1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng và tác động đến môi trường ở việt nam

19 552 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 62,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp, đó là áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguy

Trang 1

Chủ đề: “ Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng và

tác động đến môi trường ở Việt Nam”

I Đặt vấn đề

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rừng là tài nguyên quý giá và vô cùng quan trọng của nước ta Rừng không những là

cơ sở để phát triển kinh tế xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxi, và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định màu mỡ của đất làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí Tuy nhiên có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp, đó là

áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói, người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng, trình độ dân trí vùng sâu vùng xa còn thấp kiến thức bản địa chưa được phát huy hoạt động khuyến nông chưa đc phát triển, chính sách nhà nước về quản lý rừng còn nhiều bất cập cơ cấu xã hội có nhiều thay đổi

Hiện nay tình trạng khai thác rừng quá mức và tình trạng đốt rừng làm nương rẫy xảy

ra rất nghiêm trọng , tình trạng trên xảy ra một phần là do ý thức của người dân về bảo vệ môi trường còn thấp ,đặc biệt là các vùng núi cao việc khai thác rừng đang có xu hướng gia tăng Vì vậy vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự phát triển kinh tế xã hội Việt Nam

Việc bảo vệ rừng hiện nay không chỉ giúp duy trì diện tích rừng, thành phần hợp thành nên rừng mà thông qua đó còn cải thiện và khắc phục những tác động tiêu cực gây

ra cho môi trường khi tình trạng suy giảm rừng

Một trong những đòi hỏi để thực hiện thành công nhiệm vụ này là phải có những cơ chế thích hợp thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng dân cư và công tác quản lý bảo

vệ phát triển Trong những năm gần đây nước ta đã ban hành và áp dụng chính sách tác động mạnh đến đời sống nhân dân như : Giao đất lâm nghiệp, khoán quản lý bảo vệ rừng, quy chế về quản lý rừng phòng hộ quy chế hưởng lợi Trong khi xây dựng các quy định, đồng thời đảm bảo rừng không bị khai thác quá mức ảnh hưởng xấu đến chức năng của rừng tự nhiên Chuyên đề nghiên cứu về “ Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường ở Việt Nam” nhằm đưa ra các biện pháp thích hợp để nâng cao nhận thức của người dân và cộng đồng

Trang 2

II Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục tiêu chung

Tìm hiểu thực trạng suy giảm tài nguyên rừng và ảnh hưởng đến môi trường ở Việt Nam”

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Nêu ra được thực trạng rừng ở Việt Nam

o Biến động của diện tích rừng ở Việt Nam

o Độ che phủ của rừng

o Biến động về thành phần cấu thành nên rừng

- Tìm ra được nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng

- Nêu ra được ảnh hưởng của rừng đối với

o Môi trường nước

o Môi trường Không khí

o Môi trường đất

- Tìm hiểu được một số cách khắc phục làm giảm tình trạng suy giảm rừng ở một

số nước trên thế giới

- Từ thực trạng suy giảm tài nguyên rừng, nguyên nhân và một số cách làm giảm tình trạng suy giảm tài nguyên rừng ở các nước trên thế giới nhóm đưa ra cách khắc phục thực trạng trên qua đó cải thiện ảnh hưởng tiêu cực của tình trạng suy giảm rừng đến môi trường

2.3 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Sử dụng phương pháp thứ cấp , thu thập tìm kiếm thông tin từ sách báo, mạng internet qua đó tổng hợp và phân tích kết quả

III Nội dung

3.1 Cơ sở thực tiễn

Ngày nay rừng có vai trò ngày càng quan trọng Rừng tác động trực tiếp đến môi trường đất, nước, không khí Con người cũng như mọi sinh vật sống không thể tách khỏi môi trường Cuộc sống của chúng ta có ngày càng tốt đẹp hay không một phần cũng bởi chịu ảnh hưởng của môi trường Tuy nhiên trong những năm gần đây, chất lượng của môi trường ngày càng giảm, ô nhiễm môi trường nước, đất, không khí ngày càng tăng Môi trường tác động trực tiếp tới sức khoẻ của con người Không khí và nguồn nước bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của con người Nhiều bệnh nan y phát sinh do ô nhiễm Nhiều người chết vì bệnh tật do ô nhiễm môi trường gây

ra Môi trường tác động đến điều kiện sống của con người Khí hậu thay đổi, trái đất ngày một nóng lên Mấy năm gần đây, nạn lũ lụt xảy ra liên miên Kéo theo nó là biết

Trang 3

bao tai hoạ Người chết vì lũ lụt ngày một nhiều Thiệt hại về vật chất do lũ lụt gây ra không thể kể hết Nạn đất lở, đất sụt chôn vùi biết bao nhà cửa, bao con người Rừng

bị tàn phá dẫn đến đất bị xói mòn, bạc màu Con người không thể trồng trọt được trên những mảnh đất khô cằn, bạc màu ấy Biết bao ruộng đất bị bỏ hoang vì không thể gieo trồng được trong khi con người Để khắc phục thực trạng trên cần phải đảm bảo duy trì diện tích rừng đang có và tiếp tục mở rộng diện tích trồng rừng Tuy nhiên hiện nay diện tích rừng, độ che phủ và trữ lượng rừng hiện nay ngày càng giảm

3.2. Thực trạng suy giảm tài nguyên rừng ở Việt Nam

3.2.1 Diện tích tài nguyên rừng

Tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được Nhưng nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên rừng có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại Tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng đối với khí quyển, đất đai, mùa màng, cung cấp các nguồn gen động thực vật quý hiếm cùng nhiều lợi ích khác Rừng giúp điều hòa nhiệt độ, nguồn nước và không khí Con người có thể sử dụng tài nguyên thiên nhiên này để khai thác, sử dụng hoặc chế biến ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống Ở những vùng khí hậu khác nhau thì tài nguyên rừng cũng khác nhau

Việt Nam là nước có ¾ diện tích là đồi núi, vì vậy đa số diện tích trên lãnh thổ được che phủ bởi rừng Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển của con người, quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa được đẩy nhanh làm nhu diện tích rừng bị thu hẹp

Bảng 1: Sự biến động diện tích rừng Việt nam giai đoạn 1945- 2014( triệu ha)

Năm

Loại rừng

1945 1976 1985 1999 1995 2005 2010 2014

Tổng diện tích 14.4 11.2 9.9 11 9.3 12.7 13.4 13.8 Rừng tự nhiện 14.3 11.1 9.3 9.5 8.3 10.2 10.3 10.1 Rừng trồng 0 0.1 0.6 1.5 1 2.5 3.1 3.7

Độ che phủ (%) 43 33.8 30 27.8 28.2 38 39.1 40.43

( gso.gov.vn)

Trang 4

1945 1976 1985 1995 1999 2005 2010 2014

0

2

4

6

8

10

12

14

16

Diễn biến diện tích rừng Việt Nam năm 1945 - 2014

Tổng diện tích Rừng tự nhiện Rừng trồng

Năm

Theo tài liệu và bản đồ của Maurand thì đến năm 1943, rừng Việt nam vẫn còn khoảng 14.352.000 ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh thổ Thời kỳ đó, độ che phủ rừng ở Bắc Bộ vào khoảng 68%, ở Nam Trung Bộ vào khoảng 44%, ở Nam Bộ khoảng 13%

Qua bảng số liệu 1 ta có thể thấy, từ năm 1945 đến năm 1995 tổng diện tích rừng của nước ta liên tục giảm xuống ( giảm 4,5 triệu ha trong vòng 50 năm, trung bình mỗi năm giảm 0.1 triệu ha), trong đó đặc biệt giảm nhanh ở giai đoạn 1976 – 1985, trung bình mỗi năm mất khoảng 0.14 triệu ha Nguyên nhân chính làm mất rừng trong giai đoạn này là

do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng các cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su…và khai thác gỗ xuất khẩu

Từ những năm 1990 – 1995, do công tác trồng rừng được đẩy mạnh đã phần nào làm cho diện tích rừng tăng lên, từ 9.3 triệu ha lên 13.2 triệu ha ( trung bình mỗi năm tăng 0.21 triệu ha), nhìn chung diện tích rừng vẫn chưa thể phục hồi

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, diện tích rừng có xu hướng tăng lên rõ rệt Đến cuối năm 1999, tổng diện tích có rừng cả nước là 10, 9 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên là 9,4 triệu ha và rừng trồng là 1,5 triệu ha Hiện nay diện tích rừng ở Việt Nam được quy hoạch là 13.8 triệu ha với độ che phủ là 40,43%

Bảng 2: Diện tích rừng bị cháy và chặt phá từ năm 1995-2015 (ha)

Cháy rừng 7457 1045.9 6829.3 4734.9 1775.6 1076

Chặt phá 18914 3542.6 3347.3 3942 716.5 813

(Gso.gov.vn)

Trang 5

3.2.2 Thành phần của rừng

 Đối với rừng tự nhiên, diện tích rừng gỗ giàu và rừng gỗ trung bình hiện nay chỉ còn khoảng 1, 4 triệu ha (chiếm 13% so với tổng diện tích có rừng) trong khi diện tích rừng gỗ nghèo kiệt, rừng gỗ non có trữ lượng và không có trữ lượng khoảng 6 triệu ha (chiếm 55% so với tổng diện tích có rừng)

 Đối với rừng trồng, tỷ lệ thành rừng thấp (chỉ đạt 60 - 75%), năng suất không cao (bình quân từ 8 - 10 m3/ha/năm) và chất lượng rừng cũng kém Hiện tại, rừng trồng mới chỉ cung cấp gỗ có kích thước nhỏ, còn gỗ có kích thước lớn vẫn rất hạn chế

Về cây trồng, những loài cây bản địa vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và chưa được trồng thành rừng trên diện rộng mà chủ yếu vẫn là những loài cây nhập nội, mọc nhanh như Bạch đàn, Keo và Thông các loại (chiếm 54% so với tổng diện tích rừng trồng).Diện tích đất trống đồi núi trọc còn khá lớn, khoảng 8, 3 triệu ha (chiếm 25, 1% diện tích toàn quốc), trong đó tập trung nhiều nhất ở các vùng núi phía Bắc (khoảng 4, 3 triệu ha, chiếm

41, 6% diện tích tự nhiên toàn vùng) kế đến là vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ (khoảng 2, 8 triệu ha, chiếm 29, 4% diện tích tự nhiên 2 vùng này)

Ngoài tài nguyên gỗ, rừng Việt Nam cũng rất giàu có về các loài tre nứa ( khoảng 40 loài có ý nghĩa thương mại, và khoảng 4 tỷ cây tre nứa ); Song mây có khoảng 400 loài được sử dụng làm bàn ghế, dụng cụ gia đình; hằng năm khai thác khoảng 50.000 tấn.Theo điều tra của cục Kiểm lâm, hệ thực vật Việt Nam rất phong phú với 12.000 loài thực vật có mạch (đã định tên được khoảng 7.000 loài), 620 loài nấm, 820 loài rêu Hơn 2.300 loài thực vật đã được sử dụng làm lương thực, thực phẩm, thuốc chưa bệnh, thức

ăn gia súc, lấy gỗ, tinh dầu, vật liệu xây dựng

Hệ thực vật Việt Nam có mức độ đặc hữu cao, tập trung ở 4 vùng chính là Hoàng Liên Sơn Trong đó có một số loài quý hiếm như: gõ đỏ, gụ mật, hoàng liên chân gà, pơ mu… Nhiều loài cây có chất thơm, tanin, tinh dầu và dầu béo Ngoài ra rừng con cung cấp nhiều laọi sản phẩm quý khác như cánh kiến, nấm, mật ong, hoa lan, thịt thú rừng Nhiều loài cây đặc hữu như lim, săng lẻ, tô hạp là những cây thường xanh Dây leo và cây nửa phụ sinh có khoảng 750 loài, thường trong họ Na, họ Gắm Cây phụ sinh có hơn 600 loài thuộc các họ phong lan, họ Mã tiền Cây kí sinh có khoảng 50 loài thuộc họ tầm gửi, họ đàn hương Hiện nay, có rất nhiều loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ như: cẩm lai, trầm hương ở Bạch Mã, sam bông, thông tre ở Tam Đảo Hiện nay, có rất nhiều loài thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo

vệ như: Cẩm Lai (Dalbergia Bariaensis), Trầm Hương (Aquilaria Crassna), Sam Bông (Amentotaya Argotenia), Thông tre (Podocarpus Neriifolius), Gõ đỏ (Afzelia Xylocarpa),

Trang 6

Trắc (Dalbergia Cochinchinensis), Giao xẻ tua (Sterospermum F0erebriatum), Gạo bông len (Bombax Insigne)

Hệ động vật cũng rất phong phú với khoảng 280 loài thú, 828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 471 loài cá nước ngọt, khoảng 2.500 loài cá biển và 5.500 loài côn trùng mức độ đặc hữu rất cao: 78 loài và loài phụ thú, hơn 100 loài và loài phụ chim, 7 loài linh trưởng là những loài đặc hữu đẹp của Việt Nam Trong thế kỷ XX, 10 loài thú mới đã được phát hiện trên thế giới thì tại nước ta 4 loài: sao la, mang lớn, mang Trường Sơn, mang Pù Hoạt Các loài động vật quý hiếm như: báo gấm, voọc quần đùi trắng ở Cúc Phương, gà lôi hồng tía, trĩ sao ở Bạch Mã

Các loài động vật quý hiếm gần như tuyệt chủng như: Báo gấm (Neophelis Nebulosa), Voọc quần đùi trắng (Trachipythecus rancoisi delaconri), Gà lôi hồng tía (Lophura diardi), Trĩ sao (Rheinartia ocellata), Chồn bạc má (Megogale personata geeoffrory), Cu

li lớn (Nycticebus coucang boddaert), Bò tót (Bos gaurus), Cà tong (Cervus eldi), Hổ (Panthera tigris)

3.3 Vai trò chung của tài nguyên rừng

Là một thể tổng hợp phức tạp có mối qua lại giữa các cá thể trong quần thể ,giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp

đó ,rừng đóng vai trò cực kì quan trọng trong việc duy trì cuộc sống của con người và sinh vật khác

Vai trò phòng hộ , bảo vệ môi trường sinh thái

 Rừng có tác dụng phòng hộ đầu nguồn, giữ đất , giữ nước , điều hòa dòng chảy , chống xói mòn rửa trôi, thoái hóa đất , chống bồi đắp sông ngòi, hồ đập, giảm thiểu luc lụt, hạn chế hạn hán ,giữ gìn nguồn thủy năng lớn cho các nhà máy điện

 Vai trò phòng hộ ven biển , chắn sóng , chắn gió , chống cát bay , chống sự xâm nhập của nước mặn, làm sạch không khí, tăng dưỡng khí , tăng dưỡng khí, giảm thiểu tiếng ồn ,điểu hòa khí hậu

 Vai trò phòng hộ khu công nghiệp và khu đô thị , bảo vệ đồng ruộng và khu dân

cư ven biển ,bảo vệ khu di tích ,nâng cao giá trị cảnh quan , du lịch

 Rừng còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học, đặc biệt là nơi dự trữ sinh quyền bảo tồn các nguồn gen quý hiếm

Vai trò xã hội

 Là nguồn thu nhập chính của đồng bào dân tộc miền núi , là cơ sở quan trọng để phân bố dân cư , điều tiết lao động xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo cho xã hội

Vai trò của rừng trong cuộc sống

 Rừng là thảm thực vật của các cây thân gỗ trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với con người như : cung cấp lâm sản, nguyên liệu ,dược liệu,lương thực

Trang 7

 Rừng tạo ra dưỡng khí để cung cấp dưỡng khí cho con người , động vật, sinh vật trên trái đất , các cây rừng sẽ thải ra khoảng 52,2 tỷ tấn (44% ) dưỡng khí trong khoảng hai năm ( S.V Belov 1976)

3.4 Nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng

Có thể nêu ra các nguyên nhân chính gây nên sự mất rừng và làm suy thoái rừng ở nước ta là:

Cháy rừng

Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều nguyên nhân gây ra, chúng ta

có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm

mộ liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy Với tổng diện tích rừng bị cháy là 2.304,07 ha; diện tích rừng tự nhiên 962.79 ha; diện tích rừng trồng là: 1.341,28 ha; số vụ được cứu là 440 vụ so với năm trước là 138 vụ cháy với tổng diện tích là 551.40 ha Kết quả này cho thấy số vụ cháy rừng năm nay cao hơn và đang ở mức cảnh báo như: 6.000 ha rừng ở Đồng Tháp có nguy cơ cháy, Rừng An Giang báo động nguy cơ cháy cấp độ 5, nhiều khu vực đang ở cấp cảnh báo cháy rừng cực kỳ nguy hiểm như Nghệ An, Thừa Thiên Huế… Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu nguồn, đất dốc, vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng chống cát di động nên

dễ gây lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng Sự phục hồi và tái tạo lại rừng trong điều kiện này là rất chậm vì thế

mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi Do vậy, đòi hỏi ý thức bảo vệ của người dân và dân và cần có sự quản lý chặt chẽ, sự quan tâm nguồn tài nguyên rừng của ngành kiểm lâm để hạn chế được sự suy giảm diện tích tài nguyên rừng

Sức ép dân số

Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái môi trường Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến nạn phá rừng và sự suy thoái

Trang 8

nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên Hiện nay dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của

họ, gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị Người dân ồ ạt ra thành thị kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hỏi nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương đối để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân

Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt đầu được hình thành Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất

cả các hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, buộc họ phải chuyển đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng cở sở sản xuất cho mình Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp Ở nông thôn thì dân số tăng thì buộc người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống, buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bắt đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất Ban đầu chỉ khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên Do nền kinh tế phát triển, giá cả đất tại các đô thị rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống tiềm năng Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã

bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị tiêu diệt làm cho số lượng và các chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi Vì vậy, có thể nói sức ép dân số có tác động rất lớn đối với suy thoái tài nguyên rừng Con người cần có sự khai thác hợp

lý có kế hoạch để hạn chế khai thác rừng một cách bừa bãi làm giảm tài nguyen rừng một cách đáng kể

Đói nghèo

Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần do sự đói nghèo tác động nên Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên quá mức làm tăng tình trạng khan hiếm và suy thoái Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam là một nước phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít

Trang 9

vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh chóng Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán Vì nghèo, không có đất sản xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để rừng nuôi sống bản thân và gia đình Tuy hoạt động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng Khi rừng ngày càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rừng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng Vốn dĩ họ đã nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập Vì mục đích là có thu nhập nuôi sống gia đình mình mà các hộ dân nghèo đói đang dần dần làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên Vậy cần có các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho hộ nghèo đói như các chương trình phát triển ngành nghệ phụ… để giảm bớt hiện tượng khai thác rừng

Hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học để lại.

Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, quân đội mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học với quy mô lớn nhất trong mọi thời đại của lịch sử Trong cuộc chiến tranh này, quân đội Mỹ đã rải khoảng hơn 80 triệu lít chất diệt

cỏ và phát quang xuống một diện tích khoảng 24,67% tổng diện tích lãng thổ Việt Nam Trong đó, phần lớn là chất độc da cam, là chất có chứa tạp chất độc đioxin Nồng độ các chất được rải trong các phi vụ thường cao hơn gấp từ 20-40 lần nồng

độ dùng trong Nông nghiệp và các chất diệt cỏ và phát quang thông thường được phân huỷ sau 1 tháng hoặc đến dưới 1 năm riêng hợp chất đioxin có trong chất da cam rất bền vững, với thời gian bán phân huỷ được ước tính khoảng 15-20 năm hoặc lâu hơn nữa Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải lặp lại nhiều lần trong một quãng thời gian dài với nồng độ cao, chúng ngấm và dần phân huỷ trong đất, không những đã làm chết cây cối mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và môi trường rừng là rất rõ ràng Trong quá trình bị tác động, hàng trăm loài cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu, họ đậu Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như giáng hương, gụ, sao đen… và một số cây họ dầu

Trang 10

thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống củamột

số loài cây quý Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa ánh sáng mọc nhanh, kém giá trị kinh tế thì chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa Nhiều khu rừng đã bị phá huỷ nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bom đạn… Hậu quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ, cỏ tranh, lau lách xâm lấn và đến nay rừng vẫn chưa được phục hồi Và theo tính toán sơ bộ, trên 3,3 triệu ha đất đai tự nhiên bị rải chất độc trong đó rừng nội địa bị tác động nặng nề với nhiều mực độ khác nhau, làm tổng số gỗ bị thiệt hại là 119.536.000 m3, bao gồm lượng gỗ bị mất tức thời 90.284.000m3 gỗ tăng trưởng lâu dài do rừng bị phá huỷ Ngoài ra, chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho các loại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, song mây

và các loài động vật rừng Và hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ rải xuống còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về môi trường và tính đa dạng sinh học làm cho quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng ứ đọng dinh dưỡng và có

10-15 triệu hố bom chiếm khoảng 1% diện tích rừng Nam Việt Nam làm cho lớp đất mặt bị đảo lộn và thúc đẩy quá trình rửa trôi đất hậu quả trên cản trở trực tiếp đến diễn thế phục hồi rừng và tác động xấu đến rừng phòng hộ đầu nguồn Tuy những năm gần đây, cây rừng cũng đã được chăm sóc, được đầu tư phát triển thêm nhưng chất lượng và số lượng vẫn không được cao Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng hậu quả mà cuộc chiến tranh hoá học để lại là giảm diện tích rừng, làm cho tài nguyên rừng Việt Nam bị tổn thương rất nặng nề Mặc dù, đã trải qua trên 30 năm nhưng vết thương đó vẫn chưa lành, diện tích rừng thì có nhiều biến đổi theo xu hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chiến tranh hoá học của

Mỹ đã để lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng Việt Nam

Tập quán du canh du cư

Du canh du cư là tập quán sản xuất nông nghiệp lâu đời của nhiều dân tộc ít người

ở Việt Nam mà thường xuất hiện tại các vùng đồi núi và cao nguyên nơi nhằm ổn định sản xuất và đời sống trong một phạm vi lãnh thổ cố định Vào mùa khô và thường là cuối mùa đông, người dân thường vào sâu trong rừng tìm một khoảnh đất rừng phù hợp, đốt cháy mảnh diện tích đủ rộng theo ý muốn, thường là không thể điều khiển theo mục đích người đốt vì lửa rừng bị tác động của gió và độ ẩm, nhiệt độ tại khoảnh rừng Và đến đầu mùa mưa, người ta đi tra hạt, hoặc ươm sắn, lợi dụng lượng nước ẩm do mưa, hạt giống sẽ nảy mầm, cây sinh trưởng rất tốt do đất dưới tán rừng có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và cũng nhờ than tro của việc

Ngày đăng: 04/04/2018, 09:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w