1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh hậu giang

121 303 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trang thiết bị y tế chẩn đoán tại các khoa cận lâm sàng bệnh viện là rất cần thiết.. Chính vì những lý d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN GHI

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN TẠI 4 KHOA CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH HẬU GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 60.72.07.01

Hà Nội – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN VĂN GHI

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN TẠI 4 KHOA CẬN LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA

TỈNH HẬU GIANG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ: 60.72.07.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM TRÍ DŨNG

Hà Nội - 2017

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái niệm về bệnh viện, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 4

1.2 Khái niệm, vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế 5

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế 8

1.3.2 Chu trình quản lý trang thiết bị y tế [20], [26], [29] 8

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo nhu cầu trang thiết bị y tế [20] 13

1.5 Các văn bản pháp lý trong công tác quản lý trang thiết bị y tế 15

1.6 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới 16

1.7 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam 17

1.8 Qui định của Nhà nước về kiểm chuẩn trang thiết bị y tế 20

1.9 Nghiên cứu thực trạng quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới và tại Việt Nam 21

1.10 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang 26

KHUNG LÝ THUYẾT 28

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 32

2.3 Thiết kế nghiên cứu 32

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 32

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 33

2.6 Các biến số trong nghiên cứu 34

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 34

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 36

2.9 Đạo đức nghiên cứu 37

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

Trang 4

3.1 Thực trạng công tác quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại khoa Chẩn đoán hình

ảnh - thăm dò chức năng, Xét nghiệm, Vi sinh, Giải phẫu bệnh 39

3.2 Đánh giá thực trạng quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại 5 khoa phòng nghiên cứu 50

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, khoa xét nghiệm, khoa Vi sinh, khoa Giải phẫu bệnh và Phòng Vật tư Y tế-Trang thiết bị của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang 58

Chương 4 BÀN LUẬN 63

4.1 Thực trạng công tác quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, Xét nghiệm, Vi sinh, Giải phẫu bệnh 63

4.2 Đánh giá thực trạng quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa tham gia nghiên cứu 65

4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 70

KẾT LUẬN 73

KHUYẾN NGHỊ 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC 79

Trang 5

NCV : Nghiên cứu viên

NVYT : Nhân viên y tế

TTBCĐ : Trang thiết bị chẩn đoán

TTBYT : Trang thiết bị y tế

VT-TTBYT : Vật tƣ - trang thiết bị y tế

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện 6

Bảng 1.2: Bảng phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn 7

Bảng 1.3: So sánh tình hình sử dụng một số loại TTB công nghệ cao 16

Bảng 1.4: Tần suất sử dụng một số TTB hiện đại tại một số quốc gia 16

Bảng 1.5: Tình hình sử dụng chẩn đoán cận lâm sàng năm 2004 – 2005 18

Bảng 3.1 Số lƣợng và loại TTBCĐ so với danh mục bộ Y tế 39

Bảng 3.2: Thông tin chung về TTBCĐ tại khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng 40

Bảng 3.3: Thông tin chung về TTBCĐ tại khoa Xét nghiệm 43

Bảng 3.4: Thông tin chung về TTBCĐ tại khoa Vi sinh 45

Bảng 3.5: Thông tin chung về TTBCĐ tại khoa Giải phẫu bệnh 47

Bảng 3.6: Kinh phí mua sắm trang thiết bị chẩn đoán 48

Bảng 3.7: Kinh phí dùng để bảo dƣỡng, sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán 49

Bảng 3.8: Tỷ lệ TTBCĐ hỏng cần sửa chữa tại các khoa 50

Bảng 3.9: Tỷ lệ TTBCĐ sử dụng không hết công suất (%) tại các khoa 50

Bảng 3.10: Thông tin chung của ĐTNC 50

Bảng 3.11: Tỷ lệ ĐTNC đồng ý quản lý tốt, chƣa tốt TTBCĐ qua công tác đầu tƣ, mua sắm 52

Bảng 3.12: Tỷ lệ ĐTNC đồng ý quản lý tốt, chƣa tốt TTBCĐ 53

Bảng 3.13: Tỷ lệ ĐTNC đồng ý quản lý tốt, chƣa tốt TTBCĐ qua công tác quản lý hiện trạng 54

Bảng 3.14: Tỷ lệ ĐTNC đồng ý quản lý tốt, chƣa tốt TTBCĐ 55

Bảng 3.15: Tỷ lệ ĐTNC đồng ý quản lý tốt, chƣa tốt TTBCĐ 56

Biểu đồ 3.1: Đánh giá chung của ĐTNC đánh giá công tác quản lý TTBCĐ 58

Trang 7

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trang thiết bị y tế (TTBYT) là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả trong công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho thầy thuốc trong khám, chẩn đoán, điều trị chính xác Cùng với sự tiến bộ vượt bậc của nền Y học trên thế giới, nhu cầu chẩn đoán sớm, nhanh, chính xác ngày càng cần thiết trong

đó phải kể đến vai trò của chẩn đoán xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh

Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang là bệnh viện hạng II tuyến Tỉnh trực thuộc

Sở Y tế Hậu Giang Đã và đang góp phần trong việc nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và giảm thiểu sự quá tải cho các bệnh viện tuyến trên Tuy nhiên, Hiện tại bệnh viện gặp một số bất cập trong công tác quản lý TTB do đa số được thụ hưởng từ dự án nên công tác quản lý về đầu tư, chất lượng, khai thác sử

dụng chưa được tốt Xuất phát từ vấn đề trên, chúng tôi tiến hành “thực trạng và

một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng bệnh viện Đa khoa tỉnh hậu giang năm 2017”.

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính được thực hiện từ tháng 02/2017 đến tháng 08/2017 Đối tượng nghiên cứu định lượng gồm 52 CBYT đang làm việc tại 4 khoa cận lâm sàng, được tham gia phát vấn bộ câu hỏi có cấu trúc, sử dụng thang đo Likert từ 1 điểm (rất chưa tốt) đến 5 điểm (rất tốt) Nghiên cứu định tính, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng và một số nhân viên liên quan

Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng và loại TTBCĐ tại các khoa nghiên cứu đạt tỷ lệ mức trung bình lần lượt là 59,9% và 52,7%

Với tổng số 106 TTBCĐ tại các khoa nghiên cứu, có 100 TTB hoạt động bình thường chiếm tỷ lệ 94,33% Tỷ lệ TTBCĐ hỏng và đang sửa chữa thấp 5,6% Tỷ lệ CBYT đánh giá là quản lý TTBCĐ tốt là 69,2% và quản lý chưa tốt TTBCĐ là 30,8% Nghiên cứu cũng phân tích một số yếu tố quan trọng có ảnh hưởng tích cực đến sử dụng TTBCĐ tại bệnh viện đó là: Yếu tố Quy trình, Yếu tố Nhân lực, Yếu tố Cơ sở vật chất, Yếu tố Tài chính Qua kết quả nghiên cứu bệnh viện cần tiếp tục thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các nguyên tắc và quy định về quản

lý, sử dụng TTBCĐ tại đơn vị Đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ sử dụng TTBCĐ

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang thiết bị y tế (TTBYT) là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả trong công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho thầy thuốc trong khám, chẩn đoán, điều trị chính xác góp phần thực hiện tốt vai trò chăm sóc sức khỏe nhân

dân đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong những năm gần đây ngành Y tế cũng đã có những bước phát triển nhẩy vọt về mặt công nghệ, các cơ sở khám chữa bệnh từ Trung ương tới địa phương đã được trang bị các thiết bị hiện đại

và cập nhật với nền y tế trong khu vực Các thiết bị thăm dò chức năng, thiết bị phòng mổ, chẩn đoán hình ảnh và các máy xét nghiệm đã và đang được số hóa với

bộ vi xử lý, chương trình phần mềm tự động hóa góp phần tăng hiệu suất làm việc, nâng cao hiệu quả chẩn đoán và điều trị [20]

Tại Việt Nam, trong những năm vừa qua Bộ Y tế đã đầu tư nâng cấp TTBYT cho các cơ sở y tế thuộc các lĩnh vực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y học cổ truyền… Tuy nhiên TTBYT hiện nay của các BV nhìn chung còn thiếu, chưa đồng

bộ và lạc hậu so với một số nước trong khu vực Hầu hết các TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ

để khai thác hết các tính năng kỹ thuật và công suất của TTB hiện có Năng lực của cán bộ kỹ thuật TTBYT chưa theo kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ Hiện nay, TTBYT tại các cơ sở y tế rất đa dạng, phong phú về chủng loại, được đầu

tư bằng các nguồn vốn khác nhau, nhưng cũng chưa đáp ứng được việc phục vụ số lượng bệnh nhân ở các bệnh viện Sự yếu kém về mặt quản lý, khai thác sử dụng, bảo trì sửa chữa dẫn đến những bất cập trong việc phát huy tính năng và hiệu quả đầu tư của TTBYT cũng như sự lãng phí lớn [8]

Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang là bệnh viện hạng II tuyến Tỉnh trực thuộc Sở

Y tế Hậu Giang, với qui mô 600 giường kế hoạch, khám, chẩn đoán và điều trị cho hơn 600 lượt bệnh nhân mỗi ngày Đã và đang góp phần lớn trong việc nâng cao công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng và góp phần giảm thiểu sự quá tải cho các bệnh viện tuyến trên [2] Với bối cảnh thực tế của bệnh viện ngoài sự nỗ lực rất lớn của đội ngũ thầy thuốc và nhân viên y tế (NVYT) của bệnh viện thì rất cần có một

hệ thống TTB công nghệ cao đáp ứng được yêu cầu của công tác khám chữa bệnh

Trang 9

(KCB) để góp phần nâng cao chất lượng của bệnh viện Ngoài ra, cùng với sự tiến

bộ vượt bậc của nền Y học trên thế giới, nhu cầu chẩn đoán sớm, nhanh, chính xác ngày càng cần thiết trong đó phải kể đến vai trò của chẩn đoán xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh

Nâng cao hiệu quả quản lý TTB chẩn đoán sẽ nâng cao chất lượng KCB tại các bệnh viện, nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ y tế, từ đó thu hút người dân đến KCB, góp phần làm giảm sự quá tải cho bệnh viện tuyến trên, đồng thời người dân được hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại tuyến y tế cơ sở, vì vậy giảm được phần chi phí cho việc đi lại không cần thiết Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trang thiết bị y tế chẩn đoán tại các khoa cận lâm sàng bệnh viện là rất cần thiết

Mặc khác bệnh viện chưa có đề tài nào nghiên cứu về lĩnh vực TTBYT mà

cụ thể là thiết bị chẩn đoán (thiết bị có giá trị cao) Chính vì những lý do nêu trên,

chúng tôi chọn đề tài: “thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang

thiết bị chẩn đoán tại 4 khoa cận lâm sàng bệnh viện Đa khoa tỉnh hậu giang năm 2017” để nghiên cứu, với hy vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý TTBCĐ,

đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏe của nhân dân

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng quản lý trang thiết bị y tế chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý trang thiết bị y tế chẩn đoán tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về bệnh viện, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện

1.1.1 Khái niệm về bệnh viện

Cùng với thời gian, khái niệm bệnh viện cũng có nhiều thay đổi Trước đây bệnh viện được coi là “nhà tế bần” cứu giúp những người nghèo khổ Chúng được thành lập giống như những trung tâm từ thiện nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo Ngày nay, bệnh viện được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu khoa học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe, và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học

Các tài liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đề cập nhiều đến khái niệm bệnh viện Theo khái niệm của WHO, bệnh viện là một phần không thể thiếu của một tổ chức y tế xã hội, có chức năng cung cấp cho dân cư các dịch vụ chữa trị

và phòng bệnh toàn diện, cũng như các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại gia đình; bệnh viện cũng là trung tâm đào tạo các nhân viên y tế và trung tâm nghiên cứu y học [31]

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện

Bệnh viện là là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và có các nhiệm vụ sau [6]:

Nghiên cứu khoa học

Trang 12

Bệnh viện là nơi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, ứng dụng, những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ người bệnh

Quản lý kinh tế trong Bệnh viện

Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của Bệnh viện từng bước tổ chức việc hạch toán chi phí về khám bệnh, chữa bệnh trong Bệnh viện

1.2 Khái niệm, vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế

1.2.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế

Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật tư cấy ghép, thuốc thử và chất hiệu chuẩn, phần mềm (Soflware) được sử dụng riêng lẽ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau: [7], [16], [18]

+ Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị và làm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương;

+ Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ công tác giải phẫu và quá trình sinh lý;

+ Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;

+ Kiểm soát sự thụ thai;

Trang 13

+ Khử trùng các thiết bị y tế, bao gồm các hóa chất sử dụng trong qui trình xét nghiệm;

+ Vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế;

+ Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người;

Thiết bị y tế được dùng độc lập sẽ không phát huy được hiệu quả như mong muốn trên cơ thể con người, cần phải phối hợp với các phương pháp như: dược lý học, miễn dịch học hay trao đổi chất thì chức năng của chúng mới được hoàn thiện hơn và đạt hiệu quả cao hơn

1.2.2 Phân loại trang thiết bị y tế

Dựa vào công dụng của TTB, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT bệnh viện ra 10 nhóm TTB chính như sau [7]:

Bảng 1.1: Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện

STT TÊN NHÓM

1 Nhóm thiết bị chẩn đoán hình ảnh: máy chụp X - Quang các loại, máy

cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch máu xóa nền , máy chụp cắt lớp Positron (PET/CT), máy siêu âm…

2 Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý: máy điện tâm đồ, điện não đồ, điện cơ

đồ, máy đo lưu huyết não

3 Thiết bị labo xét nghiệm: sắc ký khí, quang phổ kế, máy đếm tế bào…

4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: máy thở, máy gây mê, máy

theo dõi (monitoring), máy sốc tim, máy tạo nhịp tim, dao mổ điện…

5 Thiết bị vật lý trị liệu: máy điện phân, điện giao thoa, điều trị sóng ngắn,

tia hồng ngoại, laser trị liệu…

6 Thiết bị quang điện tử y tế như: Laser CO2, phân tích máu bằng Laser…

7 Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như: máy đo chức năng hô hấp, máy đo

thính giác, máy tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt, máy chạy thận nhân tạo…

8 Các thiết bị điện y tế phương đông như: máy dò huyệt, máy châm cứu…

9 Nhóm thiết bị y tế thông thường dùng ở gia đình: huyết áp kế, nhiệt kế…

10 Nhóm các thiết bị thông dụng phục vụ cho hoạt động của bệnh viện: thiết

bị thanh tiệt trùng, máy giặt, xe ô tô cứu thương…

Trang 14

Phân loại theo chuyên khoa: Bao gồm thiết bị chẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, hồi sức cấp cứu, phòng mổ, thiết bị xét nghiệm (hóa sinh, huyết học, vi sinh), giải phẫu bệnh, chuyên khoa mắt, RHM, TMH, sản phụ khoa, tim mạch… Phân loại theo nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT thành 4 loại [10]

Bảng 1.2: Bảng phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn

STT TÊN NHÓM

1

Thiết bị y tế: Các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ

cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học

và đào tạo trong lĩnh vực y tế

thương (xe cứu thương, xuồng máy…), xe chuyên dụng lưu động cho y tế

3

Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: Các loại dụng cụ, vật tư, hóa chất xét nghiệm

được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe

cố định xương, van tim, tai ốc điện tử, thủy tinh thể nhân tạo…

1.2.3 Vai trò và tầm quan trọng của trang thiết bị y tế

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, sự quan tâm đầu tư của Đảng và Chính phủ cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tình trạng sức khỏe người dân Việt Nam đã có những cải thiện rõ rệt, thể hiện ở các chỉ tiêu sức khỏe cơ bản như: tuổi thọ trung bình, tỷ suất chết trẻ em, tỷ suất chết mẹ, suy dinh dưỡng…

Ngành Y tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ, từ việc đầu tư, ứng dụng các trang thiết bị y tế, công nghệ kỹ thuật cao “đã thành công trong một số lĩnh vực với trình độ ngang tầm với các nước trong khu vực và một số nước tiên tiến như: phẫu thuật nội soi, kỹ thuật can thiệp nội mạch, ghép tạng, kỹ thuật y học hạt nhân, ứng dụng sóng siêu cao tần, laser, kỹ thuật bơm bóng đối xung động mạch chủ, siêu lọc máu, tuần hoàn ngoài cơ thể, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, nuôi cấy tế bào gốc sinh tinh để điều trị vô sinh…” Trong đó có vai trò,

Trang 15

đóng góp tích cực của TTBYT với chức năng là một trong ba yếu tố quan trọng đó

là Thầy thuốc – thuốc – TTBYT, quyết định đến chất lượng, hiệu quả của công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân; hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh

WHO đã khẳng định trang thiết bị y tế thuộc vào một chuyên môn của ngành

y tế, nó thâm nhập và phát triển sâu rộng vào các kỹ thuật khám chữa bệnh của tất

cả các chuyên khoa, bộ môn của ngành y tế Trong thời kỳ phát triển như vũ bão hiện nay của công nghệ trên thế giới chỉ sau có công nghiệp vũ trụ, quốc phòng và

an ninh, nên công nghiệp thiết bị y tế đã nhanh chóng ứng dụng những thành tựu mới nhất vào việc chẩn đoán, điều trị để đạt được mục tiêu cao nhất “ vì sức khỏe của con người”

Tại Diễn đàn toàn cầu lần thứ nhất về TTBYT (First Golbal Forum on Medical Devices) do WHO tổ chức từ 09 – 11/9/2010 tại Bangkok, Thái Lan cũng

đã nhấn mạnh lại “Ngày nay, có nhiều chủng loại TTBYT khác nhau lưu hành trên thị trường Chúng bao gồm từ các thiết bị chẩn đoán và điều trị có giá trị lớn, công nghệ cao như máy gia tốc tuyến tính giúp điều trị các bệnh ung thư cho đến các ống nghe khám bệnh và các trang thiết bị khác hỗ trợ bác sỹ, nhân viên y tế thực hiện các công việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân hàng ngày TTBYT còn bao gồm

cả các thiết bị trợ giúp cải thiện cuộc sống hàng triệu người dân như: xe đẩy, máy trợ thính, kính thuốc, máy điều hòa nhịp tim và các thiết bị cấy ghép…” Ngoài việc quan tâm đến tính an toàn, sáng tạo; tăng cường khả năng tiếp cận đến các TTBYT chất lượng, tiên tiến một cách có hiệu quả, diễn đàn rất quan tâm và nhấn mạnh đến tính đặc thù của TTBYT và công tác đào tạo, hướng dẫn sử dụng cũng như sửa chữa, bảo dưỡng đảm bảo TTBYT hoạt động hiệu quả [30]

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế

1.3.1 Khái niệm quản lý trang thiết bị y tế

Quản lý TTBYT là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc lĩnh vực TTBYT đảm bảo giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và đảm bảo những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó, nhằm phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả TTBYT được đầu tư trong ngành [22]

1.3.2 Chu trình quản lý trang thiết bị y tế [20], [26], [29]

1.3.2.1 Quản lý đầu tư mua sắm trang thiết bị

Trang 16

* Xét về góc độ quản lý, hoạt động mua sắm TTBYT phải xây đựng kế hoạch đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:

+ Đúng thủ tục, quy chế quản lý mua sắm của Nhà nước

Đáp ứng được các yêu cầu trên, đòi hỏi người quản lý, bộ phận quản lý phải

có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm công tác và luôn phải cập nhật kiến thức chuyên môn, cũng như hệ thống văn bản pháp luật để thực hiện đạt kết quả tốt nhất Tránh trường hợp TTBYT được đầu tư mua sắm không sử dụng gây lãng phí Tuy nhiên với những thiết bị hiện đại, đồng bộ, giá trị kinh tế cao thì việc chọn mua thiết

bị có cấu hình phù hợp với yêu cầu sử dụng, chất lượng tốt, đúng thủ tục, quy chế, giá cả hợp lý là rất khó

Điều đó rất khó vì chúng ta thiếu kinh nghiệm trong sử dụng, thiếu kiến thức đối với các TTBYT mới được đưa vào sử dụng tại Việt Nam, trong khi đó những loại TTBYT mới được sử dụng trong ngành y tế ngày càng nhiều, thiếu thông tin về các nhà sản xuất TTBYT, thông tin về giá

Mặc khác, trong công tác quản lý Nhà nước, các quy chế quản lý mua sắm luôn thay đổi, đồi hỏi người quản lý phải luôn cập nhật kiến thức chuyên môn, cũng như văn bản quy phạm pháp luật để triển khai hoạt động mua sắm đạt kết quả tốt

* Để chọn mua được trang thiết bị y tế đáp ứng được yêu cầu chuyên môn, đúng với tiêu chuẩn phân tuyến kỹ thuật và giá cả hợp lý cần có các yêu cầu sau đây:

+ Có đầy đủ tài liệu kỹ thuật (cataloges)chào hàng các thiết bị cần mua ít nhất 3 hãng để làm cơ sở so sánh (về cấu hình, tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng)

+ Có đầy đủ chứng nhận đánh giá chất lượng, xuất xứ hàng hóa theo tiêu chuẩn (CO, CQ)

+ Thiết bị có khả năng kết nối với các thiết bị khác và nâng cấp được khi cần thiết

+ Có đào tạo, hướng dẫn sử dụng và bảo dưỡng thiết bị

Trang 17

+ Có cam kết cung cấp vật tư tiêu hao, linh kiện, phụ tùng thay thế giá thấp ít nhất là 5 năm kể từ khi hết thời gian bảo hành

+ Thời gian bảo hành thiết bị ít nhất là 12 tháng

+ Là Công ty có uy tín cung cấp trên thị trường Việt Nam

* Để đáp ứng kịp thời về vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế thiết bị ta cần thực hiện các công việc sau:

+ Tổng hợp nhu cầu sử dụng các khoa để lập kế hoạch cung cấp

+ Lập kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TTB phải tiến hành theo tháng, quý, năm

Xây dựng kế hoạch mua sắm vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế, dụng cụ và TTBYT là một trong những chức năng nhiệm vụ của phòng Vật tư – trang thiết bị y

tế để đáp ứng cho đơn vị

Nhìn chung khi lên kế hoạch đầu tư mua sắm, cần phải cân nhắc kỹ: về nhu cầu sử dụng của đơn vị; khả năng tài chính, nguồn kinh phí; thế hệ công nghệ, cấu hình kỹ thuật thích hợp; điều kiện hạ tầng lắp đặt, trang bị (diện tích, điện, nước, môi trường ); cán bộ quản lý, khai thác sử dụng; hiệu quả phối hợp chuyên môn tại đơn vị

1.3.2.2 Quản lý sử dụng, bảo quản trang thiết bị

Muốn khai thác tối đa công suất TTBYT, chủ đầu tư cần phải:

- Xác định nhu cầu khám chữa bệnh, tần suất sử dụng thiết bị của đơn vị nhiều hay ít

- Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất để lắp đặt, vận hành thiết bị

- Đào tạo tốt đội ngũ cán bộ trực tiếp vận hành và cán bộ kỹ thuật thiết bị y

cơ quan có chức năng, trình độ, chuyên nghiệp cao về kỹ thuật TBYT)

1.3.2.3 Quản lý hiện trạng trang thiết bị

Một số nội dung chính trong quản lý hiện trạng TTBYT:

- Quản lý số đầu máy/ địa điểm lắp đặt/ đơn vị quản lý

Trang 18

- Quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến thiết bị (tài liệu hướng dẫn sử dụng, bảo dưỡng sửa chữa thiết bị)

 Lập hướng dẫn sử dụng:

Đây là văn bản qui phạm kỹ thuật cần phải viết ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu bằng chữ đậm trên khổ giấy A4 và được thủ trưởng cơ quan ký duyệt, đóng dấu, treo trên máy

a) Kiểm tra trước khi mở máy

b) Trình tự vận hành máy

c) Tắt máy làm vệ sinh và bảo quản

 Lập nhật ký sử dụng máy :

Sau mỗi lần sử dụng máy, thiết bị - người vận hành phải ghi vào nhật ký vận

hành những thông tin sau: Ngày, tháng, năm sử dụng/ thời gian sử dụng/ người sử

dụng/ tình trạng máy sau khi sử dụng

Nếu máy có sự cố trong ca làm việc thì báo ngay lãnh khoa, phòng VTTTB cùng lập biên bản và xác định mức độ hư hỏng, nguyên nhân, hướng khắc phục

Việc nhật ký máy ghi đầy đủ hàng ngày sẽ giúp cho công tác đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng và tính được hiệu quả đầu tư

 Lập sổ theo dõi (quản lý) thiết bị hay gọi là lý lịch thiết bị:

Mỗi cuốn lý lịch dùng cho một thiết bị, trong đó cần ghi các thông tin: Tên thiết bị (bao gồm: ký hiệu mã, model, nước sản xuất), cấu hình, năm nhận thiết bị, giá tiền, nguồn kinh phí, đơn vị cung cấp thiết bị, tên người quản lý trực tiếp, vị trí lắp đặt, tình trạng thiết bị lúc tiếp nhận ngoài ra còn có các trang để ghi: số lần hỏng hóc, ngày dừng máy để sửa chữa, bộ phận sửa chữa, chất lượng (các chức năng của máy) sau sửa chữa, di biến động của thiết bị (bao gồm cả phần mua sắm nâng cấp, chuyển đơn vị, người sử dụng)

1.3.2.4 Quản lý chất lượng trang thiết bị

Chất lượng thiết bị được đánh giá theo các chỉ số cơ bản sau:

- Thiết bị là sản phẩm của dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng nào? ISO, FDA, EC, TCVN, TCN

- Chứng chỉ kiểm chuẩn: theo định kỳ 6 tháng hoặc 12 tháng (tuỳ theo từng thiết bị) tất cả TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở phải được cơ quan có thẩm quyền đến kiểm định và cấp chứng chỉ

Trang 19

- Biên bản kiểm chuẩn: là tài liệu ghi lại các kết quả trong quá trình kiểm chuẩn, đặc biệt là các số liệu và kết quả của việc kiểm đo lường Đây là tài liệu gốc

có tính chất pháp lý quan trọng vì nó là cơ sở để đánh giá, phân tích kết quả kiểm chuẩn Người kiểm chuẩn, phương tiện đo phải ghi lại đầy đủ và trung thực các số liệu, không được tùy tiện vứt bỏ các số liệu mà mình cảm thấy vô lý

- Uy tín, kinh nghiệm của nhà sản xuất

Ngoài 4 thông số trên chất lượng còn phụ thuộc vào: Điều kiện lắp đặt, bảo quản, Trình độ của người trực tiếp khai thác sử dụng, Tính an toàn và hiệu quả

Hiện nay trong ngành y tế công việc kiểm chuẩn để đánh giá chất lượng các trang thiết bị rất còn hạn chế và tùy tiện do những lý do sau: Chưa chấp hành nghiêm các pháp lệnh đo lường trong công tác chăm sóc, bảo vệ sức khỏe; Dự toán cấp kinh phí hàng năm không có kinh phí để kiểm chuẩn TTB; Trang thiết bị để kiểm chuẩn chưa đáp ứng kịp nhu cầu kiểm chuẩn TTB

1.3.2.5 Quản lý bảo dưỡng - sửa chữa trang thiết bị:

Điều kiện vật chất cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTB: nhân lực, dụng

cụ sửa chữa, thiết bị đo lường chuyên dụng, tài liệu kỹ thuật, phụ tùng thay thế, kinh phí cho hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa

Bảo dưỡng TTB: là tiến hành bảo dưỡng theo kế hoạch Dựa vào số lượng,

chủng loại TTB trong phạm vi quản lý, người phụ trách xây dựng lịch bảo dưỡng theo yêu cầu cụ thể của từng loại thiết bị và trình độ cán bộ kỹ thuật cần để tiến hành một hoạt động bảo dưỡng để làm cơ sở phân công công việc cho từng người Thông thường ta chia ra làm 3 loại bảo dưỡng:

a Bảo dưỡng thường nhật: vệ sinh TTBYT hàng ngày, lau TTBYT sau khi sử dụng (tất cả các TTBYT hay dùng tại các khoa phòng)

b Bảo dưỡng thường quy: các TTBYT như máy thở, máy hút đờm…

c Bảo dưỡng thường kỳ: 3 tháng, 6 tháng, 1 năm 1 lần

Lưu ý: những máy có giá trị cao như máy, máy CT, MRI… những nhân viên thực hiện công tác bảo dưỡng máy phải được đào tạo, hoặc tìm đến những đơn vị bảo dưỡng có thương hiệu để hiệu chỉnh các thông số nhầm đảm bảo cho máy hoạt động chính xác

Nếu thực hiện bảo dưỡng dự phòng tốt thì thiết bị có tuổi thọ cao, nâng cao hiệu quả sử dụng trong đầu tư

Trang 20

Sửa chữa TTB:

Mặc dù công tác bảo dưỡng theo kế hoạch được tiến hành tốt, song TBYT

vẫn có hỏng hóc bất thường cần được tổ chức sửa chữa kịp thời

Có hai hình thức sửa chữa TTBYT được áp dụng:

 Tự sửa chữa

Được thực hiện bởi phòng vật tư – thiết bị y tế của đơn vị

Trong trường hợp máy hư nặng không có phụ tùng thay thế ngay phòng VT – TBYT phải báo cho khoa để biết lý do không hoạt động được, đối với các thiết bị lớn lãnh đạo khoa và phòng vật tư-TBYT phải báo cáo ban giám đốc để có hướng

xử lý Khi bàn giao sửa chữa cần phải có biên bản giao nhận máy ghi rõ tình trạng của máy, các phụ kiện đi theo máy và phải ký tên ghi rõ họ tên người nhận máy

 Thuê sửa chữa

Trường hợp TTBYT bị hỏng nặng mà phòng vật tư không thể tự sửa chữa được thì báo cho lãnh đạo bệnh viện để ký hợp đồng thuê các đơn vị khác có khả năng sửa chữa TTBYT đó

- Có loại hợp đồng ký cho việc sửa chữa 1 lần hỏng hóc của một thiết bị cụ thể

- Có loại hợp đồng ký cho việc bảo dưỡng sửa chữa cho một thiết bị trong một năm

- Có loại hợp đồng ký cho việc bảo dưỡng sửa chữa cho tất cả các loại TTBYT của đơn vị trong 1 năm

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo nhu cầu trang thiết bị y tế [20]

1.4.1 Yếu tố nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực bao gồm các kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các nhà kinh tế hoạt động trong lĩnh vực TTBYT Nguồn nhân lực này được phân bố với một tỷ lệ hợp lý ở các lĩnh vực: quản lý, đào tạo, nghiên cứu - phát triển, sản xuất kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật y tế

Ở Việt nam cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chủ chốt về lĩnh vực thiết bị y tế còn ít, chỉ có trường đại học Bách khoa Hà nội, Bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, Học viện kỹ thuật Ngoài ra còn một cơ sở đào tạo nữa là trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết bị y tế Hà Nội và trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết bị y tế Bình Dương, hai trường này đang đào tạo bậc trung cấp, cao đẳng với số lượng khoảng 300 học viên mỗi năm Với số lượng trên 1000 cơ sở y tế trên toàn quốc,

Trang 21

nhu cầu về nguồn nhân lực là rất lớn, nhưng khả năng đáp ứng thì còn nhiều hạn chế

1.4.2 Yếu tố khoa học công nghệ

Sự phát triển nhanh và đa dạng của khoa học công nghệ ở thời kỳ “Kinh tế tri thức” đã và đang tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người Sự tác động này mang tính tích cực Ngành Y tế đang phải đứng trước các yêu cầu mới đó là:

- Độ chính xác trong chẩn đoán và điều trị phải rất cao

- Thời gian phát hiện bệnh phải rất sớm

- Công tác chẩn đoán và điều trị phải đi từ vĩ mô đến vi mô, từ toàn thân đến

bộ phận, từ bộ phận đến tế bào và từ tế bào đến các siêu vi mô

1.4.3 Yếu tố cung ứng trang thiết bị y tế

Hệ thống cung ứng và lưu thông phân phối trang thiết bị y tế được hình thành một mạng lưới từ Trung ương đến các địa phương và được mở rộng với sự

tham gia của nhiều thành phần kinh tế

Một số tỉnh có các công ty dược - trang thiết bị y tế có nhiệm vụ cung cấp các dụng cụ, vật tư cho các cơ sở y tế trong tỉnh

Các huyện có các cửa hàng kinh doanh vật tư dụng cụ y tế và các cửa hàng dược - vật tư y tế

Ngoài các công ty thiết bị y tế của Nhà nước còn có rất nhiều các công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, các công ty liên doanh hoạt đông trong lĩnh vực kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật y tế Hiện nay khối này là chủ yếu

1.4.4 Yếu tố xác định nhu cầu trang thiết bị

Điểm để hình thành nhu cầu trang thiết bị y tế là do phát triển mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp và đa dạng, đồng thời yếu tố tâm lý của người bệnh là muốn phát hiện bệnh tật bằng những thiết bị hiện đại nhất hiện có tại Việt Nam

Để xác định được nhu cầu TTBYT trước hết phải do sự hoạch định của các nhà chuyên môn y tế trên cơ sở mô hình bệnh tật và nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân

1.4.5 Yếu tố pháp lý

Yếu tố pháp lý là hệ thống văn bản pháp quy liên quan đến nghiên cứu phát triển, sản xuất kinh doanh, đảm bảo chất lượng, các dịch vụ KHKT và cả định hướng phát triển, chính sách phát triển TTBYT

Trang 22

1.4.6 Yếu tố tài chính

Tài chính là yếu tố vô cùng quan trọng và có tính chất quyết định đến đảm bảo nhu cầu TTBYT Muốn sử dụng tối ưu được nguồn vốn, ta phải xây dựng được các kế hoạch đầu tư bao gồm: kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch dài hạn

Phân bổ hợp lý giữa phần “cứng” và phần “mềm” Đầu tư “cứng” là đầu tư vào thiết bị và duy trì thiết bị Đầu tư “mềm” là đầu tư đào tạo cán bộ sử dụng, khai thác, bảo quản và duy trì hoạt động đúng quy trình của thiết bị

1.5 Các văn bản pháp lý trong công tác quản lý trang thiết bị y tế

Quyết định số 130/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 Quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 – 2010 [16]

Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/2/2002 Quyết định của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản [9]

Quyết định số 54/2014/QĐ-TTg ngày 19/09/2014 Quyết định của Thủ tướng chính phủ về miễn thuế nhập khẩu đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp rắp sản phẩm trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu chế tạo

Quyết định số 13/2007/QĐ-BKHCN ngày 06/7/2007 Quyết định của Bộ Khoa học Công nghệ về ban hành danh mục phương tiện đo phải kiểm định [5]

Chỉ thị số 01/2003/CT-BYT ngày 16/3/2003 Chỉ thị của Bộ Y tế về việc tăng cường công tác quản lý trang thiết bị y tế [11]

Thông tư số 15/2007/TT-BYT ngày 12/12/2007 Thông tư của Bộ Y tế hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc sử dụng tài sản để liên doanh liên kết hoặc góp vốn liên doanh để mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động dịch vụ của các cơ sở y tế công lập [13]

Thông tư số 13/2002/TT-BYT ngày 13/12/2002 Thông tư của Bộ Y tế hướng dẫn điều kiện kinh doanh trang thiết bị y tế [10]

Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Nghị định của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập [17]

Trang 23

Nghị định 36/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 Nghị định của chính phủ quy định về quản lý trang thiết bị [18]

1.6 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

Ngày nay TTBYT hiện đại là sản phẩm của việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến đã giúp cho việc chẩn đoán nhanh chóng, chính xác,

an toàn, hiệu quả và ít biến chứng cho người bệnh

Trang thiết bị y tế rất đa dạng về chủng loại và có rất nhiều mẫu mã, kiểu dáng trong cùng chủng loại Theo thống kê của WHO, hiện nay có hơn 10.500 loại trang thiết bị y tế đang được sử dụng, từ những thiết bị hiện đại như máy chụp cộng hưởng từ (Magnetic Resonance Imaging - MRI), máy chụp mạch máu (Angiography), CT Scanner đa dãy đầu dò, đến các loại đơn giản như: máy trợ thính, kính thuốc, nẹp, vít dùng trong phẫu thuật chỉnh hình, kim khâu phẫu thuật…

Để sử dụng các TTBYT hiệu quả, cần phải có kế hoạch đầu tư và phân bổ hợp lý Khi so sánh tình hình đầu tư máy CT và MRI tại một số nước trên thế giới,

có thể thấy sự chênh lệch khá lớn giữa các nước này

Bảng 1.3: So sánh tình hình sử dụng một số loại TTB công nghệ cao [33]

ĐVT: Nghìn người

Singapore Malaysia Indonesia

Số người bình quân một máy chụp cắt lớp và MRI tại Indonesia lớn hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như: Singapore và Malaysia, hai nước có mức GDP bình quân đầu người cao Nhưng khi so với Canada thì việc TTBYT công nghệ cao của các nước này còn ở mức thấp Ở các nước phát triển, bên cạnh việc đầu tư TTBYT công nghệ cao tại các cơ sở khám chữa bệnh cũng rất lớn

Bảng 1.4: Tần suất sử dụng một số TTB hiện đại tại một số quốc gia

ĐVT: Lần sử dụng/năm/máy

Trang 24

Xét về giá trị kinh tế, TTBYT chiếm một phần hết sức to lớn: WHO đã báo động cho cộng đồng thế giới rằng khối lượng tài sản TTBYT trên toàn thế giới khổng lồ, chi phí hàng năm để duy trì hoạt động và bổ sung TTBYT gấp 1,5 lần chi phí thuốc chữa bệnh cho toàn nhân loại Hiện tượng lãng phí tiền của trong lĩnh vực này khá lớn

Như vậy, ta có thể thấy TTBYT có vai trò rất to lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân loại Việc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất trang thiết bị y tế hiện đại đã đem lại cho con người rất nhiều lợi ích Tuy nhiên, việc sử dụng TTBYT trên thế giới đang còn chưa hợp lý, chưa phát huy được hết hiệu quả nên chưa đạt được kết quả như mong muốn [7]

1.7 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam

Từng bước đổi mới công tác quản lý, sắp xếp và tổ chức lại hệ thống công ty,

xí nghiệp thiết bị y tế, các viện nghiên cứu và trường đào tạo, bước đầu lập lại trật

tự trong lĩnh vực kinh doanh, xuất nhập khẩu TTBYT Một số nhà máy, xí nghiệp sản xuất TTBYT đã được đầu tư chiều sâu đổi mới công nghệ Những TTBYT thông thường, thiết bị nội thất bệnh viện sản xuất trong nước đã được tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của Ngành Y tế và bước đầu xuất khẩu

Tại các bệnh viện tỉnh, các khoa chủ yếu như: Chẩn đoán hình ảnh (CĐHA), Xét nghiệm sinh hóa, phòng mổ và Hồi sức cấp cứu đã được trang bị một số thiết bị

cơ bản: máy X - quang cao tần - tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, nội soi, xét nghiệm sinh hóa nhiều chỉ số, máy huyết học, máy gây mê, máy thở, máy sốc tim, máy theo dõi bệnh nhân v.v…

Theo báo cáo kiểm tra 720 bệnh viện năm 2005 của Vụ Điều trị - Bộ Y tế cho thấy tình hình sử dụng chẩn đoán cận lâm sàng năm 2004 – 2005 tăng cao:

Trang 25

Bảng 1.5: Tình hình sử dụng chẩn đoán cận lâm sàng năm 2004 – 2005 [12]

Đơn vị: Triệu lượt

Bên cạnh đầu tư từ ngân sách nhà nước và viện trợ, ngành y tế Việt Nam đã từng bước mở rộng xã hội hóa, cho phép một số hình thức huy động tài chính để trang bị thêm máy móc, trang bị Hiện nay hình thức phổ biến trong các bệnh viện công huy động tài chính dưới các hình thức: liên doanh, liên kết đặt máy phân chia lợi nhuận hoặc đặt máy độc quyền cung cấp hóa chất Nhờ phương thức này, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao đã được triển khai (mà không có nguồn vốn nhà nước) như chẩn đoán hình ảnh (MRI, CT scan, siêu âm), xét nghiệm, nội soi chẩn đoán và can thiệp; nguồn thu tài chính của bệnh viện tăng lên và giúp phát triển kỹ thuật tại các bệnh viện Như vậy, cùng với chủ trương tự chủ hóa, việc xã hội hóa trong thời gian qua đã thu hút được một lượng vốn tương đối lớn cho Ngành Y tế, góp phần làm giảm gánh nặng đầu tư cho y tế bằng nguồn ngân sách Nhà nước [13]

1.7.2 Một số bất cập và thách thức lớn

Mặc dù đạt được một số kết quả ban đầu như trên, trong lĩnh vực trang thiết

bị còn tồn tại nhiều vấn đề cần phải được quan tâm, chỉ đạo giải quyết trong giai đoạn tới, cụ thể [14]:

1.7.2.1 Hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực trang thiết bị chưa được hoàn chỉnh

Hệ thống các văn bản pháp quy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực TTBYT còn thiếu và chưa cập nhật thường xuyên Cụ thể là:

Thiếu chính sách khuyến khích, hỗ trợ ngành công nghiệp sản xuất TTBYT trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới

Trang 26

Thiếu các thông tư hướng dẫn các hoạt động nhập khẩu TTBYT

Ngoài ra còn thiếu và chưa cập nhật thường xuyên các văn bản pháp quy khác về tiêu chuẩn hoá, về quản lý đầu tư từ các nguồn “xã hội hóa”, xuất nhập khẩu và kinh doanh TTBYT, quản lý và thanh tra, giám sát sử dụng, hiệu chỉnh, bảo dưỡng TTBYT trong các cơ sở KCB nhằm bảo đảm an toàn và hiệu quả cho người bệnh

1.7.2.2 Hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực trang thiết bị y tế còn hạn chế

Hầu hết các bệnh viện ở nước ta là bệnh viện công, nên vốn để mua sắm TTB chủ yếu là từ ngân sách chính phủ và viện trợ, cho tặng Tuy đã được cố gắng đầu tư, song tình trạng chung về trang thiết bị y tế của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và lạc hậu so với các nước trong khu vực Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao và bảo trì, bảo dưỡng Theo thông tin từ Cục Quản lý khám chữa bệnh, trang thiết bị y tế (trong danh mục Bộ Y

tế ban hành) tại các Bệnh viện huyện mới đạt từ 30 - 50%, đặc biệt có huyện chỉ đạt 20%, còn thiếu nhiều thiết bị cần thiết phục vụ công tác chẩn đoán, cấp cứu và điều trị như X - quang, siêu âm, xét nghiệm sinh hóa, huyết học, máy thở, máy theo dõi bệnh nhân, dụng cụ mổ, đèn mổ Hầu hết các bệnh viện đầu tư vào TTBYT, trở thành công cụ cạnh tranh và nâng cao uy tín bệnh viện (bên cạnh các lợi ích về chuyên môn), tuy nhiên đã có dấu hiệu xuất hiện các hạn chế như xu hướng lệ thuộc TTB, lãng phí do thiếu hiểu biết sử dụng, đầu tư TTB không gắn với năng lực sử dụng, tiếp thu công nghệ không chọn lọc, thiếu định hướng của Nhà nước

1.7.2.3 Nguồn nhân lực trong lĩnh vực trang thiết bị y tế chưa đáp ứng nhu cầu

Căn cứ vào các đánh giá hiện tại, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực TTBYT (sản xuất, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, kỹ thuật viên hoạt động TTBYT,

và bác sĩ chỉ định và sử dụng kết quả trong chẩn đoán) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế cả về số lượng và chất lượng

Quản lý đào tạo, phát triển nguồn nhân lực về TTBYT chưa đáp ứng yêu cầu của ngành trong phạm vi cả nước Theo thống kê của Bộ Y tế, tỷ lệ cán bộ kỹ thuật

về TTBYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và tuyến huyện còn thấp (trong đó

có 6% là kỹ sư, 35% là kỹ thuật viên, công nhân kỹ thuật, 59% còn lại là các bác sỹ,

Trang 27

dược sỹ kiêm nhiệm) Nội dung, chương trình của các cơ sở đào tạo về TTBYT còn nghèo nàn, chưa thiết thực, chưa được cập nhật thường xuyên đáp ứng với công nghệ và TTBYT mới và yêu cầu thực tế sử dụng

1.7.2.4 Sản xuất trang thiết bị y tế tại Việt Nam còn yếu

Các sản phẩm TTBYT được sản xuất trong nước chưa thật sự chiếm được niềm tin của các cơ sở y tế Vấn đề tồn tại này một phần do chất lượng của các sản phẩm TTBYT sản xuất trong nước chưa thật sự cao, độ ổn định, độ chính xác, bền vững và tin cậy còn thấp, còn hay bị hỏng vặt và chưa đáp ứng được yêu cầu cao về TTBYT

1.7.2.5 Bảo đảm chất lượng trang thiết bị còn hạn chế

Công tác kiểm chuẩn, bảo hành, bảo dưỡng và sửa chữa TTBYT chưa được quan tâm đúng mức tại nhiều cơ sở y tế (nhất là cơ sở y tế thuộc tuyến tỉnh, huyện

và các phòng khám khu vực), nên TTBYT bị xuống cấp nhanh, tuổi thọ giảm

1.8 Qui định của Nhà nước về kiểm chuẩn trang thiết bị y tế

Một vấn đề bức xúc hiện nay là vấn đề kiểm chuẩn xét nghiệm và các kỹ thuật cận lâm sàng Trên thực tế, TTB xét nghiệm của đa số các BV tuyến huyện và một số BV tuyến tỉnh còn nghèo nàn, phần lớn cán bộ xét nghiệm chưa được đào tạo chuyên môn đầy đủ và toàn diện Chỉ có một số BV lớn thực hiện nội kiểm và ngoại kiểm một cách tự phát, hầu hết các kết quả xét nghiệm không có chuẩn mực đánh giá và không thực hiện phương pháp kiểm tra chất lượng nào Điều này dẫn đến việc không tin tưởng kết quả XN của nhau giữa các BV làm cho khi chuyển viện phải lặp lại XN gây phiền hà tốn kém thời gian cũng như tiền bạc của BN, NVYT và xã hội

Thiết bị XN, hóa chất VTTH cũng đa dạng và được cung cấp khác nhau với chất lượng cũng khác nhau và khó kiểm soát dẫn tới ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm

Một số nghiên cứu đánh giá về tình hình trang thiết bị y tế tại các bệnh viện

đa khoa tuyến tỉnh cho thấy tỷ lệ TTB không được sử dụng hết công suất còn khá cao khoảng 20% [21]

Bên cạnh đó cũng có nhiều trường hợp lạm dụng xét nghiệm hơn mức cần thiết như siêu âm, chụp CT…với mục đích sàng lọc

Trang 28

Bộ Y tế đang xây dựng chiến lược về kiểm chuẩn XN và chẩn đoán y học để từng bước giải quyết vấn đề này [32]

1.9 Nghiên cứu thực trạng quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

và tại Việt Nam

1.9.1 Nghiên cứu thực trạng quản lý trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thực trạng quản lý trang thiết bị y

tế trong bệnh viện cũng như các yếu tố liên quan đến thực trạng quản lý

Nghiên cứu của Feek-Jan Ronner về điều tra thực tế việc mua trang thiết bị chẩn đoán tại 2 bệnh viện ở Hà Lan là Maasstad và Sint Lucas Andreas với phương pháp nghiên cứu mô tả, kết quả cho thấy có nhiều điểm yếu trong thực tế mua thiết

bị chẩn đoán Điểm yếu quan trọng nhất được tìm thấy bao gồm: 1) thiếu sự phối hợp và mục tiêu rõ ràng, 2) khó khăn trong việc quy định cụ thể về yêu cầu kỹ thuật

và chi phí đầu tư, 3) thiếu đo lường hiệu suất của các nhà cung cấp và sự thỏa thuận với các nhà cung cấp cho hoạt động bảo trì, 4) không có liên kết giữa quá trình mua hàng và giai đoạn khai thác, và 5) không rõ ràng nhiệm vụ và trách nhiệm trong quá trình đầu tư tổng thể [34]

Nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi về tình hình quản lý

trang thiết bị y sinh trong bệnh viện của Nepal, kết quả cho thấy: quản lý trang thiết

bị y tế tại các bệnh viện của Nepal là rất kém Thiết bị y tế được sử dụng mà không

có lập kế hoạch đầy đủ và hiệu quả Mua sắm thường được đưa ra theo cách không khoa học mà không có đánh giá nhu cầu thích hợp dẫn đến nhập khẩu một loạt các thiết bị, trong đó có một số thiết bị không cần thiết Các thiết bị y tế đắt tiền không

sử dụng do thiếu kỹ năng xử lý và vận hành Thiết bị khi mua mới phải chờ thời gian dài làm thủ tục hoặc các hoạt động bảo trì và sửa chữa Chất lượng của thiết bị hoặc là không tuân thủ với các tiêu chuẩn an toàn quốc tế hoặc là quá kém gần như thiết bị bị hỏng Thiết bị lỗi thời tăng không chỉ do tuổi của thiết bị mà còn do sử dụng sai và quá kém hoặc không có bảo dưỡng phòng ngừa và khắc phục Bệnh viện không có một đội ngũ bảo trì thích hợp hoặc sổ sách ghi chép đúng để đánh giá các chi phí/lợi ích của các dịch vụ trong tổ chức Sửa chữa và bảo trì thường do dịch

vụ bên ngoài thực hiện do bệnh viện thiếu năng lực Ngay cả các sửa chữa nhỏ cũng phụ thuộc đơn vị bên ngoài là nguyên nhân làm cho chi phí bệnh viện cao hơn cần thiết [36]

Trang 29

Theo kết quả nghiên cứu về trang thiết bị y tế ở Bangladesh được thực hiện bởi một nhóm các chuyên gia của tập đoàn Simed về chăm sóc y tế, mục tiêu của nghiên cứu này là để đánh giá các thiết bị y tế đã được mua sắm trong một số năm

và đưa ra khuyến nghị nhằm tăng cường các thành phần khác nhau của chu kỳ mua sắm và quản lý trong Bộ Y tế và Phúc lợi Gia đình (MoHFW) Để thực hiện điều này, một đánh giá về thực trạng quản lý trang thiết bị được thực hiện bằng cách nghiên cứu thiết bị đại diện đã được cung cấp thuộc Chương trình Dân số Y tế (HPSP) trong giai đoạn 2000 - 2005 Phương pháp nghiên cứu được áp dụng là một

sự kết hợp chương trình xem xét tài liệu liên quan, đánh giá các hệ thống hiện có ở

cả Trung tâm kho hàng y tế (CMSD), Phân xưởng bảo trì thiết bị điện tử quốc gia

và Trung tâm Đào tạo (NEMEW & TC) và Phân xưởng Bảo trì Thiết bị điện tử khu vực (DEMEW) Kế tiếp, cơ sở chính của nghiên cứu là một cuộc khảo sát lớn bao gồm 50 địa phương trong 3 vùng Rajshahi, Dhaka và Chittagong 9 bệnh viện được lựa chọn để phỏng vấn nhằm tìm hiểu quan điểm của người sử dụng: việc đào tạo đã được cung cấp theo các thiết bị, hiệu quả và chất lượng của việc bảo trì và mức độ hài lòng của người sử dụng về thiết bị Để chuẩn bị cho các cuộc khảo sát và chọn các địa điểm, tại CMSD có tổng cộng 54 hợp đồng mua sắm thiết bị y tế chính thức

đã được phân tích Phát hiện chính của cuộc điều tra là chỉ có 50% thiết bị được cung cấp có hiệu quả sử dụng đến thời điểm cuối cùng của nó Trong số 50% còn lại của thiết bị y tế không được sử dụng có 17% trong điều kiện làm việc, nhưng không sử dụng; 16% không được cài đặt và 17% bị hỏng Tuy nhiên, một phân tích

về hiệu quả kinh tế của các thiết bị cho thấy chỉ có 25% tổng giá trị thiết bị y tế lớn không có hiệu quả sử dụng Rõ ràng có nhiều nỗ lực trong việc sử dụng hiệu quả thiết bị đắt tiền (công nghệ cao) kế đến là sử dụng thiết bị có giá trị vừa phải Những lý do chính cho thấy mức độ không hiệu quả của thiết bị là: thiếu lập kế hoạch toàn diện cho thiết bị, thiếu hệ thống phân phối và khả năng bảo trì [37]

1.9.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam đã một số nghiên cứu đánh giá sơ bộ về quản lý TTBYT tại các bệnh viện Phần lớn các nghiên cứu chỉ mới đánh giá thực trạng quản lý TTBYT như: đầu tư, mua sắm; bảo quản, sử dụng: chất lượng; hiện trạng và bảo dưỡng sửa chữa như:

Quản lý đầu tư, mua sắm TTBYT

Trang 30

Đầu tư TTBYT là một điều cần thiết để nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên trong cơ chế chi trả theo dịch vụ nếu đầu tư quá nhiều và phân

bổ không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng các xét nghiệm cận lâm sàng

Kết quả nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh về phân tích, đánh giá hoạt động quản lý trang thiết bị y tế tại một số cơ sở sử dụng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay cho thấy thủ tục thanh toán còn rườm rà gây khó khăn cho hoạt động mua sắm, thậm chí gây lãng phí [1]

Theo nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: thực tế tại BVĐK Long

An, hàng năm, phòng HCQT đều lập kế hoạch mua sắm dựa vào phiếu đề nghị của các khoa, sau đó tổng hợp trình Ban giám đốc Bệnh viện xem xét và tham mưu cho Ban giám đốc Bệnh viện nhu cầu cần thiết cũng như cơ sở vật chất, an toàn điện…để chọn ra thiết bị nào ưu tiên mua sắm [24]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự về kiểm kê và đánh giá thực trạng đầu tư trang thiết bị chẩn đoán tại các Bệnh viện Đa khoa tuyến Tỉnh cho thấy: TTBCĐ và nhân lực sử dụng các TTBCĐ hiện có tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh vẫn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân; hiệu quả đầu

tư chưa cao vì có tình trạng “máy có thì không cần và máy cần thì không có”; tỷ lệ máy cũ trên 10 năm còn khá cao, tỷ lệ TTBCĐ không được sử dụng hết công suất

và tỷ lệ TTBCĐ hỏng cần sửa chữa còn khá cao tại các bệnh viện tỉnh [19]

Quản lý sử dụng, bảo quản TTBYT

Trong nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: một yếu tố nữa ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo quản TTBCĐ chưa tốt đó là công tác tập huấn/đào tạo cho cán bộ sử dụng, bảo quản TTBCĐ hiện nay chưa tốt vì hiện tại tổ TTB chưa

có đủ nhân lực và trình độ để thực hiện việc đào tạo, tập huấn, còn thiếu nhiều kỹ sư chuyên về TTB nên việc đào tạo tập huấn chủ yếu là đưa tuyến trên đào tạo hoặc nhờ công ty lắp đặt TTBCĐ đào tạo, tập huấn ban đầu trước khi đưa vào sử dụng [24]

Năm 2006, Nguyễn Hoàng Long và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá công nghệ y tế ở Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp về chụp cắt lớp vi tính, siêu âm và nội soi tại 5 bệnh viện tỉnh, kết quả cho thấy: phần lớn các máy mới sử dụng trong vòng 5 năm lại đây, hoạt động tốt, trừ máy nội soi ở cả 5/5 bệnh viện đều hỏng và đã sửa chữa do lỗi sử dụng của cán bộ, nguồn điện không ổn định, quá

Trang 31

tải; một số TTB ở một số bệnh viện còn được sử dụng hạn chế do trình độ chuyên môn, thiếu thiết bị phụ trợ (ống nội soi, đầu dò…) [35]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự cho thấy trang thiết bị chẩn đoán và nhân lực sử dụng các TTBCĐ hiện có tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh vẫn chưa hợp lý, chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân; tỷ lệ máy cũ trên

10 năm còn khá cao, tỷ lệ TTBCĐ không được sử dụng hết công suất và tỷ lệ TTBCĐ hỏng cần sửa chữa còn khá cao tại các bệnh viện tỉnh [19]

Muốn cho việc sử dụng TTBYT tại các khoa đạt hiệu quả, cần thiết phải có

sự giám sát sử dụng TTBYT Nghiên cứu của Bùi Việt Hùng cho thấy công tác quản lý, giám sát sử dụng TTBYT của phòng Vật tư là tương đối tốt, tuy nhiên công tác quản lý TTBYT của lãnh đạo các khoa, phòng là chưa tốt, tần số giám sát ít, chưa phân công cụ thể cá nhân phụ trách TTBYT [23]

Quản lý chất lượng TTBYT

Nghiên cứu của Bùi Việt Hùng cho thấy: công tác kiểm định TTBYT còn yếu do quá tải BN, quá tải khối lượng công việc (chế độ KCB luôn thay đổi, BV bắt đầu triển khai mạng Medisoft, áp lực thất thoát viện phí của khoa…) có thể làm cho lãnh đạo các khoa phần nào sao lãng việc giám sát chất lượng các TTBYT trong khoa [23]

Trong nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: việc kiểm chuẩn, kiểm định chủ yếu do bệnh viện hợp đồng với đơn vị bên ngoài có chức năng về kiểm chuẩn được Nhà nước cho phép tiến hành Tuy nhiên, vấn đề chất lượng TTBYT tại BVĐK tỉnh Long An cũng thuộc vào các khó khăn chung của tất cả các bệnh viện

vì công tác kiểm tra chất lượng, đo chuẩn, hiệu chỉnh các TTBYT nhập khẩu cũng như các TTBYT được sản xuất trong nước chưa được thực hiện chặt chẽ Hệ thống các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của các TTBYT chưa đầy đủ và đồng bộ gây khó khăn cho việc kiểm định đánh giá chất lượng của các TTBYT [24]

Quản lý hiện trạng TTBYT

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long và cộng sự cho thấy, phần lớn các TTB

có sổ theo dõi, bảo dưỡng định kỳ theo quy định, nhưng việc cập nhật thông tin chưa đầy đủ [35]

Còn nghiên cứu của Bùi Việt Hùng về thực trạng công tác quản lý TTBYT tại Bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2010 cho thấy: 47% số khoa có đủ lý lịch

Trang 32

máy, 45% số khoa có sổ nhưng không đầy đủ và 8% số khoa không có sổ lý lịch; Phòng Vật tư quản lý tốt số đầu máy/địa điểm lắp đặt/đơn vị quản lý (đạt 100%) [23]

Nghiên cứu của Mai Văn Sâm, việc quản lý tài liệu kỹ thuật: hướng dẫn sử dụng (98,6%), hướng dẫn bảo dưỡng, sửa chữa (75,7%), sổ nhật ký sử dụng TTB (79,3) [28]

Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long cho thấy: còn tỷ lệ nhất định TTB chất lượng kém, thiếu kinh phí cho bảo dưỡng, sửa chữa, mua TTB phụ trợ và vật tư tiêu hao; việc bảo dưỡng, sửa chữa chủ yếu do nhà cung cấp hoặc từ các công ty sửa chữa khu vực đảm nhiệm, kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa lớn nên gây khó khăn cho các bệnh viện [35]

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh cho thấy kinh phí dùng để bảo dưỡng và sửa chữa trang thiết bị còn thấp, chỉ có bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức

và bệnh viện Thanh Nhàn có đủ kinh phí thực hiện Chỉ thị 01 của Bộ Y tế (về dành

từ 5-7% kinh phí mua TTBYT để bảo dưỡng, sửa chữa) Ở các bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình, Nam Định và Phú Thọ có kinh phí quá ít hoặc không có để thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ các TTBYT [1]

Để làm tốt công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT thì cần thiết phải có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và trình độ chuyên môn cao, tuy nhiên, theo nghiên cứu của Hà Đắc Biên thì với sự bùng nổ về số lượng và chất lượng của các loại TBYT đang được khai thác sử dụng trong Ngành y tế, thì số lượng, chất lượng đội ngũ cán

bộ kỹ thuật TBYT lại là một thực tế rất khác hẳn: vừa thiếu về số lượng, rất hạn chế

về chất lượng, mà lại được tổ chức sử dụng chưa hợp lý dẫn tới hiệu quả khai thác

sử dụng TTBYT đã được trang bị còn rất hạn chế Công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT làm không tốt với nhiều TBYT thế hệ mới dẫn tới “tuổi thọ làm việc” của thiết bị thấp [4]

Nghiên cứu của Đoàn Quang Minh cũng chỉ ra rằng hiện nay tại một số bệnh viện tỉnh không có tổ chức phòng vật tư thiết bị y tế mà hình thành tổ vật tư TBYT không đủ biên chế kỹ sư, dụng cụ đồ nghề thiếu lại không có linh kiện, phụ kiện, phụ tùng thay thế cần thiết [27]

Trang 33

Nghiên cứu của Bùi Việt Hùng cũng chỉ ra số lượng cán bộ kỹ thuật phòng Vật tư chưa đáp ứng khối lượng công việc hiện tại [23]

1.10 Giới thiệu về Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang

1.10.1 Vài nét về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang

Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang là Bệnh viện hạng II tuyến tỉnh, trực

thuộc sở y tế Hậu Giang Tiền thân là Bệnh viện Lê Hữu Sanh, đến năm 1972 sát nhập với Bệnh viện dã chiến và đổi tên là Bệnh viện quân dân y phối hợp với qui

mô 120 giường bệnh, sau năm 1975 đổi tên là Bệnh viện đa khoa Vị Thanh với qui

mô 200 giường bệnh Đến năm 2004 tỉnh Hậu Giang thành lập trên cơ sở chia tách

từ tỉnh Cần Thơ và lấy tên là Bệnh viện đa khoa tỉnh Hậu Giang

Bệnh viện với chỉ tiêu giường bệnh là 600, cơ cấu có 08 phòng chức năng,

06 khoa cận lâm sàng, 19 khoa lâm sàng với tổng số cán bộ là 560 Trong đó 100 Bác sĩ (7 CKII, 41CKI, 5 Ths, 47 BS), Dược sĩ 56 (DSCKI 6, DSĐH 17, DSTH33,

y sỹ 10, 222 Điều dưỡng (31ĐDĐH, 27 ĐDCĐ, 165 ĐDTH), hộ sinh 30 (CN 4, TH 26), kỹ thuật viên 45 ( CN 11, CĐ 1, TH33) và 97 cán bộ khác ( Ths 3, ĐH 27, CĐ

5, TH 19, PTTH 49)

1.10.2 Thực trạng quản lý trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang

Được sự quan tâm của Tỉnh ủy, UBND và các cơ quan ban ngành trong tỉnh

đã đầu tư, xây dựng Bệnh viện Đa khoa mới và đưa vào hoạt động từ tháng 5 năm

2013 với qui mô 500 giường bệnh

Với cơ sở vật chất khang trang và trang thiết bị tương đối hiện đại đã phát huy được hiệu quả, nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật được áp dụng, chất lượng khám và điều trị được nâng lên, mức độ hài lòng của bệnh nhân được cải thiện đã góp phần trong sự nghiệp chăm lo sức khỏe cho nhân dân tỉnh nhà và các tỉnh lân cận

Tính đến năm 2016, tại Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang đã có hơn 550 TTBYT các loại dùng để chẩn đoán và điều trị, nhiều TTBYT có giá trị lớn, hiện tại

đã được đưa vào sử dụng tại bệnh viện như:

Khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng: Máy chụp cộng hưởng từ (MRI), máy CT Scanner, hệ thống X - Quang kỹ thuật số, máy chụp mạch (DSA), máy siêu âm 4D, máy X - Quang chụp nhũ ảnh, Hệ thống nội soi chẩn đoán dạ dày đại tràng, Hệ thống nội soi niệu quản.…

Trang 34

Khoa Xét nghiệm: Máy sinh hóa tự động, Máy huyết học tự động, máy miễn dịch tự động, hệ thống Elisa, Máy đông máu tự động, máy điện di, tủ trữ hóa chất,

tủ trữ máu, Máy điện giải đồ, máy ly tâm

Khoa Vi sinh: Hệ thống Elisa, Tủ an toàn sinh học, tủ ấm vi sinh, máy đo PCR, Máy đo PH, kính hiển vi sinh kỹ thuật số có chụp ảnh, tủ sấy,…

Khoa Giải phẫu bệnh: Máy cắt lát, máy xử lý mô tự động, máy đổ khuôn – vùi mô, Bể tải cắt lát, bàn sấy lam, kính hiển vi 2 mắt kỹ thuật số có chụp ảnh…

Mặc dù đã được đầu tư mới một số trang thiết bị và sự quan tâm của Ban lãnh đạo nhưng nhìn chung trang thiết bị tại Bệnh viện Đa khoa còn thiếu về chủng loại so với quy định của Bộ Y tế tại Quyết định số 437/QÐ-BYT ngày 20/02/2002 [3], TTB chưa đồng bộ, lạc hậu so với các Bệnh viện tuyến trên và một số các Bệnh viện tỉnh bạn Nhân viên có trình độ về chuyên môn kỹ thuật cao còn hạn chế, vì vậy hiệu quả quản lý và sử dụng TTBYT tại BV chưa cao

Dưới sự quyết tâm của Ban giám đốc Bệnh viện, nhiều biện pháp nhằm nâng cao chất lượng của bệnh viện đã và đang được thực hiện, tuy nhiên về lĩnh vực quản

lý trang thiết bị y tế chưa thật tốt, tại bệnh viện cũng chưa có nghiên cứu về lĩnh vực này, đặc biệt chưa có nghiên cứu về thực trạng quản lý trang thiết bị chẩn đoán

Trang 35

KHUNG LÝ THUYẾT

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tài liệu quản lý trang thiết bị y tế của Nguyễn Việt Cường [20], Nguyễn Minh Tuấn [30], Lương Văn Hường [26] và một số tác giả có công trình nghiên cứu như: Đoàn Quang Minh [27], Mai Văn Sâm [28], Bùi Việt Hùng [23]

Ngoài ra khi xây dựng khung lý thuyết chúng tôi còn căn cứ thêm vào các văn bản chính sách quy định về quản lý trang thiết bị y tế tại Việt Nam như:

Quản lý TTBCĐ

Đầu tư mua sắm

BD, sửa chữa

QL chất lượng

Quản lý hiện trạng

Sử dụng, bảo quản

- Yếu tố cá nhân

- Cung cấp dịch vụ

Trang 36

Quyết định số 130/2002/QĐ-TTg ngày 04/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chính sách quốc gia về Trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 –

2010 [16]

Quyết định số 437/QĐ-BYT ngày 20/2/2002 Quyết định của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục trang thiết bị y tế bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, huyện, phòng khám đa khoa khu vực, trạm y tế xã và túi y tế thôn bản [9]

Chỉ thị 01/2003/CT-BYT ngày 13/06/2003 của Bộ Y tế về việc tăng cường quản lý trang thiết bị y tế [11]

Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 Nghị định của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập [17]

Nghiên cứu thực trạng và yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý trang thiết

bị chẩn đoán tại BVĐK tỉnh Hậu Giang năm 2016 được xem xét trên các mặt: quản

lý đầu tư, mua sắm TTBCĐ; quản lý sử dụng, bảo quản TTBCĐ; quản lý hiện trạng TTBCĐ; quản lý chất lượng TTBCĐ; quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ để từ

đó có những khuyến nghị để nâng cao hiệu quả quản lý TTBCĐ đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng cao tại bệnh viện Qua đó bệnh nhân đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa Hậu Giang sẽ được hưởng lợi từ các dịch vụ kỹ thuật cao mà bệnh viện cung cấp

Trang 37

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các Trang thiết bị chẩn đoán tại 4 Khoa cận lâm sàng: Chẩn đoán hình ảnh

- Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh

- Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo 5 khoa, phòng: Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh và Phòng Vật tư - Thiết bị y tế

- Cán bộ y tế trực tiếp sử dụng, bảo quản, cán bộ kỹ thuật trực tiếp bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ tại 4 khoa cận lâm sàng: Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh và phòng Vật tư – Thiết bị y tế

- Số liệu thứ cấp:

+ Sổ sách ghi chép báo cáo về công tác quản lý sử dụng các TTBCĐ, Các báo cáo kiểm kê trang thiết bị, danh sách các TTBCĐ hiện có, số liệu kinh phí dành cho mua sắm, sửa chữa TTBCĐ, số liệu thống kê báo cáo về nhân lực và hoạt động chuyên môn của Bệnh viện giai đoạn 2014 - 2016

2.1.1 Nghiên cứu định lượng:

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Thiết bị chẩn đoán: Các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán thuộc các nhóm 1, 2, 3 của bảng phân loại trang

thiết bị y tế bệnh viện tại 4 khoa (Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, xét

nghiệm, Vi sinh, Giải phẫu bệnh) dựa vào bảng phân loại TTBYT theo nội dung

chuyên môn (Bảng 1.2) Các thiết bị chẩn đoán này có thời gian sử dụng lớn hơn 1

năm

- Cán bộ của 4 khoa tham gia nghiên cứu là khoa Chẩn đoán hình ảnh – thăm

dò chức năng, xét nghiệm, Vi sinh, Giải phẫu bệnh có thâm niên công tác từ 1 năm trở lên và đồng ý tham gia nghiên cứu

Trang 38

+ Danh sách các CBYT tham gia sử dụng TTBCĐ tại 04 khoa (Khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, Khoa Xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa Giải phẫu bệnh)

+ Số liệu kinh phí dành cho mua sắm, sửa chữa TTBYT của BV giai đoạn từ năm 2014 đến 2016

+ Số liệu thống kê báo cáo hoạt động chuyên môn của Bệnh viện giai đoạn

từ năm 2014 đến 2016

+ Báo cáo nhân lực và hoạt động chuyên môn của phòng giai đoạn từ năm

2014 đến 2016

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Thiết bị chẩn đoán: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị không

thuộc các nhóm 1, 2, 3 của bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện tại 4 khoa

(Khoa Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, Khoa Xét nghiệm, Khoa Vi sinh,

Khoa Giải phẫu bệnh)

- Cán bộ có thời gian làm việc tại Bệnh viện <1 năm tính từ thời điểm nghiên

cứu; hộ lý, cán bộ không đồng ý tham gia nghiên cứu; cán bộ đi học

- Những nhân viên y tế không trực tiếp tham gia quản lý, sử dụng, bảo dƣỡng sửa chữa TTBCĐ, những nhân viên làm công tác hộ lý tại 4 khoa cận lâm sàng (Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh)

- Những nhân viên y tế không có mặt trong thời gian nghiên cứu (đi học tập trung, nghỉ hậu sản) tại 4 khoa cận lâm sàng (Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh)

2.1.2 Nghiên cứu định tính

2.1.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

- Nhóm lãnh đạo: Ban Giám đốc

Trang 39

- Đối tượng nghiên cứu không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Thời gian công tác của đối tượng nghiên cứu tại bệnh viện dưới 1 năm (tính

từ thời điểm nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02/2017 đến tháng 08/2017

- Địa điểm nghiên cứu: tại 05 khoa, phòng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang (Chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng, xét nghiệm, Vi sinh, Giải phẫu bệnh và phòng vật tư – trang thiết bị)

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

- Tất cả các trang thiết bị chẩn đoán hiện có tại 4 khoa cận lâm sàng (Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh) theo tiêu chuẩn lựa chọn ( có 47 loại thiết bị)

- Chọn mẫu toàn bộ gồm 52 cán bộ của 4 khoa cận lâm sàng gồm: Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng, Khoa xét nghiệm, Khoa Vi sinh, Khoa giải phẫu bệnh

- Số liệu thứ cấp: Chọn số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại 04 khoa nghiên cứu và phòng vật tư – trang thiết bị y tế giai đoạn 2014 - 2016

2.4.2 Nghiên cứu định tính

Chọn mẫu có chủ đích gồm 4 nhóm đối tượng để phỏng vấn sâu:

- Nhóm lãnh đạo bệnh viện: 01 đại diện Ban giám đốc phụ trách trang thiết

bị

- Nhóm cán bộ quản lý khoa phòng:

+ 01 lãnh đạo phòng vật tư-trang thiết bị

+ 04 lãnh đạo 4 khoa: chẩn đoán hình ảnh-thăm dò chức năng, xét nghiệm,

Vi sinh, Giải phẫu bệnh

- Nhóm nhân viên trực tiếp sử dụng TTBCĐ: mỗi khoa chọn 01 nhân viên để phỏng vấn, có 04 người/04 khoa

- Nhóm nhân viên bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ: 02 nhân viên

Tổng số đã có 12 cuộc phỏng vấn sâu

Trang 40

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 hư ng pháp thu thập số liệu định lượng

Nhóm điều tra gồm 3 người: bản thân học viên và mời thêm 01 kỹ thuật viên trưởng của 1 trong 4 khoa nghiên cứu, 01 nhân viên kỹ thuật bảo trì của phòng VT - TBYT làm cộng tác viên Nhóm đã thảo luận để thống nhất nội dung bộ câu hỏi, kỹ thuật và cách thức tiến hành thu thập số liệu

Phát phiếu phát vấn tự điền cho tất cả nhân viên tại các khoa nghiên cứu: Nghiên cứu viên thu thập thông tin theo từng khoa Tại mỗi khoa, NCV trình bày mục đích, đọc trang thông tin nghiên cứu cho các nhân viên và quản lý khoa cùng phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu Nếu không có ý kiến gì thì NCV sẽ phát phiếu phát vấn cho từng người

Tất cả cán bộ tại các khoa nghiên cứu trả lời các câu hỏi bằng hình thức tự

điền vào phiếu điều tra, sau một khoảng thời gian cho phép NCV thu lại, kiểm tra những thông tin ghi trên phiếu có hợp lệ, đầy đủ Nếu thông tin trên phiếu còn thiếu thì xin lại cho đủ Nếu phiếu đã hợp lệ, đầy đủ thông tin, thu lại và cảm ơn sự phối hợp của cán bộ đó

Số liệu thứ cấp đã được thu thập tại phòng Tài chính kế toán, phòng Kế hoạch tổng hợp, phòng Vật tư - thiết bị y tế và 04 khoa nghiên cứu Nghiên cứu viên liên hệ với lãnh đạo các khoa, phòng và trình bày lý do để xin những số liệu cần thiết và đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, sau đó NCV liên hệ với nhân viên trực tiếp được lãnh đạo khoa, phòng chỉ định cung cấp số liệu Để đảm bảo số liệu chính xác, tin cậy, các số liệu thu thập đều được lãnh đạo khoa, phòng kiểm tra và

ký xác nhận

2.5.2 hư ng pháp thu thập thông tin định tính

NCV đến liên hệ gặp trực tiếp 12 cán bộ đang công tác tại BV đã chọn chủ đích trong nghiên cứu, trình bày lý do nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và xin phép được phỏng vấn sâu Đồng thời gửi họ trang thông tin nghiên cứu, phiếu tự nguyện tham gia nghiên cứu, những gợi ý cho phần nghiên cứu Sau đó xin lịch hẹn

để tiến hành phỏng vấn sâu

Khi tiếp xúc trực tiếp với các cán bộ được phỏng vấn, NCV đọc trang thông tin giới thiệu nghiên cứu, khi cán bộ đồng ý tham gia nghiên cứu thì ký vào phiếu đồng ý tham gia PVS Để tránh tình trạng bỏ sót thông tin, nghiên cứu viên xin phép

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w