1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ ba trở lên của các cặp vợ chồng tại 3 xã miền núi huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế

99 791 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 3,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu những nguyên nhân nào tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại đây chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ ba trở lên của các cặp vợ chồ

Trang 1

NGUYỄN VĂN CƯƠNG

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SINH CON THỨ

BA TRỞ LÊN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TẠI 3 XÃ

MIỀN NÚI HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ, NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

Hà Nội – 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN CƯƠNG

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN CỦA CÁC CẶP VỢ CHỒNG TẠI

3 XÃ MIỀN NÚI HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA

THIÊN HUẾ, NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

Ts Nguyễn Văn Nghị

Hà Nội – 2015

Trang 3

Công cộng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của giảng viên, gia đình và người

thân

Để đạt được kết quả hôm nay, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và

biết ơn sâu sắc đến người thầy của tôi Tiến sĩ Nguyễn Văn Nghị đã tận tình hướng

dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Y tế Công Cộng,

phòng Đào tạo sau đại học, các thầy cô trong trường Đại học Y tế công cộng đã có

nhiều công sức đào tạo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Sở Y tế tỉnh Thừa Thiên Huế, Trung tâm

Truyền thông Giáo dục sức khỏe tỉnh, Trung tâm DS – KHHGĐ huyện Phong Điền

và một số đơn vị y tế liên quan đã tạo điều kiện cho tôi được học tập và hoàn thành

luận văn

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu s ắc tới những người thân trong gia

đình, đồng nghiệp và bạn bè, những người đã chia sẻ và giúp đỡ tôi trong suốt quá

trình học tập

Nguyễn Văn Cương

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tình tr ạng gia tăng dân số và một số nguy cơ 4

1.1.1 Tình tr ạng gia tăng dân số trên thế giới 4

1.1.2 Tình tr ạng gia tăng dân số tại Việt Nam 5

1.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng 7

1.2.1 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam 7

1.2.2.Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam 8

1.2.2.4 Các yếu tố dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình 13

1.3 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại huyện Phong Điền và tỉnh Thừa Thiên Huế 15

1.3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên c ứu 15

1.3.2.Tình hình thực hiện công tácDS-KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014 16

1.3.3 Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ c ủa Huyện Phong Điền 18

1.3.4 Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ của 3 xã miền núi huyện Phong Điền 20

1.3.5 Khung lý thuyết các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền, năm 2015 21

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1.Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.4.1.Cỡ mẫu 23

Trang 5

2.5 Phương pháp thu thập thông tin 24

2.6 Biến số nghiên cứu 25

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 30

2.8 Đạo đức nghiên cứu 31

2.9 Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 31

2.9.1.Hạn chế của nghiên cứu 31

2.9.2 Khó khăn, sai số 32

2.9.3 Các biện pháp khắc phục khó khăn và hạn chế sai số 32

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

3.1.1 Thông tin nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 34

3.1.2 Tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ DS-KHHGĐ c ủa ĐTNC 37

3.1.3 Nguồn phổ biến về chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình cho ĐTNC 38

3.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên 38

3.3 Lý do sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng 43

3.4 Một số yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 45

3.4.1 Các yếu tố cá nhân 45

3.4.2 Các yếu tố quan niệm, tâm lý người chồng và gia đình 48

3.4.4 Mối liên quan giữa chính sách dân số và việc sinh con thứ 3 trở lên 51

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 54

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 65

KHUYẾN NGHỊ 67

TÀI LIỆU THAM KHẢO .69

Phụ lục 1: PHIẾU KHẢO SÁT CÁC CẶP VỢ CHỒNG SINH CON 75

THỨ 3 TRỞ LÊN 75

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PTTH

SKSS

Phổ thông trung học Sức khỏe sinh sản UBND

YNTK

Ủỷ ban nhân dân

Ý nghĩa thống kê

Trang 7

DANH MỤC CÁC B ẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành thị/nông

thôn, thời kỳ 2006 – 2013 8

Bảng1.2: Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ từ năm 2010 – 2014 tỉnh Thừa Thiên Huế……… 17

Bảng 3.1.3 Xu hướng biến động sinh con thứ 3 tại 3 xã miền núi của huyện Phong Điền 19

Bảng 3.1: Đặc điểm chung về ĐTNC 34

Bảng 3.2: Đối tượng nhận thông tin về dịch vụ DSKHHGĐ từ các kênh 37

Bảng 3.3:Nguồn phổ biến thông tin liên quan tới chính sách DSKHHGĐ cho ĐTNC 38

Bảng 3.4: Số con hiện tại đang sống 39

Bảng 3.5:Phân bố tuổi sinh con thứ 3 trở lên của người mẹ 39

Bảng 3.6: Giới tính của các con hiện tại đang sống 40

Bảng 3.7: Phân bố giới tính của trẻ trong những lần sinh con trước 40

Bảng 3.8: Tình trạng sức khỏe của các con hiện tại 41

Bảng 3.9: Tình trạng học hành c ủa các con hiện tại 42

Bảng 3.10: Tình trạng sinh con ngoài ý muốn 42

Bảng 3.11: Lý do sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng 43

Bảng 3.12: Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên 43

Bảng 3.13: Đối tượng gây áp lực trong việc sinh con thứ 3 trở lên 44

Bảng 3.14: Các BPTTHĐ sử dụng trước lần sinh con thứ 3 trở lên 44

Bảng 3.15: Biện pháp tránh thai đối tượng sử dụng thất bại trong lần sinh con thứ 3 trở lên 45

Bảng 3.16: Mối liên quan giữa một số yếu tố từ cá nhân và việc sinh con thứ 3 trở lên 45

Bảng 3.17: Mối liên quan giữa yếu tố người chồng và việc sinh con thứ 3 trở lên 48

Bảng 3.18: Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình, cộng đồng 49

và việc sinh con thứ 3 trở lên 49

Trang 8

Bảng 3.19: Mối liên quan giữa tiếp cận dịch vụ DS – KHHGĐ và việc sinh con thứ

3 trở lên 50 Bảng 3.20: Mối liên quan giữa chính sách dân số và việc sinh con thứ 3 trở lên 51 Bảng 3.21: Mô hình hồi quy logic dự đoán mối liên quan đến hành vi sinh con thứ

3 trở lên 52

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1: Dự báo dân số thế giới năm 2050 4 Hình 1.2 Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 - 2049 6 Hình 1.3: Bản đồ địa lý huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 16

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tình trạng sinh con thứ 3 trở lên là một trong những thách thức đối với công

tác Dân số Kế hoạch hóa gia đình (DS – KHHGĐ) trong chính sách giảm sinh ở

nước ta Theo báo cáo của trung tâm DS – KHHGĐ huyện Phong Điền 3 xã miền

núi có tỷ lệ sinh con thứ 3 cao hơn từ 5-10% so với toàn quốc (14,2%)[34] Để tìm

hiểu những nguyên nhân nào tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại đây chúng

tôi tiến hành nghiên cứu “Một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ ba trở lên của

các cặp vợ chồng tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế,

năm 2015”

Nghiên cứu triển khai từ tháng 11/2014 đến 05/2015, tại 3 xã miền núi huyện

Phong Điền Với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích với 70 người

người mẹ sinh con thứ 3 trở lên trong năm 2014 và 105 người mẹ có 2 con và chỉ

mong muốn sinh 2 con Các đối tượng tham gia nghiên cứu được phỏng vấn trực

tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn

Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê (YNTK)

giữa một số yếu tố nguy cơ và khả năng sinh con thứ 3 trở lên cụ thể là: trình độ học

vấn của người mẹ dưới trung học phổ thông(OR =7,7), độ tuổi kết hôn của người

mẹ trước 25 tuổi (OR=6,21),người mẹ có con một bề (OR=2,22), người mẹ không

biết tình hình xử phạt khi sinh con thứ 3 trở lên (OR=10,94), trình độ học vấn của

người chồng thấp (OR=3,03),việc tiếp cận dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình

(DS-KHHGĐ) của người mẹ (OR=3,33) Nghiên cứu cho thấy vợ, chồng hoặc cả

hai là đảng viên là yếu tố bảo vệ làm giảm nguy cơ sinh con thứ 3

Nghiên c ứu đưa ra một số khuyến nghị cho chính quyền địa phương, tăng

cường công tác truyền thông thay đổi hành vi và lựa chọn hình thức, nội dung phù

hợp với các nhóm đối tượng, chấp nhận quy mô gia đình ít con, tăng tỷ lệ sử dụng

biện pháp tránh thai hiện đại để giảm thiểu tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

Trang 11

xã hội hàng đ ầu ở nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm thực hiện công tác DS-KHHGĐ Năm 1961, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 216/CP, đây là văn bản pháp quy đầu tiên của Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ và mang đậm tính nhân văn “ Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc hoà thuận của gia đình và để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp” Để kỷ niệm và đánh dấu sự kiện này, ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 326, lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số Việt Nam [10]

Theo tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2009, Việt Nam có 85 847 triệu người, tăng 9.522 triệu so với tổng điều tra dân số 01/04/1999 [33] Ngày 1/11/2013 Việt Nam đón chào công dân thứ 90 triệu người Số dân tăng thêm hằng năm của nước ta từ mức 0,9-1,2 triệu người Chương trình dân số Việt Nam đã có bước ngoặt quan trọng, chuyển hướng từ mục tiêu tập trung vào giảm số dân sang chất lượng dân số, từ nội dung KHHGĐ hạn hẹp sang sức khoẻ sinh sản toàn diện hơn [16]

Việt Nam hiện nay tuy đã đạt mức sinh thay thế, nhưng một số địa phương mức sinh có thể tăng trở lại, nguyên nhân là do phong tục tập quán, tư tưởng muốn

có đông con, phải có con trai để nối dõi, trọng nam khinh nữ… còn rất nặng nề của người dân trong xã hội; số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ tiếp tục tăng nhanh, sẽ đạt cực đại vào năm 2020-2025; năm 2012 còn 26/63 tỉnh, thành phố chưa đạt mức sinh thay thế tập trung vào Tây Nguyên, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung và Trung

Trang 12

du miền núi phía bắc Điều đáng nói là số phụ nữ sinh con thứ 3 hiện nay không chỉ

có đối tượng nông dân mà còn đang tăng ở đối tượng công chức nhà nước, lao động

tự do[4], [31]

Ngày 30 tháng 5 năm 2014, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành quyết định số 28/2014/QĐ-UBND về quy định một số chính sách về dân số và gia đình Quyết định này quy định về số con của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân; chính sách khuyến khích đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cá nhân thực hiện chính sách dân số

và kế hoạch hóa gia đình; xử lý vi phạm chính sách dân số và biện pháp đẩy mạnh công tác dân số kế hoạch hóa gia đình [38]

Theo báo cáo Chi cục Dân số kế hoạch hóa gia đình tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014, dân số toàn tỉnh 1.140.000 người Tổng số trẻ sinh ra 17.632 trẻ, trong

đó 2.732 trẻ là con thứ 3 trở lên Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lêncủa tỉnh năm 2014 là 15,4% còn cao so với cả nước Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của huyện Phong Điền từ năm 2010 đến nay tuy có giảm qua các năm, nhưng hiện nay Phong Điền vẫn là một trong 3 huyện có tỷ lệ sinh con thứ 3 cao nhất tỉnh Thừa Thiên Huế Đặc biệt các xã

ở vùng núi huyện Phong Điền từ năm 2010 đến nay có t ỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên rất cao và có xu hướng tăng trở lại, như Phong Sơn (23,36%), Phong Mỹ (24,67%)

và xã Phong Xuân (24,14%), nếu không có giải pháp kịp thời nhằm khống chế tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến cuộc sống người dân nơi đây [36]

Trước thực trạng đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Một số yếu tố

liên quan đến sinh con thứ ba trở lên của các cặp vợ chồng tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền – tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2015

Nghiên cứu nhằm có những bằng chứng khoa học làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp để giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại địa bàn nghiên cứu

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2015

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2015

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình trạng gia tăng dân số và một số nguy cơ

1.1.1 Tình trạng gia tăng dân số trên thế giới

Dân số thế giới tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2014 hơn 7,2 tỷ người và tiếp tục tăng, đ ặc biệt là ở các nước đang phát triển Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới với 1,39 tỷ người, đứng thứ 2 là Ấn Độ với 1,27 tỷ người, Indonesia là nước có dân số đứng thứ 4 thế giới và đứng đầu các nước ở khu vực Đông Nam Á với hơn 254 triệu người Dân số thế giới đạt mốc 6 tỷ người vào năm 1999, 7 tỷ người năm 2011 và dự đoán mùa xuân năm 2024 dân số thế giới đạt mốc 8 tỷ người, năm 2050 con số này lên đến 9,5 tỷ người [51]

Nguồn: http://www.worldometers.info Hình 1.1: Dự báo dân số thế giới năm 2050

Dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm; tức cứ 1 giây lại có 4,4 em bé chào đời; tăng 78 triệu người hàng năm; bình quân cứ 13 năm dân

số thế giới đã tăng thêm 1 tỷ người Tốc độ tăng dân số sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới [24]

Theo UNFA, các chỉ báo về nhân khẩu học năm 2012, dân số Thế giới là 7,052 tỷ người, thì các vùng kém phát triển chiếm 5.8076 tỷ người Tỷ lệ tăng dân

số trung bình hàng năm giữa vùng phát triển là 0,3% trong khi đó tỷ lệ này ở các

Trang 15

vùng kém phát triển là 1,3% Tỷ suất sinh/phụ nữ từ năm 2010 – 2015 ở các nước phát triển là 2 và ở các nước kém phát triển là 3 Những thay đổi về tỷ lệ sinh trong vòng vài thập kỷ tiếp theo có thể gây hậu quả lớn về quy mô, cấu trúc và phân bổ dân số trong thời gian dài hạn [14]

Theo báo cáo Triển vọng dân số thế giới năm 2012, dân số tại khu vực phát triển sẽ giữ ở mức không thay đổi vào khoảng 1,3 tỷ người từ nay cho tới 2050 Dân số của châu Âu được dự báo giảm kho ảng 700 triệu dân vào năm 2050 thì tại 49 nước kém phát triển dự báo sẽ có quy mô tăng gấp đôi ở mức 900 triệu người vào năm 2013 lên 1,8 tỷ người vào năm 2050 [27], [46] Khu vực dân số tăng nhanh nhất thế giới là Châu Phi kho ảng 1 tỷ người (2011) Dân số Châu Á và Châu Mỹ La Tinh cũng được dự báo sẽ tăng thêm khoảng 25% trong 50 năm tới [24]

Trong số bốn yếu tố tác động đến tốc độ tăng dân số là mức sinh, mức chết,

di dân và cơ cấu dân số trẻ thì cơ cấu dân số trẻ có ảnh hưởng lớn nhất Theo Ngân hàng Thế giới, quy mô dân số ở các nước đang phát triển năm 2010 sẽ tăng 1,81 lần

so với năm 2000 thì phần tăng do cơ cấu dân số trẻ là 1,39 lần, do mức chết giảm là 1,15 lần và do mức sinh là 1,13 lần Với cơ cấu dân số trẻ – tỷ lệ phụ nữ dưới 30 tuổi theo Tổng điều tra dân số 1999 chiếm gần 59,6% dân số nữ, đúng bằng trung bình của các nước đang phát triển năm 2000 (59,3%), dân số Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục tăng trong nhiều năm nữa trước khi đạt đến quy mô dân số ổn định [20]

1.1.2 Tình trạng gia tăng dân số tại Việt Nam

Sự thay đổi dân số bất bình thường của Việt Nam đã diễn ra trong vòng 30 năm từ 1921 đến 1951, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 1,9% trong thời kỳ 1921 –

1926 đã giảm xuống còn 0,7% thời kỳ 1926 – 1931 Thời kỳ 1954 – 1960 sau khi miền Bắc được giải phóng nền kinh tế được phục hồi và phát triển, quy luật dân số tăng đã làm cho dân số tăng với tốc độ kỷ lục, tới 3,9%/năm

Những năm gần đây, 1976 – 1979, tốc độ phát triển dân số giảm nhanh do tác động của giảm tỷ suất sinh Trong 10 năm kể từ 1979 – 1989, tỷ lệ tăng dân số bình quân cả nước ở mức 2,1% Từ 1989 – 1992, tỷ lệ sinh có giảm nhưng chậm Trong khi tỷ lệ sinh còn cao, tỷ lệ chết giảm đáng kể nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

Trang 16

của dân số trong những năm sau tổng điều tra dân số 1989 vẫn còn ở mức cao, ngoài ra còn có tác động của yếu tố di dân từ nước ngoài về[7]

Nguồn:Tổng cục Thống kê(2011), Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 - 2049

Hình 1.2 Dự báo dân số Việt Nam giai đoạn 2009 - 2049

Theo báo cáo của Tổ ng cục Dân số và KHHGĐ, dân số Việt Nam năm 2000

là 77,6 triệu người, tăng lên 82,4 triệu người vào năm 2005 và 86,92 triệu người vào năm 2010, đạt mục tiêu Chiến lược đề ra là dưới 89 triệu người Trong 10 năm (2001-2010), dân số đó tăng thêm 11,2 triệu người Tỷ lệ phát triển dân số từ 1,28% (2001) xuống 1,17% (2005) và đ ạt 1,05% năm 2010, vượt mục tiêu đề ra là 1,1% vào năm 2010 Từ năm 2000 đến nay, mức sinh giảm chậm và có sự dao động “lên xuống” qua các năm [32]

Ngày 1/4/2013 dân số Việt Nam ước tính là 89,5 triệu người (tăng 952.131người so với 1/4/2012) trong đó có 45.215.396 người nữ, theo xếp hạng dân

số Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới và đang đứng thứ 8 trong khu vực Châu Á Trong đó, dân số thành thị là 28,9 triệu người, chiếm 32,3%; dân số nông thôn là 60,6 triệu người, chiếm 67,7% Với 20,4 triệu người, Đồng bằng sông Hồng là vùng

có quy mô dân số lớn nhất, chiếm 22,8%, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,3 triệu người) chiếm 21,5%, Tây Nguyên là vùng có số dân ít nhất

Năm 2019

Năm 2024

Năm 2029

Năm 2034

Năm 2039

Năm 2044

Năm 2049

Trang 17

(5,5 triệu người) chỉ chiếm 6,1% dân số cả nước Dân số Việt Nam vẫn tiếp tục có

xu hướng gia tăng Tổng tỷ suất sinh năm 2013 đạt 2,1 con/phụ nữ, tăng so với mức 2,05 con/phụ nữ của năm 2012 Tỷ suất sinh thô đạt 17 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân Tỷ số giới tính của trẻ em là 113,8 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 112,3 bé trai/100 bé gái của năm 2012 Tỷ suất chết thô năm 2013 là 7,1‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 15,3‰; t ỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,1‰ [34]

Với quy mô dân số hơn 90 triệu người và duy trì mức sinh thay thế (mỗi phụ

nữ sinh từ 2-2,1 con), mỗi năm dân số Việt Nam tăng hơn 1 triệu người và sẽ đạt quy mô dân số cực đại vào năm 2050 với khoảng 110 triệu dân, trong đó dân số già trên 65 tuổi chiếm 18% Đây là cơ cấu dân số này là mong muốn của nhiều nước, đảm bảo hài hòa giữa các lứa tuổi và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Hiện nay, dân số Việt Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới cũng sẽ là áp lực rất lớn trong việc bảo vệ môi trường cũng như các chính sách an sinh xã hội [16],[21],[49]

1.2 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam và các yếu tố ảnh hưởng

1.2.1 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam

Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam đang trở thành mối quan tâm củaĐảng và nhà nước ta Sinh con thứ 3 trở lên hiện không chỉ tồn tại ở nông thôn

mà còn là vấn đề của các thành phố lớn, không chỉ ở bộ phận có trình độ hiểu biết thấp mà còn ở cả những người có trình độ học vấn cao, cán bộ, đảng viên Tỷ lệ phụ

nữ sinh con thứ ba trở lên biểu thị số phụ nữ có sinh con thứ ba trở lên trong 12 tháng trước điều tra trên 100 phụ nữ sinh con trong thời kỳ đó

Bảng 1.1 trình bày tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam từ năm 2006 đến 2013 chia theo thành thị và nông thôn Số liệu cho thấy, trong thời gian qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm dần qua các năm, từ 18,5% năm 2006 xuống 14,2% năm 2012, tuy nhiên năm 2013 tỷ lệ này

có xu hướng tăng nhẹ 14,3% [34]

Trang 18

Bảng 1.1: Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành

thị/nông thôn, thời kỳ 2006 – 2013 Nơi cư trú 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Toàn quốc 18,5 16,7 16,9 16,1 15,1 14,7 14,2 14,3

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013), Điều tra biến động dân số - KHHGĐ 1/4/2013

Trong những năm qua, tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ thành thị thay đổi không đáng kể trong khi tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn giảm mạnh Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên cao nhất ở Tây Nguyên (24,0%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (18,0%) Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên trên thấp nhất, khoảng 11% Tây Nguyên là nơi sinh sống của các dân tộc ít người, việc tiếp cận các phương tiện tránh thai cũng như phương tiện truyền thông về kế hoạch hóa gia đình có hạn chế nên đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến tỷ

lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên của vùng này cao nhất nước [34]

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam 1.2.2.1 Các yếu tố cá nhân người vợ

a Trình độ học vấn:

Giữa trình độ học vấn và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên có mối quan hệ

tỷ lệ nghịch: trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên càng thấp Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm của những phụ nữ chưa đi học tới 45,4%, giảm dần xuống còn 27,4% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 21,1% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 16,2% đối với phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 5,7% đối với phụ nữ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên [34]

Trong những năm 2000, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến sinh con thứ 3 trở lên Trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có sự hiểu biết về xã hội còn

Trang 19

hạn chế và tập trung cao nhất ở những bà mẹ có trình độ dưới tiểu học [15],[17],[19] Đến sau những năm 2010, những nghiên cứu về tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của các tác giả Nguyễn Thế Hùng tại tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Ngọc Nha tại Phú Yên, Lang Đình Bính t ại tỉnh Bình Định đã cùng nhận định nhưng tình trạng sinh con thứ 3 trở lên ở những bà mẹ có học vấn thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao Dù

đã sau hơn 10 năm nhưng tỷ lệ này vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn dưới Tiểu học [3],[18],[22]

b Yếu tố tâm lý mong muố n sinh con trai

Tại Việt Nam, yếu tố tâm lý có ảnh hưởng sâu s ắc đến hành vi sinh con thứ 3 trở lên Yếu tố tâm lý là lý dó những gia đình quyết định sinh thêm con, những yếu

tố tâm lý này đã tồn tại trong tâm thức nhiều người Việt Nam từ lâu, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, muố n có con trai để nối dõi tông đường, tâm lý thích đông con hơn đông của, để có thêm lao động hay về già có nơi nương tựa [19] Tư tưởng trọng nam khinh nữ là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng tới mong muốn sinh con trai Nghiên cứu của Ph Kamala Devi năm 2013 tại vùng biên giới đông bắc Ấn Độ và nghiên cứu của Tongkholal Baite, L Tombi Singh (2013) cũng cho kết quả mong muốn sinh con trai là nguyên nhân dẫn đến việc sinh con thứ 3 tại nơi đ ây [42], [44] Nghiên cứu của Sharat Singh N (2011) cho rằng nguyên nhân dẫn đến sinh con thứ 3 là do mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng ở Ấn Độ [48]

Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, từ thành thị cho đến vùng nông thôn, miền núi thì lý do sinh thêm con vì muốn có con trai để nối dõi tông đường Tại Bắc Ninh 44% người chồng cho biết lý do sinh thêm con là vì muốn có con trai

để nối dõi tông đường Tại các tỉnh miền Trung tâm lý của những người có sinh con thứ 3 trở lên mong muố n nhất thiết phải có con trai cao nhất chiếm 89% tại huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị và tại Đông Hòa, Phú Yên là 54% Tại Thừa Thiên Huế tác giả Ngô Văn Vinh cũng cho thấy, 41,1% bà mẹ muốn có con trai nối dõi [17],[18],[22],[41]

c Tâm lý mong muốn có nhiều con, đủ trai đủ gái

Bên cạnh các quan niệm thích có con trai, thích có nhiều con vẫn tồn tại trong suy nghĩ của các cặp vợ chồng, có cả trai lẫn gái, chọn "năm đẹp" để sinh

Trang 20

thêm con, sinh con hợp tuổi cha mẹ… cũng làm tăng thêm việc sinh con thứ 3 trở lên [4],[43] Tại Hà Nội, có 5,9% số người vợ đưa ra lý do sinh con thứ 3 trở lên vì

đó là năm đẹp để sinh con [26]

d Điều kiện mức sống:

Điều kiện mức sống có ảnh hưởng lớn đến việc sinh con thứ 3 trở lên, nhiều gia đình có điều kiện nuôi con, kinh tế khá giả mặc dù đã có 2 con, đủ trai đủ gái nhưng vẫn mong muốn sinh nhiều con Theo Nguyễn Thị Hà, tại Bắc Giang, có 6,3% gia đình có điều kiện nuôi con nên đã đẻ thêm mặc dù đã có cả trai và gái[15] Tại Hà Nội, hầu hết các gia đình sinh con thứ 3 trở lên đều có kinh tế khá giả [33] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thu cho thấy, lý do chính của các gia đình sinh con thứ 3 trở lên trong nghiên cứu là do kinh tế khá giả (46,4% cặp vợ chồng lựa chọn) [28] Nghiên c ứu Ngô Văn Vinh tại huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế (2008) lại cho thấy tỷ lệ sinh con 3 trở lên giữa các nhóm đối tượng có kinh tế giàu chiếm 23,9% [41].Nghiên cứu của Vũ Ngọc Dũng (năm 2011), 92,48% ĐTNC có sinh con thứ 3 trở lên có thu nhập nghèo và trung bình [12] Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ 57,55% [22]

Như vậy, xu thế sinh con hiện nay xuất hiện ở hai nhóm, nhóm kinh tế không khá giả mong muốn sinh nhiều con với quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”, thì nhóm còn lại cho rằng mình có kinh tế, sinh nhiều con vẫn đảm bảo được chất lượng cuộc sống cho con Sự khác biệt quan niệm này tập trung ở nhóm gia đình khá giả ở vùng đồng bằng, thành thị và một nhóm gia đình khó khăn ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa

e Yếu tố nghề nghiệp

Sự phân bố tỷ lệ những người sinh con thứ 3 trở lêntheo nghề nghiệp có sự khác nhau tùy theo đặc điểm vùng miền [4] Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng có đến 63,3% nghề nghiệp làm ruộng, 20,8% là ngư nghiệp, 5,8% cán bộ công chức Kết quả của Nguyễn Ngọc Nha cho thấy có đến 57,55% ĐTNC sinh con thứ 3 trở lên là ngư nghiệp, 18,87% là nghề nông, 6,6% là cán bộ công nhân viên chức [22] Nghiên cứu của Lang Đình Bính có đến 99,5% ĐTNC là nghề nông [3]

Trang 21

Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những người chồ ng sinh con thứ 3 trở lênlà buôn bán (42,9%), 27,1% là CBCN, 10% thất nghiệp và 6% làm nông nghiệp

Tỷ lệ này ở người vợ 40% ở nhà làm nội trợ, 32,9% buôn bán, 17,1% là CBCN và 10% làm nông nghiệp Trong đó, có tổng số 34,3% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là CBCN; 18,6% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người

là Đảng viên [26]

f Yếu tố văn hóa vùng mi ền

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở các dân tộc cũng khác nhau rõ rệt Tỷ lệ sinh con thứ 3 cao tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, ở vùng núi và Tây Nguyên Nghiên cứu của Vũ Ngọc Dũng chỉ ra dân tộc Ba na có tỷ

lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất 49,5%, dân tộc Ê đê 43,44% và dân tộc Tày 38% [12]

Tuy vậy, trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc gia tăng dân số đang đặt

ra những khó khăn, thách thức trước mắt như: thiếu việc làm, thất nghiệp, học vấn của dân cư thấp, tật tăng, bất bình đẳng giới đang là những rào cản hạn chế nâng cao mức sống của người dân Do đó, chính sách c ủa Nhà nước cần có biện pháp hạn chế, giảm và ổn định mức sinh ở mức độ thấp nhằm nâng cao mức sống dân cư ở Việt Nam cần được quán triệt và xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội

g.Yếu tố tôn giáo tín ngưỡng

Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến mức sinh, mức

độ ảnh hưởng này rất khác nhau giữa các tín đồ tôn giáo và không tôn giáo Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên xuất phát từ chủ thuyết của các tôn giáo đối với sinh

đẻ, áp dụng các biện pháp tránh thai và nạo phá thai Ở Việt Nam, pháp luật tôn trọng và bảo đ ảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo c ủa công dân Tôn giáo là một đặc trưng của dân số [30], [45]

Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người Lương là 55,84%, người theo đạo Phật là 23,38% và người theo đạo Công giáo là 20,45% [18] Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người theo đạo Công giáo là 34,91%, những người không có đạo là 32,08% những

Trang 22

người theo đạo Phật và đạo Tin lành là 16,04% [22] Tuy nhiên theo nghiên cứu của Lang Đình Bính đã cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người có tôn giáo là 0,49%, tỷ lệ này ở đối tượng không tôn giáo là 99,51%, điều này có thể do ĐTNC tại đây có tôn giáo chiếm tỷ lệ rất nhỏ [3]

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người ra quyết định sinh con thứ 3 trở lên không phải chủ yếu là người chồ ng, bố mẹ chồng mà là người vợ [35]

1.2.2.2 Yếu tố cá nhân người chồng

Nghề nghiệp người chồng có tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên Nhiều nghiên cứu cho thấy, nhiều phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên có chồng là nghề nông chiếm 66,6% [18] Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những người chồng sinh con thứ 3 trở lên là buôn bán (42,9%) [26]

Bên cạnh đó là yếu tố trình độ học vấn của người chồ ng Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của nhóm đối tượng

có chồng học vấn dưới Trung học cơ sở là là 72,4% [16] Nguyễn Hải và Lê Cự Linh tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh kết quả tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở những người chồng có trình độ học ở bậc trung học phổ thông chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (60,7%) [17]

Một lý do cũng được quan tâm là người chồng là con trưởng, trưởng tộc hoặc con trai duy nhất trong gia đình hay dòng họ

1.2.2.3 Yếu tố gia đình

Tại Việt Nam, thường có quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Áo mặc không qua khỏi đ ầu”… thì ý kiến của người cha, người mẹ thường được quan trọng Những ý kiến này có khi là những vấn đề áp đặt trong một gia đình mà con cái phải làm theo Điều đó cho thấy các ý kiến mong muốn có thêm con cháu của người cha, người mẹ thường tác động lớn đến quyết định sinh con của con cái Bên cạnh đó, những người xung quanh như xóm giềng, bàn bè, đồng nghiệp khi thấy người ta có đủ trai đủ gái, những dèm pha… cũng ảnh hưởng đến việc sinh con thứ 3 trở lên

Nghiên cứu của Nguyễn Hải và Lê Cự Linh cho thấy, có trên 30% cặp vợ chồng sinh thêm con thứ 3 trở lên là vì áp lực gia đình và những người lớn xung quanh [17]

Trang 23

Tỷ lệ này tại Bắc Giang chỉ chiếm 1,8% [15] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thu 21,4% số cặp vợ chồng cho biết họ sinh con thứ 3 trở lên là vì áp lực phải có con trai từ gia đình và dòng tộc [28]

1.2.2.4 Các yếu tố dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình

Kết quả cuộc Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 1/4/2013 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 1/4/2013 đạt

mức 67%, tăng 0,4% so với kết quả điều tra 1/4/2012[34]

Hiểu biết các BPTTHĐ và nguồn cung cấp là nhân tố quan trọng giúp cho các cặp vợ chồng quyết định sử dụng BPTTHĐ hay không Thông tin về BPTTHĐ đang được phổ biến ở nước ta như đình sản, tiêm thuốc tránh thai, bao cao su, vòng tránh thai và hai biện pháp truyền thống là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo.Một thái độ đúng đối với các BPTTHĐ sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng biện pháp tranh thai thành công Thái độ thích hay không thích sử dụng BPTTHĐ hoặc chỉ quan tâm đến biện pháp tránh thai truyền thống Nếu việc sử dụng các biện pháp tránh thai thất bại cộng với không nạo phá thai dẫn đến việc sinh con ngoài ý muốn và có thể góp phần tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

Nghiên cứu của Ngô Văn Vinh (năm 2008) và Nguyễn Ngọc Nha (năm 2010) vẫn còn nhiều bà mẹ không hiểu biết và không sử dụng đúng cách biện pháp tránh thai dẫn đến vỡ kế hoạch là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên.Điều này cho thấy sự hạn chế của chất lượng cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ, phụ nữ chưa được tư vấn một cách đầy đủ khi sử dụng BPTTHĐ [41],[22] Mặt khác, ở những phụ nữ khi bị vỡ kế hoạch, do không nhận biết, hoặc có nhận biết nhưng ngại đến cơ sở dịch vụ hoặc do điều kiện khó khăn không đến được, họ thường để đẻ con, do vậy mặc dầu đã có đủ số con theo ý muốn nhưng họ vẫn đẻ con thứ ba trở lên Do đó, c ần đào tạo lại cho nhân viên y tế cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ về kiến thức, kỹ năng thực hành và tư vấn trước, trong, sau khi cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho khách hàng để tăng hiệu quả sử dụng của các BPTT

Năm 2011, Nguyễn Thế Hùng đã nghiên cứu thực trạng sinh con thứ 3 và các yếu tố liên quan của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Triệu Phong, Quảng Trị cho rằng các bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên có sự hiểu biết

Trang 24

về BP TTHĐ cao hơn số bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên Tỷ lệ những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên có thời gian sử dụng BPTTHĐ không liên tục cao hơn những bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên Tác giả cũng chỉ ra rằng sử dụng BPTTHĐ làm gi ảm nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên [18]

Bên cạnh đó những người phụ nữ có khả năng tiếp cận dịch vụ DS – KHHGĐ một cách dễ dàng thể hiện vai trò tự quyết định trong việc sinh con thứ 3 trở lên cao hơn so với những người vợ khó tiếp cận các dịch vụ này

Nhiều nghiên cứu đã cho r ằng mức hiểu biết biện pháp tránh thai của người phụ nữ càng thấp thì tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tuy nhiên những nghiên cứu này lại chưa đưa ra được chất lượng của dịch vụ cũng như thái độ của cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ảnh hương như thế nào đến tỷ lệ sinh con thứ 3 trở

lên[5], [1], [4],[47]

Tuy nhiên hiện nay việc cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ không phải là miễn phí vì vậy sẽ khó khăn trong việc sử dụng các BPTTHĐ nhất là những vùng kinh tế còn khó khăn, người dân nghèo không đủ tiền mua dịch vụ và thói quen của người sử dụng luôn được miễn phí hoàn toàn Bên cạnh đó các BPTTHĐ dành cho nam giới tỷ lệ sử dụng còn rất thấp [11] Hiện nay vẫn còn nhiều nam giới không muốn sử dụng các biện pháp tránh thai, không tạo điều kiện cho người vợ sử dụng các biện pháp tránh thai [50] Nhiều phụ nữ rơi vào tình trạng bị bạo lực gia đình, cưỡng bức… và hậu quả của những lần ép buộc tình dục đã làm tăng nguy cơ lây truyền các qua đường tình dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn, sẩy thai, đẻ non, thậm chí vô sinh

1.2.2.5 Yếu tố chính sách DS- KHHGĐ

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á triển khai chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình.Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Đồng thời ban hành Pháp lệnh dân số

2008 sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003.Quyết định số 2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020[2],[10], [29], [39],[40]

Trang 25

Nghiên cứu Nguyễn Hải (năm 2006) đã chỉ ra rằng có 14,7% người chồng và 19,9% người vợ sinh con thứ 3 trở lên là do chính phủ ban hành Pháp lệnh dân số

Có một số cặp vợ chồng hiểu sai hoặc cố tình không hiểu về Pháp lệnh dân số , những gia đình có vợ hoặc chồng có sinh con thứ 3 là đảng viên chiếm tỷ lệ cao [17],[26]

Theo thống kê của Tổ ng cục Dân số – Kế hoạch hoá gia đình đầu năm 2008, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại có

xu hướng xuất hiện ở đối tượng Đảng viên, công chức nhà nước, những gia đình khá giả [4]

Mặc dù chính sách DS-KHHGĐ hiện nay hướng đến mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con, nhưng người nông dân hiện nay lại quan niệm quy định đó chỉ áp dụng cho cán bộ, đảng viên còn người nông dân thì có quyền sinh con theo ý muốn Việc cấm thông báo giới tính khi sinh được ban hành một cách chặt chẽ, tuy nhiên tại các phòng khám, viện người ta vẫn dùng những thuật ngữ “giống bố” hay “tiểu ngồi”, “tiểu đứng” để mục đích thông báo giới tính [19]

Tỉnh Thừa Thiên Huế bàn hành quyết định số 28/QĐ-UBND ngày 30/5/2014 của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế Ban hành Quy định một số chính sách về Dân số

và kế hoạch hoá gia đình Quy định một số chính sách và biện pháp tổ chức thực hiện công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn tỉnh [38] Tuy nhiên theo quy định này những trường hợp sinh con thứ 3 sẽ giao cho cơ quan, đơn vị, làng, xã tự xây dựng quy ước, hương ước về hình thức xử lý Nên đã có nhiều cán bộ, đảng viên đã cố

tình vi phạm vì hình thức kỷ luật chỉ là không khen thưởng hoặc không đề bạt 1.3 Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại huyện Phong Điền và tỉnh Thừa Thiên Huế

1.3.1 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Huyện Phong Điền là c ửa ngõ phía Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Bắc của Huyện giáp với tỉnh Quảng Trị; phía Nam giáp với thị xã Hương Trà; phía Đông giáp biển đông và phía Tây giáp với huyện A Lưới Theo báo cáo năm 2014 của UBND huyện Phong Điền, rộng 953,751 km2, dân số 103.527 người [37], bao gồm 15 xã (3 xã miền núi Phong Sơn, Phong Xuân và Phong M ỹ) và 1 thị trấn Địa

Trang 26

hình huyện đa dạng có cả núi đồi, đồng bằng, ven biển và đầm phá Huyện Phong Điền nằm trên tuyến đường quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam chạy qua, huyện có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ anh ninh quốc phòng của nước ta [8]

Trong những năm qua về kinh tế, giáo dục và y tế của huyện Phong Điền có bước chuyển biến mạnh mẽ Kinh tế tăng trưởng hàng năm tăng lên, hệ thống y tế, giáo dục được nâng cao về chất lượng, cơ sở hạ tầng Đến nay trên toàn huyện đã có 100% xã có 1-2 bác sĩ, 100% xã có nữ hộ sinh, chuyên trách dân số kế hoạch hóa gia đình… [9],[23]

Hình 1.3: Bản đồ địa lý huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

1.3.2 Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế năm

2014

Tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 9 huyện/thị xã/thành phố (trong đó có 2 huyện miền núi là Nam Đông và A Lưới), theo báo cáo của Chi cục DS - KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014, dân số toàn tỉnh là 1.135.568 người Với sự nỗ lực của các ngành, các cấp đã góp phần giảm tỷ suất sinh thô giảm từ 15,62‰ năm 2010 xuống 15,46‰ năm 2014, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số từ 1,16% xuống còn 1,1%, tỷ

Trang 27

lệ cặp vợ chồng thực hiện kế hoạch hoá gia đình bằng BPTT hiện đại từ70% giảm xuống 69,5%, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm từ 18,1% năm 2010 xuống còn 17% năm 2011, 16,5% năm 2012, 16% vào năm 2013 và t ỷ lệ này năm 2014 là 15,4%[6]

Trong năm 2014, các hoạt động cung cấp dịch vụ KHHGĐ được tổ chức khá thường xuyên tại các cơ sở y tế, cơ bản đáp ứng được nhu cầu cho khách hàng Cùng với việc đáp ứng dịch vụ thường xuyên, chiến dịch truyền thông lồng ghép với dịch vụ chăm sóc SKSS/KHHGĐ đến vùng khó khăn, vùng đông dân có mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên cao được tổ chức nhiều đợt trong năm, vừa tuyên truyền vận động, tư vấn, vừa cung cấp dịch vụ KHHGĐ, làm mẹ an toàn, phòng chống viêm nhiễm đường sinh sản cho khách hàng có nhu cầu

Bảng1.2: Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ từ năm 2010 – 2014 tỉnh Thừa Thiên Huế

Nguồn: Báo cáo Chi cục DS-KHHGĐ tỉnh Thừa Thiên Huế [6]

Tuy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có giảm nhưng so với toàn quốc năm 2014 (14,2%) nhưng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại tỉnh Thừa Thiên Huế vẫn còn cao (15,4%), một số huyện sinh con thứ 3 cao như: thị xã Hương Trà 18,1%, huyện Phong Điền 18,1%, huyện Quảng Điền 17,9% Một số huyện có tỷ lệ sinh con thứ

3 thấp như: huyện A Lưới 10,5%, thành phố Huế 10,3% [6],[34]

Mức sinh và tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm, một số địa phương có xu hướng tăng và còn ở mức cao so với mặt bằng chung của tỉnh Tư tưởng muốn có

Trang 28

con trai vẫn còn nặng nề làm cho tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có nguy cơ tăng ở một

số địa phương

Năm 2014 là năm thứ tư thực hiện chiến lược dân số giai đoạn (2010-2020), mục tiêu là tiếp tục phấn đ ấu giảm sinh và giảm nhanh tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên trên địa bàn, triển khai thực hiện có hiệu quả các mô hình nâng cao chất lượng dân số; đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nhằm hạn chế tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

1.3.3 Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ của Huyện Phong Điền

Theo báo cáo tổng kết của Trung tâm DS- KHHGĐ huyện Phong Điền năm

2014, dân số trung bình: 92.476 người trong đó nữ 56.413, số phụ nữ 15 - 49 tuổi là 26.166 người, số phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng: là 14.017 người, tỷ suất sinh đạt 15,47‰, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại đạt 75,34%, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của Phong Điền là 18,1 % Tỷ lệ này cao hơn so với mặt bằng tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên của toàn tỉnh 15,4% [6],[36]

Tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại trong phụ nữ 15 - 49 có chồng:

- Thuốc uống tránh thai: 1.463 người (10,4%)

- Thuốc Tiêm tránh thai: 627 người (4,5%)

Tỷ lệ sinh con thứ 3 của huyện Phong Điền có giảm qua từng năm, nhưng so với các huyện trong tỉnh thì đang ở mức cao Một mặt do huyện Phong Điền là huyện vừa có miền núi, vùng đồng bằng và vùng ven biển nên việc thực hiện công tác DS-KHHGĐ vẫn còn gặp nhiều khó khăn Chính vì thế tỷ lệ sinh con thứ 3 ở các vùng này không đồng đều, tỷ lệ này cao ở những vùng núi, vùng ven biển và thấp ở những xã vùng đồng bằng

Trang 29

Bảng 3.1.3 Xu hướng biến động sinh con thứ 3 tại 3 xã miền núi của huyện Phong Điền [36]

Nguồn: Báo cáo Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Phong Điền

Trong năm 2014, công tác DS-KHHGĐ của huyện đã tập trung vào những chương trình hoạt động nhằm giảm thiểu tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, nâng cao tỷ lệ phụ nữ sử sụng BPTTHĐ, nâng cao chất lượng dân số, thực hiện mô hình “xã, phường, cụm dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên” Chương trình truyền thông, giáo dục, chuyển đổi hành vi đã triển khai 100 buổi truyền thông trực tiếp với cộng đồng, 244 lần truyền thông trên hệ thống phát thanh của huyện, xã Việc thực hiện tốt các đợt chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Trang 30

sinh sản kế hoạch hóa gia đình cho các vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng có mức sinh cao cũng như triển khai công tác thường xuyên đã mang lại kết quả về DS-KHHGĐ trên địa bàn toàn huyện [36]

Đánh giá giai đoạn 2010-2014, công tác DS-KHHGĐ ở huyện Phong Điền đã đạt những kết quả đáng khích lệ.Tỷ lệ cặp vợ chồng thực hiện kế hoạch hoá gia đình tăng Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như: tỷ suất sinh không giảm và có xu hướng tăng nhẹ năm 2010 là 13,56‰ lên 15,47 ‰ năm 2013 Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tăng năm 2011 và giảm chậm từ năm 2012 (20,48%) đến năm 2014 (18,10%) Nhìn chung tình hình sinh con thứ 3 của các xã thuộc huyện Phong Điền

có sự biến động phức tạp, một số xã tỷ lệ này giảm nhanh qua các năm như xã Phong An, Phong Thu, Phong Hòa, Phong Hải Một số xã lại tăng đột biến trong năm 2014 như Điền Hương, Điền Môn, Phong Chương Riêng đối với 3 xã miền núi Phong Sơn, Phong Xuân và Phong Mỹ có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên vẫn cao qua hàng năm Điều này cho thấy cần thiết phải có chiến lược để giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 tại những xã miền núi này[36]

1.3.4 Tình hình thực hiện công tác DS-KHHGĐ của 3 xã miền núi huyện Phong Điền

Phong Sơn, Phong Xuân và Phong Mỹ là ba xã miền núi huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế Tại đây có nhiều dân tộc anh em sinh sống như dân tộc Vân Kiều và Pa Hy Trình độ dân trí thấp, tín ngưỡng của người dân chủ yếu theo đạo Phật, Thiên Chúa giáo và đạo thờ ông bà tổ tiên Nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng

và nương rẩy Năm 2014 dân số của 3 xã có 23.331 người, số phụ nữ từ 15 -49 là 6.014 số phụ nữ từ 15 -49 có chồng là 3.117 người, tỷ suất sinh đạt 14,1‰, tỷ suất

tử 4,6‰ [36]

Từ năm 2010 đến năm 2014 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của 3 xã miền núi của huyện vẫn rất cao so với các xã trong huyện Năm 2014, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của xã Phong Sơn là 23,36%, xã Phong Xuân 24,14% và xã Phong Mỹ 24,67%,

tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên toàn huyện là 18,1% và của tỉnh Thừa Thiên Huế chỉ 15,4% Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi có chồng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại còn tác dụng của xã Phong Sơn là 61,1%, xã Phong Xuân 67,3% và xã Phong Mỹ

Trang 31

66,8%, tỷ lệ này cũng thấp hơn toàn huyện 67,5% Tình hình thực hiện các BPTTTĐ của xã Phong Xuân trong năm 2014 đạt kế hoạch đề ra, nhưng đối với xã Phong Mỹ đạt 99,4% kế hoạch và xã Phong Sơn chỉ đạt 79,2% kế hoạch đề ra [36]

Nguyên nhân tỷ lệ sinh con thứ 3 còn cao so với toàn tỉnh vì Phong Điền là huyện có địa hình phức tạp, vùng núi, vùng đồng bằng, vùng bãi ngang ven biển nên công tác DS-KHGĐ còn gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, tại huyện Phong Điền người dân theo nhiều tín ngưỡng khác nhau như: đạo Thiên Chúa giáo, đạo Tin Lành, Phật giáo…việc vận động chị em phụ nữ có đạo sử dụng các biện pháp tranh thai vô cùng khó khăn Mặc dù có một số xã trong huyện tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có giảm (đ ặc biệt là những xã vùng đồng bằng), nhưng các xã ở vùng núi của huyện trong 5 năm qua vẫn không giảm và có xu hướng tăng trở lại

Từ thực trạng trên việc giảm tỷ lệ sinh con trên địa bàn ba xã đang là vấn đề cấp bách mà ngành Dân số từ tỉnh đến huyện xã cần phải có biện pháp khắc phục

trong thời gian đến

1.3.5 Khung lý thuyết các yếu tố liên quan đến việc sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền, năm 2015

Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào phân tích Tổng quan tài liệu và khung lý thuyết về những yếu tố dẫn đến việc sinh con thứ 3 trở lên của một số nghiên cứu để xây dựng phù hợp [26],[35]

Trang 32

- Sở thích con trai/con gái

- Thích có nhiều con

- Thích có trai có gái

- Gia đình có nhiều thế hệ cùng chung sống

- Kinh tế

- Yếu tố cá nhân người chồng:

Yếu tố môi trường

xã hội

- Kinh tế

- Các chính sách về DSKHHGĐ

- Các dịch vụ về KHHGĐ

Trang 33

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015

- Địa điểm: 3 xã miền núi huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, là 3 xã có

tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao trong những năm qua

2.3 Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1.Cỡ mẫu

Chọn mẫu toàn bộ 70 bà mẹ có sinh con thứ 3 trở lên trong năm 2014 tại địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn toàn bộ 70 bà mẹ có sinh con thứ

ba trở lên thuộc diện đối tượng nghiên cứu tại 3 xã Phong Sơn, Phong Xuân, Phong

Mỹ thuộc huyện Phong Điền Và 140 bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên, tuy nhiên khi phân tích học viên chỉ phân tích 105 bà mẹ có 2 con và mong muốn chỉ sinh 1-2

con đang sống tại 3 xã miề n núi huyện Phong Điền Như vậy cỡ mẫu là 175 bà mẹ

2.4.2 Phương pháp chon mẫu

a Tiêu chí chọn mẫu

Chọn mẫu có chủ đích, chọn mẫu toàn bộ, có 70 bà mẹ có sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã miền núi huyện Phong Điền có trong danh sách sinh con thứ 3 trở lên của Trung tâm DS-KHHGĐ huyện Phong Điền năm 2014 Cụ thể xã Phong Sơn có

30 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên, xã Phong Xuân có 21 trường hợp sinh con thứ

3 trở lên và xã P hong Mỹ có 19 trường hợp sinh con thứ 3 trở lên Và những bà me ̣

có 2 con và k hông có ý đi ̣nh /không mong muốn sinh con thứ 3 trở lên, cùng sống tại thôn, bản của 3 xã miền núi

Trang 34

Đối tượng có khả năng trả lời phỏng vấn

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

b Tiêu chí loại trừ:

Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

Đối tượng sinh con thứ 3 là một trong 07 trường hợp được sinh con thứ 3 (theo quyết định số 18/2011/NĐ-CP về sửa đổi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 20/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh Dân số) là:

+ Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu cả hai hoặc một trong hai người thuộc dân tộc có số dân dưới 10.000 người hoặc thuộc dân tộc có nguy cơ suy giảm số dân (tỷ lệ sinh nhỏ hơn ho ặc bằng tỷ lệ chết) theo công bố chính thức của Bộ Kế hoạch và Đầu tư

+ Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh ba con trở lên

+ Cặp vợ chồng đã có một con đẻ, sinh lần thứ hai mà sinh hai con trở lên + Cặp vợ chồng sinh lần thứ ba trở lên, nếu tại thời điểm sinh chỉ có một con

đẻ còn sống, kể cả con đẻ đã cho làm con nuôi

+ Cặp vợ chồng sinh con thứ ba, nếu đã có hai con đẻ nhưng một hoặc cả hai con bị dị tật ho ặc mắc hiểm nghèo không mang tính di truyền, đã được Hội đồng Giám định y khoa cấp tỉnh hoặc cấp Trung ương xác nhận

+ Cặp vợ chồng đã có con riêng (con đẻ):

* Sinh một con hoặc hai con, nếu một trong hai người đã có con riêng (con đẻ);

* Sinh một con ho ặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh, nếu cả hai người đã có con riêng (con đẻ) Quy định này không áp dụng cho trường hợp hai người đã từng có hai con chung trở lên và các con hiện đang còn sống.”

+ Phụ nữ chưa kết hôn sinh một hoặc hai con trở lên trong cùng một lần sinh

- Nhóm không sinh con thứ 3 trở lên: các cặp vợ chồ ng đang mang thai là con thứ 3 và có quyết định sinh con thứ 3

Đối tượng thuộc diện loại trừ này không chọn trong nhóm chứng và nhóm

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

Trang 35

Lập danh sách những bà mẹ có sinh con thứ 3 trở lên và nhóm bà mẹ chỉ sinh

2 con trong năm 2014, chọn theo tiêu chí chọn mẫu

Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ công cụ soạn sẵn (xem phụ lục 1 trang 75 )

Người thu thập: bản thân học viên là người trực tiếp thu thập số liệu.Học viên tiến hành phỏng vấn thử bộ câu hỏi nếu có thiếu sót sẽ được bổ sung và chỉnh sửa kịp thời

2.6 Biến số nghiên cứu

biến

Phương pháp thu thập

A Thông tin chung

phỏng vấn tính theo năm dương lịch vào thời điểm nghiên cứu

Biến liên tục

Phỏng vấn

2 Trình độ học vấn Trình độ học vấn cao nhất của

đối tượng phỏng vấn

Biến thứ bậc

Phỏng vấn

3 Đảng viên Đối tượng hoặc chồng là

Đảng viên hay không trước thời điểm sinh con thứ 3

Biến nhị phân

Phỏng vấn

4 Nghề nghiệp Công việc mang lại thu nhập

chính cho đối tượng phỏng vấn thời điểm trước khi sinh con thứ 3

Biến định danh

Phỏng vấn

5 Dân tộc Dân tộc của đối tượng phỏng

vấn

Biến định danh

Phỏng vấn

Trang 36

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

6 Tôn giáo Tôn giáo mà đối tượng theo Biến định

Biến thứ bậc

Phỏng vấn

8 Thu nhập bình

quân theo đầu

người trong gia

đình

Số tiền trung bình một người trong gia đình kiếm được trong 1 tháng

Biến liên tục

Phỏng vấn

9 Số con Là số con hiện có tại thời

điểm phỏng vấn

Biến liên tục

Phỏng vấn

10 Giới tính các con Giới tính c ủa từng con (trai

hay gái) của đối tượng

Biến nhị phân

Phỏng vấn

11 Tình trạng sức

khỏe các con

Tình trạng sức khỏe các con của đối tượng phỏng vấn

Biến thứ bậc

Biến thứ bậc

Phỏng vấn

C Quá trình ra quyết định sinh con thứ 3 trở lên

Trang 37

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

14 Lý do sinh con thứ

3 trở lên

Những lý do khiến đối tượng sinh con thứ 3 trở lên

Biến định tính

Biến định danh

Biến định danh

Phỏng vấn

18 Nguồn phổ biến

thông tin về PLDS

Là những Cán bộ/đoàn thể phổ biến cho người dân những thông tin liên quan đến PLDS

Biến định danh

Phỏng vấn

E Các yếu tố liên quan tới việc sinh con thứ 3 trở lên

D.1 Các yếu tố cá nhân

Trang 38

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

19 Độ tuổi kết hôn Tuổi dương lịch của đối tượng

tại thời điểm kết hôn

Biến định lượng

Phỏng vấn

20 Tình trạng sức

khỏe

Tình trạng sức khỏe trước khi sinh con thứ 3

Biến nhị phân

Biến thứ bậc

Phỏng vấn

23 Sở thích sinh con

trai, con gái

Thái độ, nhận định của đối tượng về mong muốn giới tính thai nhi

Biến định danh

Phỏng vấn

24 Số con mong muốn Số con đối tượng nghiên cứu

mong muốn sinh

Biến định danh

sử dụng các BPTTHĐ

Biến phân loại

Biến định danh

Phỏng vấn

Trang 39

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

28 Biện pháp tránh

thaithất bại

BPTTHĐ áp dụng bị thất bại trước thời điểm sinh con thứ 3 trở lên

Biến định danh

Biến nhị phân

Biến nhị phân

Biến nhị phân

Biến định danh

Phỏng vấn

34 Trình độ của chồng Trình độ cao nhất của người

chồng

Biến thứ bậc

Phỏng vấn

Trang 40

TT Biến số Định nghĩa biến Phân loại

biến

Phương pháp thu thập

Biến nhị phân

Biến rời rạc

Biến định danh

Biến định danh

Biến nhị phân

Phỏng vấn

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

 Kiểm tra lại thông tin ở các phiếu, xử lý các phiếu ghi sai thông tin

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w