Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)Văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện, nghiên cứu Các kết quả và số liệu tôi trình bày trong luận văn này là trung thực, không trùng với bất kì đề tài nào khác
Học viên
Tạ Thị Hoàng Yến
Trang 4Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô đã giảng dạy và đóng góp cho tôi trong quá trình học tập, thực hiện luận văn Đồng thời, tôi cũng bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô công tác tại Phòng Sau Đại Học trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tp Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 9 năm 2017
Học viên
Tạ Thị Hoàng Yến
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN XUÔI VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH 11
1.1 Người kể chuyện 11
1.1.1 Người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự 16
1.1.2 Người kể chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài 17
1.2 Các dạng người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính 19
1.2.1 Vai trò của người kể chuyện đồng sự 19
1.2.2 Vai trò của người kể chuyện dị sự 28
Tiểu kết 38
Chương 2 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI
VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH 39
2.1 Điểm nhìn trần thuật 39
2.1.1 Điểm nhìn zero 43
2.1.2 Điểm nhìn nội quan 43
2.2 Các dạng điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính 45
2.1.1 Điểm nhìn zero 45
2.2.2 Điểm nhìn nội quan cố định 50
2.3 Các motif thể hiện điểm nhìn trần thuật của Đình Kính về vấn đề chiến tranh 54
2.3.1 Từ motif con người khát khao đấu tranh giành lại độc lập 54
Trang 62.3.2 Motif con người thức tỉnh lên án chiến tranh 58
Tiểu kết 63
Chương 3 KHÔNG GIAN – THỜI GIAN TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI VIẾT VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH 64
3.1 Không gian trần thuật 64
3.1.1 Không gian trần thuật 64
3.1.2 Các dạng phối cảnh không gian trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính 69
3.2 Thời gian trần thuật 82
3.2.1 Thời gian trần thuật 82
3.2.2 Các dạng phối cảnh thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiền tranh của Đình Kính 85
3.3 Ý nghĩa của sự phối cảnh không gian – thời gian trong văn xuôi viết về đề tài chiến tranh của Đình Kính 92
3.3.1 Phản ánh hiện thực và lịch sử chiến tranh 92
3.3.2 Phản ánh tâm trạng của con người trong cuộc chiến và gợi mở nhiều suy niệm trong người đọc 96
Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Dù đang sống trong thời hòa bình nhưng văn học viết về chiến tranh vẫn là đề tài lớn, là mảnh đất màu mỡ không bao giờ cạn kiệt với cả người sáng tác lẫn bạn đọc, người nghiên cứu văn học Viết về chiến tranh để khẳng định rằng không ai muốn chiến tranh, đồng thời càng trân trọng hơn giá trị của hòa bình Điều đó có nghĩa là viết về đề tài chiến tranh không chỉ giúp con người hiểu về một thời lịch sử đã qua mà còn giúp giữ gìn và trân trọng những giá trị thiêng liêng, cao đẹp của con người
1.2 Vẫn là đề tài chiến tranh – một đề tài không mới cũng không cũ, nhưng tác giả Đình Kính đã mở rộng biên độ, khai thác nhiều vấn đề mới còn ẩn sâu trong lớp bụi thời gian Bản thân tác giả cũng từng là một người lính trận nên ông am tường và yêu thích viết về chiến tranh Ông chuyên viết về đề tài chiến tranh đặc biệt là về người lính biển – lĩnh vực chưa được nhiều nhà văn khai thác Bên cạnh đó, đề tài hậu chiến cũng được ông quan tâm khai thác trong các sáng tác của mình
Thông qua các tác phẩm của mình, Đình Kính đã góp tiếng nói riêng của mình về đề tài người lính biển, thân phận của con người trong chiến tranh Từ góc nhìn của một người lính, Đình Kính đã đào sâu thân phận con người trong chiến tranh, nhân danh quyền sống chính đáng của con người Ngòi bút của Đình Kính đã phơi bày sự hi sinh quả cảm của những người lính trực tiếp tham gia chiến tranh, sự mất mát của những người vợ, những người con trong gia đình
có người thân đi chiến trận
Các tác phẩm của Đình Kính đa dạng, trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, báo chí Các giá trị nội dung mà Đình Kính thể hiện trong sáng tác của mình là rất lớn Đồng thời, tác phẩm của Đình Kính còn là bài ca trong trẻo
về tình yêu, cuộc sống, những giá trị chân – thiện – mĩ
Trang 8Không phải ngẫu nhiên mà tiểu thuyết Sóng chìm đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam (2008) và Người của biển đạt giải thưởng Bộ quốc phòng
(1989) Cùng với hai tác phẩm này, các tác phẩm khác của nhà văn Đình Kính đều phản ánh hiện thực và con người trong chiến tranh
1.3 Tự sự học (Narratologie/Narratology) là một phân môn nghiên cứu cấu trúc diễn ngôn truyện kể Tự sự học vừa kế thừa được những thành tựu ưu việt của các lĩnh vực nghiên cứu ra đời trước nó (rõ nét nhất là cấu trúc luận và thi pháp học) vừa có sự đóng góp, phát hiện thiên tài của các nhà khoa học hàng đầu như Roland Barthes, Genette, Todorov, Chatman, Rimon Kenan, H White, Tính hiệu quả của nó trong nghiên cứu văn chương đã được chứng thực trên phạm vi toàn thế giới và vẫn là một trong những phương pháp khoa học được áp dụng rộng rãi
Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên tập trung nghiên cứu vai trò của người trần thuật trong việc “can dự” vào cấu trúc văn bản, nói đúng hơn là “quá trình vận hành” của một cấu trúc truyện kể Như vậy, có thể thấy rằng việc ứng dụng hệ thống lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn học không chỉ giúp khám phá cấu trúc nội tại của tác phẩm mà còn chỉ ra vai trò, những đóng góp của nhà văn, với tư cách là người sáng tạo, người kể chuyện
Mặc dù chuyên ngành tự sự học đã trải qua hai giai đoạn là tự sự học kinh điển (narratologie classique) và tự sự học hậu kinh điển (narratologie post- classique) nhưng ở Việt Nam hiện nay, tự sự học vẫn đang là khuynh hướng nghiên cứu đang có tính thời sự Nó đã và đang là một hướng nghiên cứu mới vừa hấp dẫn, vừa phức tạp trong giới lí luận – phê bình, đặc biệt tại các trường đại học của nước ta
Như vậy, trước nhu cầu nghiên cứu về lĩnh vực tự sự học, cũng như những đặc sắc về giá trị nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Đình Kính, chúng tôi mạnh dạn đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đề tài: “VĂN XUÔI VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH” Đề tài mang ý nghĩa của sự vận dụng lí thuyết tự
Trang 9sự học vào việc nghiên cứu văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Hi vọng, đề tài của chúng tôi sẽ có một đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu văn xuôi
về chiến tranh của Đình Kính
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Người viết tiến hành vận dụng lí thuyết tự sự học và các phạm trù tự sự học vào việc tìm hiểu nghiên cứu cấu trúc văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Cụ thể là tập trung nghiên cứu về người trần thuật, điểm nhìn trần thuật và không gian – thời gian trong các sáng tác văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát và nghiên cứu tác phẩm văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính qua các văn bản sau đây:
Sóng của sông (1976), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Đảo mùa gió (1981), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Những người đổ bộ (1981),Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Người của biển (1985), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội
Sóng chìm (2007), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội (in lần thứ 2)
Đây là các tác phẩm văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính mà chúng tôi
sẽ khảo sát, nghiên cứu
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Về lịch sử nghiên cứu Đình Kính và các sáng tác của ông
Đình Kính bắt đầu xuất hiện trên văn đàn vào những năm cuối của thập niên 70, với những tác phẩm văn xuôi viết về chiến tranh phản ánh những hi sinh, mất mát của những con người, những số phận Bên cạnh đó, Đình Kính cũng có những tác phẩm viết về đề tài thế sự
Trang 10Nhận định về văn xuôi Đình Kính, nhất là về mảng đề tài chiến tranh, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào hoàn chỉnh và đầy đủ Đa số tài liệu tham khảo mà chúng tôi có được chỉ là những bài phòng vấn, giới thiệu tác giả, tác phẩm và bài viết, bài báo nhỏ lẻ (ở dạng cảm nhận, nhận xét) được đăng tải ở một số trang điện tử trên Internet Có thể kể ra một số bài tiêu biểu
như: Đọc tiểu thuyết Sóng chìm của Đình Kính (Bài của Hoài Khánh trên
http://hoaikhanh.vnweblogs.com/a84229/doc-tieu-thuyet-song-chim-cua-dinh-kinh.html), Đọc hai góc nhìn tiểu thuyết Sóng chìm của Đình Kính (Bài đăng
http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=9159),
bài phỏng vấn nhà văn Đình Kính: Đề tài biển đảo trong văn học – Không chỉ
giờ mới nóng trên trang
http://vov.vn/van-hoa/van-hoc/de-tai-bien-dao-trong-van-hoc-khong-chi-gio-moi-nong-326687.vov, bài phỏng vấn Nhà văn Đình
Kính: chỉ sợ tác phẩm rơi vào khoảng trống của Trần Thanh Hà đăng trên
trang
http://vnca.cand.com.vn/Tu-lieu-van-hoa/Nha-van-Dinh-Kinh-Chi-so-tac-pham-roi-vao-khoang-trong-326663/
Nhà văn Hào Vũ nhận xét về tiểu thuyết Sóng chìm: Khai thác sự bất ngờ ngẫu nhiên mang đầy tính bi kịch nhà văn Đình Kính đã thành công khi khắc hoạ hình tượng nhân vật trong Sóng chìm mang đến cho người đọc một hiểu biết mới một cách nhìn mới về một sự kiện lâu nay tưởng như đã cũ Đường Hồ Chí Minh trên biển Ông cho rằng thủ pháp bất ngờ ngẫu nhiên mang đầy tính bi
kịch là một khía cạnh đặc sắc của tác phẩm này Dưới góc nhìn của nhà văn Hào
Vũ: Đình Kính không chỉ kể lại chiến công thầm lặng của những chiến sĩ cách
mạng họat động trong lòng địch Với cảm quan của một nhà văn anh đã cố gắng đưa ra một cái nhìn cao hơn các sự kiện cái nhìn về thân phận con người trong chiến tranh (http://hoaikhanh.vnweblogs.com/a112079/tieu-thuyet-song-chim-
dang-noi-giua-dong-du-luan.html)
Nhà văn Cao Năm nhận định: Với Sóng chìm, Đình Kính không đi sâu
vào miêu tả những chiến sĩ cán bộ vượt qua khó khăn mà mở rộng tầm tư tưởng
Trang 11tác phẩm bằng việc thông qua nhân vật của mình thể hiện sâu đậm tình cảm cao
đẹp và sự hi sinh vô bờ bến của đồng bào chiến sĩ hai miền Nam - Bắc Không
biết có nhà văn nào ở ta tâm huyết với đề tài biển và người lính biển hơn nhà văn Đình Kính nhưng quả là đến thời điểm này anh là người lập kỉ lục về tác phẩm văn học viết về biển và người lính biển với một chùm ngót chục đầu sách gồm nhiều thể loại tiểu thuyết truyện ngắn bút kí và mấy kịch bản phim truyền hình nhiều tập Chỉ một con Đường Hồ Chí Minh trên biển ngoài tập bút kí mấy trăm trang Đi tìm dấu tích con đường (2004) "Thâm canh" như thế trên một mảnh đất tưởng cũng khó có thể cày xới gì thêm vậy mà Đình Kính vẫn cày xới
mà còn cày xới tơi xốp đến độ quánh đặc phù sa như thể mảnh đất mới lần đầu khai phá (http://hoaikhanh.vnweblogs.com/a112079/tieu-thuyet-song-chim-
dang-noi-giua-dong-du-luan.html)
Nhà văn Cao Năm với bài đăng trên báo Văn nghệ công an (tháng 1 năm
2011) đã giới thiệu, nhận định, đánh giá về cuốn tiểu thuyết Biển trổ hoa vàng, một cuốn tiểu thuyết về đề tài tình yêu của Đình Kính: “Vẫn chung thủy với đề
tài về biển và những người đi biển, nhưng lần này, với tiểu thuyết "Biển trổ hoa vàng", nhân vật chính của nhà văn Đình Kính lại là những người gác đèn biển nơi đảo xa Qua đó, anh đã mang đến cho người đọc một câu chuyện tình nhiều
ý nghĩa nhân sinh”
(http://vnca.cand.com.vn/Ly-luan/Khong-tron-duoc-tinh-yeu-328584)
Nhà văn Nguyễn Long Khánh đánh giá, với tiểu thuyết Sóng chìm, Đình
Kính đã xây dựng thành công các nhân vật sử thi anh hùng trong cuộc chiến
tranh thầm lặng Đây cũng là cuốn tiểu thuyết đánh giá tài năng và vốn sống
phong phú của Đình Kính thieu/3170-2016-09-08-07-13-02.html)
(http://www.vanhaiphong.com/van-hai-phong-gioi-Nhìn chung, các bài viết và công trình nêu trên đã có những nhìn nhận, đóng góp nhất định vào việc phát hiện những sáng tạo trong bút pháp của tác giả Tuy nhiên, những ý kiến nhận xét về các phương diện khác nhau của mảng
Trang 12đề tài văn xuôi chiến tranh Đình Kính chỉ mới dừng lại mức đánh giá khái quát chứ chưa có sự lí giải một cách triệt để và hệ thống
Những ý kiến trên là những gợi ý quý giá giúp chúng tôi có thêm cơ sở lí luận để giải mã giá trị tác phẩm của nhà văn Với một khía cạnh khám phá riêng biệt, luận văn này muốn tổng hợp nhận định từ những công trình bài viết nói trên để có cái nhìn toàn diện, thấu đáo về một số vấn đề trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, lấy nghệ thuật tự sự làm đối
tượng nghiên cứu, bài viết khẳng định đây là lĩnh vực thu hút sự quan
tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trên thế giới;
Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển của Trần Đình Sử, tác
giả dẫn ra lịch sử nghiên cứu về tự sự học qua các giai đoạn từ thời cổ
đại, đầu thế kỉ XIX cho đến nay; Tự sự học: tên gọi, lược sử và một số
vấn đề lí thuyết của Lê Thời Tân bao gồm các nội dung lược sử về tự
sự học, một số vấn đề lí thuyết của tự sự học hiện đại; Bàn về một vài
thuật ngữ trong kể chuyện của giáo sư Đặng Anh Đào, bao gồm các
thuật ngữ như người kể chuyện, điểm nhìn, tiêu điểm, ngôi kể, giọng
kể ; Lí thuyết tự sự học của Mieke Bal của Nguyễn Thị Ngọc Minh,
bài viết góp phần giới thiệu lí thuyết tự sự học ở nhiều phương diện, cung cấp những lí thuyết hữu hiệu giúp người đọc có cái nhìn sâu sắc
về tự sự học
- Dẫn luận về tự sự học của Sussana Onega và T.A.Garcia Landa, Lê
Lưu Oanh và Nguyễn Đức Nga dịch và tóm lược Đây là công trình
Trang 13dịch thuật tổng quan về tự sự học, với các bài giới thiệu về tự sự học, cấu trúc trần thuật trong tự sự học, các trường phái nghiên cứu tự sự học ở phương Tây: cổ điển và hiện đại [66]
Những bài viết trên đã góp phần giới thiệu tình hình nghiên cứu tự sự học ở nước ngoài như Châu Âu, Mĩ vừa bước đầu thấy được tình hình nghiên cứu tự
sự học ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có thêm cơ
sở, phương pháp nhất định để vận dung vào lí thuyết tự sự học vào nghiên cứu văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Tuy nhiên, theo tiến sĩ Trần Huyền Sâm thì các công trình lí luận cơ bản về lí thuyết tự sự học vẫn chưa được dịch thuật một cách hệ thống Nhiều vấn đề về các thuật ngữ, khái niệm, cấu trúc truyện kể như ngôi kể, điểm nhìn trần thuật, phối cảnh trần thuật, không gian, thời gian vẫn còn phức tạp, gây nhiều tranh cãi ở Việt Nam Đây là một khó khăn lớn trong việc nghiên cứu tự sự học ở nước ta
3.3 Về các công trình vận dụng tự sự học để nghiên cứu
- Trần thuật từ điểm nhìn bên trong ở tiểu thuyết Việt Nam đương đại của
Thái Phan Vàng Anh [64] Tác giả vận dụng các lí thuyết về điểm nhìn, đặc biệt là về điểm nhìn bên trong vào việc vận dụng nghiên cứu một số tiểu thuyết Việt Nam đương đại
- Người kể chuyện và mối quan hệ giữa người kể chuyện với tác giả của Cao
Kim Lan [65] Mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả được tác giả làm sáng rõ qua việc vận dụng các lí thuyết này vào những tác phẩm cụ thể
- Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nam Cao của Phạm Thị Lương
[41] Tác giả làm rõ các phương diện trần thuật: người kể chuyện, điểm nhìn trong sáng tác của nhà văn Nam Cao
- Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh dưới góc nhìn tự sự học của Nguyễn Thị
Yên Hà [22] Tác giả nghiên cứu tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh từ góc
độ tự sự học trên các phương diện: người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật
Trang 14- Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu của
ba nhà văn nữ) của Hoàng Dĩ Đình [21] Dựa trên các lí thuyết về tự sự
học, tác giả đi sâu vào đặc trưng ngôn ngữ trần thuật và người kể chuyện trong sáng tác của ba nhà văn nữ: Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo và Nguyễn Thị Thu Huệ
Như vậy, hiện chưa có công trình nào ở nước ta đi sâu nghiên cứu toàn diện văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính từ góc độ tự sự học
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng những hướng tiếp cận, phương pháp sau đây:
Phương pháp nghiên cứu tự sự học: ngưởi viết tiến hành vận dụng lí thuyết tự sự học với các phương diện nổi bật như: người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, không gian – thời gian trần thuật; đồng thời lấy đó làm tiền đề cho việc tìm hiểu đặc điểm, tính chất, hiệu quả nghệ thuật trong các tác phẩm văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
Phương pháp cấu trúc – hệ thống: Giải mã cấu trúc văn bản từ 3 góc độ: Thi pháp học, cấu trúc học và tự sự học, nhất là góc nhìn tự sự học Các phương diện nổi bật trong các sáng tác văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính từ góc độ
tự sự học được tìm hiểu trong tiến trình hệ thống – cấu trúc của tác phẩm theo phạm vi của đề tài
Phương pháp so sánh: Tiến hành so sánh với tác phẩm của một số nhà văn như Bảo Ninh, Nguyễn Minh Châu, Trung Trung Đỉnh, Văn Lê ở những vấn đề liên quan nhằm phát hiện, khẳng định những nét đặc sắc riêng biệt trong tác phẩm của Đình Kính
Phương pháp liên ngành: bên cạnh việc dùng lí thuyết tự sự học là cơ bản, chúng tôi vận dụng những kiến thức về phân tâm học, xã hội học, triết học hiện sinh, lí thuyết của chủ nghĩa hiện đại để phân tích, hệ thống nhằm phát
Trang 15triển và hoàn thiện hơn đặc trưng nghệ thuật liên quan tự sự học trong văn xuôi
về chiến tranh của Đình Kính
Phương pháp loại hình: luận văn xem xét truyện và tiểu thuyết của Đình Kính như một loại hình văn học
5 Đóng góp của luận văn
5.1 Về mặt lí thuyết
Luận văn là công trình ứng dụng lí thuyết tự sự học trong việc tìm hiểu văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Vì vậy, luận văn sẽ ít nhiều đóng góp thêm cho việc vận dụng tự sự học trong nghiên cứu nghệ thuật văn chương
Luận văn góp phần tìm hểu sâu sắc hơn về văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính dưới góc độ tự sự học Trên cơ sở đó, luận văn đã làm rõ những đặc điểm về vai trò của người kể chuyện, điểm nhìn trần thuật, không gian – thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
5.2 Về mặt thực tiễn
Dưới góc độ tự sự học, luận văn góp phần khẳng định phong cách sáng tác của Đình Kính Từ đó khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật của các tác phẩm của Đình Kính
Thông qua luận văn này, chúng tôi hi vọng có thể góp phần làm rõ những giá trị nghệ thuật trong sáng tác văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
Với luận văn này, chúng tôi mong muốn đặt lên những viên gạch góp phần định hướng trong việc tiếp nhận, nghiên cứu đặc điểm văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính từ góc độ tự sự học
Với những đóng góp đó, chúng tôi tin đây sẽ là một tài liệu tham khảo cho những ai có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu về tác giả Đình Kính
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Mở đầu và Kết luận, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Chương này có nội dung từ trang 11 đến trang 39 (bao gồm 28
Trang 16trang), trình bày các lí thuyết của các nhà nghiên cứu về người kể chuyện và nghiên cứu các dạng người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính, đó là người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự
Chương 2: Điểm nhìn trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Chương này có nội dung từ trang 40 đến trang 64 (bao gồm 24 trang), trình bày các lí thuyết, quan điểm về điểm nhìn trần thuật của các nhà nghiên cứu, các dạng điểm nhỉn trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kinh, đó là điểm nhìn zero và điểm nhìn nội quan cố định
Chương 3: Không gian – thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính Chương này có nội dung từ trang 65 đến trang 99 (bao gồm 34 trang), bao gồm 2 mục lớn là không gian trần thuật và thời gian trần thuật trong văn xuôi về chiên tranh của Đình Kính Ở mỗi mục người viết đều trình bày các lí thuyết nền tảng về không gian và thời gian đồng thời tìm ra đặc trưng cơ bản của không – thời gian trong các sáng tác văn xuôi của Đình Kính
Trang 17Chương 1 NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG VĂN XUÔI
VỀ CHIẾN TRANH CỦA ĐÌNH KÍNH 1.1 Người kể chuyện
Người kể chuyện – narrator – là một trong phạm trù cơ bản của tự sự học Người kể chuyện là thuật ngữ quan trọng khi giải mã tác phẩm văn học Một truyện kể không thể tồn tại nếu thiếu người kể chuyện, mặc dù vai trò và các hình thức của người kể chuyện trong truyện kể vô cùng phong phú, linh hoạt Trong bất kì tác phẩm truyện kể nào, người kể chuyện đồng thời vừa là người giữ vai trò giới thiệu, dẫn dắt câu chuyện, vừa là người điều khiển nhận định về câu chuyện, chi phối ngôn ngữ của nhân vật Điều đó có nghĩa rằng đề cập đến vai trò của người kể chuyện cũng là đề cập đến nhiều yếu tố liên quan đến tiến trình vận động trong cấu trúc nội tại của tác phẩm nghệ thuật Cho nên, vai trò của người kể chuyện không chỉ là một yếu tố trong truyện mà còn là công cụ, một phương tiện để nhận thức thế giới nghệ thuật
Theo 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn, “Trần thuật tự
sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả, loại người chứng kiến và giải thích về những
gì đã xảy ra Ngôi này thường được gọi là ngôi “thứ ba” và thông thường là
“vô hình”, “phi nhân cách hóa” Đồng thời, người trần thuật có thể bị “cô đặc” lại thành một vai cụ thể để trở thành người kể chuyện hoặc nhân vật kể chuyện Lời trần thuật không chỉ mô tả đối tượng phát ngôn mà còn mô tả ngay
cả kẻ mang lời nói; hình thái tự sự đánh dấu lối nói và lối nói tri giác thế giới, đánh dấu nét độc đáo của ý thức người trần thuật” [5, tr.360]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “người kể chuyện là hình tượng ước lệ về
người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình tượng của chính tác giả, có thể là nhân vật đặc biệt do tác giả sáng tạo ra hoặc có thể
Trang 18là một người biết một câu chuyện nào đó” Và “không phải bao giờ cũng có thể đồng nhất người trần thuật với bản thân tác giả” “Một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện” [23, tr.191]
W.Kayser đã khẳng định: “Người kể chuyện – đó là một hình hài đã được
sáng tạo ra, thuộc về toàn bộ chỉnh thể tác phẩm văn học, “ở nghệ thuật kể, không bao giờ người trần thuật là vị tác giả đã hay chưa nổi danh, nhưng là cái vai mà tác giả bịa ra và chấp nhận” [31, tr.245] R.Barthes đưa ra quan điểm:
“người trần thuật và các nhân vật về thực chất là những “sinh thể trên giấy”, không ai có thể nhầm lẫn tác giả của câu chuyện với người trần thuật lại câu chuyện ấy” [31, tr.245] Quan điểm này cho thấy người kể chuyện không mang
tính chất hình thức, dừng lại ở phần thông tin mà tác giả sáng tạo ra chứ chưa thực sự mang ý nghĩa mà tác giả chuyển tải Người kể chuyện theo quan điểm này đối lập với khái niệm “tác giả thực”, “tác giả cụ thể”
Các nhà trần thuật học viết tiếng Anh phân biệt “trần thuật cá nhân” – ngôi thứ nhất của người kể chuyện vô danh hay của một nhân vật nào đó và “trần thuật phi cá nhân” – trần thuật nặc danh từ ngôi thứ ba Còn các nhà nghiên cứu viết tiếng Pháp thì phủ nhận điều ấy, họ cho rằng về nguyên tắc không thể có
“trần thuật cá nhân” Vì họ cho rằng, phải có người “nắm lấy” ngôn từ và dẫn dắt câu chuyện hoặc khi nhân vật lên tiếng thì vai trò của người trần thuật lúc này là sự ủy thác cho nhân vật quyền dẫn dắt câu chuyện Bà M.L.Ryan cho
rằng: “sự có mặt của người trần thuật là điều nhất thiết phải có trong bất kì văn
bản nào, mặc dù ở một số trường hợp nó có thể có một mức độ tính cá nhân, còn
ở một số trường hợp khác, tính cá nhân hoàn toàn bị loại trừ” [31, tr.247]
Phùng Văn Tửu trong công trình tiểu thuyết trên con đường đổi mới nghệ thuật còn đặt ra vấn đề tách riêng “người kể chuyện” và “người viết chuyện” như một thủ pháp nghệ thuật nhằm làm tăng thêm bình diện cho tác phẩm khiến cho câu chuyện vừa sinh động hơn, vừa thật hơn Tác giả công trình đã nhận xét
rằng: “vậy là ngoài “người viết chuyện” là nhà văn, còn có “người kể chuyện”
Trang 19chẳng biết có phải là nhà văn hay không và “người kể chuyện” trung gian phiếm chỉ “người ta”, vì câu chuyện chắc đã truyền qua miệng nhiều người trước khi nhân vật “người kể chuyện” chưa hẳn đồng nhất với tác giả - kể lại với bạn đọc” [62, tr.39]
Tz Todorov đánh giá cao vai trò của người kể chuyện Ông cho rằng:
“Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng Không thề có trần thuật nếu thiếu người kể chuyện Người kể chuyện không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó cuốn sách được
kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt ” [53, tr.75-77] “Người kể chuyện không thể được gọi tên, nếu anh ta có tên, thì sau cái tên đó không có ai cả”
[53, tr.117] Thống nhất với quan điểm đó, R.Barthes cho rằng: “Người kể
chuyện và những nhân vật của anh ta bản chất là thực thể trên mặt giấy”; tác giả (thực tế) của văn bản không có điểm gì chung với người kể chuyện”
[53, tr.117]
Nhìn chung, quan điểm này gần như cô lập hoặc tuyệt đối về vai trò của người kể chuyện khi không thiết lập nên mối quan hệ giữa người kể chuyện và tác giả Bởi đằng sau người kể chuyện là ý thức của nhân vật, của người kể chuyện và của cả tác giả Người kể chuyện xuất hiện trong tác phẩm là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả người kể chuyện mang tính cách cũng như một hình tượng do tác giả sáng tạo ra Cho nên, thái độ, tư tưởng của người kể chuyện cũng có thể là thái độ, quan điểm của tác giả nhưng không bao giờ trùng khớp hoàn toàn
G Genette là người chủ trương trong nghiên cứu cấu trúc nội tại của tác phẩm tự sự Cho nên, vấn đề người kể chuyện được ông đặt trong sự tương quan với các yếu tố khác như tiêu cự, tiêu điểm, thức, giọng, tần suất Ông rằng, để lí giải cách thức một câu chuyện được kể như thế nào phải phân biệt giữa giọng và thức Các công trình của ông được nhiều sự ủng hộ và vận dụng của các nhà
Trang 20nghiên cứu
Xuất phát từ giọng, Genette đưa ra bốn kiểu người kể chuyện tương ứng với kiểu người kể chuyện Đó là: người kể chuyện bên trong (intradiegetic narrator), người kể chuyện bên ngoài (extradiegetic narrator), người kể chuyện
dị sự (hetrotradiegetic narrator) và người kể chuyện đồng sự (homodiegetic narrator) Sự phân biệt này được xác định cụ thể trong mối liên hệ giữa người kể chuyện với nhân vật bằng cách xác lập tiêu điểm và tiêu cự Theo G Genette, khái niệm tiêu điểm đặt ra vấn đề câu chuyện đó do ai kể và đứng ở vị trí nào kể
Từ đây, ông đưa ra ba kiểu người kể chuyện để xác định vai trò của người kể chuyện Kiểu kể chuyện có tiêu điểm bằng không – zero focalization – chỉ người
kể chuyện đứng bên ngoài nhưng là người biết tuốt, toàn tri, có vai trò như thượng đế biết hết mọi việc trong nhân sinh, quá khứ, hiện tại và tương lai Kiểu
kể chuyện có tiêu điểm bên trong còn gọi là nội tiêu điểm (internal focalization) người kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật trong truyện Kiểu kể chuyện này chia làm ba dạng cụ thể đó là dạng cố định, khi người kể chuyện là một nhân vật trong truyện kể lại mọi việc; dạng bất định, khi nhiều nhân vật kể những chuyện khác nhau; dạng đa thức, khi nhiều nhân vật cùng kể về một sự việc Kiểu truyện có tiêu điểm bên ngoài (external focalization) là người kể chuyện nằm ngoài câu chuyện kể lại tình tiết truyện một cách khách quan, không đi sâu vào tâm lí nhân vật
Trong khi đó, R Scholes và R Kellogg lại chú ý đến mối quan hệ giữa người kể chuyện và thế giới được kể, với các nhân vật, sự kiện R Scholes và R Kellogg đã xác lập vai trò của người kể chuyện truyền thống, sử quan, chứng nhân và người kể chuyện toàn tri Tùy thuộc vào từng loại truyện kể mà vai trò
và quyền năng của người kể chuyện được xác định Lúc dó, người kể chyện xác định chỗ đứng của mình và chi phối các sự kiện, tình huống truyện
W Booth trong Tu từ học tiểu thuyết đã đề cập đến những vấn đề liên quan
đến tác giả, người kể chuyện, sự lựa chọn kiểu người kể chuyện Từ đó, ông chia
Trang 21người kể chuyện thành người kể chuyện không hiện diện và người kể chuyện hiện diện Và tất nhiên, khi người kể chuyện không hiện diện thì trong toàn bộ câu chuyện vẫn có sự hiện diện và chi phối của anh ta Lúc này, người kể chuyện như một bản ngã thứ hai của tác giả hàm ẩn Ở kiểu người kể chuyện hiện diện xuất hiện ở ngôi thứ nhất, người kể chuyện có thể là nhân vật chính hoặc nhân vật phụ, là một hoặc nhiều nhân vật xuất hiện trong câu chuyện
Như vậy, nếu Genette nghiên cứu người kể chuyện trong cấu trúc văn bản,
R Scholes và R Kellogg đặt người kể chuyện theo hướng lịch đại của tiến trình phát triển văn học thì W Booth chọn tác phẩm hư cấu nghệ thuật để nghiên cứu
về người kể chuyện Sự đa dạng quan niệm về người kể chuyện và kiểu người kể chuyện cho phép chúng ta có điều kiện nhìn rộng hơn về đối tượng này trước khi bước vào thế giới hấp dẫn của truyện kể Khi tiếp cận một tác phẩm truyện kể,
chúng ta vẫn thường tự đặt câu hỏi: Ai là người kể chuyện? Người kể chuyện
xuất hiện ra sao? Vai trò của người kể chuyện như thế nào? Quan hệ giữa người kể chuyện và các nhân vật khác? Điểm nhìn của người kể chuyện? Vấn
đề đặt ra là tiếp cận người kể chuyện và “điểm nhìn” của người kể chuyện được xem xét trong mối quan hệ với tác giả Vì nói theo M Bakhtin, người đọc có thể
“đoán được âm sắc của tác giả qua đối tượng của câu chuyện kể, cũng như chính câu chuyện và hình tượng người kể chuyện bộc lộ trong quá trình kể”
[53, tr.123] M L Ryan đề xuất mô mình tiếp nhận người kể chuyện như là kết
quả của hành vi “phi cá nhân hóa” Tức là chỉ đến sự biến hóa của tác giả khi
quá trình thực hiện hành vi ngôn từ đi vào văn bản được truyền cho nhân vật –
“kẻ phát ngôn được thay thế” Lúc này, người đọc nhận ra mối quan hệ của
người kể chuyện với thế giới thực tại và tác giả và thấy rằng: “không tự bắt buộc
phải tin rằng dường như người kể chuyện được thông báo trong trần thuật là có thực, mặc dù chính những sự kiện ấy được thông báo bằng chính những kiểu câu mà ta thường dùng để kể về trạng thái thực sự của sự vật [31, tr.246] Nhất
là người kể chuyện còn được đặt trong mối quan hệ mật thiết với tác giả và điểm
Trang 22nhìn trần thuật Trong cấu trúc trần thuật, nhân vật và sự kiện được thể hiện từ điểm nhìn bên trong và cả điểm nhìn bên ngoài của tác giả Mặc dù có những câu chuyện, đằng sau nó là khoảng trống, không có một kết thúc cụ thể, nhưng người đọc vẫn không hiểu ra, vẫn đồng sáng tạo cùng tác giả Nói như Genette,
“Câu chuyện bao giờ cũng nói ít hơn là điều nó biết, nhưng lại khiến cho người
ta biết nhiều hơn cái nó nói” [53, tr.117]
Trong cấu trúc truyện kể, chúng tôi lưu ý đến dạng người kể chuyện sau:
1.1.1 Người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự
Dựa vào mức độ tham gia vào truyện của người kể chuyện, Genette xác lập hai kiểu người kể chuyện: người kể chuyện đồng sự và người kể chuyện dị sự
1.1.1.1 Người kể chuyện đồng sự
Người kể chuyện đồng sự (hemodiegetic narrtor) là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, lộ diện, công khai Câu chuyện được kể lại bởi người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện Người kể chuyện là một nhân vật ở cấp độ hành động: là một nhân chứng đồng sự vừa thuật truyện vừa đồng thời tham gia vào câu chuyện mà nó kể lại Vì vậy, nó luôn ở cấp độ hành động, chứng kiến,
nếm trải nên còn được gọi là “cái tôi trải nghiệm ở cấp độ hành động”
[48, tr.267]
Bằng phương thức lộ diện, trần thuật lộ diện, diễn ngôn nhân vật xưng tôi thường hướng sự chú ý của người đọc vào chính mình Các dấu hiệu của nó thường thể hiện ở cách sử dụng các biện pháp tu từ, sự bộc lộ cảm xúc chủ quan Tức là nó có xu hướng giải minh bản thân của cái tôi Chính vì tính chất chứng kiến với tư cách vai trò đồng lõa, hay đồng sự, mà nhân vật trần thuật bị hạn chế tầm nhìn Nó chỉ kể điều nó biết, nó chứng kiến, không thể nói thêm điều gì ngoài nó
Mặc dù tầm nhìn của nhân vật trần thuật bị hạn chế nhưng ngưởi kể chuyện lại có lợi thế bộc lộ chiều sâu nơi nội tâm của chính mình cũng như của các nhân vật tương quan Việc thay đổi hình thức trần thuật từ ngôi thứ ba – toàn năng,
Trang 23thượng đế trong văn học cổ điển, đến việc sử dụng ngôi thứ nhất, trần thuật công khai, vừa chủ quan, vừa khách quan đã cho thấy khả năng khám phá chiều sâu của con người cá nhân trong văn học, R Barthes gọi đó là cuộc hành trình giải phóng từ con người chức năng sang con người cá thể - bản thể
1.1.1.2 Người kể chuyện dị sự
Theo Genette, người kể chuyện dị sự (heteroiegetic narrator) được hiểu là
sự trần thuật ở ngôi thứ ba, tức câu chuyện được kể lại bởi một người không phải nhân vật trong truyện Tác phẩm có người kể chuyện dị sự thường là trần thuật công khai, dấu mặt Ta thấy người kể chuyện đứng sau nhân vật, sau mọi
sự kiện, biến cố để bài trí, tổ chức, sắp xếp câu chuyện
Có hai dạng dị sự là dị sự toàn năng và dị sự hạn định Trong đó dị sự toàn năng tức là không hạn chế điểm nhìn trần thuật Thông thường, với dạng người
kể chuyện dị sự toàn năng, người kể chuyện lớn hơn nhân vật, tiêu cự trần thuật bằng không Ở dạng này, người kể chuyện không bị hạn chế tầm nhìn nhân vật
và mọi hành vi của nhân vật đều bị khống chế và kiểm chứng bởi tính chất toàn năng của người kể chuyện Còn dị sự hạn định lại hạn chế tầm nhìn trần thuật và thông thường thì chỗ đứng của người kể chuyện ngang bằng, thậm chí nhân vật không bị khống chế Dạng này phát huy vai trò của người kể chuyện hàm ẩn: điểm nhìn đa chiều và rất khó xác định rõ ràng giọng điệu người trần thuật
1.1.2 Người kể chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài
Dựa vào việc xác định khởi nguồn nơi truyện kể ra đời, Genette phân biệt hai kiểu người kể chuyện, người kể chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài
1.1.2.1 Người kể chuyện bên trong
Khi tác giả đóng vai trò là người kể chuyện Lúc này tác phẩm có người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, xưng “tôi” Với trần thuật ở ngôi thứ nhất, tác giả viết
về những điều bản thân đã trải qua, đã chứng kiến, nếm trải, chiêm nghiệm Chúng ta gặp kiểu người kể chuyện bên trong tác phẩm tự truyện hoặc mang
Trang 24dáng dấp của tự truyện Khi đó, việc sử dụng ngôi thứ nhất không phải là tùy hứng mà gắn với nhu cầu khách quan của thời đó Nghĩa là, thời đại xảy ra nhiều biến động gắn với những vấn đề hệ trọng của con người luôn đặt ra yêu cầu các truyện không phải là truyện kể về sự thật, phản ánh trung thành hiện thực đời sống Trong những truyện như thế, để thu hút sự chú ý của người đọc, tác giả cho mình quyền lí giải, thẩm định tất cả theo tính chủ quan
Nhân vật xưng “tôi”có thể là tác giả hoặc nhân vật trong truyện Lời trần thuật ở đây vừa là ngôn ngữ của tác giả vừa là ngôn ngữ của nhân vật Tác giả vừa là lời trực tiếp vừa là lời gián tiếp
1.1.2.2 Người kể chuyện bên ngoài
Khi tác giả kể lại câu chuyện dưới hình thức một người kể chuyện do tác giả sáng tạo ra, thường xuất hiện ở ngôi thứ ba Người kể chuyện bên ngoài khó xác định hơn người kể chuyện bên trong, bởi người kể chuyện bên ngoài có thể nằm bên ngoài bất kì một truyện nào, không phải nhân vật Lời trần thuật ở đây không mang tính khách quan hóa và trung tính Theo Bakhtin, lời trần thuật gián tiếp này có thể chia làm hai loại Loại thứ nhất là gián tiếp một giọng, là lời trần thuật tái hiện, phẩm bình các hiện tượng của thế giới trong ý nghĩa khách quan vốn có của chúng Loại thứ hai là lời trần thuật gián tiếp hai giọng, là lời trần thuật có hấp thu lời nhân vật, nghĩa là trong phát ngôn của người trần thuật có cả lời trực tiếp hay những suy tư gián tiếp của nhân vật Loại thứ hai này cho phép tác giả di chuyển “điểm nhìn trần thuật” và tạo nên tính chất đa thanh trong ngôn ngữ trần thuật Ở đó, có khi điểm nhìn di chuyển từ phía tác giả sang phía nhân vật, có khi chuyển từ bên ngoài vào bên trong, và ngược lại Vì thế, trong tác phẩm truyện rất khó phân biệt chủ thể trần thuật, không thể tuyệt đối hóa việc chia trần thuật của tác giả với trần thuật của nhân vật Nói cách khác, trong truyện luôn diễn ra sự nhập nhằng giữa hai kiểu người kể chuyện bên trong và người kể chuyện bên ngoài
Trang 251.2 Các dạng người kể chuyện trong văn xuôi về chiến tranh của Đình Kính
1.2.1 Vai trò của người kể chuyện đồng sự
1.2.1.1 Người kể chuyện đồng sự
Trong Đảo mùa gió, Những người đổ bộ, chúng ta bắt gặp hình ảnh người
kể chuyện đồng sự với các vai trò và hiệu quả diễn ngôn của người kể chuyện Trong các tác phẩm này, người kể chuyện là lời nhân vật chính – nhân vật ở cấp
độ hành động Tác giả như hoàn toàn đứng ở bên ngoài để nhân vật tự kể về cuộc đời mình với tất cả những biến cố, sự trải nghiệm của thời cuộc Nhân vật chính kể về những gì xảy ra xung quanh mình và những người sống cùng đơn vị trong quá trình diễn tập trên đảo, cuộc sống thời hậu chiến của các binh lính hải quân theo nhận thức của cái tôi người kể chuyện
Vì vậy, câu chuyện được kể lại mang tính chân thật, chính xác hơn rất nhiều Tất nhiên, sự chính xác không chỉ dừng lại ở “hình thức đồng sự” mà cái chính là ở “tính chất đồng sự” của người kể chuyện Tính chất đồng sự được đánh giá bằng thước đo của điểm nhìn tự sự Bởi sự việc, câu chuyện được diễn
ra và được nhận thức, đánh giá từ điểm nhìn của nhân vật trung tâm
Ngay trong trang viết đầu tiên của Đảo mùa gió, người kể chuyện đã dựng lên một bức tranh rất thực từ bối cảnh vùng đảo hay đơn vị đóng quân: “Nơi
chúng tôi sống là đỉnh một ngọn san hô ngầm liên kết với nhau mọc lên từ đáy biển do không biết bao nhiêu nguyên cớ Nơi đây, không có cỏ cây, hoa lá; đảo phẳng trắng, trọc lốc, lóa nắng Đứng từ xa nhìn vào, đảo giống như một doi cát trôi bồng bềnh nhưng không phải cát, nó chỉ là lớp san hô bề mặt đã bị sóng gió đánh cho vụn tơi ra thôi” [35, tr.5] Người kể chuyện chính là một binh lính hải
quân trực tiếp tham gia và chứng kiến câu chuyện, xưng “tôi”, “chúng tôi”,
“chúng ta” Người kể chuyện trực tiếp trình bày về thực trạng cuộc sống trên
vùng đảo hoang sơ với cái nhìn của người trong cuộc: “Đảo trắng lờ nhờ, và
trong cái không gian mông lung hư thực này tôi có cảm giác như đảo cũng lững
Trang 26lờ trôi trong vũ trụ” [35, tr.7] Không chần chừ, giấu diếm, người kể chuyện
xưng “tôi” và cả đơn vị “chúng tôi” gồm Nhương, Lân, Long, Khỏa đang sống trong tình trạng hết sức thiếu thốn nguồn nước ngọt, lương thực để cung cấp cho các chiến sĩ; những buổi diễn tập, vận chuyển người, chiến sĩ, lương thực từ đảo lớn ra các đảo nhỏ; những lần đối diện với cái chết khi làm nhiệm vụ bốc hàng từ tàu vào đảo; những lần hi sinh trên những con tàu chông chênh giữa đại dương sóng to gió lớn Người kể chuyện là người trong cuộc, cũng là người chứng kiến bao nhiêu biến cố xảy ra nên có cái nhìn chủ quan, trung thực Người kể chuyện không né tránh khi nói đến cái chết, không ngại ngùng phơi bày hiện thực và thể hiện suy nghĩ Cái chết bi thương của Nhương khi anh đang chèo lái chiếc xuồng chồng chềnh để làm nhiệm vụ trên đảo Cái chết là điều
không ai mong muốn, ngay cả trong cảm nhận trực tiếp của người kể chuyện:
“Nhìn chiếc xuồng đu đưa, lặn hụp trên lượi sóng, chúng tôi lo đến thót ruột Không ai muốn đùa giỡn với sự hung dữ của biển cả, nhưng không anh Nhương thì cũng phải một ai đó trong số chúng tôi ở đây phải làm cái công việc mà tính mạng người ngồi trên xuồng mỏng như ngàn cân treo sợi tóc ấy” [35, tr.37]
Những người lính biển và người kể chuyện xưng “tôi” phải diễn tập hàng ngày, luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu với kẻ thù xâm lược để bảo vệ Tổ quốc Những người lính ấy luôn hụt hẫng và đau đớn khi chứng kiến sự ra đi của đồng
đội: “Đêm ấy chúng tôi đốt lửa đi tìm Anh khắp đảo Mênh mông những sóng
những nước thế này biết Anh ở đâu? Ngày hôm sau, biết anh không về nữa, chúng tôi vẫn đợi cơm Không ai muốn nuốt dẫu rằng đã lâu lắm rồi trong bữa
ăn mới có một bát canh nhiều nước, nhiều mì chính và nhiều cọng rau như thế này” [35, tr.31]
Cuộc sống trên vùng đảo hoang sơ, thiếu thốn tình cảm gia đình khiến nhân vật “tôi” thèm đón nhận những cánh thư tay của người thân chuyển từ đất liền ra hải đảo Tất cả họ - những người lính biển - đều mang khao khát chung đó Những người lính sống trên đảo đều là những người xa gia đình, những người
Trang 27thân yêu để ra với hải đảo Điểm tựa an ủi cho “cái tôi” trước những sóng gió, bão tố của hải đảo chính là tình người, tình đồng đội, tình yêu quê hương, gia đình Những khi có đợt vận chuyển hàng từ đất liền ra hải đảo, họ đều khao khát
trên những chuyến tàu vận chuyển đó có những bức thư mà họ mong chờ: “Sáng
hôm ấy tôi dậy rất sớm, đã ngỡ mình dậy trước tiên, nhưng khi ra ngoài mới biết anh em đã đứng đầy trên mép đảo từ bao giờ, đang ngóng về hướng đất liền Một thủy thủ giơ cao bọc giấy, vừa chỉ vào ngực bên trái của mình vừa hét Không rõ anh ta hét gì, nhưng căn cứ vào điệu bộ thích thú của anh ta, tôi biết chàng thủy thủ muốn khoe cho mọi người mừng trước rằng bọc giấy trên tay anh ta là bọc thư đấy” [35, tr.23] Bao nhiêu tình cảm của người thân lúc này
chỉ gói gọn trong những lá thư, vì vậy những người lính luôn mong chờ, khát
khao đón nhận những cánh thư từng phút giây: “Chậm lắm cũng chỉ mươi lăm
phút nữa là chúng tôi được ôm lấy những sứ giả của đất liền đã chống chọi hai ngày hai đêm giữa sóng gió ra với đảo mà đòi hỏi đủ thứ chuyện Rồi sẽ đọc những dòng chữ quen thuộc của người thân mà tủm tỉm cười một mình Ai đã sống cách biệt với người xung quanh một thời gian dài mới thấu hiểu hết tâm trạng của chúng tôi lúc này Hồi hộp quá! Tôi sẽ nhận được thư ai đây?” [35,
tr.25] Suy cho cùng, con người dù ở trong hoàn cảnh nào, đất liền hay hải đảo, đầy đủ hay thiếu thốn, khi phải sống trong tình trạng xa người thân, họ luôn khao khát được yêu thương, một vòng tay gia đình Người đọc như bị cuốn sâu, đắm chìm vào cảm xúc, suy nghĩ của người lính chiến, thấu hiểu những suy tư, mất mát, tâm tư tình cảm của người trong cuộc
Đình Kính đã đi sâu vào khai thác vấn đề mà lâu nay ít được các nhà văn quan tâm là đề tài người lính biển Chúng ta vốn chỉ biết đến người lính biển qua những tư liệu lịch sử, những vần thơ, những câu hát, còn cuộc sống của họ trong văn chương thì hầu như là hiếm thấy Qua ngòi bút của Đình Kính, chúng ta thấy rằng họ là những người lính sống, chiến đấu, khao khát sự yêu thương, mặc
dù phải sống trong cảnh thiếu thốn về vật chất Dù cuộc sống trên đảo có khiến
Trang 28họ bận túi bụi, vật lộn với sóng gió để vận chuyển từng hạt gạo, cọng rau, từng giọt dầu, giọt nước lên đảo Nhưng khi chứng một số những người đồng đội của
họ đã ngã xuống, họ cũng luôn đau đáu một nỗi niềm tiếc thương: “Biết rằng
giữa những sóng nước mênh mông hung dữ này Anh khó trở về mà ai cũng nuôi một chút hi vọng được đón Anh yên nghỉ dưới chân cây cột cờ chính giữa đảo”
[35, tr.31] Đó là những tình cảm rất chân thực, rất đời thường của những người lính biển – những con người luôn ngày đêm chiến đấu cho Tổ quốc
Cả truyện ngắn Đảo mùa gió là câu chuyện về vùng “đảo mẹ” và”đảo con”
– nơi những người lính sinh sống; truyện được chia thành ba đoản khúc, được đánh dấu cách đoạn, mỗi đoản khúc như là mỗi lát cắt của dòng ý thức và tâm trạng của nhân vật “tôi” Đình Kính đã dùng mạch cảm xúc của nhân vật để nối kết các đoản khúc với nhau, tạo thành mạch thống nhất cho câu chuyện Thế giới nội tâm nhân vật trở thành đối tượng được chính tác giả tập trung khai thác qua hình thức người kể chuyện đồng sự
Người kể chuyện trong Những người đổ bộ cũng được xây dựng ở dạng
người kể chuyện đồng sự Người kể chuyện xưng “tôi” kể về những chuyện xảy
ra với “tôi” và những nhân vật có liên quan Trong tác phẩm này, “cái tôi” hiện diện là những “cái tôi” của người kể chuyện trực tiếp tham gia và chứng kiến câu chuyện Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, đồng sự, kể về những cuộc diễn tập sau chiến tranh của người lính biển và những sinh hoạt hết sức đời thường của những người chỉ huy; binh lính cho đến lực lượng hậu cần trên biển
Người kể chuyện xưng “tôi” trong Những người đổ bộ cũng là một người
lính biển và được cử xuống đơn vị của Ban than mưu, được sống, ăn ngủ cùng với các chiến sĩ và tận mắt nhìn thấy những khó khăn và nhu cầu tối thiểu của
họ Có thể nhận xét, Những người đổ bộ như bản hồi kí về cuộc sống của những người lính biển được kể qua cái nhìn của nhân vật “tôi”: “Tôi trở thành một cán
bộ mưu, hay nói đúng hơn, một nguời có mặt trong ban tham mưu của lữ đoàn trưởng Tôi có thể để mắt mọi ngóc ngách của công việc mà không bị ngăn
Trang 29cản” Là người sống cùng đơn vị, sinh hoạt cùng đơn vị, cứng kiến cuộc sống
thực tế của những người lính trong đơn vị; nhân vật “tôi” trực tiếp hơi bày cuộc sống thiếu thốn của những người lính, những chiến sĩ thiếu từ miếng xà phòng giặt, hộp thuốc đánh răng, dao cạo râu Nhân vật tôi không ngại phơi bày những
khó khăn của đơn vị: “xăng dầu, đạn dược thiếu phương tiện chở, thiếu kho
tàng để chứa Nào xe pháo hỏng mà phụ tùng thay thế chạy không ra ”
[36, tr.70]
Cuộc sống trên biển, ngoài những đồng đội để có thể tâm sự, người lính còn có một người bạn tâm giao chính là biển Họ luôn ý thức được một điều phải sẵn sàng trong tư thế bảo vệ đất nước Tất cả bọn họ đã khát khao hòa bình mãi
mãi: “Sóng đùa giỡn và gãi vào bắp chân tôi mát rượi Biển muốn tâm sự một
điều gì chăng? Có phải biển muốn nói với tôi, ở một nơi nào đó, biển đang chứng kiến một cuộc chiến đấu mới? Những người lính mặc áo vằn lại bắt buộc phải nổ súng! Là những người đã qua chiến tranh, họ không muốn cái trò hao tổn ấy đâu! Họ muốn yên lành và dựng xây Nhưng biển ơi, sự dựng xây lại nhất thiết đòi được bảo vệ” [36, tr.85] Nhân vật tôi đã nêu lên một sự suy ngẫm
rằng: sự cầm súng của những người lính biển xưa nay, không phải vì họ yêu thích chiến tranh hay muốn chiến tranh xảy ra nhưng điều thôi thúc họ bắt buộc phải cầm súng, phải cảnh giác dù là trong thời bình đó là vì họ muốn bảo vệ Tổ quốc được yên lành và dựng xây Tiếng nói của “cái tôi” nhân vật cũng là tiếng nói, suy nghĩ chung mang tính rộng lớn của cả dân tộc
Câu chuyện không chỉ dừng lại ở việc kể về cuộc sống thực tại của những người lính biển, mà còn gợi về trong nhân vật “tôi” những hồi ức ám ảnh triền
miên trong quá khứ: “Có phải vì nghĩ đến cha hay vì sắp phải xa tôi mà nước
mắt mẹ ứa ra trên hai gò má nhăn nheo? Mẹ đã kể cho tôi nghe nhiều lần về cái chết của cha, mà hôm ấy mẹ tôi vẫn nhắc lại “Máu của cha anh, máu của chú bác đã làm cho nước biển thẫm lại” - Mẹ bảo với tôi như thế Hồi đó tôi còn nhỏ, chiếc tàu chiến của giặc Pháp từ xa xộc vào ven bờ ngang nhiên xả súng
Trang 30vào những chiếc thuyền đánh cá trên vùng biển quê hương, đất nước mình Máu của cha loang ra và những đợt sóng thủy chung ngầu bọt ngậm vào bờ, bịn rịn quấn lấy bắp chân người vùng biển ” [35, tr.86] Quả là chiến tranh với những
đau thương đã khiến cho bao người lính ngã xuống không chỉ trên đất liền mà máu của họ đã đổ xuống và hòa vào biển cả bao la
Câu chuyện không chỉ dừng lại ở hoàn cảnh của nhân vật “tôi” với những nỗi đau không thể xóa nhòa mà còn là nỗi đau của những người cùng chung sống và chiến đấu trên đảo Vì phải làm nhiệm vụ với đất nước, họ phải hi sinh những điều rất cá nhân, rất riêng tư và cũng rất lớn lao đối với họ Trong một
bức thư mà lữ đoàn trưởng Đặng Ân đưa cho nhân vật tôi: “Tôi luống cuống mở
trang giấy học sinh và lướt nhanh trên dòng chữ:
“Bố ơi, nhờ các cô, các bác ở bệnh viện chăm sóc, mẹ đã đỡ hơn nhiều, nhưng con lo lắm: người ta bảo ôi con không dám viết ra đâu Mẹ nói với con rằng bố rất bận, không về được dâu, đừng nhắc, thế mà ngày nào con cũng thấy mẹ ngong ngóng có ý chờ bố Con cũng mong bố về lắm Bố ơi! Đã hai năm nay bố không về với mẹ, với con rồi!” [36, tr.141]
Cái nhìn đồng sự khiến cho tác phẩm mang màu sắc chủ quan rõ nét Người kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật ở cấp độ hành động đã khiến cho câu chuyện mà nhân vật “tôi” kể là sự trải nghiệm chân thực của chính nhân vật tham gia vào truyện chứ không phải của một người kể ở ngoài nhân vật Cái
“tôi” của người kể chuyện hòa cùng chính cái “tôi” của nhân vật tạo nên sự thống nhất cho mạch cảm xúc của câu chuyện
1.2.1.2 Vai trò của người kể chuyện đồng sự trong những đối thoại về ý thức, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc
Trong kháng chiến, điều thôi thúc con người hi sinh bản thân để từ giã gia đình ra trận đó chính là lòng yêu nước, trách nhiệm tới Tổ quốc, quê hương Con người luôn ý thức được nghĩa vụ của mình với quốc gia, dân tộc là phải biết xây dựng đi đôi với bảo vệ Trong khi đối thoại hoặc độc thoại của các nhân vật, đôi
Trang 31khi tác giả để nhân vật của mình đứng giữa hai sự lựa chọn: một là ra đảo, hai là
gia đình; buộc họ phải suy nghĩ “Trong mỗi cán bộ chiến sĩ, không nhiều thì ít
đều có sự níu kéo riêng tư không phải dễ dàng gì một lúc bứt ra được”
[35, tr.83] Lúc này, người đọc thấy được chủ đích của tác giả thông qua lời người kể chuyện, rằng điều quan trọng hơn hết là trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc Hàng loạt những đối thoại về ý thức, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc giữa các
nhân vật trong Đảo mùa gió:
“- Mấy hôm nay tàu của thằng cha chết tiệt nào cứ lảng vảng khu vực đó suốt ý chừng đánh hơi thấy lại muốn bành trướng
- Lại chờ cho nó đổ quân lên! Ra mà giữ lấy
- Phải, phải! Mình có đứng đó, giương súng lên thì chúng mới hết lăm le
- Hay!
- Tuyệt!
- Chứ để nó lên rồi mới ra đuổi là phiền đấy!
- A, thằng Nam có đầu óc quân sự!
- Chứ không à?
- Nó nói có lý!
- Một đám san hô lập lờ giữa biển mà các cha làm như là là
- Sao? Thế san hô không cần phải giữ lấy phỏng?
- Thế chúng ta ở đây vô nghĩa hả?
- San hô mà của Tổ quốc cũng phải giữ
- Phải ra đó Ra ngay! Ra ngay!
- Đúng! [35, tr.10]
Khi đối diện trực tiếp với những vấn đề gian nguy của dân tộc, điều thôi thúc lớn nhất trong họ là phải bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ vùng đảo quốc gia không
bị xâm phạm Đứng trước những khó khăn, người lính biển luôn tự ý thức được
một điều rằng: “Chỉ có những người ý thức được một cách đầy đủ nhất ý nghĩa
Trang 32công việc mình làm, ý thức được đầy đủ nhất sự cần thiết phải có mình trên đảo này mới trụ vững tại nơi này được” [35, tr.28] Những người lính luôn ý thức
được vai trò của họ: “Trong chiến tranh cũng như trong công cuộc xây dựng và
bảo vệ đất nước, người lính là người tự giác chịu nhiều hi sinh” [35, tr.30]
Trong Những người đổ bộ cũng xuất hiện những đối thoại về ý thức, trách
nhiệm của người lính với Tổ quốc trong chiến đấu:
“Lúc đó trên tàu có tiếng hô lớn:
- Xung phong!
Tôi nhận ra tiếng hô ấy: tiếng của Thanh Tiến, bạn tôi Và tôi cũng đã nhận ra cái dáng mảnh khảnh thư sinh của đại đội trưởng như đang ùm xuống nước Các hiến sĩ lập tức nhảy theo Chiếc xe bọc thép cũng rồ máy
Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong tác phẩm, cho thấy trách nhiệm, suy tư, trăn
trở của người lính với nhiệm vụ mà họ mang trên vai: “Một đoàn tàu chở bao
nhiêu quân xe thì vừa? Khoảng cách giữa các con tàu? Hành quân theo đội hình nào? Khi nước lên, xe tăng xuống thế nào? Khi nước ròng, bộ đội lội xuống ra sao? Làm thế nào giữ được đội hình trong thời tiết xấu, trong sóng gió, trong sương mù? ” [36, tr.65]
Tác giả đứng ngoài câu chuyện, để cho người kể chuyện trực tiếp bày tỏ, bộc bạch tiếng nói của cá nhân và cũng là tiếng nói chung của đồng đội về khát
khao hòa bình: “Có phải biển muốn nói với tôi, ở một nơi nào đó, biển đang
chứng kiến một cuộc chiến đấu mới? Những người lính mặc áo vằn lại bắt buộc
Trang 33phải nổ súng! Là những ngưởi đã qua chiến tranh, họ không muốn cái trò hao tổn ấy đâu! Họ muốn yên lành và dựng xây Nhưng biển ơi, sự dựng xây lại nhất thiết đòi được bảo vệ” [36, tr.85]
Những người lính không chỉ bộc lộ ý thức, trách nhiệm với Tổ quốc thông qua hành động mà còn bộc lộ cả trong những vần thơ giản dị, chân thành đậm chất người lính biển:
“Hải quân đánh bộ lẫy lừng
Bao ngày chiến đấu đã từng xông pha
Hi sinh, chịu đưng hát ca
Bây giờ luyện tập kiên quyết lấy đà tiến lên!” [36, tr.91]
Và cả trong những câu hát hào hùng khiến bản thân những người lính muốn dũng cảm xông lên, hét thật lực trong tâm thế hào hùng, thúc giục của giai điệu,
Anh em ơi: thề giữ!” [36, tr.97]
Người lính biển thà hi sinh để giữ được từng “tất đấc, sải biển” giữ gìn Tổ quốc, quê hương Vì bảo vệ được những người thân của họ yên bình cũng chính
là bảo vệ quê hương và trên hết là ý thức trách nhiệm với Tổ quốc
Có thể thấy, tác giả Đình Kính hoàn toàn đứng ngoài nhân vật, để nhân vật
tự mình kể về mình, về những người đồng đội với những biến cố, sự trải
Trang 34nghiệm, suy tư Thông qua những trang văn, Đình Kính để nhân vật tự kể và bộc bạch suy nghĩ theo hiểu biết và nhận thức của cái tôi người kể chuyện Tính chất đồng sự lúc này phát huy hiệu quả, những điều mà tác phẩm bày tỏ dược diễn ra
và được nhận thức, đánh giá từ điểm nhìn của nhân vật trung tâm Thông qua người kể chuyện trong tác phẩm, Đình Kính khơi dậy một sự cảm nhận, nhận thức sâu xa nơi người đọc về ý thức, trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc của thế hệ trẻ ngày nay
1.2.2 Vai trò của người kể chuyện dị sự
1.2.2.1 Người kể chuyện dị sự toàn năng
Người kể chuyện trong Sóng chìm, Người của biển, Sóng cửa sông được
xây dựng ở dạng dị sự toàn năng Người kể chuyện thông suốt và có khả năng sắp xếp, biết hết tất cả mọi thứ, không chỉ ở hiện tại mà còn có thể lí giải được quá khứ và dự báo tương lai Điểm nhìn trần thuật bằng không, người kể chuyện nhìn từ đằng sau, tiêu cự bị triệt tiêu Độ bao quát và tầm nhìn của người kể chuyện phủ khắp tác phẩm, có vai trò như thượng đế toàn tri Ngay cả đời sống
phức tạp bên trong nhân vật, người kể chuyện cũng tường tận và lí giải thấu đáo
Với Người của biển, người kể chuyện đứng ở vai trò ngôi thứ ba, toàn năng
kể về quá trình đi trinh sát, vận chuyển vũ khí của lính hải quân để chi viện cho chiến trường miền Nam bằng đường biển, lồng vào đó là câu chuyện về cuộc đời của những người lính biển dũng cảm như Lê, Tòng, Hòa, Tám Họ đã dũng cảm xông pha giữa biển khơi, giữa sóng to gió lớn, giữa bom đạn bủa vây, hi sinh quên mình, phá hủy tàu vận chuyển vũ khí nhằm tránh sự phát hiện của kẻ thù Có nhiều người lính trong số họ (như thuyền trưởng Tòng, Mánh ) đã ra đi vĩnh viễn khi tuổi đời đang còn rất trẻ, tương lai đang ở phía trước, bỏ lại phía
sau là bao nỗi niềm thương tiếc của người thân, gia đình và đồng đội: “Trước
đây cũng có một con tàu mang tên là T.37, nhưng người thuyền trưởng và toàn
bộ thủy thủ cùng con tàu ấy mãi mãi không bao giờ trở về cảng nữa Người thuyền trưởng đã điểm hỏa cho nổ năm tạ bộc phá khi thủy thủ bắn hết viên đạn
Trang 35cuối cùng” [37, tr.58]; “Mánh nằm đó, trên bệ xi măng Chiếc chăn chiên phủ kín người Dưới ánh lửa nhạt nhòa, khuôn mặt Mánh quắt hóp, vàng xanh, toàn thân cứng lạnh” [37, tr.115] Sự ra đi của thuyền trưởng Tòng để lại nỗi
niềm nhớ tiếc cho người đồng đội như Lê: “Khi hay tin Tòng hy sinh, anh
choáng người Chưa bao giờ anh nghĩ những người như Tòng lại chết Người anh nặng trĩu Những ngày tiếp đến anh sống lặng lẽ Cái chết của Tòng khiến anh đau buồn, nhớ tiếc Anh cảm thấy đã mất đi một cái gì lớn lắm không thể bù đắp” [37, tr.460] Trong tác phẩm, người kể chuyện không đơn thuần chỉ kể câu
chuyện “tàu không số” chở vũ khí vào Vũng Rô bằng đường biển mà còn “lia ống kính” để quan sát những chi tiết miêu tả sự khốc liệt của chiến tranh, những
hi sinh mất mát của con người trong chiến tranh Người kể chuyện dị sự trong tác phẩm đã dẫn dắt người đọc chứng kiến những cảnh “tan hoang đổ nát” do
chiến tranh gây ra: “Trận bom dội xuống thành phố lúc 9 giờ sáng Còi báo
động chưa kịp rú lên thì bốn phía tiếng súng phòng không đã nổ ran Ba tốp máy bay, mỗi tốp ba chiếc hướng từ biển thay nhau vào thành phố Chúng lượn vòng, nhào lộn, gầm rít Bom nổ, nhà sập, cây đổ Khắp nơi lửa bốc lên rừng rực Những ngôi nhà không trúng bom thì sạt mái, ngói rơi tơi tả Thành phố ngập chìm trong tiếng bom, tiếng đạn và âm thanh đủ loại Mặt đất rung lên Phía cảng, phía chợ con nhiều cột lửa đen cuộn lên mù mịt lan tỏa khắp bề mặt thành phố.” [37, tr.39] Không chỉ miêu tả thực trạng chiến tranh đổ nát trên
vùng đất liền, cả vùng biển, núi cũng được người kể chuyện phơi bày trên những
trang văn: “Hai chiếc máy bay lượn vòng trên núi, thi nhau gầm rít, bắn rốc két,
ném bom Rồi một chiếc tách ra, mở rộng vòng lượn Từ xa, nó đâm thẳng vào chính diện vòm núi Loạt đạn tập tức khoan vào vách đá, trước mũi tàu”
[37, tr.110] Vượt lên trên tất cả, điều khiến những người lính xả thân chiến đấu với bão tố, với kẻ thù, hi sinh quên mình trên biển cả là vì ý thức, lương tâm, trách nhiệm nhằm đảm bảo vũ khí được vận chuyển tới chiến trường miền Nam:
“Lang thang trên biển hàng tuần, thậm chí hàng tháng, sóng, gió, bão và kẻ thù,
Trang 36gian khổ và ác liệt, cái chết lúc nào cũng đón đợi Ra đi là xác định có thể không trở về Đưa được khẩu súng vào chiến trường phải đánh đổi bao sự hi sinh Nhiều đồng chí của anh đã lặng lẽ bỏ mình ngoài khơi cùng với con tàu Song vũ khí vẫn phải đến được với chiến trường Đó là mệnh lệnh, là lương tâm,
là trách nhiệm: cuộc chiến đấu trong ấy không hề ngưng nghỉ một ngày”
[37, tr.29] Trong tác phẩm, người kể chuyện dị sự trình bày về cuộc sống, gia đình, những biến cố xảy ra trong cuộc đời mỗi nhân vật nhằm tạo tính khách quan cho câu chuyện được kể Người kể chuyện dị sự trong tác phẩm có tầm nhìn bao quát, xuyên suốt cả quãng đời hiện tại, quá khứ của từng nhân vật và không ngại phơi bày những góc khuất trong chiến tranh, mỗi người một hoàn cảnh, không ai giống ai, ai cũng có hoàn cảnh, nỗi niềm riêng tư của riêng mình Thúy và Lê yêu nhau bằng một tình yêu chân thành nhưng vì hoàn cảnh của chiến tranh Lê phải rời xa gia đình, người mình yêu thương để ra chiến đấu ngoài biển khơi; Thúy vào làm ở xưởng sản xuất đóng tàu để cùng nhà máy chế tạo những con tàu phục vụ cho kháng chiến Con người và nhà máy làm việc liên tục, máy bay vào thì phòng tránh, thì đánh trả, máy bay đi lại tiếp tục sản xuất Trong những lần nghỉ phép về thăm người thân, gia đình, những người lính không được đoàn tụ bao lâu lại phải xách ba lô ra đi, để lại bao nỗi niềm nhớ thương, trông chờ Bởi họ cũng là con người, cũng khao khát được yêu thương, đoàn tụ, thay vì xa cách, chiến đấu Nhưng chiến tranh bắt họ phải rơi vào những tình cảnh như thế Qua mỗi câu chuyện, ta lại thấy được tình yêu đối với quê hương, đất nước khiến những người lính có thêm nghị lực phi thường để chiến đấu chống lại kẻ thù, đưa vũ khí vào chiến trường
Trong Sóng cửa sông, chúng ta nhận ra kiểu người kể chuyện ở ngôi thứ ba
– toàn năng Người kể chuyện trong tác phẩm đứng ở ngôi thứ ba thuật lại mọi việc của những người chiến sĩ hải quân, cụ thể hơn là lính đặc công đánh tàu trong vai trò trinh sát, bí mật gài bom mìn vào tàu thân tàu địch để ngăn chặn việc tiếp tế nhiên liệu, vũ khí, lương thực của Mỹ vào cảng Cửa Việt Người kể
Trang 37chuyện thông suốt và biết hết tất cả mọi thứ về nguồn gốc, xuất thân, hoàn cảnh của từng người lính đặc công nước như: Miêng, Kiên, Chi, Tiềm, Lễ , ngay cả đời sống phức tạp bên trong nhân vật cũng được người kể chuyện lí giải tường tận Kiên quê ở vùng biển, tuổi thơ của anh gắn bó với vùng biển quê hương Anh lớn lên, vào bộ đội rồi trở thành người chiến sĩ đánh tàu, cuộc đời Kiên lại gắn bó với một vùng biển mới, một quê hương thứ hai, quê hương đánh giặc
Kiên rời khỏi quê hương mà không hề vướng bận gì bởi: “Anh đã ý thức được
một cách rõ ràng trách nhiệm của mình đối với Tổ quốc và ý nghĩa lớn lao của cuộc chiến đấu” [34, tr.36] Anh gặp Hoa, gắn bó cùng nhau, một mối tình nảy
sinh trong chiến đấu, không phô trương nhưng nồng đượm, đằm thắm bởi vì nó bắt đầu từ tình đồng chí và được những người đồng chí vun đắp, giữ gìn Trong khi Hoa có một tuổi thơ cơ cực hơn bởi tuổi thơ ít được học hành và cha mẹ cô phải làm lụng vất vả nuôi con mà cũng chẳng được yên ổn bởi sự tra tấn của giặc Cô xin vào đội du kích và trở thành sợi dây liên lạc giữa đội du kích và đội săn tàu ở Cửa Việt Còn Chi là một anh chàng thư sinh nhưng lại luôn muốn hăm hở tham gia vào công việc gài mìn, ước muốn được một lần tận tay gắn khối thuốc nổ vào thành tàu địch Và anh đã nằm lại trên cồn dương, mãi mãi không bao giờ quay trở lại, anh đã hi sinh mình đánh lạc hướng giặc để đồng đội xuống nước gài mìn vào thân tàu Sự ra đi của anh đã để lại nhiều nuối tiếc trong
lòng đồng đội: “Chi nằm trên một ngọn đồi cao trồng bạch đàn, mặt quay ra
hướng đông, nơi đồng đội muốn anh luôn được nhìn thấy mỗi buổi sáng mặt trời lên và cũng luôn được nhìn thấy màu xanh bao la của biển Mọi người đứng lặng bên Chi nhưng không ai nghĩ rằng Chi đã chêt Chi như vẫn còn sống mà vẫn cùng họ lên đường Đứng bên mộ Chi, Thi và Bạo bịn rịn không muốn rời”
[34, tr.175-177]
Lời của người kể chuyện chiếm đa số nội dung tác phẩm, tường thuật lại chi tiết hình ảnh con sông Cửa Việt với những diễn biến gay cấn trong những lần lính đặc công nằm trong lòng địch, dũng cảm, khéo léo vượt qua tầm kiểm
Trang 38soát của địch để có thể gài mìn vào thân tàu địch “Người chiến sĩ phải ở trong
một hoàn cảnh vô cùng khó khăn Chưa nói đến cái căng thẳng phải tìm cách đối phó với địch, chỉ riêng việc chống chọi với cái khát, cái đói để có sức đêm sau tìm về đơn vị cũng đã là một cuộc chiến đấu âm thầm hết sức gian khổ mà đầy nghị lực” [34, tr.74] Những người lính làm nhiệm vụ gài mìn phá hủy tàu
với những hành trang hết sức đơn giản: “Mỗi người chỉ mang một quả mìn nhỏ
trên lưng, vài quả lựu đạn lận ngang hông và một con dao găm Mỗi nhóm có một chiếc kéo cắt rào” [34, tr.88] Người kể chuyện tuy đứng ngoài và dẫn dắt
câu chuyện chứ không phải một nhân vật tham gia chuyện kể lại, nhưng người đọc vẫn cảm thấy như đang được chứng kiến câu chuyện bởi sự thông suốt, biết hết tất cả mọi thứ của câu chuyện Thông qua lời người kể chuyện, ta còn thấy được trong chiến đấu gian khổ, ác liệt, những người chiến sĩ vẫn vui nhộn, vẫn lạc quan, yêu đời; nhưng trong tiếng cười tươi tắn đó họ vẫn hiểu được mình
đang chiến đấu với kẻ thù và họ ý thức đầy đủ về cuộc chiến đấu này: “Với
cương vị chỉ huy, Thiềm hiểu sâu sắc ý nghĩa của mệnh lệnh và giá trị của việc chẹn tắc con đường tiếp tế huyết mạch này” [34, tr.24]
Câu chuyện bật sáng lên tinh thần chiến đấu, bảo vệ quê hương, lòng căm ghét thù giặc và ý chí chiến đấu, lòng quyết tâm cao của những người lính đặc công đánh tàu cũng như đội du kích xã Gio Chính sự tàn khốc của chiến tranh, những nỗi đau mà thế hệ đi trước đã từng phải chịu đựng đã thôi thúc những thế
hệ thanh niên hăm hở xông pha, khát khao được gắn những khối mìn để tiêu diệt
sự việc trở của Mỹ cho chiến tranh Vượt qua những khó khăn, những người lính, người du kích vẫn nương tựa vào nhau, hoàn thành mục tiêu mà họ đã đảm nhiệm, chiến thắng cái ác và bạo tàn để giành lại những điều tốt đẹp
Tiểu thuyết Sóng chìm cũng viết dưới hình thức người kể chuyện dị sự toàn năng Lấy sự kiện tàu không số làm cảm hứng nhưng tác giả lại tập trung khai
thác vào cuộc đời, thân phận éo le của những nhân vật mang tính bi kịch của
chiến tranh Tác giả, cũng là người kể chuyện đứng bên ngoài để soi chiếu,
Trang 39chứng kiến và miêu tả cuộc đời của từng nhân vật trong tác phẩm Nhân vật có cuộc đời nhiều bi kịch và éo le nhất trong tác phẩm là Tư Nhâm - một phụ nữ được cách mạng đưa vào hoạt động trong lòng địch với nhiệm vụ cung cấp tin tức nhằm phục vụ những con tàu không số chở vũ khí vào chiến trường miền Nam Để có thể hoạt động trong lòng địch mà không bị mảy may nghi ngờ, chị
đã phải sống trong vỏ bọc là một người đàn bà lẳng lơ, phải lấy thiếu tá Hai Rạng làm chồng để “che mắt” địch và để lấy những tin tức tình báo nhằm phục
vụ cho Cách mạng, cho những con tàu không số chở vũ khí vào Nam Tư Nhâm lấy Hai Rạng trước hết là nằm trong kế hoạch đó Chính vì thế chị bị mọi người ghẻ lạnh, xa lánh, đến cả mẹ đẻ cũng từ mặt Chị vẫn phải cố gắng làm tốt vai trò của mình trong hoàn cảnh éo le và hết sức cô đơn Nhưng nỗi đau lớn nhất
mà Tư Nhâm phải chịu dựng đó chính là việc chị mất đi người chồng thực sự mà mình yêu thương nhất Chứng kiến cảnh đoàn tàu không số chở vũ khí và chồng chị trên đó đã nổ tan hoang, chị đau xót, nấc nghẹn không nói ra thành lời Đau xót, thương tiếc nhưng vẫn phải tiếp tục sống thản nhiên trong vỏ bọc vợ của thiếu tá Hai Rạng, không được để tang chồng hay để lộ bất cứ thông tin nào về cách mạng Chính vì vậy, khi chiến tranh qua rồi, bị cắt đứt mọi mối liên lạc với cách mạng thì không còn ai làm chứng cho chị là người của cách mạng nữa Chị
bị mang danh là theo ngụy Chị chơ vơ giống như thân cây bị bật mất rễ, trước bão gió không còn đất bấu víu Đúng là chiến tranh đã tạo nên những tình huống ngặt nghèo mà những người như Tư Nhâm thật khổ tâm, không thể bắt đầu một
cuộc sống khác, không thể trở về là những con người bình thường: “Rồi cuộc
sống kế theo càng khiến chị ngấm hơn sự đắng chát, nghiệt ngã, trớ trêu nơi hoàn cảnh mình Thời gian sau đó, thường xuyên chị bị chính quyền gọi lên Một câu hỏi thường trực được đặt ra là tại sao chị không theo chồng con đi di tản, ở lại với mục đích gì? Tư Nhâm biết trả lời sao đây! Thì đành nói rằng mình và viên trung tá không hợp” “Nhưng điều khổ tâm không chỉ chỗ ấy Sau ngày lân Cồ giải phóng, mỗi lần ra đường hay có việc đến chỗ đông người, chị
Trang 40thường bắt gặp những ánh nhìn tò mò, khó chịu, thương hại, thâm chí khinh bỉ Tình thế đẩy đưa khiến chị phải nhập vai làm diễn viên, sống khác mình để đến lúc này, sự éo le lại xô chị vào trạng huống không còn khả năng để quay về với chính mình được nữa Chị đã thành người khác Ngày ngày cố sắm vai đóng lại chính mình mà nhạt nhòa, không giống ai Nhiều lúc hoang mang, chị thẫn thờ
tự hỏi mình là ai, nhưng không có câu trả lời Và cũng không thể trả lời”
[38, tr 249-230] Đau đớn và tủi nhục là vậy, nhưng chị không thể minh chứng cho bản thân mình và cũng không thể rời xa mảnh đất quê hương vì đây là nơi chị đã sinh ra, cho chị những kỉ niệm vui buồn sướng khổ, mảnh đất vì nó chị đã chịu bao tủi nhục, hiểu lầm để sắm vai một người khác Chị đành phải chấp nhận
ở lại và vĩnh viễn rời xa đứa con mới lên sáu tuổi của mình Chiến tranh quả thật
đã đẩy chị vào tình huống thật trớ trêu và éo le
Xét ở mức độ can dự của người kể chuyện trong tác phẩm, rõ ràng người
kể chuyện trong Sóng chìm không hiện diện như một nhân vật trong câu chuyện
nhưng có thể thuật lại tường tận các sự kiện, có thể cảm nhận, thâm nhập tận cùng tâm lý nhân vật, thấu hiểu những vui buồn lẫn lộn đan xen trong nhân vật Thông qua lời kể của người kể chuyện dị sự, những sự kiện, biến cố trong cuộc đời của nhân vật Tư Nhâm lần lượt được kể lại Từ những kỉ niệm ngày còn bé ở trong làng cho tới khi chị lấy chồng; sự kiện chị trở thành một điệp báo viên cách mạng; sự kiện chị nén lòng nhận lời cầu hôn của viên thiếu tá ngụy Hai Rạng, người theo đuổi chị bấy lâu nay; sự kiện chồng chị qua đời, con ruột,
mẹ ruột từ mặt, có lúc tưởng chừng chị không thể đứng vững Tất cả đều thuật lại, tựa như có một chiếc camera đã đi theo Tư Nhâm, lặng lẽ ghi hình và phát lại cho độc giả Người đọc có thể thấy được điều này qua những câu văn như:
“Chị bàng hoàng trước quyết định của mình Bủn rủn, chị qụy xuống bên bàn và khóc to Khi nghe tiếng cánh cửa ôtô sập lại, kế đó là tiếng động cơ nổ giòn, Tư Nhâm nhận ra nỗi đau đang cào xé trái tim mình, chị tuông ra cổng Xe chuyển bánh, chị chới với ngóng theo và nhận ra khuôn mặt buồn thảm của Hai Rạng,