1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan của người nhà bệnh nhân lao phổi tại huyện thanh bình, tỉnh đồng tháp

91 325 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Kiến thức, thực hành phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2016 nhằm mô tả kiến th

Trang 1

TRẦN THỊ MAI

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN LAO PHỔI TẠI HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI NĂM 2016

Trang 2

TRẦN THỊ MAI

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI NHÀ BỆNH NHÂN LAO PHỔI TẠI HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

TS Nguyễn Ngọc Ấn

HÀ NỘI NĂM 2016

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn I Mục lục II Danh mục chữ cái viết tắt IV Mục lục bảng V Mục lục biểu đồ VI Tóm tắt nghiên cứu VII

Đặt vấn đề 1

Mục tiêu nghiên cứu 3

Chương 1: Tổng quan tài liệu 4

1.1 Thông tin chung về bệnh lao 4

1.1.1 Bệnh lao 4

1.1.2 Dịch tễ học bệnh lao 4

1.1.3 Cơ chế sinh bệnh 5

1.1.4 Một số triệu chứng nghi ngờ của bệnh lao 6

1.1.5 Chẩn đoán lao phổi 7

1.1.6 Tác hại của bệnh lao 7

1.1.7 Những điều cần thiết để chữa khỏi bệnh lao 7

1.1.8 Cách phòng bệnh lao 8

1.2 Tình hình bệnh lao hiện nay 10

1.2.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới 10

1.2.2 Tình hình bệnh lao tại Việt Nam 11

1.2.3 Tình hình bệnh lao tại tỉnh Đồng Tháp 12

1.2.4 Tình hình bệnh lao tại huyện Thanh Bình 14

1.3 Những nghiên cứu liên quan đến bệnh lao trong những năm gần đây 15

1.3.1 Trên thế giới 15

1.3.2 Tại Việt Nam 16

1.4 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 19

1.4.1 Vị trí địa lý 19

1.4.2 Dân số - kinh tế - văn hóa – xã hội 19

1.4.3 Thông tin về Trung tâm Y tế huyện 19

Khung lý thuyết 21

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 22

Trang 5

2.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.3 Thiết kế nghiên cứu 22

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.6 Phân tích số liệu 24

2.7 Biến số nghiên cứu 24

2.8 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 28

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 29

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 29

Chương 3: Kết quả nghiên cứu 31

3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 31

3.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về bệnh lao và phòng bệnh lao 32

3.3 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng bệnh lao 40

3.4 Một số yếu tố liên quan 49

3.4.1 Kiến thức với một số đặc điểm nhân khẩu học 49

3.4.2 Thực hành với một số đặc điểm nhân khẩu học 50

3.4.3 Kiến thức với thực hành 51

Chương 4: Bàn luận 52

4.1 Về đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 52

4.2 Về kiến thức của đối tượng nghiên cứu 53

4.3 Về thực hành của đối tượng nghiên cứu 56

4.4 Một số yếu tố liên quan 57

4.4.1 Kiến thức với đặc điểm nhân khẩu học 57

4.4.2 Thực hành với đặc điểm nhân khẩu học 58

4.4.3.Kiến thức và thực hành 59

Chương 5: Kết luận 62

Chương 6: Khuyến nghị 64

Tài liệu tham khảo 65

Phụ lục1: Phiếu đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn 68

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn 69

Phụ lục 3: Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Directly Observed Treatment, Short – Course

HIV/AIDS Vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người/

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải

Trang 7

MỤC LỤC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả thu nhận bệnh lao của Đồng Tháp từ 2010 – 2015 13

Bảng 1.2 Tình hình thu dung bệnh nhân lao từ năm 2012 - 2015 14

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.2 Nghe thông tin về bệnh lao 32

Bảng 3.3 Hình thức giúp đỡ, hỗ trợ 48

Bảng 3.4 Mối liên quan giữa kiến thức với các đặc điểm nhân khẩu học 49

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa thực hành với các đặc điểm nhân khẩu học 50

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành 51

Trang 8

MỤC LỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Khả năng lây bệnh lao 32

Biểu đồ 3.2 Thể lao dễ lây 32

Biểu đồ 3.3 Nguyên nhân gây bệnh 33

Biểu đồ 3.4 Đường lây chủ yếu của bệnh lao 33

Biểu đồ 3.5 Yếu tố thuận lợi dễ mắc bệnh lao 34

Biểu đồ 3.6 Các yếu tố thuận lợi dễ mắc bệnh lao 34

Biểu đồ 3.7 Dấu hiệu nghi ngờ của bệnh lao 35

Biểu đồ 3.8 Dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh lao 35

Biểu đồ 3.9 Cách phát hiện bệnh lao 36

Biểu đồ 3.10 Khả năng chữa khỏi bệnh lao 36

Biểu đồ 3.11 Nơi khám và điều trị khi mắc bệnh lao 37

Biểu đồ 3.12 Các nguyên tắc điều trị bệnh lao 37

Biểu đồ 3.13 Khả năng phòng bệnh 38

Biểu đồ 3.14 Cách người bệnh phòng lây nhiễm cho người nhà 38

Biểu đồ 3.15 Cách phòng lây nhiễm của đối tượng nghiên cứu 39

Biểu đồ 3.16 Đánh giá kiến thức chung của đối tượng 40

Biểu đồ 3.17 Đi khám ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ 40

Biểu đồ 3.18 Mang khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh 41

Biểu đồ 3.19 Dùng riêng đồ dùng cá nhân, đồ dùng ăn uống 41

Biểu đồ 3.20 Giữ nhà cửa thông thoáng 42

Biểu đồ 3.21 Ăn uống đủ chất dinh dưỡng, hạn chế rượu bia, thuốc lá 42

Biểu đồ 3.22 Tập luyện thể dục nâng cao sức khỏe 43

Biểu đồ 3.23 Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh dùng thuốc và tái khám 43

Biểu đồ 3.24 Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh mang khẩu trang 44

Biểu đồ 3.25 Hỗ trợ, nhắc nhở xử lý đàm đúng cách 44

Biểu đồ 3.26 Hỗ trợ, nhắc nhở người bệnh dùng riêng vật dụng cá nhân 45

Biểu đồ 3.27 Đánh giá mức độ thực hành chung của đối tượng 45

Biểu đồ 3.28 Loại thông tin được tiếp cận 46

Biểu đồ 3.29 Nguồn thông tin được tiếp cận 46

Biểu đồ 3.30 Kênh truyền thông được chấp nhận 47

Biểu đồ 3.31 Sự giúp đỡ, hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức 48

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trên thế giới, bệnh lao ngày nay đã trở thành một vấn đề lớn của hầu hết các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Phát hiện sớm và điều trị khỏi là yếu tố quan trọng cho sự thành công của chương trình chống lao[1] Kiến thức của cộng đồng mà đặc biệt là người nhà sống cùng bệnh nhân lao vẫn là một vấn đề quyết

định Nghiên cứu Kiến thức, thực hành phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan

của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2016 nhằm mô tả kiến thức, thực hành phòng bệnh lao và xác định

một số yếu tố liên quan của người nhà bệnh nhân lao phổi Sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả và phân tích Công cụ thu thập số liệu định lượng là phiếu phỏng vấn soạn sẵn gồm 40 câu hỏi, đối tượng là 101 người nhà sống cùng bệnh nhân lao phổi Số liệu định tính được thu thập bằng phỏng vấn sâu 06 đối tượng trong số đối tượng đã được phỏng vấn định lượng

Kết quả: Tỷ lệ ĐTNC có kiến thức đạt là 80,2% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới, tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC với tình trạng

có kiến thức đạt: Nam giới có kiến thức đạt cao hơn gấp 4 lần (OR = 4,01) so với nữ giới (p = 0,04) Nhóm < 60 tuổi có kiến thức cao hơn gấp 6 lần (OR = 6,09) so với nhóm từ 60 tuổi trở lên (p = 0,00) ĐTNC có trình độ học vấn ≥ THCS có kiến thức đạt cao hơn gấp 2,8 lần (OR = 2,84) so với nhóm < THCS (p = 0,04) ĐTNC là nông dân có kiến thức đạt thấp hơn 4,5 lần (OR = 4,53) so với nhóm nghề nghiệp khác (p = 0,01) ĐTNC thực hành đúng chiếm tỷ lệ 63,37% Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới, tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC với tình trạng có thực hành đạt: Nam giới thực hành đúng cao gấp 3,7 lần (OR = 3,7) so với

nữ giới (p = 0,006); Nhóm < 60 tuổi thực hành đúng cao hơn gấp 2,7 lần (OR = 2,68) so với nhóm từ 60 tuổi trở lên (p = 0,04); Nhóm có trình độ học vấn ≥ THCS thực hành đúng cao hơn gấp 2,6 lần (OR = 2,59) so với nhóm < THCS (p < 0,03); ĐTNC nghề nghiệp khác thực hành đúng cao hơn gấp 3 lần (OR = 3,04) so với nhóm nông dân (p = 0,013) Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với thực hành: ĐTNC có kiến thức đạt có khả năng thực hành đạt cao gấp 3,4 lần (OR = 3,36) so với nhóm kiến thức không đạt (p = 0,02)

Trang 10

Khuyến nghị: tăng cường giáo dục truyền thông giúp người nhà bệnh nhân lao phổi về kiến thức, thực hành phòng chống bệnh lao, tập trung cho đối tượng đích là nữ, nông dân, người có học vấn dưới THCS, người cao tuổi Thời gian tiếp cận để truyền tải thông tin nên linh hoạt, phù hợp với đối tượng Ngoài nội dung chung cần nhấn mạnh truyền thông tiêm BCG và xử lý đàm đúng qui cách Kênh truyền thông nên tận dụng thế mạnh của cán bộ y tế, cộng tác viên và tivi

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây mắc và tử vong hàng đầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển trong những năm cuối của thế kỷ 20 [1] Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của mỗi Quốc gia Bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng

và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội [3]

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới, trong năm 2014 có khoảng 9,6 triệu trường hợp mắc lao mới: 5,4 triệu ở nam giới, 3,2 triệu ở phụ nữ và 1,0 triệu trẻ

em Ngoài ra còn có 1,5 triệu lượt người tử vong vì lao, trong đó có khoảng 890 000 người là nam giới, 480 000 người là phụ nữ và 140 000 là trẻ em [35] Việt Nam là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao toàn cầu, đồng thời là là nước thứ 14 trong 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc nhất thế giới [8] Do điều kiện sống còn thấp, môi trường không khí, nước thường xuyên bị ô nhiễm Đại dịch HIV/AIDS và nhiều vấn đề kinh tế xã hội, loài người đã và đang đối mặt với sự phát triển trở lại của bệnh lao Công tác phòng chống lao đã và sẽ ngày càng là yêu cầu cấp bách, bởi lẽ bệnh lao làm nhiều người mắc và tỉ lệ tử vong cao Công tác phòng chống lao muốn đạt hiệu quả thì phải được lồng ghép vào các hoạt động của xã hội và được xã hội hóa một cách rộng rãi [2] Tại Việt Nam, chương trình chống lao quốc gia xem công tác truyền thông – huy động xã hội cùng tham gia công tác chống lao là một giải pháp cơ bản, lâu dài

và mang tính bền vững Cần phải mang đến cho cộng đồng những thông tin cần thiết, với những kỹ năng cần thiết để tăng tính hiệu quả của công tác phòng, chống lao [21] Nâng cao sự hiểu biết của cộng đồng về bệnh lao, đặc biệt là người nhà bệnh nhân lao, là những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân, họ đóng vai trò rất quan trọng trong công tác phát hiện bệnh, giám sát, theo dõi quá trình điều trị cũng như phòng bệnh lao [24], khi họ hiểu được về bệnh lao, cũng như cách phòng và chữa bệnh, họ sẽ có những thay đổi hành vi cụ thể như nếp sống vệ sinh sạch sẽ, thoáng mát, ăn ngủ phù hợp với điều kiện của từng cá nhân và giúp nâng cao sức khỏe, để có thể phòng lây nhiễm lao cho bản thân họ Ngoài ra, những đối tượng này sau khi được giáo dục sức khỏe sẽ là tuyên truyền viên tự giác, lập lại

Trang 12

truyền thông giáo dục sức khỏe với người dân, cộng đồng và đồng nghiệp về bệnh lao….là góp phần tăng tỷ lệ người có dấu hiệu nghi lao đến khám bệnh, tăng tỷ lệ người mắc bệnh lao được phát hiện và điều trị khỏi bệnh, giảm mặc cảm và kỳ thị của xã hội về bệnh lao [1]

Tại huyện Thanh Bình, theo báo cáo của Khoa Kiểm soát dịch bệnh - HIV/AIDS, cho thấy từ 2011 đến 2015 tình hình mắc lao chung của huyện Thanh Bình từ năm 2010 đến năm 2015, chỉ giảm vào năm 2011, các năm còn lại thì hầu như không giảm Trung bình lao các thể có tỷ lệ 141/100.000 dân, lao phổi AFB (+) mới tỷ lệ 91/100.000 dân Các số liệu này cho thấy nguy cơ tiềm ẩn của bệnh lao trong cộng đồng là rất cao, nếu không phát hiện và điều trị sớm, thì sẽ không thể nào cắt được nguồn lây lan trong cộng đồng [30] Câu hỏi đặt ra là: Kiến thức, thực hành về phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân lao phổi tại huyện Thanh Bình là như thế nào? Những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân lao phổi tại huyện Thanh Bình, Đồng Tháp? Để trả lời cho

những câu hỏi nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành

phòng bệnh lao và một số yếu tố liên quan của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp năm 2016” với các mục tiêu

cụ thể như sau:

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thực hành về phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp năm 2016

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh lao của người nhà bệnh nhân lao phổi đang điều trị tại huyện Thanh Bình tỉnh Đồng Tháp năm 2016

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thông tin chung về bệnh lao

1.1.1 Khái niệm về bệnh lao:

Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis)

gây nên Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85%) và là nguồn lây chính cho người xung quanh Bệnh lây truyền qua đường hô hấp do hít phải không khí có chứa vi khuẩn lao được sinh ra trong quá trình ho, khạc, hắt hơi hoặc nói chuyện với người bị lao phổi trong giai đoạn tiến triển [1]

1.1.2 Dịch tễ học bệnh lao

Vì đặc tính của bệnh lao là một bệnh nhiễm trùng lây lan và mang tính xã hội, do đó tình hình dịch tễ học bệnh lao cũng thay đổi theo từng quốc gia Điều đáng chú ý là 95% số bệnh nhân lao và 98% trường hợp tử vong do lao đều ở các nước đang phát triển, 75% các trường hợp này đều ở trong lứa tuổi lao động sản xuất Như vậy, bệnh lao trở thành một gánh nặng thật sự đối với các nước đang phát triển cả về mặt kinh tế xã hội

Theo thông tin về bệnh lao của TCYTTG, một người bị nhiễm lao thì gánh chịu nguy cơ mắc bệnh lao là 10% trong cả cuộc đời, hầu hết là không mắc bệnh lao, nhưng khi có bất kỳ nguyên nhân nào làm suy yếu hệ thống miễn dịch, ví dụ như nhiễm HIV hoặc suy dinh dưỡng, suy kiệt cơ thể thì sẽ tăng cơ hội phát triển thành bệnh lao [8]

Bệnh lao đã có từ rất lâu, nhưng mãi tới năm 1882 nhà bác học người Đức Rober-Koch mới tìm ra nguyên nhân gây bệnh lao ở người là vi trùng lao Ở điều kiện tự nhiên vi khuẩn lao tồn tại 3 – 4 tháng, trong đàm của bệnh nhân ở phòng tối,

ẩm sau 3 tháng vi khuẩn vẫn tồn tại và giữ được động lực Dưới ánh nắng mặt trời

vi khuẩn bị chết sau 1,5 giờ Ở 420C vi khuẩn ngừng phát triển và chết sau 10 phút

ở 800C, ở nhiệt độ sôi trong 5 phút vi khuẩn bị tiêu diệt, với cồn 900 vi khuẩn tồn tại được 3 phút, trong acid phenic 5% vi khuẩn chỉ sống được khoảng một phút [29]

Nguồn lây chính của bệnh lao là người bị bệnh lao phổi ho khạc ra vi khuẩn

Trang 15

khi họ chưa được chữa hoặc chữa không đúng Vi trùng lao có trong không khí do người lao phổi bài xuất ra khi ho, hắt hơi, khạc đàm bừa bãi, người lành hít phải vi trùng lao trong không khí nên bị nhiễm bệnh lao Như vậy, bệnh lao lây truyền từ

người bệnh sang người lành qua đường hô hấp

Các yếu tố nguy cơ nhiễm lao phụ thuộc vào: hít chung bầu không khí với người bệnh ho khạc ra vi khuẩn (mật độ, thời gian, chủ thể) Không phải tất cả những người nhiễm vi trùng lao đều bị mắc bệnh lao, mà có khoảng 5% đến 10% số người nhiễm vi trùng lao bị mắc bệnh lao khi có các yếu tố thuận lợi làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm sút như: lao động quá vất vả, ăn uống thiếu thốn, sống thiếu

vệ sinh, nhà cửa ẩm thấp không thông thoáng, người nghiện ma túy, người nhiễm HIV/AIDS, trẻ em suy dinh dưỡng, người mắc bệnh tiểu đường, phụ nữ có thai

hoặc sau sinh [22] Những yếu tố thuận lợi cho bùng phát bệnh lao bao gồm:

- Người tiếp xúc với nguồn lây, nhất là người tiếp xúc với nguồn lây chính

- Phụ nữ ở thời kỳ thai nghén: Bệnh lao dễ phát sinh và phát triển trong 3 tháng đầu của thời kỳ thai nghén và sau đẻ Điều này được giải thích do thay đổi nội tiết của cơ thể mẹ tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển [7]

1.1.3 Cơ chế sinh bệnh

Bệnh lao diễn biến qua 2 giai đoạn:

Trang 16

- Nhiễm lao: là khi vi khuẩn lao lần đầu tiên đột nhập vào cơ thể chưa bao

giờ tiếp xúc với vi khuẩn lao, qua đường hô hấp vi khuẩn lao xâm nhập vào tận phế nang, sau khoảng 3 tuần đến 3 tháng người bị lây ở tình trạng lao nhiễm, lúc này trong cơ thể đã nhiễm lao đã có kháng thể kháng lao và phản ứng Tuberculin dương tính (Tuberculin: là một loại test nội bì để đánh giá miễn dịch lao)

Bệnh lao: đa số người bị bệnh chỉ ở tình trạng nhiễm lao khoảng (80%

-90%) không chuyển sang giai đoạn lao, người ta gọi là lao thứ phát (khoảng 20%) Khi sức đề kháng cơ thể giảm, số lượng và độc tính của vi khuẩn tăng và đặc biệt ở những người như: các bệnh phổi mãn tính, các bệnh toàn thân như tiểu đường loét dạ dày tá tràng, nghiện rượu nghiện ma túy, HIV (+)… sẽ dễ phát triển thành bệnh lao [7]

10%-Trong nghiên cứu sinh bệnh học bệnh lao những năm gần đây người ta đưa

ra khái niệm về “thời gian nguy hiểm” của nguồn lây Đó là thời gian từ lúc người bệnh có triệu chứng lâm sàng (hay gặp là ho khạc đàm) đến khi được phát hiện và điều trị Thời gian này càng dài có nghĩa là việc phát hiện bệnh lao càng muộn, bệnh nhân càng được chung sống lâu với những người xung quanh và càng lây nhiễm cho nhiều người Khi bệnh nhân được phát hiện và chữa thuốc lao thì các triệu chứng lâm sàng hết rất nhanh (trung bình 1 – 2 tuần), trong đó có triệu chứng

ho khạc đàm, tức là người bệnh giảm nhiễm khuẩn ra môi trường xung quanh Trách nhiệm của người thấy thuốc, cũng như người bệnh (qua giáo dục truyền thông) là cần phải rút ngắn “thời gian nguy hiểm” của nguồn lây, nghĩa là cần phát hiện sớm bệnh lao [7]

1.1.4 Một số triệu chứng nghi ngờ bệnh lao

Một số triệu chứng hay gặp ở người mắc bệnh lao phổi:

- Ho khạc đàm kéo dài trên 2 tuần;

- Người mệt mỏi, không muốn ăn, gầy sút cân;

- Sốt nhẹ về chiều;

- Tức ngực, khó thở hoặc ho ra máu

Khi có một trong các biểu hiện trên cần đi khám phát hiện sớm bệnh lao Nơi

Trang 17

khám bệnh, xét nghiệm đàm để phát hiện và điều trị bệnh lao tốt nhất là Bệnh viện

đa khoa hoặc Trung tâm Y tế huyện [23]

1.1.5 Chẩn đoán bệnh lao phổi

Chẩn đoán xác định lao phổi dựa vào triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng

- Triệu chứng lâm sàng bao gồm: Ho khạc đờm kéo dài trên 2 tuần, có thể

ho ra máu, gầy sút cân, chán ăn, mệt mỏi, ra mồ hôi đêm, đau ngực, giai đoạn muộn

có thể khó thở, nghe phổi có thể có ran ẩm, ran nổ

- Dấu hiệu cận lâm sàng bao gồm: Xét nghiệm đờm soi trực tiếp tìm AFB, nuôi cấy tìm vi khuẩn lao, xét nghiệm Xpert MTB/RIF nếu có thể (Áp dụng cho người có HIV, lao trẻ em, lao nghi đa kháng thuốc), X quang phổi chuẩn, phản ứng Tuberculin [9]

1.1.6 Tác hại của bệnh lao:

- Bệnh lao tàn phá cơ thể, làm giảm khả năng lao động của người bệnh, làm suy kiệt sức khỏe của người bệnh

- Làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh đói nghèo Một người mắc bệnh lao không được điều trị mỗi năm sẽ gây bệnh cho 15 – 20 người khác

- Trẻ em mắc bệnh lao nặng có thể bị tử vong hoặc để lại di chứng tàn tật không phát triển về thể chất và tinh thần gây ảnh hưởng đến giống nòi

- Một địa phương có nhiều người mắc bệnh lao sẽ làm cho địa phương đó kém phát triển về kinh tế – văn hóa – xã hội…

- Một quốc gia có nhiều người mắc bệnh lao sẽ làm cho quốc gia đó chậm

phát triển, yếu kém nghèo nàn lạc hậu [7]

1.1.7 Những điều cần thiết để chữa khỏi bệnh lao

Ngày nay tại cơ sở chống lao ở địa phương có đã có đủ thuốc để chữa bệnh lao, thuốc chống lao được chương trình chống lao quốc gia cấp miễn phí Để chữa khỏi bệnh lao người mắc bệnh lao cần thực hiện đủ 4 điều kiện sau:

- Dùng phối hợp các thuốc chống lao, tức là trong 2 tháng tấn công, bệnh nhân phải dùng đồng thời 4 đến 5 loại thuốc chống lao; trong giai đoạn duy trì dùng

ít nhất 2 loại thuốc

Trang 18

- Dùng thuốc đúng liều lượng, tức là hàng ngày phải dùng đủ số lượng viên của mỗi loại thuốc

- Dùng thuốc đều đặn, tức là phải dùng thuốc hàng ngày vào một giờ nhất định khi bụng đói

- Dùng thuốc đủ thời gian 6 tháng liên tục

- Xét nghiệm đàm 3 lần sau tháng thứ 2, tháng thứ 5 và tháng thứ 6 để giám sát diễn tiến của bệnh và kết quả điều trị [21]

1.1.8 Cách phòng bệnh lao

1.1.8.1 Biện pháp dự phòng:

Biện pháp dự phòng quan trọng nhất là "cắt đứt nguồn lây", có nghĩa là phải phát hiện sớm những người bị lao phổi có AFB(+) và chữa khỏi cho họ Tuy nhiên bệnh lao là một bệnh có tính xã hội cho nên những biện pháp dự phòng mang tính cộng đồng cũng rất quan trọng Làm tốt công tác truyền thông và giáo dục sức khỏe cho mọi người Ai cũng hiểu được bệnh lao là một bệnh lây truyền qua đường hô hấp, có thể phòng và chữa khỏi được hoàn toàn

Ở nước ta hiện nay, phát hiện và điều trị tích cực những bệnh nhân lao phổi; tiêm phòng BCG cho trẻ dưới 1 tuổi là hai biện pháp phòng lao hiệu quả nhất cho gia đình và xã hội Đến nay, vẫn có nhiều người sợ bị lây bệnh lao khi phải tiếp xúc, chăm sóc người bệnh hoặc trong gia đình có người bị lao Suy nghĩ đó không đúng

vì chúng ta có thể phòng và ngăn chặn được việc lây và mắc bệnh thông qua các biện pháp sau:

- Giải quyết nguồn lây: Bệnh lao tồn tại là do sự lây truyền từ người bệnh sang người lành Vì vậy, phát hiện sớm và điều trị khỏi cho những bệnh nhân này là biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất và là nhiệm vụ quan trọng của CTCLQG ở nước ta, cũng như nhiều nước trên thế giới

- Tiêm vắc xin BCG cho trẻ dưới 1 tuổi: Là một phương pháp gây miễn dịch chủ động cho cơ thể, đặc biệt với vi khuẩn lao, có tác dụng phòng bệnh lao Đây là một trong những điểm cơ bản quan trọng trong CTCLQG [24]

1.1.8.2 Đối với người nhà bệnh nhân lao

Trang 19

- Mang khẩu trang khi tiếp xúc với người bệnh

- Không ngủ chung, dùng chung vật dụng cá nhân với người nhà bị bệnh trong ba tuần kể từ khi bắt đầu điều trị

- Tăng cường sức khỏe, như ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, chế độ làm việc nghỉ ngơi hợp lý; không sử dụng các chất gây nghiện, chất kích thích: Rượu bia, thuốc lá, ma túy…; tập thể dục thường xuyên

- Vệ sinh môi trường, giữ nhà ở thông thoáng, thường xuyên phơi nắng: chiếu, chăn, màn

- Hỗ trợ người nhà bị bệnh tuân thủ điều trị và xử lý đàm đúng cách [24] 1.1.8.3 Đối với người bệnh:

- Điều quan trọng nhất là phải uống thuốc đều đặn, đầy đủ, đúng liều theo hướng dẫn của thầy thuốc

- Luôn luôn che miệng với khăn giấy mỗi khi ho, hắt hơi, cười Bỏ những khắn ấy vào một túi nilông và cho vào thùng rác

- Xử lý đàm đúng cách: khạc đàm vào khăn giấy hoặc lọ, lon có nắp đậy rồi đem chôn hoặc đốt

- Thường xuyên tắm nắng, hít thở không khí trong lành, luyện tập và sống trong môi trường sạch sẽ, thường xuyên mở cửa sổ khi ở nhà hay nơi làm việc, tận dụng ánh nắng mặt trời càng nhiều càng tốt cho nơi ở và các vật dụng cá nhân Tạo được những điều kiện thông gió tốt để không khí được lưu thông nhằm giảm thấp nhất nồng độ các hạt chứa vi khuẩn lao trong không khí

- Khi bệnh đang phát triển cần được ngủ riêng giường, dùng bát đũa, cốc chén riêng và phải luộc sôi sau khi dùng; áo quần, chăn màn hàng tuần phải được luộc sôi sau khi giặt

- Dinh dưỡng cân bằng với chế độ ăn bao gồm thịt, cá, trứng, đậu đỗ, rau xanh và hoa quả… Những người nghiện rượu cần giảm rượu bởi vì nó sẽ làm giảm tác dụng của thuốc, ảnh hưởng tới việc điều trị [24]

Trang 20

1.2 Tình hình bệnh lao hiện nay

1.2.1 Tình hình bệnh lao trên thế gới

Bệnh lao là một trong những nguyên nhân gây mắc và tử vong hàng đầu, đặc biệt tại các nước đang phát triển trong những năm cuối của thế kỷ 20 Mức độ nặng

nề của bệnh lao đã ảnh hưởng đến thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển của con người tại các quốc gia Bệnh lao là kết quả của sự nghèo đói và sự nghèo đói là nguyên nhân làm gia tăng bệnh lao [5]

Theo số liệu công bố của Tổ chức Y tế thế giới năm 2004, ước tính trong năm 2003 có thêm 9 triệu người mắc lao mới và 2 triệu người chết do lao Khoảng 95% số bệnh nhân lao và 98% số người chết do lao ở các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số bệnh nhân lao cả nam và nữ ở độ tuổi lao động Trong đó, có khoảng 80% số bệnh nhân lao toàn cầu thuộc 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao

Hiện nay, tỷ lệ điều trị thành công trên toàn cầu đạt 82%, nhưng tỷ lệ phát hiện chỉ đạt 37% số bệnh nhân ước tính Như vậy, còn rất nhiều bệnh nhân lao không được chữa trị đang tiếp tục lây bệnh cho cộng đồng, và theo ước tính của TCYTTG, mỗi năm có thêm 1% dân số thế giới bị nhiễm lao (65 triệu người) Hơn 33% số bệnh nhân lao toàn cầu tại khu vực Đông- Nam Châu Á

Theo báo cáo hoạt động chương trình chống lao quốc gia năm 2009 của Bộ

Y tế, Tổ chức Y tế thế giới và nhiều đối tác đang kêu gọi tăng cường sự hợp tác và liên kết giữa chương trình chống lao quốc gia và Chương trình HIV/AIDS, đặc biệt

là ở Cam-pu-chia, Trung Quốc, Pa-pua-Niu-Ghi-nê và Việt nam, là những nơi có số người đồng nhiễm lao/HIV đang gia tăng Nghiên cứu về tỷ lệ HIV trong số bệnh nhân lao tại Cam-pu-chia năm 2003 cho thấy tại thủ đô Phnom Penh, tỷ lệ bệnh nhân lao có HIV(+) tăng gần gấp 3 lần so với năm 1995 (từ 11% năm 1995 lên 31% năm 2003) [3]

Theo báo cáo Hội nghị tổng kết chương trình chống lao quốc gia năm 2014 của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp, mặc dù đã được một số thành tựu đáng kể trong công tác chống lao thời gian qua, bệnh lao vẫn đang tiếp tục là một trong các vấn đề sức khỏe toàn cầu, theo ước tính 2012 toàn cầu có khoảng 12 triệu người mắc lao; 8,6 triệu người mắc lao mới; 13% trong số mắc lao có đồng nhiễm HIV Bệnh lao là

Trang 21

nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh viện nhiễm trùng với khoảng 1,3 triệu người tử vong do lao, trong đó có khoảng 320.000 người đồng nhiễm HIV; và khoảng 420.000 phụ nữ chết do lao Tình hình dịch tễ lao kháng thuốc đang có diễn biến phức tạp và đã xuất hiện hầu hết các quốc gia, ước tính tỷ lệ bệnh lao đa kháng thuốc là 3,6% trong số bệnh nhân mới và 20% trong số bệnh nhân điều trị lại [8]

Trong năm 2014, ước tính có khoảng 9,6 triệu trường hợp mắc lao mới: 5,4 triệu ở nam giới, 3,2 triệu ở phụ nữ và 1,0 triệu trẻ em Ngoài ra còn có 1,5 triệu lượt người tử vong vì lao (1,1 triệu trong số những người bị nhiễm HIV và 0,4 triệu trong số những người nhiễm HIV dương tính), trong đó có khoảng 890 000 người là nam giới, 480 000 người là phụ nữ và 140 000 là trẻ em Số tử vong vì lao là quá cao, với chẩn đoán sớm và điều trị đúng phác đồ, gần như tất cả những người bị lao

có thể được chữa khỏi [9]

1.2.2 Tình hình bệnh lao tại Việt Nam

Bệnh lao bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố xã hội Các nước nghèo, mức sống thấp, bệnh lao thường tiến triển tới trầm trọng Qua điều tra của Viện lao và bệnh phổi Trung ương nguy cơ nhiễm lao hàng năm ở nước ta ước tính là 1,7%, trong đó các tỉnh phía Bắc là 1,2% và các tỉnh phía Nam 2,2% [22]

Cùng với đại dịch HIV lan truyền rất nhanh tại Việt Nam, đây là một nguy cơ rất lớn đe dọa chương trình chống lao trong giai đoạn tới Đồng nhiễm HIV và lao không chỉ làm tăng số bệnh nhân lao (ước tính toàn cầu tăng gần 30% lao do có HIV) mà còn làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng rất nhanh tỷ lệ tử vong do lao

Có thể số lượng lao phổi AFB(+) mới được phát hiện còn rất cao và đây chính là nguồn lây lan trong cộng đồng, bệnh lao tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề sức khỏe trầm trọng [12]

Việt Nam là nước có gánh nặng bệnh lao cao, đứng thứ 12 trong 22 nước có gánh nặng bệnh lao toàn cầu, đồng thời là nước thứ 14 trong 27 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc nhất thế giới Tháng 01/2013 Chương trình chống lao quốc gia đã phối hợp cùng Tổ chức Y tế thế giới tiến hành hội thảo phân tích tình hình dịch tễ bệnh lao tại Việt Nam, qua kết quả phân tích, tình hình dịch tễ ước tính giảm đáng kể so với ước tính trước đây: 18.000 người tử vong do lao, tỷ lệ 20/100.000

Trang 22

dân; 200.000 người hiện mắc lao các thể, tỷ lệ 218/100.000 dân; 130.000 người mới mắc lao các thể, tỷ lệ 147/100.000 dân; 930.000 người mới mắc lao đồng nhiễm HIV, tỷ lệ 10/100.000 dân Tỷ lệ phát hiện lao các thể là 76% Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân mới là 2,7 % Tỷ lệ kháng đa thuốc trong bệnh nhân điều trị lại 19% [8]

Đến năm 2014, toàn quốc đã phát hiện 102.070 bệnh nhân lao các thể, tỷ lệ phát hiện là 111,35/100.000 dân; trong đó có 49.934 bệnh nhân lao phổi AFB (+)

So sánh với năm 2013, số bệnh nhân lao phổi mới phát hiện trong năm 2014 tiếp tục giảm 673 bệnh nhân; tỷ lệ điều trị khỏi bệnh nhân lao phổi AFB (+) đạt 89,93% [9]

Bên cạnh đó, còn nhiều thách thức chủ quan như: thiếu hụt về nhân lực; thiếu

sự phối hợp y tế công-tư và cơ chế điều phối, Luật khai báo các ca bệnh theo Luật phòng chống bệnh truyền nhiễm chưa được thực hiện nghiêm túc Để hoạt động phòng chống lao hiệu quả hơn, chương trình Chống lao quốc gia tăng cường phát hiện sớm và nhiều nhất tất cả các thể lao; duy trì tỷ lệ điều trị khỏi cao; phấn đấu đến năm 2015, Việt Nam giảm 50% số bệnh nhân hiện mắc so với ước tính năm

2000, khống chế tỷ lệ bệnh nhân lao kháng đa thuốc bằng mức năm 2010 và thanh toán bệnh lao ở Việt Nam vào năm 2030 [6]

1.2.3 Tình hình bệnh lao tại tỉnh Đồng Tháp

Theo thống kê của Trạm chống lao tỉnh Đồng Tháp thì mỗi năm có khoảng 1.600 - 1.700 người mắc bệnh lao và khoảng 50 - 70 người chết do lao Với mục tiêu giảm tỉ lệ mắc bệnh, giảm tỉ lệ chết và tỉ lệ nhiễm lao, qua từng năm Tỉnh đã đề

ra được từng mục tiêu và các biện pháp cụ thể, phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương [26]

Tỉnh Đồng Tháp đã triển khai công tác chống lao theo hướng mới của dự án phòng chống lao quốc gia: Ưu tiên phát hiện và điều trị bệnh nhân lao phổi ho khạc

ra vi trùng là nguồn lây lao chính cho cộng đồng, phát hiện bệnh lao chủ yếu bằng xét nghiệm đàm soi trực tiếp, điều trị ngoại trú cho đa số bệnh nhân lao, chỉ điều trị nội trú đối với các bệnh nhân lao nặng [27]

Trang 23

Bảng 1.1 Kết quả thu nhận bệnh nhân lao của Đồng Tháp từ 2010-2015 [26]

Năm AFB (+)

mới

Tái phát; thất bại; điều trị lại

AFB (-)

Lao ngoài phổi Tổng số

Trang 24

phối hợp chặt chẽ thường xuyên và liên tục; một số cấp chính quyền cơ sở có tư tưởng chủ quan trong công tác phòng chống lao [27]

Những tồn tại trên, đặt ra cho CTCLQG của tỉnh rất nhiều khó khăn trở ngại, nếu không có giải pháp hữu hiệu thì khó có thể đạt được mục tiêu đề ra cho tới năm

2015 là giảm tỉ lệ mắc, giảm tỉ lệ chết và tỉ lệ nhiễm lao, để phấn đấu bệnh lao không còn đe dọa tới sức khỏe nhân dân và không gây ảnh hường tới sự phát triển kinh tế của tỉnh Phối hợp chặt chẽ với các Ban, Ngành, Đoàn thể tham gia tuyên truyền kiến thức bệnh lao về chiều rộng, lẫn chiều sâu trong nhân dân để họ biết cách phòng ngừa cho bản thân và cho gia đình [27]

1.2.4 Tình hình bệnh lao tại huyện Thanh Bình

Thanh Bình là một huyện vùng sâu nằm ở phía bắc của tỉnh Đồng Tháp với diện tích 329,46 km2; dân số 182.725 người; toàn huyện có 13 xã, thị trấn và gồm

55 khóm, ấp Phát triển kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản [30]

Trong những năm qua công tác phòng, chống bệnh lao tại huyện đã được triển khai mạnh mẽ, nhiều biện pháp nhằm khống chế bệnh lao như: điều trị miễn phí cho bệnh nhân lao; tăng cường công tác tuyên truyền rộng rãi trong cộng đồng (loa đài, ban ngành, đoàn thể, cộng tác viên…); các văn bản phối hợp giữa các ngành… nhưng nhìn chung, tình hình bệnh lao vẫn chưa có dấu hiệu giảm

Bảng 1.2 Tình hình thu dung bệnh nhân lao từ năm 2010 – 2015 [30]

Năm

AFB (+)

AFB (-)

Lao ngoài phổi

Trang 25

không giảm Trung bình lao các thể có tỷ lệ 141/100.000 dân, lao phổi AFB (+) mới

tỷ lệ 91/100.000 dân Các số liệu này cho thấy nguy cơ tiềm ẩn của bệnh lao trong cộng đồng là rất cao, nếu không phát hiện và điều trị sớm, thì sẽ không thể nào cắt được nguồn lây lan trong cộng đồng Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới công tác khám phát hiện bệnh, đặc biệt là trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, địa bàn rộng, khả năng tiếp cận của người dân với các kênh truyền thông không đồng đều nên ảnh hưởng không nhỏ đối với công tác khám và phát hiện bệnh [27]

Công tác khám phát hiện bệnh lao mới chủ yếu là thụ động, dựa vào người dân đến khám tại tổ lao của Trung tâm Y tế huyện, Trạm Y tế xã, thị trấn; công tác tuyên truyền còn hạn chế, người dân chưa biết mình có nguy cơ bị mắc bệnh lao, không muốn đi khám bệnh hoặc còn mặc cảm giấu bệnh Vấn đề đặt ra cho Tổ chống lao của Huyện là làm thế nào để hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch được giao Muốn khắc phục tốt và bền vững nhất là nâng cao nhận thức của người dân trong huyện về bệnh, cách phòng bệnh lao để người dân biết các dấu hiệu nghi ngờ mắc lao, biết đi khám lao ở đâu, xóa bỏ mặc cảm khi bị bệnh lao, mạnh dạn điều trị và biết được bệnh lao điều trị hoàn toàn miễn phí [30]

1.3 Những nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng bệnh lao trong những năm gần đây

1.3.1 Trên thế giới

Trong những năm qua các nghiên cứu trên thế giới cho thấy ở nhiều nơi kiến thức về bệnh lao của người dân vẫn còn nhiều hạn chế

Tại Tây Ban Nha, năm 2009, tác giả Sanz Barbero B và Blasco Hermandez

T nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và nhận thức về bệnh lao của người dân nhập cư

Mỹ Latinh trong cộng đồng của Madrid” cho thấy, tỷ lệ người dân nhập cư có kiến thức đúng về bệnh lao là 77,3%, mức độ hiểu biết về đường lây truyền của bệnh là 94,7% và hiểu biết điều trị bệnh là 77,3% Có 42,3% trong số người dân nhập cư tham gia nghiên cứu biết sai về đường lây truyền của bệnh, chẳng hạn có 50% đối tượng nghiên cứu cho rằng bệnh lao lây qua đường tình dục, hoặc đồ dùng sử dụng cho ăn uống là 81,3% [33]

Năm 2013, Daniel Tolossa đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và

Trang 26

thực hành về phòng bệnh lao của người dân ở thị trấn Shinile”, thuộc miền đông Ethiopia, đất nước Somali Kết quả cho thấy có 94,9% người được hỏi nói rằng họ

đã từng nghe nói về bệnh lao, chỉ có 22,9% người biết bệnh lao là do vi khuẩn 80% nhận thức rằng bệnh lao có thể lây truyền từ người bệnh sang người khác và 79,3% biết rằng bệnh lao có thể phòng ngừa được Có 72,4% biết ho là triệu chứng thường gặp nhất của bệnh lao, 71% cho biết rằng họ sẽ đến cơ sở y tế khám và điều trị nếu họ nhận thấy họ có những triệu chứng liên quan đến bệnh lao Có 55,4% người được hỏi cho là bệnh lao là rất nghiêm trọng 69,3% nói rằng họ sẽ rất sợ hãi nếu họ bị bệnh lao [32]

1.3.2 Tại Việt Nam:

Tại việt Nam trong những năm qua nhờ công tác truyền thông giáo dục sức khỏe được tăng cường từ Trung ương đến địa phương mà kiến thức về bệnh cũng như phòng bệnh lao của cộng đồng được nâng cao Tuy nhiên, những thiếu hụt về kiến thức, thực hành liên quan tới bệnh lao vẫn tồn tại

Theo kết quả nghiên cứu của Huỳnh Bá Hiếu (2006) khảo sát 450 người dân tuổi từ 15 trở lên ở 18 xã thuộc 8 huyện và TP Huế, cho thấy hầu hết đều cho rằng khi đã mắc lao thì nên đến cơ sở y tế nhà nước để khám điều trị (94,7%), và cơ sở được chọn lựa thường là Trung tâm Y tế huyện hoặc bệnh viện tỉnh, trung ương (83,4%); Các hộ dân trong diện được phỏng vấn tiếp nhận thông tin từ tivi (93,4%), loa truyền thanh (38,3%), sách báo tờ rơi, tranh ảnh tuyên truyền (32,9%), chỉ có 16,8 % nghe radio Việc tiếp nhận thông tin thường xuyên chỉ khoảng 24,4%, và qua kênh tivi có thể tiếp nhận thông tin đạt hiệu quả nhất (73,03%) [17]

Kết quả điều tra kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh lao của người dân Việt Nam, năm 2008 của CTCLQG Việt Nam cho biết có 53% biết bệnh lao do vi khuẩn lao gây ra, 86% biết lao là bệnh do lây truyền, 82% biết đường lây truyền là đường

hô hấp, về yếu tố thuận lợi có 60,9% biết cơ thể suy yếu, suy dinh dưỡng Các yếu

tố thuận lợi ít được biết là nghiện rượu, biết nơi cư trú chật hẹp ẩm thấp 25%, có 82,35% biết triệu chứng quan trọng nhất của bệnh lao phổi là ho kéo dài trên 2 tuần,

có 85,7% biết bệnh lao có thể phòng được, có 82,4% chọn tiêm phòng và 20,8%

biết phát hiện và điều trị sớm cho bệnh nhân là một cách phòng bệnh [4]

Trang 27

Nghiên cứu của Nguyễn Ý Như (2009): “Kiến thức, thái độ về phòng và điều trị bệnh lao của người dân Thị trấn Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội, Năm 2009”, kết quả cho thấy 27,6% biết vi khuẩn lao là nguyên nhân chính gây bệnh; 97,5% biết lao là một bệnh lây; 88% biết ho kéo dài là dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh; 85,1% biết bệnh lao có thể chữa khỏi và 92,7% biết bệnh có thể phòng được Chỉ có 5,5% biết tiêm phòng lao cho trẻ sơ sinh bằng BCG; 47,4% trả lời họ biết thông tin về bệnh qua loa truyền thanh và chỉ có 4,7% biết từ nhân viên Y tế [19]

Hồ Thanh Hùng (2009) nghiên cứu kiến thức, thực hành phòng chống lao của 96 người dân tại Phường 4, thành phố Cao lãnh, kết quả nghiên cứu kiến thức đạt 80,2%, thực hành đạt 55,2%, nguồn thông tin có 31,3% là phát trên ti vi và radio

là cao nhất [15]

Theo một khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống lao của người dân trên 40 tuổi Thị Trấn Thới Bình và xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình năm 2009: 22,5% biết nguyên nhân do vi trùng, 77,25% biết ho kéo dài trên 3 tuần là dấu hiệu nghi ngờ lao và 89,9% người dân biết bệnh lao phải được điều trị bằng thuốc tây; 20,25% đi khám bệnh khi có dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh lao [16]

Nguyễn Thị Thu Điệp (2010) khảo sát kiến thức của 243 người dân về phòng chống bệnh lao, khi đến khám lao tại phòng khám lao tỉnh Đồng Tháp từ tháng 4/2009 đến tháng 9/2010 cho thấy, có 74,35% biết được đây là một bệnh lây và là bệnh chữa được không tốn tiền Tuy nhiên còn 25% cho rằng bệnh lao không lây, 29,05% cho là bệnh di truyền và 19,65% cho là bệnh không chữa được [13]

Nghiên cứu của Trần Minh Hùng (2012), “Điều tra mức độ hiểu biết về bệnh lao của người dân 2 xã Nam Ka và Ear Bin,huyện Lăk, tỉnh Đăk Lắk”, kết quả có 64% có kiến thức chung đúng 86% đối tượng biết bệnh lao bệnh lây qua đường hô hấp, 34% đối tượng biết bệnh có thể phòng ngừa được bằng cách tiêm phòng lao cho trẻ sơ sinh, 34% cho biết người bệnh phải che miệng khi ho và 24% cho biết cách xử lý đàm là khạc đàm vào lon, cốc, lọ đem chôn hoặc đốt [18]

Năm 2012, Nguyễn Thị Mỹ Phương nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan tới thực hành phòng chống lao của người dân ở Thị trấn Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp”, kết quả có 83,5% người dân có kiến thức đúng về bệnh lao

Trang 28

và phòng chống lao; 60,8% người dân có thực hành đúng về bệnh lao, chỉ có 35,3% đối tượng biết làm thế nào để tránh lây lan bệnh lao Những người dân có kiến thức, hiểu biết đúng về phòng chống lao thì có tỷ lệ thực hành phòng chống lao cao hơn những đối tượng hiểu biết hạn chế về phòng chống lao (68,9% so với 19,7%) [20]

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu (2013) “Mô tả kiến thức, thái độ và

thực hành của người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Bạch Mai”: 32,7% có kiến thức đúng về nguyên nhân gây bệnh; 83,4% biết đường lây của bệnh; quan niệm đúng bệnh lao là lây đạt 93%; biết triệu chứng ho kéo dài là 73%; Tỷ lệ biết biện pháp phòng bệnh bằng tiêm BCG cho trẻ em là 39,3%; biết biện pháp phát hiện sớm và điều trị khỏi cho bệnh nhân là 31,7%; 27,7% biết TTYT huyện là nơi khám và điều trị lao Tỷ lệ thực hành đúng khi có triệu chứng nghi lao là 100%, tỷ lệ thực hành khám bệnh tại TTYT huyện (62,9%);

Tỷ lệ thực hành đúng về thời gian điều trị là 81,8% [24]

Kết quả nghiên cứu “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan

về phòng chống lao của người dân thành phố Cà Mau” năm 2013 của Nguyễn Trọng Bài cho thấy, trong 607 đối tượng tham gia nghiên cứu có 67,4% là nam giới; 82,5% có độ tuổi 18 – 59; 73,3% học vấn từ trung học cơ sở trở xuống; 51,2% sống bằng nghề nông Tỷ lệ người dân có kiến thức về phòng chống lao ở mức 90%; thực hành là 87,3% [11]

Qua các nghiên cứu cho thấy kiến thức, thực hành đúng về phòng bệnh lao của người dân nói chung, người nhà bệnh nhân lao phổi nói riêng còn rất hạn chế Đây là lời cảnh báo cho công tác y tế cộng đồng, rõ ràng chúng ta vẫn cần rất nhiều các công trình nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng ngừa lây nhiễm lao trong cộng đồng, đặc biệt trong đối tượng là người nhà của bệnh nhân lao phổi, những người thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với nguồn lây, để từ đó đưa ra những khuyến nghị phù hợp nhằm nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống lao trên nhóm đối tượng đặc biệt này, nhằm cải thiện tình hình bệnh lao hiện nay

Trang 29

1.4 Thông tin về địa bàn nghiên cứu:

1.4.1 Vị trí địa lý

Thanh Bình là một trong những

huyện thuộc vùng sâu của tỉnh Đồng

Tháp, cách trung tâm tỉnh lỵ 22 km về

phía Đông-Bắc, diện tích đất tự nhiên là

341,62 km2,phía Nam giáp với huyện

Chợ Mới (tỉnh An Giang, cách bởi sông

Tiền), phía Bắc giáp với huyện Tam

Nông, phía Tây giáp với huyện Phú Tân

(tỉnh An Giang, cách bởi sông Tiền),

phía Đông giáp huyện Cao lãnh

1.4.2 Dân số - kinh tế - văn hóa - xã hội:

Dân số toàn huyện có 182.275 người, 42.733 hộ, mật độ 525 người/ km2 Huyện có 13 đơn vị hành chính gồm 12 xã và 01 thị trấn, với 55 khóm/ấp Dân cư sống tập trung ở khu vực thị tứ, sống rải rác dọc theo quốc lộ và dọc theo các kênh rạch Kinh tế chủ yếu của người dân ở đây là làm nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản

và mua bán nhỏ lẻ Thu nhập bình quân đầu người vào khoảng 25.816.000 đồng/năm Tỷ lệ hộ nghèo 6,61%, hộ cận nghèo 10,12% [31] Trong những năm qua, công tác phòng, chống lao huyện Thanh Bình được đẩy mạnh, nhiều bệnh nhân lao được phát hiện sớm và điều trị kịp thời Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh lao hàng năm vẫn còn xảy ra khá phổ biến và tiềm ẩn trong cộng đồng mà ngành y tế chưa phát hiện được Điều này đang là thách thức không nhỏ đối với ngành Y tế huyện nhà

cũng như chính quyền địa phương nơi đây [30]

1.4.3 Thông tin về Trung tâm Y tế huyện

Trung tâm Y tế huyện (TTYT) chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện Thanh Bình về tổ chức, nhân sự và được sự chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn kỹ thuật của Sở Y tế Đồng Tháp Thực hiện chức năng triển khai thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn kỹ thuật về y tế dự phòng, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống bệnh xã hội, an toàn vệ sinh thực phẩm, chăm sóc sức khoẻ sinh sản và

Hình 2 Bản đồ hành chính huyện Thanh Bình

Trang 30

truyền thông giáo dục sức khoẻ trên địa bàn huyện Công tác phòng chống dịch luôn được chuẩn bị sẵn sàng, công tác cập nhật thông tin, phản hồi, báo cáo, điều tra, dập dịch, giám sát kịp thời Trong các năm qua không có dịch bệnh nguy hiểm xảy ra như nhiễm SARS, H5N1, tiêuchảy cấp nguy hiểm, cũng như không phát hiện 06 bệnh truyền nhiễm trẻ em trong diện tiêm chủng

Lãnh đạo Trung tâm Y tế có Giám đốc và một Phó Giám đốc; các phòng chức năng, nghiệp vụ gồm: Phòng Tổ chức Hành chính; Phòng Kế hoạch Tài chính; Phòng Truyền thông Giáo dục sức khoẻ Các khoa chuyên môn gồm: Khoa Kiểm soát dịch bệnh HIV/AIDS; Khoa An toàn vệ sinh thực phẩm; Khoa Y tế công cộng; Khoa Chăm sóc sức khoẻ sinh sản; Khoa Dược cận lâm sàng; một Phòng khám đa khoa khu vực và 13 Trạm Y tế với 191 nhân sự, trong đó trình độ sau đại học là 17, đại học 21, còn lại 153 là trình độ trung cấp và cao đẳng

Tổ Lao trực thuộc khoa Kiểm soát dịch bệnh - HIV/AIDS, gồm có một bác

sỹ, một y sỹ và một kỹ thuật viên xét nghiệm Thuốc, vật tư, hóa chất được cung cấp đầy đủ Thuốc được bảo quản tốt Cán bộ quản lý chương trình cập nhật số liệu, báo cáo đầy đủ, chính xác, cấp phát thuốc đúng qui trình, không để bệnh nhân thiếu thuốc điều trị [30]

Trang 31

KHUNG LÝ THUYẾT

Khung lý thuyết được xây dựng trên cơ sở tham khảo Báo cáo kết quả nghiên

cứu của bác sỹ Vũ Ngọc Bảo và cộng sự (2012): “Những rào cản đối với việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ chẩn đoán lao tại Việt Nam” [10]

- Kiến thức về bệnh, triệu chứng, dấu

hiệu nghi ngờ của bệnh lao;

- Cách phát hiện và điều trị bệnh;

- Kiến thức về yếu tố nguy cơ;

- Biện pháp phòng bệnh

Thực hành phòng bệnh

- Bảo hộ khi tiếp xúc bệnh nhân lao;

- Khám phát hiện khi có dấu hiệu nghi ngờ

- Dinh dưỡng; hoạt động thể lực; tránh lạm dụng rượu bia, thuốc lá;

- Hỗ trợ người bệnh phòng lây nhiễm lao cho những người xung quanh

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là người nhà bệnh nhân lao phổi đang quản lý điều trị tại huyện Thanh Bình trong thời điểm nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chí chọn mẫu

Người nhà đang sống cùng và trực tiếp chăm sóc bệnh nhân lao phổi trong

hộ gia đình, từ 18 tuổi trở lên, tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chí loại trừ

- Người nhà sống cùng bệnh nhân lao phổi tại các hộ gia đình được chọn

nhưng đi làm ăn xa trong thời điểm phỏng vấn

- Người nhà không sống chung với bệnh nhân lao phổi và không có hộ khẩu

thường trú tại huyện Thanh Bình

- Mắc bệnh tâm thần, thiểu năng trí tuệ hay các bệnh có ảnh hưởng đến khả

năng giao tiếp

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12/2015 đến tháng 8/2016

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Tại huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu:

2.4.1 Cỡ mẫu:

- Định lượng:

Chọn mẫu toàn bộ Chọn tất cả 101 bệnh nhân lao phổi đang quản lý, điều trị tại huyện Thanh Bình trong thời gian nghiên cứu Tại mỗi hộ gia đình có bệnh nhân lao phổi, chọn một người nhà sống cùng bệnh nhân mắc lao phổi đang điều trị Tổng số là 101

- Định tính:

Chọn 06 đối tượng mời phỏng vấn sâu trong số người nhà của bệnh nhân lao

phổi đã được phỏng vấn định lượng

Trang 33

2.5 Phương pháp thu thập số liệu:

2.5.1 Định lượng:

- Chúng tôi tiến hành phỏng vấn trực tiếp người nhà của bệnh nhân lao phổi

đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi có cấu trúc (Phụ lục 4: Bộ câu hỏi phỏng vấn người nhà bệnh nhân lao phổi) được xây dựng

dựa trên cơ sở tham khảo từ nghiên cứu “Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành của

người nhà bệnh nhân đối với bệnh lao tại Trung tâm Hô hấp- Bệnh viện Bạch Mai”

của tác giả Nguyễn Thị Thu [24] và được chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực

tế trong nghiên cứu này Bộ câu hỏ được phỏng vấn thử trên 10 người rồi chỉnh sửa cho phù hợp với thực tế

- Điều tra viên là 02 cán bộ của TTYT Thanh Bình có trình độ trung cấp Y, được nghiên cứu viên tập huấn và giải thích về mục đích, phương pháp thu thập số liệu và nội dung ý nghĩa của từng câu hỏi trong phiếu điều tra

- Điều tra viên đến hộ gia đình cùng với sự dẫn đường của 13 cán bộ phụ trách CTCL ở 13 TYT xã/thị trấn, chọn một đối tượng đảm bảo tiêu chí chọn mẫu, tiến hành phỏng vấn thu thập thông tin, hỏi đúng nội dung được ghi trong bộ câu hỏi, không gợi ý các lựa chọn Trung bình mỗi ngày 01 điều tra viên phỏng vấn được 10 đối tượng ở 10 hộ gia đình Thời gian phỏng vấn trung bình 20 phút cho mỗi đối tượng

-

Trang 34

2.5.2 Định tính:

Nghiên cứu viên là người trực tiếp thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu, với các nội dung: những yếu tố nào liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh lao của nhóm đối tượng này, những thuận lợi, khó khăn và các giải pháp khắc phục nhằm giúp họ có kiến thức, thực hành phòng chống lao tốt hơn 06 cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại nhà ĐTNC cùng sự hỗ trợ của một điều tra viên, cuộc phỏng vấn sâu được ghi âm với sự đồng ý và hợp tác của ĐTNC

2.6 Phân tích số liệu

- Số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 sau đó chuyển sang phần mềm SPSS 16.0 để phân tích Các phép tính thống kê thông thường được

sử dụng để tính tỷ lệ % Tỷ suất chênh OR, kiểm định χ2 được sử dụng để xác định

mối liên quan Mức ý nghĩa thống kê sử dụng trong nghiên cứu là 0,05

- Thông tin định tính được gỡ băng, ghi lại bằng văn bản và phân tích theo chủ đề bổ sung và giải thích cho kết quả định lượng Một số kiến thức tiêu biểu của ĐTNC được trích dẫn minh họa cho kết quả nghiên cứu

2.7 Biến số và khái niệm

Các chỉ số nghiên cứu

Phân loại biến số

PP - Kỹ thuật thu thập

TT

I Đặc điểm nhân khẩu học

nam hay phái nữ

Nhị phân

Phỏng vấn

Tính theo dương lịch, là khoảng cách số năm giữa năm sinh ra với thời điểm 2016

Thứ hạng

Phỏng vấn

Trang 35

4 Nghề nghiệp Công việc chính mà đối tượng

đang làm

Định danh

Phỏng vấn

nghèo do UBND xã cấp

Phân loại

Phỏng vấn

6 Mối quan hệ trong gia

đình

Mối quan hệ của ĐTNC với

Phỏng vấn

Phỏng vấn

năng lây của bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

lao

Hiểu biết của ĐTNC về đường lây truyền của bệnh

Định danh

Phỏng vấn

10 Nguồn lây chính của

bệnh lao

Hiểu biết của ĐTNC về nguồn lây bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

11 Thể lao dễ lây bệnh

nhất

Hiểu biết của ĐTNC về các thể lao và khả năng lây bệnh của thể lao đó

Định danh

Phỏng vấn

12 Dấu hiệu nghi ngờ của

bệnh lao phổi

Hiểu biết của ĐTNC về dấu hiệu nghi ngờ của bệnh lao phổi

Định danh

Phỏng vấn

13 Yếu tố thuận lợi dễ mắc

bệnh lao

Hiểu biết của ĐTNC về những yếu tố thuận lợi dễ mắc bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

14

Cách xử trí của ĐTNC

khi có dấu hiệu nghi

ngờ bệnh lao

Hiểu biết của ĐTNC về cách

xử trí khi có dấu hiệu nghi ngờ bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

Phỏng vấn

Trang 36

16 Khả năng chữa khỏi

bệnh lao

Hiểu biết của ĐTNC về khả năng chữa khỏi bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

17 Nơi điều trị bệnh lao

Hiểu biết của ĐTNC về nơi điều trị bệnh lao an toàn và hiệu quả

Định danh

Phỏng vấn

18 Thời gian điều trị bệnh

lao

Hiểu biết của ĐTNC về thời gian điều trị bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

Phỏng vấn

Phỏng vấn

phòng bệnh lao

Định danh

Phỏng vấn

Định danh

Phỏng vấn

23

Hậu quả của việc không

thực hiện các biện pháp

phòng lây/nhiễm lao

Là những hiểu biết của ĐTNC

về hậu quả của việc không thực hiện các biện pháp phòng lây/nhiễm lao

Phỏng vấn sâu

III Thực hành phòng bệnh

dấu hiệu nghi ngờ

Đến cơ sở y tế khám sớm ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ của bệnh

Nhị phân

Phỏng vấn

tiếp xúc với người bệnh

Hành động mà đối tượng thực hiện khi chăm sóc người bệnh

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

Trang 37

27 Giữ nhà cửa thông

thoáng

Hành động mà đối tượng thực hiện khi chăm sóc người bệnh

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

29 Tập luyện thể dục nâng

cao sức khỏe

Hành động mà đối tượng thực hiện khi chăm sóc người bệnh

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

32

Hỗ trợ, nhắc nhở người

bệnh mang khẩu trang,

che miệng khi ho hoặc

hắt hơi

Hành động mà đối tượng thực hiện khi chăm sóc người bệnh

Nhị phân

Phỏng vấn

Nhị phân

Phỏng vấn

IV Thông tin về truyền thông

34 Tiếp cận thông tin

phòng bệnh lao

Là việc mà ĐTNC nhận được các thông tin về phòng bệnh lao

Phân loại

Phỏng vấn

nhận được

Phân loại

Phỏng vấn

Trang 38

36 Loại thông tin Loại thông tin mà ĐTNC đã

được nhận/xem

Phân loại

Phỏng vấn

37 Hình thức tiếp cận

thông tin

Là các hình thức thông tin mà ĐTNC tiếp cận được

Phân loại

Phỏng vấn

38 Hình thức thông tin

được chấp nhận

Hình thức thông tin mà ĐTNC chấp nhận

Phân loại

Phỏng vấn

39 Sự hỗ trợ của cộng

đồng, xã hội

Được sự quan tâm hỗ trợ của cộng đồng, người thân, bạn bè trong quá trình người thân điều trị lao

Nhị phân

Phỏng vấn

40 Hình thức giúp đỡ

Là mà tổ chức, cá nhân hỗ trợ, giúp đỡ trong quá trình người nhà điều trị bệnh lao

Phân loại

Phỏng vấn

2.8 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

- Người bệnh lao phổi AFB(+) là những người thoả mãn 1 trong 3 tiêu chuẩn sau:

+ Tối thiểu có 2 tiêu bản AFB(+) từ 2 mẫu đờm khác nhau

+ Một tiêu bản đờm AFB(+) và có hình ảnh lao tiến triển trên phim Xquang phổi

+ Một tiêu bản đờm AFB(+) và nuôi cấy dương tính

+ Riêng đối với người bệnh HIV(+) cần có ít nhất 1 tiêu bản xét nghiệm đờm AFB(+) được coi là lao phổi AFB(+)

- Trong nghiên cứu này, người bệnh lao phổi là người được bác sĩ chuyên khoa lao hội chẩn, chẩn đoán xác định là lao phổi và có tên trong danh sách quản lý điều trị lao tại Tổ lao Trung tâm Y tế Thanh Bình

- Kiến thức: Những hiểu biết về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ, các biện pháp can thiệp để giải quyết các vấn đề sức khoẻ [20]

- Thực hành: Là đem những kiến thức có được để áp dụng vào thực tế để bảo

vệ sức khoẻ bản thân, gia đình và cộng đồng [20]

Trang 39

- Đánh giá kiến thức: Phần kiến thức có 17 câu hỏi Với những câu hỏi một lựa chọn (từ câu 7 - câu 13, câu 15, từ câu 17 - câu 19, câu 21) nếu chọn phương án

1 là kiến thức đúng Với những câu hỏi nhiều lựa chọn (câu 14, 16, 20, 22, 23) nếu trả lời được ≥ 3 phương án ở mỗi câu hỏi là kiến thức về câu hỏi đó đúng Kiến thức chung đạt là khi ĐTNC trả lời đúng từ 9/17 câu hỏi trở lên (>50% số câu hỏi) [16]

- Đánh giá thực hành: Phần thực hành gồm có 10 câu hỏi, từ câu 24 đến 33, được xác định qua các hành động cụ thể của ĐTNC Thực hành đúng khi đối tượng

chọn phương án “Có” ở mỗi câu trả lời Thực hành không đúng khi đối tượng chọn phương án “Không” ở mỗi câu trả lời Thực hành chung đạt khi đối tượng trả lời

đúng từ 6/10 câu hỏi trở lên (>50% số câu hỏi) [16]

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu được thực hiện sau khi được sự chấp thuận của Hội đồng Đạo đức trường Đại học Y tế công cộng

- Các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giải thích rõ về mục đích của nghiên cứu, được xin phép để có sự chấp thuận khi tham gia Đối tượng nghiên cứu

có thể từ chối tham gia nghiên cứu Thông tin thu được chỉ dùng vào mục đích của nghiên cứu Sẵn sàng tư vấn cho người được phỏng vấn và gia đình các vấn đề liên quan đến bệnh lao

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu:

- Nghiên cứu chỉ thực hiện trên đối tượng là người nhà bệnh nhân lao phổi của huyện Thanh Bình, nên tính đại diện của nghiên cứu hạn chế vế mặt phạm vi, không thể suy rộng từ kết quả nghiên cứu và chưa đưa ra được các khuyến nghị ở quy mô rộng hơn

- Chúng tôi chưa tham khảo được nhiều tài liệu, nghiên cứu về kiến thức, thực hành phòng bệnh lao trên đối tượng là người nhà của bệnh nhân lao phổi nên còn bị hạn chế trong việc so sánh, đối chiếu khi phân tích kết quả nghiên cứu

2.10.2 Sai số:

Trang 40

- Sai số do kỹ năng của điều tra viên khi phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu

có thể bỏ sót một số thông tin trong bộ câu hỏi

- Sai số nhớ lại Sai số trong quá trình nhập liệu

2.10.3 Biện pháp khắc phục

- Điều tra viên được tập huấn trước đó cũng phần nào giúp hạn chế được sai lệch Mỗi điều tra viên phỏng vấn thử 05 đối tượng để xem xét những vấn đề cần điều chỉnh cho phù hợp thực tế Việc phỏng vấn thử giúp giải quyết được các yêu cầu về thực hành kỹ năng phỏng vấn của các điều tra viên, thử nghiệm bộ câu hỏi tại thực địa và đưa ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh cho phù hợp

- Điều tra viên giải thích cho ĐTNC hiểu rõ mục đích nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời đúng trọng tâm câu hỏi

- Quá trình nhập liệu được tiến hành bởi hai điều tra viên hỗ trợ lẫn nhau, một người đọc, một người nhập vào máy Trong quá trình nhập, người đọc đồng thời là người hỗ trợ kiểm tra thông tin chính xác với phiếu phỏng vấn Sau khi nhập liệu xong, nghiên cứu viên lấy ngẫu nhiên 10% phiếu nhập lại kiểm tra để đảm bảo tính chính xác của thông tin

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w