Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hệ thống khuyến nông các địa phương đã tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, có những đóng góp vào thành công chung của
Trang 1–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2–––––––––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2014 - 2016
Chuyên ngành: Phát triển nông thôn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Đánh giá kết quả hoạt động khuyến
nông trên địa bàn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016”
là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Đề tài hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin sử dụng trong đề tài đã được chỉ rõ nguồn gốc, các tài liệu tham khảo được trích dẫn đầy đủ
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Đánh giá kết quả hoạt động khuyến
nông trên địa bàn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016",
tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của nhiều tập thể và cá nhân Tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc nhất tới các tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Phòng Đào tạo, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn cùng sự giúp
đỡ tận tình của các Thầy, Cô đã trực tiếp giảng dạy và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo
PGS.TS Nguyễn Hữu Hồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới văn phòng UBND huyện Đại Từ, trạm Khuyến nông huyện Đại Từ và phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Thái Nguyên, tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Nhung
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động khuyến nông 5
1.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động khuyến nông 9
1.2.1 Hệ thống tổ chức khuyến nông ở một số nước trên thế giới 9
1.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan 13
1.3 Tổng quan hệ thống khuyến nông và chính sách khuyến nông tại Việt Nam 15
1.3.1 Đánh giá chung về hoạt động khuyến nông tại Việt Nam 15
1.3.2 Kết quả thực hiện hoạt động khuyến nông tại địa phương 19
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
2.2 Nội dung nghiên cứu 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động khuyến nông 23
Trang 62.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 24
2.3.3 Thu thập thông tin thứ cấp 25
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
3.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội 28
3.1.3 Đánh giá tổng quát thực trạng phát triển kinh tế của huyện Đại Từ trong giai đoạn 2011-2016 32
3.2 Hiện trạng, tổ chức hoạt động khuyến nông 33
3.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy khuyến nông huyện 33
3.2.2 Những khó khăn trong tổ chức hoạt động khuyến nông 34
3.2.3 Một số hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện 35
3.3 Nội dung và xác định nội dung hoạt động khuyến nông 36
3.3.1 Nội dung hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện 37
3.3.2 Phương pháp xác định nội dung khuyến nông 38
3.3.3 Đối tượng hưởng lợi từ hoạt động khuyến nông 41
3.4 Phương pháp khuyến nông của hệ thống khuyến nông nhà nước và ngoài nhà nước 43
3.4.1 Thời điểm tổ chức hoạt động khuyến nông 43
3.4.2 Địa điểm tổ chức các hoạt động khuyến nông 43
3.4.3 Tài liệu phục vụ cho các hoạt động khuyến nông 45
3.4.4 Hình thức chuyển tải nội dung của hoạt động khuyến nông 45
3.4.5 Sự phù hợp của nội dung khuyến nông 48
3.4.6.Năng lực của giảng viên khuyến nông 50
3.5 Hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động khuyến nông 52
3.5.1 Hiệu quả của hoạt động khuyến nông đối với hộ gia đình 52
3.5.2 Hoạt động khuyến nông đối với cộng đồng 69
Trang 73.6 Bài học kinh nghiệm nhằm cải thiện hoạt động khuyến nông trên địa
bàn huyện Đại Từ 72
3.6.1 Xác định nội dung khuyến nông 72
3.6.2 Lựa chọn đối tượng tham gia hoạt động khuyến nông 73
3.6.2 Phương pháp khuyến nông 74
3.7 Một số giải pháp nhằm cải thiện hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện Đại Từ 75
3.8 Hiệu quả và yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động khuyến nông 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
13 VietGAP Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2016 27
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016 29
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016 30
Bảng 3.4 Số hoạt động khuyến nông bình quân phân theo nhóm hộ giai đoạn 2014 - 2016 41
Bảng 3.5 Đánh giá sự phù hợp về địa điểm tổ chức hoạt động khuyến nông 44
Bảng 3.6 Lý thuyết và thực hành trong hoạt động khuyến nông 46
Bảng 3.7 Đánh giá về thời gian hoạt động khuyến nông 47
Bảng 3.8 Đánh giá về nội dung khuyến nông của người tham gia 49
Bảng 3.9 Đánh giá chất lượng giảng viên của người hưởng lợi 51
Bảng 3.10 Tỷ lệ áp dụng sau khi tham gia hoạt động khuyến nông 53
Bảng 3.11 Lý do người dân áp dụng các chương trình khuyến nông 55
Bảng 3.12 Nguyên nhân hộ không áp dụng hay chỉ áp dụng một phần 56
Bảng 3.13 Tác động của hoạt động khuyến nông lên năng suất cây trồng, vật nuôi theo các nhóm 58
Bảng 3.14 Tác động của hoạt động khuyến nông lên quy mô sản xuất chia theo các nhóm 60
Bảng 3.15 Tác động của hoạt động khuyến nông lên chi phí sản xuất 63
Bảng 3.16 Tác động của hoạt động khuyến nông lên chất lượng, tiêu thụ sản phẩm, giảm rủi ro, môi trường và tiếp cận vốn 65
Bảng 3.17 Sự lan toả của hoạt động khuyến nông 70
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Bản đồ huyện Đại Từ 26Hình 3.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức trạm khuyến nông huyện Đại Từ 33
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nước ta là một nước lấy sản xuất nông nghiệp làm nền tảng, nông nghiệp và nông thôn đã góp phần đặc biệt quan trọng vào sự phát triển quốc gia Đại hội XI Đảng ta đã nhấn mạnh: Sự phát triển ổn định trong ngành nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, kinh tế nông thôn và đời sống nông dân đã được ổn định hơn trước, việc tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đầu tư, phát triển giống mới có năng suất, chất lượng cao, phát triển các cụm công nghiệp, làng nghề, tiểu thủ công nghiệp,… đã có tác động tích cực đến việc sản xuất, tạo việc làm và xóa đói, giảm nghèo
Trong điều kiện hiện nay, nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, sản xuất tự cấp, tự túc không còn đảm bảo được điều kiện sống cho nông dân Khắp mọi nơi chúng ta có thể thấy một xu thế canh tranh ngày càng mạnh mẽ trên thị trường mà chỉ có những nông dân hoạt động hiệu quả cao mới đứng vững được Trong cơ chế mới, người nông dân luôn đứng trước thực trạng thiếu hụt thông tin cần thiết về thị trường, giá cả để định hướng cho sản xuất Mặt khác trình độ sản xuất của phần lớn nông dân còn yếu, thông tin KHKT đối với người nông dân còn ít Do đó vấn đề nâng cao kiến thức về kỹ thuật nông nghiệp, kinh nghiệm quản lý kinh tế, thông tin thị trường, chuyển giao KHKT cho người nông dân để họ có đủ khả năng phát triển sản xuất kinh doanh là một yêu cầu bức thiết trong vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn hiện nay
Trước yêu cầu đó, công tác khuyến nông đã được củng cố và từng bước cải tiến cho phù hợp với tình hình mới Nghị định 02/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 08/1/2010 về công tác khuyến nông gồm các hoạt động khác nhằm cải tiến một cách có hiệu quả công tác khuyến nông từ trung ương đến địa phương
Có thể nói công tác khuyến nông đã có những đóng góp rất quan trọng vào việc
Trang 12khuyến khích nông dân áp dụng kỹ thuật tiến bộ, phát triển sản xuất có hiệu quả, tạo ra nhiều nông sản hàng hóa có chất lượng, tăng thu nhập và mức sống cho người dân
Tuy nhiên, hoạt động khuyến nông vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của khu vực miền núi do hệ thống khuyến nông còn có những hạn chế về mặt tổ chức, phương pháp, nhân sự và tài chính Cách tiếp cận từ trên xuống vẫn phổ biến trong triển khai hoạt động khuyến nông, mặc dù gần đây, cách tiếp cận có sự tham gia và dựa vào cộng đồng đã được đưa vào áp dụng, trong quản lý nhà nước về khuyến nông còn có sự phân tán dẫn đến có sự chồng chéo, trùng hợp hoạt động địa bàn,… Tổ chức bộ máy, chính sách khuyến nông ở địa phương
do tỉnh quy định nên tổ chức bộ máy, quy mô, hiệu quả hoạt động khuyến nông phụ thuộc nhiều vào ý chí chính trị, điều kiện kinh tế của mỗi địa phương Trình độ nhận thức của người dân còn thấp, một phần là do năng lực của cán
bộ khuyến nông viên cơ sở còn hạn chế, công tác khuyến nông chưa được đầu
tư đúng mức, để khắc phục những hạn chế trên đòi hỏi Nhà nước và cán bộ khuyến nông cần có các biện pháp đẩy mạnh công tác khuyến nông hiện nay
Huyện Đại Từ là một huyện thuần nông, sản xuất nông nghiệp được đặc biệt chú trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tuy vậy, đời sống của nhân dân vẫn còn nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của huyện và chủ yếu bao gồm: trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản Do vậy, công tác khuyến nông có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển sản xuất của huyện Công tác khuyến nông của huyện Đại Từ đã có rất nhiều cố gắng để nâng cao năng suất và phẩm chất của cây trồng, vật nuôi, thủy sản, đưa tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Huyện ủy- HĐND cũng đã có nhiều giải pháp và nghị quyết nhằm đẩy mạnh công tác Khuyến nông, Khuyến ngư trên địa bàn huyện Tuy nhiên hoạt động khuyến nông của huyện vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của bà con nông dân, chưa phát huy hết tiềm năng sẵn có của huyện do hệ thống khuyến
Trang 13nông từ cấp huyện đến cấp xã và các khuyến nông viên cơ sở còn hạn chế cả về
cơ cấu tổ chức, số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ khuyến nông Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ khuyến nông huyện không đồng đều làm ảnh hướng đến quá trình triển khai thực hiện, thông tin tuyên truyền, tập huấn kĩ thuật cho bà con nông dân
Vấn đề đặt ra là: hệ thống khuyến nông ở huyện Đại Từ có đáp ứng được nhu cầu của sản xuất và đời sống trước xu thế hội nhập của nền kinh tế hiện nay hay không? Cần thực hiện những biện pháp nào để hoạt động khuyến nông Đại Từ phát huy tối đa tác dụng? Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá kết quả hoạt động khuyến nông trên địa
bàn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 - 2016”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiệu quả của hoạt động khuyến nông và xác định yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động khuyến nông
- Tổng kết bài học kinh nghiệm về hoạt động khuyến nông
- Khuyến nghị giải pháp, các hoạt động nâng cao chất lượng hoạt động khuyến nông
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
* Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Thông qua quá trình thực hiện đề tài giúp tôi có điều kiện củng cố và áp dụng những kiến thức lý thuyết vào thực tiễn đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân
Khuyến nông là hoạt động đang được áp dụng rỗng rãi trên cả nước với nhiều hình thức và đối tượng khác nhau Là một trong những kênh chính để đưa các TBKT, thông tin thị trường, chủ trương chính sách mới của Đảng và Nhà nước tới nông dân Tuy nhiên hoạt động khuyến nông chưa thực sự mang lại hiệu quả, đặc biệt đối với người dân trên địa bàn huyện Đại Từ Vì vậy nghiên cứu của tôi sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu sau với quy mô lớn hơn
từ đó có thể đưa ra những khuyến nghị phù hợp
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở lý thuyết về hoạt động khuyến nông
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm và có nhiều chủ trương, chính sách đối với công tác khuyến nông Do vậy, hoạt động khuyến nông đã có những bước phát triển nhanh, hệ thống tổ chức khuyến nông phát triển mạnh từ Trung ương đến cơ sở Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Hệ thống khuyến nông các địa phương đã tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao, có những đóng góp vào thành công chung của sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện chiến lược phát triển nông thôn thì khuyến nông được coi
là một biện pháp đặc biệt và là một công cụ quan trọng không thể không chú trọng, nó có tầm quan trọng rất lớn để phát triển nông thôn bền vững vì mục đích cuối cùng của khuyến nông là đưa vào các vùng nông thôn những kiến thức và kỹ năng, những ý tưởng mới và những phương pháp mới để nhằm kích thích sự tiến bộ trong sản xuất và đời sống nông dân Theo kinh nghiệm của một số nước nông nghiệp thì khuyến nông là một lĩnh vực có tầm quan trọng bậc nhất ở các nước đang phát triển, bởi vì thiếu nó người nông dân sẽ
bị phụ thuộc vào các dịch vụ mang tính kinh doanh trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Trong thời đại hiện nay, khuyến nông là một hoạt động phổ biến và được coi là kiểu giáo dục đặc biệt cho nông dân, là trường học của nông dân ở chính nông thôn của họ, nó sẽ đóng vai trò rất quan trọng và rất cụ thể trong các chương trình phát triển nông thôn nếu chúng ta biết tận dụng hết những phương pháp hoạt động và tiềm năng của khuyến nông
Một vài định nghĩa sau đây về khuyến nông đã nói lên tầm quan trọng của khuyến nông đối với chiến lược phát triển nông thôn:
Trang 16- “Khuyến nông hướng tới mục đích giúp nông dân giải quyết vấn đề của họ Nó không chỉ quan tâm đến vấn đề vật chất, kinh tế mà còn đến sự phát triển cộng đồng dân cư nông thôn Các cán bộ khuyến nông thường xuyên trao đổi, thảo luận các vấn đề với nông dân, giúp họ đánh giá tốt hơn các dữ kiện và tìm cách giải quyết”[1]
- “Khuyến nông là một kiểu đào tạo thực nghiệm dành cho những người dân sống ở nông thôn, đem lại những lời khuyên và những thông tin cần thiết giúp giải quyết những vấn đề của họ Khuyến nông cũng nhằm mục đích cải thiện năng suất lao động của gia đình, phát triển sản xuất và nói một cách tổng quát là làm tăng mức sống của người nông dân”[1]
Hai định nghĩa trên có một số điểm rất giống nhau, tất cả đều nhấn mạnh khuyến nông là một quá trình được kéo dài trong một giai đoạn nào đó chứ không phải là một hành động nhất thời, thực hiện một vài lần rồi chấm dứt, khuyến nông sẽ bám sát, đi cùng quá trình thực hiện chiến lược phát triển nông thôn Với sự phân tích kỹ càng hai định nghĩa trên cùng với các hoạt động thực tiễn của khuyến nông chúng ta có thể thấy khuyến nông có 5 yếu tố hoạt động chính:
- Hiểu biết công việc và thành thạo công việc: cán bộ khuyến nông cần truyền thụ kiến thức lý thuyết và thực hành cho người nông dân và cả gia đình nông dân Trước tiên người cán bộ khuyến nông phải chuẩn bị kỹ càng kiến thức đó và phải biết chỗ hổng mà nông dân thiếu để lấp chỗ trống kiến thức cho họ, đó cũng là cách thức giải quyết vấn đề cho nông dân
- Tư vấn, huấn luyện kỹ thuật nông nghiệp và quản lý trang trại: Cán bộ khuyến nông phải thận trọng chuyển giao, tư vấn những tiến bộ kỹ thuật cho nông dân vì trên thực tế có những tiến bộ kỹ thuật mới nhưng khi đưa vào sản xuất sẽ không hiệu quả trong điều kiện của nông dân Cán bộ khuyến nông còn phải chú trọng đến quản lý trang trại để hỗ trợ cho nông dân
Trang 17- Thông tin khuyến nông là cần thiết cho nông dân vì họ khó tiếp cận một cách đầy đủ Cán bộ khuyến nông là người cung cấp những thông tin cụ thể, chính xác và mới nhất về thị trường giá cả, các chính sách liên quan sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản…
- Hình thành các tổ chức nông dân: trong thời kỳ hội nhập thì liên kết nông dân lại trong một tổ chức như hợp tác xã nông nghiệp là thật sự cần thiết
để nhằm tập trung nguồn lực và sản phẩm cung ứng cho thị trường có chất lượng và có nguồn gốc chứng minh, nhất là thị trường xuất khẩu, họ cùng một
tổ chức để có thương hiệu, giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, nhận sự hỗ trợ của Chính phủ về khuyến nông…
- Nhiệt tình và có lòng tự tin: Sự nhiệt tình và lòng tự tin của cán bộ khuyến nông và tổ chức khuyến nông là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong quá trình chuyển tải kiến thức kinh nghiệm, thông tin đến người nông dân Cán bộ khuyến nông thiếu nhiệt tình thì nông dân ở vùng sâu, vùng xa sẽ bị thiệt thòi vì cán bộ khuyến nông thường ngại đến thăm viếng nông dân hoặc viện lý do không có thời gian lui tới nhiều lần để hỗ trợ họ thường xuyên
Tùy theo hoàn cảnh thực tế mà có thể đặt trọng tâm vào yếu tố này hay yếu tố khác, nhưng trên nguyên tắc là chú ý đến 5 yếu tố đó trong quá trình thực hiện các chương trình khuyến nông, nhằm khai thác hết các yếu tố để đem lại hiệu quả cao nhất cho người nông dân Bất kỳ một hoạt động khuyến nông nào cũng cần sẵn sàng thỏa mãn các đòi hỏi trên
Từ năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bên cạnh việc hỗ trợ đối tượng nông dân nghèo để xoá đói giảm nghèo, nội dung hoạt động khuyến nông đã chuyển sang chú trọng hỗ trợ các đối tượng nông dân sản xuất hàng hoá, nông dân khá giả, áp dụng các kỹ thuật, công nghệ tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng giá trị thu nhập và đặc biệt là tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế
Trang 18Để góp phần nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm đối với nông sản, nâng cao giá trị, thu nhập cho người sản xuất và đảm bảo phát triển nền nông nghiệp bền vững, hoạt động khuyến nông cũng chú trọng xây dựng
và nhân rộng các mô hình sản xuất nông lâm thuỷ sản theo hướng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), áp dụng kỹ thuật canh tác "3 giảm 3 tăng" (3 giảm: Giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng thuốc trừ sâu bệnh giảm lượng phân đạm; 3 tăng: Tăng năng suất lúa, tăng chất lượng lúa gạo, tăng hiệu quả kinh tế), "1 phải 5 giảm" (“1 phải” là phải sử dụng giống xác nhận, còn “5 giảm” bao gồm giảm lượng giống gieo sạ, giảm lượng phân bón (đạm), giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), giảm lượng nước và giảm thất thoát sau thu hoạch), “cơ giới hóa đồng bộ", ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ theo mô hình “cánh đồng mẫu”, “trang trại mẫu”… Trong những năm gần đây, hệ thống khuyến nông cả nước đang tích cực tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như: chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn, chương trình xây dựng nông thôn mới, chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, chương trình phòng tránh và thích ứng với biến đổi khí hậu…
Trong điều kiện nước ta hiện nay, hơn 70% dân số sống ở các vùng nông thôn với hơn 65% lao động xã hội để sản xuất ra những nông sản thiết yếu cung cấp cho toàn bộ xã hội như lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến… Mặc dù vai trò của nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn như vậy trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, nhưng ở nhiều vùng nông thôn mức sống và trình độ dân trí còn thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ sản xuất lạc hậu Đây là thách thức lớn trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn Thông qua hoạt động khuyến nông, nông dân
và người bên ngoài cộng đồng có cơ hội trao đổi thông tin, học hỏi kiến thức
và kinh nghiệm lẫn nhau để phát triển sản xuất và đời sống kinh tế - xã hội
Trang 19Những tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thường là kết quả nghiên cứu của các cơ quan khoa học như: viện, trường, trạm… Những tiến
bộ này được nông dân lựa chọn, áp dụng vào trong sản xuất để nâng cao năng suất lao động Trên thực tế giữa nghiên cứu và áp dụng thường có một khâu trung gian để chuyển tải hoặc cải tiến cho phù hợp để nông dân áp dụng được Ngược lại những kinh nghiệm của nông dân, những đòi hỏi cũng như nhận xét đánh giá về kỹ thuật mới của nông dân cũng được phản hồi đến các nhà khoa học để họ giải quyết cho sát thực tế Trong những trường hợp này, vai trò của khuyến nông, khuyến lâm chính là chiếc cầu nối giữa khoa học với nông dân
1.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động khuyến nông
1.2.1 Hệ thống tổ chức khuyến nông ở một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Hệ thống tổ chức khuyến nông Trung Quốc [19]
Trung Quốc coi khuyến nông có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Hệ thống khuyến nông nhà nước của Trung Quốc được tái thiết lập từ cuối những năm 1970 Đến cuối những năm 1980 ở tất cả các xã, huyện ở các vùng miền (kể cả ở các vùng miền núi) đều đã có các trạm khuyến nông Có 5 loại hình trạm khuyến nông chủ yếu, phục vụ trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, cơ khí nông nghiệp và kinh tế nông thôn Bên cạnh 5 loại hình trạm khuyến nông kể trên, hầu hết các huyện đều thiết lập thêm một số trạm khuyến nông mang tính đặc thù của địa phương như quản lý mùa màng, bảo vệ thực vật, làm vườn, kỹ thuật phân bón và đất đai,… cùng những trạm khuyến nông chuyên phục vụ cho những nông sản quan trọng của địa phương [19]
Hệ thống khuyến nông được tổ chức đồng bộ từ trung ương đến địa phương và với quy mô rất lớn (tổng số cán bộ lên đến hơn 1 triệu người) Hơn 70% quân số này là những cán bộ tốt nghiệp ở các trường cao đẳng chuyên
Trang 20nghiệp hoặc dạy nghề, trong đó, hơn 90% trong số họ làm việc ở các trạm khuyến nông cấp xã (là chủ yếu) và cấp huyện [19]
Vấn đề nổi cộm trong hệ thống khuyến nông của Trung Quốc là hệ thống tổ chức quá cồng kềnh, số lượng cán bộ khuyến nông làm việc ở cấp trung gian (tỉnh, huyện và xã) quá lớn nhưng họ không gần dân, không sâu sát nắm tâm tư nguyện vọng và nhu cầu của dân về các TBKT mới Trong tổng
số 1,01 triệu cán bộ khuyến nông của Trung Quốc, chỉ có 740.000 khuyến nông viên làm việc ở cấp thôn bản Bên cạnh đó, phương thức đầu tư không hiệu quả - đầu tư cho khuyến nông tập trung chủ yếu ở cấp trung ương, trong khi 94%
số cán bộ khuyến nông cơ sở làm việc tại các địa phương lại nhận được sự đầu
tư rất thấp, do đó không tạo được động lực làm việc ở cấp cơ sở [19]
Các nhà hoạch định chính sách nhận thấy, việc cải cách hệ thống khuyến nông là một công việc cực kỳ khó khăn và đến nay vẫn chưa có một ý tưởng rõ rệt nào để góp phần cải thiện hoạt động của hệ thống khuyến nông
Có một vài sáng kiến đã được đưa ra và hiện đang làm thí điểm để cải tổ hệ thống khuyến nông [5]
- Thí điểm cải cách thể chế: Các tiếp cận khuyến nông thay vì là kênh chuyển tải TBKT đến người dân thì nay phải là tổ chức trung gian tìm kiếm TBKT mới theo yêu cầu của người dân Dịch vụ khuyến nông để tồn tại được
và thực sự mang lại hiệu quả cao phải bám sát nhu cầu, đòi hỏi của người dân
- Thí điểm hệ thống quản lý mới: Có cơ chế để người dân giám sát hoạt động của cán bộ kỹ thuật làm công tác khuyến nông để họ thực sự là người làm dịch vụ cho dân Khuyến nông phải xác định rõ khách hàng của họ là nông dân và nông dân sẽ là người chi trả dịch vụ cho họ dựa trên kết quả sản phẩm Cán bộ khuyến nông phải là người có “độ nhạy” rất cao với nhu cầu của người dân
- Thí điểm chính sách mang lại động lực nhiều hơn cho cán bộ nghiên cứu: Trung tâm nghiên cứu chính sách nông nghiệp Trung Quốc đã và đang thí điểm mô hình chính sách này tại hai tỉnh Ý tưởng của họ là: Hiện tại,
Trang 21Trung Quốc có khoảng 1 triệu cán bộ khuyến nông với 640.000 thôn/bản - mỗi thôn/bản có khoảng 500 nông dân Nếu một cán bộ khuyến nông được giao chuyên trách cung cấp dịch vụ cho một thôn/bản thì số cán bộ đã có thể giảm xuống được 1/3 Nếu mỗi cán bộ được giao phụ trách 2-3 thôn thì số cán
bộ cơ sở có thể còn giảm được hơn thế nữa Như vậy, có thể giảm một số lượng lớn cán bộ khuyến nông, chuyên môn hoá để họ thực sự cung cấp dịch
vụ theo nhu cầu của khách hàng Với ba nhân tố: Tăng vốn đầu tư của Nhà nước cho khuyến nông, kinh phí tiết kiệm được do giảm biên chế và phí dịch
vụ do người dân chi trả, chắc chắn hệ thống khuyến nông của Trung Quốc sẽ hoạt động hiệu quả hơn
Tại tỉnh Hồ Bắc, cũng có một sáng kiến về chính sách khác nhằm cải tổ
hệ thống khuyến nông đó là: Các tổ chức khuyến nông được tách ra, độc lập với các cơ quan chính phủ và hoạt động như loại hình doanh nghiệp và như vậy sẽ không có kinh phí thường xuyên cấp cho hoạt động của đơn vị Các doanh nghiệp khuyến nông này buộc phải tái cơ cấu lại tổ chức, lựa chọn những cán bộ tốt, đủ năng lực, đáp ứng được yêu cầu công việc tiếp tục ở lại làm việc, còn lại sa thải những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu Chính quyền thiết lập Quỹ khuyến nông mà ở đó các công ty khuyến nông đấu thầu các chương trình khuyến nông trọng điểm đồng thời thực hiện các hợp đồng dịch vụ khuyến nông với người dân và thu phí từ hoạt động dịch vụ đó [19]
1.2.1.2 Hệ thống tổ chức khuyến nông Australia [20]
Với trọng tâm chính là chuyển giao công nghệ dựa trên yêu cầu của sản xuất, các phòng nông nghiệp thuộc các bang nhiều năm đã từng là đơn vị chính cung cấp các dịch vụ khuyến nông Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dịch
vụ khuyến nông công ích ở những lĩnh vực truyền thống đã có sự suy giảm đáng kể Việc cắt giảm kinh phí cho các hoạt động truyền thống đã tạo áp lực khiến các phòng nông nghiệp cấp bang phải xét lại xem họ sẽ cung cấp những dịch vụ nào
Trang 22Gần đây, các cơ quan khuyến nông nhà nước vẫn cung ứng dịch vụ khuyến nông, nhưng trong một số trường hợp họ đã chuyển sang vai trò điều phối các đơn vị cung ứng Hoạt động khuyến nông của Australia có nhiều đổi mới:
- Thay đổi về cơ chế hoạt động: Tất cả các phòng nông nghiệp bang định hướng theo nguyên lý cung cấp dịch vụ khuyến nông “dựa trên nhu cầu khách hàng” và “điều tiết bởi thị trường” Mô hình liên kết “Tổ chức cấp kinh phí - Nhà sử dụng - Nhà cung cấp” được thực hiện ở hầu hết các bang Các phòng nông nghiệp cũng tạo cơ chế khuyến khích ký kết và “cung ứng” các dịch vụ khuyến nông Các nhà tư vấn nông nghiệp và các cán bộ hợp đồng có thể được thuê để cung cấp dịch vụ khuyến nông theo yêu cầu nếu như những
cá nhân này có thể làm tốt và hiệu quả hơn [5]
- Thay đổi về triết lý tiếp cận: Các đơn vị khuyến nông nhà nước rút lui dần khỏi các hoạt động khuyến nông mà ở đó khu vực tư nhân cung cấp đủ hoặc có tiềm năng Động thái này nhằm tập trung nguồn lực kinh phí của Nhà nước để cung cấp có hiệu quả hơn các dịch vụ khuyến nông công mà ở đó khu vực tư nhân không đảm nhiệm được Các tổ chức cũng có thể ngừng cung cấp hẳn một số dịch vụ công để chuyển sang cơ chế chi trả đối với dịch vụ “hàng hóa tư nhân” và khuyến khích áp dụng nguyên lý “người sử dụng dịch vụ phải trả tiền” Điều này đặt khuyến nông vào vị thế “đáp ứng nhu cầu” hơn là
“thúc đẩy khoa học” Cán bộ khuyến nông đóng vai trò là người trợ giúp hơn
là các chuyên gia về khoa học & công nghệ [5]
Ở Australia, việc sử dụng Internet và đĩa CD để công bố các kết quả nghiên cứu được nhiều tổ chức thử nghiệm Một khối lượng tài liệu nhất định
từ các trung tâm thông tin cộng đồng, trung tâm phát triển nông thôn, phòng nông nghiệp bang và các nhà nghiên cứu khu vực tư nhân cũng được tải xuống từ Internet, nhờ đó thời gian khuyến nông được rút ngắn và tạo ra những tác động tích cực [20]
Trang 23- Tăng số lượng nhà cung cấp dịch vụ khuyến nông: Sự thay đổi trong
tổ chức hoạt động và tiếp cận khuyến nông đã dần mang lại hiệu quả tích cực Khu vực tư nhân tham gia cung ứng dịch vụ khuyến nông nhiều hơn, nhanh hơn và đã lấp đầy những khoảng trống sau sự rút lui của khuyến nông nhà nước ở những vùng/lĩnh vực nhất định Ở Australia, rất nhiều đơn vị tham gia trong môi trường khuyến nông mới đó là các tổ chức của nông dân, hợp tác
xã, các công ty giống, phân bón, chính quyền địa phương, các ban marketing, các hiệp hội nghiên cứu và phát triển, các trung tâm nghiên cứu hợp tác và các khoa của các trường đại học Các tổ chức kinh doanh nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng cung cấp dịch vụ khuyến nông tới nông dân
- Về đầu tư và kinh phí: Giống như Trung Quốc, Australia thực hiện cơ chế thúc đẩy tự trang trải chi phí trong nghiên cứu và chuyển giao TBKT Các phòng nông nghiệp bang đang chuyển dần đến tư nhân hóa Ví dụ, áp dụng nguyên lý “người sử dụng dịch vụ phải trả tiền”, đặc biệt với các dịch vụ có lợi ích tư nhân Xu hướng phát triển chung là khu vực Nhà nước bắt đầu thu phí từ việc cung cấp thông tin Dù vậy, hầu hết các tổ chức vẫn chưa xác định được ở mức thu và căn cứ nào để họ có thể phục hồi chi phí Các đơn vị cung cấp kinh phí đang tăng sự kiểm soát và hướng dẫn với các kế hoạch nghiên cứu/khuyến nông thông qua việc cấp kinh phí cho các nghiên cứu và khuyến nông dựa trên nhu cầu và đáp ứng được những ưu tiên của Nhà nước [20]
1.2.2 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Hệ thống khuyến nông tỉnh Thái Nguyên ra đời rất sớm và khẳng định
sự trưởng thành của mình thông qua các thành tích đáng kể về sự phát triển nông nghiệp và nông thôn của tỉnh Thái Nguyên Sự hoạt động của đội ngũ cán bộ khuyến nông tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua đã có đóng góp đáng kể vào sự công cuộc công nghiệp hóa (CNH) nông nghiệp và nông thôn, góp phần nâng cao đời sống kinh tế, xóa đói giảm nghèo, ổn định an sinh xã hội, giải quyết tốt vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân trên địa bàn
Trang 24tỉnh Trong quá trình tổ chức hoạt động, đội ngũ cán bộ cán bộ khuyến nông còn gặp phải nhiều vấn đề khó khăn, bất cập như: nhận thức của một bộ phận người dân chưa cao; kinh phí triển khai các mô hình hạn hẹp; kiến thức chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu; lực lượng cán bộ khuyến nông còn mỏng chưa sâu sát đến cơ sở thôn bản; các chế độ chính sách ưu đãi cho cán bộ khuyến nông còn
ít và chưa thực sự thỏa đáng; Sự phối hợp giữa các cấp, các ban ngành tại các địa phương còn thiếu đồng bộ, hiệu quả công tác chưa cao [13]
Ở bài viết Nâng cao tính khả thi chính sách khuyến nông trên địa bàn
Hà Nội của tác giả Phạm Bảo Dương (2014) nghiên cứu chỉ rõ: Bộ máy tổ
chức khuyến nông cơ sở hiện nay có hai mối quan hệ chính: quan hệ chỉ đạo
và quan hệ phối hợp Ở cấp huyện, Trạm khuyến nông trực thuộc và chịu sự quản lý toàn diện theo ngành dọc từ Trung tâm khuyến nông, Thành phố, UBND cấp huyện thực hiện chức năng “hiệp quản” Tuy nhiên, cán bộ khuyến nông cấp xã lại do UBND cấp xã quản lý Bên cạnh những thuận lợi,
cơ chế quản lý này có thể gây ra tình trạng “một cổ hai tròng”, nếu thiếu sự phối, kết hợp hiệu quả giữa các cơ quan chuyên môn thuộc bộ máy hành chính cấp huyện và các Trạm khuyến nông Mặt khác, ở một vài địa phương cấp xã còn có sự chồng chéo về nhiệm vụ giữa các cán bộ khuyến nông, cán
bộ bảo vệ thực vật và cán bộ thú y Mỗi cách thức tổ chức có những ưu, nhược điểm khác nhau, tuy nhiên sự không thống nhất trong mô hình tổ chức khuyến nông với cơ chế quản lý, phối hợp chưa rõ ràng chắc chắn đã ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của các tổ chức khuyến nông các cấp [6]
Theo Lê Ngọc Thạch (2009), tại bài viết Các nhân tố dự đoán hiệu quả công việc của cán bộ khuyến nông tại vùng đồng bằng sông Cửu Long thì
CBKN nối kết các cơ quan và cộng đồng trong quá trình chuyển giao kiến thức
và công nghệ đến cộng đồng nông thôn Nghiên cứu này khảo sát các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của CBKN Các yếu tố cá nhân gồm có: động cơ làm công tác khuyến nông, kỹ năng về thiết kế giảng dạy và truyền đạt, kỹ năng về sự hỗ trợ hoạt động, kỹ năng giảng dạy khuyến nông, kỹ năng
Trang 25hoạch định chương trình, kỹ năng thực hiện chương trình, kỹ năng đánh giá chương trình, khả năng về công tác xã hội, khả năng về quan hệ đối ngoại, và nền tảng chuyên môn của Cán bộ khuyến nông Nghiên cứu điều tra được thực hiện tại 7 tỉnh/thành phố của vùng đồng bằng sông Cửu Long với 312 mẫu Kết quả nghiên cứu cho thấy có 4 yếu tố cá nhân đã góp phần ảnh hưởng có ý nghĩa đến hiệu quả công việc của Cán bộ khuyến nông, đó là: khả năng về công tác
xã hội, kỹ năng thực hiện chương trình, động cơ làm công tác khuyến nông, và
kỹ năng hoạch định chương trình [10]
Trong phần nghiên cứu trao đổi trên báo kinh tế và phát triển tác giả Phạm Bảo Dương (2014) đã chỉ ra rằng: Hệ thống khuyến nông Việt Nam hiện đang bắt đầu công cuộc chuyển đổi mô hình và phương pháp tiếp cận, dần chuyển sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân, ứng dụng các phương pháp khuyến nông và các kỹ năng mới, mở rộng phạm vi tác động và thực hiện “xã hội hóa” Trên cơ sở phân tích thực trạng tác giả đã xác định được những vấn đề tồn tại và học tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc rà soát hệ thống tổ chức; thay đổi phương thức lập kế hoạch, cơ chế cấp phát kinh phí; tiếp tục tăng cường đầu tư, áp dụng các TBKT mới trong hoạt động khuyến nông, đẩy mạnh xã hội hóa khuyến nông, tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân; chuyển đổi các tổ chức khuyến nông sang hoạt động theo cơ chế tự chủ gắn kết quả hoạt động với cơ chế giám sát, nâng cao hoạt động của đội ngũ cán bộ khuyến nông, đặc biệt ở cấp cơ sở [6]
1.3 Tổng quan hệ thống khuyến nông và chính sách khuyến nông tại Việt Nam
1.3.1 Đánh giá chung về hoạt động khuyến nông tại Việt Nam
Hệ thống khuyến nông đã có những bước phát triển đáng kể những năm qua, đã đóng góp vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành nông
Trang 26nghiệp Công tác khuyến nông đã từng bước được đổi mới để phù hợp hơn với
xu hướng phát triển của ngành theo xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Trước tiên
là việc đã hình thành một hệ thống chuyển giao TBKT từ Trung ương đến địa phương với đội ngũ cán bộ đông đảo và có kinh nghiệm; huy động được nhiều
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia chuyển giao TBKT vào sản xuất Bên cạnh đó cũng đã phát triển các phương thức, hình thức truyền tải thông tin, đào tạo, tập huấn phong phú và đa dạng hóa, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin, kiến thức cho người sử dụng Đã chuyển giao được nhiều TBKT vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và thu nhập cho người sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Yếu tố mấu chốt ở đây là cơ chế, chính sách quản lý, phương pháp và phương thức khuyến nông từng bước được đổi mới [5]
Điểm mạnh:
Khuyến nông Việt Nam đã trải qua quá trình xây dựng, phát triển và đã góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp và nông thôn Thành lập từ xu thế của chính sách “đổi mới” và nhu cầu thực tế của sản xuất, khuyến nông Việt Nam đã thể hiện những điểm mạnh như sau:
+ Hệ thống tổ chức khuyến nông từ Trung ương đến cơ sở đã được củng cố và ngày càng hoàn thiện Hoạt động của hệ thống khuyến nông đã thay đổi theo từng thời kỳ nhưng hiện nay đã và đang từng bước ổn định, kiện toàn theo hướng thống nhất theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông
và được các cấp, ban, ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm, ủng hộ
+ Hoạt động khuyến nông đã bám sát các chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chuyển giao thành công nhiều tiến bộ kỹ thuật mới, góp phần tăng nhanh năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, đảm bảo hiệu quả cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Trang 27+ Khuyến nông đã góp phần nâng cao trình độ dân trí, trình độ kỹ thuật
và kỹ năng tổ chức quản lý sản xuất để tăng thu nhập, cải thiện đời sống người nông dân và góp phần quan trọng trong công cuộc "xoá đói giảm nghèo", nhất là bà con dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao
+ Phổ biến kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về sản xuất nông nghiệp và khuyến nông đến với nông dân, người sản xuất, từ đó góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành hàng và thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn của Bộ
+ Bước đầu tạo ra mối liên kết giữa hệ thống khuyến nông nhà nước và các tổ chức khuyến nông khác, tạo mối liên kết 4 nhà, thúc đẩy quá trình xã hội hoá công tác khuyến nông, tổ chức nhiều hoạt động khuyến nông phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của nông dân và thực tiễn sản xuất
+ Nhạy bén trước sự thay đổi và phát triển kinh tế xã hội để đáp ứng kịp thời, chủ động nhu cầu phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới
Điểm yếu, hạn chế:
+ Nguồn nhân lực khuyến nông còn thiếu và hạn chế về năng lực chuyên môn nghiệp vụ Hệ thống tổ chức khuyến nông Nhà nước tuy được coi trọng nhưng mới thành lập được 20 năm nên còn thiếu bề dày kinh nghiệm trong việc hoạch định chiến lược và triển khai các hoạt động khuyến nông
+ Hoạt động khuyến nông chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các nhóm đối tượng nông dân khác nhau Hoạt động khuyến nông mới tập trung vào xây dựng mô hình để chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, chưa có nhiều mô hình tổng hợp, liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm, tổ chức quản lý sản xuất, xúc tiến thị trường
+ Chính sách khuyến nông chưa được bổ sung, chỉnh sửa thường xuyên
và kịp thời để phù hợp với nhu cầu của sản xuất và xu hướng hội nhập toàn cầu Khung pháp lý hỗ trợ công tác khuyến nông chưa thực sự hợp lý và phù hợp với
xu hướng phát triển sản xuất hàng hóa tập trung, quy mô lớn Đồng thời chưa có
Trang 28chính sách đầu tư trọng điểm cho công tác khuyến nông xóa đói giảm nghèo ở các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo
+ Hoạt động tư vấn, dịch vụ khuyến nông chưa phát triển và chưa có cơ chế chính sách phù hợp để động viên, khuyến khích cán bộ khuyến nông tổ chức thực hiện các hoạt động tư vấn, dịch vụ phù hợp và hiệu quả đáp ứng nhu cầu đa dạng của nông dân
+ Liên kết giữa hệ thống khuyến nông Nhà nước và các tổ chức khuyến nông ngoài nhà nước chưa mạnh, sự phối hợp giữa hệ thống khuyến nông với các cơ quan nghiên cứu, đào tạo chưa chặt chẽ
+ Quản lý nhà nước về khuyến nông ở cấp Trung ương còn chồng chéo; các cơ quan quản lý chưa chủ động đề xuất chương trình khuyến nông trọng điểm dài hạn và kế hoạch khuyến nông hàng năm, chủ yếu do cơ quan khuyến nông trung ương đề xuất
+ Hệ thống giám sát và đánh giá tác động của các hoạt động khuyến nông còn thiếu và chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Bài học kinh nghiệm:
+ Tăng cường sự chỉ đạo chặt chẽ, thường xuyên của cấp uỷ đảng, chính quyền và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ban, ngành, đoàn thể chính trị xã hội nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác khuyến nông
+ Xác định rõ vai trò và chức năng, nhiệm vụ ở các cấp khác nhau trong hệ thống khuyến nông là thực sự cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phân cấp công tác khuyến nông
+ Xây dựng được đội ngũ cán bộ khuyến nông từ Trung ương xuống địa phương có đủ trình độ chuyên môn kỹ thuật, có năng lực tổ chức, quản lý
và điều hành các hoạt động khuyến nông Đặc biệt cần đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở để họ toàn tâm, toàn ý với công việc và gắn bó với sự nghiệp khuyến nông
Trang 29+ Tùy theo nhóm đối tượng nông dân và lĩnh vực sản xuất để tổ chức các hoạt động khuyến nông phù hợp và có hiệu quả Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, trình độ dân trí của nông dân để
họ thực sự tham gia chủ động và hiệu quả vào công tác khuyến nông, bảo vệ quyền lợi người nông dân
Thường xuyên nắm bắt nhu cầu và nguyện vọng của nông dân, có phương pháp tiếp cận phù hợp để xây dựng và triển khai có hiệu quả các hoạt động khuyến nông
+ Quan tâm nhiều hơn đến phát triển nguồn nhân lực để phù hợp với yêu cầu phát triển của ngành và đáp ứng tốt nhu cầu của xã hội
1.3.2 Kết quả thực hiện hoạt động khuyến nông tại địa phương
Khuyến nông là cầu nối giữa khoa học và thực tiễn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Với mạng lưới hoạt động của hệ thống khuyến nông đang đi vào thực tiễn hiện tại các địa phương giúp cho chính sách khuyến nông tạo được cơ sở vững chắc trong quần chúng nhân dân
từ đó huy động được sức mạnh đông đảo của người dân trong cộng đồng nông thôn [14] Tùy vào mỗi địa phương mà cùng một chính sách nhưng áp dụng
và đi vào thực hiện có nét khác nhau Cụ thể là trong quá trình thực hiện chính sách khuyến nông, cán bộ khuyến nông ở xã và nông dân là trung tâm, hai đối tượng này có thể là đối tượng thực hiện cũng có thể là đối tượng thụ hưởng chính sách Vì thế cần có sự gắn kết phối hợp nhịp nhàng giữa hai đối tượng trên để từ đó triển khai chính sách vào thực tế đạt hiệu quả nhất Kết quả của hoạt động khuyến nông được đánh giá cụ thể:
Hoạt động thông tin tuyên truyền:
Việc chuyển giao TBKT được thực hiện theo ngành dọc từ trên xuống,
từ Trung ương đến địa phương nhằm đạt được sự thống nhất trong nội dung thông tin tuyên truyền Khi TBKT mới được triển khai xuống cơ sở, đối tượng
Trang 30tiếp nhận đầu tiên là CBKN, do đó CBKN cần phải nắm rõ được nội dung, phương pháp để phối hợp cùng các tổ chức và đoàn thể ở địa phương triển khai thực hiện một cách hiệu quả Việc phổ biến các TBKT có thể thực hiện thông qua các kênh thông tin như: Loa, đài, báo, tờ rơi, thông báo, hội nghị, hội thảo, họp thôn, xóm
Thông tin tuyên truyền về khuyến nông ngoài hoạt động nhằm phổ biến
về TBKT mới còn thực hiện tuyên truyền những đường lối chính sách của Đảng, nhà nước về nông nghiệp, thông tin giá cả thị trường, phổ biến những
mô hình điển hình tiên tiến trong sản xuất, quản lý, kinh doanh, phát triển nông nghiệp đến người nông dân
Hoạt động đào tạo, tập huấn, truyền nghề
Bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề là hoạt động nhằm phổ biến kiến thức về một chủ đề nào đó cho một nhóm nông dân để áp dụng những nguyện vọng của họ bằng hình thức tập trung ở một địa điểm và thời điểm phù hợp Đặc trưng cơ bản của nội dung này là:
- Người phổ biến kiến thức là các khuyến nông viên, cũng có thể là nông dân tham gia khuyến nông
- Nội dung tập huấn thường tập trung vào một chủ đề xác định Nội dung tập huấn thường xuất phát từ nhu cầu cửa nông dân và nhu cầu của chuyển giao
- Thời gian tập huấn có thể kéo dài nửa giờ, vài giờ, một ngày và có thể dài hơn tùy theo nội dung và chủ đề tập huấn
- Địa điểm tập huấn có thể diễn ra trên hội trường, lớp học, trên đồng ruộng hay tại mô hình trình diễn
Do vậy hoạt đọng bồi dưỡng, tập huấn và truyền nghề tập trung vào các
cơ chế hỗ trợ đối với nông dân (thông qua hỗ trợ sách, tài liệu, chi phí đi lại,
ăn ở) và cơ chế hỗ trợ đối với người hoạt động khuyến nông
Trang 31Xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn
Hoạt động xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn là tập hợp các cơ chế hỗ trợ nhằm thể hiện cách thức, trình tự và giải pháp áp dụng một công nghệ cụ thể trong từng điều kiện cụ thể của nông dân để nông dân học tập qua việc trực tiếp tham gia làm, quan sát, trao đổi, thảo luận và rút kinh nghiệm Quá trình xây dựng và nhân rộng mô hình cần có sự tham gia tích cực của người dân vào tất cả các hoạt động của mô hình Tuy nhiên hình thức và mức
độ tham gia ở mỗi hoạt động có sự khác nhau
Trang 32Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Hệ thống văn bản chính sách về khuyến nông hiện hành của huyện, tỉnh, trung ương
+ Hệ thống khuyến nông cơ sở tại huyện Đại Từ
+ Hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu hoạt động khuyến nông tại 3 xã (Cù Vân; Đức Lương; Bản Ngoại) có sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế, xã hội tạo sự đa dạng cho mẫu nghiên cứu
- Phạm vi về thời gian: Tư liệu dùng trong quá trình nghiên cứu được thu thập từ tháng 01 năm 2016 đến tháng 06 năm 2017
Các số liệu và thông tin, các chương trình thực hiện từ năm 2014 - 2016
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá kết quả việc áp dụng các cơ chế chính sách, chương trình,
dự án về khuyến nông hiện hành vào hoạt động khuyến nông của huyện, nêu
rõ những bất cập của cơ chế chính sách khuyến nông trong quá trình triển khai trên địa bàn huyện
- Đánh giá hiệu quả khuyến nông trên địa bàn huyện: theo các chủ đề khuyến nông (chuyển giao TBKT, mô hình ) và các đối tượng (hộ sản xuất quy mô lớn, hộ nghèo ), và xác định yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả khuyến nông theo chủ đề và theo đối tượng trên địa bàn huyện
- Đánh giá và đề xuất giải pháp cải thiện dịch vụ khuyến nông của chính quyền cơ sở, của người dân: cơ chế, chính sách, cách thức hỗ trợ
Trang 332.3 Phương pháp nghiên cứu
Để chỉ ra được các giải pháp có hiệu quả để có thể cải thiện được hoạt động khuyến nông trước tiên cần chỉ ra được hiệu quả của hoạt hoạt động khuyến nông từ đó rút ra những ưu điểm và hạn chế của hoạt động khuyến nông cuối cùng mới đưa ra được nhưng giải pháp cụ thể Trong khuôn khổ của nghiên cứu này, tôi sử dụng các phương pháp sau:
2.3.1.Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hoạt động khuyến nông
Kết quả của hoạt động khuyến nông có thể được thể hiện trên nhiều khía cạnh:
- Cách thức tổ chức, thực hiện các hoạt động khuyến nông trên địa bàn huyện;
- Hiệu quả kỹ thuật: tác động của hoạt động khuyến nông đến việc tăng năng suất, tăng chất lượng sản phẩm, tăng hiệu quả sử dụng vật tư (phân bón, giống), lao động, chuyển đổi cơ cấu sản xuất.;
- Hiệu quả kinh tế: đó là mối quan hệ chi phí - lợi nhuận, giá trị gia tăng Các hoạt động khuyến nông có tạo ra năng suất cao, chất lượng tốt, giá trị sản phẩm làm ra trên một hecta, một lao động, thu nhập của nông dân được cải thiện hay không
- Hiệu quả xã hội: các hoạt động khuyến nông có tạo ra việc làm cho nông dân, tạo điều kiện cho phụ nữ, nhóm dễ bị tổn thương vươn lên (trẻ em, dân tộc thiểu số, phụ nữ, người tàn tật ), có góp phần xóa đói giảm nghèo, có góp phần phát triển tổ chức và thể chế hay không, có tính lan truyền hay không [3]
- Hiệu quả môi trường: các hoạt động khuyến nông có góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn quỹ gen, tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường hay không
- Hiệu quả đối với cá nhân, hộ tham gia trực tiếp vào hoạt động khuyến nông
- Hiệu quả đối với cộng đồng: thôn bản, xã, huyện
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này hoạt động khuyến nông được giới hạn ở mức đánh giá hiệu quả đối với hộ tham gia trực tiếp vào hoạt động
Trang 34khuyến nông và hiệu quả đối với người dân trong thôn bản, xã của người tham gia trực tiếp hoạt động khuyến nông sinh sống Hiệu quả được đánh giá trên 4 nhóm là kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường
2.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Chọn mẫu nghiên cứu:
Chọn địa bàn để thu thập thông tin thứ cấp dựa trên các nguyên tắc sau:
03 xã được chọn đại diện cho các yếu tố có sự khác biệt như: vị trí, địa hình, mức sống, trình độ của người dân
+ Vị trí địa lý, địa hình: các xã được chọn có đặc điểm địa lý đại diện cho các khu vực khác nhau trên địa bàn huyện cả về địa hình, khoảng cách với trung tâm huyện, thành phố
+ Tình hình kinh tế: chon xã có tình hình kinh tế phát triển, xã trung bình, xã nghèo tạo nên sự đa dạng cho mẫu điều tra
+ Đặc điểm về xã hội: chon xã có trình độ dân trí khác nhau như xã có trình
độ dân trí cao, trung bình, thấp (dựa trên báo cáo lao động xã hội của huyện)
về hoạt động khuyến nông đó
Trang 35Ngoài ra, các tài liệu thứ cấp cũng được khai thác, phân tích, bao gồm các báo cáo, nghiên cứu, các văn bản chính sách, các quy định về khuyến nông Các tài liệu này cung cấp thông tin về hệ thống khuyến nông Việt Nam, các nghiên cứu và kết luận của các nghiên cứu, các bài học kinh nghiệm về hoạt động khuyến nông vùng miền núi Đây là cơ sở để thiết kế các phiếu thu thập thông tin
- Tham gia ít nhất 2 hoạt động khuyến nông trong khoảng từ
2014-2016, của khuyến nông nhà nước hoặc ngoài nhà nước
- Tham gia vào một trong các hình thức khuyến nông sau: đào tạo, tập huấn, mô hình trình diễn Không lựa chọn hình thức thông tin tuyên truyền do việc đánh giá và phân tách ảnh hưởng của tuyên truyền do khuyến nông thực hiện với tuyên truyền của các ngành khác rất khó
- Hoạt động khuyến nông về trồng trọt hoặc chăn nuôi hoặc cả hai Đảm bảo tỷ lệ người khá giàu, trung bình, nghèo/cận nghèo trong mẫu theo tình hình thực tế của địa phương, đảm bảo có đại diện của các dân tộc trên địa bàn
2.3.3 Thu thập thông tin thứ cấp
Thu thập số liệu thông qua các văn bản báo cáo của Trạm khuyến nông huyện, Phòng NN&PTNT, UBND huyện, các văn bản hành chính có liên quan đến hoạt động khuyến nông của địa phương và Trung ương
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Hình 3.1: Bản đồ huyện Đại Từ
Trang 37Đại Từ là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên, cách Thành Phố Thái Nguyên 25 Km, phía Bắc giáp huyện Định Hoá; phía Nam giáp huyện Phổ Yên và Thành Phố Thái Nguyên; phía Đông giáp huyện Phú Lương; phía Tây Bắc và Đông Nam giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ huyện nằm ở sườn đông của dãy núi Tam Đảo, có đường Quốc lộ 37 đi qua 8 xã, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thái Nguyên 24 km [22]
Ở các nước nông nghiệp phát triển nói chung cũng như Việt Nam nói riêng đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được và nó còn là một phần quan trọng của môi trường quyết định đến đời sống của con người Khác với tư liệu sản xuất khác ở chỗ nếu sử dụng đất đai một cách hợp lý nó không những không bị hao mòn mà ngược lại độ màu mỡ của đất đai còn tăng lên Vì vậy việc sử dụng đất đai một cách hợp lý là một vấn đề quan trọng có liên quan mật thiết đến hiệu quả của sản xuất nông nghiệp và chất lượng môi trường sống của con người
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2016
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2016)
Theo niên giám thống kê huyện Đại Từ năm 2016 về tình hình sử dụng đất thì huyện Đại Từ có tổng diện tích tự nhiên là 55.048 ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp có 19.979,10 ha chiếm 36,29% tổng diện tích đất tự nhiên, đất lâm nghiệp có 28.585,90 ha chiếm 51,93%, đất nuôi trồng thủy sản có 815,80 chiếm 1,48% Đất ở có diện tích là 3.389,20 ha chiếm 6,16 % tổng
Trang 38diện tích tự nhiên còn lại là đất chuyên dùng và đất chưa sử dụng
Qua bảng 3.1 ta thấy tổng diện tích đất nông nghiệp và lâm nghiệp chiếm chủ yếu Do Đại Từ là huyện huyện sản xuất nông nghiệp cộng thêm
có nhiều đồi núi để trồng cây lâm nghiệp, cây chè Đất sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước, ngô, cây ăn quả, cây rau màu…Ngoài cây lúa ra thì cây chè cũng là một trong những cây trồng thế mạnh của huyện
Đất phi nông nghiệp phần lớn dùng vào mục đích xây dựng các công trình giao thông, thủy lợi, công trình xã hội, đất trụ sở cơ quan nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân và thúc đẩy ngành kinh tế phát triển
Kết quả xây dựng bản đồ thổ nhưỡng huyện Đại Từ tỷ lệ 1/25.000 cho thấy, toàn huyện có 5 nhóm đất với 9 loại đất chính Đất có khả năng trồng trọt được chia thành 5 nhóm: nhóm đất phù xa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi, nhóm đất thung lũng và nhóm đất nhân tác Đây là nhóm đất rất thích hợp cho sự sinh trưởng, phát triển của cây chè
Hiện nay, tình hình đất đai trên địa bàn huyện đang dần được khai thác đúng hướng, làm tăng diện tích đất sử dụng được, đưa vào sản xuất phục vụ đời sống của nhân dân Chính quyền và nhân dân trong địa bàn huyện đã xây dựng
và thực hiện đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm phát huy tiềm năng và thế mạnh của địa phương để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp theo hướng tăng năng suất, chất lượng cũng như hiệu quả sản xuất trên một đơn vị diện tích canh tác
3.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội
Cùng với đất đai, lao động là yếu tố có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất Tính đến năm 2016, toàn huyện Đại Từ có 164.730 người, trong đó: Nữ giới chiến 50,5%, nam giới chiếm 49,5% Dân cư thành thị chiếm trung bình khoảng 10,71% còn lại là khu vực nông thôn chiếm 89,29%, điều này cho thấy dân cư huyện Đại Từ vẫn tập trung chủ yếu ở nông thôn Cho thấy huyện Đại Từ có mức độ đô thị hóa khá nhanh tuy nhiên Đại
Trang 39Từ vẫn là một huyện có dân số ở khu vực nông thôn lớn và sản xuất nông nghiệp vẫn là nguồn thu chủ yếu của các hộ dân tại khu vực nông thôn
Mật độ dân cư của huyện khá cao đạt 287 người/km2, trong đó: Khu vực thành thị mật độ dân số là 650 người/km2 và khu vực nông thôn là 269 người/km2 Điều này cho thấy diện tích của huyện ít, dân số đông nên mật độ dân cư khá dày, tuy nhiên dân cư tập trung chủ yếu ở nông thôn
Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016
Đơn vị tính: (người)
(người)
Số người trong độ tuổi lao động (người)
Chia theo giới tính
Chia theo thành thị, nông thôn
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2016 và phòng LĐTB&XH huyện năm 2017)
Nguồn lao động của huyện Đại Từ khá dồi dào, chiếm tỷ lệ khá cao, năm 2016 đạt 70% trong tổng dân số của huyện, đây là cơ hội để huyện tận dụng lực lượng lao động và dân cư này cho quá trình phát triển của tỉnh đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng như quá trình phát triển nông nghiệp của huyện Đại Từ Trong giai đoạn 2014-2016, cơ cấu lực lượng lao động trong các thành phần kinh tế có sự dịch chuyển từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác như công nghiệp, xây dựng thương mại và dịch
vụ Tuy nhiên mức độ chuyển dịch chưa mạnh mẽ, chưa tạo được sự đột phá trong chuyển dịch cơ cấu lao động trong các lĩnh vực kinh tế của huyện, trong
cả giai đoạn, tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm 78%, mặc dù mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động tham gia vào lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế của huyện còn chậm nhưng đây là tín hiệu tốt cho quá trình
Trang 40chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong giai đoạn hội nhập kinh tế cũng như quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.3 Giá trị sản xuất huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016
STT Chỉ tiêu ĐVT Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
I Tổng GTSX
Tỷ đồng
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Đại Từ, 2014-2016)
Với vị trí nằm trong vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh Thái Nguyên, với lợi thế phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn huyện và các vùng lân cận, đặc biệt là vùng sản xuất chè trọng điểm của tỉnh đây là điều kiện để huyện có thể xây dựng vùng chuyên canh cho phát triển nông nghiệp
Giai đoạn 2014 - 2016, dịch bệnh và thời tiết biến đổi tác động đến sản xuất nông nghiệp như giá giống, vật tư nông nghiệp, phân bón vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm nông nghiệp thấp, không ổn định; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi diễn biến phức tạp, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng thu hẹp để phục vụ cho công nghiệp Lĩnh vực nông nghiệp của huyện thiếu tính cân đối giữa các ngành, trong đó ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, trong khi đó ngành lâm nghiệp và thủy sản có tỷ trọng thấp (Trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Đại Từ đã xây dựng chiến lược phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có thể mạnh, các vùng trồng