Một số yếu tố liên quan đến các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm .... Liên quan giữa các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội với một số yếu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ DIỆU
HÀNH VI NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỪ 18 ĐẾN
69 TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ DIỆU
HÀNH VI NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI DÂN TỪ 18 ĐẾN
69 TUỔI TẠI HÀ NỘI NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS Nguyễn Thị Thi Thơ
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Tập thể thầy cô hướng dẫn: Tiến sỹ Nguyễn Thị Thi Thơ, Phó trưởng khoa Sức khoẻ cộng đồng và Chỉ đạo tuyến, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Thạc sỹ Trần Thị Đức Hạnh, giảng viên khoa Các khoa học cơ bản, trường Đại học Y tế công cộng
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Các Thầy, Cô trong hội đồng bảo vệ đề cương nghiên cứu, đã có nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành đề cương và tiến hành nghiên cứu này
Ban giám đốc, Tập thể cán bộ Khoa Kiểm soát bệnh không lây nhiễm và Dinh dưỡng – Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội; Trung tâm Y tế 30 quận, huyện, thị xã thuộc thành phố Hà Nội và Trạm Y tế 60 xã, phường, thị trấn đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Ban giám hiệu nhà trường; Phòng đào tạo sau đại học; Tập thể các thầy cô giáo trường Đại học Y tế công cộng đã nhiệt tình dạy dỗ, truyền kinh nghiệm cho tôi trong quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Tập thể lớp cao học Y tế công cộng khóa 18, gia đình và bạn bè luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2017 Nguyễn Thị Diệu
Trang 4MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU……… viii
ĐẶT VẤN ĐỀ………1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU………4
1.1 Gánh nặng bệnh không lây nhiễm trên Thế giới và Việt Nam ………….4
1.2 Yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm 7
1.3 Một số yếu tố liên quan đến các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm …14
1.4 Phương pháp điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm 17
1.5 Địa bàn nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 23
2.4 Cỡ mẫu: 23
2.5 Phương pháp chọn mẫu 24
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.7 Tổ chức thu thập số liệu 27
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 29
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 30
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 30
2.11 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……….32
3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu …… 32
3.2 Thực trạng các hành vi nguy cơ bệnh không lẫy nhiễm ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội 35
Trang 53.3 Liên quan giữa các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở người dân từ 18 đến
69 tuổi tại Hà Nội với một số yếu tố ….48
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN……… 66
4.1 Thực trạng các yếu tố nguy cơ bệnh không lẫy nhiễm ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội năm 2016 66
4.2 Liên quan giữa các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội với một số yếu tố ………72
KẾT LUẬN……….79
KHUYẾN NGHỊ……….81
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 82
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCH: Bộ câu hỏi
BKLN: Bệnh không lây nhiễm
BMI: Body Mass Index - Chỉ số khối cơ thể
DALY: Disability- Adjusted Life Year - Số năm sống điều chỉnh theo bệnh tật NVYT: Nhân viên y tế
PV: Phỏng vấn
STEPS: STEPwise apporoach for NCD risk factor surveillance
- Bộ công cụ đánh giá nguy cơ các bệnh không lây nhiễm TTYTDP: Trung tâm Y tế dự phòng
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
YLD: - Số năm sống tàn tật
YLL: Years of life lost - Số năm sống bị mất đi do tử vong sớm
YTNC Yếu tố nguy cơ
WHO World Health Organization – Tổ chức Y tế thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Nhóm tuổi và giới của đối tượng tham gia nghiên cứu 32
Bảng 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới 32
Bảng 3.3 Tình trạng dân tộc của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi 33
Bảng 3.4 Tình trạng việc làm theo tuổi và giới 33
Bảng 3.5 Tình trạng hôn nhân theo nhóm tuổi và giới 35
Bảng 3.6 Tỷ lệ % sử dụng thuốc lá 36
Bảng 3.7 Tỷ lệ tuổi bắt đầu hút chia theo khoảng tuổi 38
Bảng 3.8 Trung bình số điếu thuốc hút 1 ngày của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.9 Tỷ lệ sử dụng rượu bia 40
Bảng 3.10 Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu sử dụng rượu ở mức có hại (≥ 6 đơn vị cồn/1 lần uống trong vòng 30 ngày qua) 41
Bảng 3.11 Số ngày trung bình ăn trái cây trong một tuần của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 42
Bảng 3.12 Trung bình số ngày ăn rau trong một tuần điển hình của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và giới 42
Bảng 3.13 Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu ăn ít hơn 5 đơn vị chuẩn rau/trái cây trong 1 ngày 43
Bảng 3.14 Tỷ lệ (%) đối tượng nghiên cứu luôn luôn hoặc thường xuyên thêm muối hoặc thêm nước mắm vào thức ăn của họ trước khi ăn hoặc khi đang ăn 44
Bảng 3.15 Tỷ lệ người thường xuyên/luôn luôn ăn thức ăn chế biến sẵn có nhiều muối 44
Bảng 3.16 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hoạt động thể lực không đủ so với theo khuyến cáo của WHO 45
Bảng 3.17 Tỷ lệ (%) người không tham gia các loại hoạt động thể lực (trong tổng số đối tượng nghiên cứu) 46
Bảng 3.18 Trung bình thời gian không vận động (phút/ngày) 47
Bảng 3.19 Tỷ lệ (%) đối tượng có 0, 1, 2, 3,4 yếu tố nguy cơ mắc BKLN 48
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa hành vi hiện tại hút thuốc lá với một số yếu tố 48
Bảng 3.21 Hồi quy đa biến về mối liên quan giữa hút thuốc và một số yếu tố 50
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa hành vi sử dụng rượu bia trong vòng 12 tháng qua với một số yếu tố (hồi quy đơn biến) 51
Bảng 3.23 Hồi quy đa biến về mối liên quan giữa uống rượu trong 12 tháng qua và một số yếu tố 53
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và hành vi sử dụng rượu bia ở mức có hại (hồi quy đơn biến) 54
Trang 8Bảng 3.25 Hồi quy đa biến về mối liên quan giữa uống ở mức có hại và một số yếu tố 56 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học và hành vi ăn không đủ 5 suất rau/trái cây trong 1 ngày (phân tích đơn biến) 56 Bảng 3.27 Hồi quy đa biến về mối liên quan giữa hành vi ăn rau/ trái cây không đủ theo khuyến cáo của WHO (<5 đơn vị rau/ngày) và một số yếu tố 58 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa hành vi chấm hoặc cho thêm mắm/ muối khi ăn với một
số yếu tố nhân khẩu học và (phân tích đơn biến) 59 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa hành vi ăn đồ ăn sẵn có nhiều muối với một số yếu tố (phân tích đơn biến) 61 Bảng 3.30 Mối liên quan hoạt động thể lực không đủ theo khuyến cáo của WHO và một số yếu tố 62 Bảng 3.31 Hồi quy đa biến về mối liên quan giữa ăn thiếu hoạt động thể lực và một số yếu tố 64
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Biểu đồ 1.1: Xu hướng mô hình bệnh tật đo đường bằng DALY 1990-2010 5
Biểu đồ 1.2: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2012 6
Biểu đồ 1.3: Xu hướng mắc bệnh tại các bệnh viện [5] 6
Biểu đồ 1.4: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2013 7
Biểu đồ 3.1: Tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc và số năm trung bình hút thuốc ở nhóm hiện hút thuốc lá 37
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu Hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm và một số yếu tố liên quan ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội năm 2016 sử dụng phương pháp tiếp
cận chuẩn hoá STEPs (STEPwise apporoach for NCD risk factor surveillance) của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho đối tượng 18 – 69 tuổi với 2 mục tiêu chính: (i) Xác định tỷ lệ một số hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm, (ii) Xác định một
số yếu tố liên quan tới các hành vi nguy cơ này
Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn, phân tầng theo nhóm tuổi và giới để chọn ra cỡ mẫu đại diện cho quần thể 18 – 69 tuổi tại Hà Nội Quá trình điều tra gồm 3 bước (STEPS): Bước 1 thu thập số liệu về nhân khẩu học và các yếu tố hành vi nguy cơ (hút thuốc
lá, sử dụng rượu bia, chế độ ăn không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực); bước 2 tiến hành đo chiều cao, cân nặng và huyết áp; bước 3 làm xét nghiệm đường huyết, cholesterol máu, kèm theo lấy mẫu nước tiểu để định lượng hàm lượng muối tiêu thụ Trong khuôn khổ nghiên cứu này chỉ trình bày kết quả bước 1 nhằm tìm hiểu các hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm và các yếu tố liên quan Tổng số người được chọn tham gia nghiên cứu là 3.300 người, trong đó 2.946 người đồng ý tham gia (tỷ lệ tham gia là 89,27%) Phân tích số liệu nghiên cứu được tiến hành bằng phần mềm Stata 14.0 và sử dụng kiểm định chi bình phương, hồi quy đa biến
để tìm mối liên quan Kết quả nghiên cứu cho thấy, một hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm của người dân Hà Nội cụ thể như sau: Khoảng ¼ (24,1%) dân số trưởng thành hiện tại hút thuốc lá, trong đó gần ½ (49,18%) nam giới và 0,5% nữ giới trưởng thành hút thuốc Hơn 80% những người hiện đang hút thuốc có hút thuốc hàng ngày Tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc là 18,83 tuổi và số năm trung bình hút thuốc là 20,76 năm Gần một nửa (43,37%) dân số trưởng thành hiện đang
sử dụng rượu, trong đó tỷ lệ này ở nam giới là gần 80% và ở nữ giới là 10% Có tới 27,10% nam giới và 0,3% nữ giới uống rượu bia ở mức nguy hại Gần ½ (43,99%)
số người trưởng thành ăn thiếu rau và trái cây so với khuyến cáo của WHO Tỷ lệ này ở nam cao hơn so với nữ (50,09% so với 38,31%) Gần 1/3 (30%) dân số trưởng thành Hà Nội thiếu hoạt động thể lực và tỷ lệ này ở nữ (34,61%) cao hơn nam (25,11%) Một số yếu tố như tuổi, giới, khu vực sống, tình trạng việc làm, tình trạng hôn nhân có liên quan đến các hành vi nguy cơ BKLN Nam giới có nguy cơ hút thuốc lá cao hơn nữ (OR: 218,20; 95% CI: 100,90 – 471,87) Những người làm
Trang 12nghề tự do và nội trợ có nguy cơ hút thuốc lá cao hơn người làm việc trong các cơ quan nhà nước (OR: 2,15; 95% CI: 1,67 – 2,76 và OR: 2,15 ; 95% CI: 1,34 – 6,24) Nam giới có nguy cơ uống rượu bia ở mức có hại cao hơn nữ (OR: 131,69; 95% CI: 48,61-356,8) Nguy cơ uống rượu, bia ở mức có hại của nhóm 45– 69 tuổi thấp hơn nhóm 18– 44 tuổi (OR: 0,41 ; 95% CI: 0,34 – 0,56) Nam giới có nguy cơ ăn thiếu rau và trái cây theo khuyến cáo của WHO cao hơn nữ giới (OR: 1,6; 95% CI: 1,38-1,84) Những người sinh sống ở nông thôn có nguy cơ ăn thiếu rau và trái cây cao hơn những người ở sinh sống ở thành thị (OR: 1,35 ; 95% CI: 1,06 – 1,72) Nam giới, nhóm 45 – 69 tuổi, những người sinh sống ở nông thôn, những người có trình
độ học vấn dưới bậc tiểu học, những người làm nghề tự do và nghỉ hưu có nguy cơ thiếu hoạt động thể lực thấp hơn nữ giới, người sinh sống ở thành thị và người làm việc trong cơ quan nhà nước Cần tăng cường các hoạt động truyền thông, nâng cao sức khoẻ nhằm loại bỏ, hạn chế các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm, trong
đó tập trung vào các đối tượng như nam giới, nhóm tuổi trẻ, đối tượng làm việc tại các cơ quan nhà nước Kết quả của nghiên cứu là cơ sở xây dựng kế hoạch chiến lược phòng chống bệnh không lây nhiễm tại Hà Nội giai đoạn 2017 – 2025
Trang 13và trung bình thấp trong đó có Việt Nam, tới năm 2030, gánh nặng tử vong do BKLN sẽ tăng gấp 5 lần so với số tử vong của rất nhiều bệnh khác cộng lại [63] Việt Nam đang phải đối mặt với sự gia tăng ngày càng trầm trọng của các BKLN WHO ước tính trong năm 2012, Việt Nam có 520.000 trường hợp tử vong
do tất cả các nguyên nhân, trong đó tử vong do các BKLN chiếm tới 73% (379.000 ca) và 66,2% tổng gánh nặng bệnh tật toàn quốc là do các BKLN [65] [30]
Mặt khác, theo WHO các BKLN nói trên đều có chung yếu tố nguy cơ (YTNC) về hành vi như hút thuốc lá, uống rượu, bia, dinh dưỡng không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực [31] Các YTNC về hành vi đóng một vai trò rất lớn trong việc gây ra BKLN Và các yếu tố nguy cơ này có thể can thiệp, phòng chống được Kiểm soát tốt các YTNC về hành vi là cách hiệu quả nhất trong phòng BKLN Theo
số liệu của WHO, 80% bệnh tim- mạch, đái tháo đường và 40% ung thư có thể phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTNC về hành vi [57], [60] Trong chiến lược quốc gia phòng chống bệnh ung thư, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây khác giai đoạn
2015 – 2025, kiểm soát YTNC hành vi là một trong những mục tiêu quan trọng
Hà Nội là thủ đô của cả nước, là nơi tập trung rất đông dân cư với dân số khoảng 7,6 triệu người trên diện tích 3.329 km2, đặc biệt là những người di cư từ các tỉnh khác sang, do vậy các công việc liên quan đến phòng chống BKLN cũng đang rất có nhiều thách thức Vì vậy, phòng chống BKLN trở thành một trong những ưu tiên không chỉ của quốc gia mà của cả Hà Nội và đặt ra yêu cầu phải có
hệ thống thu thập thông tin để theo dõi, đánh giá xu hướng của BKLN, các YTNC nhằm cung cấp bằng chứng cho hoạch định chính sách và đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả STEPs là phương pháp chuẩn hoá do WHO xây dựng để giúp thu thập các thông tin về yếu tố nguy cơ BKLN, có thể so sánh được giữa các quốc gia,
khu vực và theo thời gian Nghiên cứu: “Hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm và một số yếu tố liên quan ở người dân từ 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội, năm 2016” có vai
Trang 14trò quan trọng để góp phần cung cấp thông tin, số liệu cho việc lập và triển khai kế hoạch chiến lược phòng chống BKLN giai đoạn 2017 – 2025 tại Hà Nội, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cho mạng lưới giám sát BKLN của Hà Nội
Trang 15Mục tiêu nghiên cứu
1 Xác định tỷ lệ một số hành vi nguy cơ của bệnh không lây nhiễm ở người 18 đến 69 tuổi tại Hà Nội, năm 2016
2 Xác định một số yếu tố liên quan tới các hành vi nguy cơ này ở người 18 đến
69 tuổi tại Hà Nội, năm 2016
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Gánh nặng bệnh không lây nhiễm trên Thế giới và Việt Nam
1.1.1 Một số khái niệm
Bệnh không lây nhiễm là các bệnh mạn tính, không lây truyền, phát triển và tiến triển chậm kéo dài trong nhiều năm, đòi hỏi việc điều trị có hệ thống và lâu dài thậm chí cả cuộc đời
Có nhiều BKLN khác nhau, tuy nhiên, hiện nay thế giới và Việt Nam đang
ưu tiên phòng, chống các bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường, ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính vì là những bệnh có tỷ lệ mắc cao và là nguyên nhân chủ yếu gây tàn tật và tử vong ở hàng đầu, tạo nên những thách thức lớn đối với nền y tế của các nước
Các BKLN này còn có chung các yếu tố nguy cơ (các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển) thuộc hành vi lối sống như hút thuốc lá, uống rượu, bia, chế độ ăn không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực [4]
1.1.2 Gánh nặng bệnh không lây nhiễm trên Thế giới
Các BKLN là thách thức của toàn cầu và đang là gánh nặng rất lớn đối với
xã hội và hệ thống Y tế Hiện nay, các BKLN thường bị hiểu nhầm chỉ là vấn đề sức khỏe của các nước có thu nhập cao Trong khi đó, 80% gánh nặng của các bệnh này chủ yếu là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [54]
Tử vong do các BKLN luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Theo Nghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm
2014, trong tổng số 56 triệu ca tử vong năm 2012, có 68% là do các BKLN [31] Như vậy, tỷ lệ này tăng 30% so với năm 1990, chủ yếu do tăng trưởng dân số và già hóa dân số [47] Điều đáng báo động là các ca tử vong do các BKLN ở các nước đang phát triển xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn Theo Báo cáo BKLN toàn cầu, năm
2014, có khoảng 42% các ca tử vong do BKLN là ở những người dưới 70 tuổi; 48% trường hợp tử vong do BKLN là ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, 28% ở các nước phát triển đều có độ tuổi dưới 70 [31]
Theo dự báo của WHO cho thấy: Trên toàn cầu tỷ lệ tử vong do BKLN sẽ tăng 15% trong khoảng thời gian từ 2010-2020 (sẽ là khoảng 44 triệu ca tử vong)
Tỷ lệ tăng cao nhất (khoảng 20%) là ở khu vực châu Phi, Đông Nam Á, Đông Âu Khu vực có số ca tử vong do BKLN cao nhất vào năm 2020 là Đông Nam Á (10,4
Trang 17triệu ca) và Tây Thái Bình Dương (12,3 triệu ca) [59] Vào năm 2030, số ca tử vong
do các BKLN ở các nước có thu nhập thấp sẽ cao hơn 8 lần so với ở các nước có thu nhập cao [51]
Bên cạnh các thông tin về tỷ lệ tử vong do các BKLN, các số liệu về tỷ lệ mắc bệnh cũng rất quan trọng trong công tác dự phòng, quản lý hệ thống chăm sóc sức khỏe và công tác lập kế hoạch, đánh giá việc cung cấp dịch vụ y tế Tuy nhiên, hiện nay nhiều quốc gia không có các số liệu tin cậy về tỷ lệ mắc các BKLN Số liệu về tỷ lệ mắc toàn diện nhất hiện có là của các bệnh ung thư qua hệ thống ghi nhận tại cộng đồng hoặc bệnh viện
Mô hình gánh nặng bệnh tật năm 2012 cho thấy BKLN chiếm tới 55,1%; bệnh truyền nhiễm và các vấn đề về bà mẹ, sơ sinh và dinh dưỡng chỉ chiếm 33,7%; còn lại là do tại nạn thương tích (11,1%) [63] So với năm 1990, các bệnh truyền nhiễm gây ra gánh nặng bệnh tật lớn nhất, chiếm 47% và gánh nặng do BKLN chỉ chiếm 43%[50] Ở hầu hết các quốc gia (trừ các nước ở khu vực Tiểu Sahara), các BKLN gây ra ít nhất 50% trong tổng số năm sống khoẻ mạnh bị mất Con số này cao tới trên 80% ở Úc, Nhật và các nước giàu ở Tây Âu và Bắc Mỹ [23] Theo ước tính, tỷ trọng DALY gây ra do các BKLN ở các nước thu nhập thấp và trung bình sẽ tăng từ 33% năm 2002 lên khoảng 45% vào năm 2030 [48]
1.1.3 Gánh nặng bệnh không lây nhiễm tại Việt Nam
Biểu đồ 1.1: Xu hướng mô hình bệnh tật đo đường bằng DALY 1990-2010
Năm 2012 ước tính có 520.000 trường hợp tử vong vì BKLN tại Việt Nam, chiếm 73% tổng số nguyên nhân tử vong Trong đó, tử vong do bệnh tim mạch chiếm 33%, ung thư 18%, các bệnh đường hô hấp mạn tính chiếm 7% và đái tháo đường 3% [62]
Trang 18Biểu đồ 1.2: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2012
Niên giám thống kê của Bộ Y tế trong những năm 1979, 1986, 2006 và 2013 cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân mắc BKLN trong số bệnh nhân nhập viện ngày càng cao
Tỷ lệ này từ 42,65% vào năm 1976 và chỉ giảm nhẹ xuống 39% vào năm 1986 rồi tăng lên 50,02% (1996), 62,40% (2006) và 63.50% (2013) Trong khi đó, tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm trong những năm này tăng nhẹ từ 55,50% lên 59,20% rồi giảm mạnh xuống 37,63% (1996), 24,94% (2006) và 25,33% (2013) [4]
Biểu đồ 1.3: Xu hướng mắc bệnh tại các bệnh viện [4]
Cũng theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế tỷ lệ chết do các BKLN trong tổng số ca tử vong tại các bệnh viện cũng gia tăng Chết do BKLN từ 44,71%
Trang 19(1976) giảm nhẹ xuống 41,8% (1986) rồi tăng lên 43,68% (1996); 61,62% (2006)
và 69,63% (2013) Chết do bệnh truyền nhiễm giảm từ 53,06% xuống 52,10% rồi xuống 33,13%; 13,23% và 12,23% (2013) [4]
Biểu đồ 1.4: Xu hướng bệnh tật tại bệnh viện tại Việt Nam năm 2013
Gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY ở Việt Nam năm 2010 do BKLN chiếm 66,3% tổng gánh nặng bệnh tật [42]
1.2 Yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm
Theo WHO, YTNC được hiểu là “ bất kỳ thuộc tính, đặc điểm hoặc phơi nhiễm nào đó của một cá thể mà làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm của cá thể đó” Các yếu tố nguy cơ BKLN được chia thành 3 nhóm: hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học [60]
Yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống như: Hút thuốc lá, uống rượu, bia, chế độ ăn không hợp lý (ăn ít rau quả, ăn nhiều đạm, mỡ động vật…), thiếu hoạt động thể lực Hầu hết các BKLN hiện nay đều có chung yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống và những yếu tố này đóng vai trò vô cùng quan trọng trong phát sinh bệnh Ví dụ: Hút thuốc lá có nguy cư ung thư phổi, miệng…, gây tăng huyết áp và các bệnh tim mạch khác, gây đái tháo đường… chính vì vậy BKLN còn được gọi bệnh của lối sống
1.2.1 Một số yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống của các bệnh không lây nhiễm
Các YTNC thuộc về hành vi lối sống vô cùng quan trọng trong BKLN Kiểm soát tốt các YTNC này là cách hiệu quả nhất trong phòng chống BKLN Theo Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tim mạch, đái tháo đường và 40% ung thư có thể
Trang 20phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTNC hành vi [60]
1.2.1.1 Hút thuốc lá
Trong khói thuốc lá chứa hơn 7.000 loại hóa chất Trong đó có hàng trăm loại hoá chất có hại cho sức khoẻ bao gồm hơn 70 chất gây ung thư Hút thuốc là yếu tố nguy cơ của hàng loạt BKLN như: tai biến mạch máu não, bệnh đường hô hấp mạn tính như bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính, ung thư (phổi, gan, dạ dày, vòm họng, thực quản, tụy, cổ tử cung, miệng, bạch cầu) bệnh tim thiếu máu cục bộ, đái tháo đường, [46] Năm 2010, ước tính hút thuốc lá gây ra 16,9% tổng số ca tử vong tương đương 74.710 ca tử vong và 8,8% tổng gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY, chủ yếu là do các BKLN (97% tổng tử vong và 94% tổng số DALY liên quan hút thuốc lá là do BKLN) [42]
Hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi, khoảng 87% trong số 177.000 ca mới mắc ở Mỹ năm 1996 là do thuốc lá, còn lại là do các nguyên nhân khác như: ô nhiễm môi trường, bệnh nghề nghiệp, ăn uống, cơ địa và các yếu tố di truyền 90% trong số 660.000 ca được chẩn đoán ung thư phổi hàng năm trên thế giới là người hút thuốc lá Giả định nguy cơ của những người không hút thuốc lá bị ung thư phổi là 1 thì nguy cơ bị ung thư phổi của những người hút thuốc cao hơn gấp 10 lần so với những người không hút thuốc Các loại ung thư các bộ phận thuộc đầu và cổ bao gồm ung thư thực quản, thanh quản, lưỡi, tuyến nước bọt, môi, miệng
và họng Những nguy cơ của các bệnh ung thư này sẽ tăng dần cùng với số lượng và thời gian hút thuốc Hút thuốc lá và nghiện rượu là hai yếu tố mạnh nhất gây ung thư ở các bộ phận thuộc đầu và cổ Nguy cơ phát bệnh ung thư thực quản của người hút thuốc lớn hơn 8 tới 10 lần người không hút thuốc Những nguy cơ này sẽ bị tăng thêm từ 25 tới 50% nếu người hút thuốc sử dụng nhiều rượu Hút thuốc gây nên 80% trong tổng số ung thư thanh quản Người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh ung thư thanh quản lớn hơn 12 lần so với người không hút thuốc [9]
Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của các bệnh ung thư lưỡi, tuyến nước bọt, miệng và vòm họng Những người nam giới hút thuốc có nguy cơ lớn gấp 27 lần phát triển các bệnh về ung thư miệng hơn những nam giới không hút thuốc Về lâu dài người hút thuốc sẽ có nguy cơ cao gấp hai lần hơn người không hút thuốc trong phát bệnh ung thư mũi Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cả thận và bàng quang Trong tổng số ca tử vong do ung thư bàng quang, thì ước tính khoảng
Trang 2140- 70% là do sử dụng thuốc lá Tuyến tụy là tuyến dễ mắc ung thư vì khi khói thuốc đi vào cơ thể sẽ tới tuyến tụy qua máu và túi mật Với ước tính hút thuốc lá là nguyên nhân chủ yếu chiếm tới 30% tổng số ung thư tuyến tụy, còn ung thư âm hộ,
là một phần của bộ phận sinh dục nữ thông thường hiếm gặp Tuy nhiên phụ nữ hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư âm hộ gấp đôi phụ nữ không hút Ung thư dương vật
đã trở nên ngày càng phổ biến ở nam giới hút thuốc hơn là những người nam không hút thuốc Bằng chứng mới đây đã phát hiện ra hút thuốc lá đóng vai trò tác nhân gây gây ung thư hậu môn và ung thư đại trực tràng [10]
Thuốc lá là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Mối liên quan giữa sử dụng thuốc và các bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mạnh tương tự như mối liên quan giữa hút thuốc và ung thư phổi Bởi vì người hút thuốc thường bị suy yếu chức năng niêm mạc phế quản hơn những người không hút thuốc, họ bị ảnh hưởng nhiều hơn từ môi trường, lây nhiễm và các khói độc Ước tính các bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính ở người hút thuốc cao hơn gấp 10 lần
so với người không hút thuốc và sử dụng thuốc lá có thể liên quan tới hầu hết các ca
tử vong mắc các bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính Ở người hút thuốc bệnh hen sẽ
bị nặng hơn Người mắc bệnh hen kèm theo hút thuốc thì tăng thêm các triệu chứng như tăng tiết nhiều đờm, giảm hoạt động của lông mao, dễ bị nhiễm bệnh, dễ bị dị ứng và ảnh hưởng tới sự lưu thông khí ở các đường thở nhỏ Một nghiên cứu về tỷ
lệ tử vong vì bệnh hen trong số người đang hoặc đã từng hút thuốc gấp đôi so với người không hút thuốc: 3,7/100.000 so với 8,3/100.000 Hút thuốc làm suy yếu hệ miễn dịch của cơ thể Nguy cơ viêm đường hô hấp như viêm phổi và bệnh cúm ở người hút thuốc cao hơn ở người không hút thuốc Người hút thuốc không chỉ mắc bệnh tật nhiều hơn mà họ còn phải chịu đựng bệnh tật mắc ở mức độ nặng hơn [23]
Khói thuốc có thể gây ra loạn nhịp tim Một tác động quan trọng khác là gây tăng huyết áp cấp tính và tăng huyết áp dao động Những người hút thuốc có nguy
cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2– 4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này so với người không hút thuốc Người hút thuốc có nguy cơ bị phình mạch cao hơn gấp 8 lần so với những người không hút thuốc [9]
Điều tra tại Qatar vào năm 2012 cho biết, tỷ lệ những người hiện đang hút thuốc lá là 16,4%, trong đó nam chiếm 31,9% Có tới 14,7% đối tượng đang hút thuốc lá hàng ngày Đặc biệt, nghiên cứu còn chỉ ra rằng, tuổi bắt đầu hút thuốc của đối tượng là rất trẻ, trung bình là 18,9 tuổi (95% CI = 18,1 – 19,8 tuổi) [32] Tại
Trang 22Viên Chăn, Lào, điều tra YTNC của BKLN vào năm 2008 đã được tiến hành Kết quả được công bố đã chỉ ra, tỷ lệ hiện tại tại đang hút thuốc là 19,0%, hút thuốc lá hàng ngày chiếm tỷ lệ 18,8% Tuổi bắt đầu hút thuốc là 19,7 tuổi [34] Đặc biệt báo động là phải kể đến nước Đông Timor, năm 2014, điều tra trên 2.509 người trưởng thành đã chỉ ra, tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá chiếm 48,6%, tức tương đương với gần 1/2 tổng số đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, tỷ lệ hiện đang hút thuốc lá hàng ngày rất cao, chiếm hơn 1/3 đối tượng được khảo sát [67]
Xu hướng hút thuốc lá ở Việt Nam bắt đầu giảm, nhưng tỷ lệ hút vẫn còn cao Năm 1992/93 tỷ lệ hiện hút thuốc lá (gồm cả thuốc lào) ở nam giới từ 15 tuổi trở lên là 60,5% đến năm 2001/02 đó giảm xuống mức 56,1% và đến năm 2010 giảm tiếp đến 47,4% [11] Ở nữ giới, tỷ lệ hiện hút thuốc lá năm 1992/93 là 4,2% đến năm 2001/02 là 1,8% và năm 2010 là 1,4% Từ năm 1992/93 đến năm 2010, tỷ
lệ hiện hút đó giảm ở từng nhóm tuổi Năm 1992, tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất là nhóm 25- 44 tuổi, đến năm 2010 nhóm có tỷ lệ hút cao nhất là nhóm 45- 64 tuổi Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có số người hút thuốc lá nhiều nhất trên thế giới với khoảng 15,3 triệu người trưởng thành đang hút thuốc lá Đặc biệt, tỷ lệ hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn ở mức cao và độ tuổi bắt đầu hút thuốc
lá ngày càng trẻ Có 43,6% nam thanh thiếu niên cho biết đó từng hút thuốc với độ tuổi trung bình khi bắt đầu hút thuốc lá là 16,9 Trong số những nam thanh niên đó từng hút thuốc, có tới 71,7% hiện nay vẫn đang hút [20]
1.2.1.2 Hành vi sử dụng rượu, bia
Kết quả điều tra về các yếu tố nguy cơ của một số BKLN năm 2009 tại Việt Nam cho thấy 6% nữ và 70% nam từ 25- 64 tuổi có uống rượu, bia trong tháng; trong đó khoảng 40% nam giới ở độ tuổi này tiêu thụ rượu, bia ở mức có hại và nguy hiểm (từ 4 ly chuẩn trở lên một ngày, tương đương khoảng 56 gam cồn nguyên chất) [11] Tỷ lệ uống rượu quá mức (ít nhất 60 gam trong ít nhất một lần trong 30 ngày qua) là 5,5% ở nam giới uống rượu và 0,8% nữ giới uống rượu [64] Tình trạng sử dụng rượu bia trên thế giới, đặc biệt là ở một số nước Đông Nam Á cùng chúng ta vẫn đang là một vấn đề nổi cộm Tại Đông Timor (năm 2014), tỷ lệ người đã từng uống rượu chiếm 57,7% Tỷ lệ uống rượu ở mức có hại là 14,5% [67] Trong khi đó, tỷ lệ đã từng uống rượu bia của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu một số nguy cơ của bệnh không lây nhiễm tại Bangladesh (năm 2010) cao gấp hơn 2 lần nước Đông Timor, tức đạt tới 94,4% Nguy hiểm hơn nữa là tỷ lệ uống rượu ở mức có hại chiếm 66,7% [70]
Trang 23Sử dụng rượu, bia quá mức liên quan tới nhiều bệnh mạn tính và chấn thương [46] Gánh nặng quy thuộc một số vấn đề sức khoẻ liên quan đến sử dụng rượu, bia; bao gồm: rối loạn tâm thần do sử dụng rượu, xơ gan, tai biến mạch máu não, ung thư gan, ung thư miệng/hầu họng, ung thư thực quản, ung thư vú, động kinh, chấn thương do tai nạn giao thông và bạo lực Tổng cộng, sử dụng rượu, bia gây ra 5,7% tổng số ca tử vong và 4,7% tổng gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY của Việt Nam năm 2010 [42] Khoảng 3/4 gánh nặng bệnh tật liên quan rượu, bia là
do BKLN
Tác động về mặt sức khỏe của việc sử dụng rượu, bia là rất lớn Theo thống
kê của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, có tới 4,4% người dân Việt Nam phải gánh chịu bệnh tật do hậu quả của rượu, bia mang lại [43] Năm 2010, ước tính có 8,7% nam và 0,9% nữ tuổi từ 15 trở lên có các rối loạn liên quan đến sử dụng rượu [64] Trong đó, lệ thuộc vào rượu (alcoholism) chiếm tỷ lệ 5,9% ở nam và 0,1% nữ
từ 15 tuổi trở lên
Uống rượu nhiều liên quan với tăng huyết áp Tăng huyết áp thấy ở 20- 30%
số người lạm dụng rượu Hơn nữa, rượu còn liên quan đến rối loạn nhịp tim [38], [64] Đối với gan, tác dụng phụ chính của lạm dụng rượu là gây tổn thương gan cho
dù mới uống một gia đoạn ngắn nhưng uống nhiều Đây là 1 trong 10 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nhiều nước phát triển Uống rượu còn liên quan với sự hình thành viêm gan và xơ gan [64].Với hệ tiêu hoá, uống rượu liên quan đến viêm thực quản, viêm dạ dày, loét dạ dày, viêm tụy Sử dụng rượu cũng làm tăng tỷ lệ ung thư, đặc biệt là ung thư thực quản, dạ dày, gan, ung thư tụy, ruột và phổi
1.2.1.3 Chế độ ăn không hợp lý
Một vấn đề trong ăn uống không hợp lý đã được chứng minh có liên quan mật thiết đến BKLN bao gồm: ăn không đủ rau, ăn nhiều muối, nhiều đường, nhiều chất béo và dư thừa năng lượng Mặc dù đã có những cải tiến về dinh dưỡng, nhưng vẫn còn nhiều điều lo ngại liên quan đến chế độ ăn uống, đặc biệt là liên quan đến BKLN Yếu tố nguy cơ của ung thư, chủ yếu ung thư dạ dày và đại- trực tràng là ăn quá ít chất xơ, rau, quả, sữa, can xi và ăn thừa thịt bò, thịt chế biến và muối Đái tháo đường liên quan ăn thiếu ngũ cốc nguyên cám và ăn thừa thịt bò, thịt chế biến
và đồ uống có đường Thừa cân, béo phì là hậu quả của việc ăn thừa thực phẩm, đặc biệt đồ uống ngọt, đồng thời là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tật Nghiên cứu của Viện dữ liệu và đánh giá y tế cho thấy, gánh nặng bệnh tật do chế độ ăn năm 2010
Trang 24ước tính là 23% tổng số tử vong và 9,5% tổng số DALY [42]
Ăn ít rau, quả
Rau quả là nguồn cung cấp vitamin, khoáng chất, chất xơ và chất chống ô xy hoá cho cơ thể Khẩu phần ăn thiếu rau, quả có nguy cơ gây ung thư (đại- trực tràng), bệnh tim mạch Khoảng 2,7 triệu người trên thế giới được cứu sống nếu khẩu phần ăn có đủ rau xanh [60] 26,7 triệu người (1,8%) DALY toàn cầu là do khẩu phần ăn không có đủ rau xanh Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do ăn thiếu rau xanh gây ra thì bệnh tim mạch chiếm 85%, ung thư 15% Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị ăn ít nhất 400 gam rau, quả/ngày [57], [61] Trung bình số ngày ăn rau của các đối tượng nghiên cứu trong tuần là 5,5 ngày đối với Quatar (năm 2012) [32] Tại Đông Timor (năm 2014), gần như cả 7 ngày/tuần mọi người đều ăn rau trong bữa ăn của mình [67] Tuy nhiên hiện nay, một số nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người dân còn ăn ít hơn 5 đơn vị chuẩn rau/trái cây trên 1 ngày theo khuyến cáo của WHO là khá cao, như tại Đông Timor tỷ lệ này chiếm tới 77,5% [67], còn trong nghiên cứu tại Bangladesh vào năm 2010, có tới 95,7% đối tượng ăn ít hơn lượng rau và trái cây được khuyến cáo [70], tại Quatar tỷ lệ này cũng chiếm tới hơn 91% [32]
Ăn nhiều muối
Muối là một loại thực phẩm không thể thiếu trong khẩu phần ăn hàng ngày Muối tham gia vào thành phần của các chất dịch trong cơ thể như máu, dịch của các
mô, dịch não tuỷ, nước mắt, nước tiểu… Khi lượng muối ăn vào vượt quá nhu cầu
cơ thể thì lượng muối dư thừa sẽ được đào thải theo nước tiểu và mồ hôi Tuy nhiên, khi tình trạng này kéo dài, nhất là khi muối không được đào thải hết vì một lý
do nào đó, sẽ phát sinh nhiều bệnh tật Trước tiên, ăn nhiều muối có nguy cơ bị tăng huyết áp Nồng độ muối của các dịch trong cơ thể là hằng định Vì thế, khi ăn nhiều muối cơ thể sẽ phải cần thêm nước để duy trì nồng độ dịch thể hằng định Để đáp ứng yêu cầu này, cảm giác khát sẽ xuất hiện làm cho người ăn mặn phải uống nhiều nước, điều này đồng nghĩa với việc tăng dung lượng máu Hiện tượng này kéo dài
sẽ làm tăng huyết áp Một cơ chế gây tang huyết áp ở người ăn mặn nữa là muối làm tăng độ nhạy cảm của hệ thống tim mạch và thận đối với Adrenaline – một chất gây tăng huyết áp Ăn mặn còn liên quan tới một số bệnh khác của hệ thống tiêu hoá, bài tiết WHO khuyến cáo người bình thường chỉ nên tiêu thụ dưới 5 gam muối/người/ngày [58] Trong một số nghiên cứu, nhiều kết quả đã chỉ ra rằng, nhiều
Trang 25người trên thế giới vẫn có xu hướng ngày càng ăn mặn hơn Trong nghiên cứu về yếu tố nguy cơ của bệnh không lây nhiễm năm 2014 tại Đông Timor, có 78% người dân luôn luôn hoặc thường xuyên cho thêm muối hoặc chấm mắm thức ăn trong hoặc khi đang ăn Ngoài ra, còn có khoảng 13% người luôn luôn ăn thức ăn sẵn có nhiều muối [67]
Ăn nhiều chất béo
Chất béo rất quan trọng: tham gia cấu tạo cơ thể (màng thế bào, hormone, kháng thể,…), dung môi hoà tan vitamin (A, D, E, K), tạo năng lượng… Sử dụng nhiều chất béo gây thừa cân, béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hoá và BKLN Thay thế việc sử dụng nhiều chất béo no nguồn gốc động vật bằng chất béo không no nguồn gốc thực vật được chứng minh làm giảm nguy cơ đái tháo đường týp 2 và bệnh mạch vành Tăng Cholesterol máu ước tính gây ra 18% bệnh mạch não, 56% bệnh mạch vành toàn cầu [57]
1.2.1.4 Thiếu hoạt động thể lực
Ít hoạt động thể lực liên quan nhiều loại BKLN như chứng loãng xương, viêm xương khớp, đau lưng, béo phì, bệnh tim mạch, ung thư vú ung thư tiền liệt tuyến, ung thư trực tràng, trầm cảm, lo âu, căng thẳng Ít hoạt động thể lực gây ra 2,8% tổng số tử vong (12.648 ca tử vong) và 1,5% gánh nặng bệnh tật tính bằng DALY theo ước tính tại Việt Nam năm 2010 Đặc biệt, theo nghiên cứu ở Việt Nam, gánh nặng bệnh tật liên quan ít hoạt động thể dục hoàn toàn do BKLN, trong
đó chủ yếu là các bệnh tim mạch, ung thư đại tràng và đái tháo đường là các vấn đề sức khỏe chính liên quan đến tình trạng ít vận động [42]
Hậu quả là tỷ lệ thừa cân, béo phì đang có xu hướng tăng lên ở người trưởng thành, nhất là tại khu vực thành thị Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở người lớn đã tăng nhanh, đặc biệt ở các thành phố lớn, do chế độ ăn thừa năng lượng và lối sống ít vận động Năm 2006, 16,3% người từ 25 đến 64 tuổi thừa cân và béo phì [25], đến năm
2010 đã lên 26,9% [11] Và cho đến hiện nay, ít hoạt động thể lực vẫn là một vấn đề rất nổi cộm Tại BăngLadesh, tỷ lệ người ít hoạt động thể lực chiếm tới 27,0%, trong đó, nữ có xu hướng ít vận động nhiều hơn nam giới [70]
Trang 261.3 Một số yếu tố liên quan đến các hành vi nguy cơ bệnh không lây nhiễm
Trên thế giới và tại Việt Nam, một số nghiên cứu đã được thực hiện qua đó tìm thấy một số yếu tố có liên quan đến các hành vi nguy cơ dẫn đến các bệnh không lây nhiễm
Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng thuốc lá
Trần Khánh Toàn và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu “Thực trạng hút thuốc
lá và một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành 25- 64 tuổi tại quận Đống Đa,
Hà Nội” Kết quả cho thấy tỷ lệ hút thuốc ở nam giới nam giới vẫn ở mức cao (54,6%), gấp nhiều lần so với nữ giới (1,7%) ở tất cả các nhóm tuổi Đa số những người hút thuốc hiện tại là hút thuốc hàng ngày Những người tốt nghiệp phổ thông trung học và tốt nghiệp các trường chuyên nghiệp có tỷ lệ hút thuốc thấp hơn, có ý nghĩa thống kê so với những người tốt nghiệp trung học cơ sở trở xuống với OR lần lượt là 0,7 (95%CI: 0,5 - 0,9) và 0,5 (95%CI: 0,3 - 0,7) Chưa tìm thấy mối liên quan giữa hút thuốc lá với nghề nghiệp và kinh tế hộ gia đình [22]
Nghiên cứu của tác giả Lakew cùng cộng sự đã thực hiện nghiên cứu: “Sử dụng thuốc lá và các yếu tố liên quan ở người trưởng thành tại Ethiopia: Phân tích sâu Khảo sát Nhân khẩu học và Y tế tại Ethiopia vào năm 2011” đã cho thấy rằng,
tỷ lệ sử dụng thuốc lá có liên quan đến tuổi, những người trong nhóm tuổi từ 20- 24
và 45- 49 có xu hướng sử dụng thuốc lá nhiều hơn, gấp lần lượt 2,3 lần (95% CI: 1,60- 3,21) và 9,01 lần (95% CI: 6,06-13,54) so với những người thuộc độ tuổi từ 15-19 Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc
là tôn giáo Nhóm đối tượng nghiên cứu theo quốc giáo, đạo Thiên Chúa và Đạo Hồi có tỷ lệ sử dụng thuốc lá lần lượt cao gấp 5,5 lần (95% CI: 3,96- 7,55); 3,4 lần (95% CI: 2,03- 5,69) và 2,8 (95% CI: 2,31- 3,32) so với những người giáo hội chính thống Thêm vào đó, người nghèo cũng sử dụng thuốc lá nhiều hơn so với những người giàu (AOR : 1,4; 95 % CI : 1,05- 1,79) Giới tính cũng là yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng thuốc lá, nam giới hút thuốc lá nhiều hơn nữ giới Những người đã từng kết hôn có khả năng sẽ hút thuốc lá nhiều hơn người chưa bao giờ kết hôn Người trưởng thành có công việc tốt ít hút thuốc hơn những người không có việc làm Tuy nhiên, những người làm những công việc như bán hàng, việc có hoặc không có tay nghề thì lại có xu hướng hút thuốc lá nhiều hơn những người không đi làm (lần lượt AOR: 1,6;95% CI: 1,18- 2,24, AOR: 1,7; 95% CI : 1,21- 2,50 và AOR: 3,8 95%; CI : 2,27- 6,23) Cá nhân những người đã phải trải qua cái chết của trẻ có nhiều khả năng sử dụng thuốc lá hơn những người tương ứng khác [71]
Trang 27Một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng rượu bia, đồ uống có cồn
Hoàng Thị Phượng và cộng sự đã thực hiện nghiên cứu về lạm dụng rượu bia tại 3 tỉnh Sơn La, Thanh Hóa và Bà Rịa - Vũng tàu cho thấy, các biến độc lập như giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, mức sống hộ gia đình, địa bàn cư trú Nam giới có nguy cơ sử dụng rượu gấp 213 lần và sử dụng bia cao gấp 5,55 lần so với nữ giới; ngoài ra, người có nhóm tuổi càng cao thì sử dụng rượu bia càng nhiều hơn với nhóm tuổi trẻ, đặc biệt nhóm tuổi 45- 60 có nguy cơ sử dụng rượu cao gấp 23 lần so với nhóm 18- 24 tuổi Không tìm thấy mối liên quan giữa trình độ học vấn với việc sử dụng rượu Còn đối với việc sử dụng rượu bia ở mức có hại (trước thường được gọi là: lạm dụng rượu bia), hành vi này cũng có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với yếu tố giới Nam giới có nguy cơ lạm dụng rượu cao gấp 131 lần và lạm dụng bia cao gấp 27 lần so với nữ Nhóm tuổi có mối liên quan khá rõ rệt theo hướng tuổi càng cao thì lạm dụng rượu bia càng nhiều, đặc biệt nhóm tuổi 35- 60 có nguy cơ lạm dụng rượu cao gấp 15 lần so với nhóm tuổi 15-
21, tương tự như vậy đối với bia [14]
Nghiên cứu “Sự khác biệt giữa vùng thành thị, nông thôn và di cư trong các yếu tố nguy cơ của BKLN ở những nước có thu nhập trung bình: Một nghiên cứu cắt ngang từ dữ liệu WHO-SAGE” của tác giả O Oyebode vào năm 2015 đã chỉ ra: lượng tiêu thụ rượu thường xuyên của nhóm người dân ở vùng di cư và thành thị thấp hơn so với vùng nông thôn (lần lượt, RR: 0,47 (95% CI : 0,31- 0,68) và RR: 0,58 (95% CI: 0,46-0,72) [52] Điều này cho thấy rằng khu vực sống cũng ảnh hưởng ít nhiều đến xu hướng sử dụng rượu của người dân
Tác giả Huang Z (2014) đã thực hiện nghiên cứu “Hành vi uống rượu của những người lao động tự do Trung Quốc trong độ tuổi 18-59 năm 2012” cho biết, những người nam hút thuốc là nhiều hơn đáng kể so với nữ Ngoài ra, trong số những người nam giới uống rượu hàng ngày thì tỷ lệ uống rượu lá liên quan đến độ tuổi, người ở nhóm tuổi cao hơn thì uống rượu nhiều hơn [41]
Nghiên cứu “Tình hình và các yếu tố dẫn đến việc uống rượu bia trong học sinh THPT tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An năm 2008” của Bùi Thị Hy Hân vào năm 2008 cho biết, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới tính, nghề nghiệp của người cha với uống rượu, bia Cụ thể, nam uống nhiều hơn nữ, học sinh có cha làm nhân viên văn phòng uống nhiều hơn các ngành nghề khác [12] Còn nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh đã chỉ ra rằng, nhóm có bạn bè thân thường xuyên uống
Trang 28rượu có nguy cơ lạm dụng rượu bia cao gấp 7,138 lần so với nhóm có bạn bè thân không thường uống rượu bia [1]
Một số yếu tố liên quan đến hành vi tiêu thụ rau/hoa quả
Tác giả Behjat S và cộng sự đã thực hiện hiện cứu “Tiêu thụ hoa quả và rau
ở người thanh thiếu niên: Một nghiên cứu ở nước phát triển” đã chỉ ra, các yếu tố nam giới (OR: 2,03, 95% CI: 1,04-4,21, p =0,030), có việc làm (OR: 2,11, 95% CI: 0,92-3,88, p = 0,083) và nhận hỗ trợ tình cảm của gia đình (OR: 1,10, 95% CI: 1,01-1,15, p = 0,014) có mối quan hệ đáng kể với mức tiêu thụ thấp của trái cây và rau quả của người dân Cụ thể, nam giới có nguy cơ sử dụng thiếu rau/trái cây nhiều hơn nữ giới Thiếu sự hỗ trợ của gia đình của là một yếu tố làm tăng nguy cơ sử dụng thiếu trái cây và rau [26]
Nghiên cứu tại Malaysia vào năm 2012 của Khairunnisa I O về một số yếu
tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu thụ hoa quả và rau trên những người trưởng thành Dựa vào kết quả thu được, các yếu tố liên quan có ý nghĩa với hành vi này là: thái
độ (p=0,001), thói quen (p=0,002), ảnh hưởng của xã hội (p=0,001) Nữ giới có xu hướng ăn nhiều rau/trái cây hơn nam giới Tuổi và tình trạng hôn nhân cũng có liên quan đến hành vi tiêu thụ trái cây và rau [28]
Ngoài ra, một nghiên cứu khác đã chỉ ra rằng, giới tính có mối liên quan âm tính với tình trạng ăn rau và hoa quả của học sinh Cụ thể, khi giới tính chuyển từ nam sang nữ, khả năng ăn trái cây và rau quả 400g tăng lên khoảng 6,6% Thêm vào đó, thu nhập nhận được một tháng từ cha mẹ hoặc nguồn khác có mối liên quan dương tính với hành vi này, theo đó, sinh viên có xu hướng ăn nhiều trái cây và rau hơn, tăng lên khoảng 0,01% với những sinh viên có điều kiện kinh tế tốt hơn [29]
Một số yếu tố liên quan đến hành vi thiếu hoạt động thể lực
Giới là yếu tố có liên quan đến hành vi hoạt động thể lực của người dân Nghiên cứu của González S được thực hiện vào năm 2014 trên những người Colombia trưởng thành cho thấy, nữ giới có nguy cơ hoạt động thể lực không đủ trong tất cả các lĩnh vực cao hơn so với nam giới [27] BKLN như hút thuốc lá,
uống rượu bia ít nhiều có liên quan đến một số các yếu tố như tuổi, giới, khu vực sống
Trang 291.4 Phương pháp điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm
1.4.1 Phương pháp STEPS của Tổ chức Y tế Thế giới
Tổ chức Y tế thế giới đã thiết kế phương pháp STEPS (STEPwise approach
to surveillance of noncommunicable diseases) để thu thập thông tin hoạt động giám sát yếu tố nguy cơ BKLN [61]
STEPS dựa trên hai cơ sở chính: 1)Thu thập số liệu chuẩn hoá về bệnh không lây nhiễm và yếu tố nguy cơ; 2) Ứng dụng một cách linh hoạt tuỳ theo bối cảnh và yêu cầu khác nhau của các quốc gia STEPS tập trung vào thu thập thông tin liên quan đến 8 yếu tố nguy cơ, bao gồm:
- Các hành vi nguy cơ:
o Hút thuốc
o Uống rượu bia
o Chế độ ăn không hợp lý (ăn ít rau và trái cây)
o Thiếu vận động
- Các yếu tố nguy cơ trung gian
o Thừa cân, béo phì
o Tăng huyết áp
o Tăng gulucose máu
o Rối loạn Lipid máu và tăng Cholesterol toàn phần
Lý do thu thập thông tin về những yếu tố nguy cơ này:
- Là những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến tình trạng mắc và tử vong của bệnh không lây nhiễm
- Dự phòng hiệu quả có thể thay đổi những yếu tố nguy cơ này
- Tính giá trị của các phương pháp đo lường những yếu tố nguy cơ này đã được chứng minh
- Việc đo lường phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức
- STEPS được chia thành 3 bước (steps) thu thập số liệu khác nhau Trong mỗi bước, số liệu lại có thể được thu thập ở 3 mức độ: số liệu cơ bản, số liệu mở rộng và
số liệu tuỳ chọn Điều này tạo thuận lợi cho việc áp dụng ở các quốc gia có điều kiện, yêu cầu giám sát khác nhau mà vẫn đảm bảo có được số liệu chuẩn hoá Ba bước thu thập số liệu bao gồm:
Trang 30Bước 1: Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn thu thập các thông tin về đặc điểm nhân khẩu học và các yếu tố nguy cơ phổ biến như hút thuốc lá, uống rượu bia, chế độ ăn không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực
Bước 2: Đo lường thể chất thu thập các thông tin chiều cao, cân nặng, vòng eo
và huyết áp
Bước 3: Đo lường sinh hoá thu thập các chỉ số sinh hoá máu như: Glucose máu, Cholesterol máu, Creatine và Natri trong nước tiểu
1.4.2 Tình hình điều tra áp dụng STEPS
Hiện nay, rất nhiều nước đã sử dụng STEPS trong giám sát yếu tố nguy cơ BKLN Theo WHO, đến nay (2015) đã có 98 quốc gia/vùng lãnh thổ trên 6 khu vực của Tổ chức Y tế thế giới đã công bố kết quả điều tra STEPS trên tạp chí thế giới hoặc dưới dạng các bài báo cáo [66] Khu vực Đông Nam Á đã có 10/10 quốc gia tiến hành điều tra yếu tố nguy cơ BKLN sử dụng bộ công cụ STEPS Khu vực Tây Thái bình dương có 21 quốc gia/vùng lãnh thổ đã công bố kết quả điều tra STEPS với các quy mô khác nhau [66]
Việt Nam có ba cuộc điều tra sử dụng STEPS được công bố trên tạp chí quốc
tế với quy mô nhỏ như điều tra yếu tố nguy cơ BKLN tại Ba Vì, Hà Nội năm 2005 của Hoàng Văn Minh và cộng sự [40] Điều tra đã cung cấp những thông tin liên quan đến thực trạng hút thuốc lá, tỷ lệ thừa cân, béo phì, tỷ lệ tăng huyết áp và phân tích mối liên quan giữa hành vi nguy cơ, các yếu tố kinh tế, xã hội, nhân khẩu học, và tăng huyết áp Song, điều này mới chỉ dừng lại ở việc áp dụng bước 1 và bước
2 của STEPS, việc phân tích các thông tin về sử dụng rượu bia và hoạt động thể lực còn hạn chế do khó khăn trong chuẩn đo lường Điều tra thứ hai này sử dụng cả 3 bước của STEPS, nhưng chỉ làm ở quy mô nhỏ (Cần Thơ) Năm 2009- 2010, chương trình phòng chống BKLN đã tiến hành điều tra toàn quốc về nguy cơ BKLN
áp dụng STEPS và năm 2015 Việt Nam đã tiến hành điều tra quốc gia các yếu tố nguy
cơ BKLN taị Việt Nam, kết quả điều tra công bố vào năm 2016 Trong cuộc điều tra này
cỡ mẫu của Hà Nội là 210 người được phân bố ở 14 cụm Đây là cuộc điều tra trên quy mô toàn quốc nên cỡ mẫu chưa đại diện được cho thành phố Hà Nội
1.5 Địa bàn nghiên cứu
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, du lịch và khoa học của cả nước Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008 Hà Nội mở rộng, dân số đã tăng gấp đôi (6.561.900 người), diện tích tăng gấp 3 (3.344,6 km2) Hà Nội bao gồm 30 quận
Trang 31huyện với 584 xã, phường; 7.049 thôn, tổ dân phố [24], Hà Nội đã trở thành thành phố đứng thứ hai về dân số và đứng đầu cả nước về diện tích Sau đợt mở rộng địa giới hành chính, Hà Nội nằm ở cả hai bên bờ sông Hồng, nhưng tập trung chủ yếu bên hữu ngạn Địa hình Hà Nội thấp dần theo hướng từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông với độ cao trung bình từ 5 đến 20 mét so với mực nước biển Hà Nội có
2 dạng địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Địa hình đồng bằng chiếm 3/4 diện tích tự nhiên Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, nóng ẩm và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 28,1 độ Mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 sang năm sau khô, lạnh và mưa ít, nhiệt độ trung bình 18,6 độ [2]
Tại Hà Nội, mật độ dân số không đồng đều giữa các quận nội và ngoại thành Theo số liệu thống kê năm 2009 mật độ dân cư trung bình tại Hà Nội là 1.979 người/km2 nhưng tại các quận nội thành mật độ dân cư cao, lên tới 35.341 người/km2 như quận Đống Đa, trong khi các huyện ngoại thành như Sóc Sơn, Mỹ Đức, Ba Vì khoảng 1.000 người/1km2 [2]
KHUNG LÝ THUYẾT: HÀNH VI NGUY CƠ BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Môi trường
- Toàn cầu hóa; - Sự già hóa
- Đô thị hóa; - Các yếu tố xã hội khác
Trang 32Theo sơ đồ trên cho thấy, khi các cá thể phơi nhiễm với YTNC về hành vi (hút thuốc lá, uống rượu bia, dinh dưỡng không hợp lý, thiếu hoạt động thể lực) một thời gian dài (thường là hàng chục năm) sẽ dẫn tới nguy cơ trung gian hay còn gọi
là tình trạng tiền bệnh (thừa cân, béo phì, tăng huyết áp, rối loạn Lipid và Glucose máu) Nếu không có các giải pháp ngăn ngừa các nguy cơ trung gian mà vẫn tiếp tục phơi nhiễm với các YTNC hành vi hàng ngày sẽ dẫn tới các BKLN như tim mạch, ung thư, đái tháo đường tuýp 2 và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Hậu quả tất yếu của bệnh này là tử vong và tàn tật [60]
Các YTNC về hành vi lối sống vô cùng quan trọng đối với BKLN và là các yếu tố có thể can thiệp được Kiểm soát tốt các YTNC này là cách hiệu quả nhất trong phòng BKLN Theo WHO, 80% bệnh tim- mạch, đái tháo đường và 40% ung thư có thể phòng được thông qua thực hiện lối sống lành mạnh loại bỏ các YTNC hành vi [57], [60]
Nghiên cứu các YTNC hành vi bao gồm hút thuốc lá, uống rượu bia, chế độ
ăn không hợp lý và thiếu hoạt động thể lực ở người 18 – 69 tuổi tại Hà Nội, năm
2016 được tiến hành là một phần của nghiên cứu tổng thể các YTNC BKLN ở người 18 – 69 tuổi tại Hà Nội, năm 2016
Trang 33CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người dân độ tuổi 18- 69 đang sinh sống tại Hà Nội (Mốc sinh: từ ngày 01-1949 đến 31-5-1998)
01 Tiêu chí chọn:
o Sống thường xuyên trên địa bàn Hà Nội (những người dân có thời gian sinh sống thường xuyên tại Thành phố Hà Nội trong vòng 12 tháng trở lại đây)
o Tỉnh táo, có khả năng trả lời phỏng vấn
o Đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
o Khách vãng lai (ví dụ như du lịch);
o Người bệnh đang nằm điều trị tại các cơ sở y tế hoặc tại nhà;
o Người mất năng lực hành vi, tâm thần
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2015 đến tháng 12/2016
- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Hà Nội (cụ thể ở phần chọn mẫu sau)
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu:
Việc xác định cỡ mẫu trong nghiên cứu này được thực hiện theo “Hướng dẫn tính cỡ mẫu trong điều tra yếu tố nguy cơ BKLN sử dụng phương pháp STEPS của WHO” Mẫu được phân tầng theo giới tính và 2 nhóm tuổi (18 – 44, 45– 69) Như vậy có 4 nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu
Cỡ mẫu tới thiểu cho mỗi nhóm được tính theo công thức:
n1=Z1−α
2
2 p(1−p)
d2
Trang 34Thay số vào công thức ta có
Sau khi tính toán được cỡ mẫu tối thiểu cho một tầng là 384, áp dụng các bước điều chỉnh tiếp theo để tính cỡ mẫu tối thiểu cho điều tra:
+ n: Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
+ DE = 1,5: Hệ số thiết kế Do chọn mẫu cụm, nhiều giai đoạn nên cần tính toán đến hệ số thiết kế
+ Số nhóm đối tượng: 4 nhóm
+ Tỷ lệ đồng ý tham gia nghiên cứu ước tính: 70%
Thay số vào công thức ta có:
Kết quả tính toán cho cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 3.291 người làm tròn thành 3.300 người
Trên thực tế, điều tra được 2.946 người, đạt 89,27%
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên 2 giai đoạn gồm chọn cụm và chọn đối tượng điều tra Giai đoạn 1, áp dụng phương pháp chọn mẫu xác suất tỷ lệ với kích thước quần thể (PPS) để chọn 60 cụm; giai đoạn 2, áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn 3.300 đối tượng nghiên cứu
Trang 35Giai đoạn 1: Chọn cụm
Trong điều tra này, mỗi cụm là 1 tổ dân phố đối với thành thị và 1 thôn đối với nông thôn Nghiên cứu này chọn 60 cụm (theo khuyến cáo của WHO nên chọn từ 50 đến 100 đơn vị nghiên cứu lần chọn đầu tiên)
Dựa vào kích cỡ dân số của thành thị (3.370.799 người) và nông thôn (4.165.682 người) để tính ra số cụm nghiên cứu được chọn tại thành thị và nông thôn Số cụm nghiên cứu được chọn là 27 cụm ở khu vực thành thị và 33 cụm ở khu vực nông thôn
Bước 4: Chọn cụm tiếp theo: cứ cách 1 khoảng k, thì chọn cụm tiếp theo cho đến khi đủ 27 cụm trên toàn thành phố Các cụm được chọn theo thứ tự trong danh sách là i, i+k, i+2k, i+3k, i+4k, i+5k, i+6k, i + 7k, i+8k… i+ 26k
Chọn 33 cụm tại khu vực ngoại thành:
Tương tự phương pháp chọn cụm khu vực nội thành, đối với khu vực ngoại thành từ 2.901 thôn chọn ra 33 cụm với khoảng cách mẫu k của khu vực ngoại thành là 126.020 (4.165.682/33)
Giai đoạn 2: Chọn đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành điều tra trên 3.300 đối tượng tại 60 cụm, do vậy
số đối tượng nghiên cứu ở mỗi cụm là 55 người
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để chọn ra đủ số lượng đối tượng nghiên cứu theo yêu cầu, cụ thể như sau:
- Lập danh sách đối tượng người dân từ 18 – 69 tuổi (trừ những đối tượng (1) khách vãng lai, (2) người đang nằm điều trị tại cơ sở y tế hoặc tại nhà, (3) người mất năng lực hành vi, tâm thần)
Trang 36- Xác định khoảng cách mẫu cho từng cụm và chọn ra 55 đối tượng điều tra từ danh sách đối tượng người dân 18 – 69 tuổi đã được lập ở mỗi cụm
Việc chọn mẫu được mô tả cụ thể bởi sơ đồ sau:
Tính trọng số:
Hiệu chỉnh số liệu bằng trọng số (weighting)
- Hiệu chỉnh đối với tỷ lệ chọn cụm/cụm thực tế
- Hiệu chỉnh đối với tỷ lệ chọn đối tượng/đối tượng bỏ cuộc
- Hiệu chỉnh đối với quy mô phân bố dân số từ 18 – 69 tuổi tại Hà Nội
Lập khung mẫu thành thị (3.370.799 người)
Lập khung mẫu nông thôn (4.165.682 người) Pháp pháp
chọn mẫu
SPSS
Lập khung mẫu cụm (Tổ dân phố/ thôn)
Trang 372.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu: Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu theo bộ câu hỏi có
cấu trúc đã được thiết kế trước Việc phỏng vấn đối tượng sẽ thực hiện tại hộ gia đình
1.1.1 Công cụ và thu thập số liệu
- Áp dụng Bộ câu hỏi điều tra các yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm của WHO version 3.1, được hiệu chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế của Hà Nội và được thử nghiệm tại thực địa trước khi sử dụng (bỏ đi 16 biến số từ bộ câu hỏi gốc, đồng thời tạo thêm 3 biến mới) (Phụ lục 1)
- Bộ tranh minh hoạ: Hỗ trợ cho người phỏng vấn để đo lường và qui đổi sang đơn vị chuẩn đã sử dụng trong STEPS 2015, bộ tranh minh hoạ sẽ gồm:
o Tranh minh hoạ cho rau quả và trái cây
o Tranh minh hoạ cho đồ uống có cồn
o Tranh minh hoạt cho hoạt động thể lực (Phụ lục 2)
- Máy tính bảng
2.7 Tổ chức thu thập số liệu
2.7.1 Điều tra thử nghiệm bộ công cụ:
Trước khi tiến hành thu thập số liệu tại thực địa sẽ tiến hành điều tra thử nghiệm tại hai xã, phường để thử nghiệm bộ công cụ và thực hành các hoạt động thu thập số liệu Việc thử nghiệm sẽ do Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội phối hợp với chuyên gia của Tổ chức Y tế thế giới và chuyên gia từ phòng chỉ đạo tuyến thuộc Viện Vệ sinh dịch tễ Trung Ương thực hiện
- Điều tra thử (trên bộ câu hỏi bằng giấy): Tiến hành điều tra thử trên 50 người dân (cả nam và nữ)
- Sau đó, chỉnh sửa một số từ ngữ cho dễ hiểu hơn thông qua tình hình khi điều tra thử
Trang 38- Tiếp đó, thử nghiệm quy trình điều tra và tiến hành điều tra thử nghiệm bộ câu hỏi trên máy tại 1 cụm nội thành (Hà Cầu- Cầu Giấy) và 1 cụm ngoại thành (Dân Hòa- Thanh Oai) (tổng số 40 đối tượng)
2.7.2 Lựa chọn và tập huấn điều tra viên
- 30 sinh viên năm cuối và sinh viên vừa tốt nghiệp trường Đại học Y Hà Nội
và Đại học Y tế công cộng được lựa chọn để làm điều tra viên và được tham dự khoá tập huấn trước khi thu thập số liệu tại thực địa
- Giảng viên của khoá tập huấn là các chuyên gia từ Văn phòng Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam và Tổng cục Thống kê Việt Nam
- Chương trình tập huấn được thiết kế phù hợp nhằm cung cấp những kiến thức và các kỹ năng điều tra cơ bản cho điều tra viên Trong quá trình tập huấn, học viên được các chuyên gia hướng dẫn trực tiếp và được thực hành sử dụng các dụng
cụ, trang thiết bị chuẩn theo yêu cầu của nghiên cứu
2.7.3 Thu thập số liệu tại thực địa
- Lập danh sách đối tượng của 60 cụm: Đầu tiên, các cán bộ y tế thôn lập danh sách đối tượng theo nguyên tắc nhà liền nhà => Gửi lên Trung tâm Y tế quận huyện
=> Gửi Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội tiến hành phúc tra đối tượng theo danh sách được gửi lên tại 60/60 cụm Nhóm nghiên cứu tiến hành chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống lấy 55 đối tượng/cụm Sau đó, gửi danh sách mẫu đối tượng cho 60 Trạm y tế (tương đương
60 cụm) để mời đối tượng nghiên cứu Trước 3 ngày điều tra, cán bộ trạm y tế hẹn đối tượng Đối với những trường hợp khó thuyết phục, cán bộ Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội đến mời trực tiếp
- 8 điều tra viên sẽ phụ trách phỏng vấn tại hộ gia đình, 02– 03 cán bộ giám sát của Trung tâm Y tế dự phòng Hà Nội
- 8 điều tra viên sẽ tới từng hộ gia đình để phỏng vấn đối tượng theo danh sách
đã chọn trước
- Phỏng vấn đối tượng theo bộ câu hỏi phỏng vấn
2.7.4 Vai trò của học viên:
- Thực hiện thiết kế đề cương nghiên cứu, xây dựng phương án điều tra, chọn mẫu, phúc tra đối tượng
Trang 39- Thực hiện điều tra (phỏng vấn đối tượng)
- Giám sát quá trình điều tra của điều tra viên, xử lý và phân tích số liệu và viết báo cáo luận văn
2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
- Khái niệm hút thuốc lá: là việc hút thuốc lá đang cháy, ba loại được sử dụng chủ yếu là: thuốc lá điếu, tẩu thuốc và xì gà [36]
- Khái niệm về đơn vị rượu chuẩn: Là đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu – bia có nồng độ khác nhau về cùng một đơn vị Đơn vị rượu chuẩn thường được áp dụng nhất là đơn vị rượu chuẩn Một đơn vị rượu chuẩn (standard drink) tương đương với 10 gam rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống Một đơn vị rượu sẽ tương đương: 1 lon bia 330 ml 5%, 1 cốc rượu vang 125 ml nồng độ 11%, 1 ly rượu vang mạnh 75 ml nồng độ 20%, 1 chén rượu mạnh 40 ml nồng độ 40% [38]
- Uống rượu, bia ở mức nguy hại: Theo quy chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới, lượng rượu – bia uống một lần bất kỳ trong vòng 30 ngày qua (từ thời điểm nghiên cứu trở lại trước) ≥ 6 đơn vị chuẩn [61]
- Khái niệm tiêu thụ rau củ và trái cây: Đơn vị chuẩn tương đương với 80 gam rau quả chính, rau xanh Đối với trái cây, lượng này tương đương với một trái cỡ vừa (chuối, táo, ) hoặc một nửa cốc hoa quả chính hoặc đóng hộp hoặc một nửa cốc nước ép trái cây (không tính các loại nước ngọt) Đối với rau xanh thì tương đương với một cốc rau xanh (cà chua, bí ngô, ), hoặc một nửa cốt nước ép rau quả [37]
- Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới nên ăn ít nhất 400g (tương đương
5 đơn vị) rau xanh và trái cây mỗi ngày [61]
Ghi chú: Nhằm hỗ trợ cho việc xác định các định nghĩa ở trên một cách chính xác, tài liệu show-card đã được thiết kế để phục vụ cho việc thu thập số liệu tại hộ gia đình
- Khái niệm về cường độ hoạt động thể lực: MET (Metabolic Equivalents Task unit) được sử dụng để đo lường cường độ hoạt động thể lực MET là tỷ lệ giữa mức chuyển hoá cơ bản của một người khi người đó đang vận động so với khi nghỉ ngơi Một MET được định nghĩa là năng lượng tiêu thụ khi ngồi yên, tương đương
Trang 40với một lượng calo tiêu hao là 1kcal/kg/giờ Áp dụng các giá trị này giúp chúng ta tính đượng tổng vận động thể lực So với một người ngồi yên, người vận động vừa phải sử dụng một mức năng lượng cao gấp 4 lần và người vận động nặng sử dụng năng lượng cao gấp 8 lần Tổng vận động thể lực của một người được biểu thị bằng MET – giờ, hoặc MET- phút
- Để tính toán các chỉ số cụ thể cho khuyến cáo của WHO về hoạt động thể lực, tổng thời gian dành cho hoạt động thể lực trong một tuần điển hình và cường độ của các hoạt động thể lực được đưa vào sử dụng
- Thiếu hoạt động thể lực: Một người trưởng thành, trong một tuần có hoạt động thể lực (bao gồm cả hoạt động thể lực trong công việc, trong thời gian di chuyển và thể thao, giải trí) ở dưới các mức sau:
+ Ít hơn 150 phút hoạt động thể lực ở cường độ trung bình, hoặc:
+ Ít hơn 75 phút hoạt động thể lực ở cường độ mạnh, hoặc:
+ Hoạt động thể lực kết hợp cường độ trung bình và cường độ mạnh đạt thấp hơn
2.9.1.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Sử dụng phần mềm Stata 14 để quản lý và phân tích số liệu Sử dụng test chi bình phương để so sánh sự khác biệt của biến định tính Để xác định mối liên quan (tính toán OR và 95% CI), sử dụng hồi quy logistic đơn biến và đa biến
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành khi được hội đồng khoa học và hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua và cho phép tiến hành nghiên cứu (quyết