1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Việt nam đã tham gia và các điều ước quốc tế bảo vệ môi trường không khí nào và thực tiễn áp dụng các điều ước ấy ở việt nam có thực sự hiệu quả

17 281 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 104,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác ô nhiễm không khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lí hóa vốn có của nó, vi phạ

Trang 1

Lời mở đầu.

Bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp là vấn đề đang được cả thế giới quan tâm Có rất nhiều hội nghị tầm cỡ toàn cầu hoặc khu vực đã được tể chức để bàn bạc và tìm ra hướng giải quyết nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hiện nay Trong mấy năm gần đây, những thiên tai ghê gớm, khủng khiếp như động đất, sóng thần, cháy rừng, lũ lụt… xảy ra liên miên, chứng tỏ bà mẹ thiên nhiên đang nổi giận và trừng phạt loài người vì những hành vi cố tình xâm phạm và phá vỡ quy luật cân bằng sinh thái

Ở Việt Nam, ô nhiễm môi trường sống cũng là một vấn đề nan giải vì nó gây ra hàng loạt hậu quả nghiêm trọng Có thể lấy hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh làm dẫn chứng để chứng minh cho vấn đề này

Người ta vẫn nói, con người có thể nhịn ăn 7 ngày và nhịn uống 3 ngày mà vẫn sống nhưng không một ai có thể ngừng hít thở không khí trong 3 phút Như vậy, không khí là một nhân tố hết sức quan trọng đối với con người cũng như sinh vật khác trên trái đất nay Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế ồ ạt không bề vững đã làm cho không khí ngày càng ô nhiễm và tiềm ẩn chứ nhiều khói, bụi, vi khuẩn làm suy giảm mầm sống Từ những thực tiễn đó, các nước trên thế giới đã cùng nhau cam kết các điều ước chung nhằm cải thiện vấn đề ô nhiễm không khí Vậy Việt Nam đã tham gia và các điều ước quốc tế bảo vệ môi trường không khí nào ? Và thực tiễn áp dụng các điều ước ấy ở Việt Nam có thực sự hiệu quả Sau đây, nhóm

2 xin được tìm hiểu và đưa ra những lời giải cho các vấn đề trên

Trang 2

Nội dung:

I.Những vấn đề chung về không khí

1.Khái niệm về không khí

Không khí là hỗn hợp khí gồm có nitơ chiếm 78,9%; ôxi chiếm 0, 95%; acgông chiếm 0,93%; dioxit các bon chiếm 0,32% và một số khí hiếm khác như neon, hêli, mêtan, krypton Trong điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nước chiếm gần 1- 3% thể tích không khí

2 Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí theo cách nhìn tổng quan nhất là sự biến đổi không khí theo chiều hướng bất lợi với cuộc sống của con người, của động, thực vật, mà sự thay đổi đó lại chính do hoạt động của con người gây ra với quy mô, phương thức và mức độ khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp làm thay đổi mô hình, thành phần hóa học, tính chất vật lí và sinh học của không khí

Dưới góc độ pháp lí, ô nhiễm không khí được hiểu là sự thay đổi tính chất không khí, vi phạm tiêu chuẩn không khí mà pháp luật đã quy định Nói cách khác ô nhiễm không khí là tình trạng không khí có xuất hiện chất lạ hoặc có sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí làm thay đổi tính chất lí hóa vốn có của nó,

vi phạm tiêu chuẩn môi trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, gây tác động có hại cho con người và thiên nhiên

3 Tình trạng ô nhiễm không khí hiện nay

a Trên thế giới

- Không khí trên khắp thế giới đang bị ô nhiễm nặng nề, nơi đâu có con người, nơi đó không khí bị ô nhiễm Ô nhiễm không khí là nguyên nhân gây ra hàng triệu cái chết cho con người vì vậy cả thế giới đang phải đối mặt với bài toán đẩy lùi ô nhiễm không khí.

-Làn khói độc hại đang bao phủ nhiều thành phố lớn trên thế giới thậm chí còn có thể nhìn thấy được từ trạm không gian quốc tế (ISS)

Trang 3

- 80% số thành phố trên thế giới không đáp ứng được tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế

Thế giới (WHO) về chất lượng không khí.Theo WHO chất lượng không khí trên phạm vi toàn thế giới đang suy giảm trông thấy, đến mức mà cứ trong 8 người sống ở các thành phố lớn thì chỉ có 1 người được hít thở bầu không khí đạt chuẩn hạn chế về mức độ ô nhiễm

- Theo một nghiên cứu khoa học mới đây nhất được đăng tải trên tạp chí khoa học danh tiếng Nature, ô nhiễm không khí ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, khiến cho số người chết tăng dần theo mỗi năm, thậm chí còn vượt qua cả tổng số người chết do virus HIV và bệnh sốt rét cộng lại Ở nhiều quốc gia, số người chết do ô nhiễm không khí gấp 10 lần số người chết do tai nạn giai thông

- Tổ chức Y tế Thế giới từ chối, không công khai nêu danh nước nào có kỷ lục ô nhiễm tồi tệ nhất Tuy nhiên, các số liệu cho thấy khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, bao gồm Trung Quốc, Malaysia và Việt Nam, có mức độ ô nhiễm cao nhất

-Theo báo cáo có sử dụng dữ liệu thống kê từ 184 nước này của WHO, ba nước đứng đầu danh sách là Trung Quốc với khoảng 1 triệu người đã chết vì không khí ô nhiễm, Ấn Độ có khoảng 600.000 người và Nga có 140.000 người

- Riêng khu vực Đông Nam Á, mỗi năm có 700.000 người chết sớm vì liên quan đến ô nhiễm không khí Đây là những con số nói lên hậu quả mà ô nhiễm không khí đang gây ra cho con người

b Ở Việt Nam

- Báo chí và truyền thông Việt Nam gần đây liên tục phản ánh thực trạng ô nhiễm môi trường không khí đô thị ở Việt Nam, đặc biệt với thủ đô Hà Nội, các thông tin cho hay ô nhiễm đã 'vượt giới hạn' cho phép ở một số chỉ tiêu

-Ô nhiễm không khí đáng báo động ở một số thành phố lớn của Việt Nam: Đầu tháng 3 năm nay, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã ghi nhận chỉ số chất lượng không khí (AQI) rơi vào ngưỡng cho thấy vấn đề ô nhiễm không khí ở Hà Nội đang ở

Trang 4

mức độ nguy hiểm Ngay sau đó, tờ Channel News Asia đã dùng cụm từ "khí

quyển ngày Tận thế" để nói về tình trạng ô nhiễm tại Hà Nội.Không phải đến bây giờ, tình trạng ô nhiễm không khí tại Thủ đô mới được gióng lên hồi chuông cảnh báo Năm 2012, một công ty phân tích ô nhiễm của Pháp là ARIA Technologies đã xếp hạng Hà Nội là thành phố ô nhiễm nhất ở Đông Nam Á, và là một trong những thành phố có chất lượng không khí tệ nhất châu Á

+Mặc khác gần đây có phát hiện hiện tượng thủy ngân trong không khí Hà Nội, vô cùng nguy hại nếu hít phải Đồng thời, người dân Thủ đô bắt gặp hiện tượng có 1 không 2 chính là sương mù quang hóa.Điều này đã đẩy mức độ ô nhiễm của thành phố lên mức báo động

-Một số thành phố khác cũng không tránh khổi tình trạng ô nhiễm không khí Ngay đến Đà Nẵng được coi là tiêu biểu của thành phố sạch ở Việt Nam nhưng 3 năm qua, số ngày có chất lượng không khí kém, không khí xấu ở thành phố này tăng lên đáng kể.Năm 2011, Đà Nẵng chỉ có 40 ngày không khí kém, đến năm

2013, con số này tăng lên 128 ngày Chất lượng không khí giảm sút ở Đà Nẵng là

do sự tăng mạnh về nồng độ ôzôn, các chỉ số ô nhiễm khác ở thành phố này ít biến động

- Trong không khí có nhiều chất ô nhiễm như bụi CO2, SO2, NO2, OZON… Theo quy định của Mỹ, một trong các chất cơ bản bị ô nhiễm thì đánh giá chung không khí là ô nhiễm Còn ở Việt Nam và một số nước khác, việc đánh giá mức độ ô nhiễm trước hết phải đánh giá chung từ mức độ ô nhiễm các chất đó cộng lại Việt Nam chưa bị ô nhiễm trầm trọng nhưng ô nhiễm bụi như ở Hà Nội và một số tỉnh khác của nước ta bị rất nặng

- Ô nhiễm bụi : Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần

*Nguyên nhân:

- Do quá trình đô thị hóa của chúng ta quá nhanh và khả năng phát thải từ do

phương tiện giao thông hoặc do hoạt động sản xuất của chúng ta mà chưa được quản ly’ chặt chẽ

Trang 5

- Hai tác nhân chủ yếu gây ra ô nhiễm không khí là khí thải từ các phương tiện cơ giới và hoạt động sản xuất công nghiệp

+ Theo một số nghiên cứu, hiện tại khí thải từ các phương tiện giao thông cơ giới chiếm 70% tác nhân gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam Lượng khí thải lớn như vậy đến từ 43 triệu xe máy và 2 triệu ô tô đang lưu hành trên đường phố Việt Nam mỗi ngày, theo thống kê từ Cục Đăng kiểm Việt Nam

Năm 2000, Việt Nam tiêu thụ khoảng 7,5 triệu tấn xăng dầu thì đến năm 2015 con

số này đã vọt lên 17,5 triệu (số liệu từ Petrolimex) - trong đó quá nửa phục vụ hoạt động giao thông vận tải Ô nhiễm không khí do phương tiện cơ giới gây ra nhiều khả năng sẽ còn nghiêm trọng hơn nữa trong những năm tới bởi các phương tiện giao thông cá nhân sẽ tiếp tục tăng vọt

+Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất công nghiệp - nhất là từ các KCN cũ, công nghệ sản xuất lạc hậu - đang góp phần là cho ô nhiễm không khí ngày một trầm trọng hơn Công nghiệp cũ không đạt tiêu chuẩn về chất lượng môi trường

+ Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí từ các khu, cụm công nghiệp cũ, như các khu công nghiệp: Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động (Hà Nội), Thủ Đức, Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (Đồng Nai), Khu Công nghiệp Việt Trì, Khu Gang thép Thái Nguyên, và ô nhiễm không khí cục bộ ở xung quanh các xí nghiệp, nhà máy xi măng (đặc biệt là xi măng lò đứng), các lò nung gạch ngói, xí nghiệp sản xuất đồ gốm, các nhà máy nhiệt điện đốt than và đốt dầu FO, các nhà máy đúc đồng, luyện thép, các nhà máy sản xuất phân hoá học, + Ô nhiễm môi trường không khí ở nhiều làng nghề đã tới mức báo động Như hiện tượng "hít khói ăn tiền" ở xã Chỉ Đạo (Văn Lâm, Hưng Yên) - tái chế chì, hay

là "những làn khói độc" ở làng gốm Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) Ở rất nhiều làng nghề, đặc biệt là các làng nghề ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, đang kêu cứu về ô nhiễm môi trường không khí

- Luật phạt ngày càng nặng, nhưng vi phạm ngày càng nhiều

Sau 25 năm, đến nay có khoảng 300 khu công nghiệp, khu chế xuất trên địa bàn cả nước.Trong số này có không ít những nhà máy, xí nghiệp sử dụng công nghệ lạc hậu nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất.Đổi lại, họ xả khói thải ngày càng nhiều ra môi trường

Trang 6

Các quy định về môi trường Việt Nam đưa ra ngày càng chặt chẽ và xử lý nghiêm hơn Thậm chí luật pháp Việt Nam dã đưa một số tội danh liên quan đến vi phạm môi trường vào danh mục xử lý hình sự Tuy nhiên, số vụ vi phạm môi trường cũng không ngừng tăng lên

-Ngoài ra nguyên nhân ô nhiễm không khí từ hoạt động xây dựng, sinh hoạy đun nấu của nhân dân

II Các cam kết quốc tế về môi trường mà Việt Nam tham gia

a.Công ước về bảo vệ tầng ozon 1985

Ngày 22/3/1985 các quốc gia cùng nhau kí kết một văn bản thỏa thuận về trách nhiệm của các nước trong việc giảm phát thải các chất có hại đến sự bình ổn của tần ozon Với mục đích hạn chế sự phát thải của các chất khí có hại dến tầng ozon công ước viên thiết lập sự kiểm soát không đặc thù về các chất làm suy giảm tầng ozon thay vì xác lập một cam kết chung cho các thành viên để bảo vệ tang ozon -Nhằm thực hiện Công ước một cách có hiệu quả, 2 năm sau đó, Nghị định thư Montreal 1987 về các chất làm suy giảm tầng ozon đã được ban hành Nghị định thư đã đưa ra một kế hoạch đặc biệt cho việc giảm sản xuất và tiêu thụ các chất làm suy yếu tầng ozon trong 10 năm tới nghị định đã đặt ra 3 giai đoạn giảm khí nhà kính với mục tiêu giảm 50% khí thải vào năm 1999 vào giảm đến ZERO vào 1/1/2000 và các bên cần fair duy trì mức độ phát thải của mình như đã cam kết -Công ước viên về bảo vệ tầng ozon 1985 và nghị định thư montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon 1987 đang được ghi nhận là một thành công của cộng đồng quốc tế trong việc chống lại một thảm họa môi trường toàn cầu tạo ra do sự biến đổi khí hậu do tầng ozon bị phá hủy gây nên

-Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức phê chuẩn và tham gia công ước viên

bỏ vệ tầng ozon và nghị định thư Montreal từ tháng 1/1994

b.Công ước khung về biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc (UNFCCC), 1992 , (16/11/1994):

- Trước những hiểm họa và thách thức lớn về khí hậu đối với nhân loại, Liên hợp quốc với 2 cơ quan chuyên môn chính của mình là Tổ chức Khí tượng Thế giới

Trang 7

(WMO) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), đã tập hợp nhiều nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới bàn bạc và đi đến nhất trí cần có một Công ước quốc tế về khí hậu và coi đó là cơ sở pháp lý để tập trung nỗ lực chung của cộng đồng thế giới đối phó với những diễn biến tiêu cực của biến đổi khí hậu Sau một quá trình soạn thảo (tháng 02/1991-tháng 5/1992), Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) đă được chấp nhận vào ngày 9/5/1992 tại Trụ sở của Liên hợp quốc ở New York

- UNFCCC được mở ra để ký kết từ 9 tháng 5 năm 1992, sau khi một Ủy ban Đàm phán Liên chính phủ xây dựng văn bản của công ước khung như một báo cáo theo sau cuộc họp tại New York từ ngày 30 tháng 4 đến 9 tháng 5 năm 1992 Nó bắt đầu

có hiệu lực ngày 21 tháng 3 năm 1994 Tính đến tháng 5 năm 2011 UNFCCC đã

có 195 bên tham gia

- Mục tiêu (Được ghi nhận tại Điều 2 của Công ước) cuối cùng của Công ước này

và bất kỳ các văn bản pháp lý liên quan mà Hội nghị các Bên có thể thông qua là nhằm đạt được, phù hợp với những điều khoản thích hợp của công ước, sự ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Mức đó phải được đạt tới trong một khung thời gian đủ để cho phép hệ sinh thái thích nghi một cách tự nhiên với sự thay đổi khí hậu, bảo đảm rằng việc sản xuất lương thực không bị đe doạ và tạo khả năng cho sự phát triển kinh tế TIẾN TRIỂN MỘT CÁCH LÂU BỀN

- Đặc biệt trong Công ước này, một cam kết được đưa ra, đó là nhóm các nước phát triển sẽ giúp đỡ nhóm các nước đang phát triển thực hiện Công ước này bằng cách thực hiện những cam kết hỗ trợ nhóm nước đang phát triển về kĩ thuật, khoa học và triệt tận gốc nạn nghèo đói

- Việt Nam tham gia UNFCCC ngày 1/6/1992 và phê chuẩn ngày 16/11/1994 Là 1 nước thuộc bên Không thuộc phụ lục I của UNFCCC, chưa có nghĩa vụ giảm phát thải kính nhà kính, nhưng phải thực hiện một số nghĩa vụ chung : Xây dựng các thông báo quốc gia, kiểm kê KNK; xây dựng và đánh giá các phương án giảm nhẹ KNK và thích ứng với biến đổi khí hậu

- Bộ TN và MT được Chính phủ giao làm cơ quan đầu mối của Chính phủ tham gia và thực hiện UNFCCC và KP.Cục KTTV và BĐKH được giao là cơ qua đầu mối trong nước về BĐKH

Trang 8

c Nghị định thư Kyoto năm 1997 công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu

Nghị định thư Kyoto là một cam kết được tiến hành dựa trên các nguyên tắc của chương trình khung Liên hiệp quốc về vấn đề biến đổi khí ậu Trong đó những quốc gia tham gia kí kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác hoặc có thể tiến hành biện pháp thay thế như Emission trading nếu không muốn đáp ứng yêu cầu đó

+Theo một bài báo về chương trình biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc thì: “Nghị định thư đại diện cho sự thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn đề cắt giảm khí thải trên 5.2% so với năm 1990 (lưu ý rằng mức độ cắt giảm theo yêu đó đên năm 2010 phải đạt được thì thì chỉ tiêu này là khoảng 29%) Mục tiêu hướng đến giảm thiểu các loại khí carbon dioxide, methane, nito oxit, lưu huỳnh,

hexafluorua, clorofluorocarbon và perflourcarbon trong khoảng thời gian

2008-2021 Mức trần đã được quy định cho các quốc gia cụ thể là 8% mức cắt giảm cho liên minh Châu Âu, 7% cho Hoa Kỳ, 6% cho Nhật Bản,

Đó là sơ thảo do chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc đưa ra- UNFCCC khi được nhất trí trong hội nghị thượng đỉnh toàn cầu tại Rio de Janeiro vào 1992 Khi đó chỉ có những nước thuộc chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu mới tham gia kí kết Sau đó nghị định thư Kyoto mới được

đệ trình trong phiên họp thứ ba của hội nghị các bên tham gia nằm trong chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu được tổ chức vào năm 1997 tai Kyoto Nhật Bản Hầu hết những điều khoản trong nghị định thư là yêu cầu dành cho các nước công nhiệp phát triển- được liệt vào nhóm Annex I trong UNFCCC, và không có hiệu lực đối với các nguồn khí thải đến từ lĩnh vực hàng không, hàng hải thuộc phạm vi quốc tế NGhị định thư đã thành lập 3 cơ chế linh hoạt để các bên tham gia nghị định thư có thể cùng nhau phối hợp thực hiện mục tiêu chung, đó là: Cơ chế cùng thực hiện (JI), cơ chế phát triển sạch (CDM), buôn bán phát thải quốc tế (IET)

Nghị định thư giờ đây có hiệu lực với hơn 170 quốc gia, chiếm 60% các nước liên quan đến vấn đề khí thải nhà kính Tính đến tháng 21/ 2007, Hoa Kỳ và Kzakhstan

là hai nước duy nhất không tiến hành các biện pháp cắt giảm dù có tham gia kí kết tại nghị định thư Hiệu lực của bản hiện tại sẽ hết vào năm 2012, để vun đắp thành

Trang 9

công cho nghị định hiện tại, nhiều hội nghị quốc tế với sự tham gia của các bên liên quan đã được tiến hành từ tháng 5/2007.”

Việt Nam đã kí nghị định thư Kyoto vào ngày 3/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/9/2002

d.Thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu COP 21

- Hội nghị COP 21 diễn ra từ ngày 29/11 đến ngày 13/12/2015 với sự tham gia của gần 40000 đại biểu từ 195 quốc gia tham gia công ước khung của Liên hợp quốc

về biến đổi khí hậu COP21

Sau 2 tuần đàm phán căng thẳng với các phiên họp kéo dài suốt dêm trong giai đoạn nước rút, vào lúc 19h28 (giờ Paris) ngày 1/12, đại diện của 195 nước tham dự Hội nghị COP 21 đã chính thức thông qua thỏa thuận Paris Thỏa thuận vừa đạt được là đánh dấu bước đột phá quan trọng trong nỗ lực của Liên hợp quốc suốt hơn 2 thập kỉ qua nhằm thuyết phục Chính phủ các nước hợp tác để giảm lượng khí thải gây ô nhiễm, hạn chế việc gia tăng nhiệt độ của của trái đất và sẽ thay thế nghị định thư Kyoto từ năm 2020 Thỏa thuận Paris sẽ có hiệu lực trong vòng 30 ngày sau khi có ít nhất 55 quốc gia, chiếm ít nhất 55% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính toàn cầu phê chuẩn

Về mục tiêu, thỏa thuận này đặt ra mức tăng nhiệt độ của trái đất đến năm 2100 là thấp hơn đáng kể so với ngưỡng 2 độ C và gắng tiến tới ngưỡng thấp nhất hơn 1.5

độ C

Thỏa thuận Paris còn đề ra cơ chế để mỗi nước tự nguyện rà soát, theo đó từ năm

2023, cứ 5năm/lần Liên hợp quốc sẽ đánh giá hiệu quả tổng hợp về các nỗ lực chống biến đổi khí hậu của các nước Các nước phát triển sẽ cung cấp nguồn lực tài chính để hỗ trợ các nước đang phát triển thích ứng và giảm nhẹ phát thải nhà kính và các bên được khuyến khích cung cấp hoặc tiếp tục cung cấp hỗ trợ này trên

cơ sở tự nguyện

Thỏa thuận Paris đã đề cập tới những vấn đề mà Việt Nam đang quan tâm trong công tác ứng phó vớ biến đổi khí hậu Đẫn đầu đoàn cấp cao Việt Nam dự hội nghị, trong phát biểu của mình tại phiên khai mạc COP 21, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đưa ra cam kết mạnh mẽ của Việt Nam góp phần cùng với cộng đồng quốc tế quốc tế ứng phó với biến đổi khí hậu

Trang 10

-Ngoài các cam kết quốc tế tiêu biểu trên chúng ta có thể kể đến một số các cam kết quốc tế khác như:

+Công ước về buôn bán quốc tế những loại động thực vật có nguy cơ bị đe dọa (công ước CITES tham gia ngày 20/1/1994)

+Cam kết quốc tế về việc phổ biến và sử dụng thuốc diệt côn trùng, FAO, 1985-+Công ước về thông báo sớm sự cố hạt nhân (IAEA), 1985 (30/10/1987

+Công ước về hỗ trợ trong trường hợp có sự cố hạt nhân hay phóng xạ khẩn cấp (IAEA), 1986 ( 29/9/1989)

+Tuyên bố Liên Hợp Quốc về môi trường và phát triển, 1992

+Công ước Quốc tế về đa dạng sinh học 1992 ( tham gia ngày 16/11/1994)

+Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh học ( 16/11/1994)

+Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu huỷ chúng (BASEL), 1989 (13/3/1995)

+Tuyên ngôn quốc tế về sản xuất sạch hơn (22/9/1999)

+Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP), 2001 III.Các văn bản pháp luật của Việt Nam về không khí

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (Điều 62, 63, 64, chương XII)

-Quyết định số 249/2005/QĐ-TTG ngày 10/10/2005 của Thủ tướng chính phủ quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với phương tiện giao thông đường bộ -Quyết định số 15/2006/QĐ-BTNMT ngày 8/9/2006 về việc ban hành danh mục thiết bị làm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu

-Quyết định số 47/2007/QĐ/TTG ngày 6/4/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện Nghị định thư Kyoto thuộc Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đỏi khí hậu

-Thông tư 16/2009-TT-BTNMT ngày 7/10/2009 quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường

-Thông tư số 25/2009- TT- BTNMT quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường

Ngày đăng: 04/04/2018, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w