1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn và biện pháp phòng trị tại huyện lạng giang, tỉnh bắc giang

91 140 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM GIUN TRÒN ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y Thái Nguyên - 2017... Th

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM GIUN TRÒN

ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÚ Y

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

NGHIÊN CỨU TỶ LỆ NHIỄM GIUN TRÒN

ĐƯỜNG TIÊU HÓA Ở LỢN VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ TẠI HUYỆN LẠNG GIANG - TỈNH BẮC GIANG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này được thực hiện theo đề tài Luận án Tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Hương Giang là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào Mọi thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban đào tạo sau Đại học, Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên, Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang, Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Với lòng kính trọng và biết ơn chân thành, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới

GS TS Nguyễn Thị Kim Lan - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã chỉ bảo tôi hết sức tận tình, trách nhiệm và hết lòng vì khoa học trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Đăng Huyến, TS Lê Văn Dương - Chi cục Chăn nuôi và Thú y tỉnh Bắc Giang và NCS Nguyễn Thị Hương Giang - Khoa chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ trạm Chăn nuôi và Thú y huyện Lạng Giang; cảm ơn các đồng nghiệp Thú y cơ sở, các trang trại và hộ chăn nuôi thuộc 5 xã Phi Mô, Quang Thịnh, Hương Lạc, Tân Dĩnh và Xương Lâm đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài

Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt biết ơn gia đình đã luôn tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Thái Nguyên, tháng 11 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC ĐỒ THỊ vi

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

Đánh giá được tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1.CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 3

1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn 3

1.1.2 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn 13

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 20

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.2 Vật liệu nghiên cứu 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 26

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang 26

Trang 6

2.3.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh 26

2.3.3.Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn 26

2.4.Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Lạng Giang 27

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh 31

2.4.3 Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn trên diện hẹp 32

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun tròn cho lợn 33

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HỆ THỐNG BẢNG BIỂU 35 3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang 35

3.1.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Lạng Giang 35

3.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn qua mổ khám 36

3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn qua xét nghiệm phân 38

3.1.4 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh 58

3.2.Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn 60

3.2.1.Thử nghiệm thuốc tẩy giun tròn cho lợn 60

3.2.2 Xác định khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun tròn của phương pháp ủ phân yếm khí 62

3.2.3 Nghiên cứu biện pháp phòng chống bệnh giun tròn bằng tẩy định kỳ cho lợn 64

3.2.4 Đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn 68

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 70

1 Kết luận 70

2 Đề nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán cho lợn tại Lạng

Giang 35

Bảng 3.2 Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn tại Lạng Giang 37

Bảng 3.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hoá lợn theo loài 39

Bảng 3.4 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn ở một số xã thuộchuyện Lạng Giang 41

Bảng 3.5 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi lợn 44

Bảng 3.6 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống lợn 48

Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo phương thức chăn nuôi 50

Bảng 3.8 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo mùa trong năm 53

Bảng 3.9 Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn theo tình trạng vệ sinh thú y 56

Bảng 3.10 Sự ô nhiễm trứng giun tròn ở chuồng nuôi, nước thải chuồng nuôi và vườn (bãi) trồng cây thức ăn cho lợn 58

Bảng 3.11 Hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho lợn trên diện hẹp 60

Bảng 3.12 Hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho lợn trên diện rộng 61

Bảng 3.13 Khả năng sinh nhiệt và tác dụng diệt trứng giun tròn củaphương pháp ủ yếm khí 63

Bảng 3.14 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn trước thử nghiệm 65

Bảng 3.15 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn sau 1 tháng thử nghiệm 66

Bảng 3.16 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn sau 3 tháng thử nghiệm 67

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun đũa lợn 6

Hình 1.2 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun lươn ký sinh ở lợn 7

Hình 1.3 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận của giun kết hạt 8

Hình 1.4 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun tóc 9

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ nhiếm giun tròn đường tiêu hóa của lợn ở các xã thuộc huyện Lạng Giang 42

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi lợn 45

Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống lợn 48

Hình 3.4 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo phương thức chăn nuôi 51

Hình 3.5 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn theo mùa 54

Hình 3.6 Biểu đồ tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tình trạng vệ sinh thú y 56

Trang 9

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

A suum: Ascaris suum

O dentatum: Oesophagostomum dentatum

S ransomi: Strongyloides ransomi

T suis: Trichocephalus suis

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Huyện Lạng Giang - tỉnh Bắc Giang là huyện có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển, đem lại nguồn thu nhập cao cho nhiều hộ gia đình Theo thống kê chăn nuôi (01/4/2017) của Trạm Chăn nuôi và thú y huyện Lạng Giang, tổng đàn lợn của huyện là 201.654 con (trong đó lợn nái 39.168 con, lợn thịt 162.486 con) Trong huyện có hơn

100 trại chăn nuôi lợn tập trung (quy mô từ 10 nái và 100 lợn thịt đến 1.200 lợn nái) Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi lợn của huyện, góp phần phát triển chăn nuôi lợn bền vững, tạo ra sản phẩm an toàn có sức cạnh tranh cao trên thị trường Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác trong tỉnh, chăn nuôi lợn tập trung theo quy mô vừa và nhỏ ở huyện đã và đang gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Trong nhiều năm qua, ngoài những bệnh truyền nhiễm thường gặp ở lợn như bệnh dịch tả, bệnh tụ huyết trùng, bệnh phó thương hàn còn phải kể đến các

bệnh do ký sinh trùng đường tiêu hóa, trong đó có các bệnh do giun tròn gây ra

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], nước ta là một nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm Đông Nam Á, có khu hệ ký sinh trùng động vật phong phú

và đa dạng, gây ra nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm, làm thiệt hại kinh tế đáng kể cho người chăn nuôi Ở lợn, cho đến nay đã phát hiện 52 loài ký sinh trùng gây bệnh gồm: giun tròn, sán lá, sán dây, đơn bào và côn trùng ký sinh Những bệnh trên đã gây ra các tổn thương và viêm kế phát do vi khuẩn xâm nhập vào các nội quan của lợn, ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lợn, đặc biệt là tăng tiêu tốn thức ăn, giảm tăng trọng từ 15 - 20% so với lợn không bị bệnh

Bệnh do giun tròn là bệnh thường tiến triển ở thể mạn tính, triệu chứng không

rõ, thường bị triệu chứng của các bệnh khác che lấp, đặc biệt trong năm 2016 - 2017

do giá thịt lợn đang giảm mạnh nên người chăn nuôi ít quan tâm đến phòng bệnh Những lợn đã bị nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trở thành nguồn gieo rắc mầm bệnh

ra bên ngoài và làm cho những con khác nhiễm bệnh Lợn bị nhiễm giun tròn thường gầy yếu, còi cọc, làm giảm năng suất chăn nuôi, mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập

Trang 11

Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn sản xuất chăn nuôi lợn tại huyện Lạng Giang,

chúng tôi thực hiện đề tài:“Nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn

và biện pháp phòng trị tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”

2 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá được tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Xây dựng và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn đường tiêu hoá cho lợn

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài là một công trình nghiên cứu gắn liền với thực tiễn sản xuất, kết quả của đề tài là tư liệu khoa học về tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa lợn tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang và biện pháp phòng chống

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả của đề tài là cơ sở để khuyến cáo người chăn nuôi lợn áp dụng các biện pháp phòng trị bệnh giun tròn, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun tròn ở lợn, góp phần phát triển chăn nuôi lợn tại huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

Trang 12

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Đặc điểm sinh học của một số loài giun tròn đường tiêu hóa của lợn

1.1.1.1 Vị trí của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn trong hệ thống phân loại

động vật

Tổng hợp nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16], Chu Thị Thơm và cs (2006) [42], Phan Lục và cs (2006) [29] cho rằng: có hơn 5.000 loài thuộc lớp giun tròn (Nematoda) trong đó có gần 2.000 loài giun tròn sống tự do, hơn 3.000 loài giun tròn sống ký sinh Các giun tròn ký sinh có liên quan nhiều tới thú y gồm 8 bộ phụ:

+ Bộ phụ giun đũa (Ascaridata)

+ Bộ phụ giun kim (Oxyurata)

+ Bộ phụ giun tóc (Trichocephalata)

+ Bộ phụ giun lươn (Rhabdiasata)

+ Bộ phụ giun xoắn (Stronggylata)

+ Bộ phụ giun đuôi xoắn (Spirurata)

+ Bộ phụ giun chỉ (Filariata)

+ Bộ phụ Dioctophymata

Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26], hệ thống phân loại của một số loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được sắp xếp theo vị trí như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân lớp Enoplia Chit wood, 1993

Bộ Trichocephaliada Skrjabin et Schulz, 1928 Phân bộ Trichocephalata Skjabin et Schulz, 1928 HọTrichocephalidea Bard, 1953

Trang 13

Phân họTrichocepphalus Ransomi, 1911

Giống Trichocephalus Schrank, 1788 Loài Trichocepphalus suis Schrank, 1788

Họ Trichostrongydae Witen berg, 1925

Phân họ Oesophagostomatinae Railliet, 1916 Giống Oesophagostomum Molin, 1861 Loài Oesophagostomum dentatum, (Rudolphi, 1803)

Loài Oesophagostomum brevicaudatum (Shwartz et Alicata, 1930)

Loài Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925) Phân lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Rhabditida Chitwood, 1933

Phân bộ Rhabditina Chitwood, 1933

Họ Strongyloididae Chitwood et Mcinstosch, 1934

Giống Strongyloides Grassi, 1879 Loài Strongyloides papillosus (Wedl, 1856) Loài Strongyloides ransomi (Schwartz et Alicata, 1930)

Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940

Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915

Họ Ascaris Linacus, 1758

Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Ascaris suum Goeze, 1782

1.1.1.2 Thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn

Nguyễn Thị Lê (1998) [27] cho rằng: Giun tròn ký sinh gây bệnh nguy hiểm cho người, động vật chủ yếu gồm các đại diện thuộc các bộ sau: Trichocephaliada, Strongyloidida, Oxyurida, Ascaridida, Spirurida

Trang 14

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011)[23] cho biết, thành phần loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn gồm:

3

Gnathostoma dororesi Tubangui,1925

5 Strongyloides ransomi Schwartz et Alicata, 1930 Ruột non

manh tràng

9

Oesophagostomum dentatum (Rudolphi, 1803)

Oesophagostomum brevicaudatum (Shwarts et Alicata,1930)

Oesophagostomum longicaudum (Goodey, 1925)

Ruột già

10 Baurgelatia diducta Railliet, Henry et Bauche, 1919 Ruột

1.1.1.3 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn

Giun tròn thuộc lớp Nematoda, ngành Nemathelminthes, cơ thể hình ống, hình sợi nhưng hai đầu thon nhỏ dần hoặc hình ống phân thuỳ, cơ thể hình thoi, hình tròn, hai bên đối xứng có mặt lưng và mặt bụng không phân đốt Đầu tù, đuôi nhọn, có giun đực và giun cái Giun cái lớn hơn giun đực, giun đực đuôi cong, giun cái đuôi thẳng Kích thước giun thay đổi tuỳ loài

Dưới lớp vỏ cutin là lớp biểu mô và tiếp đến là lớp cơ giúp giun di chuyển được Sau lớp cơ có những tế bào mầm giúp quá trình trao đổi chất của giun Lớp vỏ cutin cùng với lớp cơ tạo thành túi da cơ, bên trong là xoang cơ thể có chứa các khí quan:

+ Hệ tiêu hoá: Giun tròn có hệ tiêu hoá khá hoàn chỉnh Có một ống dài chạy

dọc theo thân gồm: môi, miệng, thực quản, ruột, trực tràng, và tận cùng là hậu môn

+ Hệ bài tiết: Gồm có hai ống bắt nguồn từ phía sau và hợp lại ở phía trước

rồi đổ ra ngoài qua lỗ bài tiết ở ngang vùng thực quản

Trang 15

+ Hệ thần kinh: Gồm có một vòng thần kinh thực quản, từ đó phân ra nhiều

nhánh thần kinh đi về phía trước và sau tới các phần của cơ thể Có nhiều nhánh nhỏ nối với các nhánh chính này Đầu mút sợi thần kinh nhỏ nằm trong các gai ở đầu, cổ, thân giun - đó là các gai cảm giác

+ Hệ sinh dục: Hầu hết giun tròn là đơn tính (đực, cái riêng biệt)

Giun tròn đường tiêu hóa của lợn đều mang những đặc điểm chung của lớp

giun tròn Nematoda, ngành Nemathelminthes như trên Song, mỗi loài giun tròn đều

có những đặc điểm đặc trưng riêng cho từng loài Căn cứ vào những đặc điểm đó khi

mổ khám ta có thể phân biệt sơ bộ các loài với nhau

* Giun đũa lợn (Ascaris suum)

Theo các tác giả Trịnh Văn Thịnh (1977) [38], Đào Trọng Đạt và cs (1995)

[8], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] thì: giun đũa lợn thuộc họ Ascaridae, loài Ascaris

suum ký sinh ở ruột non lợn: giun màu trắng sữa Hình ống, hai đầu hơi nhọn Đầu

có 3 môi bao quanh miệng Trên rìa môi có 1 hàng răng cưa rất rõ

Nghiên cứu về cấu tạo kích thước của loài giun này, Nguyễn Thị Lê (1996) [26] cho biết: Con đực dài 100 - 220 mm, rộng 2,7 - 3,0 mm Đuôi thường cong về phía bụng Con cái dài 290 - 300 mm, rộng 4 - 5 mm Có 2 buồng trứng, 2 ống dẫn trứng, tử cung là một ống hẹp Âm đạo ngắn, mở ra ở lỗ sinh dục cái nằm ở bụng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19]: trứng giun đũa hình bầu dục hơi ngắn, kích thước từ 0,056 - 0,087mm x 0,046 - 0,067mm, vỏ dầy gồm 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là protit, màu vàng cánh gián, nhấp nhô làn sóng

Hình 1.1 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun đũa lợn

1 Môi giun đũa lợn

2 Đuôi giun đũa đực

3 Trứng Ascaris suum

Trang 16

* Giun lươn ở lợn

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22] cho biết: tác nhân gây bệnh giun lươn ở Việt

Nam là hai loài giun lươn Strongyloides ransomi, Strongyloides papillosus thuộc giống Strongyloides ký sinh ở ruột non của lợn

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] mô tả loài Strongyloides ransomi như sau:

- Loài Strongyloides ransomi (Schwartf et Alicata, 1930):

Con cái: Cơ thể dài 2,1 - 4,2 mm, rộng nhất 0,04 - 0,08 mm Lỗ miệng có 4

môi với các núm cutin Thực quản dài 0,58 - 0,94 mm Lỗ sinh dục ở 1/3 phần sau cơ thể, có 2 buồng trứng Đuôi ngắn, thẳng, hình nón Trứng hình ô van, kích thước 0,037 - 0,060 x 0,025 - 0,042 mm, trong trứng có ấu trùng

Con đực: Cơ thể hình sợi dài 0,87 - 0,9 mm Lỗ huyệt cách mút đuôi 0,07 mm

Đuôi nhọn, cách mút đuôi 0,037 mm có 3 cặp núm

1 2

a 1 b

Hình 1.2 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun lươn ký sinh ở lợn

a 1: Giun cái sống ký sinh

2: Giun đực

3: Ấu trùng gây nhiễm

b 1: Phần đầu cơ thể 2: Đuôi cá thể đực

Trang 17

- Loài Strongyloides papillosus

Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] loài

Strongyloides papillosus có cấu tạo như sau:

- Con đực chưa được mô tả

- Con cái: Cơ thể thường cong hình chữ S, dài 4,8 - 6,3 mm, rộng nhất 0,042

- 0,078 mm Lỗ miệng có 4 môi Thực quản dài 0,770 - 1,020 mm Lỗ sinh dục có rãnh ngang, cách mút đuôi 1,8 - 2,3 mm Đầu 2 buồng trứng rất gần lỗ sinh dục Các buồng trứng nối trực tiếp với tử cung, không có đoạn chuyển tiếp Đuôi mảnh, thon nhỏ dần ở phía sau

Trứng có vỏ mỏng và phẳng, kích thước trứng 0,045 - 0,060 x 0,025 - 0,036

mm, trong trứng có ấu trùng

*Giun kết hạt (Oesophagostomum dentatum)

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22], Các loài thuộc giống

Oesophagostomum có đặc điểm hình thái chung là: túi miệng hình ống rất nhỏ, quanh

miệng có một bờ gồ lên hình đĩa, có các tua ở quanh miệng, có rãnh cổ, phía trước rãnh cổ biểu bì nở ra tạo thành túi đầu, sau rãnh cổ có gai cổ, giun đực có túi đuôi và một đôi gai giao hợp dài bằng nhau, âm hộ giun cái ở gần hậu môn

Con đực: cơ thể dài 6,2 - 6,8 mm, rộng 0,31 - 0,049 mm

Con cái: cơ thể dài 7,4 - 11,5 mm, rộng nhất 0,31 - 0,45 mm Trứng có kích thước 0,05 - 0,08 x 0,03 - 0,04 mm

A Phần đầu

B Túi đuôi giun đực

C Phần đuôi giun cái

D Trứng

Hình 1.3 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận của giun kết hạt

Trang 18

* Giun tóc (Trichocephalus suis)

Đối với đặc điểm hình thái của giun tóc, các tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: giun có màu trắng đục, giống một sợi tóc, cơ thể chia làm hai phần rõ rệt: phần đầu nhỏ, thực quản có các tế bào xếp thành chuỗi hạt, có chiều dài bằng 2/3 cơ thể, phần sau ngắn và to, bên trong là ruột

và cơ quan sinh sản Giun đực dài 20 - 52 mm, rộng 0,634 - 0,713 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại Chỉ có gai giao hợp dài 5 - 7 mm, lỗ huyệt thông ra ngoài ở phần cuối của giun Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng, hậu môn ở vào phần cuối của thân

Trứng giun tóc hình hạt chanh, màu vàng nhạt, có 2 núm ở 2 đầu, có kích thước 0,052 - 0,061 mm x 0,027 - 0,03 mm

Hình 1.4 Hình thái, cấu tạo một số bộ phận giun tóc 1.1.1.4 Vòng đời của một số loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá lợn

* Vòng đời phát triển của giun đũa lợn

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: vòng đời của giun đũa lợn thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian Giun cái đẻ mỗi ngày khoảng 200.000 trứng, trung bình một giun cái đẻ 27 triệu trứng

Giun cái đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, ở nhiệt độ khoảng 24oC và độ ẩm thích hợp, sau 2 tuần trong trứng hình thành ấu trùng, sau 1 tuần nữa thì ấu trùng lột xác Lúc đó trứng đã trở thành trứng có sức gây bệnh Thời gian hoàn thành vòng đời cần 54 - 62 ngày

Trang 19

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23]: giun đũa sống bằng chất dinh dưỡng của ký chủ, đồng thời tiết dịch tiêu hóa, phân giải tổ chức ở niêm mạc ruột và lấy tổ chức đó nuôi bản thân Tuổi thọ của giun đũa khoảng 7 - 10 tháng, nhưng nếu điều kiện sống bất lợi như khi ký chủ bị sốt cao thì tuổi thọ giun ngắn hơn

* Vòng đời phát triển của giun lươn

Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: giun lươn cái đẻ trứng ở ruột non, trứng theo phân ra ngoài đã có ấu trùng ở bên trong Trứng ra ngoài sẽ phát triển theo hai hướng: trực tiếp và gián tiếp Ấu trùng có sức gây bệnh xâm nhập vào cơ thể lợn bằng 2 con đường:

+ Qua da: ấu trùng chui qua da vào tồ chức liên kết, tới cơ, theo máu và dịch lâm ba về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non, sau 6 - 8 ngày phát triển thành giun lươn trưởng thành ký sinh

+ Qua đường tiêu hóa: ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống, vào đường tiêu hóa thì chui qua niêm mạc dạ dày vào mạch máu, rồi về phổi, ấu trùng chui qua mạch máu vào chi nhánh khí quản, theo đờm lên hầu rồi được nuốt xuống ruột non

Mặt khác, Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] cho biết: chu trình phát triển của giun lươn rất đặc biệt, ngoài phát triển trực tiếp và gián tiếp ra chúng còn tự nhiễm, nhiễm qua sữa mẹ hoặc qua nhau thai

Lora R và cs (2015) [53] cũng cho rằng: ngoài đường tiêu hóa và da, ấu trùng giun lươn còn lây nhiễm qua bào thai, qua sữa đầu do đó lây nhiễm cho lợn con trong vòng 24 giờ sau khi sinh

* Vòng đời phát triển của giun kết hạt

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23], Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: vòng đời phát triển của giun kết hạt thuộc kiểu vòng đời không cần ký chủ trung gian Trứng theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp 25 - 27oC, sau 10 - 17giờ nở thành

ấu trùng, qua hai lần lột xác, sau 7 - 8 ngày phát triển thành ấu trùng gây nhiễm Ấu trùng lẫn vào thức ăn, nước uống Khi ký chủ nuốt phải ấu trùng này, tới ruột, ấu

Trang 20

trùng chui vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén Trong u kén, ấu trùng lột xác lần thứ 3, tới ngày thứ 6 - 8 thì thành ấu trùng kỳ IV, sau đó rời khỏi niêm mạc ruột vào xoang ruột và lột xác lần nữa thành giun trưởng thành Thời gian hoàn thành vòng đời tùy từng loài giun

* Vòng đời phát triển của giun tóc

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16] cho biết, vòng đời phát triển của giun tóc diễn ra như sau:

Giun cái đẻ trứng trong ruột già của ký chủ Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng có sức gây bệnh Trứng này theo thức ăn, nước uống vào đường tiêu hoá của ký chủ, trứng ở thành ấu trùng, sau đó chui sâu vào niêm mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành

Thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối với

Trichocephalus suis cần 30 ngày

Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] cũng cho biết: điều kiện nhiệt độ 18 - 30oC,

ẩm độ 80 - 85% là môi trường thuận lợi cho trứng giun phát triển thành trứng có sức gây bệnh sau 15 - 28 ngày Tác giả này còn cho biết con đường lây nhiễm chủ yếu qua đường tiêu hóa

Về thời gian hoàn thành vòng đời, Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19] cho biết: thời gian hoàn thành vòng đời trong cơ thể tuỳ loài giun tóc nhưng đối với

Trichocephalus suis cần 30 ngày

Theo Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương (1990) [10], giun Trichocephalus

suis sống được trong cơ thể lợn là 114 ngày Tuy nhiên, Đào Trọng Đạt và cs (1995)

[8], Taylor M A và cs (2013) [62] cho rằng: tuổi thọ của giun Trichocephalus suis

Trang 21

- Sức đề kháng của trứng giun đũa:

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [14], Nguyễn Phước Tương (1994) [45] cho biết: ở vùng khô lạnh trứng giun đũa có thể sống trên 6 năm

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19]: trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao

do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học

- Sức đề kháng của giun lươn:

Johanes Kaufmann (1996) [51], dưới tác động của ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp, ấu trùng giun lươn bị diệt sau 8 - 9 giờ Ở trong nước hoặc trong môi trường có

độ ẩm cao, ấu trùng có thể sống trên 3 tháng Nhưng nếu ẩm độ thấp, khô ráo thì sau

6 - 7 giờ ấu trùng bị chết

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [26] cho biết: trứng giun lươn bị diệt nhanh trong

hố ủ phân nhiệt sinh học

Theo Nguyễn Trọng Kim (2001) [15], trứng giun lươn có thể sống ở nơi đất ẩm trong thời gian 2 tháng

Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [22] cho rằng: trứng giun lươn có khả năng phát triển tốt trong điều kiện nhiệt độ 20 - 30oC Nhiệt độ thấp trứng ngừng phát triển Ở trên 50oC và - 9oC trứng bị chết Ấu trùng gây nhiễm sống ở nơi ẩm ướt được 2 tháng, không sống được ở nơi khô hạn

- Sức đề kháng cùa giun tóc:

Nghiên cứu về khả năng tồn tại của trứng giun tóc ngoài môi trường chăn nuôi Sengupta M E và cs (2011) [60], Liu G H và cs (2012) [54], Nejsum P và cs (2012)

[55] cho biết: trứng Trichocephalus suis vẫn có thể phát triển trong nước thải chăn

nuôi chưa được xử lý tốt trong nhiều năm Nếu nước thải này được sử dụng tưới cho

cây trồng sẽ là điều kiện tốt để trứng giun Trichocephalus suis phát tán ra ngoại cảnh,

nguy cơ lây nhiễm cho lợn và con người là rất cao

Trang 22

- Sức đề kháng của giun kết hạt:

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23], ấu trùng Oesophagostomum dentatum

có sức đề kháng tốt với nhiệt độ, để ở -19oC - 29oC qua 10 ngày vẫn sống và sẽ chết cũng để ở nhiệt độ -19oC - 29oC đến 31 ngày, để ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống 1 năm Ấu trùng rất nhạy cảm với điều kiện khô ráo Ở nhiệt độ 35oC trứng của loài giun này sẽ bị chết

1.1.2 Bệnh giun tròn ở đường tiêu hóa lợn

1.1.2.1 Đặc điểm dịch tễ học

Theo Phan Lục và cs (2006) [29]: lợn thường nhiễm giun đũa với tỷ lệ cao, cường độ lớn ở lứa tuổi 3 - 5 tháng Lợn nuôi thả có tỷ lệ nhiễm giun cao hơn nuôi nhốt Lợn thiếu dinh dưỡng, thiếu vitamin thường bị nhiễm giun Trứng giun ở giai đoạn gây nhiễm có sức đề kháng tốt với điều kiện bất lợi của môi trường

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16] cho biết: trứng giun đũa có sức đề kháng rất cao, do có 4 lớp vỏ dày, trong điều kiện tự nhiên sống được 1 - 2 năm, có sức đề kháng mạnh với một số chất hoá học (formol 2%, creolin 3%, H2SO4 1%, NaOH 2%)

Ở nhiệt độ 45 - 50oC trứng chết trong nửa giờ, nước nóng 60oC diệt trứng trong

5 phút, nước 70oC chỉ cần 1 - 10 giây Vì vậy, ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh học sẽ diệt được trứng giun đũa

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [20], giun đũa phân bố rộng khắp thế giới, nguyên nhân chính là do giun đũa truyền trực tiếp và sức đề kháng của trứng giun rất mạnh

1.1.2.2 Cơ chế sinh bệnh

Ký sinh trùng gây bệnh cho ký chủ thông qua bốn tác động:

* Tác động cơ giới: làm tắc nghẽn, chèn ép, phá vỡ hoặc làm thủng, tróc niêm

mạc của tổ chức gây xuất huyết dẫn tới viêm, thường gặp ở thể cấp tính, thứ cấp tính hoặc mạn tính

Trang 23

* Tác động chiếm đoạt: ký sinh trùng tự nuôi dưỡng bằng ăn tổ chức của ký

chủ, cướp một phần thức ăn của ký chủ đã tiêu hoá, hút máu ký chủ

* Tác động đầu độc: ký sinh trùng bài tiết các chất độc hàng ngày, ký chủ hấp

thụ chất độc, sinh ra những biến loạn khác nhau nhưng thường thấy nhất là biến loạn thần kinh và tuần hoàn

* Tác động truyền bệnh: giun sán bám vào các niêm mạc gây thương tích, phá

vỡ phòng tuyến thượng bì, mở đường cho các vi khuẩn trong môi trường xâm nhập

Giun đũa tiết độc tố gây nhiễm độc thần kinh trung ương và mạch máu, con vật có triệu trứng thần kinh như tê liệt hoặc hưng phấn, co giật

Giun lấy chất dinh dưỡng của ký chủ, thải cặn bã gây độc cho ký chủ Kết quả

là làm cho ký chủ gầy còm, chậm lớn Giun đũa nhiều làm tắc ruột, có khi thành búi, ruột có thể rách hay thủng

Lợn bị giun đũa thì yếu ớt, lờ đờ, lông xù và dựng, dần dần gầy trơ xương Nếu rách ruột thì lợn chết đột ngột Giun có thể chui lên dạ dày, thực quản, da, mõm hoặc qua yết hầu vào phổi gây ngạt thở hoặc chui vào ống mật

Trang 24

Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây ra hiện tượng xuất huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy

1.1.2.3 Triệu chứng và bệnh tích của bệnh giun tròn đường tiêu hóa lợn

* Đối với bệnh giun đũa lợn:

Triệu chứng: lợn con nhiễm bệnh có triệu chứng rõ ràng như gầy còm, sút cân, chậm lớn, rối loạn tiêu hoá, nhiều khi làm tắc ruột, thủng ruột, đau bụng, một số con có triệu chứng thần kinh, nổi mẩn Ở lợn lớn thì triệu chứng thường không thể hiện rõ

Bệnh tích: khi viêm phổi thấy trên mặt phổi có đám huyết màu hồng thẫm, có nhiều ấu trùng giun đũa ở phổi Khi giun trưởng thành thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun ký sinh ở ruột non Nếu tắc và vỡ ruột thì có bệnh tích viêm phúc mạc

* Đối với bệnh giun kết hạt lợn:

Trang 25

Giai đoạn giun trưởng thành thường gây triệu chứng mãn tính: Có từng thời

kỳ con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm, các triệu chứng khác không rõ lắm

Bệnh tích: sau khi nhiễm 5 ngày thì thấy những u kén nhỏ ở trên niêm mạc ruột, ở giữa u kén có màu vàng, trong có ấu trùng giun, có khi bọc này bị hoại tử, bên trong có mủ và bị loét, tới ngày thứ 7 - 8 thì kết tràng bị viêm có mủ Có khi tới vài nghìn u kén trên một đoạn ruột, u kén to bằng đầu đinh ghim, hạt đậu này có khi bị vôi hoá, chỉ thấy ấu trùng ở những hạt chưa bị vôi hoá

* Đối với bệnh giun lươn lợn:

Súc vật non nhiễm bệnh thể hiện triệu chứng rõ rệt Lợn con sau đẻ 3 - 4 tuần bệnh nhiễm rất nặng, chết tới 50% con vật gầy còm, có mụn trên da (do ấu trùng giun lươn chui qua da gây viêm da), viêm kết mạc mắt, ỉa chảy, phân có lẫn máu, thân nhiệt tăng, có triệu chứng viêm phổi (con vật ho), triệu chứng kéo dài 15 - 30 ngày Nếu nặng có thể chết do bị mất nước, rối loạn chất điện giải trong trạng thái viêm ruột cấp, khi nhiễm nhẹ triệu chứng không rõ rệt

Bệnh tích: dưới da có những điểm tụ huyết, tổ chức cơ và phổi cũng có nhiều điểm hoặc đám tụ huyết, viêm khí quản, viêm cata dạ dày - ruột, niêm mạc ruột có những điểm tụ huyết có thể bị bong ra, niêm mạc dạ dày có nhiều mụn loét nhỏ, xác chết gầy

* Đối với bệnh giun tóc lợn:

Triệu chứng: khi lợn bị nhiễm nhẹ thì triệu chứng không rõ, khi nặng thì thường gầy yếu, thiếu máu, trong phân có lẫn máu và niêm mạc ruột, con vật có khi

bị kiết lị Bệnh thường thấy ở lợn con, còn lợn trên 6 tháng tuổi và lợn vỗ béo rất ít

bị bệnh

Bệnh tích: niêm mạc ruột già bị viêm, xuất huyết, trên niêm mạc có nhiều giun tóc trưởng thành cắm sâu vào thành ruột, xác chết gầy, có nhiều giun ở ruột già (nhất

là manh tràng) Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột phải kéo mạnh mới lấy

ra được Trên niêm mạc ruột có những nốt loét to bằng hạt đậu xanh Khi nhiễm nặng, toàn bộ manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm, niêm mạc ruột bị bong ra

Trang 26

Chống giai đoạn thứ nhất: ký sinh trùng trưởng thành đẻ trứng ở ký chủ cuối cùng Có thể tiêu diệt nó bằng hai phương pháp: dùng thuốc đặc hiệu diệt ký sinh trùng (việc tẩy ký sinh trùng này có tính chất dự phòng, tức là thực hiện trước khi súc vật phát hiện triệu chứng bệnh và trước khi súc vật gieo rắc mầm bệnh ra bên ngoài môi trường), tiêu diệt ký sinh trùng bằng cách giết tất cả những vật mắc bệnh (phương pháp này triệt để nhưng tốn kém mặc dù thịt súc vật vẫn sử dụng được)

Chống giai đoạn thứ hai (trứng), có thể dùng hai phương pháp: tiêu diệt hầu hết trứng bằng cách thu nhặt hết phân của gia súc ốm trong chuồng và đem chôn (biện pháp này phải làm đi làm lại nhiều lần để trứng không có thời gian phát triển thành phôi thai) hoặc có thể ủ phân theo phương pháp nhiệt sinh vật học Đối với súc vật chăn thả, phải ngăn không cho trứng trên đồng cỏ phát triển bằng cách làm cho đồng

cỏ khô ráo

Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư (phôi thai và ấu trùng tự do ngoài thiên nhiên)

có hai cách: diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng cỏ và ao tù bằng vôi bột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1 ha đồng cỏ, 5 kg cho 100 m3nước ao Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi, vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt ký chủ trung gian)

Trang 27

Skrjabin K I (1963) [36] đã đề ra học thuyết tiêu diệt tận gốc bệnh giun sán Học thuyết này có thể áp dụng cho các bệnh ký sinh trùng khác Nội dung của học thuyết là dự phòng có tính chất chủ động như: dùng tất cả các biện pháp cơ giới, vật lý, hoá học, sinh vật học nhằm tiêu diệt ký sinh trùng trên cơ thể ký chủ, tiêu diệt ký sinh trùng ngoại giới, tiêu diệt ký sinh trùng ở tất cả các giai đoạn phát dục, tiêu diệt ký sinh trùng ở cả người và gia súc

Về mặt điều trị gia súc bệnh, nội dung của nó cũng là dự phòng: chữa cho một súc vật khỏi bệnh, diệt được ký sinh trùng trong cơ thể nó là trừ được một con vật mang ký sinh trùng, trừ được một nguồn gieo rắc bệnh

Như vậy, đối với con vật mắc bệnh là điều trị nhưng đối với các con khác là tích cực đề phòng Vì vậy, việc phòng và trị bệnh giun sán tuy là hai vấn đề khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau để tiêu diệt giun sán tận gốc, tránh lây lan mầm bệnh

Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [20] cho biết: căn cứ vào kết quả nghiên cứu sinh thái, chu trình sinh học của giun đũa lợn, kết quả nghiên cứu thuốc điều trị giun đũa cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp vào các khâu sau:

Diệt căn bệnh ở cơ thể lợn

Tẩy giun 3 tháng một lần Sau khi tẩy, vệ sinh tốt, cho ăn chín thì một đời lợn bột chỉ cần tẩy một lần vào lúc tách mẹ

Đối với lợn có chửa, lợn đang nuôi con và lợn con theo mẹ thì không tẩy Đối với lợn chăn nuôi tập trung thì khoảng 3 - 4 tháng tẩy một lần cho tất cả lợn ở diện tẩy

Trịnh Văn Thịnh (1977) [38] cho biết: phải giữ vệ sinh, không cho lợn uống nước và ăn thức ăn bẩn, nếu cho ăn rau bèo sống thì phải rửa sạch Không thả rông lợn, làm hố xí cho người, làm chuồng nuôi và hố ủ phân cho lợn

* Một số thuốc dùng để trị bệnh giun tròn ở lợn

Để sử dụng các loại thuốc tẩy trừ giun tròn đường tiêu hóa ở lợn có hiệu quả nhất, cần xây dựng lịch tẩy trừ thích hợp với các điều kiện cụ thể ở vùng có bệnh

Trang 28

Nên sử dụng thuốc có phổ tác dụng rộng, một loại thuốc có thể tẩy trừ nhiều loại giun tròn Sử dụng đúng liều lượng, đúng kỹ thuật nhằm tránh hiện tượng kháng thuốc (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012 [19])

Ở Việt Nam, tác giả Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] đã kết luận: có thể dùng ivermectin liều 0,3 mg/kg TT tiêm cho lợn mẹ từ 1 - 2 tuần trước đẻ, thuốc dùng 2 liều, mỗi liều cách nhau 7 ngày, để ngăn cản sự lây nhiễm giun lươn từ lợn mẹ sang lợn con

Các tác giả Phan Địch Lân và cs (2005) [24], Phạm Sỹ Lăng và cs (2011) [23] cho biết có thể dùng ivermectin để tẩy giun kết hạt cho lợn, với liều 0,2 mg/kg TT cho kết quả điều trị cao

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [16]: việc dùng thuốc tẩy giun phải đạt được những yêu cầu sau:

Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật nuôi Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm bệnh giun sán Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác Phải dùng thuốc tẩy giun sán từ lúc

nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt phân có trứng giun

Dùng thuốc tẩy giun, sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký sinh trùng, đồng thời ít nguy hiểm nhất đối với ký chủ, rẻ tiền và dễ dùng nhất

Ngăn chặn không cho con vật ốm tái nhiễm, chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bổ sung đầy đủ dinh dưỡng, đưa con vật ra khỏi nơi có bệnh, tiêu độc chỗ đó trước khi cho vật nuôi vào lại

Hướng mới trong việc chữa bệnh ký sinh trùng là tìm những thuốc có hiệu lực chống được nhiều loài ký sinh trùng, có tác dụng tẩy nhiều loài giun tròn Trong phạm

vi của đề tài chúng tôi thử nghiệm hiệu lực tẩy trừ giun tròn bằng 3 loại thuốc thiabendazole, fenbendazole và ivermectin Trên cơ sở khoa học của ba loại thuốc này đã được sử dụng có hiệu lực tẩy trừ rất tốt đối với các loài giun tròn

- Thuốc thiabendazole:

Trang 29

Thiabendazole là loại thuốc chống ký sinh trùng đặc hiệu, phổ rộng có thể diệt

được nhiều loại giun: giun đũa, ấu trùng giun lươn, giun móc, giun tóc, giun kim

Thiabendazole không những ngăn chặn việc sản sinh trứng, ấu trùng mà còn ngăn chặn việc phát triển trứng hay ấu trùng này khi nó bị đào thải ra phân Thuốc

an toàn đối với vật nuôi

Liều lượng: 6,5 mg/kg TT cho uống Thuốc dạng viên nén

- Thuốc fenbendazole:

Fenbendazole là một loại thuốc diệt giun, sán thuộc nhóm Benzimidazole Fenbendazole liên kết với lớp vỏ protein của giun, sán làm phá vỡ cấu trúc của tế bào, cản trở chức năng vận chuyển của tế bào dẫn đến các bộ phận của cơ thể ngừng hoạt động Theo một số nghiên cứu khác thuốc có tác dụng ức chế quá trình hấp thu glucose, làm suy giảm glycogen và ATP cần cho hoạt động sống của giun sán

Fenbendazole diệt giun tròn và dẹp ở giai đoạn trưởng thành hoặc ấu trùng Thuốc cũng có hiệu quả tốt ở giai đoạn trứng của ký sinh trùng trên vật nuôi Thuốc dạng bột hòa tan trộn thức ăn hoặc nước uống Thuốc rất an toàn đối với vật nuôi

Liều lượng: 5 mg/kg TT

- Thuốc ivermectin:

Ivermectin là một loại thuốc trị ký sinh trùng nằm trong nhóm avermectin có cấu trúc hóa học liên quan đến vòng macrolid Avermectin được chiết xuất từ nấm Streptomycin avermitilis Ivermectin là chất bán tổng hợp từ avermectin Thuốc dạng bột màu trắng ít tan trong nước, tan trong dung môi hữu cơ Thuốc có tác dụng phong

bế sự dẫn truyền xung động thần kinh của các loài giun, sán

Ivermectin có tác dụng tẩy được cả nội, ngoại ký sinh trùng Trong điều trị các bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn như giun đũa, giun tóc, giun lươn, giun kết hạt Thuốc có tác dụng tẩy giun ở các thời kỳ khác nhau, dạng trưởng thành và các thời kỳ phát triển của ấu trùng ký sinh trên vật nuôi Khi sử dụng rất an toàn cho các loài gia súc

Liều lượng: 0,3 mg/kg TT tiêm dưới da hoặc tiêm bắp

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

Trang 30

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Đào Trọng Đạt (1995) [8] cho biết: đã xác định được 49 loài giun, sán mà nước ta hay cảm nhiễm nhất Trong đó sán lá ruột lợn và giun đũa lợn là hai loài nguy hiểm nhất, công tác nghiên cứu đã tập chung tìm hiểu chu trình sinh học, dịch tễ học

vả thử nghiệm các quy trình phòng trừ Đến nay, biện pháp phòng trừ các bệnh giun, sán đã trở thành tiến bộ kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi theo các quy trình này Một đời lợn chỉ cần tẩy một lần, lợn nái được tẩy khi tách con, lợn đực giống kiểm tra có giun mới tẩy

Trịnh Văn Thịnh và Đỗ Dương Thái (1978) [39] cho biết: năm 1975 - 1979 điều tra bằng xét nghiệm phân ở 10 địa điểm thuộc 10 vùng địa lý khác nhau, trong những điều kiện chăn nuôi khác nhau, trên khoảng 2000 con lợn cho thấy: tỷ lệ nhiễm

giun đũa là 56%, các loại giun xoăn (Strongylata) là 3,25%, giun tóc (Trichocephalus)

là 2,3%, giun đầu gai là 0,18%

Tuổi lợn nhiễm các loại giun tròn nặng nhất là từ 2 - 4 tháng tuổi trên một tỷ lệ

nhiễm chung là 49 - 65,9% Qua mổ khám thấy các loại giun, sán chính ở lợn là: Ascaris

suum, Metastrongylus elongatus, Oesphagostomum dentatum, Trichocephalus suis

Theo Trịnh Văn Thịnh (1977) [38]: giun đũa gây thiệt hại nặng ở lợn con, làm cho lợn con chậm lớn, trọng lượng giảm 30 - 50%, nếu bị nhiễm nhiều giun và không được nuôi dưỡng tốt thì lợn con chết nhiều Lợn từ 2 - 6 tháng tuổi thường bị nhiễm giun đũa nhiều nhất Lợn nhiễm giun lươn với tỷ lệ khá cao từ 18 - 45% tuỳ vùng, nhất là những cơ sở nuôi lợn tập chung, nếu nuôi phân tán (chăn nuôi gia đình) tỷ lệ nhiễm thấp hơn khoảng từ 3 - 5%, tỷ lệ nhiễm giun lươn theo tuổi như sau: lợn dưới 2 tháng tuổi: 63,5%; 3 - 4 tháng tuổi: 21,4%; 5 - 6 tháng tuổi: 5%; 7 - 8 tháng tuổi: 6,9%; trên

8 tháng tuổi: 7,5%

Điều tra tình hình nhiễm giun tóc lợn ở Hà Nội cho thấy, tỷ lệ nhiễm là: 4,3 - 30% từ 2 - 6 tháng tuổi; 0,56 - 7,8% đối với lợn trên 6 tháng tuổi, lợn nhỏ hơn 2 tháng tuổi không có giun tóc, vệ sinh tốt tỷ lệ nhiễm thấp (2,5%), vệ sinh kém tỷ lệ nhiễm cao hơn (23%)

Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [17] cho biết: lợn bình thường và lợn tiêu

Trang 31

chảy đều có ký sinh trùng đường tiêu hoá ký sinh, song nhìn chung tỷ lệ và mức độ nhiễm của lợn tiêu chảy cao hơn rõ rệt so với lợn bình thường Ở lợn bình thường nhiễm giun đũa (31,90%), giun tóc (23,01%), giun kết hạt (20,86%) Ở lợn tiêu chảy, các tỷ lệ nhiễm tương ứng là: 34,19%; 55,46%; 27,01%; 23,85%

Theo Nguyễn Thị Lê (1998) [27]: đặc tính thức ăn của vật chủ ảnh hưởng rất lớn đến ký sinh trùng đường ruột và nội ký sinh trùng khác theo 2 hướng như thức ăn được động vật nuốt phải từ đất hoặc cây cỏ đã bị nhiễm bẩn với các dạng ấu trùng cảm nhiễm, mà các dạng ấu trùng này có thể thích nghi với đời sống ký sinh ở ruột Mặt khác, có thể thấy rằng thức ăn có thành phần hoá học giống với môi trường đường ruột tạo điều kiện thuận lợi cho sự dinh dưỡng của vật ký sinh

Phạm Sỹ Lăng và cs (1997) [20] cho biết: tình hình nhiễm giun kết hạt tăng dần theo tuổi do lợn con có sức đề kháng tốt đối với giun kết hạt: lợn dưới 2 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 39,2%; lợn 4 - 7 tháng tuổi tỷ lệ nhiễm 72,1%; lợn trên 8 tháng tuổi

tỷ lệ nhiễm 73,3%

Tác giả còn cho biết, thức ăn thiếu sinh tố A làm cho lợn con dễ bị viêm phổi

do giun đũa gây ra

Nguyễn Văn Nội và cs (1978) [33] đã thí nghiệm trên 7 con lợn, qua 66 ngày theo dõi tác giả thấy với liều 10.000 trứng giun đũa người gây nhiễm nhân tạo cho lợn, không thấy lợn có biểu hiện triệu chứng khác thường, vẫn khoẻ mạnh và tăng trọng nhanh Kết quả mổ khám 2 lợn và xét nghiệm phân của 5 lợn không thấy giun đũa và trứng giun đũa, chứng tỏ lợn không nhiễm giun đũa người

Tác giả cũng cho biết, giun tóc lợn và loài giun tóc gây bệnh cho người có rất nhiều điểm giống nhau về mặt hình thái Do vậy, bệnh này ở lợn có thể lây sang người, người nhiễm bệnh một cách tự nhiên do nuốt trứng giun tóc của lợn chứa ấu trùng Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun tóc trưởng thành cư trú

ở ruột già và gây ra bệnh giun tóc ở người Sau khi trứng giun tóc lợn được bài xuất

ra ngoài qua phân người lại có khả năng gây nhiễm lại cho lợn (tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11 % so với trứng của lợn có tỷ lệ phát triển là 86%)

La Văn Công (2016) [5] đã xét nghiệm 9936 mẫu phân lợn ở các lứa tuổi tại

Trang 32

ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, đã phát hiện 5 loài giun tròn ký sinh ở

đường tiêu hóa của lợn là T suis, A suum, O detatum, S ransomi và G dolore Tỷ

lệ nhiễm chung của loài T suis là 30,35%, A suum là 37,67%, O detatum là 34,47%,

S ransomi là 31,97 và G doloresi là 18,75%

Đoàn Thị Phương (2010) [34] cho biết: tính chung tỷ lệ nhiễm giun lươn ở vụ

Hè -Thu (56,51%) cao hơn vụ Đông - Xuân (45,44%), tỷ lệ này biến động từ 35,98%

- 66,26%

Nguyễn Thị Bích Ngà (2015) [32] nghiên cứu về hiệu lực của 3 loại thuốc

ivermectin, levamisole và fenbendazole tẩy giun T suis trên lợn ngoài thực địa đều

cho hiệu lực tẩy cao và an toàn đối với lợn Ivermectin có hiệu lực 98,47%, levamisole

94,59% và fenbendazole 95,83%

1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Theo Anderdahl (1997) [1]: Nếu cho lợn nhiễm trứng giun đũa sau 5 ngày lại cho nhiễm mầm bệnh suyễn thì bệnh tích gây ra ở phổi gấp 10 lần so với lợn bị suyễn đơn thuần

Klexov N D và Xkulikoe N (1931) đã chữa bệnh giun kết hạt lợn và cho rằng, phương pháp hiệu quả hơn cả là dùng dung dịch pha loãng 0,8 - 1 gam iod trong

100 ml nước (Skrjabin K I và cs, 1944 [35])

Theo Miax E A và Nikova (1937) có thể tẩy giun kết hạt cho lợn bằng cách thụt 0,5% formalin với liều 2000 ml cho một lợn nặng 124 - 140 kg Chữa bằng formalin nên tiến hành ở nền chuồng nghiêng 30 - 40oC để đầu thấp hơn phía sau, làm như vậy thì thuốc ngấm nhiều nhất trong ruột già tức là ngấm nhiều ở chỗ giun

ký sinh (Skrjabin K I và cs, 1944 [35])

Kyobekga M B (1979) đã dùng piperazin cho 86 lợn con ở lứa tuổi 2 tuần tuổi, trộn với thức ăn liều 26 mg/kg TT bằng cách chia nhóm mỗi ngày, trong 45 ngày liền Trong lô đối chứng, tác giả đã dùng 103 lợn có độ tuổi và khối lượng tương đương ở các điều kiện chăm sóc tương tự Kiểm tra giun, sán trong phân của lợn con tuổi 2,5 - 3 tháng tuổi, những con non ở trên sân chơi mà đất bị nhiễm trứng giun đũa, giun kết hạt, giun tóc và các loại giun khác, tác giả xác định, hiệu lực phòng bệnh của

Trang 33

thuốc piperazin đối với giun đũa là 67,2%, với giun tóc 16,4% và đối với giun kết hạn là 30% Mức độ an toàn của những lợn con ở nhóm thí nghiệm ở độ tuổi 4 tháng

là 74,7% (Skrjabin K I và cs, 1944 [35])

Takate (1951) đã thí nghiệm: lấy trứng giun đũa lợn gây nhiễm cho 19 người lớn thì có 7 người bị nhiễm Theo Mozgovoi (1953), ngoài người ra còn có 10 loài động vật khác nhau như lợn, chó cũng nhiễm trứng giun đũa người Vì vậy tác giả thừa nhận, giun đũa lợn và giun đũa người không cùng một loài Xét về mặt dịch tễ,

ở một khu vực lợn nhiễm giun đũa với tỷ lệ rất cao nhưng người nhiễm không cao Điều đó chứng tỏ, giun đũa lợn và giun đũa người là hai loài khác nhau, không có liên quan trực tiếp (Skrjabin K I và cs, 1944 [35])

Johanes Kaufmann (1996) [51] cho biết: sự lây nhiễm giun đũa cho lợn con

có thể được ngăn chặn bằng cách điều trị cho lợn mẹ trước khi đẻ Benzimidazole, febatel và levamisole có tác dụng hữu hiệu để chống lại sự lây nhiễm Ivermectin (0,3 mg/kg TT) dùng cho lợn trưởng thành, dùng trước khi đẻ 1 - 2 tuần có thể kiểm soát được sự lây nhiễm cho lợn con sau khi sinh

Miaxnikoba E A và Agrin - Zonxki P A (1933) đã làm thí nghiệm và chứng minh rằng, lợn con mắc bệnh giun đũa có mức tăng trọng trong ba tháng không bằng 1/3 so với lợn khoẻ, điều đó nói lên rằng bệnh giun đũa gây tổn thất kinh tế lớn cho nghề chăn nuôi lợn (Skrjabin K I và cs, 1944 [35)

Roesel và cs (2016) [57] cho biết: tại các trang trại thường xuyên thu gom rác thải xử lý và sử dụng các chất sát trùng tiêu độc chuồng trại thì lợn bị nhiễm giun tròn với tỷ lệ thấp

Theo Alynne S Barbosa và cs (2015) [48]: lợn nuôi trong các trang trại gia

đình nhiễm Strongyloides ransomi cao hơn các trang trại chăn nuôi công nghiệp

Trang 34

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của lợn nuôi tại các địa phương của huyện Lạng Giang - tỉnh Bắc Giang

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: tháng 7/2016 - tháng 7/2017

- Địa điểm nghiên cứu: xã Hương Lạc, Quang Thịnh, Phi Mô, Xương Lâm và Tân Dĩnh thuộc huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

- Địa điểm xét nghiệm mẫu:

Phòng thí nghiệm Khoa Chăn nuôi thú y - Trường Đại học Nông Lâm Bắc Giang

2.2 Vật liệu nghiên cứu

* Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

- Kính hiển vi quang học, máy ly tâm

- Bộ dụng cụ xét nghiệm phân: lưới lọc, đũa và cốc thủy tinh, lọ thủy tinh nhỏ, lam kính, lamen

- Dung dịch NaCl bão hòa, dung dịch Barbagallo

- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác

- Thuốc trị giun tròn: fenbendazole, ivermectin, thiabendazole

Trang 35

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại huyện

Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

2.3.1.1 Thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa của lợn tại

huyện Lạng Giang

2.3.1.2 Thành phần và sự phân bố các loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của

lợn tại huyện Lạng Giang qua mổ khám

2.3.1.3 Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn qua xét nghiệm phân

+ Tỷ lệ và cường độ nhiễm các loài giun tròn ở đường tiêu hóa của lợn

+ Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn ở các địa phương

+ Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo tuổi lợn

+ Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa theo giống lợn

+ Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn theo phương thức chăn nuôi + Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn theo mùa trong năm

+ Tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa của lợn theo tình trạng vệ sinh thú y

2.3.2 Nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh

Sự ô nhiễm trứng giun tròn ở chuồng nuôi, nước thải chuồng nuôi và ở vườn trồng cây thức ăn cho lợn

2.3.3 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun tròn cho lợn

2.3.3.1 Thử nghiệm và xác định hiệu lực thuốc tẩy giun tròn

- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho lợn trên diện hẹp

- Xác định hiệu lực của thuốc tẩy giun tròn cho lợn trên diện rộng

2.3.3.2 Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun tròn cho lợn

- Nghiên cứu diệt trứng giun tròn bằng cách ủ phân lợn theo phương pháp ủ phân yếm khí

- Nghiên cứu phòng bệnh giun tròn cho lợn bằng định kỳ dùng thuốc tẩy dự phòng

2.3.3.3 Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun tròn cho lợn

Trang 36

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa

của lợn tại huyện Lạng Giang

2.4.1.1 Điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun tròn đường tiêu hóa của

lợn tại huyện Lạng Giang

- Trực tiếp quan sát

- Phỏng vấn và phát phiếu điều tra

2.4.1.2 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn

Để nghiên cứu tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn, chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả và dịch tễ học phân tích (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011 [37])

Chọn mẫu: số lợn mổ khám và xét nghiệm phân ở các thôn được lấy ngẫu nhiên Vì vậy, có lợn khỏe (không bị nhiễm ký sinh trùng), có lợn nhiễm ký sinh trùng, có lợn tiêu chảy, có lợn phân bình thường Tuy nhiên đã loại trừ những lợn mắc bệnh truyền nhiễm và các bệnh khác như bệnh nội khoa, bệnh ngoại khoa và bệnh sản khoa

Cỡ mẫu nghiên cứu: cỡ mẫu cần lấy được tính toán theo công thức dịch tễ học (Nguyễn Như Thanh và cs, 2011 [37])

n =

1,96 2 x p(1- p)

d 2

Trong đó: + n: dung lượng mẫu cần nghiên cứu

+ p: tỷ lệ lưu hành giun tròn đường tiêu hóa của lợn ước đoán

+ d: sai số ước lượng

+ 1,96: giá trị của hệ số giới hạn tương ứng với độ chính xác 95%

Dựa vào công thức trên, đã tính được số lượng mẫu tối thiểu cần thu thập tại

5 xã của huyện là 323 mẫu Với dự kiến tỷ lệ nhiễm giun tròn là 30%, sai số ước lượng 0,05, độ tin cậy 95% Tuy nhiên trong thực tế chúng tôi đã thu thập mẫu phân của 750 lợn và mổ khám 75 lợn tại 5 xã Tân Dĩnh, Phi Mô, Quang Thịnh, Hương Lạc

và Xương Lâm

Trang 37

* Cách mổ khám và thu thập giun tròn:

Để tìm giun tròn ký sinh ở đường tiêu hoá, tiến hành mổ khám lợn ở mỗi xã 15 con theo phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hoá của Skrjabin K I (1928): Dùng kéo nhọn, sắc cắt dọc theo chiều dài của đường tiêu hóa, kiểm tra tất cả các phần: thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, gan, phổi và tụy

Ngoài ra, còn áp dụng phương pháp mổ khám không toàn diện: chỉ mổ khám phần ruột già và ruột non của lợn

Thu lượm giun tròn trong chất chứa ở mỗi phần, sau khi làm lắng chất chứa theo phương pháp của Benedek (1943) và những giun tròn còn bám trên niêm mạc.Giun tròn ở mỗi phần của cơ quan tiêu hóa đều được để riêng Giun tròn của mỗi lợn cũng được để riêng Sau khi thu thập, chúng được làm chết tự nhiên trong nước lã, bảo quản trong dung dịch Barbagallo Mỗi lọ đều có nhãn ghi rõ nơi ký sinh, địa điểm và thời gian mổ khám Những nội dung ghi trên nhãn cũng được ghi vào sổ mổ khám

Phân loại sơ bộ các loài giun tròn đã thu thập được dưới kính lúp và kính hiển vi, căn cứ vào hình thái, cấu tạo của giun tròn trưởng thành theo khoá định loại của Phan Thế Việt và cs (1977) [46]

Việc xác định chính xác thành phần loài giun tròn ở đường tiêu hoá lợn được thực hiện ở Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật

* Phương pháp thu thập mẫu phân, xét nghiệm và đánh giá tỷ lệ nhiễm giun tròn đường tiêu hóa ở lợn

Việc thu thập mẫu được tiến hành ngẫu nhiên tại các trang trại và nông hộ nuôi lợn Số mẫu phân được lấy ở 5 xã thuộc huyện Lạng Giang

Mẫu phân lợn mới thải ra được thu thập, đựng trong túi nilon buộc kín, có nhãn ghi các thông tin: giống lợn, tuổi, tình trạng vệ sinh thú y, phương thức chăn nuôi, thời gian và địa điểm

Trang 38

Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc xét nghiệm sau khi bảo quản theo quy trình bảo quản mẫu trong nghiên cứu ký sinh trùng học

* Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn:

Xét nghiệm phân tìm trứng của các loại giun tròn theo phương pháp phù nổi: tất cả các mẫu phân được xét nghiệm bằng phương pháp Fulleborn với dung dịch NaCl bão hoà; tìm trứng các loài giun tròn dưới kính hiển vi, độ phóng đại 10 x 10 Những mẫu có trứng giun tròn thì đánh giá là có nhiễm, ngược lại là không nhiễm

* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn:

Cường độ nhiễm giun tròn qua xét nghiệm phân được xác định bằng phương pháp đếm số trứng có trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master

Quy định 4 mức cường độ nhiễm như sau:

≤ 500 trứng/ gam phân: nhiễm nhẹ (+)

> 500 - 1000 trứng/ gam phân: nhiễm trung bình (++)

> 1000 - 1500 trứng/ gam phân: nhiễm nặng (+++)

> 1500 trứng / gam phân: nhiễm rất nặng (++++)

* Thu thập số lượng mẫu theo các chỉ tiêu theo dõi

- Theo địa phương: thu thập mẫu phân của 750 lợn tại 5 xã của huyện:

Tân Dĩnh (146 lợn), Hương Lạc (148 lợn), Phi Mô (152 lợn), Quang Thịnh

(150 lợn) và Xương Lâm (154 lợn)

- Theo tuổi lợn: tuổi của lợn được chia thành 4 giai đoạn:

≤ 2 tháng tuổi (198 lợn), > 2 - 4 tháng tuổi (195 lợn), >4 - 6 tháng tuổi (185 lợn), > 6 tháng tuổi (172 lợn)

- Theo giống lợn: sau khi điều tra sơ bộ các giống lợn đang được nuôi phổ biến

tại huyện Lạng Giang, xếp vào 3 nhóm chính:

Nhóm lợn nội gồm: lợn Lang Hồng, lợn Móng cái (230 lợn)

Nhóm lợn lai gồm: con lai của các tổ hợp lai: ♂Landrace x ♀Móng Cái,

♂Yorkshire x ♀Móng Cái, ♂Landrace x ♀Yorkshire (275 lợn)

Nhóm lợn ngoại gồm: lợn Landrace, lợn Yorkshire (245 lợn)

Trang 39

- Theo phương thức chăn nuôi: có 3 phương thức:

+ Chăn nuôi truyền thống: chăn nuôi một vài con, thức ăn chủ yếu là tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và phế phụ phẩm của ngành trồng trọt (235 lợn)

+ Chăn nuôi bán công nghiệp: quy mô chăn nuôi từ 10 - 50 con; thức ăn nuôi lợn tận dụng phế phụ phẩm của ngành trồng trọt, kết hợp với thức ăn công nghiệp (240 lợn)

+ Chăn nuôi công nghiệp: quy mô chăn nuôi trên 50 con, chăn nuôi khép kín, nuôi lợn hoàn toàn thức ăn tổng hợp (275 lợn)

- Theo mùa: theo dõi ở 4 mùa trong năm:

+ Mùa Xuân từ tháng 2 - tháng 4 (188 lợn)

+ Mùa Hè từ tháng 5 - tháng 7 (185 lợn)

+ Mùa Thu từ tháng 8 - tháng 10 (195 lợn)

+ Mùa Đông từ tháng 11 - tháng 1 năm sau (182 lợn)

- Theo tình trạng vệ sinh thú y: tình trạng vệ sinh được chia thành 3 mức và

quy định như sau:

+ Tình trạng vệ sinh thú y kém: nền chuồng láng xi măng hoặc nền đất, không

cọ rửa và dọn phân, có hiện tượng tồn đọng phân trong chuồng một vài tuần, không

có rãnh thoát nước xung quanh chuồng Máng ăn, máng uống không cọ rửa, rau xanh không rửa trước khi cho ăn (246 lợn)

+ Tình trạng vệ sinh thú y trung bình: nền chuồng láng xi măng, không thường xuyên cọ rửa chuồng và dọn phân, có hiện tượng tồn đọng phân quá 2 ngày trong chuồng Mỗi tuần cọ rửa máng ăn, máng uống 1 - 2 lần, rau xanh không thường xuyên rửa sạch trước khi cho ăn (251 lợn)

+ Tình trạng vệ sinh thú y tốt: chuồng trại cao ráo, thoáng mát, nền chuồng lát gạch hoặc láng xi măng, hoặc nền sàn, có rãnh thoát nước và phân ra khỏi khu vực chăn nuôi, chuồng nuôi được thường xuyên cọ rửa và dọn phân, không có phân tồn trong chuồng quá 1 ngày, thức ăn, nước uống sạch sẽ, rau xanh được rửa sạch trước khi cho lợn ăn, thường xuyên cọ rửa máng ăn, máng uống, không để tồn dư thức ăn trong máng Định kỳ khử trùng tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi (253 lợn)

Trang 40

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu sự ô nhiễm trứng giun tròn ở ngoại cảnh

* Cách lấy mẫu

Mẫu cặn nền chuồng: tại mỗi ô chuồng lấy mẫu ở 4 góc chuồng và ở giữa, trộn

đều được một mẫu xét nghiệm (khoảng 20 - 30 g/mẫu) Mỗi mẫu được để riêng vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, thời gian lấy mẫu Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày

Mẫu nước thải chuồng nuôi: dùng que khấy đều nước thải trong hố, rồi lấy

khoảng 500 ml nước thải cho túi nilon trắng có ghi nhãn: loại mẫu, địa điểm, thời gian lấy mẫu

Mẫu đất ở vườn trồng cây thức ăn cho lợn: cứ khoảng 10 m2 lấy một mẫu đất

bề mặt (1 mẫu khối lượng từ 80 - 100 g, được phối hợp bởi 4 mẫu ở 4 góc và một mẫu ở giữa) Mỗi mẫu được để riêng vào một túi nilon nhỏ, mỗi túi đều có ghi nhãn: địa điểm, thời gian lấy mẫu (những thông tin này cũng được ghi vào nhật ký đề tài) Mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày

* Phương pháp xét nghiệm mẫu

- Xét nghiệm tìm trứng giun tròn ở mẫu đất:

+ Cho 25 gam mẫu vào ống ly tâm có dung tích 250 ml Cho dung dịch NaOH hoặc KOH 3% vào ống ly tâm với tỷ lệ 1:1 Khuấy đều mẫu và dung dịch kiềm, để yên trong 20 - 30 phút

+ Đem hỗn hợp trên ly tâm với tốc độ 1.000 - 1.500 vòng/phút trong 5 phút + Gạn bỏ dung dịch kiềm, dùng nước sạch rửa cặn 1 - 5 lần, tùy từng loại cặn: cặn của đất cát hoặc pha cát chỉ cần rửa một lần là đủ; cặn của đất thịt, pha thịt hoặc đất đen thì cần rửa 2 - 5 lần Rửa tới khi thấy nước trong là được

+ Cho dung dịch nước muối bão hòa vào ống ly tâm có cặn đã rửa (nước muối chỉ đến 2/3 ống) Thận trọng khấy đều và đem ly tâm Sau đó đặt ống ly tâm vào giá,

bổ sung dung dịch nước muối bão hòa vào ống ly tâm, sao cho mức dung dịch dưới mép ống ly tâm 2 - 3 mm Đậy lam kính sạch lên miệng ống ly tâm để khe hở nhỏ, dùng pipet tiếp tục bổ sung nước muối bão hòa qua khe hở vào ống ly tâm cho đến khi dung dịch bão hòa tiếp giáp với mặt dưới lam kính, nhẹ nhàng đẩy lam kính đậy kín miệng ống ly tâm Sau 20 - 25 phút, nhấc và lật ngửa lam kính, bổ sung một giọt

Ngày đăng: 04/04/2018, 09:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w