1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

194 252 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 194
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội nhập quốc tế và những yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt 2.3.Những nhân tố tác động đến việc thực hiện trách

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

MAI PHÚ HỢP

TR¸CH NHIÖM X· HéI CñA C¸C DOANH NGHIÖP NHµ N¦íC ë VIÖT NAM TRONG QU¸ TR×NH HéI NHËP QUèC TÕ HIÖN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Mã số: 62 22 03 02

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS VŨ HỒNG SƠN

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả luận án

Mai Phú Hợp

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung

về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và trách nhiệm xã hội của

doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình hội nhập quốc tế 6 1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và giải pháp

thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

1.3 Giá trị của các công trình đã nghiên cứu và những vấn đề đặt ra cần tiếp

Chương 2: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 Trách nhiệm xã hội, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và vai trò của

việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp 24 2.2 Hội nhập quốc tế và những yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với việc

thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt

2.3.Những nhân tố tác động đến việc thực hiện trách nhiệm xã hội của các

doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế

hiện nay

59

Chương 3: TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN

NAY - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 73 3.1 Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - thành tựu và nguyên nhân 73 3.2 Thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay - hạn chế và nguyên nhân 98

Chương 4: NHỮNG NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU

QUẢ VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH

HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY 123 4.1 Hoàn thiện khung pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho điều

kiện kinh doanh và thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp

Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 126 4.2 Doanh nghiệp Nhà nước cần nâng cao nhận thức và biện pháp thực

hiện trách nhiệm xã hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 142 4.3 Nâng cao vai trò của các hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp nhằm tác

động thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm xã

hội trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 148 4.4 Nâng cao vai trò của người lao động và người tiêu dùng nhằm tác động

thúc đẩy các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tốt trách nhiệm xã hội

trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay 151

Trang 4

ANQP : An ninh quốc phòng

CT1TV : Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

TNXH : Trách nhiệm xã hội

TNXHDN : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

TNXHDNNN : Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nhà nước

Trang 5

Trang Biểu đồ 3.1: Thống kê số lượng doanh nghiệp nhà nước 76 Biểu đồ 3.2: Tốc độ phát triển vốn của doanh nghiệp 77 Biểu đồ 3.3: Đóng góp của doanh nghiệp nhà nước vào ngân sách 77 Biểu đồ 3.4: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của doanh nghiệp nhà nước 89

Biểu đồ 3.6: Tỷ lệ tham gia các loại hình bảo hiểm 89 Biểu đồ 3.7: Cơ cấu vốn đầu tư và đóng góp GDP của các thành

Biểu đồ 3.8: Hiệu quả đầu tư trung bình theo khối doanh nghiệp

của Bảng xếp hạng VNR500 năm 2014 99

Biểu đồ 3.10: Giảm lượng lao động trong các doanh nghiệp nhà nước 103 Biểu đồ 3.11: Tỷ lệ tạo ra việc làm mới 104 Biểu đồ 3.12: Mức độ người tiêu dùng hiểu quyền của mình 120 Hình 2.1: Mô hình kim tự tháp trách nhiệm xã hội của doanh

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thuật ngữ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (TNXHDN) ra đời vào những năm 1950 của thế kỷ 20, và kể từ đó cho đến nay đã có nhiều cách định nghĩa của các học giả khác nhau về thuật ngữ này Tuy nhiên,dù cách thể hiện, hình thức diễn đạt ngôn từ có khác nhau, song nội hàm phản ánh của TNXHDN về cơ bản có điểm chung là nhằm tuyên truyền và kêu gọi các doanh nhân bên cạnh lợi nhuận không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các doanh nghiệp (DN) gây ra cho xã hội cũng như môi trường, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội (TNXH) sẽ góp phần bảo đảm cho DN và xã hội cùng phát triển bền vững Ngày nay, TNXHDN đã trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết mà hầu hết các quốc gia và DN trên thế giới phải tuân thủ Đối với các nước phát triển, TNXHDN được xem là một trong những chiến lược quan trọng cho sự phát triển bền vững, là cơ sở giảm chi phí và tăng năng suất; Tăng doanh thu, nâng cao giá trị thương hiệu và uy tín của DN; Thu hút được nguồn lao động giỏi; Sản phẩm và hàng hóa dịch vụ dễ tiếp cận được với thị trường thế giới; Bảo vệ tốt môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và nó cũng được xem là "triết lý" kinh doanh của các DN Chính lý do đó, áp dụng TNXH đối với các DN là nguyên tắc bắt buộc Đồng thời, những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì mỗi DN trong hoạt động kinh doanh luôn là một bộ phận hữu

cơ của nền kinh tế xã hội, những hành vi quyết định hướng kinh doanh cũng như phương thức kinh doanh của họ đều tuân theo những tiêu chuẩn và quy định của xã hội trên cả phương diện luật pháp cũng như đạo đức Trong đó, chuẩn mực đạo đức trở thành phẩm chất không thể thiếu đối với mỗi người kinh doanh và đối với từng

DN Bên cạnh các chuẩn đạo đức, là hệ thống pháp luật hoàn chỉnh đã giữ vai trò chủ yếu trong việc ngăn chặn hoạt động kinh doanh vi phạm những chuẩn mực đạo đức Hệ thống các thể chế, cùng đạo đức kinh doanh hoàn chỉnh và việc tuân thủ nghiêm túc chính là điều kiện để các DN dễ dàng thực hiện TNXH Trong khi đó tại các nước đang phát triển, do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện nên cơ hội phát triển kinh tế và xã hội bị hạn chế bởi độc quyền, tham nhũng và những lợi ích nhóm Vì lẽ đó, nên từ nhận thức cho đến thực hiện trách nhiệm đối với xã hội của các DN không phải là việc dễ dàng Với Việt Nam, tuy là quốc gia đi sau trong việc

Trang 7

tiếp cận vấn đề TNXHDN của thế giới Mặc dù đã có những thay đổi ngày càng tích cực hơn, tuy nhiên cả về nhận thức lẫn thực tiễn thể hiện, cần thấy đây vẫn là vấn đề còn khá mới mẻ đối với không ít DN Phần nhiều DN nhận thức sai ý nghĩa và thực chất về TNXHDN - TNXH chỉ đơn giản là xây dựng hình ảnh của DN để thu hút các nhà đầu tư, khách hàng hoặc làm từ thiện

Quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam phải tuân thủ những "luật chơi" nhất định, nếu không sẽ bị loại, trong đó TNXHDN là một trong những luật chơi mà các DN cần phải tuân thủ Các DN Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nói riêng buộc phải đáp ứng được những yêu cầu khắc khe về quan

hệ lao động, vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường… Nếu DN không thực hiện thì các đối tác - khách hàng sẽ tẩy chay Hơn nữa, trong quá trình hội nhập kinh tế, các hàng rào thuế quan được bãi bỏ thay vào đó là những hàng rào phi thuế quan như kỹ thuật, an ninh, con người,… được các nước lập ra nhằm bảo hộ cho hàng nội địa DN Việt Nam phải vượt qua để xuất khẩu hàng hóa sang các nước đó, cũng là điều kiện để cạnh tranh ngay trên "sân nhà" Đó là xu thế tất yếu, nếu không thực hiện tốt, không vượt qua được thì Việt Nam sẽ bị lệ thuộc cả về kinh tế cho đến các vấn đề khác của xã hội Với vai trò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế, mang đến thịnh vượng của Việt Nam, hơn bao giờ hết, DNNN đang có những cơ hội và trách nhiệm chứng tỏ vị thế của mình như một thiết chế kinh tế, một thực thể, một chủ thể quan trọng trong xã hội để tăng GDP, giải quyết những vấn đề của xã hội, tạo ra việc làm, cùng với đó là đem lại cho nó sự phồn vinh Tuy nhiên, nhận thức sai về TNXH, cố tình vi phạm TNXH - với những hành vi kinh doanh thiếu trách nhiệm của nhiều DNNN thời gian qua đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng như: Hiệu quả kinh doanh thấp, còn nhiều DN thua lỗ làm thất thoát nguồn vốn rất lớn đã đẩy nợ công tăng cao; Khai thác thiếu khoa học làm kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường; Nhiều quyền lợi của người lao động không được bảo đảm; Gian lận kinh doanh, không rõ ràng trong báo cáo tài chánh… Đó là những vấn nạn ở Việt Nam, gây mất lòng tin trong nhân dân

Những thành tựu đạt được, cùng bên cạnh đó với những hạn chế yếu kém của các DNNN đã đặt ra nhiều vấn đề khách quan cần phải nghiên cứu, bên cạnh những vấn đề chung về DNNN cũng rất cần một cách nhìn định vị xem DNNN đã thực hiện được những trách nhiệm gì cho xã hội TNXHDN đã được tiếp cận từ các góc nhìn kinh tế

Trang 8

học, luật học, đạo đức học, khoa học về môi trường… Song vẫn rất cần một tiếp cận triết học để khái quát hóa vấn đề trên ở tầm nhận thức xã hội, xây dựng định hướng thực hiện

TNXHDN một cách hệ thống Do vậy, lựa chọn "Trách nhiệm xã hội của các doanh

nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay" cho Luận án

tiến sỹ triết học của mình nó có ý nghĩa lý luận cũng như cả về thực tiễn đang đặt ra Chính vì tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu đã thôi thúc tác giả chọn nội dung này

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án phân tích những thành tựu, hạn chế của các DNNN ở Việt Nam trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội của quá trình hội nhập quốc tế; Đề xuất, luận giải những giải pháp nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong thời gian tới

- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDNNN

ở Việt Nam trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá trình hội

nhập quốc tế

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Từ 2011 đến nay

- Phạm vi về không gian: Ở Việt Nam

- Phạm vi về nội dung: Từ cách tiếp cận và luận giải TNXHDNNN dưới góc nhìn triết học, luận án phân tích kết quả, hạn chế trong việc thực hiện TNXHDNNN

ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số định hướng, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong thời gian tới

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin

Trang 9

nói chung, triết học Mác - Lênin nói riêng Trong đó, phép biện chứng duy vật cũng như phép biện chứng duy vật về lịch sử, mà chủ yếu là biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Đồng thời, quán triệt chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của NN Việt Nam về phát triển đất nước, nhất là về xây dựng NN pháp quyền dựa trên nền tảng kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập quốc tế

Luận án cũng được thực hiện trên cơ sở tiếp thu kết quả của những công trình trong và ngoài nước thời gian qua có liên quan đến vấn đề TNXHDN nói chung và TNXHDNNN nói riêng

- Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên phương pháp luận biện chứng duy vật với việc sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: Thống nhất lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, diễn dịch - quy nạp, so sánh - đối chiếu, khái quát hóa, thống kê,…

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án trình bày cơ sở lý luận về TNXH và TNXHDNNN, những yêu cầu bắt buộc các DNNN thực hiện TNXH Mô tả những TNXHDNNN, trên cơ sở đó phân tích những thành tựu và hạn chế về việc thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay dưới góc độ Triết học Từ phân tích chỉ ra những hạn chế, luận án đề xuất một số khuyến nghị đối với NN, DN, các hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp, người lao động và người tiêu dùng phải thực hiện để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện TNXHDNNN trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Trang 10

nghiên cứu về đạo đức và văn hóa kinh doanh trong DN ở các trường đại học, cao đẳng Luận án cũng đưa ra một số kiến nghị là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản

lý kinh tế, các chủ DN, các hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp, người lao động và người tiêu dùng quan tâm đến vấn đề TNXHDN

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Nghiên cứu về khái niệm TNXHDN tại Việt Nam cũng khá phong phú bởi

nhiều tác giả dưới những góc độ khác nhau như: "Trách nhiệm xã hội của doanh

nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO và hội nhập kinh tế quốc tế" của Lê

Thanh Hà [61]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Michel Capron và Françoise Quairel-Lanoizelée (Dịch giả: Lê Minh Tiến, Phạm Như Hồ) [27]; "Trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Ngọc Thắng [118]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu đổi mới trong quản lý nhà nước ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức [39]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam" của Trần Hồng Minh [92];

"Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam theo khung tham chiếu của Hiệp

ước Toàn cầu (Global Compact)" của Nguyễn Văn Thắng [122]; "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh cá thể đối với người lao động: Nghiên cứu trường hợp ở thành phố Hồ Chí Minh" của Nguyễn Thị Minh Châu

[30]; "Đạo đức kinh doanh và Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Nguyễn Thị Lan Hương [72]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Hãy hành động, thôi

hô "khẩu hiệu"" của Hà Tôn Vinh [165]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam" của Trương Nam Thắng, Margaret Mckee [116]…

Những tác giả trên chưa đưa ra khái niệm riêng của mình về TNXHDN, họ chỉ dẫn giải những khái niệm phổ biến nhất hiện nay của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: Hội đồng thương mại thế giới, Ngân hàng thế giới, Liên hiệp quốc, Tổ chức

Trang 12

hợp tác và phát triển kinh tế (OEDC), Ủy ban Thương mại thế giới về phát triển bền vững (WBCSD), một số tổ chức phi chính phủ (NGO), một số công ty đa quốc gia… Điểm chung của các tác giả đều cho là khái niệm TNXHDN được hiểu theo nhiều cách khác nhau, do: Phụ thuộc vào truyền thống, điều kiện văn hóa của quốc gia yêu cầu đối với các DN; Do không gian, thời gian tranh luận Và các tác giả đều thống nhất là nội hàm khái niệm TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của DN đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động Các ứng xử bao gồm: Trách nhiệm với khách hàng; Trách nhiệm với nhân viên; Trách nhiệm với đối tác kinh doanh; Trách nhiệm với môi trường; Trách nhiệm với cộng đồng; Trách nhiệm với các nhà đầu tư

Có thể nói, đó là những công trình tham khảo có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả luận án trong việc nghiên cứu lịch sử và nội hàm của khái niệm TNXHDN

- "Một số vấn đề về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của

Lê Đăng Doanh [45] đã cho rằng, TNXHDN được coi là thước đo cơ bản của các

DN tại các quốc gia phát triển, và phần lớn các DN thực hiện phong trào này một cách tình nguyện và luôn chủ động Còn ở Việt Nam, TNXHDN được nhận thức và bước đầu thực hiện đã mang lại những hiệu quả nhất định Tuy nhiên, còn nhiều hạn chế đòi hỏi các DN phải tiếp tục nhận thức và hoạt động thực tiễn tích cực Từ việc dẫn giải nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm TNXHDN, tác giả cho rằng:

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp có thể được định nghĩa ngắn gọn như một sự cam kết của công ty trong ứng xử phù hợp với lợi ích của xã hội trong các hoạt động liên quan đến lợi ích của khách hàng nhờ cung ứng nhân viên, cổ đông, cộng đồng, môi trường Trong đó trách nhiệm xã hội được coi là một phạm trù của đạo đức kinh doanh có liên quan đến mọi hoạt động kinh doanh của DN [45, tr.202]

- "Trách nhiệm doanh nghiệp ở Việt Nam: Sự thách thức đối với doanh nghiệp,

chính phủ và xã hội dân sự" của Gerd Mutz [57] cho là, sự phát triển của xã hội sẽ dần

xóa bỏ ranh giới giữa lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, kinh tế và xã hội không thể xem là những lĩnh vực độc lập và không liên hệ gì với nhau Những yêu cầu về tính công bằng trong thương mại, điều kiện lao động và nền sản xuất thân thiện với môi trường đã trở thành những nội dung trọng tâm TNXHDN Từ đó tác giả cho rằng:

Trang 13

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm cả trách nhiệm xã hội lẫn trách nhiệm với môi trường, đề cập tới các hoạt động được tiến hành trong phạm vi kinh doanh cốt lõi (trọng tâm) của doanh nghiệp - đó là các hoạt động kinh tế của DN, bao gồm các lĩnh vực xã hội, như công bằng thương mại, cải thiện các điều kiện làm việc, kiểm soát chuỗi giá trị gia tăng và những vấn đề như (quy trình) sản xuất thân thiện với môi trường ở các cơ sở trong và ngoài nước [57]

- "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách trong việc thực hiện trách

nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam" của Phạm Văn Đức [55] đã cho rằng,

thuật ngữ TNXHDN đang được hiểu theo nhiều cách khác nhau, nhưng nhìn chung

có hai quan điểm đối lập nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, DN không có trách nhiệm gì đối với xã hội mà chỉ có trách nhiệm với cổ đông và người lao động của

DN, còn NN phải có trách nhiệm với xã hội, DN đã có trách nhiệm nộp thuế cho

NN Quan điểm thứ hai cho rằng, với tư cách là một trong những chủ thể của nền kinh

tế thị trường, các DN đã sử dụng các nguồn lực của xã hội, khai thác các nguồn lực tự nhiên và trong quá trình đó, họ gây ra những tổn hại không tốt đối với môi trường tự nhiên Vì vậy, ngoài việc đóng thuế, DN còn có trách nhiệm bảo vệ môi trường, cộng đồng, người lao động, v.v… Tác giả cho là, ở Việt Nam trong những năm gần đây, người ta thường sử dụng định nghĩa của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới về TNXHDN Theo đó,

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững, thông qua những hoạt động nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người lao động và các thành viên trong gia đình họ, cho cộng đồng và toàn xã hội, theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như sự phát triển chung của xã hội Nói cách khác, doanh nghiệp muốn phát triển bền vững luôn phải tuân theo những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển nhân viên và phát triển cộng đồng [55, tr.18-19]

Từ phân tích các định nghĩa thì ông đã kết luận, TNXHDN thể hiện ở các yếu tố: 1, bảo vệ môi trường; 2, đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3, thực hiện trách nhiệm cho nhà cung cấp; 4, bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5, quan hệ tốt với người lao động; 6, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong DN [55, tr.19]

Trang 14

Có thể nói đây là bài viết khá phong phú về lịch sử hình thành và phát triển khái niệm TNXHDN, tác giả cũng đã dẫn giải nhiều khái niệm về TNXHDN của các nhà khoa học, các tổ chức kinh tế Và nội dung khái niệm của ông nội hàm cũng rất rộng và bao quát những vấn đề xã hội mong muốn các DN thực hiện trách nhiệm của mình đối với xã hội

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam và những vấn đề còn bất

cập" của Võ Khắc Thường [137] đã nhận định, ở Việt Nam đa phần các học giả đều

đồng ý TNXHDN có hai ý chính: Một là, phát triển kinh doanh của chính DN để tạo ra giá trị thặng dư lớn cho xã hội; Hai là, có trách nhiệm với xã hội, cụ thể là môi trường

xung quanh Từ đó tác giả cho rằng "TNXHDN là nghĩa vụ của DN vừa phải hành động, bảo vệ cải thiện phúc lợi cho xã hội cũng như lợi ích của DN" [137, tr.77]

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến cấu trúc TNXHDN

- "Vai trò của Nhà nước và vấn đề Trách nhiệm xã hội" của Nguyễn Văn

Thức [136] đã cho rằng, TNXH bao gồm ba nội dung cơ bản: 1, quan hệ giữa người với người cùng chung sống, hợp tác khoan dung với nhau trong xã hội; 2, sự gắn bó

(đoàn kết, cấu kết) giữa cá nhân với cộng đồng xã hội; 3, đóng góp vào bảo vệ và phát triển của cộng đồng và xã hội Sự đóng góp này thể hiện ở 3 mức độ "Tự nhiên, tự nguyện và nghĩa vụ" [136, tr.17]

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam"

của Trần Hồng Minh [92] đã cho rằng, DN hiện đại chỉ được xem là có TNXH khi: Đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, tức là phải thể hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, đây

là một tiêu chí rất quan trọng đối với người tiêu dùng; Phải biết quan tâm đến người lao động, người làm công cho mình không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần, buộc người lao động làm việc đến kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động là điều hoàn toàn xa lạ với TNXHDN; Phải tôn trọng quyền bình đẳng nam

nữ, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; Không được phân biệt đối xử, từ chối hoặc trả lương thấp giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; Phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khoẻ người tiêu dùng, đây cũng là một tiêu chí rất

Trang 15

quan trọng thể hiện trách nhiệm của DN đối với người tiêu dùng; Dành một phần lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng Vì cộng đồng và san

sẻ gánh nặng với cộng đồng đang là một mục tiêu mà các DN có TNXH đang hướng tới bên cạnh mục tiêu phát triển lợi nhuận của mình, như các chương trình hỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú Bill Gates là một ví dụ tiêu biểu Quả thực, sẽ có nhiều trẻ em được cứu sống hơn, nhiều trẻ em được đến trường hơn,… nếu các DN sẵn sàng chia sẻ lợi ích với cộng đồng

- "Ô nhiễm môi trường - Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam"

của Phạm Thị Tuyết [153] cho là, ở Việt Nam có không ít DN hiểu chưa đúng về TNXHDN Họ thường hiểu TNXH theo nghĩa "truyền thống", tức là DN thực hiện TNXH như là một hoạt động tham gia "giải quyết các vấn đề xã hội" mang tính nhân đạo, từ thiện Với cách hiểu này, TNXHDN không mang tính bắt buộc mà là

DN "tự nguyện" thực hiện Từ đó tác giả cho rằng DN có TNXH thể hiện trên các phương diện:

Đóng thuế đầy đủ; Đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho người lao động; Bình đẳng trong đối xử với người lao động; Thực hiện tốt vấn đề vệ sinh,

an toàn thực phẩm; Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Thực hiện nghiêm túc vấn đề bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên; Tham gia vào các hoạt động từ thiện và trợ giúp xã hội [153, tr.49]

- "Từ thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tiến tới tạo lập giá trị

chung trong hội nhập kinh tế toàn cầu" của Bùi Loan Thùy [134] đã cho rằng, việc

thực hiện TNXH là yêu cầu tất yếu đối với những DN muốn xây dựng, giữ vững thương hiệu, khẳng định vị thế của mình trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu, với sự cạnh tranh ngày càng quyết liệt DN muốn phát triển bền vững luôn phải tuân thủ những chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo, phát triển nhân lực và đóng góp phát triển cộng đồng [134, tr.55]

- "Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường" của Đặng Hữu Toàn [139] đã viết: Phát triển kinh tế thị trường với tư tưởng làm giàu bằng mọi giá, khi lợi nhuận và tiền bạc có sức hấp dẫn đến mức như C.Mác nói không có tội ác nào mà con người không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ, thì chính lợi nhuận,

Trang 16

tiền bạc đó, đã trở thành chất kích thích mạnh mẽ, không gì cưỡng nổi khiến cho các thói hư, tật xấu, vô đạo đức, vô trách nhiệm, vô cảm trước đồng loại ngày càng nảy nở, phát sinh và phát triển Do vậy, trong phát triển kinh tế thị trường, khi mọi người đều lấy người khác làm phương tiện để lợi dụng cho mục đích cá nhân, vị kỷ, như C.Mác đã nói, lợi ích cá nhân đó đã khiến cho lương tâm con người trở nên lu

mờ, trách nhiệm và nghĩa vụ đạo đức bị che khuất, nghĩa vụ và TNXH bị lãng quên

Và mỗi khi con người trở nên vô cảm, vô tâm, vô đạo đức, vô trách nhiệm trước những hiểm họa đang đe dọa trực tiếp đến sự sống, sự an nguy tính mạng con người, họ sẵn sàng sản xuất, kinh doanh những sản phẩm, những hàng hóa không chỉ bất chấp sự hủy hoại môi trường sống, mà còn bất chấp cả tiêu chuẩn an toàn vệ sinh, dẫu vẫn biết đó là cái cần thiết cho sức khỏe con người [139, tr.37-38]

- "Trách nhiệm xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường" của Đỗ Hoài Nam

[94] cho là, TNXHDN được thể hiện một cách cụ thể trên các yếu tố, các mặt, như:

1, bảo vệ môi trường; 2, đóng góp cho cộng đồng xã hội; 3, thực hiện tốt trách nhiệm với nhà cung cấp; 4, bảo đảm lợi ích và an toàn cho người tiêu dùng; 5, quan

hệ tốt với người lao động; 6, đảm bảo lợi ích cho cổ đông và người lao động trong

DN Trong đó, bốn yếu tố đầu tiên thể hiện trách nhiệm bên ngoài DN, còn hai yếu

tố cuối thể hiện trách nhiệm bên trong, nội tại của DN [94, tr.22]

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp về vấn đề sinh thái và ô nhiễm môi

trường ở Việt Nam hiện nay" của Trần Nguyên Việt [162] đã viết: Công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước là chủ trương đúng đắn của Đảng và NN, song việc thực hiện

nó như thế nào lại đòi hỏi các cấp các ngành phải hướng tới sự đồng bộ và hài hòa của ba mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế, phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường và giải quyết công ăn việc làm cho người dân Điều đó hoàn toàn phù hợp với trách nhiệm của DN, bất kể đó là DN lớn, nhỏ hay vừa, với ba nội dung cơ bản sau: 1, trách nhiệm về kinh tế, tức là bảo đảm cho việc sản xuất kinh doanh của DN

có lãi; 2, trách nhiệm trả công cho người lao động thỏa đáng, đồng thời đóng góp phần mình vào việc giải quyết các vấn đề ASXH và sự phát triển phồn vinh của xã hội; 3, trách nhiệm sinh thái, tức là hoạt động của DN không dẫn đến khủng hoảng

và những thảm họa sinh thái [162, tr.305]

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và Nhà nước trong việc bảo đảm

công bằng xã hội" của Nguyễn Ngọc Hà [59] đã viết: Những lợi nhuận chỉ chính

Trang 17

đáng khi DN không gây ra sự bất công bằng Các DN cần phải thực hiện đầy đủ trách nhiệm về mặt pháp luật đối với NN và đối với người lao động trong DN Trên thực tế, không phải DN nào cũng hoàn thành trách nhiệm về mặt pháp luật của mình

và không phải mọi DN trốn tránh trách nhiệm về mặt pháp luật đều bị pháp luật trừng phạt Đó là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra sự bất công bằng Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm bắt buộc về mặt pháp luật, thì DN vẫn chưa thực hiện đầy đủ TNXH của mình trong việc bảo đảm công bằng Bên cạnh việc phải hoàn thành trách nhiệm về mặt pháp luật để bảo đảm công bằng, DN còn phải thực hiện trách nhiệm mà pháp luật không bắt buộc đối với người lao động trong DN và đối với xã hội Những việc làm thể hiện trách nhiệm đó

là tăng lương, giảm giờ làm, trợ cấp cho người lao động trong DN [59, tr.139]

- "Doanh nghiệp xã hội sẽ là giải pháp vững bền cho các vấn đề toàn cầu"

của Richard Welford [110] đã cho rằng, TNXHDN không chỉ là một ý tưởng được chào đón về khía cạnh đạo đức TNXH còn giúp tăng cường sức mạnh của thương hiệu, danh tiếng, sự nhận biết và lòng trung thành Khởi điểm từ khía cạnh cơ bản như người lao động, với những chính sách tạo dựng môi trường làm việc tốt, an toàn, đảm bảo sức khỏe và bảo vệ quyền lợi, DN không khó có được sự chung thủy của công nhân viên trong ngành, qua đó còn cải thiện hình ảnh DN, thu hút đầu tư, tạo dựng quan hệ đối tác Việc tiết kiệm năng lượng, tài nguyên sẽ giúp cắt giảm chi phí, tăng uy tín cạnh tranh, hướng đến gia tăng tính bền vững trong phát triển DN

Tóm lại, dù có nhiều cách luận giải khác nhau về cấu trúc TNXHDN, thế nhưng điểm chung của các tác giả thì cấu trúc đó bao hàm 7 vấn đề DN phải thực hiện như sau: 1, DN phải đảm bảo hoạt động của mình không gây ra những tác hại đối với môi trường sinh thái, thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuất, hoạt động kinh doanh của mình; 2, phải biết quan tâm đến người làm công cho mình và người thân của họ không chỉ về mặt vật chất mà còn về mặt tinh thần; 3, phải tôn trọng quyền bình đẳng giới tính, không được phân biệt đối xử về mặt giới tính trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa trên sự công bằng về năng lực của mỗi người; 4, không được phân biệt đối xử về mặt sắc tộc, giữa người bình thường và người bị khiếm khuyết về mặt cơ thể hoặc quá khứ của họ; 5, phải cung cấp những sản phẩm có chất lượng tốt, không gây tổn hại đến sức khỏe người tiêu

Trang 18

dùng; 6, phải biết dành một phần lợi nhuận đóng góp cho các hoạt động trợ giúp cộng đồng, bởi DN luôn tồn tại trong lòng một cộng đồng nào đó nên không thể chỉ biết có bản thân mình; 7, phải tham gia kiến tạo hòa bình và an ninh của quốc gia cũng như thế giới

* Những nghiên cứu liên quan đến tầm quan trọng của việc thực hiện TNXHDN

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập

WTO và hội nhập kinh tế quốc tế" của Lê Thanh Hà [61] đã cho rằng: Cần thiết phải

thực hiện TNXHDN trong bối cảnh Việt Nam là thành viên chính thức của WTO với những lý do như: TNXH là yêu cầu bắt buộc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; Thực hiện TNXH mang lại nhiều lợi ích cho cả DN, người lao động, khách hàng, cộng đồng và xã hội; Thực hiện TNXH sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi hệ thống pháp luật quốc gia; Thực hiện TNXH sẽ góp phần làm giảm thiểu các yếu tố gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bền vững của đất nước [61, tr.59]

- "Kinh tế thị trường và trách nhiệm xã hội" của Nguyễn Trọng Chuẩn [36]

đã cho rằng, kinh tế thị trường trong điều kiện toàn cầu hoá hiện nay đã tạo cho nhân loại một lực lượng sản xuất khổng lồ mà các thế kỷ trước người ta chưa thể mường tượng được Những luật lệ của kinh tế toàn cầu được nhiều nước chấp nhận, tuân thủ và do vậy chúng hạn chế bớt được phần nào mặt trái do kinh tế thị trường gây ra Tác giả làm rõ vai trò của việc thực hiện TNXH để hạn chế tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường, ông đã viết:

Tuy nhiên, không vì thế mà có thể coi kinh tế thị trường với các luật lệ của nó là chiếc đũa thần vạn năng có thể loại bỏ được tất cả những gì là tiêu cực ẩn chứa trong nó Cho nên, cùng với trách nhiệm về mặt luật pháp thì trách nhiệm đạo đức hay nói rộng hơn là trách nhiệm xã hội của những người tham gia kinh tế thị trường có vai trò không nhỏ Chính tinh thần, trách nhiệm xã hội của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và nói chung là của những người tham gia thị trường sẽ góp phần hạn chế và giảm bớt những tác động tiêu cực, hay mặt trái của kinh tế thị trường, qua

đó thúc đẩy sự phát triển và làm lành mạnh các quan hệ xã hội [36, tr.43] Tác giả khẳng định: "Ý thức về TNXH sẽ giúp những người sản xuất, kinh doanh

tự điều chỉnh các hoạt động của mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực đạo đức để hướng tới cái lợi, cái thiện và cái đẹp" [36, tr.44]

Trang 19

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý luận và yêu cầu

đổi mới trong quản lý nhà nước ở Việt Nam" của Nguyễn Đình Cung, Lưu Minh Đức

[39] cho là, khi DN thực hiện tốt TNXH không những hình ảnh công ty được cải thiện trong mắt công chúng và người dân địa phương giúp công ty tăng doanh số bán hàng hay thực hiện các thủ tục đầu tư được thuận lợi hơn, mà ngay trong nội bộ công ty, sự hài lòng và gắn bó của nhân viên với công ty cũng tăng lên, cũng như các chương trình tiết kiệm giúp giảm chi phí hoạt động cho công ty không nhỏ [39, tr.6]

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Nhận thức và thực tế ở Việt Nam"

của Trần Hồng Minh [92] đã viết: TNXHDN đang trở thành một nội dung được quan tâm, nó sẽ đem lại cho các DN những lợi ích và cơ hội như: Khả năng gia tăng các hợp đồng mới và hợp đồng gia hạn từ các công ty đặt hàng nước ngoài; Năng suất lao động của các công ty tăng lên do công nhân có sức khỏe tốt hơn và hài lòng với công việc hơn

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp" của Đặng Đình Cung [40] đã cho

rằng, những DN chú trọng nhiều đến TNXH cũng là những DN có mức lợi nhuận cao hơn trung bình Sau khi nghiên cứu một số DN, một số nhà nghiên cứu của trường Đại học Sydney - Úc, Đại học Iowa - Mỹ đã nhận thấy kết quả tài chính một

DN tỷ lệ thuận với thành tựu về TNXHDN đó

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Việt Nam: Một số vấn đề lý luận

và thực tiễn cấp bách" của Phạm Văn Đức [56] cho là, DN nào thực hiện tốt TNXH

thì lợi ích của họ không những không giảm đi mà còn tăng thêm Những lợi ích đó bao gồm: Giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu, giảm tỷ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất và thêm cơ hội tiếp cận những thị trường mới

- "Kế toán quản trị - Từ khía cạnh lợi ích doanh nghiệp đến khía cạnh Trách

nhiệm xã hội" của Hoàng Tùng [154] đã cho rằng, TNXHDN là một yếu tố khá

quan trọng, góp phần vào sự phát triển bền vững của các DN, đồng thời mang lại lợi ích cho xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế TNXHDN được lồng ghép vào chiến lược kinh doanh của DN và trở thành điều kiện để DN phát triển, nâng cao và duy trì lợi thế cạnh tranh

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp: Một số vấn đề lý thuyết và gợi ý

chiến lược cho doanh nghiệp Việt Nam" của Nguyễn Ngọc Thắng [117] đã phân tích:

Trang 20

DN không những cần quan tâm đến lợi ích của các cổ đông mà còn phải làm thỏa mãn lợi ích của xã hội, nhiều DN đã xem TNXH là chìa khóa giúp DN trên con đường hội nhập và hướng tới phát triển bền vững TNXHDN là một yếu tố quan trọng trong chiến lược của DN và nó có thể mang lại cho DN những lợi thế cạnh tranh bền vững Nhưng nếu thực hiện không đúng hoặc bỏ qua, thì có thể ảnh hưởng tệ hại đến lợi thế so sánh

mà DN có được Tuy nhiên, DN khi thực hiện TNXH phải tập trung vào các hoạt động đem lại lợi thế cho DN TNXHDN không phải là việc cứu loài cá voi, chấm dứt đói nghèo, hoặc các mục tiêu quan trọng khác không liên quan đến hoạt động của DN Thay vào đó, TNXHDN là vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức và từ thiện mà các bên liên quan trực tiếp đến kế hoạch và hành động của DN

- "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, niềm tin và sự gắn kết với tổ chức

của nhân viên ngân hàng" của Hoàng Thị Phương Thảo, Huỳnh Long Hồ [126] đã

cho rằng, TNXHDN được xem như là một trong những triết lý kinh doanh cơ bản và luôn song hành với chiến lược phát triển, góp phần quan trọng vào sự thành công vững chắc, giúp DN thực hiện được tầm nhìn, sứ mệnh của mình Bên cạnh đó DN nào muốn đạt được sự thành công và phát triển bền vững cũng không thể không đặt niềm tin và sự gắn kết của nhân viên vào chiến lược kinh doanh của DN [126, tr.38]

- "Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nan hiện nay" của Lê

Thị Thơm [129] cho là, TNXHDN không phải mánh khóe marketing để quảng cáo hình ảnh DN, trong một phạm vi nào đó khi DN thực hiện tốt TNXH thì hình ảnh thương hiệu của DN sẽ đưa lại nhiều thiện cảm đối với khách hàng và những khách hàng tiềm năng Tuy nhiên, nếu chỉ đặt mục đích là trục lợi và thực hiện TNXH một cách hời hợt, sáo rỗng và giả tạo, thì khách hàng sẽ nhanh chóng được chứng kiến sự thật dưới sự làm việc của giới truyền thông Khi ấy, niềm tin của khách hàng còn bị đổ

vỡ nhiều hơn là khi DN không thực hiện hành động TNXH nào [129, tr.74] TNXHDN không phải chỉ là làm từ thiện như nhiều người lầm tưởng mà còn là sự tổng hợp của rất nhiều những tiêu chuẩn khác nữa mà DN cần phải thực hiện để trở thành một DN kinh doanh có đạo đức và có tầm nhìn phát triển chiến lược bền vững [129, tr.75]

Tóm lại, dù được luận giải khác nhau nhưng nhìn chung các tác giả đều cho

là khi thực hiện tốt TNXH sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho các DN trên các mặt: Tăng doanh thu, đóng góp thiết thực vào xây dựng thương hiệu DN; Đảm bảo

Trang 21

và góp phần gìn giữ môi trường; Thu hút được nguồn lao động có chất lượng cao, trung thành về làm việc tại DN; Nâng cao tính cạnh tranh của DN, sản phẩm và hàng hóa dịch vụ hội nhập với thị trường thế giới

1.1.2 Những công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước

Liên quan đến những vấn đề TNXHDN thời gian qua đã được sự quan tâm nhất định, cụ thể là đã có nhiều công trình nghiên cứu với nhiều bài viết như trên đã tổng quan Còn về TNXHDNNN, bước đầu đã có một số tác giả đề cập đến, như:

"Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay" của Đinh Thị Cúc [41]; "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay" của Nguyễn Thị Kim Chi [31]… Tuy nhiên, việc nghiên cứu lý luận chung về

TNXHDNNN theo tìm hiểu của tác giả thì vấn đề này chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một vài khía cạnh nhất định, chưa có công trình nào đi vào phân tích sâu có hệ thống Có thể khẳng định: Cho đến nay chưa có khung lý thuyết nào hoàn chỉnh về vấn đề này, đây là điểm mới, còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục khai thác

* Những công trình nghiên cứu lý luận liên quan đến hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế ở Việt Nam

Hội nhập quốc tế ngày nay là xu thế tất yếu của nhân loại và trở thành vấn đề quen thuộc không chỉ trong giới học giả, các nhà khoa học mà cả trong đời sống xã hội Do đó, có khá nhiều các công trình, bài viết quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu xoay quanh chủ đề này

- "Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hoá - Vấn đề và giải

pháp" của Bộ Ngoại giao, Vụ hợp tác quốc tế đa phương [20] đã cho rằng, có thể

tiếp cận về hội nhập theo ba cách: 1, theo chủ nghĩa liên bang, tức là xem hội nhập

là sản phẩm cuối cùng chứ không phải là một quá trình, với quan tâm chủ yếu dành cho thể chế, hướng tới sự hình thành một NN liên bang kiểu Hoa Kỳ và Thụy Sỹ; 2, xem hội nhập trước hết thể hiện ở sự liên kết giữa các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, đào tạo trong

Trang 22

một cộng đồng an ninh hợp nhất như Hoa Kỳ, hay cộng đồng an ninh đa nguyên như Liên minh châu Âu (EU); 3, của những người theo phái tân chức năng, xem hội nhập dưới góc độ là hành vi mở rộng và làm sâu sắc quan hệ hợp tác giữa các chủ thể với nhau trong việc hoạch định chính sách [20, tr.53-54]

- "Toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế với tiến trình công

nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam" của Nguyễn Xuân Thắng [123] đã tập trung

phân tích khái niệm toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế [123, tr.21-23], chỉ ra những đặc trưng, biểu hiện mới của toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế; Những tác động và đặc biệt là các hệ lụy của toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh

tế quốc tế đối với sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung, đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam nói riêng Cùng với đó là các tác giả cũng phân tích quá trình Việt Nam tham gia vào tiến trình hội nhập toàn cầu hóa

- "Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế của Việt Nam trong bối cảnh mới" của

Nguyễn Xuân Thắng [124] đã cho rằng, khái niệm hội nhập là một cách diễn đạt khác về toàn cầu hoá Nếu toàn cầu hoá (nhìn từ góc độ thể chế) là quá trình tạo ra khung khổ phát triển chung, lôi cuốn các quốc gia đi theo, thì hội nhập quốc tế tự nó là quá trình hoá thân một cách chủ động của mỗi nước, mỗi khu vực vào trong các thực thể khu vực, toàn cầu để một mặt, thể hiện được vị thế và tính tự cường quốc gia, dân tộc, và mặt khác, tham gia loại trừ những khác biệt để mình là một bộ phận hợp thành trong các chỉnh thể khu vực và toàn cầu đó Hội nhập quốc tế là quá trình liên kết có mục tiêu, định hướng cụ thể gắn với phạm vi, cấp độ cũng như điều kiện cụ thể của mỗi nước Hội nhập quốc tế là quá trình chủ quan do hai xu thế khách quan là toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới quy định [124, tr.49-50]

- "Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Phạm Quốc Trụ

[148] đã cho rằng: Quá trình hội nhập chính trị của Việt Nam bắt đầu từ khi trở thành thành viên Liên hợp quốc từ năm 1976 Còn về hội nhập kinh tế quốc tế có thể được tính khi Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ kinh tế (năm 1978) Tuy nhiên, quá trình phát triển tư duy của Đảng về hội nhập quốc tế thực chất chỉ bắt đầu cùng với sự nghiệp đổi mới được Đại hội VI (năm 1986) khởi xướng Thuật ngữ "hội nhập kinh tế quốc tế" bắt đầu được sử dụng từ khoảng giữa thập niên 1990 cùng với quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN, tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và các thể chế kinh tế quốc tế khác [148]

Trang 23

- "Bàn thêm về khái niệm "hội nhập quốc tế"" của Đặng Đình Quý [109] đã

cho rằng, hội nhập quốc tế là hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế, là quá trình chủ động chấp nhận, áp dụng và tham gia xây dựng các luật lệ và chuẩn mực quốc tế nhằm phục vụ tối đa lợi ích quốc gia, dân tộc Ở Việt Nam, thuật ngữ hội nhập bắt đầu được đề cập lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng: "Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả" [46, tr.24]

- "Môi trường quốc tế và chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam" của

Hoàng Anh Tuấn [150] đã đưa ra quan điểm, hội nhập quốc tế là tiến trình các nước chủ động tăng cường các hoạt động gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ chung

về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế

- "Hội nhập kinh tế quốc tế: Từ quan điểm của Đảng đến thực tiễn" của

Phạm Tất Thắng [120] đã viết: Đại hội VI mở đầu cho thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng ta đưa ra chủ trương tranh thủ những điều kiện thuận lợi về hợp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật, tham gia ngày càng rộng rãi vào việc phân công và hợp tác quốc

tế trong "Hội đồng tương trợ kinh tế và mở rộng với các nước khác" Tới Đại hội VII, Đảng ta định hướng "đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ với các quốc gia, các tổ chức kinh tế" Tại Đại hội VIII, thuật ngữ "hội nhập" bắt đầu được đề cập trong các văn kiện của Đảng: "Xây dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực

và thế giới" Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh việc "chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc

tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa" Ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TW "Về hội nhập kinh tế quốc tế" Tại Đại hội X, Đảng ta đã nhấn mạnh chủ trương "chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác" Ngày 05/02/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW "Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh

và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới" Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong đó có chủ trương rất quan

Trang 24

trọng là "chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Từ "hội nhập kinh tế quốc tế" của các kỳ đại hội trước, chuyển sang "hội nhập quốc tế" một cách toàn diện là một phát triển quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng ta tại Đại hội XI Ngày 10/4/2013,

Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới Nghị quyết đã xác định rõ hội nhập quốc tế sẽ được triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt, hội nhập kinh tế phải gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế

- "Hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sau gần 30 năm đổi mới" của Nguyễn Độ [54] cho là: Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991), Việt Nam đã xác định rõ chủ trương "độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại" với phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Từ đây đã đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn mới của Việt Nam Thực hiện chủ trương này, Việt Nam đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế đối ngoại song phương và

đa phương với nhiều đối tác, dưới nhiều hình thức, trên nhiều lĩnh vực (trao đổi hàng hóa, đầu tư sản xuất, mở rộng quan hệ tài chính - tín dụng, hợp tác khoa học kỹ thuật), tạo ra môi trường kinh doanh trong nước thuận lợi và khai thác hiệu quả các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Thực tế giai đoạn đó cho thấy chủ trương đúng đắn của Đảng đã đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Doanh nghiệp nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước điều tiết nền kinh tế thông qua sử dụng các công cụ điều tiết, trong đó DN

là công cụ đặc biệt quan trọng Với vai trò và tầm quan trọng trong nền kinh tế - xã hội Việt Nam, từ lâu những vấn đề liên quan đến DNNN luôn là chủ đề được nhiều

Trang 25

người quan tâm Đã có rất nhiều bài viết phân tích về những thành tựu đạt được, và cũng có từng đó bài viết chỉ ra những hạn chế yếu kém trong hoạt động của loại

hình DN này như: "Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Trần Đăng Bộ [12]; " Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Nguyễn Khánh Ly [82]; "Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước sau thực hiện cổ phần hóa" của Nguyễn Duy Long [81]; "Doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của Phương

Ngọc Thạch [113]; "Không thể phủ nhận vai trò kinh tế nhà nước và tuyệt đối hóa

kinh tế tư nhân" của Chu Văn Cấp [28]; "Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo" của

Lê Hữu Thành [114]; "Nâng cao hiệu quả doanh nghiệp Nhà nước" của Đỗ Phú

Thọ [128]… Điểm chung của các công trình này đều cho rằng: DNNN qua nhiều lần sắp xếp, chuyển đổi từng bước được củng cố và đóng góp vào thành tựu của quá trình đổi mới Nhiều DNNN đứng vững trên thị trường, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, nắm các ngành kinh tế then chốt, đóng góp lớn cho ngân sách Tuy nhiên, hiệu quả kinh doanh và đóng góp của phần lớn DNNN còn thấp, chưa tương xứng với nguồn lực nhà nước đầu tư vẫn còn nhiều nhiệm vụ nêu ra đã thực hiện không hiệu quả Thực tế, vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế NN chưa được phát huy, nhiều DNNN đã sử dụng chính sách "kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực", tham gia thành lập các ngân hàng, công ty tài chính, đầu tư bất động sản và chứng khoán với lợi nhuận lớn, ít đầu tư vào lĩnh vực chính của mình Trình độ kỹ thuật, công nghệ lạc hậu đã và đang là lực cản lớn đối với quá trình nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của DNNN, một số đơn vị hoạt động mang tính độc quyền còn cao, nâng giá, ảnh hưởng đến thị trường; Sử dụng vốn NN nhiều nhưng hiệu quả thấp, làm ăn thua lỗ, thất thoát, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với những dự án đầu tư hàng ngàn tỉ đồng "đắp chiếu", làm trầm trọng thêm nợ xấu ngân hàng và nợ công quốc gia, gây bức xúc trong nhân dân làm tăng nợ NN, nhiều DNNN chưa gắn yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị - xã hội với hoạt động kinh doanh

Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng việc thực hiện TNXHDNNN vẫn đang có nhiều khoảng trống Đinh Thị Cúc trong luận án đã bước

Trang 26

đầu chỉ ra những thành tựu cơ bản của DNNN trong thực hiện trách nhiệm đối với

xã hội Theo tác giả thì DNNN luôn đi đầu trong tạo ra của cải vật chất cho xã hội

và làm giàu ngân sách cho NN [41, tr.63]; Cơ bản đã tạo ra nhiều công ăn việc làm mới với mức lương bình quân cao hơn mức lương bình quân của các DN trong nước [41, tr.64]; Đứng đầu trong top các DN làm ăn hiệu quả cũng như thực hiện tốt TNXH [41, tr.65]

Và cũng trong công trình này tác giả cũng đã chỉ ra những hạn chế nổi bật trong thực hiện TNXHDNNN: Đó là tình trạng về làm ăn thua lỗ, nợ nần, phá sản [41, tr.65] Tác giả chỉ ra: Tổng số nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty NN năm 2010 là 1.088.290 tỉ đồng, bình quân bằng 1,67% lần vốn chủ sở hữu; Tình hình kinh doanh kém hiệu quả, nợ nần chồng chất dẫn đến làm thất thoát vốn NN khá lớn Tính chung đến cuối năm 2010, các tập đoàn và tổng công ty NN đã đầu tư 21.814 tỷ đồng (chiếm 34% tổng vốn sở hữu) vào chứng khoán, bảo hiểm, quỹ đầu

tư, ngân hàng, bất động sản Khi các lĩnh vực này gặp khó khăn, giá trị tài sản mất giá thì các DN đều mất các khoản vốn chủ sở hữu lớn Trong giai đoạn 2006 - 2010, khu vực DNNN trung bình chỉ tạo ra khoảng 28% GDP, giảm từ mức 30% của giai đoạn 2001-2005 Một điểm đáng chú ý ở đây là gần 50% đóng góp vào GDP của khu vực DNNN là từ khai thác tài nguyên như dầu khí, khoáng sản

Khi DNNN làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất thì công ăn việc làm mà loại hình

DN này tạo ra bị giảm sút Kết quả điều tra DN của Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ trọng lao động của khu vực DNNN đã giảm rất nhanh từ mức 44% trong giai đoạn 2001-2005 xuống chỉ còn 23% trong giai đoạn 2006-2009 Không những thế, tỷ lệ tạo

ra việc làm mới cũng giảm một cách tương ứng từ -4% xuống -13% [41, tr.66]

Những DNNN trong lĩnh vực công ích đáng lẽ phải đi đầu gương mẫu trong thực hiện TNXH, thế nhưng tình trạng lãnh đạo nhận lương cao bất thường, đối xử bất bình đẳng với người lao động đã gây nên dư luận không tốt Tác giả chỉ ra tình hình thực tế về chế độ lương của 3 công ty dịch vụ công ích thành phố, gồm: Công

ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên (CT1TV) Thoát nước đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, CT1TV Chiếu sáng công cộng Thành phố Hồ Chí Minh, CT1TV Công trình giao thông Sài Gòn, chỉ riêng trong năm 2012, số tiền lương đã chi sai lên đến hơn 6 tỉ đồng [41, tr.66-67]

Trang 27

Một số DNNN cũng tham gia phá rừng, khái thác tài nguyên bừa bãi [41, tr.67] Tác giả luận án cũng đã chỉ ra hai nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trong thực hiện TNXHDNNN: Một là, Quy mô của DNNN lớn và nhiều cho nên dẫn đến sự kiểm soát lỏng lẻo [41, tr.67]; Hai là, tình trạng đầu tư ra ngoài ngành của nhiều DNNN đã đánh mất đi lợi thế cạnh tranh, lợi thế so sánh của mình Chính do sự phân tán các nguồn lực và thiếu kinh nghiệm của bộ máy quản lý, bên cạnh đó kiểm soát lỏng lẻo đã dẫn đến những hệ lụy của nó [41, tr.69]

* Những công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay

Với vị trí, vai trò và tầm quan trọng của DNNN trong nền kinh tế xã hội, cùng với những hạn chế của nó, nên việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của DNNN

là chủ đề được cả xã hội quan tâm Vì lẽ đó có rất nhiều bài viết của nhiều tác giả cho vấn đề này Còn cụ thể về vấn đề liên quan các giải pháp nhằm nâng cao TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay vẫn còn thiếu,

ví như Đinh Thị Cúc trong luận án tiến sỹ của mình đã chỉ ra những hạn chế nổi bật trong thực hiện TNXHDNNN Tuy nhiên, tác giả chưa đề ra những giải pháp cụ thể

để nhằm phát huy TNXHDNNN hiện nay Có thể nói đây là một trong những khoảng trống lớn trong việc nghiên cứu

1.3 GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU, LÀM SÁNG TỎ THÊM

1.3.1 Giá trị của những công trình đã nghiên cứu

Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án được tác giả chọn

để tổng quan đã bàn khá rõ những vấn đề lý luận về TNXHDN, đều có giá trị nhất định đối với luận án trên cả ba nội dung:

Thứ nhất, những công trình nghiên cứu trên đã trình bày khá cụ thể về khái

niệm TNXHDN, cấu trúc và tầm quan trọng của việc thực hiện TNXHDN

Thứ hai, những công trình nghiên cứu trên ở những góc độ nhất định đã phân

tích được những ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện TNXHDN nói chung và DN

ở Việt Nam nói riêng

Thứ ba, những công trình nghiên cứu trên cũng đã đưa ra một số quan điểm và

những giải pháp chung chủ yếu để tiếp tục phát huy TNXHDN ở Việt Nam hiện nay

Trang 28

Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống từ góc độ

lý luận cho đến thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện TNXHDNNN trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay, đó là khoảng trống lớn để tác giả Luận án tiếp tục thực hiện

1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm

Trên cơ sở tổng quan những công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án, chúng tôi nhận thấy có một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm như sau:

Một là, tiếp tục nghiên cứu lý luận làm sáng tỏ vai trò của việc thực hiện

TNXHDN qua thực tiễn Việt Nam hiện nay

Hai là, khái quát những TNXHDNNN, từ đó phân tích chỉ ra thực trạng việc

thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay

Ba là, nghiên cứu đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao việc

thực hiện TNXHDNNN ở Việt Nam trong quá tình hội nhập quốc tế hiện nay

Như vậy, có thể nói, đề tài luận án là sự kế thừa kết quả nghiên cứu trước đó

về những vấn đề lý luận TNXHDN Tuy nhiên, cho đến nay những khoảng trống về mặt lý luận cũng như cả về thực tiễn và tầm quan trọng nghiên cứu TNXHDNNN ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay đã thôi thúc tác giả lựa chọn vấn

đề "Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam trong quá

trình hội nhập quốc tế hiện nay" để làm đề tài nghiên cứu của luận án

Tiểu kết chương 1

Tại Việt Nam hiện nay, vấn đề TNXHDN được các nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách, DN quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau Có người chú trọng đến lĩnh vực lý luận về TNXHDN, có người quan tâm vấn đề thực tiễn thực thi TNXHDN… Các nhà nghiên cứu cho rằng, đây là vấn đề quan trọng mà các DN cần phải quan tâm và thực hiện trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế quốc tế hiện nay Để giải quyết những nhiệm vụ do luận án đặt ra, tác giả đã tổng quan tình hình nghiên cứu theo nội dung chính các chương của luận án

Giá trị của các công trình tổng quan đã cung cấp cho tác giả luận án những luận cứ lịch sử để thấy rõ những kết quả nghiên cứu của các công trình đi trước

Trang 29

Chương 2 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

2.1 TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP

2.1.1 Khái niệm trách nhiệm, trách nhiệm xã hội

Trách nhiệm cũng như trách nhiệm xã hội - TNXH (Social Responsibility) là những thuật ngữ xuất hiện rất sớm và được sự quan tâm từ lâu trên thế giới, đặc biệt đối với các quốc gia phát triển Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện thuật ngữ này còn tương đối mới, cho nên việc làm rõ nội hàm của nó là điều cần thiết

* Khái niệm trách nhiệm

Thuật ngữ "trách nhiệm" đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử xã hội loài người, ở phương Đông trước đây nó thường dùng đồng nhất với các khái niệm

nghĩa, nghĩa vụ, bổn phận… Như trong Luận ngữ, chúng ta gặp khoảng 24 lần Khổng Tử sử dụng chữ nghĩa Chẳng hạn, ông nói, "Thấy được lợi, nghĩ tới

nghĩa" [Luận ngữ, Quí thị, 10] Nghĩa ở đây đóng vai trò điều chỉnh hành vi của

con người, cảnh tỉnh con người nên hay không nên, được phép hay không được

phép làm điều gì đó có phù hợp với đạo nghĩa hay không Ngay đến người quân

tử, dù bản chất có can đảm đến mấy, cũng phải đặt nghĩa lên trên "Tử Lộ hỏi

rằng, "Người quân tử có chuộng đức dũng không?" Khổng Tử nói rằng, "Người quân tử coi điều nghĩa là trên hết Quân tử có dũng mà không theo đạo nghĩa thì

làm loạn, tiểu nhân có dũng mà không theo đạo nghĩa thì làm trộm cướp" [Luận

ngữ, Dương hoá, 22] Qua đó có thể hiểu, "nghĩa trở thành bổn phận, thành nghĩa

vụ của người quân tử, là sự gắn bó giữa bản thân mình và cộng đồng, là bổn phận của mình đối với cộng đồng"[160, tr.94] Do vậy, "nghĩa vụ được quan niệm như

là trách nhiệm của con người trước xã hội và trước người khác" Đó là tình cảm tự giác của con người đối với người khác và đối với xã hội, được con người ý thức

và tự nguyện tự giác hành động

Trang 30

Còn ở phương Tây, thuật ngữ "trách nhiệm" về mặt từ nguyên học theo tiếng

La tinh là "Respondere" là sự đáp lại, sự trả lời - phản ứng lại thử thách mà tình huống đặt ra, và phản ứng lại yêu cầu từ phía người khác Theo từ điển Triết học (1986), Nxb Tiến bộ Matxcơva thì, "Trách nhiệm là một phạm trù đạo đức và luật học

Nó phản ánh thái độ xã hội, đặc biệt là thái độ pháp luật của cá nhân đối với xã hội (đối với nhân loại nói chung), thái độ này biểu thị sự hoàn thành nghĩa vụ đạo đức của mình

và các tiêu chuẩn pháp luật" [159, tr.595] Theo Từ điển Tiếng Việt thì "Trách nhiệm là điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình" [100]

Trong sách: Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp của Michel Capron Francoise Quairel - Lanoizeleé, thì "trách nhiệm" được hiểu là điều kiện quy trách (imputability) những hành động cho chủ thể nào đó [27, tr.42]

Tóm lại, qua những cách hiểu trên cho thấy, trách nhiệm là khả năng con người ý thức được những kết quả hoạt động của mình trong mối quan hệ giữa cá thể này với cá thể khác và với cộng đồng, cũng như với môi trường sống xung quanh Đó

là những ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm làm đúng đắn, nếu sai trái thì phải chịu phần hậu quả; Hay là phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả Do vậy, "trách nhiệm" là phải bảo đảm làm tròn những sự việc được giao cho, nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu hậu quả và nó được hình thành trong quá trình điều chỉnh lợi ích của cá nhân với tư cách thành viên xã hội Con người sống và thực hiện lợi ích của mình trong một cộng đồng, một xã hội nhất định Lợi ích của mỗi người chỉ có thể thực hiện được trong một tương quan nhất định với lợi ích của người khác, của xã hội Cụ thể hơn, để thực hiện lợi ích của mình, mỗi người phải đáp ứng, ở một mức độ nào đó, lợi ích của người khác, lợi ích của xã hội Cũng như vậy, lợi ích của xã hội chỉ có thể được thực hiện khi xã hội có những bảo đảm nhất định cho lợi ích của cá nhân với tư cách thành viên xã hội Do đó, căn cứ vào đặc trưng hoạt động của chủ thể thì chúng ta có trách nhiệm cá nhân và TNXH

* Khái niệm trách nhiệm xã hội

Về khái niệm "Trách nhiệm xã hội", theo Palmer và Karen thì "TNXH là một lý thuyết đạo đức mà một thực thể (tổ chức hay cá nhân) thực hiện các nghĩa vụ nhằm

Trang 31

đem lại lợi ích cao nhất cho xã hội TNXH là nhiệm vụ của mỗi cá nhân cần phải thực hiện để duy trì sự cân bằng giữa nền kinh tế và hệ sinh thái" [173, tr.119-132]

Nguyễn Thị Kim Chi trong luận án tiến sỹ Triết học: "Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay" cho rằng: TNXH là phạm trù phản ánh sự nhận thức và hành động vì mục tiêu lợi ích, giá trị xã hội của một chủ thể xã hội theo bổn phận là một thành viên xã hội [31, tr.38]

Từ những định nghĩa trên có thể khái quát: TNXH là năng lực, bổn phận của con người ý thức được những hậu quả do hành động của mình đưa lại Cụ thể hơn,

đó là năng lực xác định được lợi ích và tác hại trong hành động của mình đối với người khác, đối với xã hội

Dưới góc độ Triết học, TNXH là khái niệm phản ánh quan hệ giữa con người với thế giới và con người với con người trên nguyên tắc tự nguyện hay được luật hóa Do đó TNXH vừa là phạm trù đạo đức vừa là phạm trù pháp lý

Nói đến yếu tố đạo đức trong TNXH là nói đến những nguyên tắc đã được xã hội thừa nhận, quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội nhưng nó chưa được luật pháp quy định Nó là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và với tiến bộ

xã hội trong quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội

Còn yếu tố pháp lý, đó là những nguyên tắc quy định những hành vi của con người bằng những văn bản pháp luật Cả đạo đức và pháp luật đều có tác dụng điều chỉnh hành vi của con người và đều hướng đến chân, thiện, mỹ, chống lại cái ác,

làm điều thiện, xây dựng cuộc sống bình yên, tươi đẹp

Như vậy, khái niệm TNXH dùng để chỉ những điều mà cá nhân, tổ chức

phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình đối với xã hội TNXH là sự phản ánh nhận thức và hoạt động của chủ thể về những bổn phận đạo đức và pháp luật cần phải thực hiện trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, vì sự phát triển lành mạnh và bền vững của toàn xã hội Do đó, TNXH

là sự ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa yếu tố pháp lý và đạo đức, nên suy cho cùng TNXH có tác dụng điều chỉnh hành vi cá nhân, tập thể, xã hội, là cơ sở để gắn kết các cá nhân với xã hội Và khi con người thực hiện tốt TNXH, nó sẽ mang lại

Trang 32

lợi ích cho bản thân mình, đồng thời cũng mang lại lợi ích cho xã hội Do đó, TNXH có vị trí và vai trò rất quan trọng không thể thiếu đối với hành vi của con người: Là cơ sở, là nền tảng để cá nhân và xã hội tồn tại, phát triển bền vững

Và tùy thuộc vào sự phát triển nhận thức về xã hội của con người ở mỗi giai đoạn khác nhau mà nội dung của khái niệm TNXH có sự phát triển và mở rộng Trong nền kinh tế thị trường của quá trình hội nhập quốc tế, khái niệm TNXH được tiếp nhận, mở rộng ở nhiều nội dung cụ thể, trong đó có khái niệm TNXHDN

2.1.2 Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và cấu trúc của nó

* Khái niệm doanh nghiệp và khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

- Khái niệm doanh nghiệp:

Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, thì DN luôn có vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước; Góp phần giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động; Phát triển DN tác động đến giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội…

Quá trình phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin,

đã làm cho các hình thức tổ chức DN cũng ngày càng đa dạng, cùng với nó là các loại hình sở hữu của DN cũng ngày càng phong phú hơn Do đó, nếu đứng trên quan điểm khác nhau thì chúng ta có thể định nghĩa về DN cũng khác nhau:

Nếu đứng trên quan điểm tổ chức thì: DN là một tổng thể các phương tiện, máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm thực hiện mục đích đề ra

Nếu trên quan điểm chức năng thì: DN là một đơn vị sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện một hoặc một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ nhằm mục đích kiếm lời

Còn theo Steven M Sheffrin (nhà Kinh tế và Giám đốc Viện Murphy) thì:

"DN là đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức nhằm tạo ra sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng" [176, tr.29]

Ở Việt Nam, tại khoản 7 điều 4 Luật Doanh nghiệp, luật số: 68/2014/QH13 thì:

"DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh" [108] Những năm gần đây DN đã

Trang 33

có bước phát triển đột biến, góp phần giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động

và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo

Để phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nên ở Việt Nam hiện nay có nhiều loại hình DN với các loại hình kinh doanh khách nhau như: Công

ty trách nhiệm hữu hạn, DNNN, công ty cổ phần, công ty hợp danh, DN tư nhân, nhóm công ty… Và việc thành lập DN để kinh doanh cũng trở lên đơn giản hơn bởi pháp luật đã được cụ thể và là một chủ thể được NN đặc biệt quan tâm khuyến khích đầu tư thành lập Cùng với đó là các dịch vụ tư vấn thành lập DN rất phổ biến trên thị trường hiện nay

Doanh nghiệp thành lập thường có những mục tiêu cơ bản là: Lợi nhuận, an toàn, vị thế của DN, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội Để đạt các mục tiêu đó một cách bền vững, thì một trong những nguyên tắc cơ bản mà các DN cần phải thực hiện, đó là phải thực hiện tốt các TNXHDN

- Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:

Khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Corporate Social

Responsibility) có lịch sử phát triển lâu dài và nội hàm của khái niệm này cũng rất

đa dạng Nó là mối quan tâm của cộng đồng DN đối với xã hội và xã hội đối với

DN trong nhiều thế kỷ

Quay về lịch sử hình thành, thì nó chính thức xuất hiện và sử dụng phổ biến vào những năm 50 của thế kỷ XX Tuy nhiên, thuật ngữ này đã manh nha sớm hơn,

cụ thể nó đã được đề cập vào những năm 1930 - 1940, trong các tác phẩm của Chester

Barnard 1938 "Chức năng của điều hành" (The Functions of the Executive), J M Clark’s 1939 "Kiểm soát xã hội của các doanh nghiệp" (Social Control of Business), và

Theodore Kreps’s 1940 "Đo lường hiệu quả xã hội của các doanh nghiệp"

(Measurement of the Social Performance of Business), các tác phẩm đã đề cập đến một

số mặt vấn đề TNXHDN Tuy nhiên, giai đoạn này nội hàm còn hạn chế và chưa phải

là chủ đề được nhiều người quan tâm Sang những năm 1950 nền kinh tế phát triển mạnh, sự tích lũy tư bản đã hình thành những tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn Tính chất của nền sản xuất kinh doanh hiện đại, với việc sử dụng lao động theo kiểu

Trang 34

dây chuyền của mô hình Fredericl Winslow Taylor và Henry Ford (Xem phụ lục 1) trong quản trị DN và đặc biệt là sự tiêu ngốn một lượng tài nguyên khổng lồ cùng với việc phát thải lượng phế thải cũng tương tự là nguyên nhân của những mối hiểm họa hủy hoại sinh quyển, sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng đe dọa kết cấu xã hội, tổn hại đến sức khỏe cộng đồng… Mặt khác, chính sự phản ứng của các hội đoàn, tổ chức phi chính phủ, của xã hội dân sự nói chung, đã tạo nên trào lưu xã hội gây áp lực khiến các

DN - đặc biệt là các tập đoàn, các công ty đa quốc gia phải có hành động thể hiện trách nhiệm của mình với xã hội Trước thực tiễn đó đòi hỏi cần phải có những cách thức giải thích mới về TNXHDN, và năm 1953 Howard R Bowen (1908-1989) công bố

quyển sách mang tính bước ngoặt: Social Responsibilities of the Businessman - Trách

nhiệm xã hội của doanh nhân Nội dung là nhằm tuyên truyền và kêu gọi người quản lý

tài sản không làm tổn hại đến các quyền và lợi ích của người khác, kêu gọi lòng từ

thiện nhằm bồi hoàn những thiệt hại mà các DN gây ra cho xã hội [118, tr.18] Tác

phẩm đã đánh dấu sự khởi đầu của thời kỳ hiện đại về cách hiểu cũng như những luận giải về khái niệm TNXHDN

Bowen cho rằng, hàng trăm DN lớn tại thời điểm đó với những hoạt động đã chạm vào nhiều vấn đề cuộc sống của người dân Trước thực tế, trong số rất nhiều

câu hỏi của xã hội đặt ra cho DN, Bowen chú ý đặc biệt là: DN có những trách

nhiệm gì để có thể đáp ứng những kỳ vọng của xã hội? [175, tr.3] Câu hỏi này là

xuất phát điểm và hướng sự chú ý của nhân loại từ đó cho đến nay Trả lời của Bowen là, mong muốn DN nên hướng mục tiêu hoạt động đến các giá trị của xã hội Hay có thể nói cách khác, đó là sự mong đợi của cộng đồng đối với DN trong việc thực hiện các hoạt động nằm ngoài DN hướng đến những vấn đề xã hội

Bowen nói TNXHDN là "ý thức xã hội" của các doanh nhân, nhà quản lý, bên cạnh lợi nhuận cần phải chú ý nhiều đến việc chịu trách nhiệm về những hậu quả hoạt động của mình gây ra cho xã hội cũng như môi trường Và đó là điều thú

vị khi bài viết của Bowen đăng trên tạp chí Fortune có đến 93,5% [175, tr.3] các doanh nhân đồng ý với ý tưởng này Từ đây, Bowen được mọi người xem là "cha

đẻ" của khái niệm TNXHDN [167, tr.24] Và kể từ đó cho đến nay đã có rất nhiều

định nghĩa khác nhau, mỗi chính phủ, tổ chức, công ty, nhà nghiên cứu nhìn nhận TNXHDN dưới những góc độ và quan điểm riêng, phụ thuộc vào điều kiện luật

Trang 35

pháp, đặc điểm và trình độ phát triển văn hóa của mình (Xem phụ lục 2) Và liên quan đến khái niệm TNXHDN theo tôi có những điểm cơ bản sau:

Một là, mỗi DN có cách trả lời độc đáo riêng, tùy thuộc vào năng lực cốt lõi của

nó và lợi ích với các bên liên quan, phụ thuộc vào truyền thống văn hóa của quốc gia yêu cầu đối với các DN

Hai là, TNXHDN về cơ bản là một triết lý hay một tầm nhìn về mối quan hệ

của DN và xã hội, một trong những yêu cầu lãnh đạo thực hiện và duy trì nó theo thời gian

Ba là, TNXHDN được cải tiến liên tục, không phải là một mốt nhất thời, bắt

đầu ít và phát triển mở rộng theo thời gian

Bốn là, nó gắn bó chặt chẽ với lợi nhuận, không thể có TNXH nếu không có lợi

nhuận Do đó, TNXH lớn nhất của DN là làm để được lợi nhuận

Năm là, bên cạnh lợi nhuận, để phát triển DN phù hợp với pháp luật hiện hành

thì đều phải gắn kết với lợi ích phát triển chung của cộng đồng xã hội Hay hiệu quả kinh doanh để phát triển DN phải đóng góp cho cân bằng, hài hòa với mục tiêu phát triển xã hội Đây là một trong những yêu cầu cơ bản để DN phát triển bền vững

Và trong nhiều khái niệm, theo chúng tôi thì khái niệm của Nhóm phát triển kinh tế tư nhân của Ngân hàng Thế giới (Xem phụ lục 2) là hoàn chỉnh, rõ ràng và dễ hiểu nhất Trong đó, yêu cầu TNXHDN phải gắn liền với vấn đề phát triển bền vững - một yêu cầu khách quan cấp thiết có tính toàn cầu của sự phát triển hiện nay Khi cạnh tranh thương trường ngày càng khốc liệt, những yêu cầu, đòi hỏi từ khách hàng ngày càng cao và xã hội có cái nhìn ngày càng khắt khe hơn đối với DN về bổn phận, trách nhiệm trước cộng đồng, xã hội thì DN muốn phát triển bền vững phải luôn tuân thủ không chỉ những chuẩn mực về bảo đảm sản xuất - kinh doanh phải có lợi nhuận, thậm chí siêu lợi nhuận mà cả những chuẩn mực về bảo vệ môi trường thiên nhiên, môi trường lao động, về thực hiện bình đẳng giới, an toàn lao động, quyền lợi lao động, quyền lợi đào tạo và phát triển nhân viên, góp phần phát triển cộng đồng, bao hàm cả các hoạt động thực hiện ASXH như nhân đạo, từ thiện…

Cũng thông qua sự phong phú các khái niệm cho thấy, TNXHDN bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến ứng xử của DN đối với các chủ thể và đối tượng có liên quan trong quá trình hoạt động Các ứng xử bao gồm: DN với khách hàng - Customers;

Trang 36

DN với người lao động - Laborers; DN với nhân viên - Employees; DN với đối tác kinh doanh - Business partners; DN với môi trường - The environment; DN với cộng đồng - Communities; DN với các nhà đầu tư - Investors

Và để DN ứng xử có trách nhiệm với các chủ thể và đối tượng có liên quan thì DN cần phải thực hiện nghiêm túc các trách nhiệm: Kinh tế; Pháp lý; Đạo đức

và từ thiện Do đó, cấu trúc cơ bản TNXHDN cũng gồm bốn yếu tố này

* Cấu trúc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Hiện nay khi nói về các yếu tố cơ bản trong TNXHDN, thì mọi người thường

và pháp lý là việc bắt buộc (Must), còn đạo đức và từ thiện là nên làm (Nice to do)

- Trách nhiệm kinh tế - Economic Responsibilities:

Trách nhiệm kinh tế chính là việc tối đa hóa lợi nhuận, cạnh tranh, hiệu quả

Là điều kiện tiên quyết, bởi DN được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân Vì vậy, chức năng kinh doanh phải luôn đặt lên hàng đầu,

đó là mục đích của các doanh nhân Do đó, C.Mác cho rằng:

Trang 37

Tư bản sợ tình trạng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận quá ít, cũng như giới tự nhiên sợ chân không Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm Được đảm bảo 10% lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được, được 20% thì nó hoạt bát hẳn lên, được 50% thì

nó trở nên thật sự táo bạo, được 100% thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người, được 300% thì không còn tội ác nào mà nó không dám phạm,

dù có nguy cơ bị treo cổ [85, tr.1056]

Trong kinh tế thị trường, kể cả kinh tế thị trường hiện đại, vẫn rất dễ làm nảy sinh ở con người tư tưởng làm giàu bằng mọi giá, khi đồng tiền và lợi nhuận có sức hấp dẫn mạnh mẽ, khi con người xem lợi nhuận là trên hết thì tiền bạc, lợi nhuận là những chất kích thích cho các thói hư, tật xấu, vô đạo đức, vô cảm, vô trách nhiệm trước đồng loại Do vậy, C Mác có nói, trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mỗi người đều coi người khác là phương tiện để mình lợi dụng Bởi vì, một khi mà lợi ích của cá nhân làm lu mờ lương tâm, che khuất trách nhiệm và nghĩa vụ đạo đức, nghĩa và TNXH, thì sự khôn ngoan, sự nhạy bén sẽ lại càng là một tai họa khó lường và không tránh khỏi tình trạng xem thường các chuẩn mực đạo đức, chuẩn pháp lý, dẫm đạp lên các giá trị chân chính Nó dễ dàng thúc đẩy con người thực hiện các hoạt động theo những cách thức trái với luân lý, đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức mà mọi xã hội đều tôn trọng [36]

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn nhận đơn giản khi cho rằng DN hoạt động duy nhất

vì lợi nhuận và bù đắp lại chi phí xã hội, cũng như "trả tiền" cho các dịch vụ công

mà DN hưởng lợi thông qua đóng thuế, thì chúng ta sẽ thấy những ô nhiễm môi truờng và chi phí xã hội… DN gây ra có thể lớn hơn rất nhiều lần lợi ích mà DN này mang lại từ tiền thuế hay tạo việc làm (như trường hợp công ty Vedan Việt Nam (năm 2008) hay gần đây là Formosa (năm 2016)

Do đó, không thể tách rời hoàn toàn giữa tính chất kinh tế và xã hội khi nhìn nhận bản chất và hoạt động của DN Trách nhiệm, là đáp ứng những điều mà xã hội mong muốn và trông đợi ở DN như một thành viên đầy đủ trong đó TNXHDN chính là lực cản cuối cùng giúp giữ DN không đi quá đà vì lợi ích kinh tế mà vi phạm các chuẩn mực đạo đức, bỏ quên những tác động tiêu cực của mình đến các thành phần khác trong xã hội Do vậy, trách nhiệm kinh tế là cơ sở cho các hoạt động của DN Phần lớn các nghĩa vụ kinh tế trong kinh doanh đều được thể chế hóa

Trang 38

thành các nghĩa vụ pháp lý như: Đối với xã hội đó là sự đóng góp, bảo vệ, phát triển cộng đồng, xã hội loài người, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; Đối với người tiêu dùng là phải sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà xã hội cần, đảm bảo chất lượng; Đối với người lao động là tạo công ăn việc làm với mức thù lao xứng đáng, cơ hội việc làm, cơ hội phát triển nghề nghiệp, điều kiện làm việc an toàn; Đối với chủ sở hữu DN là bảo tồn và phát triển các giá trị tài sản được ủy thác; Đối với các bên liên đới khác là mang lại lợi ích tối đa và công bằng cho họ

Vì vậy, để đảm bảo lợi nhuận của mình, các DN ý thức rằng không thể phát triển

mà phớt lờ sức ép của dư luận vốn vừa là khách hàng, công nhân viên hoặc cả các đối tác, chủ đầu tư trong nước lẫn quốc tế Các nhà quản lý DN quốc tế không những cần biết cách làm tăng tối đa lợi nhuận cho DN, mà còn phải ý thức rõ việc tạo nên những điều kiện để duy trì và phát triển bền vững những lợi ích kinh tế đó

- Trách nhiệm pháp lý - Legal Responsibilities:

Khía cạnh pháp lý trong TNXHDN là DN phải thực hiện đầy đủ những quy định của pháp luật Các nghĩa vụ pháp lý được thể chế hóa trong luật dân sự và hình

sự Về cơ bản, nghĩa vụ pháp lý bao gồm những nội dung sau:

Một là, điều tiết cạnh tranh: Cạnh tranh là sức mạnh của nền kinh tế thị trường

tự do dựa vào để đảm bảo các DN thoả mãn được các nhu cầu và mong muốn của người tiêu dùng Tuy nhiên, do cạnh tranh có thể dẫn đến độc quyền làm thiệt hại người tiêu dùng, cho xã hội Do vậy, khuyến khích cạnh tranh và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh là cách thức cơ bản và quan trọng để điều tiết quyền lực độc quyền Để giải quyết vấn đề này thì luật pháp sẽ làm công cụ hỗ trợ Do đó, luật cạnh tranh là yêu cầu tất yếu khách quan, nó quy định các hành vi cạnh tranh và các hành vi khác liên quan của thương nhân và nó có những nhiệm vụ cơ bản như sau:

- Khẳng định và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của doanh nhân

- Duy trì và ổn định trật tự cạnh tranh

- Góp phần hình thành ý thức cạnh tranh lành mạnh

- Góp phần khơi thông dòng chảy và điều tiết cạnh tranh

Hai là, bảo vệ người tiêu dùng: Luật pháp quy định các tổ chức kinh doanh

phải cung cấp các thông tin chính xác về sản phẩm và dịch vụ, thực hiện đúng các cam kết với người tiêu dùng trước, trong và sau khi bán hàng

Trang 39

Ba là, bảo vệ môi trường: Pháp luật bảo vệ môi trường là một lĩnh vực pháp

luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, quản

lí, bảo vệ môi trường

Bốn là, an toàn và bình đẳng: Luật pháp cũng quan tâm đến việc đảm bảo

quyền bình đẳng, quyền được sống và làm việc, quyền có cơ hội lao động như nhau của mọi đối tượng khác nhau với tư cách là người lao động Bảo vệ người lao động trước tình trạng phân biệt đối xử vì tuổi tác, giới tính, dân tộc, thể chất, ngăn chặn việc sa thải người lao động tùy tiện và bất hợp lý

Năm là, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai trái: Do những

người phát hiện tố giác sai trái thường xuyên phải chịu những rủi ro và bất hạnh Vì vậy, bảo vệ người phát giác là một trong những biện pháp có tác dụng quan trọng nhằm ngăn chặn vi phạm pháp luật, và vi phạm những giá trị đạo đức của DN

Tóm lại, thông qua trách nhiệm pháp lý, xã hội buộc các thành viên phải thực thi các hành vi được chấp nhận Các tổ chức không thể tồn tại lâu dài nếu họ không thực hiện trách nhiệm pháp lý của mình Vì vậy, những quy định pháp luật là rất quan trọng giúp tăng cường các hoạt động nhằm ngăn chặn, và loại trừ những hành

vi sai trái của DN như trên

- Trách nhiệm đạo đức - Ethical Responsibilities:

Trách nhiệm đạo đức là những quy tắc, giá trị được xã hội chấp nhận nhưng chưa được thể chế hóa thành luật Cho nên, tuân thủ luật pháp chỉ được xem là chuẩn mực tối thiểu mà xã hội đặt ra Do đó, DN còn cần phải thực hiện cả các cam kết ngoài luật Trách nhiệm đạo đức là tự nguyện, tuy nhiên trong nền kinh tế hiện đại nó có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển DN

Trách nhiệm đạo đức thể hiện ở việc ứng xử với người lao động đó là những tiêu chuẩn sử dụng lao động, quyền lợi người lao động (lương, thưởng, đãi ngộ, bố trí lao động hợp lý, được đào tạo và có cơ hội phát triển chuyên môn nghề nghiệp, môi trường làm việc ) Đây là mối quan tâm hàng đầu của người điều hành DN, nó

là cơ sở quan trọng giúp tăng năng suất lao động, tạo sự gắn kết của các thành viên trong các DN

Trách nhiệm đạo đức thể hiện đối với người tiêu dùng đó là các cam kết về chất lượng sản phẩm, dịch vụ hậu mãi, tính trung thực trong quảng bá, giới thiệu sản phẩm, sự bảo đảm an toàn sức khỏe cho cộng đồng

Trang 40

Trách nhiệm đạo đức trong việc ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội đó là DN cần ưu tiên trong đầu tư các công nghệ mới, thiết bị mới, sản phẩm thân thiện với môi trường, sử dụng tiết kiệm nguồn nguyên vật liệu, năng lượng, tìm kiếm các vật liệu mới trong sản xuất, để hạn chế rác thải… Về môi trường xã hội, các DN cần lựa chọn các phương án sản xuất, tối thiểu hóa kinh doanh những sản phẩm có tính chất nguy hại đến lối sống đạo đức xã hội, định hướng tiêu dùng cho lối sống lành mạnh; Xây dựng mối quan hệ thân thiện giữa DN với khách hàng và cộng đồng dân cư

- Trách nhiệm từ thiện - Philanthropic Responsibility:

Trách nhiệm từ thiện được xác định là những cách thức và những chiến lược của DN ảnh hưởng đến các bên liên quan, như môi trường tự nhiên - xã hội nơi DN hoạt động Bản chất xã hội của trách nhiệm từ thiện đó là những nỗ lực tự nguyện của các DN để cải thiện các vấn đề môi trường tự nhiên, xã hội, liên quan hoặc không liên quan đến hoạt động kinh doanh, trong đó nó đòi hỏi DN phải bỏ ra một khoản chi phí cho hoạt động thiện nguyện "Trách nhiệm từ thiện là những hoạt động của DN đóng góp cho xã hội vượt quá mong đợi của pháp luật, đạo đức, thương mại của DN" [169, tr.274-275] Trách nhiệm từ thiện mặc dù không bắt

buộc (Nice to do) nhưng các nhà kinh tế cho rằng: Nền kinh tế hiện đại nó không

thể thiếu với các chiến lược và thực tiễn của DN, đây là khía cạnh cao nhất, nhân văn nhất trong các khía cạnh TNXHDN Ở phương Tây, công tác nhân đạo, từ thiện thường được nhìn nhận như một hoạt động để nâng cao tính chính danh cũng như

uy tín của DN, và nó được xem như là hình thức "bảo hiểm" DN [170, tr.131-144]

Các hoạt động nhân đạo, từ thiện không mang tính một chiều Từ thiện, cùng với các cam kết lâu dài nhắm đến giải quyết các vấn đề xã hội có thể không mang lại các kết quả trực tiếp, hữu hình, nhưng lại là những khoản đầu tư chiến lược mang lại những lợi ích đáng kể trong dài hạn cho DN Vấn đề nền tảng ở đây là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa DN và xã hội - để DN phát triển thịnh vượng thì cần có một xã hội lành mạnh Do đó, DN phải đầu tư cho xã hội để phát triển môi trường

mà trong đó họ đang hoạt động, vì chính sự tồn tại của bản thân họ

Hoạt động nhân đạo, từ thiện của DN được thực hiện qua các hình thức như: Quyên góp tiền hoặc hiện vật, sử dụng các tiện ích, tài sản, hoặc dịch vụ; Đóng góp

Ngày đăng: 04/04/2018, 08:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w