Vì vậy nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng là một nhu cầu thực tế để có
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi 4
1.1.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi 5
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng ở trẻ 6
1.1.5 Hậu quả của suy dinh dưỡng 10
1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em 12
1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới 12
1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam 13
1.3 Một số nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi 15
1.4 Thông tin địa bàn nghiên cứu 20
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 23
2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu: 24
2.5 Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu 25
2.6 Các biến số,thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 27
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 29
2.8 Đạo đức nghiên cứu 29
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 30
Trang 4Chương 3 KẾT QUẢ 31
3.1 Mô tả đặc điểm chung của trẻ, đặc điểm chung của mẹ, hộ gia đình 31
3.2 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 33
3.3 Thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 36
3.4 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017 42
Chương 4 BÀN LUẬN 52
4.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi 52
4.2 Thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ 56
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi 60
KẾT LUẬN 67
KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 75
Phụ lục 1: Phiếu cân đo nhân trắc dành cho trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi 75
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn bà mẹ có con từ 6 đến 24 tháng tuổi 76
Phụ lục 3: Bảng biến số nghiên cứu 85
Phụ lục 4: Một số tiêu chí đánh giá thực hành của bà mẹ 89
Phụ lục 5: Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng 91
Phụ lục 6: Phiếu phỏng vấn sâu lãnh đạo địa phương 93
Phụ lục 7: Phiếu phỏng vấn sâu hội phụ nữ 95
Phụ lục 8: Phiếu hướng dẫn thảo luận nhóm 97
Phụ lục 9: Phiếu giới thiệu và đồng ý tham gia nghiên cứu 99
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Đánh giá TTDD cá nhân của trẻ dưới năm tuổi 5
Bảng 1.2 Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi 6
Bảng 1.3 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các vùng ở Việt Nam năm 2015 14
Bảng 3.1 Bảng thông tin chung của trẻ trong nhóm nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Thông tin chung về các bà mẹ có con từ 6 đến 24 tháng tuổi 32
Bảng 3.3 Cân nặng trung bình, chiều cao trung bình theo nhóm tuổi của trẻ 33
Bảng 3.4 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo nhóm tuổi 34
Bảng 3.5 Thông tin về thực hành chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai theo dân tộc 36
Bảng 3.6 Thông tin về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ theo dân tộc 38
Bảng 3.7 Thông tin về thực hành ăn bổ sung theo dân tộc 39
Bảng 3.8 Thông tin về thực hành chăm sóc trẻ bệnh theo dân tộc 40
Bảng 3.9 Thông tin về thực hành vệ sinh của mẹ và trẻ theo dân tộc 41
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa TTDD và thứ tự con của trẻ 42
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa TTDD và cân nặng sơ sinh của trẻ 42
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa TTDD với tình trạng bệnh tật 43
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa TTDD với dân tộc của mẹ 44
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa TTDD với nghề nghiệp của mẹ 44
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa TTDD với trình độ học vấn của mẹ 45
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành NCBSM 45
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa TTDD với ABS 46
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành chăm sóc khi trẻ bị bệnh 46
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa TTDD với thực hành rửa tay của bà mẹ và trẻ 47
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa TTDD với số con trong gia đình 48
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa TTDD với nguồn nước ăn uống 48
Bảng 3.22 Mối liên quan giữa TTDD với hố xí hợp vệ sinh 49
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa TTDD với kinh tế gia đình 49
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa TTDD với TCMR 50
Bảng 3.25 Mối liên quan giữa TTDD với thông tin hướng dẫn bà mẹ cách nuôi con 50
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ SDD theo tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc năm 2014 14
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ em theo nhóm tuổi năm 2009-2010 15
Biểu đồ 3.1 TTDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi 33
Biểu đồ 3.2 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo mức độ 34
Biểu đồ 3.3 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo giới tính 35
Biểu đồ 3.4 Tình trạng SDD của trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi theo dân tộc 36
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
TTDD trẻ dưới năm tuổi tại Việt Nam những năm qua có nhiều cải thiện Tuy nhiên, theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ SDD ở trẻ vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ SDD trẻ em vẫn cao Tuân Tức là một
xã nghèo còn gặp nhiều khó khăn, người dân tộc thiểu số chiếm đa số, nhận thức người dân còn hạn chế Vì vậy nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng là một nhu cầu thực tế để có những đề xuất phù hợp nhằm góp phần
giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng tại địa phương Mục tiêu: Đánh giá TTDD trẻ 6-24 tháng
tuổi, từ đó mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ và xác định một
số yếu tố liên quan đến TTDD của trẻ 6-24 tháng tuổi Phương pháp: Nghiên cứu
cắt ngang mô tả được tiến hành bằng cân đo đánh giá TTDD 243 trẻ 6-24 tháng
tuổi, kết hợp phỏng vấn bà mẹ theo bộ câu hỏi có cấu trúc Kết quả: nghiên cứu cho
thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt là 13,2%, 27,2%, 7,4% Đa
số trẻ SDD chủ yếu là mức độ vừa, tỷ lệ SDD thể thấp còi ở trẻ người dân tộc Khmer (32%) cao hơn trẻ dân tộc Kinh (13,6%) với p < 0,05 Thực hành của mẹ khi mang thai khá tốt: 84,7% bà mẹ khám thai đúng và đủ, tỷ lệ bà mẹ uống viên sắt khi mang thai cũng ở mức cao 88,1%, tuy nhiên còn điểm hạn chế khi chỉ có 18,5% bà
mẹ ăn uống nhiều hơn và 48,6% bà mẹ được làm việc nhẹ nhàng Thực hành NCBSM chưa tốt: vẫn còn nhiều bà mẹ còn vắt bỏ sữa non 38,7% , trẻ được bú trong 1 giờ đầu chiếm 55,1%, trong khi trẻ được BMHT trong 6 tháng đầu chỉ có 32,5%, tỷ lệ bà mẹ cai sớm cho trẻ còn cao 69,6% Thực hành cho ABS chưa tốt: chỉ có 30,9% các bà mẹ cho con ăn bổ sung đúng thời gian và 34,6% bà mẹ cho trẻ
ăn đủ 4 nhóm thức ăn Thực hành chăm sóc của mẹ khi trẻ bị bệnh còn nhiều bất cập tỷ lệ bà mẹ cho trẻ ăn không đúng cách khi tiêu chảy còn cao 61,3%, chỉ có 62,6% trẻ được uống oresol khi trẻ bị tiêu chảy Thực hành chăm sóc vệ sinh chưa tốt : chỉ có 65,4% việc thực hành vệ sinh tay của bà mẹ và của trẻ đạt Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với SDD thể nhẹ cân gồm: CNSS thấp, trẻ thường xuyên bị bệnh, mẹ làm nghề nông, mẹ có trình độ học vấn ≤ THCS, gia đình ≥2 con, NCBSM, ABS, gia đình nghèo Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với SDD thể thấp còi gồm: CNSS thấp, mẹ làm nghề nông, mẹ người dân tộc Khmer, thực hành NCBSM, vệ sinh cá nhân Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với
Trang 9SDD thể gầy còm gồm: trẻ thường xuyên bị bệnh, gia đình ≥2 con, thực hành NCBSM, chăm sóc khi trẻ bị bệnh, mẹ không được hướng dẫn nuôi con
Từ kết quả trên cho thấy cần tăng cường công tác truyền thông, tư vấn thích hợp cho từng nhóm đối tượng, đặc biệt là những hộ nghèo, các bà mẹ có trình độ văn hóa thấp, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc để cải thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ nhằm làm giảm tỷ lệ SDD trong cộng đồng
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) là tình trạng cơ thể thiếu protein-năng lượng và các
vi chất dinh dưỡng (VCDD) SDD protein-năng lượng là vấn đề hay gặp ở trẻ dưới
5 tuổi do thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết phối hợp với điều kiện vệ sinh nghèo nàn, do trẻ bị mắc các bệnh nhiễm trùng nhiều lần và thiếu sự chăm sóc cần thiết SDD để lại hậu quả lâu dài, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ, dễ mắc các bệnh mãn tính khi trưởng thành và ảnh hưởng đến thế hệ kế tiếp [38]
SDD trẻ em mang tính cộng đồng ở nhiều nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Phân bố SDD trẻ em khác biệt rõ rệt giữa các châu lục, các vùng miền trên thế giới Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới, SDD trẻ em dưới 5 tuổi tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi Các vùng Nam Trung Á, Đông Nam Á, Đông Phi, Tây Phi
và Trung Phi có trẻ em SDD luôn cao, nhất là Ấn Độ, Bangladesk, Đông Timor, Lào, Niger, Somalia, Burkina [63]
Ở Việt Nam, theo công bố của Viện Dinh dưỡng, năm 2015 tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn quốc thể nhẹ cân là 14,1%; thể thấp còi là 24,6% và thể gầy còm là 6,4% [43] Theo xếp loại của WHO, tỷ lệ SDD ở cả 3 thể của Việt Nam đều
ở mức trung bình Tuy vậy, qua khảo sát thực tế đã cho thấy, công tác phòng chống SDD mới chỉ thực hiện tốt ở khu vực thành thị, còn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỷ lệ SDD trẻ em vẫn cao trong đó trẻ em dân tộc ít người chịu nhiều thiệt thòi trong chăm sóc dinh dưỡng cũng như chăm sóc sức khỏe và khả năng tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Báo cáo năm 2014 của viện dinh dưỡng tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (16,1%) cao hơn vùng thành thị (10,1%) và vùng dân tộc ít người (21,9%) cao hơn so với dân tộc kinh (9,7%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (26,8%) cao hơn vùng thành thị (18,1%) và vùng dân tộc ít người (32,1%) cao hơn so với dân tộc kinh (16,2%) [42]
Tuân Tức là một xã nghèo thuộc vùng nông thôn của huyện Thạnh Trị tỉnh Sóc Trăng, trong đó người dân tộc Khmer chiếm đa số, do đó nhận thức còn chưa cao, trình độ dân trí còn hạn chế Bên cạnh đó người dân tộc Khmer vẫn còn những
Trang 11tập quán mang tính gia đình, địa phương như cho trẻ ăn bổ sung sớm để trẻ cứng cáp hơn, không cho trẻ ăn thêm dầu mỡ sợ trẻ bị tiêu chảy … nên công tác chăm sóc cho phụ nữ và trẻ em còn gặp khó khăn Thêm vào đó, trẻ em giai đoạn từ 6 đến
24 tháng tuổi là giai đoạn quan trọng vì đây là thời kỳ có nhu cầu dinh dưỡng cao, trong khi sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của trẻ, đây cũng là thời kỳ
là giai đoạn trẻ học ăn từ thức ăn bên ngoài Thời kỳ này, trẻ rất dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn: tiêu chảy, viêm tai, nhiễm trùng đường hô hấp, cộng với sự suy giảm sức đề kháng do “khoảng trống miễn dịch” gây ra, khiến cho trẻ ít có khả năng chống đỡ các căn bệnh nhiễm trùng, nguy cơ trẻ bị SDD cũng tăng theo Đồng thời tại địa phương vẫn chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về vấn đề chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ cũng như góp phần giảm tỷ lệ SDD của xã theo Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến 2030 [4] Từ những vấn đề trên, tôi quyết định lựa chọn vấn đề sức khỏe ưu tiên cần nghiên cứu là:
“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017”
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
2 Mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ 6-24 tháng tuổi của bà mẹ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng trẻ em
1.1.1 Một số khái niệm
- Dinh dưỡng là tình trạng cơ thể được cung cấp đầy đủ, cân đối với các
thành phần các chất dinh dưỡng, đảm bảo sự phát triển toàn vẹn, tăng trưởng của cơ thể để đảm bảo chức năng sinh lý và tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội [22],[23]
- Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm về chức phận,
cấu trúc và hóa sinh, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [22],[37] TTDD là kết quả tác động của một hay nhiều yếu tố như tình trạng an ninh thực phẩm hộ gia đình, thu nhập, điều kiện vệ sinh môi trường, công tác chăm sóc sức khỏe trẻ em, gánh nặng công việc lao động của bà mẹ TTDD của trẻ em
từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn cộng đồng [22],[37]
- SDD là tình trạng cơ thể thiếu protein, năng lượng và các VCDD Bệnh hay
gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi, biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau nhưng ít nhiều ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất tinh thần và vận động của trẻ [38] Thời gian trong bụng mẹ và 2 năm đầu đời sau khi sinh là thời gian quan trọng quyết định mọi tiềm lực về sức khỏe, tư duy, sự phát triển não bộ của trẻ Phần lớn các trường hợp SDD xảy ra trước khi trẻ được 2 tuổi Hai năm đầu sau sinh là giai đoạn cơ thể phát triển nhanh nhất, đồng thời cũng là giai đoạn có nguy cơ SDD cao nhất [21]
1.1.2 Cách đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi
Có nhiều chỉ số nhân trắc để đánh giá tình trạng SDDTE như chiều cao, cân nặng, chu vi cánh tay, nếp gấp cơ tam đầu và nhị đầu, vòng đầu Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là các chỉ số chiều cao và cân nặng của trẻ Theo đó, tình trạng SDDTE được đánh giá chủ yếu dựa vào ba chỉ tiêu: cân nặng theo tuổi (CN/T), chiều cao theo tuổi (CC/T) và cân nặng theo chiều cao (CN/CC) so với đơn vị độ lệch chuẩn (Z-score) theo chuẩn tăng trưởng của WHO 2006 [36] Tại Việt Nam, Viện Dinh Dưỡng sử dụng quần thể chuẩn này từ năm 2006
Trang 14Zscore được tính bằng công thức:
1.1.3 Phân loại tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới năm tuổi
Dựa vào ba chỉ tiêu trên ta đánh giá TTDD cá nhân và quần thể
- Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cá nhân
CN/T: Đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Cân nặng của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, WHO lấy điểm ngưỡng là dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) được coi là SDD thể thiếu cân Phân loại TTDD bằng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi có nhược điểm là không phân biệt được SDD mới xảy ra hay kéo dài đã lâu [38]
CC/T: Chiều cao của trẻ được so sánh với cân nặng của trẻ cùng tuổi, cùng giới của quần thể chuẩn, chỉ tiêu chiều cao theo tuổi dưới (-2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài trong quá khứ làm đứa trẻ bị SDD thể thấp còi [38]
CN/CC: Cân nặng theo chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới (-2SD) theo quần thể chuẩn của WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân trở nên SDD thể gầy còm Khi cả hai chỉ tiêu CC/T và CN/CC đều thấp hơn ngưỡng đề nghị thì trẻ bị SDD thể phối hợp (mãn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa còi cọc [38]
Bảng 1.1 Đánh giá TTDD cá nhân của trẻ dưới năm tuổi
Chỉ số Z-score Cân nặng/tuổi Chiều cao/ tuổi Cân nặng/
chiều cao
<-3 SD Trẻ SDD thể nhẹ
cân, mức độ nặng
Trẻ SDD thể thấp còi, mức độ nặng
Trẻ SDD thể gầy còm, mức độ nặng
<-2 SD Trẻ SDD thể nhẹ
cân, mức độ vừa
Trẻ SDD thể thấp còi, mức độ vừa
Trẻ SDD thể gầy còm, mức độ vừa -2SD≤ Z-score ≤2SD Trẻ bình thường Trẻ bình thường Trẻ bình thường
Trang 15- Mức phân loại nhận định ý nghĩa sức khỏe cộng đồng
Bảng 1.2 Mức phân loại SDD trên quần thể trẻ dưới năm tuổi
Tiêu chí Mức độ SDD của cộng đồng theo tỷ lệ phần trăm (%)
1.1.4 Các yếu tố nguy cơ gây suy dinh dưỡng ở trẻ
1.1.4.1 Cân nặng sơ sinh thấp
Trong các nguyên nhân gây SDD ở trẻ em, chúng ta không thể không nói đến SDD bào thai (CNSS dưới 2500gr) Điều này đã được nêu lên trong nghiên cứu của
1 số tác giả nước ngoài như: R.O Sarni trên 907 trẻ dưới 5 tuổi tại Brazil [47], K.B Silveira và cộng sự trên 2075 trẻ từ 4 tháng đến 6 tuổi [59] Theo nghiên cứu Lương Tuấn Dũng 2012 những trẻ đẻ ra có cân nặng dưới 2500g có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân
và thấp còi gấp 3,34 lần và 2,3 lần [10]
Tỷ lệ trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ tử vong cao hơn những trẻ có cân nặng bình thường không những trong giai đoạn sơ sinh mà trong cả những giai đoạn về sau Trẻ sơ sinh nhẹ cân có nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp cao gấp 3-4 lần so với những trẻ bình thường Ngoài ra những trẻ này còn dễ bị SDD còi cọc Đã có những nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa trẻ sơ sinh nhẹ cân
và các bệnh tim mạch, bệnh tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường…khi chúng trưởng thành
1.1.4.2 Bệnh nhiễm trùng
Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh Bệnh nhiễm trùng dẫn tới SDD, SDD dẫn tới bệnh nhiễm trùng và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009 cho thấy trẻ có TC và NKHHC nguy cơ SDD tăng gấp 4,3 và 2,1 lần so với nhóm không TC và NKHHC [31] Một nghiên cứu của các nhà khoa học Brazil trên 119 trẻ trong 10 năm cho thấy: Trong 2 năm
Trang 16đầu đời nếu trẻ bị 7 đợt tiêu chảy thì lúc lên 7 tuổi trẻ sẽ thấp hơn 3,6cm so với bạn cùng tuổi, cùng giới tính không nhiễm bệnh [3] Vì vậy, cách chăm sóc cho trẻ khi
bị tiêu chảy và chú ý rửa tay bằng xà phòng cho cả mẹ và trẻ để hạn chế trẻ bị nhiễm khuẩn
Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến TTDD của đứa trẻ Nhiễm trùng dẫn đến tổn thương đường tiêu hóa do đó làm giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất, làm cho kháng nguyên và các vi khuẩn đi qua nhiều hơn Nhiễm trùng làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, trẻ ăn kém hơn do giảm ngon miệng Những đứa trẻ có HIV thường bị tiêu chảy, và kéo theo đó là SDD Nhiễm khuẩn dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hóa, và ngược lại SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm Do đó tỷ lệ SDD có dao động theo mùa và thường cao trong những mùa có các bệnh nhiễm khuẩn lưu hành ở mức cao (tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp, sốt rét) [37]
1.1.4.3 Yếu tố dinh dưỡng
- Dinh dưỡng bà mẹ khi có thai
Trước khi có thai, dinh dưỡng và thói quen dinh dưỡng tốt sẽ cung cấp đầy
đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho thời kì có thai, cho sự phát triển và lớn lên của thai nhi Nhiều nghiên cứu thấy các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp trước tiên là TTDD kém của người mẹ trước khi có thai và chế độ không cân đối, không đủ năng lượng khi có thai hoặc thiếu các vi chất và chất khoáng cần thiết như sắt, canxi… Những bà mẹ trong khi có thai lao động nặng nhọc, không được nghỉ ngơi đầy đủ cũng là những yếu tố ảnh hưởng tới CNSS Yếu tố bệnh tật của người mẹ và yếu tố đẻ thiếu tháng cũng làm tăng tỷ lệ trẻ sơ sinh cân nặng thấp [35]
Để đảm bảo nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng, trong thời gian có thai bà mẹ phải ăn uống nhiều hơn bình thường cả về số lượng và chất lượng bữa
ăn Các bà mẹ cần ăn phối hợp nhiều loại thực phẩm v́ mỗi loại thực phẩm có vai trò quan trọng khác nhau, tốt nhất là kết hợp được các nhóm thực phẩm từ 4 nguồn thức ăn: chất bột đường, chất đạm, chất béo, vitamin, khoáng chất và chất xơ Bà
Trang 17mẹ không ăn nhiều gia vị (ớt, hạt tiêu) và những chất kích thích (cà phê, rượu, nước chè đặc…) [45]
- Nuôi con bằng sữa mẹ
Sữa mẹ không chỉ là nguồn thức ăn có giá trị dinh dưỡng tốt nhất giúp cho sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ mà con cung cấp 1 lượng lớn các kháng thể giúp trẻ chống đỡ bệnh tật trong những năm đầu cuộc đời đặc biệt là trong 6 tháng đầu Chính vì thế cần thiết phải cho trẻ bú sữa mẹ càng sớm càng tốt ngay sau đẻ, không vắt bỏ sữa đầu, bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu ngay cả khi trẻ bị bệnh và cho trẻ bú mẹ kéo dài từ 18 đến 24 tháng và có thể lâu hơn [35]
- Ăn bổ sung
Từ 6 tháng tuổi, trẻ phát triển nhanh, nhu cầu của trẻ nhiều hơn nên sữa mẹ không thể đáp ứng được đầy đủ do đó cần phải cho trẻ ăn bổ sung Với từng lứa tuổi trẻ cần được cung cấp số bữa ăn, số lượng và thành phần khác nhau Ăn bổ sung sớm hay muộn, thức ăn không đạt yêu cầu về cả số lượng và chất lượng đều dẫn đến tình trạng SDD của trẻ [35] Lê Phán nghiên cứu thấy có đến 68,8% trẻ ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi bị SDD và 59,8% trẻ SDD do ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm hàng ngày [30]
1.1.4.4 Kiến thức thực hành chăm sóc trẻ của người mẹ và các thành viên trong gia đình
Trẻ dưới 2 tuổi là thời kỳ phát triển đặc biệt của trẻ với các nhu cầu dinh dưỡng và đặc điểm cơ thể khác hẳn trẻ lớn Đây là lứa tuổi phát triển rất nhanh đồng thời TTDD của trẻ phụ thuộc rất lớn vào sự nuôi dưỡng và quá trình chăm sóc trẻ
Chế độ ăn của trẻ hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của mẹ và những thành viên chăm sóc trẻ trong gia đình Chính vì vậy kiến thức, thực hành dinh dưỡng của người mẹ và các thành viên trong gia đình có vai trò rất quan trọng đối với TTDD của trẻ
Cùng với việc cung cấp chất dinh dưỡng qua chế độ ăn hợp lý, cách chăm sóc có một vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển thể chất, tinh thần
Trang 18của trẻ nhất là những năm đầu tiên Đối với trẻ em, nội dung của việc chăm sóc bao gồm 4 lĩnh vực đặc biệt quan trọng :
- Chăm sóc về ăn uống
Do sự bất cập trong chăm sóc bà mẹ, trẻ em, kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu
tố chăm sóc của gia đình, các vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo, mất vệ sinh Các quan niệm sai lầm của người mẹ hoặc gia đình trong vấn đề chăm sóc thai sản, nuôi con bằng sữa mẹ và thức ăn bổ sung là những nguyên nhân quan trọng, trực tiếp làm cho bé dễ bị SDD [17]
Theo một nghiên cứu về tập tính dinh dưỡng và nuôi con thì việc thiếu kiến thức, ít hiểu biết về dinh dưỡng hợp lý đặc biệt là ở các bà mẹ người dân tộc thiểu
số, vùng núi cao, nông thôn xa đô thị đã ảnh hưởng tới TTDD của trẻ [25]
Theo nghiên cứu của Hà Văn Hùng và cộng sự năm 2011 cho thấy các yếu tố thực hành bú sữa mẹ, số bữa ăn tối thiểu của trẻ, thực hành uống viên sắt khi mang thai của mẹ là những yếu tố có liên quan đến SDD [19]
Cũng có những nghiên cứu cho thấy tỷ lệ SDD ở trẻ có mối quan hệ mật thiết với trình độ giáo dục người mẹ Những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những người phụ nữ có học thức cao hơn thì thường được chăm sóc dinh dưỡng tốt hơn Theo nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009 cho thấy những người mẹ có trình độ học vấn dưới cấp 2 sẽ làm tăng nguy cơ SDD trẻ em gấp 4,6 lần so với những người mẹ
có trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên [31]
1.1.4.5 Điều kiện kinh tế xã hội
Các yếu tố như : điều kiện vệ sinh môi trường thấp kém, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, nhà ở ẩm thấp… đã làm tăng tỷ lệ SDD và bệnh tật cao hơn so với
Trang 19nơi có điều kiện vệ sinh môi trường tốt hơn Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Nghĩa tại xã Tà Rụt huyện đakrông, tỉnh Quảng Trị năm 2011 cho thấy môi trường xung quanh nhà ở, nguồn nước gia đình sử dụng, thực hành vệ sinh cá nhân (vệ sinh trong gia đình, rửa tay trước khi chế biến thức ăn, rửa tay sau khi đi cầu ) là các yếu tố nguy cơ gây SDD ở trẻ [28] Việc tiêm chủng mở rộng và đúng lịch cho trẻ cũng là một trong những yếu tố quan trọng giúp phòng ngừa các bệnh nhiễm trùng
ở trẻ em Tiếp cận các dịch vụ y tế, phòng bệnh, khám thai đầy đủ, chữa và điều trị bệnh kịp thời cũng làm giảm các yếu tố nguy cơ suy dinh dưỡng ở trẻ em [38] Tình trạng nghèo đói cũng là yếu tố nguy cơ gây SDD Nghèo đói làm cho khả năng mất an ninh lương thực rất cao và đe dọa đến khẩu phần hàng ngày của cả gia đình và đứa trẻ Đặc biệt các vùng nông thôn, vùng miền núi là những nơi có tỷ
lệ nghèo đói cao thì tỷ lệ SDD rất cao [42],[43] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy tại Đăknông năm 2014 thấy trẻ em trong gia đình nghèo có nguy cơ SDD thể nhẹ cân cao hơn 2,1 lần và nguy cơ SDD thể gầy còm cao hơn 3,3 lần so với trẻ em trong gia đình không nghèo [33]
Các yếu tố xã hội như phong tục tập quán, dân tộc, vùng dân cư cũng có nhiều ảnh hưởng đến tình trạng SDD trẻ em [24],[25]
Sức ép về dân số cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của trẻ Cũng là những gia đình có thu nhập như nhau, cùng một vùng sinh sống nhưng tre em trong gia đình có nhiều con hơn thì có nguy cơ bị SDD cao hơn, Nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự tại Hà Nam cho thấy trẻ em ở những gia đình mà người mẹ có từ
2 con trở lên có nguy cơ SDD cao gấp 4,5 lần [20]
1.1.5 Hậu quả của suy dinh dưỡng
Tác giả Baker nêu ra một thuyết mới về nguồn gốc bào thai của một số bệnh mạn tính Theo ông, các bệnh tim mạch, đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa ở người trưởng thành có thể có nguồn gốc từ SDD bào thai Chính vì thế, phòng chống SDD bào thai hoặc trong những năm đầu tiên sau khi ra đời có một ý nghĩa rất quan trọng trong dinh dưỡng theo chu kỳ vòng đời [48]
Trang 20SDD ảnh hưởng rõ rệt đến phát triển trí tuệ, hành vi, khả năng học hành của trẻ, khả năng lao động ở tuổi trưởng thành SDD trẻ em thường để lại những hậu quả nặng nề Gần đây, nhiêu bằng chứng cho thấy SDD ở giai đoạn sớm, nhất là trong thời kỳ bào thai có mối liên hệ với mọi thời kỳ của đời người Hậu quả của thiếu dinh dưỡng có thể kéo dài qua nhiều thế hệ Phụ nữ đã từng bị SDD trong thời
kỳ còn là trẻ nhỏ hoặc trong độ tuổi vị thành niên đến khi lớn lên trở thành bà mẹ bị SDD Bà mẹ bị SDD dễ đẻ con nhỏ yếu, cân nặng sơ sinh (CNSS) thấp Hầu hết những trẻ có CNSS thấp bị SDD (nhẹ cân hoặc thấp còi) ngay trong năm đầu sau sinh Những trẻ này có nguy cơ tử vong cao hơn so với trẻ bình thường và khó có khả năng phát triển bình thường [38]
1.1.5.1 Ảnh hưởng đến vóc dáng, chiều cao khi trưởng thành
Chiều cao có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố gene và môi trường thông qua các giai đoạn tăng trưởng [17] Nếu tình trạng SDD kéo dài từ nhỏ đến thời gian dậy thì, chiều cao của trẻ em sẽ càng bị ảnh hưởng trầm trọng hơn Tầm vóc của dân tộc sẽ chậm tăng trưởng nếu tình trạng SDD không được cải thiện qua nhiều thế hệ
Một nghiên cứu ở các nước có thu nhập thấp và trung bình cho thấy chiều cao của người trưởng thành có mối quan hệ thuận chiều với cân nặng và chiều cao
sơ sinh Mỗi centimet chiều cao sơ sinh có liên quan với sự tăng 0,7-1cm chiều cao khi trưởng thành Ở tất cả các nước triển khai nghiên cứu, sự khác biệt chiều cao là rất lớn khi trưởng thành ở những người khi còn dưới 5 tuối SDD thấp còi Những trẻ bị SDD thấp còi đến khi trưởng thành sẽ trở thành người có chiều cao thấp [49]
1.1.5.2 Ảnh hưởng đến nhận thức, phát triển trí tuệ và khả năng lao động khi trưởng thành
Mặc dù còn ít các nghiên cứu dọc theo dõi từ trẻ thơ đến khi trưởng thành, tuy nhiên bằng chứng cho thấy có sự kết hợp giữa SDD thấp còi với khả năng nhận thức hiện tại và trong tương lai hoặc khả năng học tập của trẻ em thuộc những nước
có thu nhập thấp hoặc trung bình Nhiều nghiên cứu triển khai ở các nước khác cho thấy có mối liên quan giữa SDD thấp còi, chậm đi học, thi lại nhiều hơn và tỷ lệ bỏ
Trang 21học cao, giảm tỷ lệ tốt nghiệp giữa cấp 1 và cấp 2, chậm chạp trong học tập, nhận thức, học kém hơn lúc ấu thơ [17]
1.1.5.3 Tăng gánh nặng bệnh tật và tử vong
Nghiên cứu của Steve Collins và cộng sự năm 2006 cho thấy SDD có liên quan đến sự phát triển của trẻ em trên thế giới và là yếu tố cơ bản gây ra trên 50% trường hợp tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi [51] SDD thể nhẹ hay gặp và có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng quan trọng nhất vì ngay cả SDD nhẹ cũng làm tăng gấp đôi nguy
cơ bệnh tật và tử vong so với trẻ em không bị SDD Ước lượng gánh nặng bệnh tật cho thấy gia tăng gánh nặng bệnh đối với nhóm trẻ dưới 5 tuổi vừa bị SDD thấp cói vừa bị SDD thể gầy còm Nguy cơ tử vong tăng trong nhóm có Z-score thấp hơn [17]
SDD làm tăng tỷ lệ tử vong và làm tăng gánh nặng cho xã hội, ước tính mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 2,1 triệu cái chết (chiếm 21% DALYs) ở trẻ dưới
5 tuổi vì lý do SDD, đồng thời SDD cũng gây ra 35% gánh nặng bệnh tật ở trẻ dưới
5 tuổi [50]
1.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em
1.2.1 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em trên thế giới
Trong vòng 15 năm trở lại đây, SDDTE có xu hướng giảm trên phạm vi toàn cầu Thống kê của Qũy Nhi đồng liên hiệp quốc UNICEF, WHO và Ngân hàng thế giới năm 2011 về SDDTE dưới 5 tuổi thấy châu Á vẫn là châu lục đứng đầu về tỷ lệ 19,3% nhẹ cân (69,1 triệu) và tỷ lệ 10,1% gầy còm (36,1 triệu) Riêng trẻ thấp còi, châu Phi trở thành châu lục chiếm tỷ lệ cao nhất với 35,6% (56,3 triệu); tiếp theo là châu Á: 26,8% (98,4 triệu) Hai châu lục này chiếm trên 90% trẻ thấp còi trên toàn cầu [62]
Hiện nay, theo kết quả nghiên cứu trẻ em dưới 5 tuổi của tổ chức Cứu trợ trẻ
em Mỹ năm 2012, trên thế giới còn hơn 100 triệu (15,7%) nhẹ cân, 171,0 triệu (27,0%) thấp còi và hơn 60 triệu (10,0%) gầy còm [58] Các khu vực Nam Á, cận hoang mạc Sahara có tỷ lệ SDDTE cao nhất [58] Những quốc gia còn tỷ lệ SDDTE cao và rất cao cả 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm tương ứng như Timor Leste năm
Trang 222010 (44,7%, 58,1%, 18,6%); Niger năm 2011 (38,5%, 51,0%, 12,3%); Pakistan năm
2011 (31,5%, 43,7%, 15,1%); Bangladesh năm 2011 (36,4%, 41,3%, 15,6%) [61]
1.2.2 Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam
Tại Việt Nam, vào thập kỷ 80 của thế kỷ XX, tỷ lệ SDD rất cao trên 50%, năm
1995 là 44,9% Tuy nhiên, theo số liệu điều tra của Viện Dinh dưỡng quốc gia từ năm 1999 đến năm 2010, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm đi một cách rõ rệt Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm từ 30,1% năm 2002 xuống còn 17,5 % năm 2010 Tỷ lệ SDD thể thấp còi đã giảm từ 33,0% năm 2002 xuống còn 29,3% năm 2010 [43]
Năm 2015, tỷ lệ SDD trẻ em nước ta là 14,1% theo chỉ tiêu cân nặng/tuổi (CN/T), trong đó SDD vừa (độ I) là 12,2%, SDD nặng (độ II) là 1,7% và SDD rất nặng (độ III) là 0,2% [43]
Tỷ lệ trẻ em SDD theo chỉ tiêu chiều cao/tuổi (CC/T) năm 2015 toàn quốc là 24,6%, SDD độ I là 16,4%, SDD độ II là 8,2% [43] Tỷ lệ SDD theo chỉ tiêu cân nặng/chiều cao (CN/CC) là 6,4% [43]
Phân bố SDD không đồng đều ở các vùng sinh thái khác nhau Khu vực miền núi, Tây Nguyên, miền Trung tỷ lệ cao hơn hẳn so với các vùng khác, nông thôn cao hơn thành thị, miền núi cao hơn đồng bằng, dân tộc thiểu số cao hơn các dân tộc khác, đặc biệt là các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt Theo điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2015 cho thấy tỷ lệ SDD thể nhẹ cân cao nhất ở vùng núi như Tây Nguyên 21,6%, trung du và miền núi phía Bắc 19,5%; khu vực phía Bắc miền Trung 16,1%; đồng bằng sông Hồng 10,8%;đồng bằng sông Cửu Long 10,7%; và thấp nhất ở Đông Nam Bộ 9,1% [43]
Trang 23Bảng 1.3: Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo các vùng ở Việt Nam năm 2015
Tên vùng
SDD CN/T (%) CC/T (%) CN/CC (%)
Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung 16,1 27,3 6,2
SDD có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc của người dân Theo báo cáo năm 2014 của viện dinh dưỡng tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (16,1%) cao hơn vùng thành thị (10,1%) và vùng dân tộc ít người (21,9%) cao hơn so với dân tộc kinh (9,7%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ
em ở vùng nông thôn (26,8%) cao hơn vùng thành thị (18,1%) và vùng dân tộc ít người (32,1%) cao hơn so với dân tộc kinh (16,2%) [42]
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ SDD theo tình trạng kinh tế xã hội, dân tộc năm 2014 [42]
Trang 24Tổng điều tra dinh dưỡng nam 2009-2010 của viện dinh dưỡng, SDD ở trẻ em xuất hiện sớm ngay sau khi sinh, tuy nhiên tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng là thấp nhất Sau đó, tỷ lệ SDD tăng nhanh vào lúc trẻ từ 6 đến 24 tháng tuổi, do vấn đề nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung chưa hợp lý SDD thể nhẹ cân, thấp còi tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng nhanh trong năm thứ 2 sau đó tăng chậm như vậy những can thiệp sớm, ngay từ khi đẻ tới dưới 24 tháng tuổi - giai đoạn bú mẹ và ăn bổ sung là rất cần thiết
để góp phần giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi [44]
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ em theo nhóm tuổi năm 2009-2010 [44]
1.3 Một số nghiên cứu về tình trạng suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
1.3.1 Nghiên cứu về thực trạng suy dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi
1.3.1.1 Thế Giới
Nghiên cứu của UNICEF năm 2011 khu vực châu Á-Thái Bình Dương cũng thấy sự chênh lệch lớn giữa các tộc người và nơi sống Tỷ lệ trẻ 18-23 tháng ở Campuchia bị thấp còi 50,0% và trẻ nhẹ cân 45,0% chủ yếu ở trẻ em dân tộc thiểu
số Tương tự, tỷ lệ tương ứng ở Lào là 40,0% và 37,0% Ở Phillippines, trẻ nhẹ cân sống vùng thủ đô 15,7%, thấp hơn nhiều so với 36,1% trẻ sống ở vùng khó khăn Bitol [60] Tại Trung Quốc, số liệu toàn quốc năm 2008, SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể thấp còi là 9,9%, thể nhẹ cân là 5,9% và thể gầy còm là 2,2% Trong đó có sự khác biệt rất lớn giữa thành thị và nông thôn: SDD thể thấp còi của trẻ em nông thôn gấp
24-29 tháng
30-35 tháng
36-41 tháng
42-47 tháng
48-53 tháng
54-59 tháng Nhẹ cân Thấp còi
Trang 255,3 lần trẻ em thành thị, thể nhẹ cân của trẻ em nông thôn gấp 4,6 lần trẻ em thành thị [54]
Kết quả nghiên cứu của P Ruiz-Grosso và cộng sự (2014) tại Peru cho thấy
tỉ lệ SDD thấp còi của trẻ em dưới 5 tuổi là 19,8% [57] Một nghiên cứu khác tại Kenya vào năm 2011, tỉ lệ SDD thể thấp còi, nhẹ cân và gầy còm của trẻ em từ 6-59 tháng tuổi lần lượt là: 47,0%, 11,8% và 2,7% [55]
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà năm 2010 ở trẻ em dưới 2 tuổi vùng dân tộc thiểu số 2 huyện Hướng Hóa và Đakrông, tỉnh Quảng Trị cho thấy tỷ lệ SDD rất cao
ở cả 3 thể: nhẹ cân 42,1%; thấp còi 48,2% và gầy còm 13,9% [12]
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Dũng và các cộng sự năm 2012 ở trẻ em dưới 2 tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012 kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi, gày còm lần lượt là 7,8%; 19,7% và 2,2% [9]
1.3.2 Nghiên cứu về thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ dưới 5 tuổi
1.3.2.1 Thế giới
Nghiên cứu của J Zhang và cộng sự tại Trung Quốc cũng chỉ ra 94% các bà
mẹ cho con bú sữa non trong vòng 3 ngày đầu, nhưng vẫn có 34% số trẻ được cho
Trang 26uống nước, sữa bột, đường hoặc thức ăn thay thế khác Trong số trẻ dưới 4 tháng, 35% được bú sữa mẹ hoàn toàn, nhưng tại thời điểm 2 tháng con số này là 40% và chỉ một nửa là bú sữa mẹ hoàn toàn mà không nhận thêm bất kỳ đồ uống nào khác [64]
S R Pager và cộng sự nghiên cứu cho thấy thời gian trung bình cho trẻ ăn thức ăn đặc là 22,2 tuần sau sinh, 60,9% trẻ thôi bú mẹ trước 4 tháng, 18,0% trẻ sơ sinh cân nặng dưới 5 kg vào thời điểm dừng bú mẹ [56]
1.3.2.2 Việt Nam
Phạm Văn Hoan và cộng sự đánh giá thực trạng SDD trẻ em dưới 5 tuổi, kiến thức và thực hành nuôi dưỡng chăm sóc trẻ của các bà mẹ tại xã Phù Linh, Sóc Sơn, Hà Nội 2008 cho thấy chỉ có 28,7% trẻ được ăn bổ sung vào tháng thứ 6 [16] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hằng về thực hành cho trẻ ăn bổ sung của các bè
mẹ có con dưới 2 tuổi tại thị trấn Bích Động-huyện Việt Yên-tỉnh Bắc Giang năm
2014 cho thấy tỷ lệ cho trẻ ăn bổ sung đúng thời điểm từ 6 - <8 tháng chiếm 30%, 4
- <6 tháng 46,7%, trước 4 tháng tuổi 12,5% [13]
Theo Hà Minh Trang nghiên cứu về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các
bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, Hà Nội thì kết quả cho thấy có 42,3% các bà mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh, có 10% bà mẹ vắt bỏ sữa non trước khi cho bú lần đầu tiên, tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ hoàn toàn trong sáu tháng đầu là 15,5% [34]
Nghiên cứu của Nguyễn Anh Vũ và cộng sự về kiến thức và thực hành nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 12 - 24 tháng tuổi tại huyện tiên lữ năm 2011 cho thấy khi trẻ mắc tiêu chảy, các bà mẹ thường cho trẻ bú như bình thường hoặc nhiều hơn (85,7%), tuy vẫn còn khoảng 14,3% bà
mẹ cho con bú ít hơn bình thường hoặc không cho con bú Về cách xử trí khi trẻ ốm
có 66,7% bà mẹ tự mua thuốc về cho con uống Tỷ lệ bà mẹ đưa con đến cơ sở y tế
là 18,2% [46]
Nghiên cứu của Huỳnh Văn Dũng và các cộng sự năm 2012 ở trẻ em dưới 2 tuổi và thực hành nuôi trẻ của bà mẹ tại huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ năm 2012 kết quả cho thấy có 46,7% trẻ được bú ngay trong vòng 1h đầu sau sinh, 27,8% trẻ
Trang 27dưới 6 tháng tuổi được bú sữa mẹ hoàn toàn; 65,2% trẻ được cho ăn bổ sung đúng thời điểm [9]
1.3.3 Nghiên cứu về một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi
1.3.3.1 Thế giới
Tại Serbia thuộc Đông Âu, T Janevic nghiên cứu năm 2010 cho thấy một số yếu tố đã được xác định là có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng này: điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe không tốt, học vấn của mẹ thấp, tiêm chủng phòng bệnh không đầy đủ, thu nhập bình quân của gia đình thấp và trẻ thiếu sữa mẹ [53]
M Hackett và cộng sự nghiên cứu mối liên quan giữa mất an ninh lương thực hộ gia đình với tình trạng thấp còi của trẻ em trước tuổi đi học tại Antioquia (Colombia) năm 2009 cho thấy có mối liên quan thống kê giữa an ninh lương thực
hộ gia đình với tình trạng tiêu chảy, bệnh hô hấp và nhiễm ký sinh trùng đường ruột Ngoài ra, tình trạng thấp còi và nhẹ cân tăng lên ở những khu vực này và dễ đẫn đến SDD nặng [52]
1.3.3.2 Việt Nam
❖ Yếu tố cá nhân của trẻ
Khảo sát của Phạm Thị Tâm về “Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã mỹ an, huyện tháp mười, tỉnh đồng tháp, năm 2009” cho thấy trẻ có TC và NKHHC nguy cơ SDD tăng gấp 4,3 và 2,1 lần so với nhóm không TC và NKHHC [31]
Nghiên cứu của Hà Văn Hùng và các cộng sự về “Đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi người M'nông và một số yếu tố liên quan tại Đăk Nông năm 2011” chỉ ra nhóm trẻ em nam ít có nguy cơ nhẹ cân hơn nhóm trẻ em nữ 0,78 lần [19]
Theo nghiên cứu Lương Tuấn Dũng và cộng sự về “Tình trạng dinh dưỡng
và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã phúc thịnh xuân quang, huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang năm 2012” kết quả cho thấy những trẻ đẻ ra có cân nặng dưới 2500g có tỷ lệ SDD thể nhẹ cân và thấp còi gấp 3,34 lần và 2,3 lần so với những trẻ đẻ ra có cân nặng từ 2500g trở lên [10]
Trang 28Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy về “Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu
và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tại 4 xã huyện Krôngnô tỉnh Đăknông năm 2014” cho thấy trẻ em thường xuyên mắc bệnh có nguy cơ SDD thể nhẹ cân cao gấp 1,9 lần và nguy cơ SDD thể gầy còm cao gấp 2,4 lần so với trẻ em không thường xuyên mắc bệnh [33]
❖ Yếu tố của bà mẹ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thuấn về “Tình trạng dinh dưỡng
và một số yếu tố liên quan của trẻ dưới 5 tuổi dân tộc tày tại huyện chiêm hóa tuyên quang” cho thấy con của các bà mẹ có trình độ học vấn dưới cấp 3 có nguy cơ SDD thấp còi cao gấp 1,79 lần so với các bà mẹ có trình độ học vấn từ cấp 3 trở lên [32]
Nghiên cứu Nguyễn Thị Vân Anh (2015), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến SDD thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện thanh miện tỉnh hải dương 2015” chỉ ra những trẻ có mẹ làm nghề nông có nguy cơ SDD thấp còi gấp 3,3 lần so với những trẻ có mẹ không làm nghề nông [2]
Theo báo cáo của Hoàng Khải Lập (2008) về “Nghiên cứu tập quán dinh dưỡng một số dân tộc thiểu số miền núi phía bắc tác động đến tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi” cho thấy những trẻ ABS không đúng thời gian, ăn không đủ 4 nhóm thực phẩm, cai sữa không đúng thời gian có nguy cơ SDD nhẹ cân lần lượt cao gấp 1,9 và 1,9 lần so với những trẻ trẻ ABS đúng thời gian, ăn đủ 4 nhóm thực phẩm [24]
Nghiên cứu của Vũ Phương Hà (2010) “Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 2 tuổi vùng dân tộc thiểu số 2 huyện Hướng Hóa
và Đakrông, tỉnh quảng trị năm 2010” cho thấy trẻ dưới 2 tuổi cai sữa sớm có nguy
cơ SDD nhẹ cân cao gấp 1,6 lần so với những trẻ chưa cai sữa Trẻ không được bú sữa non của mẹ sau khi sinh cũng có nguy cơ SDD nhẹ cân cao gấp 1,6 so với trẻ được bú sữa non Trẻ không được bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu có nguy
cơ SDD cao gấp 1,76 lần so với trẻ được BMHT trong 6 tháng đầu [12]
Nghiên cứu Lương Tuấn Dũng và cộng sự về “Tình trạng dinh dưỡng và một
số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại 2 xã phúc thịnh xuân quang, huyện chiêm hóa, tỉnh tuyên quang năm 2012” kết quả cho thấy những bà mẹ không được uống
Trang 29viên sắt trong thời kì mang thai thì tỷ lệ con bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân gấp 2,02 lần những bà mẹ có được uống viên sắt [10]
Nghiên cứu Nguyễn Thị Vân Anh (2015), “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến SDD thấp còi ở trẻ 6-24 tháng tuổi tại hai xã thuộc huyện thanh miện tỉnh hải dương 2015” chỉ ra trẻ có nguy cơ thấp còi là 2,19 lần nếu các bà mẹ giữ vệ sinh tay chưa đầy đủ trong các trường hợp như sau khi đi vệ sinh, trước khi nấu ăn và cho trẻ trước khi trẻ ăn, sau khi chơi đùa, sau khi đi vệ sinh [2]
❖ Yếu tố của gia đình
Theo nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự về “Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố phủ lý, tỉnh hà nam năm 2012 và một số yếu tố liên quan” kết quả cho thấy trẻ em ở những gia đình mà người mẹ có từ 2 con trở lên có nguy cơ SDD thấp còi cao gấp 4,5 lần so với những gia đình mà người mẹ có 1-2 con [20]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy về “Tình trạng suy dinh dưỡng, thiếu máu
và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi tại 4 xã huyện Krôngnô tỉnh Đăknông năm 2014” cho thấy trẻ em sống trong gia đình nghèo có nguy cơ SDD thể nhẹ cân cao hơn 2,1 lần và nguy cơ SDD thể gầy còm cao hơn 3,3 lần so với trẻ
em trong gia đình không nghèo Gia đình không có hố xí hợp vệ sinh thì trẻ có nguy
cơ SDD thể nhẹ cân gấp 2,5 lần và nguy cơ SDD thể gầy còm gấp 3,9 lần gia đình
có hố xí hợp vệ sinh [33]
❖ Yếu tố về y tế
Theo nghiên cứu của Lê Thị Hương và cộng sự về “Tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thành phố phủ lý, tỉnh hà nam năm 2012 và một số yếu tố liên quan” chỉ ra những trẻ có mẹ không được hướng dẫn nuôi con có nguy cơ SDD gầy còm cao gấp 2,5 lần so với những trẻ có mẹ được hướng dẫn nuôi con [20]
1.4 Thông tin địa bàn nghiên cứu
Xã Tuân Tức là một xã nghèo thuộc vùng nông thôn sâu nằm ở phía Bắc của huyện Thạnh Trị, cách trung tâm huyện Thạnh Trị 7km; phía Đông giáp Lâm Tân; phía Tây giáp xã Thạnh trị; phía Bắc giáp xã Thạnh Tân; phía Nam giáp Thị trấn Phú Lộc Diện tích tự nhiên là 3.025,34ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là
Trang 302.748,05ha (đất trồng lúa là 2.466ha) Năm 2016, số hộ gia đình sử dụng nước hợp
vệ sinh là 1873 hộ (82,3%), số hộ gia đình sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 1502 hộ (66,4%), vấn đề xử lý rác thải xã có 02 ấp có xe thu gom rác thải, còn 03 ấp hiện nay chưa có biện pháp thu gom xử lý
Xã có 05 ấp (Trung Bình, Trung Thành, Trung Hòa, Trung Thống, Tân Định), số dân 10.457 người với 2.261 hộ, sự phân bố dân cư không đồng đều, có nhiều kênh rạch chằng chịt Xã gồm có 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer Trong đó người Khmer chiếm đa số gần 70%, tập chung tại 4 ấp (Trung Bình, Trung Thành, Trung Hòa, Trung Thống), tỷ lệ hộ nghèo chiếm 22,17% và cận nghèo 20,59%, người dân trong xã sống chủ yếu làm bằng nghề nông, trình độ dân trí còn hạn chế, chủ yếu tập chung ở người dân tộc Khmer
Trang 31KHUNG LÝ THUYẾT
TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ
Yếu tố của gia đình
• Số con trong gia đình
• Nước sạch, hố xí tại hộ gia đình
• Tình trạng kinh tế của gia đình
• Thực hành vệ sinh cá nhân
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Trẻ từ 6-24 tháng tuổi
- Bà mẹ của trẻ
Tiêu chuẩn lựa chọn: Trẻ trong độ tuổi 6-24 tháng tại thời điểm điều tra,
đang sống tại xã và đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
Trẻ bị dị tật bẩm sinh, bệnh cấp tính nặng tại thời điểm điều tra
Bà mẹ mắc bệnh câm, điếc, bị bệnh tâm thần, rối loạn trí nhớ, không hợp tác,
bà mẹ từ chối tham gia nghiên cứu
- Lãnh đạo chính quyền địa phương, hội phụ nữ, cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: từ tháng 01/2017 đến tháng 7/2017
- Địa điểm: xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết mục tiêu 1, 2 và 3 của nghiên cứu đó là: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-24 tháng tuổi, mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ và xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017
Nghiên cứu định tính nhằm bổ sung cho mục tiêu 2 (mô tả thực hành chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ của bà mẹ tại xã Tuân Tức, huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng năm 2017)
Nghiên cứu định lượng được tiến hành trước, trên cơ sở những phát hiện từ
dữ liệu định lượng, thu thập dữ liệu định tính nhằm bổ sung kết quả của dữ liệu định lượng
Trang 332.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
2.4.1 Mẫu định lượng
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ:
Trong đó:
n: Số trẻ cần điều tra trong độ tuổi 6-24 tháng
p = 0,16 (tỷ lệ SDD trẻ dưới 2 tuổi tỉnh Sóc trăng năm 2013 [41])
z1 - α/2 = 1,96 là ước lượng khoảng tin cậy dùng trong nghiên cứu, mức tin cậy chúng ta luôn mong muốn là 95% với mức ý nghĩa thống kê α = 0,05
d : là sai số cho phép, chọn d = 0,05
Ước lượng 15% từ chối phỏng vấn và làm tròn số được cỡ mẫu là 238 trẻ 6-24 tháng Qua khảo sát tại địa phương có 243 trẻ 6-24 tháng và mẹ của trẻ tại địa phương Nên chọn toàn bộ trẻ 6-24 tháng và mẹ của trẻ
2.4.2 Mẫu định tính
Cỡ mẫu: Nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu, các đối tượng và số lượng tham gia
nghiên cứu định tính bao gồm:
Phỏng vấn sâu (PVS)
Thảo luận nhóm (TLN) Bà mẹ có con bị SDD 1 cuộc (06 người)
Bà mẹ không có con bị SDD 1 cuộc (06 người)
Cách chọn mẫu: Các đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn
mẫu có chủ đích:
Gồm: Chủ tịch xã, chủ tịch hội phụ nữ xã, cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng của TYT, bà mẹ có con bị SDD và không bị SDD (những bà mẹ hiểu và nói tiếng việt rõ ràng, thuận tiện cho việc đi lại)
Trang 342.5 Công cụ và Phương pháp thu thập số liệu
Phiếu cân đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng ( phụ lục 1)
- Phiếu phỏng vấn bà mẹ của trẻ: Gồm 4 phần chính với 59 câu hỏi (phụ lục 2)
2.5.1.2 Tổ chức thu thập thông tin
❖ Nhân lực:
- Nhóm điều hành giám sát: Nghiên cứu viên
- Nhóm điều tra viên: Nghiên cứu viên, Y tế thôn bản tại xã (05 người)
❖ Thử nghiệm bộ công cụ
Tập huấn điều tra viên: Nghiên cứu viên trực tiếp tập huấn cho điều tra viên
việc cân đo và các tiêu chí cần đạt với thông tin thu thập Tiến hành phỏng vấn chéo lẫn nhau để kiểm tra tính hợp lý của bộ câu hỏi
Thử nghiệm bộ câu hỏi: Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 phụ nữ có con
6- 24 tháng tuổi ở tại xã Sau đó thảo luận, tiếp nhận các thông tin phản hồi về bộ câu hỏi Trên kết quả thu được, nghiên cứu viên (NCV) đã chỉnh sửa và bổ sung để hoàn thiện bộ câu hỏi
❖ Tiến hành thu thập thông tin tại thực địa theo kế hoạch
Cân đo nhân trắc trẻ 6-24 tháng tuổi
Thực hiện cân đo trẻ vào ngày tiêm chủng cho trẻ Thống nhất với cán bộ và
bà mẹ là cân đo trẻ trước khi thực hiện tiêm chủng, nếu bà mẹ không đưa trẻ đến TYT thì đến nhà của bà mẹ cân đo trẻ Số liệu cân đo được ghi vào phiếu cân đo nhân trắc trẻ và gửi lại cho NCV
Trang 35Cân nặng trẻ:
- Chuẩn bị cân: Chọn mặt phẳng vững chắc để làm nơi đặt cân
- Kiểm tra cân trước và trong khi sử dụng: chỉnh thăng bằng ở vị trí 0 kg, sau đó cứ cân khoảng 10 trẻ kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng vật chuẩn 5 kg
- Thực hành cân: Khi cân, trẻ cần được bỏ khăn mũ, giày dép, cởi bớt quần áo Đọc, ghi kết quả với đơn vị là kg và lẻ sau 1 dấu phẩy
Chiều dài trẻ:1) Đặt thước trên mặt phẳng nằm ngang 2) Tháo bỏ giầy dép,
quần áo hay thứ gì có thể làm ảnh hưởng đến việc đo chiều dài 3) Đặt trẻ nằm thẳng trên ván của thước đo Hướng mắt của trẻ vuông góc với mặt thước 4) Người trợ giúp: hai tay duỗi tự do, áp vào hai tai để giữ trẻ nhìn thẳng, đầu trạm đế thước 5) ĐTV: một tay đặt vào gối hoặc cổ chân để giữ chân cho thẳng, một tay đưa thanh chặn chạm vào bàn chân trẻ Lưu ý: giữ bàn chân thẳng đứng và áp sát với thanh chặn trên mặt thước 6) Đọc kết quả với 1 số lẻ Giúp trẻ ngồi dậy 7) Người trợ giúp: Ghi ngay kết quả vào và cho người đo xem 8) NCV: Kiểm tra kết quả đo được ghi trong phiếu có chính xác không Hướng dẫn người trợ giúp sửa chữa lại nếu có nhầm lẫn Đọc, ghi kết quả với đơn vị là cm, lẻ sau 1 dấu phẩy [37]
Phỏng vấn bà mẹ có trẻ từ 6-24 tháng tuổi
Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ tại nhà của bà mẹ ĐTV tự giới thiệu bản thân, đọc bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu ĐTV trả lời bất cứ các câu hỏi nào của bà mẹ về điều tra trong quá trình thỏa thuận tham gia nghiên cứu Bà mẹ và ĐTV cùng ký vào bản thỏa thuận đồng ý tham gia nghiên cứu trước khi phỏng vấn Trung bình mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài 15-20 phút Địa điểm phỏng vấn tại nhà của bà mẹ hoặc TYT đảm bảo không bị tác động bởi yếu tố bên ngoài
❖ Kiểm soát chất lượng tại thực địa
- Cân và đo: NCV kiểm tra số điểm tiếp xúc, tư thế đặt trẻ khi đo, cách đọc, ghi chép kết quả Kiểm tra số trẻ được cân đo tại thực địa
- NCV quan sát các cuộc phỏng vấn: quan sát tất cả ĐTV phỏng vấn trong 2-3 ngày đầu thực địa, quan sát ít nhất 2 cuộc phỏng vấn của mỗi ĐTV
- Kiểm tra kết quả phỏng vấn: NCV kiểm tra các bộ câu hỏi đã hoàn thành ngay sau
Trang 36khi ĐTV bàn giao NCV yêu cầu ĐTV giải thích thông tin thiếu, nếu bộ câu hỏi còn thiếu ≥10 câu trả lời, bộ đó sẽ không được chấp nhận; khi đó NCV yêu cầu ĐTV phản hồi lý do, phỏng vấn lại hoặc loại bỏ bộ câu hỏi đó tùy vào thực tế Một nguyên tắc được áp dụng: nếu một ĐTV có >2 bộ câu hỏi thiếu ≥20% thông tin/ ngày do kiến thức và thái độ làm việc thì ĐTV đó bị thay thế
2.5.2 Phần định tính:
2.5.2.1 Công cụ thu thập số liệu
Máy ghi âm, bút, sổ ghi chép, bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục
4,5,6), bảng hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục 7)
2.5.2.2 Tổ chức thu thập thông tin
PVS: Hẹn gặp trực tiếp tại nhà đối tượng Sau khi thực hiện các thỏa thuận tham gia nghiên cứu, với sự đồng ý tham gia của các đối tượng nghiên cứu Tổ chức
03 cuộc PVS ( 01 lãnh đạo địa phương, 01 hội phụ nữ xã, 01 cán bộ phụ trách chương trình dinh dưỡng ) Các cuộc PVS được ghi âm với sự cho phép của đối tượng nghiên cứu và được thực hiện dựa trên các nội dung trong bảng hướng dẫn PVS đã được xây dựng Mỗi cuộc PVS tiến hành từ 15-20 phút Kết thúc buổi phỏng vấn nghiên cứu viên nghe lại quá trình phỏng vấn qua băng ghi âm, ghi lại những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
TLN: Mời các bà mẹ có con SDD và không SDD đến TYT để tiến hành TLN Sau khi thực hiện các thỏa thuận tham gia nghiên cứu, với sự đồng ý tham gia của các đối tượng nghiên cứu Tổ chức 02 cuộc TLN gồm: 01 cuộc có 06 bà mẹ có con bị SDD và 01 cuộc có 06 bà mẹ có con không bị SDD Các cuộc PVS được ghi
âm với sự cho phép của đối tượng nghiên cứu và được thực hiện dựa trên các nội dung trong bảng hướng dẫn PVS đã được xây dựng Mỗi cuộc TLN tiến hành từ 20-
30 phút Kết thúc buổi thảo luận nghiên cứu viên nghe lại quá trình phỏng vấn qua băng ghi âm, ghi lại những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
2.6 Các biến số,thước đo và tiêu chuẩn đánh giá
2.6.1 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu định lượng ( xem phụ lục 3)
Nhóm biến số về trẻ: Giới, nhóm tuổi, CNSS, bệnh tật, thứ tự con
Nhóm biến số về mẹ: Dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số con
Trang 37Nhóm biến số về thực hành chăm sóc của mẹ: thực hành chăm sóc khi mang thai, NCBSM, ABS, chăm sóc trẻ bệnh, vệ sinh cá nhân
Nhóm biến số về yếu tố liên quan: được xây dựng theo khung lý thuyết bao gồm các nhóm yếu tố liên quan chính là: yếu tố cá nhân của trẻ, yếu tố bà mẹ và gia đình, yếu tố thực hành của bà mẹ, yếu tố về dịch vụ y tế
2.6.2 Chủ đề trong nghiên cứu định tính
Tìm hiểu quan niệm, niềm tin, phong tục tập quán trong chăm sóc dinh dưỡng khi mang thai /chăm sóc trẻ và lý do:
- Thực hành dinh dưỡng khi mang thai của bà mẹ
- Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ
- Thực hành cho trẻ ăn bố sung
- Thực hành chăm sóc trẻ bị bệnh
- Thực hành vệ sinh cá nhân
2.6.3 Các khái niệm, tiêu chí đánh giá
- Tình tháng tuổi của trẻ: Theo WHO tháng tuổi của trẻ sẽ được tính tròn tháng, nghĩa là nếu trẻ chưa đủ 30 ngày tuổi thì tính là 0 tháng tuổi
- Trẻ bị tiêu chảy khi đi ngoài phân lỏng hoặc có máu 3 lần trở lên trong 1 ngày
- Trẻ coi là nhiễm khuẩn hô hấp khi có các dấu hiệu sau: sổ mũi, ho, sốt, khó thở
- Bắt đầu cho con bú sớm: trẻ sơ sinh được cho bú sớm trong vòng một giờ đầu sau sinh
- NCBSM hoàn toàn trong 6 tháng đầu: Trẻ trong 6 tháng tuổi được BMHT không
ăn thêm thức ăn, nước uống nào khác ngoài sữa mẹ
- Cai sữa đúng thời gian là cai sữa khi trẻ từ 18 - 24 tháng tuổi
- Ăn bổ sung: cho trẻ ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ Ăn bổ sung đúng thời gian là ăn bổ sung khi trẻ đủ 6 tháng tuổi
- Bà mẹ khám thai đúng và đủ khi khám thai ≥ 3lần mỗi 3 tháng đầu, 3 tháng giữa
và 3 tháng cuối khám ít nhất 1 lần
- Trẻ tiêm chủng đầy đủ: trẻ được tiêm chủng đầy đủ theo tháng tuổi
- Cách đánh giá TTDD của trẻ: Trẻ được coi là SDD nhẹ cân, thấp còi, gầy còm khi
Trang 38các chỉ số tương ứng CN/T, CC/T và CN/CC < -2SD; TCBP khi CN/T và CN/CC > 2SD
- Đánh giá thực hành đạt về: NCBSM, ABS, chăm sóc khi trẻ bị bệnh, vệ sinh cá
nhân khi điểm của mỗi phần đạt ≥ 50% tổng số điểm của phần đó (phụ lục 3)
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
2.7.1 Thông tin định lượng
Số liệu thu thập được mã hoá, làm sạch trước khi nhập liệu, nhập liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 và xử lý số liệu bằng phần mền SPSS 23.0, sử dụng phần mềm WHO Anthro 3.2 để xử lý số liệu nhân trắc đánh giá tình trạng SDD ở trẻ
2.7.2 Thông tin định tính
Các kết quả phỏng vấn sâu được phân tích, chọn lọc những thông tin có tác dụng hỗ trợ và được trích dẫn theo chủ đề nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu
2.8 Đạo đức nghiên cứu
- Được sự chấp thuận số: 167/2017/YTCC-HD3, ngày 22 tháng 3 năm 2017 của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học Trường Đại học Y tế công cộng
- Nghiên cứu được sự đồng tình, ủng hộ của nhà quản lý hệ thống y tế địa phương
- Các bà mẹ tự nguyện tham gia nghiên cứu sau khi được giải thích ý nghĩa của nghiên cứu Những bà mẹ có con SDD, TCBP sẽ được tư vấn, hướng dẫn để khắc phục tình trạng SDD, TCBP
- Tất cả các dụng cụ để cân, đo được đảm bảo an toàn tuyệt đối, không gây tổn thương và nguy hiểm cho trẻ
- Thực hiện phỏng vấn ở địa điểm riêng tư
- Nghiên cứu không có ảnh hưởng bất lợi; không đánh giá trình độ của đối tượng và cộng đồng Các thông tin về đối tượng được giữ bí mật trong nhóm điều tra
- Kết quả nghiên cứu chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Sau khi thông qua báo cáo, kết quả sẽ được thông báo cho đối tượng tham gia và nhà quản lý tại địa bàn Đồng thời nghiên cứu luôn đảm bảo tính trung thực của thông tin
Trang 392.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu
- Do thời gian và kinh phí có hạn nên nghiên cứu chỉ tìm ra được một số yếu
tố liên quan, không chỉ rõ yếu tố nguyên nhân gây ra SDD
- Nghiên cứu không tìm hiểu yếu tố liên quan đến kiến thức của bà mẹ về TTDD mà chỉ đánh giá thực hành nên chưa bao quát toàn bộ được yếu tố
- Do cỡ mẫu trong nghiên cứu được tính trên SDD thể nhẹ cân nên một số yếu tố liên quan có thể chưa bao quát SDD thể thấp còi
- NCV chủ động cân đo kết hợp với TCMR
- NCV theo dõi, giám sát chặt chẽ thu thập số liệu
- Chuẩn hoá kỹ thuật: Các số liệu nhân trắc: sử dụng cố định loại cân, thước
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ 3.1 Mô tả đặc điểm chung của trẻ, đặc điểm chung của mẹ, hộ gia đình
Bảng 3.1 Bảng thông tin chung của trẻ trong nhóm nghiên cứu
(n=243)
Tỷ lệ (%)