thể
(3) Lựa chọn nội dung các kiến thức cần hệ thống và các dạng bài tập VDKT: Hệ thống kiến thức cần nắm vững đã được nêu trong SGK nhưng GV có thể lựa chọn thêm những nội dung kiến thức để kết nối, liên kết, mở rộng hoặc cung cấp thêm
tư liệu thực tiễn, cập nhật thông tin và sắp xếp theo một logic chặt chẽ
Hệ thống các BTHH dùng để luyện tập cũng có thể được thiết kế, lựa chọn thêm cho phù hợp với từng đối tượng HS và yêu cầu rèn luyện kĩ năng ngoài những bài tập
có trong SGK
(4) Lựa chọn PPDH và phương tiện DH phù hợp:
Tùy theo nội dung, mục tiêu của bài luyện tập, ôn tập và khả năng nhận thức của
HS mà GV lựa chọn PPDH và phương tiện DH phù hợp Trong luận văn, chúng tôi xin
đề cặp đến PPDH sử dụng trò chơi và sử dụng BTHH
Trang 33(5) Dự kiến tiến trình của bài luyện tập:
(6) Dự kiến phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS sau giờ luyện tâp:
(7) Dự kiến các yêu cầu về sự chuẩn bị của HS cho giờ luyện tập:
(8) Thiết kế hoạch động DH
1.4.4.2 Sự chuẩn bị của HS
Sự chuẩn bị của HS có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giờ ôn tập, luyện tập Nó thể hiện tâm thế sẵn sàng của HS HS chuẩn bị kĩ thì sẽ tự tin hơn trong tham gia các hoạt động học tập, tiết học không bị động thời gian Muốn HS chuẩn bị tốt GV cần biết cách tác động đến HS bằng cách đưa ra những yêu cầu, có kiểm tra mức độ chuẩn bị của các em trước giờ ôn tập, luyện tập
Ngoài các dụng cụ học tập thiết yếu như: bút, thước, phấn,… HS cần chuẩn bị các nội dung theo yêu cầu của GV:
- Trả lời các câu hỏi, giải các bài tập cho trước để có thể giải quyết các nhiệm vụ học tập GV đưa ra trong giờ học
- Tóm tắt nội dung bài ôn tập, luyện tập theo yêu cầu của GV
- Phân công nhiệm vụ các thành viên trong nhóm thật cụ thể khi có yêu cầu thảo luận các nhiệm vụ học tập
1.5 Thực trạng việc dạy học các bài ôn tập, luyện tập ở một số trường trung học phổ thông
1.5.1 Mục đích điều tra
- Để nắm rõ thực trạng việc rèn luyện, phát triển NL VDKT cho HS thông qua dạy và học hóa học nói chung và dạng bài ôn tập, luyện tập nói riêng ở một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bến Tre và tỉnh Tiền Giang
- Nhận thức của GV, HS về vai trò của việc phát triển NL VDKT cho HS THPT
- Tìm hiểu thực trạng việc đổi mới PPDH theo hướng DH tích cực để phát triển
NL VDKT cho HS trong quá trình DHHH sẽ gặp những khó khăn gì và đổi mới như thế nào cho phù hợp với điều kiện từng vùng, miền
Trang 341.5.2 Đối tượng và phương pháp điều tra
- Đối tượng điều tra: GV hóa học tại 2 trường THPT Nguyễn Trãi - Tỉnh Bến Tre
và THPT Chợ Gạo - Tỉnh Tiền Giang, 160 HS lớp 12 tại 2 trường THPT Nguyễn Trãi tỉnh Bến Tre và trường THPT Chợ Gạo tỉnh Tiền Giang
- Phương pháp điều tra:
+ Sử dụng phiếu điều tra cho các GV và các HS của các trường điều tra thực trạng + Sử dụng PP trò chuyện, phỏng vấn với một số GV và một số HS để biết cụ thể hơn về các PPDH nhằm phát triển NL VDKT cho HS thông qua dạng bài ôn tập, luyện tập
1.5.3 Nội dung điều tra
Điều tra về mức độ sử dụng các PPDH của GV trong DH bài ôn tập, luyện tập Những khó khăn của GV khi dạy bài ôn tập, luyện tập theo hướng tích cực hóa người học
Điều tra nhận định của GV về sự cần thiết và tính khả thi một số biện pháp để tiến hành DH nhằm phát triển NL VDKT trong bài ôn tập, luyện tập
Điều tra mức độ chuẩn bị của HS trong các tiết ôn tập, luyện tập Điều tra thái
độ của HS khi được tiếp cận, áp dụng các vấn đề thực tiễn trong học môn Hóa học Nội dung phiếu điều tra xem phụ lục số 1 và 2
1.5.4 Phân tích kết quả điều tra
1.5.4.1 Đối với GV
Với nội dung phiếu hỏi ở phụ lục 1, chúng tôi đã khảo sát 16 GV ở 2 trường THPT gồm: THPT Nguyễn Trãi - Tỉnh Bến Tre, THPT Chợ Gạo - Tỉnh Tiền Giang và thu được kết quả cụ thể qua các số liệu như sau:
Trang 35Câu 1 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của Thầy/Cô trong bài ôn tập, luyện tập như thế nào?
Các phương pháp dạy học
Mức độ Rất
thường xuyên
Thường xuyên
Thỉnh thoảng
Không
sử dụng
Sử dụng bài tập theo dạng hay
chủ đề
Sử dụng phương tiện trực
quan (máy chiếu, đồ dùng dạy
HS chưa có các kĩ năng, trình độ HS còn hạn chế 75,00% 25,00%
Nội dung bài học quá dài nên không đủ thời gian 87,50% 12,50%
HS thiếu các câu hỏi phân hóa theo mức độ nhận thức để
các em có thể làm theo đúng khả năng của mình
43,75% 56,25%
Các phương pháp và kĩ thuật mới GV áp dụng còn ít 31,25% 68,75% Các lí do khác
Trang 36Câu 4: Thầy/Cô đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển năng lực VDKT cho
HS như thế nào trong dạy học hóa học?
Rất quan trọng (25,00%) Quan trọng (56,25%) Bình thường (18,75%) Không quan trọng (0,00%)
Câu 5: Theo Thầy/Cô sự cần thiết và tính khả thi để tiến hành dạy học nhằm phát triển NL VDKT trong bài ôn tập, luyện tập
Rất cần
cần
Rất khả thi
Khả thi
Không khả thi
như một nội dung học tập
để người học trải nghiệm
tình huống trong lúc chơi từ
đó khám phá nội dung học
tập
50,00% 37,50% 12,50% 25,00% 43,75% 25,00%
Biện pháp khác (nếu có) : ………
Trang 37Qua bảng hỏi GV, chúng tôi nhận thấy:
- Mức độ sử dụng các PPDH trong DH dạng bài ôn tập, luyện tập : Các GV
chủ yếu sử dụng PPDH thuyết trình, đàm thoại Các PPDH hợp tác nhóm nhỏ, DH theo hợp đồng có ít GV sử dụng Về sử dụng sơ đồ tư duy, các phương tiện trực quan và sử dụng trò chơi trong DH tiết ôn tập, luyện tập rất ít GV sử dụng
- Những khó khăn của GV khi dạy bài ôn tập, luyện tập theo hướng tích cực
hóa người học: Phần lớn GV (87,50%) cho rằng nội dung kiến thức quá dài nên không
đủ thời gian, sự chuẩn bị ở nhà của HS về nội dung bài ôn tập, luyện tập chưa nhiều (75,00%), thiếu hệ thống câu hỏi theo mức độ nhận thức HS và câu hỏi thực tiễn (62,50%) Ngoài ra, nhiều GV nhận thấy việc áp dụng các PP và kĩ thuật mới trong DH tiết ôn tập, luyện tập chưa được sử dụng nhiều (68,75%)
- Đánh giá tầm quan trọng của việc phát triển năng lực VDKT cho HS trong dạy học hóa học: Tất cả GV đều thống nhất NL VDKT cần phát triển cụ thể: 25% GV
cho rằng rất quan trọng, 56,25% GV cho rằng quan trọng, chỉ có 18,75% xem việc phát
triển NL VDKT là bình thường như các NL khác trong quá trình DH
- Sự cần thiết và tính khả thi để tiến hành dạy học nhằm phát triển NL VDKT trong bài ôn tập, luyện tập
Đa số GV đều chú trọng việc sử dụng PPDH phù hợp (81,25%) Việc sử dụng bài tập phần lớn GV điều nhận thấy là cần thiết nhưng tính khả thi của các loại bài tập chưa được sự đồng ý cao của GV Việc sử dụng trò chơi DH để phát triển NL VDKT nhiều
GV cho rằng cần thiết (62,50%)
Nhận xét: Qua tổng hợp kết quả điều tra cho thấy chuyển biến tích cực là GV bắt
đầu quan tâm đến việc phát triển NL cho HS, nhưng vì nhiều lí do chủ quan lẫn khách quan, nhiều GV ngại cập nhật các PPDH và KTDH tích cực mới, vấn đề phát triển NL cho HS còn khá mới lạ với nhiều GV Hơn nữa, việc đánh giá kết quả học tập của HS vẫn nặng về điểm số, do đó việc phát triển NL cho HS (trong đó có NL VDKT) trong DHHH chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức
1.5.4.2 Đối với HS
Với nội dung phiếu hỏi ở phụ lục 2, chúng tôi đã khảo sát 160 HS ở hai trường THPT Nguyễn Trãi - Tỉnh Bến Tre và trường THPT Chợ Gạo - Tỉnh Tiền Giang, thu
Trang 38được kết quả bảng số liệu cụ thể như sau:
Câu 1: Em có thích các giờ học hóa học không?
Rất thích Thích Bình thường Không thích
(11,82%) (23,18%) (55%) (10,00%)
Câu 2: Em thường làm gì để chuẩn bị cho tiết ôn tập, luyện tập?
Làm trước phần bài tập (44,54%)
Đọc kĩ bài, Ghi lại những phần chưa hiểu (20,91%)
Đọc lướt qua phần bài tập (31,82%)
Câu 3: Em có thái độ như thế nào khi làm các bài tập liên quan đến các tình huống
thực tiễn trong cuộc sống trong sách giáo khoa hoặc Thầy/Cô giao cho?
Rất hứng thú, phải tìm hiều bằng mọi cách (14,10%)
Câu 5: Em có thường xuyên vận dụng kiến thức đã học để giải thích các hiện
tượng, sự vật, sự việc trong cuộc sống không?
Rất thường xuyên (10,91%) Thường xuyên (28,63%)
Thỉnh thoảng (52,27%) Không bao giờ (8,19%)
Câu 6: Trong tiết ôn tập, luyện tập GV có sử dụng trò chơi học tập không? Mức
độ như thế nào?
Câu 7: Hãy kể tên vài trò chơi dạy học mà em biết hoặc đã từng chơi?
(Ô chữ, chọn đáp án đúng, giải nhanh bài toán,…)
Qua các số liệu trên, chúng tôi nhận thấy:
- Thái độ của HS đối với môn Hóa hoc: Nhiều HS (55%) cảm thấy chưa hứng thú
với giờ học hóa học Chỉ 23,18% HS cảm thấy hứng thú, thích giờ học hóa học
Trang 39- Đa số HS có sự chuẩn bị cho giờ ôn tập, luyện tập: 44,54% HS làm trước bài tập ở nhà, 20,91% HS đọc trước bài và ghi lại những phần chưa hiểu và sau đó trình bày thắc mắc của mình với GV, bên cạnh đó vẫn còn 31,82% HS chỉ đọc lướt qua
phần bài tập và một phần nhỏ HS không chuẩn bị (2,73%)
- Thái độ của HS khi làm các bài tập liên quan thực tiễn: Đa số HS chưa hứng thú với việc tìm hiểu các kiến hóa học liên quan đến cuộc sống hàng ngày có 45,45% HS thấy lạ nhưng không muốn tìm hiểu; 30% HS có hứng thú muốn tìm hiểu; một phần nhỏ HS (14,1%) rất hứng thú, muốn tìm hiểu đến cùng
- Đa số HS thấy cần thiết phải hình thành và rèn luyện NL VDKT (khoảng 16,82% là rất cần thiết, cần thiết 68,63%, bình thường 12,27%, không cần thiết 2,28%)
- Mức độ thường xuyên VDKT hóa học vào thực tiễn: HS chưa thường xuyên so sánh kiến thức hóa học với các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày (52,27%
HS thỉnh thoảng mới có sự so sánh hoặc VDKT hóa học với thực tiễn)
- Mức độ sử dụng trò chơi DH trong tiết ôn tập, luyện tâp: HS ít được học tập bằng PP sử dụng trò chơi trong DH, cụ thể có 8,21% thường xuyên, 59,55% thỉnh thoảng
Nhận xét: Nhiều HS chưa thích giờ học môn Hóa học, phần lớn giờ ôn tập, luyện
tập HS học theo kiểu đối phó, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức và chưa được chú trọng phát triển các NL, trong đó có NL VDKT; việc sử dụng trò chơi trong DH tiết ôn tập, luyện tập ít được sử dụng Kết quả cũng cho thấy: Các em có nhu cầu và hứng thú với kiến thức nếu kiến thức đó được vận dụng để các em giải quyết các vấn đề trong học tập của bản thân và trong cuộc sống xung quanh các em
Trang 402 Nhiều GV đã ý thức được tầm quan trọng của việc đổi mới PPDH theo hướng phát triển NL cho HS nhưng còn thiếu hiểu biết căn bản và chưa có đủ kĩ năng để triển khai
Từ nghiên cứu ở chương 1 chúng tôi nhận thấy việc cung cấp cho GV hệ thống
cơ sở lí luận về PP và những hướng dẫn cụ thể để đổi mới PPDH theo định hướng phát triển NL VDKT là hết sức cần thiết Đây cũng là cơ sở để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu, đề xuất một số nội dung ở chương 2 góp phần phát triển NL VDKT cho HS THPT