1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại 4 xã thuộc huyện thới lai, TP cần thơ

100 414 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 6,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2 - Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP.. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu cho thấy

Trang 1

NGUYỄN THỊ MỸ LOAN

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 4 XÃ THUỘC HUYỆN THỚI LAI,

TP CẦN THƠ NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ MỸ LOAN

THỰC TRẠNG THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 4 XÃ THUỘC HUYỆN

THỚI LAI, TP CẦN THƠ NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

GVHD1: TS Nguyễn Thị Thi Thơ GVHD2: PGS TS Nguyễn Thanh Hà

HÀ NỘI, 2017

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo, các Khoa/Phòng Trường Đại học

Y tế công cộng đã nhiệt tình hỗ trợ tôi trong suốt 2 năm học, đặc biệt qua từng giai đoạn thực hiện đề tài tốt nghiệp này

Trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám Đốc, Khoa Xét nghiệm – Trung tâm

Y tế dự phòng Cần Thơ; Ban Giám Đốc Trung tâm Y tế huyện Thới Lai, Trạm Y tế các xã Trường Thành, Thới Tân, Đông Thuận, Trường Xuân thuộc huyện Thới Lai –

TP Cần Thơ đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi triển khai nghiên cứu này Cuối cùng chân thành cảm ơn tất cả các anh chị em đồng nghiệp, gia đình, bạn

bè đã luôn bên cạnh hỗ trợ, tạo điều kiện, động viên tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1 1 Khái niệm về thiếu máu 4

1 2 Các phương pháp đo lường thiếu máu 4

1 3 Tiêu chuẩn đánh giá và phân loại thiếu máu 5

1 4 Nguyên nhân gây thiếu máu 6

1 5 Hậu quả của thiếu máu ở phụ nữ mang thai: 8

1 6 Các biện pháp phòng chống thiếu máu: 8

1 7 Tình hình thiếu máu ở phụ nữ mang thai 10

1 8 Các thiết kế nghiên cứu dịch tễ học 17

1 9 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu – huyện Thới Lai, TP Cần Thơ 18

1 10 Khung lý thuyết 20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2 1 Đối tượng nghiên cứu: 21

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 21

2 3 Thiết kế nghiên cứu: 21

2 4 Cỡ mẫu và phương pháp cho ̣n mẫu: 21

2 5 Phương pháp thu thâ ̣p số liê ̣u 22

2 6 Các biến số nghiên cứu: 25

2 7 Tiêu chuẩn đánh giá: 25

2 8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 26

Trang 5

2 9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 27

2 10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 29

3 2 Thực trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 30

3 3 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ mang thai 33

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 40

4 1 Thực trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu 40

4 2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở PNMT 43

4 3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 51

KẾT LUẬN 53

KHUYẾN NGHỊ 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 61

PHỤ LỤC 1: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 61

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN PHỤ NỮ MANG THAI VỀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THIẾU MÁU 67

PHỤ LỤC 3: PHIẾU XÉT NGHIỆM MÁU 74

PHỤ LỤC 4: DỰ KIẾN KINH PHÍ THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 75

PHỤ LỤC 5: PHÂN LOẠI TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH 76

PHỤ LỤC 6: GIẤY CHẤP THUẬN THAM GIA NGHIÊN CỨU 77

PHỤ LỤC 7: BẢNG ĐIỂM ĐÁNH GIÁ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU Ở PHỤ NỮ MANG THAI 79

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Ngưỡng đánh giá thiếu máu 5

Bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT và phụ nữ không mang thai theo vùng sinh thái – Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010 [34] 12

Bảng 3.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=213) 29

Bảng 3.2: Đặc điểm về số lần mang thai và số con của ĐTNC 30

Bảng 3.3: Tỷ lệ thiếu máu theo đặc điểm của ĐTNC 31

Bảng 3.4: Tỷ lệ thiếu máu theo tuổi thai của ĐTNC 32

Bảng 3.5: Tỷ lệ thiếu máu theo số lần mang thai và số con của ĐTNC 33

Bảng 3 6: Mối liên quan giữa đặc điểm của ĐTNC với thiếu máu 33

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa số lần mang thai và số con của ĐTNC với thiếu máu 34

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa đặc điểm trước khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu 34

Bảng 3.9: Mối liên quan mức độ tăng cân khi mang thai của đối tượng nghiên cứu với thiếu máu 35

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu 35

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tình trạng thai nghén lần này của ĐTNC với thiếu máu 36

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa chế độ dinh dưỡng khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu 36

Bảng 3.13: Mối liên quan giữa việc uống viên sắt đúng khi mang thai của ĐTNC với thiếu máu 37

Bảng 3.14: Mối liên quan giữa việc thực hành phòng chống thiếu máu của ĐTNC với tình trạng thiếu máu 37

Bảng 3.15: Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình, cộng đồng của ĐTNC với thiếu máu 38

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa các yếu tố thuộc về dịch vụ y tế với thiếu máu 39

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai trên toàn quốc qua các năm 12 Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT (n = 213) 30 Biểu đồ 3.2: Phân loại mức độ thiếu máu ở PNMT 31

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tại Việt Nam, giảm thiểu tỷ lệ thiếu máu ở PNMT đã được đưa vào là một trong

số các mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 Thiếu máu ở PNMT để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống sau này của cả mẹ và con Do đó, việc phát hiện sớm tình trạng thiếu máu

để có giải pháp can thiệp kịp thời là rất cần thiết để bảo vệ cả mẹ và bé cũng như sự phát triển về thể chất, trí tuệ của trẻ sau này Từ những lý do này, đề tài “Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại 4 xã thuộc huyện Thới

Lai, TP Cần Thơ năm 2017” được tiến hành với 2 mục tiêu: 1 - Mô tả thực trạng

thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

2 - Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại

4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

Đề tài được thiết kế theo nghiên cứu cắt ngang có phân tích, thời gian tiến hành

từ tháng 3/2017 đến tháng 6/2017 Đối tượng tham gia nghiên cứu gồm 213 PNMT tại 4 xã được chọn thuộc huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ Phương pháp thu thập

số liệu cho nghiên cứu là phỏng vấn trực tiếp PNMT theo bộ câu hỏi soạn sẵn và lấy máu PNMT xét nghiệm để đánh giá tình trạng thiếu máu

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tại huyện Thới Lai là 20,2%; trong số PNMT bị thiếu máu, đa số thiếu máu ở mức độ nhẹ (83,7%), 16,3% thiếu máu ở mức vừa, không có trường hợp PNMT thiếu máu ở mức độ nặng Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu cho thấy các yếu tố cá nhân có liên quan đến tình trạng thiếu máu ở PNMT bao gồm chế độ dinh dưỡng trước và khi mang thai, tình trạng nghén, mức độ tăng cân, uống viên sắt khi mang thai, thực hành phòng chống thiếu máu khi mang thai; ngoài ra một số yếu tố như việc xử lý rác thải

hộ gia đình của ĐTNC, việc tư vấn uống bổ sung viên sắt khi mang thai cũng có liên quan đến tình trạng thiếu máu Trên cơ sở kết quả của nghiên cứu này nhóm nghiên cứu khuyến nghị cần tăng cường công tác tuyên truyền để PNMT nâng cao thực hành phòng chống thiếu máu, uống viên sắt bổ sung cũng như tư vấn về chế độ dinh dưỡng khi mang thai nhằm phòng tránh thiếu máu

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thiếu máu là tình trạng số tế bào hồng cầu hoặc khả năng vận chuyển oxy của chúng không đủ đáp ứng nhu cầu sinh lý của cơ thể, nhu cầu này khác nhau theo tuổi, giới tính, độ cao tại vùng sinh sống, hút thuốc, và tình trạng mang thai [47] Thiếu máu là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước đang phát triển, trong đó

có Việt Nam [34] Tình trạng thiếu máu hay gặp nhất ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ (15 –

49 tuổi) do mất máu theo chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng và phụ nữ mang thai [32] Thiếu máu ở PNMT do nhu cầu về sắt ở phụ nữ có thai tăng cao hơn so với trước khi

có thai và tăng dần theo sự phát triển của thai nhi [43]

Thiếu máu ở PNMT để lại những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống sau này của cả mẹ và con Thiếu máu ở PNMT có thể làm giảm sự tăng cân sinh lý hoặc khiến sức khỏe mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy

cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn hậu sản Do đó, tỷ lệ mẹ mắc bệnh tăng

và nguy cơ tử vong của mẹ cũng tăng [5]

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thiếu máu như thiếu máu do thiếu sắt, thiếu dinh dưỡng (đặc biệt là các vitamin và khoáng chất), do nhiễm ký sinh trùng, thiếu máu liên quan đến một số bệnh lý … [29] Nguyên nhân chủ yếu của thiếu máu ở PNMT

là do chế độ ăn không cung cấp đủ nhu cầu Nhu cầu sắt của PNMT cần nhiều hơn

để cung cấp cho thai nên tình trạng thiếu máu càng phổ biến Phụ nữ bị suy dinh dưỡng trước khi mang thai cũng gây thiếu máu nhiều hơn Để kiểm soát tình trạng thiếu máu ở PNMT cần áp dụng các biện pháp tăng cường công tác truyền thông để PNMT chủ động có chế độ ăn đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng,

bổ sung viên sắt/đa vi chất, kiểm soát tình trạng nhiễm ký sinh trùng đường ruột và sốt rét [10]

Theo số liệu điều tra Quốc gia về vi chất dinh dưỡng năm 2014 - 2015 của Viện Dinh Dưỡng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai trên toàn quốc là 32,8%, ở phụ

nữ độ tuổi sinh đẻ là 25,5%

Trang 11

Tại khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010 của Viện Dinh dưỡng cho thấy: tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai là 26,6%,

ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ là 28,5% [34]

Riêng thành phố Cần Thơ chưa có nhiều số liệu nghiên cứu công bố về tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ Tại thành phố hiện không có chương trình/dự án phòng chống thiếu máu ở PNMT, các hoạt động phòng chống thiếu máu chỉ đang duy trì tuyên truyền, ghi toa vận động phụ nữ mang thai tự mua viên sắt/acid folic để uống trong suốt thời gian mang thai tới sau sinh một tháng Tuy nhiên, công tác truyền thông tuyên truyền còn rất hạn chế đặc biệt ở các khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa của thành phố

Thới Lai là một trong số những huyện vùng sâu của thành phố Cần Thơ, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp Huyện có tổng cộng 12 xã, 01 thị trấn, với dân số 29.375 hộ, 122.815 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 3,58% (chủ yếu là đồng bào dân tộc Khmer) Đối tượng PNMT được quản lý và tham gia các hoạt động chăm sóc bà mẹ tại tuyến y tế cơ sở như khám thai, tư vấn tiêm phòng uốn ván, xét nghiệm HIV,… [28] Tuy nhiên, hoạt động truyền thông tư vấn dinh dưỡng, thiếu máu đối với PNMT còn rất hạn chế Do đó, việc đánh giá thực trạng tỷ lệ thiếu máu ở PNMT

và phân tích một số yếu tố liên quan đến thiếu máu tại huyện Thới Lai rất cần thiết

để các nhà hoạch định chính sách quan tâm đúng mức hơn vấn đề này, đồng thời đưa

ra các chương trình hành động can thiệp kịp thời nhằm góp phần bảo vệ sức khỏe bà

mẹ và trẻ em

Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu: Thực trạng thiếu máu

ở phụ nữ mang thai và một số yếu tố liên quan tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017 bao gồm:

Nhóm các yếu tố cá nhân: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, chế độ dinh dưỡng trước và khi mang thai, uống viên sắt/đa vi chất bổ sung, thực hành phòng chống thiếu máu khi mang thai

Nhóm các yếu tố gia đình: kinh tế hộ gia đình, nước sạch, hố xí hợp vệ sinh, rác thải hộ gia đình

Nhóm các yếu tố cộng đồng: Phong tục tập quán ăn uống kiêng khem khi mang thai, vệ sinh môi trường, thói quen sử dụng phân tươi, ủ phân

Nhóm các yếu tố dịch vụ y tế: Khám thai, tư vấn về thiếu máu, tư vấn chế độ dinh dưỡng khi mang thai, tiếp cận thông tin truyền thông phòng chống thiếu máu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 1 Khái niệm về thiếu máu

Thiếu máu là tình trạng số tế bào hồng cầu hoặc khả năng vận chuyển oxy của chúng không đủ đáp ứng nhu cầu sinh lý của cơ thể, nhu cầu này khác nhau theo tuổi, giới tính, độ cao tại vùng sinh sống, hút thuốc, và tình trạng mang thai [47]

Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi hàm lượng Hb trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu bất kể do nguyên nhân gì Thiếu sắt là nguyên nhân chính của thiếu máu ở Việt Nam Khẩu phần ăn nghèo chất sắt và tình trạng nhiễm giun móc cao ở nhiều vùng là nguyên nhân quan trọng của thiếu máu dinh dưỡng ở nước ta [32]

1 2 Các phương pháp đo lường thiếu máu

1.2.1 Đo Hemoglobin (Hb) và Hematocrite (Hct)

Xét nghiệm này dùng để đánh giá khối lượng hồng cầu giúp chẩn đoán xác định thiếu máu Cần lưu ý đến tình trạng thể tích máu của bệnh nhân Ngay sau khi mất máu Hb vẫn có thể bình thường vì cơ chế bù trừ chưa có đủ thời gian để lập lại thể tích huyết tương bình thường Giai đoạn mang thai Hb thường thấp trong khi khối lượng hồng cầu lại bình thường vì tăng thể tích huyết tương

1.2.2 Đếm số lượng hồng cầu lưới

Xét nghiệm này phản ánh mức độ sản xuất hồng cầu và là một chỉ dẫn về tình trạng đáp ứng của tủy xương đối với thiếu máu Số lượng hồng cầu lưới thường được tính bằng tỷ lệ hồng cầu lưới/100 hồng cầu Chỉ số hồng cầu lưới (Reticulocyte Index- RI) hiệu chỉnh cho mức độ thiếu máu và ước định được sự đáp ứng thích hợp của tủy xương RI = [% hồng cầu lưới x Hct bệnh nhân/Hct bình thường]: 2RI > 2- 3% cho thấy một đáp ứng đầy đủ, nếu thấp hơn chứng tỏ có yếu tố giảm sinh gây thiếu máu, ngược lại, tăng hồng cầu lưới gợi ý có tan máu

1.2.3 Thể tích trung bình hồng cầu (MCV: Mean Corpuscular Volume)

MCV là một tiêu chuẩn dùng để đánh giá kích thước trung bình của hồng cầu

và thường được dùng để phân loại thiếu máu Bình thường MCV trong khoảng 80-

90 fl (µm3)

Khi MCV < 80 fl: thiếu máu hồng cầu nhỏ

Trang 14

Khi MCV > 100 fl: thiếu máu hồng cầu to

Thông thường, thiếu máu hồng cầu to thường ưu sắc, thiếu máu hồng cầu trung bình thường đẳng sắc, thiếu máu hồng cầu nhỏ thường nhược sắc

1.2.4 Khảo sát lam máu ngoại biên (Huyết đồ)

Đây là xét nghiệm rất quan trọng trong việc đánh giá bệnh nhân thiếu máu Có thể phát hiện sự thay đổi kích thước hồng cầu (hồng cầu to nhỏ không đều), thay đổi hình dáng (hồng cầu biến dạng), những thay đổi này giúp chẩn đoán các loại thiếu máu đặc hiệu Chính vì vậy, xét nghiệm này đặc biệt quan trọng để chẩn đoán bệnh tan máu, hầu hết các thiếu máu tan máu đều có thay đổi về hình thái Ngoài ra, xét nghiệm này còn cho biết về tình trạng bạch cầu và tiểu cầu

1.2.5 Xét nghiệm tủy đồ

Xét nghiệm này được chỉ định trong trường hợp thiếu máu chưa rõ nguyên nhân, cho biết phản ứng của tủy xương về sự sinh sản hồng cầu và phát hiện các tế bào lạ [14]

1 3 Tiêu chuẩn đánh giá và phân loại thiếu máu

Xét nghiệm đặc hiệu thường dùng để chẩn đoán xác định tình trạng thiếu máu

là định lượng hemoglobin (Hb), hàm lượng hemoglobin khác nhau theo tuổi và giới Theo Tổ chức Y tế thế giới tình trạng thiếu máu xuất hiện khi lượng Hb dưới các giới hạn sau đây [45]:

Bảng 1.1: Ngưỡng đánh giá thiếu máu Nhóm tuổi, giới Ngưỡng Hemoglobin (g/l)

Trang 15

- Theo mức độ: Dựa trên cách phân loại theo mức độ thì thiếu máu ở PNMT được chia thành:

+ Thiếu máu nhẹ: Hb từ 100 - < 110 g/l

+ Thiếu máu vừa: Hb từ 70 - < 100 g/l

+ Thiếu máu nặng: Hb < 70 g/l

- Theo nguyên nhân:

+ Do thiếu nguyên liệu tạo máu: thiếu sắt, acid folic, vitamin B12, protein, … Đây

là nguyên nhân gây thiếu máu chủ yếu trong thai nghén

+ Do chảy máu, mất máu như: sảy thai, băng huyết, sinh đẻ nhiều, bệnh sốt rét, giun sán chủ yếu là giun móc, …

- Theo diễn biến: cấp tính hay mạn tính (cấp tính như sảy thai, băng huyết, chửa ngoài tử cung, …; mạn tính trong mắc các bệnh gây thiếu máu như bệnh sốt rét, giun sán, bệnh gan, bệnh thận,…) [4]

1 4 Nguyên nhân gây thiếu máu

1.4.1 Thiếu máu do thiếu sắt

Tủy xương cần sắt để tạo ra tế bào hồng cầu, sắt đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc của các phân tử hemoglobin Nếu lượng sắt trong cơ thể bị thiếu sẽ xuất hiện thiếu máu và được gọi là thiếu máu thiếu sắt [14]

Lượng sắt trong cơ thể rất ít, chỉ vào khoảng 2,5 gam ở nữ và 4 gam ở nam, tuy nhiên nó giữ vai trò sinh học rất quan trọng Chuyển hóa gần như khép kín, cơ thể rất tiết kiệm sắt nhưng mỗi ngày vẫn bị hao hụt một ít theo các con đường khác nhau Ở người trưởng thành, lượng sắt mất đi vào khoảng 0,9 mg mỗi ngày ở nam (65kg) và 0,8 mg mỗi ngày ở nữ (55kg) Ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ, lượng sắt mất theo kinh nguyệt trung bình khoảng 0,4 – 0,5 mg mỗi ngày Ở phụ nữ có thai, tuy không mất sắt theo hành kinh nhưng cần sắt để bổ sung cho rau, thai nhi và tăng khối lượng máu của người mẹ với nhu cầu toàn bộ là 1000 mg Nhu cầu đó không phân phối đều trong thời kỳ có thai mà tập trung vào những tháng cuối, lên đến 6,3 mg/ngày Đó là nhu cầu lớn không thể thỏa mãn được nếu chỉ dựa vào chế độ ăn trừ phi cơ thể có một lượng sắt dự trữ khá lớn [29]

Trang 16

1.4.2 Thiếu máu liên quan đến dinh dưỡng

Ngoài sắt, vitamin B12 và folat cần cho sản xuất hemoglobin Thiếu hụt bất kỳ yếu tố nào trong các chất này có thể gây ra thiếu máu do giảm sản xuất các tế bào hồng cầu Chế độ ăn uống nghèo nàn là một nguyên nhân quan trọng gây thiếu folat

và vitamin B12 [14]

Chế độ dinh dưỡng liên quan đến thiếu máu bao gồm: Khẩu phần ăn không cung cấp đầy đủ dinh dưỡng, thiếu số lượng thực phẩm, thiếu các thực phẩm chứa nhiều vi chất có giá trị sinh học cao, thiếu các chất hỗ trợ hấp thu sắt Chế độ ăn cần có cả đạm động vật và thực vật Vitamin C giúp hấp thu sắt tốt hơn nhưng cũng có một số thức

ăn làm hạn chế hấp thu sắt như trà, cà phê Phối hợp thức ăn hợp lý, ăn nhiều rau, trái cây để bổ sung vitamin C cũng là biện pháp hữu hiệu nhằm tăng khả năng hấp thu sắt [7]

1.4.3 Thiếu máu liên quan đến bệnh thận

Thận sản xuất một loại hormon gọi là erythropoietin giúp tủy xương tạo các tế bào hồng cầu Ở những người có bệnh thận mạn tính, sản xuất nội tiết tố này giảm đi

và làm giảm sản xuất các tế bào hồng cầu gây ra thiếu máu [14]

1.4.4 Thiếu máu do mắc các bệnh nhiễm khuẩn, ký sinh trùng

Nhiễm trùng làm ảnh hưởng đến bộ máy tiêu hóa, phá hủy các tuyến nhầy của

dạ dày làm cho ăn uống kém và mất ngon miệng Đặc biệt, nếu có viêm dạ dày do xoắn khuẩn Helicobacter pylori khu trú và phát triển ở niêm mạc dạ dày kiềm hóa đồng thời sản sinh chất catalase, protease, lipase dẫn tới việc kém hấp thu các chất dinh dưỡng và các vi chất dinh dưỡng [3]

1.4.5 Thiếu máu liên quan đến tủy xương

Thiếu máu có thể do các bệnh liên quan đến tủy xương như suy tủy Một số bệnh ung thư máu như bệnh bạch cầu hoặc u lympho có thể thay đổi sản xuất các tế bào hồng cầu dẫn đến thiếu máu Ung thư có thể từ các bộ phận khác lan đến tủy xương [14]

Trang 17

1 5 Hậu quả của thiếu máu ở phụ nữ mang thai:

1.5.1 Ảnh hưởng đối với phụ nữ mang thai:

Trong quá trình mang thai nếu người mẹ bị thiếu máu có thể làm giảm sự tăng cân sinh lý hoặc khiến sức khỏe mẹ giảm sút, sức đề kháng giảm, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh truyền nhiễm, nhiễm khuẩn hậu sản Do đó, tỷ lệ mẹ mắc bệnh tăng và nguy cơ tử vong của mẹ cũng tăng [5]

Thiếu máu ở PNMT làm tăng tỷ lệ các tai biến trong thai nghén như sảy thai, đẻ non Nghiên cứu tại Đắc Lắc của Đặng Oanh cho thấy PNMT thiếu máu dinh dưỡng

có nguy cơ sảy thai cao gấp 2,3 lần và nguy cơ sinh non cao gấp 2,6 lần bình thường [17] Đồng thời thiếu máu ở PNMT cũng làm tăng tỷ lệ đẻ khó, mổ lấy thai và tăng các biến chứng sau sinh như băng huyết,…

1.5.2 Ảnh hưởng tới thai nhi và trẻ sau sinh

Thiếu máu khi mang thai khiến nuôi dưỡng bào thai giảm, dẫn đến hậu quả là cân nặng và chiều dài trẻ sơ sinh thấp so với bình thường, trường hợp nặng có thể dẫn đến thai không phát triển gây sảy thai, đẻ non hoặc chết lưu Trẻ sinh ra từ các bà mẹ

bị thiếu máu thường bị giảm chức năng miễn dịch nên dễ mắc bệnh, tăng nguy cơ tử vong Thiếu máu từ người mẹ cũng ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ lâu dài của trẻ [21]

1 6 Các biện pháp phòng chống thiếu máu:

1.6.1 Đa dạng hóa bữa ăn

Đa dạng hóa bữa ăn là giải pháp bền vững nhất để cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng của người dân

Cần cung cấp đủ năng lượng và các thực phẩm giàu sắt cho người mẹ, hướng dẫn lựa chọn các thực phẩm giàu sắt, hạn chế sử dụng các thực phẩm hay đồ uống chứa chất ức chế hấp thu sắt như nước chè đặc, cà phê… Khuyến khích cách chế biến hạt nẩy mầm, lên men như làm giá đỗ, dưa chua để tăng lượng vitamin C và giảm acid phytic trong thực phẩm Phát triển chăn nuôi gia đình, đặc biệt là phát triển hệ sinh thái vườn-ao-chuồng (VAC) để tạo nguồn thức ăn thường xuyên trong gia đình

Trang 18

Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tiếp tục cho trẻ

bú mẹ đến 24 tháng và cho ăn bổ sung hợp lý, tăng cường cho trẻ ăn thức ăn giàu sắt [32]

1.6.2 Bổ sung viên sắt

Bổ sung viên sắt được xem là một trong những giải pháp quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu máu do thiếu sắt Giải pháp này có khả năng cải thiện nhanh tình trạng sắt trên cộng đồng và đặc biệt có giá trị trong những trường hợp tăng nhu cầu trong một giai đọan ngắn và biết trước được (như bổ sung trong giai đoạn có thai, trẻ em đang lớn, phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ)

Thực hiện bổ sung viên sắt/acid folic cho phụ nữ có thai và phụ nữ lứa tuổi sinh

đẻ không có thai Liều uống bổ sung:

Đối với phụ nữ có thai: Uống viên sắt từ khi phát hiện có thai cho đến 1

tháng sau đẻ Uống đều đặn hàng ngày, mỗi ngày 1 viên

Đối với phụ nữ lứa tuổi sinh đẻ không có thai: Uống theo phác đồ hàng tuần,

mỗi tuần uống một viên Uống vào một ngày nhất định trong mỗi tuần, tối thiểu uống liên tục trong 4 tháng/năm (tổng số là 16 viên), nếu có điều kiện uống liên tục trong

cả năm

Khi uống viên sắt có thể gặp một vài tác dụng phụ như lợm giọng, buồn nôn, táo bón nhẹ, đi ngoài phân đen nhưng không ảnh hưởng gì tới sức khỏe Để khắc phục, có thể uống liều tăng dần (uống cách 1 ngày 1 viên sau tăng lên uống hàng ngày), uống vào buổi tối trước khi đi ngủ [32]

1.6.3 Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét và vệ sinh môi trường

Phòng chống các bệnh nhiễm ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm trùng cũng là một trong những giải pháp phòng chống thiếu máu Cải thiện môi trường được coi là một yếu tố cần thiết đi kèm trong tất cả các can thiệp phòng chống thiếu máu hay thiếu vi chất ở các nước đang phát triển như nước ta Định kỳ tẩy giun, đặc biệt giun móc sẽ

có tác động tới cải thiện tình trạng sắt Khuyến nghị tẩy giun định kỳ hàng năm bằng Mebendazol và Albendazol, đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em trên 2 tuổi

Các giải pháp phối hợp là vệ sinh môi trường và vệ sinh cá nhân: Khuyến khích thói quen rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sử dụng nước sạch

Trang 19

cho ăn uống Xử lý phân rác hợp vệ sinh, không dùng phân tươi bón ruộng, sử dụng bảo hộ lao động khi làm nông nghiệp [32]

1.6.4 Tăng cường sắt vào thực phẩm

Tăng cường sắt vào thực phẩm là một giải pháp lựa chọn chiến lược có hiệu quả

và an toàn cao Tăng cường sắt vào thực phẩm đã được triển khai tốt ở các nước phát triển và các nước đang phát triển Trên thế giới sắt được tăng cường vào các loại thức

ăn như sữa, bột ngũ cốc, bánh mì, mì ăn liền, sữa bột đậu tương, bánh bích quy Ở Việt Nam sắt được tăng cường vào nước mắm, bánh bích qui, bánh dinh dưỡng Mumsure cho phụ nữ trước khi có thai, phụ nữ có thai và cho con bú, bột dinh dưỡng cho thời kỳ

ăn bổ sung, bột dinh dưỡng Growsure… Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của bổ sung sắt trong việc cải thiện tình trạng sắt cơ thể của trẻ [32]

1 7 Tình hình thiếu máu ở phụ nữ mang thai

1.7.1 Thiếu máu ở phụ nữ mang thai trên thế giới

Thiếu máu ở PNMT là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng, đặc biệt ở các nước đang phát triển Theo thống kê của WHO năm 2011, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT trên toàn cầu là 38,2 %, tương đương với số lượng là 32,4 triệu PNMT bị thiếu máu [46]

Tỷ lệ thiếu máu khác nhau đáng kể giữa các vùng và khu vực trên thế giới Cũng theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới năm 2011, tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai cao nhất tại các khu vực Đông Nam Á, Đông Địa Trung Hải và khu vực châu Phi Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại các khu vực này từ 38,9% đến 48,7% [46]

Khác biệt rõ rệt nhất của tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Theo thống kê của WHO công bố năm 2008, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tại các nước phát triển khá thấp như Thụy sĩ (9,7%), Canada (11,5%), Đức (12,3%), Bỉ (12,9%), Na Uy (9,3%), Úc (12,4%); trong khi tỷ lệ này cao gấp nhiều lần ở một số nước đang phát triển như Indonesia (44,3%), Iran (40,5%), Campuchia (66,4%), Nepal (74,6%) [44]

Một số nghiên cứu riêng biệt ở các nước đang phát triển cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu khá cao Nghiên cứu sàng lọc thiếu máu thiếu sắt ở PNMT tại Malaysia năm 2005, kết quả có 34,6% thiếu máu [40] Một nghiên cứu tại Ấn độ năm 2006 cho

Trang 20

thấy tần suất thiếu máu trong thai kỳ chiếm đến 84,9%, trong đó có 13,1% thiếu máu nặng và 60,1% thiếu máu mức độ trung bình [39] Nghiên cứu tại tỉnh Pattani, Thái Lan (2006), tỷ lệ thiếu máu trong thai kỳ là 37,8% [41]

Nghiên cứu của các tác giả trên thế giới đã tìm thấy một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở PNMT Nghiên cứu của tác giả Bivolarska AV và các cộng sự trên 219 PNMT ở miền Nam Bulgaria năm 2016 cho thấy PNMT thường xuyên tiêu thụ cá, các loại thực phẩm họ đậu, ít khi uống cà phê là điều kiện để tối ưu hóa tình trạng sắt trong thời kỳ mang thai [38]

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại Bệnh viện Khartoum, Sudan trên

856 PNMT năm 2014 cho thấy việc sử dụng viên sắt là yếu tố bảo vệ với tình trạng thiếu máu khi mang thai (OR = 0,39, CI = 0,2-0,7) [36]

Kết quả nghiên cứu của Mohammad Yawar Yakoob và cộng sự năm 2011 cũng chỉ ra rằng việc bổ sung sắt hàng ngày làm giảm 73% tỉ lệ thiếu máu trong thai kỳ (RR = 0,27, 95% CI: 0,17 - 0,42) [48]

Nghiên cứu bệnh chứng của tác giả Avila AG và các cộng sự tại ở thành phố Mara, Venezuela năm 2013 cho thấy tỷ lệ đói nghèo là yếu tố có liên quan đến thiếu máu ở PNMT [37]

Một nghiên cứu cắt ngang của tác giả Derso T và cộng sự trên 348 PNMT tại huyện Dera, Ethiopia năm 2017 cho thấy những PNMT trong gia đình không có nhà

vệ sinh có nguy cơ thiếu máu cao hơn những PNMT khác [AOR = 4,75, 95% CI : 1,15 – 16,6] [42]

1.7.2 Thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam

Thiếu máu ở PNTM là một trong số các chỉ tiêu cải thiện tình trạng vi chất dinh dưỡng trong Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020 [6] Thiếu máu

ở PNMT nước ta từ năm 1995 đến nay tuy có giảm nhưng vẫn ở mức trung bình về ý nghĩa sức khỏe cộng đồng

Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT toàn quốc năm 1995 là 52,7% và đến giai đoạn

2014-2015 tỷ lệ này là 32,8% [35]

Trang 21

Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai trên toàn quốc qua các năm

1.7.2.1 Tỷ lệ thiếu máu theo vùng sinh thái:

Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT khác nhau ở các vùng sinh thái, theo kết quả Tổng điều tra 2009 – 2010 của Viện Dinh dưỡng thì tỷ lệ này cao nhất là ở vùng núi phía Bắc (45,7%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (24%) [34]

Bảng 1.2: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT và phụ nữ không mang thai theo vùng sinh

thái – Kết quả Tổng điều tra dinh dưỡng 2009-2010 [34]

Ở PNMT Ở Phụ nữ không mang thai

Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 44,1 24,7

Nhiều tác giả nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu ở PNMT tại các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước cũng có kết quả tỷ lệ này ở các vùng là khác nhau

Tại các khu vực miền núi, vùng cao, ven biển thì tỷ lệ thiếu máu ở PNMT còn tương đối cao và cũng có giảm trong thời gian gần đây như: Nghiên cứu của Đặng Oanh về tình trạng thiếu máu của phụ nữ mang thai người dân tộc thiểu số tại tỉnh

Trang 22

Đắc Lắc năm 2008 trên tổng số 246 PNMT cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 50,1% [17]

Tác giả Phạm Vân Thúy cũng nghiên cứu tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ có thai tại một số

xã huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2012 trên tổng số 143 PNMT, kết quả cho thấy:

tỷ lệ thiếu máu chung ở PNMT là 27,3 % [26] Năm 2012, kết quả nghiên cứu của tác giả Trương Hồng Sơn cũng cho thấy tại vùng Tây Bắc (Lai Châu) và Tây Nguyên (KonTum) tỷ lệ thiếu máu ở PNMT lần lượt là 38,1% và 35,5% [19] Theo kết quả

nghiên cứu Thực trạng thiếu máu và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình năm 2016 của tác giả Lê Thị Thùy Trang trên 508

PNMT cho thấy: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 27,2% [27]

Tại các khu vực Đồng bằng, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT có thấp hơn và cũng đã giảm dần theo thời gian nhưng vẫn còn ở mức có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng như:

nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt ở PNMT tại tỉnh Bạc Liêu năm 2010 của tác

giả Phạm Thị Đan Thanh cho thấy tỷ lệ thiếu máu là 36,7% [24] Tại huyện Củ Chi,

TP Hồ Chí Minh năm 2012, tác giả Nguyễn Nhật Quang đã tiến hành nghiên cứu đối với 1.896 PNMT cho thấy kết quả tỷ lệ thiếu máu là 21,6% [18] Tại Cà Mau, nghiên cứu của Huỳnh Văn Tạo năm 2013 trên 350 PNMT tại huyện Trần Văn Thời cho thấy

tỷ lệ thiếu máu là 26,6% [22] Tại Đồng Tháp, tác giả Lê Huỳnh Hiệp cũng đã tiến hành nghiên cứu về tỷ lệ thiếu máu ở 356 PNMT tại huyện Lấp Vò, kết quả tỷ lệ thiếu máu ở PNMT là 28,76% [12]

1.7.2.2 Tỷ lệ thiếu máu theo tuổi thai:

Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT cũng khác nhau theo các giai đoạn của thai kỳ: Nghiên cứu của tác giả Phạm Lê Ngọc Anh tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ

lệ thiếu máu ở PNMT giai đoạn 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối là khác nhau, đặc biệt giai đoạn 3 tháng cuối tỷ lệ thiếu máu là cao nhất (22,4%) [1] Tương

tự, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thùy Trang tại huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình năm 2016 cũng cho thấy tỷ lệ thiếu máu ở PNMT giai đoạn 3 tháng cuối là cao nhất (29,9%) [27] Theo kết quả điều tra quốc gia về Vi chất dinh dưỡng năm 2014, 2015

- Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT cũng tăng dần theo tuổi thai giai đoạn 3 tháng đầu, 3 tháng giữa và 3 tháng cuối lần lượt là 28,9%, 32%, 37% [33]

Trang 23

1.7.2.3 Một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở phụ nữ mang thai:

❖ Yếu tố cá nhân:

Phụ nữ mang thai là đối tượng có nguy cơ thiếu máu cao nhất, tuy không bị mất máu theo chu kỳ kinh nguyệt nhưng phụ nữ mang thai cần tăng khối lượng máu cho người mẹ cũng như cung cấp cần thiết cho sự phát triển của thai nhi trong suốt thời

kỳ mang thai [29]

Tuổi của PNMT: Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tuổi của người mẹ khi mang thai có liên quan đến tình trạng thiếu máu Kết quả nghiên cứu của tác giả Phạm Lê Ngọc Anh tại huyện Củ Chi, TP HCM (2010) cho thấy những thai phụ trên 30 tuổi

có nguy cơ thiếu máu cao gấp 3,1 lần so với những thai phụ ≤ 30 tuổi [1] Nghiên cứu tương tự của Phạm Thị Đan Thanh tại Bạc Liêu (2010) cũng cho thấy PNMT trên

35 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 3,6 lần so với PNMT các nhóm tuổi còn lại [24] Tác giả Lê Thị Thùy Trang cũng đã tiến hành nghiên cứu tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (2016), kết quả cũng cho thấy PNMT trên 35 tuổi có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2 lần so với PNMT ≤ 35 tuổi [27]

Nghề nghiệp của PNMT: Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thùy Trang (2016) cho thấy những PNMT làm ruộng/làm rẫy có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,5 lần so với PNMT các nghề khác (p < 0,05) [27] Tuy nhiên, nghiên cứu tương tự của tác giả Phạm Lê Ngọc Anh tại huyện Củ Chi, TP HCM (2010) và Huỳnh Văn Tạo tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (2013) không tìm thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp với tình trạng thiếu máu ở PNMT [1], [22]

Chế độ dinh dưỡng, tình trạng thai nghén: Tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai phụ thuộc rất lớn vào chế độ dinh dưỡng của người mẹ trong thời kỳ mang thai Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Diễm Uyên (2014) cho thấy PNMT có thói quen ăn không đủ cả 4 nhóm thực phẩm liên quan tăng nguy cơ thiếu máu thiếu sắt thai kỳ so với PNMT có thói quen ăn đủ 4 nhóm thực phẩm (p < 0,05) Đồng thời, nếu trong giai đoạn mang thai một số người mẹ bị nghén dẫn đến ăn uống kém hoặc không ăn uống được kéo dài, không ăn được thịt, cá, … có thể sẽ đưa đến tình trạng thiếu máu Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Thùy Trang (2016), PNMT bị nghén

có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,5 lần PNMT không bị nghén [27] Nghiên cứu của

Trang 24

tác giả Huỳnh Văn Tạo tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau cũng chỉ ra rằng: PNMT ăn uống ít hơn thời điểm trước mang thai có tỷ lệ thiếu máu cao gấp 2,03 lần

so với PNMT có chế độ ăn uống bình thường [22]

Uống viên sắt/đa vi chất bổ sung: Do nhu cầu sắt rất lớn nên ngoài chế độ dinh dưỡng, PNMT cần uống bổ sung đầy đủ viên sắt dự phòng thiếu máu trong suốt thời

kỳ mang thai; Kết quả nghiên cứu của Phạm Vân Thúy cho thấy: PNMT có dùng viên sắt thì tỷ lệ thiếu máu thấp hơn (23,4%), trong khi đó PNMT không dùng viên sắt thì

tỷ lệ thiếu máu rất cao (52,6%) [26] Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thùy Trang cũng

có kết quả tương tự: PNMT không uống viên sắt bổ sung có nguy cơ thiếu máu cao gấp 1,5 lần so với PNMT có uống bổ sung viên sắt [27]

Nhiễm giun: Trong thời kỳ mang thai người mẹ không uống thuốc sổ giun định

kỳ, do đó phụ nữ trước khi mang thai nên uống thuốc tẩy gium định kỳ 6 tháng một lần Đồng thời, cần thực hiện tốt các biện pháp phòng tránh nhiễm ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là giun móc trong thời kỳ mang thai Theo kết quả nghiên cứu của Phạm Lê Ngọc Anh (2010), những thai phụ bị nhiễm bất kỳ loại giun nào có nguy

cơ thiếu máu cao gấp 15,9 lần so với những thai phụ không bị nhiễm giun [1] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Song Tú tại Hưng Yên (2008) cũng cho thấy phụ nữ tuổi sinh

đẻ nhiễm giun có nguy cơ thiếu máu cao gấp 4 lần so với những phụ nữ không nhiễm giun [30]

❖ Yếu tố gia đình:

Kinh tế hộ gia đình: Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy, kinh

tế hộ gia đình có liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai Nghiên cứu tại tỉnh Càu Mau năm 2013 của tác giả Huỳnh Văn Tạo cho thấy nhóm thai phụ có thu nhập thuộc hộ nghèo và cận nghèo thiếu máu cao gấp 1,9 lần so với nhóm thai phụ thuộc hộ không nghèo [22] Tương tự, nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thùy Trang năm 2016 thực hiện tại tỉnh Quảng Bình cũng cho thấy phụ nữ mang thai trong gia đình nghèo, cận nghèo có nguy cơ thiếu máu cao gấp 2 lần phụ nữ mang thai có kinh

tế không nghèo [27] Năm 2012, tác giả Nguyễn Nhật Quang cũng đã tìm hiểu mối liên quan giữa điều kiện kinh tế hộ gia đình và tình trạng thiếu máu ở PNMT tại TP HCM trong 3 tháng đầu thai kỳ nhưng không tìm thấy mối liên quan rõ ràng Tuy

Trang 25

nhiên, kết quả cho thấy nhóm PNMT nghèo có tỷ lệ thiếu máu (31,8%) cao hơn so với nhóm không nghèo (21,5%) [18]

Nước sạch, hố xí, vệ sinh hộ gia đình: Cải thiện vệ sinh môi trường được coi là một yếu tố cần thiết đi kèm trong tất cả các can thiệp phòng chống thiếu máu hay thiếu vi chất ở các nước đang phát triển trong đó có nước ta [32] Kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Minh Chính tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy điều kiện mất vệ sinh nhà ở, mất vệ sinh ngoại cảnh, nguồn nước, hố xí không hợp vệ sinh làm tăng tỷ lệ thiếu máu (p < 0,001) [9]

có nguy cơ ô nhiễm cao Hơn nữa, trong năm người Sán Dìu có nhiều lễ tết, cúng bái

có ảnh hưởng đến kinh tế và đời sống sinh hoạt hàng ngày, nhất là ảnh hưởng đến chế

độ dinh dưỡng của phụ nữ có thai, nuôi con,… [9]

Vấn đề lấy chồng và sinh con sớm vẫn còn tồn tại ở nước ta theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Diễm Uyên (2014) cho thấy tỷ lệ PNMT ≤ 18 tuổi là 4,2%, trong số đó tỷ lệ thiếu máu rất cao (35,7%) [31] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thùy Trang trên đối tượng PNMT tại tỉnh Quảng Bình (2016), có 3,7% phụ nữ mang thai ở độ tuổi ≤ 18, tỷ lệ thiếu máu ở PNMT ở nhóm tuổi này là 20% [27]

❖ Yếu tố dịch vụ y tế:

Cung cấp các dịch vụ chăm sóc thai nghén, tư vấn dinh dưỡng, tư vấn phòng chống thiếu máu trong thời kỳ mang thai rất cần thiết trong hoạt động phòng chống thiếu máu ở phụ nữ mang thai nói riêng và công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ

em nói chung [32] Năm 2010, tác giả Lê Minh Chính đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng thiếu máu ở phụ nữ Sán Dìu trong thời kỳ mang thai tại huyện Đồng hỷ tỉnh

Trang 26

Thái Nguyên và hiệu quả của biện pháp can thiệp” Nghiên cứu đã phối hợp các hoạt

động truyền thông giáo dục sức khỏe với các giải pháp kỹ thuật, các chương trình đào tạo tăng cường năng lực cho cán bộ y tế trong tư vấn chăm sóc hỗ trợ PNMT Kết quả can thiệp đã làm giảm 27,3% tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ mang thai Từ đó chứng minh tầm quan trọng của việc tiếp cận các dịch vụ y tế trong công tác phòng chống thiếu máu ở PNMT [9]

1 8 Các thiết kế nghiên cứu dịch tễ học

Thiết kế nghiên cứu được coi là một khâu quan trọng của quá trình nghiên cứu Các loại nghiên cứu dịch tễ học khác nhau có cách thiết kế khác nhau Đối với nghiên cứu dịch tễ học mô tả, các thiết kế được đặt ra nhằm mục đích chủ yếu là xác định quy mô của vấn đề và mô tả vấn đề đó theo khía cạnh con người, thời gian và địa điểm Đối với các nghiên cứu phân tích, mục đích cơ bản là kiểm định giả thuyết về mối liên quan hay xác định các yếu tố nguy cơ đối với bệnh đang được nghiên cứu Việc lựa chọn loại thiết kế nghiên cứu cần dựa vào: Hiểu biết hiện tại về vấn đề nghiên cứu; đối tượng nghiên cứu và tính khả thi trong việc lựa chọn những đối tượng này; cách thức thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu; các chỉ số đo lường dịch

tễ tính toán được trong khâu phân tích; chi phí thực hiện nghiên cứu Các thiết kế nghiên cứu dịch tễ học được tóm tắt theo sơ đồ sau [15]:

Ơ

Hình 1.2 Sơ đồ thiết kế các nghiên cứu dịch tễ học

Số liệu nhóm Số liệu cá thể Số liệu nhóm Số liệu cá thể

Mô tả Phân tích Mô tả Phân tích

NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC

Thử nghiệm cộng đồng

Thử nghiệm lâm sàng

Sinh thái/

tương quan Cắt ngang Bệnh chứng Thuần tập

Trang 27

1 9 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu – huyện Thới Lai, TP Cần Thơ

1.9.1 Địa giới hành chính huyện Thới Lai:

Đông giáp huyện Phong Điền, quận Ô Môn; Tây giáp huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ và tỉnh Kiên Giang; Nam giáp huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, tỉnh Kiên Giang; Bắc giáp huyện Cờ Đỏ, quận Ô Môn Huyện có diện tích tự nhiên 25.580,56 ha, dân số 29.375 hộ, 122.815 khẩu (trong đó có 4.402 khẩu (3.58%) là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào dân tộc Khmer chiếm đa số là 4.158 khẩu) Huyện Thới Lai có 13 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: thị trấn Thới Lai, và các xã Thới Thạnh, Tân Thạnh, Trường Thành, Trường Thắng, Định Môn, Thới Tân, Xuân Thắng, Đông Bình, Đông Thuận, Trường Xuân, Trường Xuân A, Trường Xuân B

1.9.2 Điều kiện kinh tế:

Huyện Thới Lai là vùng đất có nhiều tiềm năng, lợi thế về phát triển sản xuất nông nghiệp với 23.279,04 ha đất sản xuất cây hàng năm, trong đó tập trung nhiều nhất là trồng lúa với 20.345,16 ha Năm 2014: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 11,12%; thu nhập bình quân đầu người 26.510.000 đồng/người/năm, tăng 3.432.000 triệu đồng/người/năm so với năm 2013 Qua kết quả điều tra hộ nghèo, đầu năm 2016, huyện có 2.080 hộ nghèo, tỷ lệ 6,67%; 1.631 hộ cận nghèo, tỷ lệ 5,23%

1.9.3 Văn hóa xã hội:

Hệ thống trường, lớp được nâng cấp xây dựng mới theo hướng kiên cố hóa đạt chuẩn nông thôn mới; chất lượng giáo dục được nâng lên rõ rệt năm sau cao hơn năm trước; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp các cấp đạt trên 99%, số học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng tăng cao; huy động học sinh trong độ tuổi ra lớp trên 98% kế hoạch, được thành phố công nhận 2 trường đạt chuẩn quốc gia

1.9.4 Mạng lưới y tế:

Mạng lưới y tế huyện Thới Lai gồm: 01 Phòng Y tế, 01 Trung tâm Y tế huyện (mới được nhập từ Trung tâm Y tế dự phòng huyện và Bệnh viện Đa khoa huyện từ đầu năm 2017) và 13 Trạm Y tế xã

Trang 28

Các vấn đề sức khỏe hiện còn tồn tại của huyện Thới Lai tính đến cuối năm

2016 là: số ca mắc tiêu chảy cao (157 ca); số ca mắc tai – chân – miệng cao (104 ca);

số đối tượng nguy cơ sốt rét được quản lý cao (897 người);

Các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ (cộng dồn trong năm 2016): số phụ nữ

có thai là 1.691; số thai phụ được quản lý, khám thai định kỳ 3 tháng và tiêm phòng uốn ván là 1.668; số phụ nữ có thai được xét nghiệm HIV là 1.404; không có quản lý

và xét nghiệm thiếu máu ở phụ nữ có thai

Các hoạt động chăm sóc sức khỏe bà mẹ vẫn được duy trì, tuy nhiên tại địa bàn huyện Thới Lai nói riêng và thành phố Cần Thơ nói chung không có chương trình/dự

án cấp phát viên sắt/acid folic cho phụ nữ mang thai Các hoạt động hiện tại đang duy trì là tư vấn, ghi toa cho phụ nữ mang thai tự mua viên sắt/acid folic để uống nên phụ thuộc rất lớn vào tự giác thực hành uống viên sắt của phụ nữ mang thai [28]

Do đặc thù sinh sống ở khu vực nông thôn nên khẩu phần ăn của phụ nữ có thai không đa dạng các loại thực phẩm, khẩu phần nhiều tinh bột và ít đạm đặc biệt là ít các thực phẩm giàu sắt, khẩu phần ăn không khác nhiều so với trước khi mang thai Điều này tiềm ẩn nguy cơ thiếu máu rất lớn đặc biệt là do thiếu sắt vì một lượng sắt đáng kể cần được cung cấp cho rau thai và thai nhi trong quá trình mang thai

Số hộ dân sử dụng nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh tại huyện thấp: tỷ lệ hộ dân sử dụng nước máy đạt 52%, tỷ lệ sử dụng nhà tiêu thắm, tự hoại đạt 66,9% [28]

Trang 29

1 10 Khung lý thuyết

Thiếu máu

ở phụ nữ mang thai

- Uống viên sắt/đa vi chất

trong thời kỳ mang thai

- Vệ sinh môi trường

- Thói quen sử dụng phân tươi, ủ phân

- Khám thai

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu:

Phụ nữ mang thai đang sinh sống tại 04 xã được chọn vào nghiên cứu thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ

Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ mang thai tại thời điểm thu thập số liệu cho nghiên cứu đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ: phụ nữ mang thai có các bệnh lý kèm theo (bệnh đái tháo đường, tim mạch, tăng huyết áp); phụ nữ mang thai câm điếc, đang bị bệnh tâm thần

2 2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Thời gian: từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017

Địa điểm: tại 04 xã được chọn vào nghiên cứu thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ

2 3 Thiết kế nghiên cứu:

Áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2 4 Cỡ mẫu va ̀ phương pháp cho ̣n mẫu:

Trang 31

Áp dụng công thức trên ta tính được n = 176; để tránh mất đối tượng do từ chối tham gia nghiên cứu hoặc không có mặt tại thời điểm thu thập số liệu, cỡ mẫu được tăng lên 20%

Do đó, cỡ mẫu nghiên cứu là n = 211 thai phụ

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu:

Áp dụng phương pháp chọn mẫu cụm 1 giai đoạn

❖ Chọn cụm (xã) vào nghiên cứu: huyện Thới Lai có tổng cộng 13 xã, mỗi xã tương đương 1 cụm, do đặc điểm địa hình, điều kiện kinh tế xã hội các xã của huyện gần giống nhau nên tiến hành bốc thăm chọn ngẫu nhiên 04 xã trong tổng số 13 xã của huyện

❖ Chọn đối tượng PNMT tại mỗi cụm (xã): tại thời điểm nghiên cứu, trung bình mỗi xã được chọn có khoảng 50 – 60 PNMT, số xã tham gia nghiên cứu là 4 xã Do

đó, áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, chọn toàn bộ phụ nữ đang mang thai của mỗi xã tại thời điểm nghiên cứu Danh sách PNMT của 4 xã được cán bộ y tế xã lập trước thời điểm tiến hành thu thập số liệu 02 tuần

Tổng số phụ nữ mang thai tham gia nghiên cứu: kết quả thu thập số liệu thực tế

có 213 PNMT tham gia nghiên cứu

2 5 Phương pha ́ p thu thâ ̣p số liê ̣u

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu:

❖ Phương pháp lấy máu và xét nghiệm:

Lấy 2ml máu tĩnh mạch ở PNMT, cho vào ống có chất kháng đông EDTA, lắc đều và bảo quản ở nhiệt độ 40C bằng dụng cụ bảo quản mẫu xét nghiệm chuyên biệt Mẫu máu sau đó được chuyển về Khoa Xét nghiệm – Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ để xét nghiệm nhằm phát hiện tình trạng thiếu máu (hemoglobin < 110 g/l) Mẫu được xét nghiệm bằng máy xét nghiệm huyết học tự động NIHON KOHDEN Celltac

α

Kỹ thuật viên xét nghiệm của nhóm nghiên cứu phụ trách lấy máu đối tượng PNMT với sự hỗ trợ của cán bộ y tế xã

Trang 32

Chỉ thực hiện lấy đúng 2ml mẫu máu của đối tượng nghiên cứu và mẫu máu chỉ

sử dụng để xét nghiệm chỉ tiêu hemoglobin, mẫu máu được lưu trữ tại Trung tâm Y

tế dự phòng Cần Thơ đảm bảo các nguyên tắc về lưu mẫu của phòng xét nghiệm Việc lấy mẫu máu được thực hiện tại Trạm Y tế bởi các kỹ thuật viên của Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ đã được tập huấn chứng chỉ an toàn sinh học; do đặc thù

là xã vùng sâu của thành phố Cần Thơ, cán bộ Trạm Y tế tại các xã này hàng ngày thực hiện công tác khám chữa bệnh rất tốt nên có nhiều kinh nghiệm Do đó, khi có những tình huống xấu xảy ra với đối tượng nghiên cứu như đối tượng sợ lấy máu dẫn đến bị choáng, mệt mỏi, huyết áp tăng đột ngột, … sẽ được cán bộ y tế xã, kỹ thuật viên của nhóm nghiên cứu sơ cứu, chăm sóc y tế kịp thời

❖ Phỏng vấn trực tiếp phụ nữ mang thai bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn về một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu Phụ trách phỏng vấn đối tượng PNMT là các thành viên đội điều tra (02 cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ, 02 sinh viên Trường Đại học Cần Thơ) đã được tập huấn về kỹ năng phỏng vấn trước khi tiến hành thu thập số liệu Đội điều tra phụ trách phỏng vấn ĐTNC xuyên suốt tại các Trạm Y tế xã

❖ Cân đo đối tượng PNMT để đánh giá mức độ tăng cân của từng đối tượng tính đến thời điểm thu thập số liệu dựa vào tiêu chuẩn đánh giá mức độ tăng cân Cán bộ

y tế tại mỗi xã phụ trách cân đo được tập huấn về kỹ thuật cân đo trước khi tiến hành thu thập số liệu (do nghiên cứu sử dụng cân điện tử mà hiện tại các Trạm Y tế không

có cân này nên cần phải tập huấn, hướng dẫn cán bộ y tế sử dụng thành thạo trước khi tiến hành thu thập số liệu)

❖ Qui trình thu thập số liệu tại các Trạm Y tế xã:

Trang 33

- Đối tượng nghiên cứu sẽ được cộng tác viên tại các tổ y tế ấp giải thích về mục đích của nghiên cứu và thông báo trước về các hoạt động tham gia (lấy máu, trả lời phỏng vấn) Nếu đối tượng chấp thuận đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu sẽ được gửi thư mời thông báo thời gian và địa điểm tham gia nghiên cứu

- PNMT khi đến TYT được đánh dấu vào danh sách đã được lập trước khi thu thập số liệu; Sau đó, PNMT được CBYT xã cân đo ghi vào phiếu cân đo có sẵn

- Phỏng vấn PNMT theo bộ câu hỏi đã dược thiết kế sẵn về một số yếu tố liên quan đến thiếu máu

- Lấy máu đối tượng PNMT để xét nghiệm xác định tình trạng thiếu máu

- PNMT được cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ tư vấn, giải đáp các thắc mắc liên quan chế độ dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai, cách phòng chống thiếu máu trong giai đoạn mang thai và cho con bú

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình thu thập số liệu

2.5.3 Công cụ thu thập số liệu

❖ Phiếu điều tra được thiết kế sẵn

❖ Phiếu xét nghiệm và một số dụng cụ phục vụ lấy mẫu máu

❖ Cân điện tử với độ chính xác 0.1 kg được hiệu chuẩn tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Cần Thơ; Thước đo chiều cao với độ chính xác 0.1

Trang 34

2 6 Các biến số nghiên cứu:

2.6.1 Nhóm biến số chính tương ứng mục tiêu 1:

Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

- Tình trạng thiếu máu

- Mức độ thiếu máu

2.6.2 Nhóm biến số chính tương ứng mục tiêu 2:

Mục tiêu 2: Phân tích một số yếu tố liên quan đến tình trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại 4 xã thuộc huyện Thới Lai, TP Cần Thơ năm 2017

- Nhóm các yếu tố cá nhân:

+ Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nghề nghiệp

+ Tiền sử trước khi mang thai: nhiễm giun, tẩy giun, thiếu máu, chế độ ăn uống, tình trạng dinh dưỡng

+ Tình trạng khi mang thai: mức tăng cân khi mang thai, giai đoạn thai, mức độ nghén, mức độ lao động, chế độ dinh dưỡng, uống viên sắt, thực hành phòng chống thiếu máu, …

- Nhóm các yếu tố gia đình, cộng đồng: điều kiện kinh tế hộ gia đình, nguồn nước, loại nhà tiêu, xử lý rác thải, phong tục ăn uống kiêng khem khi mang thai, ủ phân tươi, …

- Nhóm các yếu tố thuộc về dịch vụ y tế: khám thai, tư vấn về thiếu máu, tư vấn uống viên sắt/đa vi chất khi mang thai, tiếp cận thông tin về phòng chống thiếu máu khi mang thai, …

(Các biến số nghiên cứu được mô tả chi tiết tại Phụ lục 1)

2 7 Tiêu chuẩn đánh giá:

❖ Đánh giá tình trạng thiếu máu ở PNMT: dựa trên kết quả định lượng

Hemoglobin (Hb) Theo phân loại của WHO năm 2001, khi nồng độ Hb trong máu thấp hơn 110g/l trong thai kỳ thì được xác định là thiếu máu

❖ Tiêu chuẩn đánh giá mức độ thiếu máu:

Dựa trên cách phân loại theo mức độ thì thiếu máu ở PNMT được chia thành [45]:

Trang 35

- Thiếu máu nhẹ: Hb từ 100 - < 110 g/l

- Thiếu máu vừa: Hb từ 70 - < 100 g/l

- Thiếu máu nặng: Hb < 70 g/l

❖ Đánh giá thực hành phòng chống thiếu máu của ĐTNC:

Tổng số điểm cao nhất của các câu hỏi liên quan đến thực hành phòng chống thiếu máu ở phụ nữ mang thai là: 20 (chi tiết tại Phụ lục 7)

Thực hành phòng chống thiếu máu của PNMT được tính là đạt khi tổng số điểm

>= 14

❖ Uống viên sắt đúng của ĐTNC:

Uống viên sắt đúng là ĐTNC có thực hành uống viên sắt liên tục từ khi phát

hiện có thai, uống mỗi ngày 01 viên hoặc uống từ đủ 20 viên trở lên mỗi tháng [8]

❖ Tiêu chuẩn đánh giá mức tăng cân trong thai kỳ [32]:

Tăng cân là biểu hiện tích cực cho thấy sự phát triển của thai nhi, tăng cân của người mẹ lúc mang thai phụ thuộc vào giai đoạn thai kỳ và tình trạng cơ thể khi có thai

Theo tiêu chuẩn Quốc tế (FAO), mức tăng cân trung bình của phụ nữ Châu Á trong thời kỳ mang thai nên là 10-12 kg, đó là nguồn dự trữ để sản xuất sữa Cụ thể mức tăng cân theo từng giai đoạn của thai kỳ như sau:

- 3 tháng đầu: không tăng cân hoặc tăng < 1kg

- 3 tháng giữa: 4-5kg

- 3 tháng cuối: 5-6kg

ĐTNC được xác định là tăng cân ít nếu trong 6 tháng cuối, mỗi tháng tăng <= 1kg

2 8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:

Số liệu được kiểm tra, làm sạch các lỗi, mã hoá, nhập liệu bằng phần mềm Epi data 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Nghiên cứu sử dụng kiểm định khi bình phương (χ2) để xác định một số yếu tố liên quan đến thiếu máu ở PNMT dựa trên tỷ số chênh (OR), mức ý nghĩa thống kê chấp nhận được trong nghiên cứu này là 0,05

Trang 36

2 9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mà kết quả đóng góp cho bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cộng đồng Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ dành cho mục đích nghiên cứu, mọi thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ kín và được mã hóa trong nghiên cứu

Phương pháp lấy máu và kỹ thuật xét nghiệm máu được chuẩn hóa Kỹ thuật viên lấy máu là người đã được tập huấn và có kỹ năng tốt Dụng cụ lấy máu cho đối tượng đảm bảo vô trùng, an toàn tuyệt đối theo đúng qui định và chỉ sử dụng 01 lần Chỉ lấy mẫu đúng 2ml máu để thực hiện xét nghiệm 01 chỉ tiêu duy nhất là hemoglobin, không sử dụng mẫu máu vào mục đích khác

Nghiên cứu được sự đồng ý và giúp đỡ của Lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng Cần Thơ, Lãnh đạo Trung tâm Y tế dự phòng huyện Thới Lai, Lãnh đạo Trạm Y tế các xã tham gia nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong Nghiên cứu Y sinh học số 172/2017/YTCC-HD3 ngày 22 tháng 3 năm 2017

Nhóm đối tượng phát hiện thiếu máu sẽ được tư vấn về chế độ dinh dưỡng trong phòng chống thiếu máu, hướng dẫn uống viên sắt, cũng như đến cơ sở y tế gần nhất theo dõi và điều trị tình trạng thiếu máu Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi cho

xã, huyện sau khi kết thúc nghiên cứu

2 10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

Hạn chế của nghiên cứu:

Nghiên cứu chỉ mới triển khai tại 4 trên tổng số 13 xã của huyện Thới Lai, không thực hiện lấy mẫu phân ở PNMT xét nghiệm để xác định tình trạng nhiễm ký sinh trùng – một trong số các yếu tố có thể liên quan đến tình trạng thiếu máu, nhưng do nguồn kinh phí nghiên cứu còn hạn chế

Sai số và biện pháp khắc phục sai số:

Để hạn chế sai số do thiết kế phiếu điều tra, phiếu điều tra được soạn thảo và cho điều tra thử, sau đó chỉnh sửa cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu hàng loạt

Trang 37

Để hạn chế sai số do phỏng vấn phiếu: trước khi tiến hành điều tra tại cộng đồng, đội ngũ điều tra viên được tập huấn kỹ năng phỏng vấn, được phỏng vấn thử phụ nữ mang thai (trong khi điều tra thử) để hoàn thiện kỹ năng này Trong suốt quá trình thu thập số liệu, nghiên cứu viên giám sát và hỗ trợ điều tra viên khi cần thiết

Trang 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Theo dự kiến, cỡ mẫu cần thiết trước khi tiến hành nghiên cứu là 211 thai phụ Thực tế, cỡ mẫu thu thập được là 213, đảm bảo đủ số lượng so với cỡ mẫu dự kiến ban đầu

3 1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (n=213)

Bảng 3.1 trình bày đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu cho thấy: Trong

số 213 đối tượng PNMT tham gia nghiên cứu thì có 2,3% PNMT ở lứa tuổi vị thành

Trang 39

niên, có 2,8% thai phụ không biết chữ, 50,7% PNMT tham gia nghiên cứu chủ yếu làm công việc nội trợ; có 24,4% thai phụ làm công việc chính liên quan đến nông nghiệp; có 3,8% đối tượng PNMT là người dân tộc thiểu số Tỷ lệ PNMT thuộc hộ nghèo/cận nghèo tham gia nghiên cứu là 11,3%

Bảng 3.2: Đặc điểm về số lần mang thai và số con của ĐTNC

3 2 Thực trạng thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

3.2.1 Tỷ lệ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ thiếu máu ở PNMT (n = 213)

Kết quả xét nghiệm máu trên 213 PNMT tham gia nghiên cứu cho thấy có 43 PNMT bị thiếu máu, chiếm tỷ lệ 20,2%

Trang 40

3.2.2 Phân loại mức độ thiếu máu của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 3.2: Phân loại mức độ thiếu máu ở PNMT

Trong số 43 PNMT bị thiếu máu, phân loại theo các mức độ cho thấy: phần lớn (36 PNMT) thiếu máu ở mức độ nhẹ (83,7%), một số ít (7 PNMT) thiếu máu mức độ vừa (16,3%), không có trường hợp PNMT bị thiếu máu mức độ nặng

3.2.3 Tỷ lệ thiếu máu theo một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.3: Tỷ lệ thiếu máu theo đặc điểm của ĐTNC

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w