1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC” VẬT LÍ 11 THPT CHDCND LÀO

137 288 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

14 CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIÊM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC HỌC SINH .... Giả thuyết kho

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THEO ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS LÊ VĂN GIÁO

Thừa Thiên Huế, năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực,được các đồng tác giả cho phép sử dụng và từng chưa được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Bounnao Pathoumma

Trang 3

Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn

sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Văn Giáo đã tận tình giúp đỡ và

hướng dẫn tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành

luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám Đốc, Ban Đào tạo

Sau Đại học, Ban Giám Hiệu trường Đại học sư phạm, Phòng Đào

tạo Sau Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Vật lí và tổ bộ môn phương

pháp giảng dạy Vật lí trường Đại học sư phạm - Đại học Huế cùng

qúi thầy, cô giáo ở trường THPT CHNCND Lào, đã tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm

và hoàn thành luận văn

Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến

PGS.TS.Lê Công Triêm và PGS.TS.Trần Huy Hoàng đã góp ý cho

tác giả trong thời gian nghiên cứu chọn đề tài luận văn

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn đến gia đình, bạn bè và đồng

nghiệp đã giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt thời gian nghiên

cứu và hoàn thành luận văn

Huế, tháng 09 năm 2017

Tác giả luận văn

Bounnao Pathoumma

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa i

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục 1

Danh mục cá từ viết tắt 5

Danh mục bảng biểu 6

Danh mục hình ảnh 7

Danh mục sơ đồ,biểu đồ,đồ thị 8

LỜI MỞ ĐẦU 9

1 Lí do chọn đề tài 9

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 11

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 12

4 Giả thuyết khoa học 12

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 13

6 Đối tượng nghiên cứu 13

7 Phạm vi nghiên cứu 13

8 Phương pháp nghiên cứu 13

9 Cấu trúc của luận văn 14

CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIÊM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC HỌC SINH 15

1.1 Hoạt động nhận thức và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh 15

1.1.1 Hoạt động nhận thức 15

1.1.1.1 Khái niệm 15

1.1.1.2 Hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí 15

1.1.2 Tích cực hóa họat động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí 17

1.1.2.1 Tính tích cực 17

Trang 5

1.1.2.2 Cơ sở của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong

dạy học vật lí 18

1.1.2.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức 20

1.2 Thí nghiệm tự tạo 22

1.2.1 Khái niệm 22

1.2.2 Phân loại thí nghiệm tự tạo 23

1.2.2.1 Thí nghiệm tự tạo đơn giản 23

1.2.2.2 Thí nghiệm tự tạo phức tạp 23

1.2.3 Ưu điểm và hạn chế của thí nghiệm tự tạo 24

1.3 Tự tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí 25

1.3.1 Tự tạo thí nghiệm 25

1.3.1.1 Các yêu cầu đối với việc tự tạo thí nghiệm 25

1.3.1.2 Quy trình tự tạo thí nghiệm trong dạy học vật lí 26

1.3.2 Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học vật lí 29

1.3.2.1 Các yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm tự tạo 29

1.3.2.2 Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của thí nghiệm tự tạo 30

1.4 Thực trạng dạy học phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT CHDCND Lào 33 1.4.1 Mục đích điều tra 33

1.4.2 Phương pháp điều tra 33

1.4.3 Kết quả điều tra 33

 Kết luận chương 1 36

CHƯƠNG 2.XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC PHẦN “QUANG HÌNH HỌC”VẬT LÍ LỚP 11 THPT CHDCND LÀO 38

2.1 Đặc điểm phần “Quang hình học” trong chương trình vật lí 11 THPT CHDCND Lào 38

2.2 Tự tạo các thí nghiệm trong phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT CHDCND Lào 39

2.2.1 Thí nghiệm sự truyền thằng của ánh sáng 39

Trang 6

2.2.2 Thí nghiệm khúc xạ ánh sáng 41

2.2.3 Thí nghiệm phản xạ toàn phần 44

2.2.4 Thí nghiệm phản xạ gương phẳng 46

2.2.5 Thí nghiệm thấu kính 48

2.2.6 Thí nghiệm về thấu kính hội tụ 49

2.3 Tiến trình tổ chức dạy học một số kiến thức phần “Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào với sự hỗ trợ của thí nghiệm tự tạo 50

2.3.1 Tiến trình tổ chức dạy học bài “khúc xạ ánh sáng” 50

2.3.1.1 Tiến trình xây dựng kiến thức 50

2.3.1.2 Tiến trình dạy học kiến thức 51

2.3.2 Tiến trình tổ chức dạy học bài “phản xạ toàn phần” 58

2.3.2.1 Tiến trình xây dựng kiến thức 58

2.3.2.2 Tiến trình dạy học kiến thức 60

 Kết luận chương 2 66

CHƯƠNG 3.THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 68

3.1 Khái quát về thực nghiệm sư phạm 68

3.2 Kết quả thực nghiệm sư phạm 72

 Kết luận chương 3 78

KẾT LUẬN 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1.PHIẾU ĐIỀU TRA P1

1 Phiếu điều tra GV P1

2 Phiếu điều tra đối với HS P2

KẾT QUẢ ĐIỀU TRA P9

A Kết quả điều tra GV P9

B Kết quả điều tra HS P10

PHỤ LỤC 3.TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC P16

3.1 Tiến trình tổ chức dạy học bài “Định luật khúc xạ ánh sáng” P16 3.2 Tiến trình tổ chức dạy học bài “phản xạ toàn phần” P28

Trang 7

PHỤ LỤC 4.ĐỀ KIỂM TRA P38

1 Đề kiểm tra 15 phút bài:“Khúc xạ ánh sáng” P38

2 Đề kiểm tra 15 phút bài:“ Phản xạ toàn phần” P41

PHỤ LỤC 5.MỘT SỐ HÌNH ẢNH TNSP P45

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Trang

Bảng 1 1 Bảng thống kê các trường, GV và HS tham gia điều tra 33

Bảng 1 2 Kết quả điều tra về TBTN ở trường phổ thông trong tỉnh Chapasak nước CHDCND Lào 34

Bảng 1 3 Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của GV 34

Bảng 1 4 Các mức độ sử dụng TN của GV trong DH 35

Bảng 1 5 Những khó khăn khi sử dụng TNTT trong DH 35

Bảng 1 6 Các mức độ sử dụng TNTT để kiểm chứng kiến thức trong DHVL 35

Bảng 3 1 Lớp đối chứng và lớp thực nghiệm sư phạm 69

Bảng 3 2 Bảng thống kê sĩ số và kết quả học tập môn vật lí của lớp thực nghiệm và đối chứng 69

Bảng 3 3 Bảng thống kê điểm số ( )x i của bài kiểm tra 15 phút lần 1(Bài khúc xạ ánh sáng) 74

Bảng 3 4 Bảng thống kê điểm số ( )x i của bài kiểm tra 15 phút lần 2(Bài phản xạ toàn phần) 75

Bảng 3 5 Bảng thống kê điểm số ( )x i của 2 bài kiểm tra 75

Bảng 3 6 Bảng phân phối tần suất của 2 bài kiểm tra 75

Bảng 3 7 Bảng phân phối tần suất lũy tích của 2 bài kiểm tra 76

Bảng 3 8 Bảng tổng hợp các tham số thống kê 78

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Trang

Hình 1 1 TN định luật Becnulli 23

Hình 1 2 TN về định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt 23

Hình 1 3 Bộ cảm biến siêu âm dùng cho các TN chuyển động cơ học 24

Hình 2 1 Bộ thí nghiệm truyền thẳng ánh sáng 40

Hình 2 2 Thí nghiệm về hiện tượng khúc xạ ánh sáng 41

Hình 2 3 Thí nghiệm về hiện tượng khúc xạ ánh sáng 42

Hình 2 4 Thí nghiệm khúc xạ ánh sáng 43

Hình 2 5 Thí nghiệm phản xạ toàn phần 44

Hình 2 6 Thí nghiệm phản xạ toàn phần trong cáp quang 46

Hình 2 7 Bộ thí nghiệm phản xạ gương phẳng 47

Hình 2 8 Thí nghiệm về thấu kính 48

Hình 2 9 Thí nghiệm thấu kính hội tụ 49

Hình 2.1a Tiến hành thí nghiệm truyền thẳng ánh sáng 41

Hình 2.4a Tiến hành thí nghiệm khúc xạ ánh sáng 44

Hình 2.5a Tiến hành thí nghiệm phản xạ toàn phần 45

Hình 2.7a Tiến hành Sự phản xạ gương phẳng trong ống nước PVC 47

Hình 2.8a Tiến hành thí nghiệm về thấu kính 49

Hình 2.9a Tiến hành thí nghiệm thấu kính hội tụ 50

Trang 11

DANH MỤC, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Trang

sơ đồ 1 1 Mô tả quá trình đồng hóa điều ứng 20

sơ đồ 1 2 Quy trình tự tạo thí nghiệm 29

sơ đồ 1 3 Quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL 32

Sơ đồ 2 1 Cấu trúc nội dung phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT Lào 38

Biểu đồ 3 1 Biểu đồ phân phối tần suất của 2 bài kiểm tra 75

Biểu đồ 3 2 Biểu đồ phân phối tần suất lũy tích của 2 bài kiểm tra 76

Đồ thị 3 1 Đồ thị phân phối tần suất của 2 bài kiểm tra 75

Đồ thị 3 2 Đồ thị phân phối tần suất lũy tích của 2 bài kiểm tra 76

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, do đó hầu hết các kiến thức vật lí đều được rút ra từ những quan sát và thí nghiệm Những định luật hay thuyết vật lí cũng chỉ trở thành kiến thức vật lí khi được thực nghiệm kiểm chứng Vì vậy, trong dạy học vật lí ở trường phổ thông, thí nghiệm là một phương tiện rất quan trọng, có tác dụng to lớn trong việc chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, của HS Mặt khác, sự cần thiết của TN trong DHVL ở trường phổ thông còn được quy định bởi quy luật nhận thức

chung của con người mà Lênin đã chỉ ra: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến trực quan sinh động” [23] Tuy nhiên, một thực

trạng về thí nghiệm vật lí ở phổ thông cho thấy :

Thiết bị thí nghiệm được cung cấp nhiều nhưng không đồng bộ, các thiết bị thí nghiệm chất lượng kém, bị hư hỏng trong vận chuyển, bảo quản, bên cạnh đó không

có các thiết bị dự trữ để thay thế nên khi tiến hành thí nghiệm thường cho kết quả không chính xác Vì vậy làm thí nghiệm tự tạo là một nhiệm vụ rất cần thiết cho dạy học môn vật lí

Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm được GV và HS làm ra theo mẫu trong SGK, hoặc là những thí nghiệm được cải tiến từ các thiết bị máy móc, hoặc là những thí nghiệm tự tạo theo ý tưởng, sáng kiến mới bằng những dụng cụ đơn giản,

dễ kiếm trong đời sống hằng ngày

Thí nghiệm tự tạo có vai trò rất quan trọng trong quá trình tổ chức dạy học Thông qua thí nghiệm tự tạo, GV có thể phát huy được tính tích cực, sáng tạo của

HS trong quá trình dạy học Thí nghiệm tự tạo hỗ trợ cho quá trình dạy học của GV, giảm thời gian thuyết trình ,GV sẽ thuận lợi trong nghiên cứu dạy học theo hướng tích cực, phù hợp cho từng nội dung bài học, tăng tính hấp dẫn của môn Vật lí đối với HS và góp phần làm phong phú đồ dùng dạy học cho GV Ngoài ra, thí nghiệm

tự tạo rèn luyện cho HS tính tự lực, sáng tạo, ham học hỏi, tìm tòi khám phá tự nhiên, HS có niềm tin vào bản thân, giải quyết được các tình huống xảy ra trong cuộc sống và tạo cho HS nhiều cơ hội, tình huống phải suy nghĩ, những vấn đề phải giải quyết Khi tiến hành thí nghiệm tự tạo, những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh của HS

Trang 13

như: tò mò, hiếu kì, hiếu động của HS bị kích thích, tăng mức độ hứng thú của HS trong giờ học Tạo sự say mê tìm hiểu những hiện tượng thiên nhiên, qua đó HS sẽ yêu thích giờ học vật lí hơn HS được rèn luyện các kỹ năng thu thập thông tin, xử lí thông tin, truyền đạt thông tin Các thông tin này là kết quả của một quá trình lao động, tư duy sáng tạo của thầy và trò Góp phần rèn luyện kỹ năng thực hành

Thí nghiệm tự tạo có nhiều ưu điểm trong tổ chức hoạt động nhận thức cho HS: Dụng cụ cho thí nghiệm là những dụng cụ đơn giản, dễ kiếm nên GV và HS có thể tự chế tạo Thí nghiệm có hình thức gọn nhẹ, đơn giản, dễ lắp ráp, dễ sử dụng nên có thể thực hiện mọi lúc mọi nơi Thí nghiệm dễ thành công, cho kết quả rõ ràng, thuyết phục nhưng lại ít tốn thời gian Thao tác tiến hành thí nghiệm không đòi hỏi phải có những kỹ năng đặc biệt nên GV nào cũng có thể làm được Không đòi hỏi khắc khe về cơ sở vật chất nên ở đâu cũng tiến hành thí nghiệm được Thí nghiệm phù hợp, bám sát với nội dung cần dạy nên rất thuận lợi trong dạy học Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc sử dụng TN trong DH đang gặp nhiều khó khăn, do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau Trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là do thiết bị thí nghiệm (TBTN) được trang bị chưa đáp ứng được đòi hỏi của việc DHVL theo hướng tích cực hóa HĐNT của HS, điều đó phần này đã ảnh hưởng đến chất lượng của việc DHVL ở trường phổ thông hiện nay Trong chương trình vật lí phổ thông có nhiều hiện tượng, quá trình vật lí phức tạp cần được trực quan hóa qua TN nhưng với những TN trong danh mục tối thiểu thì không thể đáp ứng đủ Do đó hướng nghiên cứu xây dựng và sử dụng thí nghiệm tự tạo (TNTT) trong DHVL là một hướng đang được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới

Phần Quang hình học vật lí 11 là phần có nhiều khái niệm, hiện tượng có tính trừu tượng, vì vậy cần phải trực quan hóa trong QTDH Do đó ngoài thí nghiệm đã

có trong danh mục tối thiểu của Bộ, trong dạy học giáo viên cần phải tự tạo thí nghiệm để sử dụng trong dạy học

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học phần “Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào”

Trang 14

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Việc nghiên cứu thiết kế, chế tạo và sử dụng TNTT đã được nhiều nhà nghiên cứu lí luận DH bộ môn quan tâm từ rất sớm bởi tính kinh tế và hiệu quả của nó trong DH Loại TN này bắt đầu được quan tâm bởi các nhà giáo dục ở Canada,

trong đó do tổ chức “Les petis desbrouillads” đi tiên phong, sau đó phát triển đến nhiều nước khác như: Đức, Pháp, Mĩ, Trung Quốc, Rumani… Mục tiêu của việc

nghiên cứu là nhằm tạo ra và sử dụng các TN theo hướng tăng cường tính trực quan trong QTDH và rèn luyện kỹ năng thực hành TN cho HS thông qua những TN do

HS tự làm từ những vật liệu dễ tìm trong cuộc sống Tại Hội nghị quốc tế được tổ

chức ở trường Đại học Tổng Hợp Cairô, Ai Cập bàn về chuyên đề “Thí nghiệm đơn giản, rẻ tiền và sự minh họa trong dạy học vật lí”, đã có rất nhiều báo cáo đề cập

đến vai trò và tiềm năng của loại TN này trong DHVL ở trường phổ thông Ở khu vực Châu Á và Châu Đại Dương, vấn đề tự làm đồ dùng DH được tiến hành với sự

bảo trợ của UNESCO trong “Chương trình Canh Tân giáo dục để phát triển” [44]

dưới tiêu đề “Phát triển các thiết bị dạy học rẻ tiền” Ngoài ra, các nghiên cứu về

TNTT cũng được các tác giả như: Michael Vollmer, Klaus Peter Möllmann, versity of Applied Sciences [45], H Joachim Wilke: Experimente zum Selbstbauen

Uni-In Physik Journal.08 / 2004 Seite: 89 [43].

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng đã có nhiều công trình nghiên

cứu của các nhà giáo dục học, lí luận DH nghiên cứu về TNTT như: Nguyễn Thượng Chung, Phạm Đình Cương, Nguyễn Hùng Liễu, Lê Văn Giáo, Hà Văn Hùng - Lê Cao Phan, Nguyễn Ngọc Hưng, Đồng Thị Diện… [7], [9], [25], [16],

[10], [20], [11] Các tác giả đã nghiên cứu tự tạo TN và sử dụng TNTT vào những

mục đích khác nhau: sử dụng TNTT như là một phương tiện để tích cực hóa HĐNT của HS; sử dụng TNTT vào việc phát hiện và khắc phục những quan điểm sai lệch của HS; sử dụng TNTT như là một phương tiện hỗ trợ trong tổ chức DH kiến tạo,

DH nhóm, DH dự án… Ngoài ra, còn có nhiều tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu TNTT trong DHVL ở trường phổ thông, như: Nguyễn Thị Hồng Việt - Nguyễn Viết Thanh Minh, Trần Đình Châu, Nguyễn Mạnh Thảo - Lưu Thị Tâm… [42], [6],

[36]

Trang 15

Bên cạnh đó, vấn đề nghiên cứu tự tạo và sử dụng TN tự tạo trong DH những kiến thức cụ thể trong chương trình vật lí THPT còn được thể hiện trong các luận

văn thạc sĩ của các tác giả: Mai Khắc Dũng, Trương Công Phi, Nguyễn Thị Hồng

Lê, Trần Thị Thanh Thư, Trần Ngọc Oanh, Trần Thị Ngọc Ánh… [12], [33], [24], [40], [30], [4] và công trình luận án tiến sĩ của các tác giả: Ngô Quang Sơn, Lê Văn Giáo, Đồng Thị Diện, Lê Cao Phan [35], [15], [11], [32] Ngoài ra, các nghiên cứu

về xây dựng và sử dụng TN trong DHVL theo hướng phát huy TTC, tự lực và sáng

tạo của HS còn được quan tâm nghiên cứu bởi các tác giả: Trần Huy Hoàng, Trần Văn Thạnh, Đặng Minh Chưởng, Dương Xuân Quý, Nguyễn Ngọc Lê Nam [18],

[37], [7], [34], [26] Các công trình nghiên cứu đó đã tạo ra nhiều TN và sử dụng vào DH một cách có hiệu quả, đã góp phần tích cực vào việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông

Ở nước CHDCND Lào cũng đã có công trình nghiên cứu của Bộ giáo dục như:

Bộ giáo dục và thể thao (1998) Cách tự tạo dụng cụ dạy học của các môn khoa học trong trường Cao đẳng sư phạm [5]…Trong chiến lược phát triển của Bộ giáo dục

và thể thao nước CHDCND Lào, cũng đã thể hiện rõ sự quan tâm và khuyến khích việc tự tạo đồ dùng dạy học

Như vậy, qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy đến nay chưa có nghiên cứu nào về

“Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học phần “Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào” Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài này nghiên cứu

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Đề xuất quy trình tự tạo thí nghiệm và quy trình sử dụng thí nghiệm tự tạo, trên cơ sở đó tự tạo thí nghiệm và vận dụng vào tổ chức dạy học một số kiến thức phần “Quang hình học” vật lí 11 Trung học phổ thông ở nước CHDCND Lào theo hướng tích cực hóa nhận thức của học sinh

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được quy trình tự tạo thí nghiệm và quy trình sử dụng thí nghiệm

tự tạo, trên cơ sở đó tự tạo các thí nghiệm và vận dụng vào tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí thì sẽ phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh trong học tập, qua đó nâng cao hiệu quả dạy học vật lí ở trường phổ thong CHDCND Lào

Trang 16

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiến việc sử dụng thí nghiệm tự tạo trog dạy học vật lý ở trường phổ thông

- Nghiên cứu đề xuất quy trình tự tạo TN

- Nghiên cứu đề xuất quy trình sử dụng TNTT cho HS trong DHVL

- Nghiên cứu thực trạng cơ sở vật chất, TBTN và thực trạng của việc tự tạo

TN và sử dụng TNTT trong DHVL ở trường phổ thông

- Nghiên cứu nội dung, chương trình phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT CHDCND Lào

- Nghiên cứu tự tạo một số TN trong phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT CHDCND Lào

- Thiết kế tiến trình DH một số kiến thức trong phần “Quang hình học” vật lí

11 THPT CHDCND Lào với sự hỗ trợ của TNTT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm (TNSP) nhằm đánh giá tính hiệu quả của việc sử dụng TNTT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông nước CHDCND Lào

6 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động dạy và học vật lí ở trường phổ thông CHDCND Lào với việc sử dụng TNTT

7 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng và sử dụng TNTT vào DH một số kiến thức phần

“Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước, Luật Giáo dục, các tạp chí khoa học, luận án, luận văn cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục hiện nay ở các cấp học, bậc học mà cụ thể ở cấp THPT

- Nghiên cứu cơ sở lí luận tâm lí học, giáo dục học, lí luận DH và lí luận DH

bộ môn theo hướng phát huy TTC nhận thức của HS

- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào phần “Quang hình học”

Trang 17

- Nghiên cứu những tài liệu về sử dụng TN trong việc tổ chức HĐNT cho HS theo hướng phát huy TTC nhận thức

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Điều tra GV ở các trường THPT để nắm bắt được thực trạng về TBTN và việc tự tạo TN trong DH phần “Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào

- Điều tra HS ở các trường THPT để tìm hiểu việc tổ chức hoạt động DH bộ môn vật lí được GV giảng dạy vật lí thực hiện như thế nào

8.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành TNSP ở các trường THPT có đối chứng để kiểm tra tính khả thi của

đề tài, cụ thể là xem xét việc tổ chức HĐNT cho HS với sự hỗ trợ của TNTT có góp phần tích cực hóa HĐNT của HS trong DH hay không

8.4 Phương pháp thống kê toán học

- Dựa vào các số liệu thu được, thống kê, phân tích và xử lí kết quả

- Kiểm định giả thiết thống kê

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy

học vật lí ở trường phổ thông theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Chương 2 Xây dựng và sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học phần “Quang

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG THÍ NGHIÊM

TỰ TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC HỌC SINH

1.1 Hoạt động nhận thức và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

1.1.1 Hoạt động nhận thức

1.1.1.1 Khái niệm

Theo tâm lí học: “Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người

và thế giới để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và cả về phía con người” [14]

Theo triết học: “Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ

sở thực tiễn” [23]

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể” [46]

Như vậy, HĐNT là quá trình cá nhân thâm nhập, khám phá, tái tạo lại, cấu trúc lại thế giới xung quanh, qua đó hình thành và phát triển hiểu biết của con người về thế giới và phương pháp vận động của nó nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người [38], [28], [10]

1.1.1.2 Hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí

Quá trình nhận thức của con người thường trải qua ba giai đoạn liên tiếp, đó là: Nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính và nhận thức thực tiễn Ba giai đoạn này có mối quan hệ với nhau rất mật thiết Trong đó, nhận thức cảm tính là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, trong giai đoạn này giúp con người hình thành cảm giác, tri giác và biểu tượng về các sự vật, hiện tượng, làm cơ sở cho quá trình nhận thức tiếp theo là nhận thức lý tính Trong giai đoạn nhận thức cảm tính các phương tiện trực quan có vai trò rất quan trọng việc hình thành cảm giác, tri giác và biểu tượng

Vật lí học là môn khoa học thực nghiệm, nghiên cứu các sự vật, hiện tượng và

sự vận động của nó trong tự nhiên, vì vậy nhận thức cảm tính càng có vai trò quan

Trang 19

trọng đối với quá trình nhận thức của HS Để hình thành cảm giác, tri giác và biểu tượng về sự vật, hiện tượng thì phương tiện trực quan nói chung và TN vật lí nói riêng là rất cần thiết Do đó, trong DHVL để hình thành cho HS có những nhận thức ban đầu về đối tượng, sự vật nghiên cứu thì cách tốt nhất là phải thông TN, để phản ánh tương đối toàn vẹn về sự vật hiện tượng đang tác động vào các giác quan để từ

đó hình thành nên biểu tượng và lưu lại trong bộ não của HS về sự vật khi sự vật đó không còn trực tiếp tác động vào các giác quan

Bên cạnh đó, chúng ta biết nhận thức cảm tính luôn gắn liền với thực tiễn thông qua các giác quan và phản ánh trực tiếp đối tượng bằng các giác quan của chủ thể nhận thức Nhận thức cảm tính chỉ dựa vào những dấu hiệu bên ngoài của đối tượng, nên nó thường có những sai lầm không đúng với bản chất của sự vật, hiện tượng Do đó ở giai đoạn này, đi sâu vào bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng nghiên cứu Vì vậy, cần phải tiến tới một quá trình nhận thức cao hơn đó là nhận thức lý tính Nhận thức lý tính còn gọi là tư duy, là giai đoạn phản ánh những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng, những mối quan hệ và liên hệ có tính quy luật Nhận thức lý tính được thể hiện ở các hình thức như: khái niệm, phán đoán và suy luận Vì vậy, trong DHVL để HS hiểu rõ bản chất của sự, vật hiện tượng để đi đến một khái niệm, phán đoán, suy luận nào đó trong quá trình nhận thức thì bắt buộc HS phải thực hiện các thao tác tư duy, như: phân tích, tổng hợp,

so sánh, khái quát… và các hành động nhận thức như: xác định bản chất của sự vật hiện tượng, tìm nguyên nhân, xác định mối quan hệ… Trong quá trình nhận thức lý tính thì TN được xem là phương tiện hiệu quả, vì thông qua TN, HS có thể rút ra được những thuộc tính, bản chất của sự vật hiện tượng, phát hiện mối liên hệ và quan hệ của các thành tố trong các sự vật, hiện tượng cũng như những quy luật chi phối chúng

Giai đoạn cuối cùng của quá trình nhận thức, đó là nhận thức thực tiễn Nhận thức thực tiễn có vai trò kiểm nghiệm tri thức đã thu nhận được Như vậy, thực tiễn không chỉ là điểm xuất phát của nhận thức, là yếu tố đóng vai trò quyết định đối với

sự hình thành và phát triển của nhận thức mà còn là nơi nhận thức luôn hướng tới

để kiểm nghiệm tính đúng đắn của nó Vì thế, mà người ta nói rằng thực tiễn vừa là

cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý Vật lí

Trang 20

là một môn học có quan hệ rất chặt chẽ với tự nhiên, kỹ thuật và cuộc sống, vì vậy nhận thức thực tiễn đóng một phần rất quan trọng trong nhận thức vật lí Nhận thức thực tiễn giúp cho HS thấy được ứng dụng của các kiến thức vật lí vào kỹ thuật, khoa học và đời sống Trong quá trình nhận thức thực tiễn việc vận dụng tri thức luôn gặp phải những khó khăn nhất định, do tính trừu tượng của các tri thức khoa học, vì vậy trong trường hợp đó TN là phương tiện cần thiết, không thể thiếu được

để vận dụng tri thức vào thực tiễn

1.1.2 Tích cực hóa họat động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí

1.1.2.1 Tính tích cực

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, TTC là khái niệm biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng, biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy Sự nỗ lực ấy diễn ra trên nhiều mặt: sinh lí, tâm lí và xã hội [41]

Theo I.F Kharlamôp, TTC là trạng thái hoạt động của chủ thể, nghĩa là của người hành động [21]

Theo V Ôkôn, TTC là lòng mong muốn không chủ định và gây nên những biểu hiện bên ngoài hoặc bên trong của hoạt động [31]

Theo R.A Nizamôp, sự tích cực nhận thức thực chất là một hành động ý chí Trạng thái HĐNT là một trạng thái hoạt động được đặc trưng bởi sự nỗ lực cố gắng của cá nhân [27]

Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã đưa ra khái niệm về TTC [2], [1],[13],[17],[22],[39]…Tuy nhiên những nghiên cứu này đều có điểm chung khi nói về TTC, đó là:

Chủ thể có hứng thú và có nhu cầu tìm ra cái mới

Thể hiện tính chủ động, nỗ lực trong quá trình học tập

Tham gia tích cực vào giải quyết các nhiệm vụ học tập

Trong HĐNT, TTC là một thuộc tính nhân cách và là một phẩm chất rất quan trọng của con người, nó có liên quan đến sự nỗ lực hoạt động của chủ thể khi tương tác với đối tượng, còn tích cực hóa lại là việc làm của GV, làm cho người học từ chỗ lơ là, thụ động sang chủ động tích cực và say mê học tập

Trang 21

Theo tác giả Thái Duy Tuyên: “Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và của các nhà giáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập” [41]

Vì vậy, trong DHVL để tích cực hóa HĐNT của HS trong học tập thì QTDH

đó phải diễn ra sao cho:

 HS phải là chủ thể và có sự tự giác trong HĐNT của bản thân;

 GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, điều khiển hoạt động DH nhằm giúp HS trong việc tìm kiếm kiến thức mới;

 GV phải dựa trên những quan niệm, kiến thức sẵn có của HS, khéo léo tạo nên mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết để tạo tình huống có vần đề nhằm kích hích tính tò mò và lòng ham hiểu biết, từ đó sẽ làm nảy sinh nhu cầu tìm kiếm kiến thức mới của HS

1.1.2.2 Cơ sở của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học vật lí

Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động ,đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

Các nhà nghiên cứu giáo dục đều cho rằng, thành tựu quan trọng nhất của tâm

lí học là cơ sở cho việc đổi mới PPDH là lí thuyết hoạt động được Vygotsky khởi xướng và được A.N.Lêônchiep phát triển Theo lí thuyết này, bằng hoạt động và thông qua hoạt động, mỗi con người tự đem đến sự phát triển cho mình, tạo dựng và phát triển ý thức và nhân cách của mình Trong DH, việc học tập của HS có bản chất hoạt động, bằng hoạt động và thông qua hoạt động của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm đạo đức, thái độ Theo A.N.Lêônchiep, hoạt động nào cũng có động cơ nhất định Động cơ là cái quan trọng nhất thúc đẩy sự phát triển của con người, động cơ có hai loại là động cơ xa và động cơ gần Động cơ xa là mục đích chung của hoạt động còn động

cơ gần là mục đích của từng hành động Mỗi hoạt động có thể gồm một hay nhiều hành động tạo nên vì một hoạt động chỉ có thể thực hiện được thông qua nhiều hành

Trang 22

động Ngược lại, một hành động có thể có nhiều hoạt động nhỏ khác nhau tùy vào mục đích và điều kiện cụ thể nơi diễn ra hành động mà chủ thể xác định các cách thức cụ thể để giải quyết nhiệm vụ

Theo thuyết nhận thức của J Piaget: Học tập là quá trình cá nhân tự hình thành các tri thức cho mình Có hai loại tri thức: Tri thức về thuộc tính vật lí, thu được bằng cách hành động trực tiếp với các sự vật hiện tượng và tri thức về tư duy, quan

hệ toán, logic thu được sự tương tác với người khác trong các quan hệ xã hội Đó là quá trình cá nhân tổ chức các hành động tìm tòi, khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng sơ đồ nhận thức Sơ đồ là một cấu trúc nhận thức bao gồm một lớp các thao tác giống nhau theo một trật tự nhất định, sơ đồ nhận thức được hình thành từ các hành động bên ngoài và được nhập tâm Vì vậy, sơ đồ có bản chất thao tác (Operations) và được người học xây dựng bằng chính hành động (Action) của mình

Thuyết nhận thức của J Piaget còn cho rằng, cấu trúc nhận thức có chức năng tạo ra sự thích ứng của cá thể với các kích thích của môi trường Các cấu trúc nhận thức được hình thành theo cơ chế đồng hóa (Assimiltion) và điều ứng (Accomoda-tion) HS sẽ tự xây dựng cho mình một hệ thống tri thức có sắc thái riêng và có khả năng vận dụng hệ thống tri thức này vào giải quyết các vấn đề do thực tiễn đặt ra Theo J Piaget đồng hóa là quá trình HS vận dụng kiến thức cũ để giải quyết tình huống mới và sắp xếp kiến thức mới thu nhận được vào cấu trúc kiến thức hiện có Muốn thế khi tổ chức QTDH, GV cần phải làm cho HS bộc lộ quan niệm của mình

về vấn đề học tập, cần tổ chức cho HS hệ thống hóa và khai thác kinh nghiệm cũ nhằm phát triển nhận thức cho bản thân HS và phổ biến cho cả lớp Để đồng hóa được kiến thức mới và cũ cần phải tiến hành quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh,… nhằm đánh giá lại kiến thức cũ từ đó sắp xếp lại hệ thống kiến thức sao cho hoàn thiện, chính xác hơn Điều ứng là sự thay đổi, điều chỉnh, bổ sung, vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề lý thuyết và thực tiễn Đây là quá trình mà HS phải thực hiện các thao tác tư duy, làm kiến thức bộc lộ các thuộc tính, bản chất, các mặt mạnh yếu, tìm ra mối liên hệ giữa các yếu tố kiến thức, tính hệ thống của chúng

và khả năng vô tận của kiến thức Quá trình này có thể tóm tắt theo sơ đồ sau:

Trang 23

Còn theo Vygotsky thì “Dạy học phải đi trước sự phát triển kéo theo sự phát triển”, nghĩa là trong DH, GV phải đặt cho HS một nhiệm vụ cao hơn trình độ của

họ, dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của GV, bạn bè… các em tự vươn lên giải quyết các nhiệm vụ học tập Khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học và nhiệm vụ học tập đặt ra mà người học có thể giải quyết được với sự nỗ lực cố gắng của mình, Vygotsky gọi đó là “Vùng phát triển gần” Theo lí thuyết “Vùng phát triển gần” của Vygotsky thì trình độ ban đầu của người học tương ứng với vùng phát triển hiện tại, trình độ này cho phép người học dưới sự hướng dẫn của GV có thể thu nhận kiến thức gần gũi với kiến thức mới để đạt trình độ cao hơn Tiếp đó, GV đưa người học đến “Vùng phát triển gần” mới, để sau đó đến lượt nó lại trở thành vùng phát triển hiện tại Cứ tiếp tục như vậy trình độ của người học đi từ nấc thang này đến nấc thang khác cao hơn

Như vậy, trong quá trình DHVL ở trường phổ thông ngoài việc sử dụng các

TN vật lí, GV cần phải xây dựng và sử dụng TNTT để tạo các tình huống có vấn đề nhằm gây ra sự mất cân bằng trong nhận thức Từ đó, những điều mà HS được tiếp thu sẽ mới so với những gì đã biết, sẽ tạo nên sự mâu thuẫn trong nhận thức cho người học Để có sự cân bằng trong nhận thức thì đòi hỏi HS phải tích cực hoạt động nhằm chiếm lĩnh tri thức mới

1.1.2.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức

Để phát huy TTC nhận thức của HS trong QTDH, cần phải chỉ ra những biện pháp cụ thể Các biện pháp này phải được đề xuất dựa trên tâm lý đối với HS đó là: tính tò mò, tính hiếu động cũng như những điều kiện tâm lý liên quan đến quá trình nhận thức như: nhu cầu, động cơ, hứng thú Trong QTDH để phát huy TTC nhận thức của HS, GV cần chú ý đến các biện pháp sau:

Sơ đồ 1.1 Mô tả quá trình đồng hóa điều ứng

Trang 24

- Nội dung DH phải mới, cái mới ở đây không phải là quá xa lạ đối với HS, cái mới phải liên hệ và phát triển với cái cũ, kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hằng ngày và thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS

- Tạo ra không khí học tập và môi trường học tập với các mối quan hệ thân thiện trong lớp (nhóm học tập): tạo ra sự thoải mái về tinh thần cho HS thông qua việc động viên, giúp đỡ thường xuyên, nhờ đó HS có cảm giác dễ chịu, tự tin

- Lựa chọn, phân chia các nhiệm vụ học tập phù hợp với mức độ phát triển của HS: chú ý đến sự phân hóa về nhịp độ học tập và trình độ phát triển của các HS; trình bày rõ ràng các yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với HS để tạo cho họ có cảm giác vừa sức

- Xây dựng nhiều mức độ và sự đa dạng của hoạt động: tạo ra cách khoảng thời gian học tập và trải nghiệm tích cực, tăng cường các trải nghiệm thành công; thay đổi xen kẽ các nhiệm vụ học tập: dễ - khó, đơn giản - phức tạp, lí thuyết - thực

tế

- Tạo điều kiện cho HS thấy được sự gần gũi giữa kiến thức vật lí và thực tại của thế giới xung quanh: tăng cường cho HS tiếp xúc với vật thật, thiết bị thật cũng như với các phương tiện DH để đưa HS lại gần thực tế đời sống, giao cho HS thực hiện các nhiệm vụ học tập có liên quan đến các ứng dụng của kiến thức của vật lí

- Vận dụng và phối hợp các PPDH tích cực một cách có hiệu quả Đặc biệt là các phương pháp tích cực như: Phương pháp nêu vấn đề, phương pháp phát triển hệ thống câu hỏi, phương pháp thực nghiệm… có như vậy mới khuyến khích TTC, tự lực của HS trong học tập

- Tăng cường sử dụng TN và phương tiện trực quan trong DHVL, xem đó như

là một phương tiện hữu hiệu trong tổ chức HĐNT cho HS

- Đánh giá, động viên khen ngợi, khích lệ bằng cách khen thưởng kịp thời trước lớp khi cá nhân hay nhóm có thành tích học tập tốt

- Đa dạng hóa các hình thức tổ chức DH: Chính khóa, ngoại khóa, giả ngoại,

đô vui để hoc…

- Luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào trong thực tiễn, vào các tình huống mới

Trang 25

Để thực hiện có hiệu quả các biện pháp tích cực hóa HĐNT của HS đòi hỏi

GV phải có năng lực tổ chức hoạt động DH một cách chủ động, sáng tạo và đặc biệt cần nghiên cứu xây dựng và sử dụng TNTT vào tổ chức HĐNT cho HS theo hướng phát huy TTC, tự lực trong QTDH

Còn tác giả Đồng Thị Diện thì cho rằng: “Thí nghiệm đơn giản là thí nghiệm

mà việc chế tạo dụng cụ thí nghiệm đòi hỏi ít vật liệu, dễ chế tạo dụng cụ thí nghiệm và gia công các vật liệu; dễ bố trí, thao tác và không tốn nhiều thời gian”

hiểu: Thí nghiệm tự tạo là những thí nghiệm từ đơn giản đến phức tạp được tạo ra chủ yếu bằng tay từ những nguyên vật liệu, thiết bị, linh kiện phổ biến trong đời sống hằng ngày và được sử dụng trong quá trình dạy học, chẳng hạn như TNTT về định luật Becnulli (Hình 1.1)

Trang 26

Hình 1.1 TN định luật Becnulli

1.2.2 Phân loại thí nghiệm tự tạo

Dựa vào mức độ phức tạp, quá trình gia công, chế tạo dụng cụ và các thiết bị

TN, TNTT có thể được phân loại như sau:

1.2.2.1 Thí nghiệm tự tạo đơn giản

TNTT đơn giản là những TN được tạo ra từ những vật liệu, dụng cụ thông dụng dễ kiếm như: vỏ lon bia, vỏ chai nước khoáng, gỗ… TNTT đơn giản thường là những TN định tính Người ta thường gọi TNTT đơn giản là TN đơn giản, rẻ tiền

TN như (Hình 1.2) về định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt, có thể xem là TNTT đơn giản,

TN này được tạo ra từ chai thủy tinh, chai nhựa, thuốc nhỏ mắt và các ống nhựa

Hình 1.2 TN về định luật Bôi-lơ-Ma-ri-ốt 1.2.2.2 Thí nghiệm tự tạo phức tạp

TNTT phức tạp là những TN được tạo ra với một quá trình gia công, chế tạo

dụng cụ TN phức tạp hoặc phải sử dụng các thiết bị phức tạp… (Hình 1.3)

Trang 27

Hình 1 3 Bộ cảm biến siêu âm dùng cho các TN chuyển động cơ học [29]

1.2.3 Ƣu điểm và hạn chế của thí nghiệm tự tạo

 Việc bố trí và tiến hành TN đơn giản, không tốn nhiều thời gian

 Kết quả TN: rõ ràng, dễ quan sát, có sức hấp dẫn và kích thích hứng thú học tập của HS; Gần gũi với những hiện tượng trong đời sống hằng ngày

 Dễ thao tác: lắp ráp, tháo rời các bộ phận của dụng cụ TN

 Dễ vận chuyển, bảo quản và an toàn trong chế tạo cũng như trong quá trình tiến hành TN

 Phát huy tính tích cực, tự lực và rèn luyện kỹ năng thực hành cho HS như:

Đề xuất phương án TN; Bố trí TN; Tiến hành TN và xử lí kết quả TN; Thiết kế và chế tạo TN nhằm minh họa lại kiến thức đã thu nhận

 Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm, TNTT cũng có những hạn chế nhất định, đó là hạn chế về tính thẩm mĩ và độ bền Những hạn chế trên là do các dụng cụ TN được gia công thủ công và bằng tay, không được sản xuất theo dây chuyền công nghệ

Trang 28

1.3 Tự tạo và sử dụng thí nghiệm trong dạy học vật lí

Để việc tự tạo TN đạt hiệu quả, đảm bảo được các yêu cầu của một TN vật lí trong QTDH thì việc cần làm đó là phải xây dựng được một quy trình tự tạo TN và

các TNTT được xây dựng phải tuân theo quy trình đó

1.3.1 Tự tạo thí nghiệm

1.3.1.1 Các yêu cầu đối với việc tự tạo thí nghiệm

Các TNTT được xây dựng và sử dụng trong DHVL ngoài các yêu cầu chung

cần phải chú trọng 4 yêu cầu sau: tính khoa học; tính sư phạm; tính thẩm mĩ và tính kinh tế

 Về mặt khoa học

 Các TNTT được xây dựng phải đảm bảo khi tiến hành TN phải thành công, tạo ra hiện tượng rõ ràng, đúng với bản chất vật lí của các hiện tượng và quá trình liên quan

 Quá trình thiết kế, chế tạo cần ứng dụng các thành tựu mới trong khoa học; đảm bảo cấu tạo gọn nhẹ, thuận tiện trong quá trình sử dụng; sửa chữa, bảo quản và vận chuyển

 Về mặt thẩm mĩ

Thí nghiệm phải có hình thức hấp dẫn, thể hiện qua các hình dạng kích thức, màu sặc của từng dụng cụ nhằm lôi cuốn sự chú ý của HS, đặc biệt là cần làm nổi bật bộ phận cần quan sát

Trang 29

 Về mặt kinh tế

Các TNTT được xây dựng phải đảm bảo giá thành không cao nhờ sử dụng các nguyên vật liệu, dụng cụ và linh kiện có sẵn và dễ tìm trong cuộc sống hằng ngày,

TN có thể sử dụng được nhiều lần

1.3.1.2 Quy trình tự tạo thí nghiệm trong dạy học vật lí

Trong DHVL ở trường phổ thông hiện nay, việc tự tạo TN và sử dụng TNTT vào tổ chức hoạt động DH cho HS theo hướng tích hóa HĐNT đã được nhiều người quan tâm Việc sử dụng TNTT góp phần đổi mới PPDH dạy học vật lí the hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức học sinh Để sử dụng các TNTT trong tổ chức HĐNT cho HS đạt được hiệu quả thì việc xây dựng và sử dụng TNTT phải theo một quy trình nhất định và trong quá trình xây dựng cần phải bổ sung, điều chỉnh sao cho phù hợp với mục tiêu DH, nội dung kiến thức, tình hình cơ sở vật chất, TBTN của nhà trường và các hình thức tổ chức DH Qua nghiên cứu của nhiều luận văn và luận án tiễn sĩ về quy trình TTTN [3], chúng tôi nhận thấy rằng quy trình tự tạo TN

có thể được tiến hành theo các bước sau:

Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học

Mục tiêu là cái đích đạt tới của mỗi bài, mỗi chương, mỗi phần trong chương trình Mục tiêu DH ở đây là cái đích đặt ra mà HS cần đạt được sau mỗi bài học

Mục tiêu DH được thể qua 3 thành tố: kiến thức, kỹ năng, năng lực và thái độ Vì

vậy phải làm rõ việc sử dụng TNTT nhằm đạt mục đích gì về mặt kiến thức, kỹ năng và thái độ

Bước 2 Nghiên cứu nội dung bài học

Nhiệm vụ của việc DHVL ở trường phổ thông là trang bị cho HS một hệ thống

kiến thức vật lí phổ thông cơ bản , hiện đại cập nhật, đó là: các hiện tượng, các khái niệm, các định luật, thuyết vật lí và ứng dụng của chúng trong thực tiễn sản xuất và đời sống Trên cơ sở nghiên cứu mục tiêu DH và nội dung bài học, GV cần xác định

những hiện tượng, quá trình vật lý trong bài học có thể tự tạo TN và sử đụngạy học những kiến thức đó Trên cơ sở đó, để đề xuất phương án TNTT, tự tạo TN và sử dụng vào dạy học

Bước 3 Tìm hiểu thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm

Trang 30

Để có thểc sử dụng TN và PTTQ trong DHVL ở trường phổ thông đòi hỏi phải đáp ứng được yêu cầu về cơ sở vật chất và TBTN Ở các trường phổ thông, các TBTN được cung cấp hàng năm, tuy nhiên vẫn không thể đáp ứng được một cách đầy đủ theo yêu cầu Ngoài ra, qua thời gian sử dụng các TBTN bị xuống cấp, hỏng hóc cho kết quả TN không chính xác, thậm chí không sử dụng được ảnh hưởng đến hiệu quả DHVL ở trường phổ thông Do đó việc tự tạo thí nghiệm là việc làm thực

sự có ý nghĩa và góp phần vào việc thực hiện đổi mới PPDH theo hướng tăng cường tính trực quan trong DH Do đó, cần phải tìm hiểu, nắm thực trạng cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm để có cơ sở đề xuất các phương án thí nghiệm tự tạo phù hợp nhu

cầu của thực tiễn

Bước 4 Đề xuất, lựa chọn phương án thí nghiệm

Sau khi tiến hành các bước trên, ở bước này GV tiến hành đề xuất hoặc hướng dẫn HS tiến hành đề xuất các phương án TN Việc đề xuất phương án TN có thể theo 3 cách sau:

 Trên cơ sở phương án TN đã có, gia công, chế tạo và lắp ráp TN theo phương án đó

 Từ phương án TN đã có, cải tiến thay thế một số thiết bị cho phù hợp với nội dung DH và điều kiện cơ sở vật chất hiện có;

 Tự đề xuất phương án TN mới và tự tạo TN

Bước 5 Chuẩn bị các vật liệu, dụng cụ và linh kiện cần thiết

Dựa trên phương án TN đã đề xuất, tiến hành tìm kiếm, chuẩn bị các vật liệu, dụng cụ và thiết bị cần thiết Các vật liệu, dụng cụ và thiết bị dùng trong TN là những vật liệu có sẵn trong thực tế, đời sống hàng ngày, dễ tìm kiếm, gia công không phức tạp, thì mới đảm bảo tính khả thi

Bước 6 Gia công, chế tạo dụng cụ thí nghiệm

Trên cơ sở phương án TN đã đề xuất với những dụng cụ TN cần thiết cho thí nghiệm, GV (HS) tiến hành gia công chúng từ những vật liệu, thiết bị đã chuẩn bị

Để có thể gia công được những thiêt bị đảm bảo theo yêu cầu đòi hỏi GV (HS), phải

có những kỹ năng nhất định, phải hiểu sâu sắc các hiện tượng và quá trình vật lí liên quan

Trang 31

Bước 7 Lắp ráp thí nghiệm

Sau khi gia công xong các dụng cụ TN cần thiết, bước tiếp theo là lắp ráp TN theo phương án đã đề xuất Lắp ráp thí nghiệm là sự kết nối các bộ phận, các dụng

cụ TN lại với nhau theo phương án TN đã lựa chọn Trong lắp ráp TN đòi hỏi phải

có sự cẩn thận và tỷ mỹ để đẩm bảo tính khả thi và tính thẩm mỹ của thí nghiệm

Bước 8 Tiến hành thí nghiệm

Sau khi đã lắp ráp TN tiếp theo là tiến hành TN để kiểm tra khả năng vận hành

TN, nhằm phát hiện những những sai sót, lỗi trong quá trình gia công, chế tạo dụng

cụ và lắp ráp TN Khi tiến hành TN kiểm tra có thể xảy ra hai trường hợp:

 Trường hợp 1:

TN tiến hành cho kết quả như mong muốn Trong trường hợp này chuyển qua bước tiếp theo là tiến hành hoàn thiện TN nhằm tăng cường tính trực quan, tính thẩm mĩ và mức độ bền vững của TN

 Trường hợp 2:

TN không cho kết quả như mong muốn hoặc TN không vận hành được Trong trường hợp đó thì ta tiến hành kiểm tra lại phương án TN đã đề xuất để có thể điều chỉnh phương án, hoặc kiểm tra lại từng dụng cụ thí nghiệm để phát hiện những dụng cụ chưa đạt yêu cầu để tiến hành gia công lại Ngoài ra, cũng có thể do khâu lắp ráp TN chưa đạt yêu cầu thì cần lắp ráp lại và tiến hành TN kiểm tra

Bước 9 Hoàn thiện thí nghiệm

Bước cuối cùng trong quy trình này là hoàn thiện TN là tiên hành khắc phục những lỗi, những vấn đề chưa đạt yêu cầu nhằm tăng cường tính trực quan, tính thẩm mĩ và mức độ bền vững của TN nhằm đẩm bảo TN có thể sử dụng được nhiều lần

Trong quy trình tự tạo TN thì bước đề xuất phương án TN là rất quan trọng, việc đề xuất phương án phải trên cơ sở các vật liệu, dụng cụ và thiết bị dùng trong

TN phải có sẵn trong thực tế, đời sống hang ngày, dễ tìm, dễ gia công và chế tạo thì mới tự tạo thí nghiệm thành công Trong gia công, chế tạo dụng cụ, lắp ráp và tiến hành TN đòi hỏi người GV (HS) phải có kỹ năng thực hành, am hiểu thực tế và hiểu

rõ bản chất vật lí của các hiện tượng và quá trình vật lí liên quan Ta có thể tóm tắt quy trình tự tạo TN qua sơ đồ sau:

Trang 32

1.3.2 Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong dạy học vật lí

1.3.2.1 Các yêu cầu khi sử dụng thí nghiệm tự tạo

Khi sử dụng các TNTT trong quá trình DHVL, GV cần lưu ý các yêu cầu sau:

- Xác định rõ TNTT được sử dụng vào thời điểm nào trong tiến trình DH Cần phải xác định mục đích sử dụng TN trong bài học là nhằm để đề xuất vấn đề, hình thành kiến thức mới hay củng cố và vận dụng kiến thức

- Cần xác định TN do GV hay HS thực hiện, nếu GV tiến hành TN thì trước khi tiến hành cần phải giới thiệu cho HS mục đích TN, các bước tiến hành TN và yêu cầu HS quan sát hiện tượng và ghi nhận kết quả thí nghiệm Nếu HS tiến hành

sơ đồ 1 2 Quy trình tự tạo thí nghiệm

và linh kiện cần thiết

Trang 33

cần giới thiệu cho HS dụng cụ TN, hướng cho HS cách lắp ráp, các bước tiến hành

TN, ghi nhận và xử lý kết quả để rút ra những kết luận nhận xét cần thiết

- Trước giờ học GV cần phải kiểm tra TN, tiến hành thử TN nhiều lần để đảm bảo khi tiến hành TN trong giờ học là thành công

1.3.2.2 Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học vật lí với sự hỗ trợ của thí nghiệm tự tạo

TNTT là một bộ phận của TN vật lí, vì vậy nó có các chức năng của TN vật lí nói chung Bở vậy, TNTT có thể được sử dụng vào những giai đoạn khác nhau của tiến trình DH: đề xuất vấn đề, giải quyết vấn đề, củng cố, vận dụng kiến thức… Trong thực tiễn dạy học, trong giai đoạn định hướng, đề xuất vấn đề nghiên cứu thì TNTT tỏ ra rất có hiệu quả vì thí nghiệm tự tạo thường cần rất ít thời gian và có thể tạo cho HS sự bất ngờ…

 Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong giai đoạn đề xuất vấn đề

TNTT thường được sử dụng hiệu quả trong việc đề xuất vấn đề cần nghiên cứu, nhờ đó kích thích hứng thú học tập của HS, ksch thích tính tò mò, ham thích tìm hiểu của HS Vì vậy trong giai đoạn này, để kích thích hứng thú học tập của HS thì việc sử dụng TNTT để mở đầu bài học nên chọn những TN có thể tạo ra được sự bất ngờ, trái với dự đoán của HS khi đó sẽ làm xuất hiện mâu thuẫn trong nhận thức của HS và đó là điều kiện thuận lợi nhất để GV đề xuất vấn đề nghiên cứu Việc tiến hành TN trong giai đoạn này có thể thực hiện theo các bước sau:

- Giới thiệu TN, cách tiến hành TN và cho HS dự đoán hiện tượng xẩy ra;

- Tiến hành TN yêu cầu HS quan sát ghi nhận hiện tượng;

- Từ kết quả TN, GV dẫn dắt để xuất nêu vấn đề nghiên cứu

 Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong giai đoạn giải quyết vấn đề

Trong giai đoạn GQVĐ, GV phải là người hướng dẫn, định hướng HS vào con đường vận dụng kiến thức đã biết và vận dụng kiến thức đó như thế nào để GQVĐ đặt ra Từ đó, GV chỉ ra cho HS thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức đã biết với vấn đề cần giải quyết và định hướng giải quyết vấn đề đặt ra, qua đó HS tự lựa chọn giải pháp và đề ra cách thức giải quyết vấn đề Trong giai đoạn này, có hai con đường để thực hiện, đó là: con đường quy nạp (dùng TN để hình thành kiến thức)

và con đường diễn dịch (kiểm chứng kiến thức bằng TN)

Trang 34

- Nếu dùng TNTT để hình thành kiến thức GV tiến hành TN, HS quan sát thu thập (hoặc HS tự tiến hành TN) và xử lí số liệu Sau đó, GV định hướng, cùng HS thảo luận đi đến kiến thức mới

- Nếu dùng TNTT để kiểm chứng kiến thức đã thu nhận, GV hướng dẫn HS đi tìm kiếm kiến thức mới bằng con đường suy luận lí thuyết: hướng dẫn HS đề xuất giải pháp GQVĐ bằng cách dựa vào những kiến thức đã biết, cách vận dụng các kiến thức đã biết đó như thế nào Sau đó, GV tiến hành TN để kiểm chứng kiến thức mới thu nhận được: hướng dẫn HS xác định nội dung kiến thức cần tiến hành TN để kiểm tra; cách bố trí và tiến hành TN và hướng dẫn HS rút ra kết luận

 Sử dụng thí nghiệm tự tạo trong giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức

Trong DHVL, TNTT không chỉ dừng lại ở việc dùng TN để mở đầu bài học, nghiên cứu kiến thức mới hoặc kiểm chứng các kiến thức vật lí mà nó còn có một vai trò rất quan trọng trong việc giúp HS củng cố, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Các kiến thức vật lí được DH trên lớp cần phải được khắc sâu vào tiềm thức của

HS, cần phải thường xuyên củng cố và vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống, có như vậy thì kiến thức vật lí của các em HS mới vững chắc và bền chặt Thông qua TN góp phần làm cho HS tích cực tham gia vào quá trình nhận thức, có điều kiện vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, góp phần xóa dần lối học vẹt, lí thuyết suông đang rất phổ biến trong DH hiện nay

Trong giai đoạn củng cố và vận dụng kiến thức mới vào giải thích hiện tượng, TNTT có thể được sử dụng theo ba hướng sau:

Thứ nhất: GV sử dụng TNTT để tiến hành TN, yêu cầu HS quan sát hiện

tượng xảy ra và vận dụng các kiến thức mới vào giải thích hiện tượng;

Thứ hai: GV hướng dẫn HS tiến hành TNTT, quan sát hiện tượng xảy ra và

vận dụng kiến thức mới vào giải thích hiện tượng;

Thứ ba: GV hướng dẫn và giao nhiệm vụ cho HS về nhà tự đề xuất và lựa

chọn phương án TN; tìm kiếm vật liệu, thiết bị; gia công, chế tạo dụng cụ và tiến hành TN nhằm minh họa lại kiến thức đã thu nhận

Trong giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức theo hướng thứ ba GV cần phải

có định hướng, gợi ý và giúp đỡ kịp thời khi HS gặp khó khăn Ngoài ra, GV cần phải tạo điều kiện cho HS được trình bày trước lớp về kết TN của nhóm Đồng thời,

Trang 35

GV nhận xét về các TNTT do các nhóm HS thiết kế chế tạo, để động viên, khuyến khích và khen thưởng những nhóm đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Trong DHVL, việc sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DH phần

“Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào, có thể được tóm tắt qua sơ đồ sau:

Sử dụng TNTT để tạo tình huống có vấn đề trong học tập nhằm kích thích hứng thú học tập của HS Sau đó,GV gợi ý và hướng dẫn HS phát biểu vấn đề cần nghiên cứu

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

CỦNG

CỐ, VẬN DỤNG

HS tự tạo TN để kiểm chứng kiến thức

Theo con đường quy nạp

Dùng TNTT để kiểm chứng kiến thức đã thu nhận

Bằng con đường suy luận lí thuyết, đi đến kiến thức mới

Tiến hành TNTT

Thu thập và xử lí số liệu

Rút ra kiến thức mới

Sơ đồ 1 3 Quy trình sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL

Trang 36

1.4 Thực trạng dạy học phần “Quang hình học” vật lí 11 THPT CHDCND Lào

Để đánh giá thực trạng của việc DH phần “Quang hình học”vật lí lớp 11 THPT CHDCND Lào trong tỉnh Champasak, chúng tôi đã tiến hành điều tra GV và HS ở trường phổ thông, số lượng GV và HS điều tra được tổng hợp theo bảng (1.1)

Bảng 1 1 Bảng thống kê các trường, GV và HS tham gia điều tra

- Tìm hiểu việc thiết kế, chế tạo TN phục vụ cho việc DHVL;

- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng TN tổ chức hoạt động DH;

- Tìm hiểu hiệu quả của việc sử dụng TN trong DHVL đối với hoạt động học tập của HS trong giờ học (hứng thú, tích cực tham gia xây dựng bài học,…)

1.4.2 Phương pháp điều tra

Để thu thập các thông tin cần thiết, tôi sử dụng các phương pháp điều tra sau:

- Điều tra GV và HS ở một số trường phổ thông qua phiếu điều tra (xem phụ lục)

- Trực tiếp quan sát phòng thực hành TN vật lí ở một số trường phổ thông và trao đổi với cán bộ quản lí phòng thực hành TN về tình hình các TBTN đã được cung cấp trong chương trình vật lí lớp 11

- Trao đổi trực tiếp với GV và HS Dự giờ GV bộ môn trực tiếp dạy lớp 11 để tìm hiểu việc sử dụng các TBTN khi DH phần “Quang hình học”

1.4.3 Kết quả điều tra

 Về tình hình cơ sở vật chất, thiết bị thí nghiệm

Trang 37

Dựa trên thực tế khảo sát các phòng TN ở một số trường phổ thông, qua trao đổi trực tiếp với GV giảng dạy bộ môn vật lí, cán bộ quản lí phòng thực hành TN và phiếu điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng: Các TBTN dành cho phần “Quang hình học” vật lí lớp 11 THPT đã được cung cấp tương đối đầy đủ so với các thiết bị trong danh mục tối thiểu theo quy định của Bộ.Các TBTN này được sử dụng trong DH ở một số lớp nhưng không thường xuyên sử dụng nguyên nhân là do các dụng cụ TN

bị hỏng, thiếu đồng bộ Kết quả điều tra về tình hình TBTN phần “Quang hình học”vật lí 11 ở một số trường THPT tỉnh Champasak nước CHDCND Lào được tổng hợp trong bảng (1.2)

Bảng 1 2 Kết quả điều tra về TBTN ở trường phổ thông tỉnh Chapasak nước

 Về phương pháp dạy học và sử dụng thí nghiệm trong dạy học

Qua dự giờ GV, phiếu điều tra khảo sát ở một số trường phổ thông chúng tôi nhận thấy rằng: trong tổ chức hoạt động DH,GV thường sử dụng phương pháp thu-yết trình, diễn giảng do đó HS học tập một cách thụ động không tham gia vào quá trình tìm kiếm kiến thức nên không kích thích được hứng thú học tập của HS, làm cho giờ học không sinh động Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của GV trong DH phần “Quang hình học” được thể hiện trong bảng 1.3

Bảng 1 3 Kết quả điều tra về phương pháp dạy học của GV

là rất cần thiết, góp phần vào việc tích cực hóa HĐNT của HS và đổi mới PPDH ở

Trang 38

trường phổ thông hiện nay Kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các GV đều ý thức được vai trò quan trọng của TN trong DHVL Bên cạnh đó, kết quả điều tra các mức độ sử dụng TN trong DH của GV được tổng hợp trong bảng 1.4

và thi giáo viên giỏi, có gần 15% cho rằng chỉ tự tạo TN khi thao giảng và có hơn 3% dùng cho việc DH thường ngày Bên cạnh đó, kết quả điều tra về những khó khăn mà GV gặp phải khi sử dụng TNTT trong DH được tổng hợp trong bảng (1.5)

Bảng 1 5 Những khó khăn khi sử dụng TNTT trong DH

Những khó khăn khi sử dụng TNTT trong DH Tỷ lệ (%)

Khó trong việc di chuyển dụng cụ TN 0

Đối với HS, khi được hỏi trong giờ học vật lí có sử dụng TNTT,thì có gần 40,8% HS cho rằng rất hứng thú, có hơn 59% cho rằng hứng thú, có gần 0,2% cho rằng bình thường và không hứng thú Trong giờ học vật lí, các em HS còn cho rằng việc GV sử dụng TNTT để minh họa kiến thức đã thu nhận là rất cần thiết và được tổng hợp trong bảng (1.6)

Bảng 1 6 Các mức độ sử dụng TNTT để kiểm chứng kiến thức trong DHVL

Các mức độ sử dụng TNTT để minh họa kiến thức Tỷ lệ (%)

Trang 39

 Kết quả điều tra về thực trạng DH phần “Quang hình học” ở trên cho thấy:

- Các TBTN phần “Quang hình học” được trang bị tương đối đầy đủ theo danh mục quy định tối thiểu của Bộ nhưng chất lượng không đảm bảo.Vì thế việc sử dụng chúng vào DH gặp khó khăn

- PPDH mà GV sử dụng trong DHVL phần “Quang hình học” chủ yếu là phương pháp thuyết trình Do đó, HS học tập một cách thụ động, không có cơ hội tham gia vào quá trình tìm kiếm kiến thức, vì vậy HS không có hứng thú trong hoạt động học tập

- Các hình thức tổ chức hoạt động DH cho HS chưa đa dạng, phong phú và vận dụng một cách linh hoạt nên chưa tạo ra được một môi trường học tập sinh động, sôi nổi và hứng thú

- Một bộ phận GV chậm đổi mới, vẫn sử dụng chủ yếu PPDH truyền thống (truyền thụ kiến thức một chiều), do đó không phát huy được TTC nhận thức của

+ Chất lượng TBTN không đảm bảo, xuống cấp nên kết quả không chính xác; + TBTN thiếu đồng bộ;

+ Việc chuẩn bị TN mất thời gian

- GV đều cho rằng việc tự tạo TN để sử dụng trong DHVL là rất cần thiết nhằm góp phần tích cực hóa HĐNT của HS Tuy nhiên, nhiều GV cũng cho rằng việc không thường xuyên tự tạo TN là do tốn nhiều thời gian, khó khăn trong việc tìm kiếm dụng cụ và chế tạo dụng cụ TN

 Kết luận chương 1

Theo quan điểm lí luận DH hiện đại, mục đích của hoạt động DH là nhằm làm cho HS lĩnh hội được kiến thức, kỹ năng, đồng thời hình thành và phát triển ở HS những phẩm chất và năng lực cần thiết Như vậy, trong QTDH GV là người tổ

Trang 40

chức, hướng dẫn cho HS thực hiện các hành động nhận thức để tái tạo được tri thức

và biến chúng thành vốn liếng của mình, đồng thời làm biến đổi bản thân của HS, hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực của họ Để việc tổ chức HĐNT cho HS trong QTDH đạt hiệu quả, góp phần đổi mới PPDH theo hướng tích cực HĐNT của HS thì đòi hỏi phải khai thác, sử dụng các TBTN có sẵn ở nhà trường và đặc biệt quan tâm nghiên cứu xây dựng và sử dụng TNTT trong DHVL Theo thời gian và cùng với sự phát triển của khoa học thì nội hàm của khái niệm TNTT được phát triển và mở rộng Hiện nay, TNTT không chỉ là những TN đơn giản, rẻ tiền mà có thể là những TNTT phức tạp và có tính hiện đại Để việc

sử dụng TNTT tổ chức HĐNT cho HS trong DHVL đạt hiệu quả, phát huy được TTC nhận thức của HS thì đòi hỏi việc tự tạo TN và sử dụng TN trong QTDH phải tuân theo một quy trình nhất định Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về lí luận DH, tôi đã đề xuất được quy trình tự tạo TN và quy trình sử dụng TNTT vào tổ chức hoạt động DHVL Quy trình tự tạo TN này được thực hiện theo 9 bước khi tiến hành thiết kế chế tạo TN Các nghiên cứu này sẽ được vận dụng vào việc tự tạo TN

và sử dụng vào tổ chức HĐNT cho HS trong DH

Kết quả điều tra cho thấy, đa số GV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng TN vật lí nói chung và TNTT nói riêng trong việc đổi mới PPDH ở các trường phổ thông nhằm tích cực hóa HĐNT của HS trong DHVL Các GV còn cho rằng việc ít hoặc không thường xuyên tự tạo TN để sử dụng trong DHVL là do gặp khó khăn về mặt thời gian, tìm kiếm và chế tạo dụng cụ TN Bên cạnh đó, một

số GV vẫn còn quan điểm “thi cái gì, dạy cái nấy”, chậm đổi mới vẫn sử dụng PPDH truyền thống, do đó HS không có cơ hội tham gia vào quá trình tìm kiếm kiến thức nên TTC của HS không được phát huy trong quá trình học tập

Ngày đăng: 04/04/2018, 09:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w