6 1.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi ..... Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ HƯƠNG ANH
THỰC TRẠNG TỒN DƯ KHÁNG SINH
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
CỦA CHỦ GIA TRẠI TRONG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN GÀ TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ HƯƠNG ANH
THỰC TRẠNG TỒN DƯ KHÁNG SINH
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH
CỦA NGƯỜI CHỦ GIA TRẠI TRONG SỬ DỤNG KHÁNG SINH TRÊN GÀ TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin được gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy chương trình Cao học Y tế Công cộng khóa 19 – Trường Đại học Y tế Công cộng, những người truyền đạt cho em các kiến thức hữu ích làm cơ sở cho em thực hiện tốt luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Đặng Văn Chính và cô TS Trần Thị Tuyết Hạnh đã tận tình hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong việc xây dựng đề tài, luôn theo sát, hỗ trợ em về chuyên môn và tinh thần trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các anh chị Chi cục thú y tỉnh Tây Ninh, Trạm thú y huyện Châu Thành và ban thú y 15 xã, thị trấn cùng các điều tra viên tạo điều kiện, nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu tại địa phương
Sau cùng tôi gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, đồng nghiệp, đơn vị công tác, bạn bè nhất là các học viên Cao học Y tế Công Cộng khóa 19 đã luôn tạo điều kiện tốt, giúp đỡ hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành công việc nghiên cứu khoa học của mình
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
TÓM TẮT LUẬN VĂN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
Chương 1: 1.1 Một số khái niệm 6
1.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi 6
1.2.1 Thực trạng trên thế giới 6
1.2.2 Thực trạng tại Việt Nam 8
1.2.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi 10
1.3 Những tác hại của tồn dư kháng sinh 12
1.4 Một số phương pháp định lượng tồn dư kháng sinh trong thịt gà: 13
1.5 Những nghiên cứu về tồn dư kháng sinh trên thế giới và Việt Nam 17
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 17
1.5.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam 18
1.6 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 23
1.7 Khung lý thuyết 24
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Chương 2: 2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1 Các mẫu thịt gà 27
2.1.2 Người chăn nuôi gà 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 28
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 28
Trang 52.3.2.1 Phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu phân tích tồn dư kháng sinh
trong thịt gà 28
2.3.2.2 Phương pháp xét nghiệm: 29
2.3.2.3 Phương pháp chọn mẫu đánh giá KAP 32
2.4 Kiểm tra sai lệch thông tin 33
2.4.1 Điều tra thử 33
2.4.2 Tập huấn điều tra viên 33
2.5 Phân tích số liệu 34
2.6 Các biến số trong nghiên cứu 34
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 36
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá KAP 36
2.7.2 Tiêu chuẩn đánh giá tồn dư kháng sinh: 37
2.8 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 39
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 39
KẾT QUẢ 40
Chương 3: 3.1 Kết quả phân tích tồn dư kháng sinh trong thịt gà 40
3.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi trong sử dụng kháng sinh 44
3.2.1 Một số thông tin chung về chủ gia trại 44
3.2.2 Kiến thức 45
3.2.3 Thái độ 50
3.2.4 Thực hành 52
BÀN LUẬN 60
Chương 4: 4.1 Thực trạng tồn dư kháng sinh trong thịt gà 60
4.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi trong sử dụng kháng sinh 63
4.2.1 Kiến thức 63
4.2.2 Thái độ 64
4.2.3 Thực hành 66
4.2.4 Hạn chế của nghiên cứu 68
Trang 6KẾT LUẬN 70
Chương 5: KHUYẾN NGHỊ 72
Chương 6: TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1: CÁC BIẾN SỐ TRONG NGHIÊN CỨU 80
PHỤ LỤC 2: BỘ CÔNG CỤ 88
PHỤ LỤC 3: CÁCH TÍNH ĐIỂM KIẾN THỨC 101
PHỤ LỤC 4: CÁCH TÍNH ĐIỂM THÁI ĐỘ 104
PHỤ LỤC 5: CÁCH TÍNH ĐIỂM THỰC HÀNH 105
PHỤ LỤC 6: BẢNG KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM TỒN DƯ KHÁNG SINH TRONG THỊT GÀ 108
PHỤ LỤC 7: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG THEO THỜI GIAN 122
PHỤ LỤC 8: DỰ TRÙ KINH PHÍ 125
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTP An toàn thực phẩm
BNNPTNT Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ESBL Men beta – lactamease phổ rộng
FDA Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ
MDR – TB Bệnh lao kháng nhiều loại thuốc
MLOD Giới hạn phát hiện của phương pháp
MLOQ Giới hạn định lượng của phương pháp
MRL Giới hạn dư lượng tối đa
PTNT Phát triển nông thôn
SATREPS Chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ phát triển bền vững TTKNATTP
KVPN Trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực phía Nam
VRE Khuẩn kháng Vancomycin
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
XDR – TB Bệnh lao kháng trị
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1: Các kháng sinh sử dụng phổ biến năm 2009 9
Bảng 1-2: Tổng hợp một số kỹ thuật định lượng tồn dư kháng sinh trong thịt 14
Bảng 1-3: Bảng tổng hợp các kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gà năm 2014 tại Bắc Giang 19
Bảng 1-4: Bảng tổng hợp các kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi gà từ các nghiên cứu 20
Bảng 1-5: Tổng hợp kết quả tổng quan tồn dư kháng sinh trong thịt gà 21
Bảng 2-1: Những kháng sinh xét nghiệm trong nghiên cứu 38
Bảng 3-1: Đặc tính các gia trại gà huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 40
Bảng 3-2: Số lượng gia trại tồn dư kháng sinh 41
Bảng 3-3: Tỷ lệ mẫu thịt gà dương tính với một hay nhiều loại kháng sinh khác nhau 41
Bảng 3-4: Tỷ lệ kháng sinh và nhóm kháng sinh dương tính trong mẫu thịt gà 42
Bảng 3-5: Nồng độ kháng sinh được phát hiện trong mẫu thịt gà 43
Bảng 3-6: Đặc tính chủ gia trại chăn nuôi gà huyện Châu Thành, Tây Ninh 44
Bảng 3-7: Một số nguồn thông tin về kháng sinh của các chủ gia trại 45
Bảng 3-8: Kiến thức của chủ gia trại về những khái niệm cơ bản kháng sinh 46
Bảng 3-9: Kiến thức chủ gia trại về cách sử dụng kháng sinh 47
Bảng 3-10: Kiến thức chủ gia trại về hậu quả của việc lạm dụng kháng sinh 48
Bảng 3-11: Cách xử lý của chủ gia trại khi gà có dấu hiệu bất thường 52
Bảng 3-12: Lý do sử dụng kháng sinh của chủ gia trại 53
Bảng 3-13: Thực hành theo các nguyên tắc sử dụng kháng sinh của các chủ gia trại 54
Bảng 3-14: Thực hành về vấn đề mua kháng sinh của chủ gia trại 55
Bảng 3-15: Thực hành về vấn đề mua kháng sinh của chủ gia trại 56
Bảng 3-16: Lý do không sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 57
Bảng 3-17: Các phương pháp của chủ gia trại thay thế khi không sử dụng kháng sinh 57
Trang 9Bảng 3-18: Sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi 57 Bảng 3-19: Một số đặc tính gia trại có tồn dư kháng sinh 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1-1: Tình hình tiêu thụ kháng sinh năm 2010 và dự kiến năm 2030 7
Hình 1-2: Tiêu thụ kháng sinh trên gà (A) và lợn (B) trong năm 2010 và khu vực mới, nơi tiêu thụ kháng sinh sẽ vƣợt quá 30kg/10km2 vào năm 2030 [47] 8
Hình 1-3: Huyện Châu Thành 24
Hình 1-4: Khung lý thuyết 26
Hình 2-1: Quy trình xử lý và xét nghiệm mẫu thịt gà 32
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3-1: Tỷ lệ tồn dƣ kháng sinh trong thịt gà 41 Biểu đồ 3-2: Kiến thức chung của chủ gia trại về sử dụng kháng sinh 49 Biểu đồ 3-3: Thái độ của chủ gia trại về mua bán kháng sinh trong chăn nuôi 50 Biểu đồ 3-4: Thái độ của chủ gia trại về nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 51 Biểu đồ 3-5: Thái độ chủ gia trại về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi 52 Biểu đồ 3-6: Thực hành chung của chủ gia trại khi sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà 58
Trang 12TÓM TẮT LUẬN VĂN
Lạm dụng kháng sinh tại các trang trại, gia trại trong chăn nuôi dẫn đến tồn
dư kháng sinh trong thực phẩm Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang với hai mục tiêu: Xác định tỷ lệ tồn dư kháng sinh trong thịt gà và mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của chủ gia trại trong sử dụng kháng sinh trên gà tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2017 Đối tượng nghiên cứu gồm hai nhóm: nhóm mẫu thịt gà (mẫu đơn) được lấy theo tiêu chuẩn xuất chuồng của mỗi gia trại và sau đó được tiến hành xét nghiệm bằng phương pháp sắc ký lỏng hai lần khối phổ (LC-MS/MS) nhằm xác định tỷ lệ tồn dư kháng sinh; nhóm chủ gia trại được khảo sát bằng bộ câu hỏi soạn sẵn
Xét nghiệm 106 mẫu thịt gà từ tất cả các gia trại với 29 loại kháng sinh khác nhau, trong đó có 27,4% mẫu tồn dư kháng sinh bao gồm 11 loại thuộc nhóm Fluoroquinolones, Sulfonamides, Tetracycline và Macrolides Bên cạnh đó nghiên cứu còn phát hiện 10,3% mẫu có dư lượng Ciprofloxacin dao động trong khoảng 32,7 -125,5 µg/kg (là kháng sinh không cho phép sử dụng trong chăn nuôi thú y) và 10,3% mẫu có dư lượng kháng sinh vượt giới hạn cho phép của Việt Nam
Số lượng chủ gia trại thuộc nhóm cần được nâng cao kiến thức chiếm tỷ lệ khá cao với 51,0% Mặc dù 54,7% chủ gia trại có thái độ tích cực nhưng chỉ có 17% thực hành tốt, số còn lại thuộc nhóm thực hành trung bình và cần được nâng cao thực hành Trong 106 chủ gia trại được khảo sát chỉ có 8 đối tượng không sử dụng kháng sinh chiếm tỷ lệ 7,5%
Gia trại xuất hiện mẫu tồn dư kháng sinh có một số đặc điểm: không có bác
sỹ thú y hay kỹ sư chăn nuôi, thời gian chăn nuôi ngắn, chưa được tham gia tập huấn và kinh nghiệm chăn nuôi ít
Khuyến nghị cơ bản là phổ biến các tỷ lệ trong nghiên cứu cũng như những vấn đề chi phí y tế, xã hội phát sinh do vi khuẩn kháng thuốc thông qua chuỗi thức
ăn đến người dân và các chủ gia trại Tăng cường tập huấn, hướng dẫn với những chuyên đề cụ thể phù hợp từng nhóm đối tượng khác nhau nhằm bổ sung và nâng cao kiến thức, thực hành đúng cho người chăn nuôi Đề xuất những cơ quan ban ngành có liên quan tăng cường kiểm soát đối với mua bán kháng sinh trong chăn
Trang 13nuôi và có những chế tài nghiêm khắc đối với người bán cũng như người sử dụng kháng sinh
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Vấn đề kháng kháng sinh đang là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng thế giới Trung bình mỗi năm ước tính có khoảng 700.000 người trên thế giới tử vong liên quan đến kháng kháng sinh Nếu không có biện pháp nào xử lý thì với tốc độ này đến năm 2050 tình trạng kháng thuốc kháng sinh có thể là nguyên nhân gây tử vong cho 10 triệu người trên toàn cầu mỗi năm Bên cạnh đó gánh nặng
về chi phí cho kháng thuốc cũng lên đến hàng trăm tỷ đô la Mỹ mỗi năm Điều này
đã đưa ra nhiều thách thức cho tất cả các quốc gia trên thế giới mà đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam [37]
Bên cạnh việc sử dụng kháng sinh trực tiếp trong y tế, kháng sinh còn được đưa vào cơ thể người qua thức ăn mà cụ thể là thực phẩm có nguồn gốc từ động vật Đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành và lan truyền vi khuẩn kháng kháng sinh Những thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm xuất hiện tồn dư kháng sinh là hệ quả của việc lạm dụng kháng sinh trong cộng đồng và chăn nuôi Những vấn đề đặt ra đòi hỏi cần có cách tiếp cận toàn diện, phối hợp đa ngành, đa quốc gia để tăng cường hiệu quả công tác quản lý kháng sinh
Kháng sinh được sử dụng một cách phổ biến trong chăn nuôi với mục đích chữa bệnh, phòng bệnh, nhưng phần lớn được sử dụng như những chất kích thích tăng trưởng [33] Điều này có thể thấy rõ ràng hơn trong chăn nuôi gà thịt công nghiệp, muốn năng suất cao người ta thường cho gà dùng nhiều loại kháng sinh có thể làm tăng trọng cũng như đảm bảo gà khỏe mạnh khi xuất chuồng Trước tình hình lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi, các nước phát triển đã đưa ra những qui định và giám sát chặt chẽ đối với sản xuất kinh doanh và sử dụng thuốc thú y nói chung và kháng sinh nói riêng trong khi đó ở các nước đang phát triển, các hoạt động này kiểm soát khá lỏng lẻo Ở Việt Nam, thuốc thú y có thể mua dễ dàng không cần kê đơn của bác sĩ và thuốc nhập khẩu đôi khi còn thiếu hướng dẫn bằng tiếng Việt Hiện nay kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi ngoài những họ quen thuộc như Sulfonamides, Quinolones, - lactams, Macrodies cũng đã xuất hiện một
số kháng sinh khác, thậm chí là những kháng sinh dùng cho người Một số nghiên cứu và khảo sát tuy còn tương đối ít nhưng cũng phản ánh được phần nào thực tế sử
Trang 15dụng kháng sinh trong chăn nuôi như khảo sát năm 2013 ở Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương năm 2002 trên nền mẫu thịt gà với tỷ lệ tồn dư kháng sinh lần lượt là 17,3%, 47% [22], [49]
Với nhu cầu thực phẩm tăng, sản lượng chăn nuôi cũng gia tăng trong khi diện tích chăn nuôi thu hẹp khiến cho việc kiểm soát dịch bệnh trở nên phức tạp Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, Tây Ninh có giá trị ngành chăn nuôi chiếm 12,7%, quy mô chăn nuôi tại các trang trại càng mở rộng và phát triển, cung cấp phần lớn thực phẩm có nguồn gốc từ động vật cho người dân [10] Năm 2016 tổng
số lượng và sản lượng gia cầm của Tây Ninh là 6,4 triệu con, tăng 17,28% so với cùng kỳ năm 2015 [9], trong đó sự đóng góp phần lớn vào sản lượng này từ huyện Châu Thành Nơi đây tập trung các trang trại cũng như gia trại chăn nuôi gà (40%),
là nguồn cung cấp chủ yếu gà thịt cho toàn tỉnh và vùng lân cận Với đặc điểm là một vùng giáp ranh biên giới cùng quy mô lớn về chăn nuôi gia cầm khiến cho hoạt động kiểm soát về chăn nuôi nói chung, sử dụng kháng sinh nói riêng gặp nhiều khó khăn hơn
Trước tình hình đó, việc tiến hành khảo sát thực trạng tồn dư kháng sinh và đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi trong sử dụng kháng sinh tại các gia trại chăn nuôi gà thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là cần thiết
Trang 16MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ tồn dƣ kháng sinh trong thịt gà tại các gia trại chăn nuôi gà thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2017
2 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của chủ gia trại trong sử dụng kháng sinh
trên gà tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh năm 2017
Trang 17TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chương 1:
1.1 Một số khái niệm
Kháng sinh (Antibiotics) là những chất kháng khuẩn (Antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes),
có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác [14]
Tồn dư kháng sinh: tồn dư là hiện tượng các chất hóa học, sinh học do con người sử dụng vì những mục đích khác nhau trong chăn nuôi động vật, đã được chuyển hóa trong cơ thể của con vật nhưng chưa đào thải hết gây tích lũy tại các
mô, các phủ tạng Hàm lượng này được phân tích xuất hiện dưới dạng vết cho đến các giá trị vượt quá tiêu chuẩn cho phép [1]
Kháng kháng sinh: là khả năng của vi sinh vật (như vi khuẩn, virus, ký sinh trùng) chặn một số kháng sinh từ hoạt động chống lại nó Kết quả là phương pháp điều trị trở nên không hiệu quả [48]
Gia trại chăn nuôi gia cầm: chăn nuôi gà, vịt, ngan, ngỗng có thường xuyên dưới 3.000 con (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi) [17]
Theo từ điển tiếng Việt (1998) kiến thức: là sự hiểu biết do học tập, tìm hiểu
mà có Thái độ: là tổng thể nói chung những biểu hiện của ý nghĩ, tình cảm được thể hiện ra bên ngoài qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động trước một đối tượng,
đó trước một vấn đề hay một tình hình cụ thể Thực hành: “cách ứng xử trong một hoàn cảnh, sự việc nhất định qua hành động” [11] Trong nghiên cứu này kiến thức, thái độ, thực hành xoay quanh những vấn đề hiểu biết, cách thức sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi gà của các kỹ sư hay chủ gia trại chăn nuôi gà
1.2 Tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi 1.2.1 Thực trạng trên thế giới
Kháng sinh được sử dụng trong chăn nuôi với nhiều mục đích khác nhau nhưng chủ yếu là duy trì sức khỏe và năng suất vật nuôi Nhìn chung xu hướng tiêu thụ kháng sinh trong chăn nuôi trên toàn cầu khoảng 63.151 tấn vào năm 2010 và
Trang 18dự kiến con số này sẽ tăng 67%, lên 105.596 tấn vào năm 2030 Riêng Châu Á đến năm 2030 lƣợng tiêu thụ kháng sinh đƣợc dự báo là 51.851 tấn [47]
Trong năm 2010, năm quốc gia có thị phần lớn nhất của tiêu thụ kháng sinh toàn cầu trong sản xuất thực phẩm có nguồn gốc động vật là Trung Quốc (23%),
Mỹ (13%), Brazil (9%), Ấn Độ (3%) và Đức (3% ) Đến năm 2030, bảng xếp hạng này đƣợc dự báo là Trung Quốc (30%), Mỹ (10%), Brazil (8%), Ấn Độ (4%), và Mexico (2%) Trong số 50 quốc gia có số lƣợng lớn nhất của kháng sinh đƣợc sử dụng trong chăn nuôi trong năm 2010, năm quốc gia với mức tiêu thụ lớn nhất dự kiến tăng tỷ lệ tiêu thụ kháng sinh vào năm 2030 có thể sẽ là Myanmar (205%), Indonesia (202%), Nigeria (163% ), Peru (160%), và Việt Nam (157%) [47]
Hình 1-1: Tình hình tiêu thụ kháng sinh năm 2010 và dự kiến năm 2030
Ghi chú: (A) Năm quốc gia tiêu thụ thuốc kháng sinh cao nhất năm 2010 (B) Năm quốc gia (dự
kiến) tiêu thụ thuốc kháng sinh cao nhất năm 2030 (C) Quốc gia có mức tăng tiêu thụ kháng sinh
lớn nhất từ năm 2010 đến năm 2030 (D) Quốc gia có mức tăng tiêu thụ kháng sinh tương đối lớn
nhất từ 2010 đến 2030
CHN – Trung Quốc, USA – Mỹ, BRA – Brazil, DEU – Đức, IND - Ấn Độ, IDN – Indonesia, MMR – Myanmar, NGA – Nigeria, PER – Peru, MEX – Mexico, PHL - Philippines
Ở Châu Á, so với năm 2010, mức tiêu thụ kháng sinh trong gà và lợn dự kiến
sẽ tăng 129% và 124% vào năm 2030 Tuy nhiên, tổng diện tích của khu vực tiêu thụ kháng sinh với mức độ hơn 30kg/10km2 sẽ tăng 4% đối với lợn và đến 143% đối với gà [47]
Trang 19Hình 1-2: Tiêu thụ kháng sinh trên gà (A) và lợn (B) trong năm 2010 và khu vực mới, nơi tiêu thụ kháng sinh sẽ vƣợt quá 30kg/10km2 vào năm 2030 [47]
1.2.2 Thực trạng tại Việt Nam
Bộ nông nghiệp phát triển nông thôn (BNNPTNT) giám sát cả hai lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản cho thấy hầu nhƣ các trang trại chăn nuôi đều sử dụng kháng sinh Các kháng sinh đƣợc sử dụng phổ biến tính đến thời điểm 2009 đƣợc thể hiện trong Bảng 1-1
Trang 20Bảng 1-1: Các kháng sinh sử dụng phổ biến năm 2009 [30]
Năm 2016 lĩnh vực chăn nuôi có những bước chuyển tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó sự gia tăng của đàn lợn là 4,8%, đàn gà là 6,9% [18] Cùng với sự gia tăng về sản lượng chăn nuôi thì nhu cầu sử dụng kháng sinh cũng như thuốc thú y càng trở nên rộng rãi và phổ biến trong phòng bệnh gia súc, gia cầm Trong năm 2016 BNNPTNT tiếp tục giải quyết việc
sử dụng chất cấm trong chăn nuôi, lạm dụng chất cấm, kháng sinh trong thủy sản nuôi Chỉ tính đến tháng 2/2016 qua những đợt giám sát an toàn thực phẩm (ATTP) phát hiện 106/5433 mẫu thịt và sản phẩm thịt chế biến vi phạm chỉ tiêu hóa chất, kháng sinh cấm và vượt giới hạn cho phép (chiếm 2% so với 9 tháng đầu năm 2015
là 7,6%), 834/5433 mẫu thịt vi phạm chỉ tiêu vi sinh vật (chiếm 15,4% so với 9
Trang 21tháng đầu năm 2015 là 16%) [19] Bộ Y tế cũng tiến hành giám sát thường xuyên
và định kỳ hàng năm về những vấn đề ATTP Trước tình hình diễn biến phức tạp của thị trường thực phẩm, sự phối hợp toàn diện, đa ngành giữa Bộ Y tế và Bộ NNPTNT cùng các Bộ, ngành liên quan nhằm giảm thiểu các tác động đến sức khoẻ con người và tác động khác gây ra bởi bệnh truyền lây giữa động vật và người là điều quan trọng và cấp thiết Một trong bảy lĩnh vực ưu tiên của kế hoạch quốc gia phòng chống bệnh truyền lây giữa động vật và người giai đoạn 2016-
2020 là áp dụng Một sức khoẻ trong kiểm soát kháng kháng sinh [20]
Thực tế, kháng sinh là thuốc đăng ký thường gặp nhất (70% của tất cả các loại thuốc thú y) được sử dụng trên động vật tại Việt Nam [25] Tuy nhiên kiến thức của người nông dân vẫn còn hạn chế trong khi công tác kiểm tra và quản lý của các cơ quan có thẩm quyền chưa chặt chẽ, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế Trong khi các nước phát triển đã tiến hành kiểm soát gắt gao việc mua bán kháng sinh thì ở Việt Nam vấn đề này còn khá thoải mái Kháng sinh có thể mua không thông qua kê đơn của bác sỹ thú y, thậm chí một số chủ gia trại, trang trại hay các
cá nhân chăn nuôi nhỏ lẻ mua kháng sinh tại các cửa hàng thuốc tây (dành cho người) để sử dụng cho vật nuôi Điều đó thể hiện rõ kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi còn khá thấp tuy nhiên hầu như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này Một trong những khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi và dư lượng kháng sinh tại các quầy thịt lợn, gà thương phẩm trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy đa số các cơ sở chăn nuôi không quan tâm đến xét nghiệm kháng sinh đồ (99,68%), lựa chọn kháng sinh còn dựa vào kinh nghiệm và triệu chứng bệnh (35,03%) [2]
1.2.3 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng
kháng sinh của người chăn nuôi
Mặc dù nhiều nước trên thế giới đã tiến hành kiểm soát, thậm chí tiến tới ngưng sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi nhưng lượng tiêu thụ kháng sinh vẫn đang tăng ở các nước Kháng sinh trong chăn nuôi được sử dụng rộng rãi và phổ biến tuy nhiên hiện nay chỉ có một số ít nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người chăn nuôi trong sử dụng kháng sinh Phần
Trang 22lớn các nghiên cứu được thực hiện tại các nước đang phát triển – nơi mà nguồn kháng sinh còn trong tình trạng kiểm soát chưa chặt chẽ
Đối với các nông dân ở Khartoum – Sudan thì kháng sinh chủ yếu được sử dụng trong điều trị và phòng ngừa trên cả động vật bệnh và khỏe mạnh, chỉ có 5%
sử dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng vật nuôi Hơn một nửa số nông dân này (52%) chưa tốt nghiệp phổ thông (trình độ học vấn sơ cấp tại Sudan), các thông tin
và kiến thức về chăn nuôi cũng như sử dụng kháng sinh mà họ có được chủ yếu thông qua kinh nghiệm bản thân hoặc trao đổi thông tin với những người trong nghề Bên cạnh đó sử dụng kháng sinh có thể tiết kiệm được tiền vì rút ngắn thời gian trị bệnh cho vật nuôi, nâng cao năng suất trong chăn nuôi, hạn chế nhiều dịch bệnh khiến cho việc sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi tại đây phổ biến nhưng thiếu kiểm soát và không tuân thủ theo đúng hướng dẫn của thuốc và bác sỹ thú y [41]
Một khảo sát nhanh về KAP ở South Carolina thuộc Brasil thu được kết quả
là 100% nông dân các trang trại chăn nuôi đều có nhu cầu sử dụng kháng sinh trong điều trị vật nuôi tuy nhiên hầu hết nông dân (86%) không quan tâm rằng việc lạm dụng kháng sinh ở động vật có thể dẫn đến kháng thuốc kháng sinh ở người tiêu dùng Chỉ có 32% nông dân có kiến thức từ tư liệu về kháng sinh Hầu như các nguồn thông tin này đều lấy từ bác sỹ thú y (100%) và truyền đạt kinh nghiệm từ người trong nghề (50%) [31] Một khảo sát khác tại một nước Nam Á - khu vực nông thôn của Bangladesh, có 57,7% hộ gia đình có chăn nuôi đã sử dụng phương pháp trị bệnh cho động vật 630 lần trước thời điểm nghiên cứu Trong đó 57,6% các loại thuốc thu được (gồm thuốc kháng sinh) được cung cấp, đề nghị từ người bán thuốc [39] Thực hiện nghiên cứu về vấn đề KAP ở Châu Âu như tại Anh và xứ Wales cho thấy thái độ khá tích cực: hơn 70% người nông dân chăn nuôi cho rằng việc giảm sử dụng kháng sinh là điều nên làm, và 97% cho rằng việc lưu giữ hồ sơ điều trị cho vật nuôi là quan trọng Tuy nhiên khoảng 50% nông dân không hề biết đến những hướng dẫn về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi [34]
Trang 231.3 Những tác hại của tồn dư kháng sinh
Do việc sử dụng kháng sinh tràn lan trên vật nuôi (điều trị và phòng ngừa), dùng liều thấp trong thức ăn để kích thích tăng trưởng đã tạo ra một môi trường lý tưởng cho sự lan truyền của các chủng vi khuẩn kháng kháng sinh Mặt khác do toàn cầu hóa về cung cấp thực phẩm đã làm lan truyền các vi sinh vật kháng kháng sinh và chúng được lây truyền vào người thông qua chuỗi thực phẩm [5]
Việc sử dụng kháng sinh tùy tiện trong chăn nuôi của người nông dân, không
có toa bác sỹ và không có sự giám sát của thú y có thể dẫn đến tồn dư kháng sinh và kháng kháng sinh Những dư lượng gây nguy hiểm sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng xấu đến môi trường và ảnh hưởng đến điều trị, chữa bệnh cho vật nuôi [46] Đồng thời, phân bón hoặc phân động vật có chứa nước có thể phát tán vi khuẩn kháng kháng sinh sang các loại cây lương thực
Những ảnh hưởng của tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có thể thấy qua một số nghiên cứu của thế giới và Việt Nam: Nghiên cứu của Stuart Levy và cộng
sự về các vi khuẩn kháng kháng sinh trong đường ruột gà khi sử dụng thức ăn mà trong đó có kháng sinh oxytetracycline Trong vòng sáu tháng, những người nông dân sống tại trang trại cũng mang trong người vi khuẩn coliform có khả năng kháng tetracycline Các nhà nghiên cứu tiếp tục quan sát và thấy rằng sau sáu tháng khi sử dụng thức ăn không có kháng sinh cho gà thì hầu hết các nông dân đều không còn mang trên người vi khuẩn có khả năng kháng lại tetracycline [36] Một khảo sát khác tại Hà Lan khi so sánh giữa hai nhóm người ăn chay và ăn thịt cho thấy không
ai trong số những người ăn chay mang theo khuẩn VRE (khuẩn kháng vancomycin) trong khi VRE tồn tại trên 20% lượng có ăn thịt Ảnh hưởng của VRE có thể thấy qua thống kê của Mỹ cứ trung bình 20.000 bệnh nhân mỗi năm nhiễm trùng khuẩn VRE thì có 1.300 ca tử vong [35]
Tại Việt Nam, E.coli là vi sinh vật chỉ thị bắt buộc phải kiểm tra trong thực
phẩm Kết quả khảo sát tỷ lệ nhiễm khuẩn, tỷ lệ kháng kháng sinh trên 270 mẫu thực phẩm và 1716 mẫu nước uống tại Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh năm
2014: Tỷ lệ nhiễm khuẩn E.coli trong thực phẩm là 14,1%, tỷ lệ kháng với ít nhất 1
kháng sinh là 76,7%, tỷ lệ kháng từ 2 kháng sinh trở lên là 65% [21] Dự án của
Trang 24chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ phát triển bền vững (SATREPS) với sự tham gia của 6 đơn vị nghiên cứu trong nước và hỗ trợ của Nhật Bản tiến hành nghiên cứu cơ chế lan truyền và xây dựng mô hình giám sát vi khuẩn
đa thuốc, kháng thuốc trong chuỗi thực phẩm tại Việt Nam Các chuyên gia cho biết ngoài 276 chủng phân lập (80%) kháng với ít nhất 6 loại kháng sinh Hầu hết các
chủng E.coli sinh ESBL phân lập từ gà đã kháng với Ciprofloxaxin (80,5%), và
Fosfomycin (50,8%) Trong 409 mẫu thịt và hải sản chưa qua chế biến tại các nơi giết mổ, chợ đầu mối và các siêu thị Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nhiễm
Samonella rất cao Cụ thể là: thịt lợn (69,7%), thịt gia cầm (65,3%) và tôm (49%)
[7] Một nghiên cứu khác thuộc dự án được thực hiện với sự phối hợp giữa nghiên cứu viên từ Nhật Bản và viện Y tế Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh khảo sát
mức độ lan truyền vi khuẩn E.coli sinh ESBL/pAmpC (plasmid AmpC) trong hệ
thống phân phối thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh Với kết quả 150/330 mẫu
phát hiện có nhiễm E.coli sinh ESBL/pAmpC thì thịt gà nhiễm cao nhất chiếm tỷ lệ
là 92,7% [8] Nghiên cứu tương tự tại Ba Vì cũng cho kết quả nhiễm E.coli
ESBL/pAmpC ở thịt gà là cao nhất với tỷ lệ 56% [4] Từ những nghiên cứu này dễ
dàng nhận thấy tỷ lệ nhiễm E.coli trong thịt gà cao hơn thịt lợn
1.4 Một số phương pháp định lượng tồn dư kháng sinh trong thịt gà:
Hiện nay các kỹ thuật phổ biến nhất được sử dụng để phát hiện kháng sinh trong thực phẩm nói chung và thịt gà nói riêng là cảm biến sinh học, ELISA và sắc
ký lỏng ghép khối phổ Mỗi kỹ thuật có ưu và nhược điểm khác nhau Vì vậy đối với những trung tâm phân tích hay cơ quan ban ngành chuyên về thanh kiểm tra an toàn thực phẩm tuỳ vào điều kiện và trang thiết bị hiện có để sử dụng tốt nhất các
kỹ thuật này Sau đây là bảng giới thiệu tóm tắt về nguyên tắc, ưu và nhược điểm của những kỹ thuật trên
Trang 25STT Phương pháp Nguyên tắc Ưu điểm Nhược điểm
- Hầu hết các loài vi khuẩn có tối thiểu một kháng nguyên đặc trưng, có thể được sử dụng cho việc tạo ra các kháng thể đơn dòng Các kháng thể này có tính chất chuyên biệt và có hiệu quả cao để chẩn đoán
- ELISA là một kỹ thuật huyết thanh học phổ biến để phát hiện kháng nguyên và kháng thể ELISA được chia thành hai dạng xét nghiệm: ELISA trực tiếp và ELISA gián tiếp ELISA trực tiếp cho phép việc sử dụng kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên đặc trưng ELISA gián tiếp liên quan đến phát hiện một kháng thể cụ thể trong một mẫu, ví dụ như huyết thanh [50]
- Độ nhạy và độ đặc hiệu cao [50]
- Phát hiện nhiều mẫu cùng một lúc trong thời gian ngắn thuận lợi cho việc kiểm tra quy mô lớn [51]
- Sàng lọc một
số lượng lớn các mẫu với thể tích nhỏ [51]
- Mất nhiều thời gian do xử lý mẫu và làm sạch [52]
- Không thiết thực cho phân tích nhanh [52]
- Đắt tiền [52]
2 Cảm biến sinh - Một dụng cụ bao gồm hai yếu tố - Đo các phân tử - Không thể
Trang 26học (Biosensor) chính: thiết bị truyền tải và bộ phận nhận
biết
- Đầu dò được sử dụng để phát hiện bất kỳ mối liên hệ nào giữa các cặp ái lực bằng cách chuyển đổi phản ứng sinh học sang các tín hiệu điện [53]
không phân cực mà không tiếp nhận được hầu hết các thiết bị [53]
- Độ đặc hiệu cao [54]
- Nhanh (thời gian đáp ứng ngắn) [54]
- Thiết thực cho ngành công nghiệp
sử dụng [53]
chịu được nhiệt tiệt trùng do có thể xảy ra biến tính của các yếu
tố sinh học [53]
- Độ bền của vật liệu sinh học (tế bào, kháng thể, mô…) tuỳ thuộc vào đặc tính tự nhiên của phân tử dưới điều kiện môi trường (pH, nhiệt độ, ion) [53]
- Các tế bào trong cảm biến sinh học có khả năng bị ô nhiễm thông qua sự khuyếch tán các chất trên màng tế bào
Trang 27[53]
- Hạn chế do kích thước của bộ biến đổi trong bộ cảm biến sinh học [55]
Độ nhạy cao và có thể dùng để xử lý các hỗn hợp phức tạp [54]
- Tốn nhiều thời gian, tốn kém và lượng chất phân tích còn lại thấp do quá trình lấy mẫu và làm sạch mẫu [51]
- Yêu cầu nhân viên có trình độ và thiết bị tốn kém [51]
Trang 281.5 Những nghiên cứu về tồn dư kháng sinh trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Năm 2007, tại một số quốc gia đã xử lý 95 trường hợp chó bị tử vong hay
bệnh tật khi ăn loại khô gà (loại thức ăn dành cho chó) nhập từ Trung Quốc Con số
này tăng lên 3600 trường hợp năm 2013 Các triệu chứng bệnh bao gồm chán ăn,
giảm hoạt động, nôn mửa, tiêu chảy, tăng tiêu thụ nước và đi tiểu nhiều Các bác sĩ
thú y chẩn đoán có thể trong gà có kim loại nặng hoặc tồn dư kháng sinh nên gây
nguy hiểm Khảo sát trên loại khô gà này cho thấy tồn dư kháng sinh Trimethoprim,
tilmicosin, enrofloxacin, sulfaclozine, và sulfamethoxazole lên đến 2800 ng/g (ppb)
Sulfaquinoxaline cũng được tìm thấy đã vượt ngưỡng cho phép của FDA với nồng
độ 800 ng/g (ngưỡng cho phép thời điểm này là 100 ng/g) [38]
Tại Kuwait, một nghiên cứu khảo sát sự tồn dư kháng sinh trên thực phẩm
(sữa, trứng, thịt, gia cầm và cá) bằng phương pháp sắc ký lỏng hai lần khối phổ
(LC/MS/MS) với hiệu suất thu hồi 80-100% đã đưa ra kết quả như sau: 100% số
trứng, thịt, cá, kem và phô mai đều nằm trong giới hạn, trong khi 5% gia cầm và
18% mẫu sữa đã vượt quá giới hạn cho phép [23] Trong khi đó, ở Ai Cập có 44%
mẫu thịt gà tươi sống có dư lượng kháng sinh và hơn nửa trong số này có hàm
lượng nhóm Tetracycline vượt ngưỡng cho phép theo Codex [42]
Mẫu thịt gà từ các thị trường Bangkok – Thái Lan được lấy ngẫu nhiên vào
năm 2012 nhằm đánh giá dư lượng kháng sinh và tỷ lệ ô nhiễm Samonella 39%
mẫu xuất hiện tồn dư ít nhất một trong các nhóm kháng sinh được kiểm tra, trong
đó các nhóm được phát hiện với tần số nhiều như nhóm Tetracycline (28%), nhóm
Sulfonamides (23%) và Penicillin – nhóm -lactams (20%) [26] Một cuộc khảo sát
khác tiến hành tại Bursa - Thổ Nhĩ Kỳ của Centinkaya và cộng sự vào năm này cho
thấy kháng sinh tetracycline được sử dụng phổ biến trong chăn nuôi gà và dễ tìm
thấy dư lượng các kháng sinh trong nhóm này trên mẫu thịt gà Nhóm kháng sinh
chủ yếu xác định của nghiên cứu Centinkaya là nhóm tetracycline [27]
Năm 2013, Hussein và Khalil thu thập ngẫu nhiên 50 mẫu thịt gà tươi và gà
tươi đông lạnh bán tại EI-Sharkia Governorate để đánh giá mức độ tồn dư kháng
sinh, có 21% mẫu dương tính với kháng sinh và dư lượng oxytetracycline được tìm
Trang 29thấy trong 31,5% mẫu tươi Dư lượng enrofloxacin cũng được tìm thấy trong hai mẫu phi lê tươi và một mẫu phi lê đông lạnh [40] Một nghiên cứu khác tại Ai Cập năm 2015 cho thấy sự kháng thuốc của Methicillin – Resistant Staphylococcus aureus (MRSA) phân lập được thường xuyên nhất là phát hiện với penicillin (93,4%), ampicillin (88,9%) và cloxacillin 98,3%) Những kết quả này được thực hiện trên 200 mẫu thịt gà bán lẻ Từ đó cho thấy thịt gà bán lẻ tiềm ẩn mối nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng [43]
1.5.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Muốn tăng năng suất trong chăn nuôi đặc biệt khi thời gian nuôi ngắn (nuôi
gà thịt công nghiệp), người ta thường cho gà ăn, uống nhiều loại kháng sinh để gà luôn khỏe mạnh, tránh các dịch bệnh Ngoài ra việc sử dụng kháng sinh có thể nhằm mục đích cho gà tăng trọng trong thời gian chuẩn bị xuất chuồng Chính sự lạm dụng kháng sinh theo hình thức này dễ dẫn đến việc tồn dư kháng sinh trong thực phẩm có nguồn gốc từ động vật mà cụ thể ở đây là thịt gà Một số hoạt động nghiên cứu hay khảo sát được tiến hành và đưa ra những kết quả đáng lo ngại về việc tồn dư kháng sinh trong thực phẩm hiện nay Kết quả nghiên cứu 168 cơ sở chăn nuôi gà thịt tại Thành phố Hồ Chí Minh của Võ Thị Trà An (2002) cho thấy 60% tổng số thịt gà có dư lượng kháng sinh Trong đó, 36% mẫu thịt gà được thử nghiệm có dư lượng kháng sinh vượt quá mức quy định [22] Trong một đợt điều tra khác vào năm 2002 tại 628 cơ sở chăn nuôi gà, lợn – bao gồm các cơ sở chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi gia đình tại 1 thị xã và 2 huyện của tỉnh Bình Dương cũng cho thấy tỷ lệ tồn dư kháng sinh đối với thịt gà là 47% Tuy nhiên không có sự khác biệt về tỷ lệ tồn dư kháng sinh giữa chăn nuôi công nghiệp và chăn nuôi gia đình (p>0,05) [2]
Từ tháng 3 năm 2009 đến tháng 3 năm 2010, một nhóm nghiên cứu thực hiện lấy ngẫu nhiên 180 mẫu thịt (83 thịt gà và 97 thịt lợn) từ thị trường của 3 huyện Đông Anh, Cẩm Giang, Quỳnh Phú (thuộc Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình)
và tiến hành phân tích dư lượng kháng sinh Kết quả có 11/83 (13%) mẫu thịt gà và 38/97 (39%) mẫu thịt lợn xuất hiện tồn dư kháng sinh [29] Tại một tỉnh thành khác
ở khu vực miền Bắc, năm 2014, Bắc Giang có một nghiên cứu được thực hiện tại 20
Trang 30trang trại chăn nuôi lợn thịt và 20 trang trại chăn nuôi gà thịt cho thấy việc sử dụng kháng sinh cho vật nuôi ở các trang trại này không hợp lý và chưa được quản lý chặt chẽ Việc lựa chọn loại kháng sinh cũng như quyết định liều lượng kháng sinh trong phòng và chữa bệnh, thời gian ngừng thuốc trước khi xuất chuồng và phối hợp kháng sinh chủ yếu dựa vào khuyến cáo của các công ty sản xuất thuốc và kinh nghiệm của người chăn nuôi [3]
Bảng 1-3: Bảng tổng hợp các kháng sinh sử dụng trong thức ăn chăn nuôi gà năm
dư kháng sinh được phát hiện chiếm 11,9% mẫu phân tích, trong đó 17,3% trong thịt gà [49]
Trang 31Bảng 1-4: Bảng tổng hợp các kháng sinh sử dụng trong chăn nuôi gà từ các nghiên
cứu [2], [3], [22], [49]
Kháng sinh Bình Dương
(2002)
Tp.HCM (2013)
Nha Trang (2013)
Bắc Giang (2014)
Trang 32Bảng 1-5: Tổng hợp kết quả tổng quan tồn dư kháng sinh trong thịt gà
2009 Kuwait 5% mẫu gia cầm vượt quá MRLs cho phép đối với
nhóm Tetracyclin
H M Al-Mazeedi và cộng sự [23]
2011 Ai Cập
44% thịt gà tươi sống tồn dư kháng sinh nhóm Tetracyclin Trong đó 68,2% mẫu vượt MRLs (Codex)
N A Salama và cộng sự [42]
2012 Thái Lan
39% mẫu thịt gà xuất hiện tồn dư kháng sinh Nhóm kháng sinh sử dụng nhiều: nhóm Tetracyclin (28%), nhóm Sulfonamides (23%), nhóm -
31,5% mẫu thịt gà tươi tồn dư nhóm Tetracyclin
Hussein MA and Khalil S [40]
Trang 33Năm Quốc gia Kết quả nghiên cứu Tác giả
Hai mẫu gà tươi và một mẫu gà đông lạnh tồn dư enrofloxacin với hàm lượng vượt MRLs (EU)
2014 Mỹ
Xuất hiện tồn dư kháng sinh trên khô gà:
Trimethoprim, tilmicosin, enrofloxacin, sulfaclozine, và sulfamethoxazole
Sulfaquinoxaline vượt ngưỡng MRLs của FDA
Jennifer Mirabile, Robert Sheridan, and Kristen Hafler [38]
2002 Tp.HCM
Việt Nam
168 cơ sở chăn nuôi gà thịt 60% mẫu thịt gà có dư lượng kháng sinh 36% mẫu có dư lượng kháng sinh vượt MRLs
Nguyễn Văn Lưu, Dương Thị Toan [3]
Trang 341.6 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Huyện Châu Thành nằm trên tuyến biên giới phía tây nam của tỉnh Tây Ninh
và của cả nước, có chung đường biên giới với tỉnh Svây Riêng (Campuchia) dài 48
km, có cửa khẩu Phước Tân và nhiều đường tiểu ngạch thông thương giữa hai nước [6] Đặc điểm biên giới đất liền đất, rừng liền rừng, sông có đoạn từ Vàm Trảng Trâu đến Bến Ra được coi là đoạn biên giới phân cách Đây là một trong năm huyện biên giới có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hóa, đặc biệt là về quốc phòng, an ninh của tỉnh Huyện Châu Thành phía đông giáp Thành phố Tây Ninh; phía nam giáp hai huyện Bến Cầu và Hòa Thành; phía Bắc giáp huyện Tân Biên
Có diện tích tự nhiên 571,25 km2, dân số: 141.875 người Mật độ dân số 248,36 người/km2
Địa hình vừa có đồng bằng vừa có rừng Phía Tây-Tây Bắc rừng xen kẽ trảng trống và đồng ruộng Phía Nam-Tây Nam chủ yếu là rừng (rừng thưa, rừng chồi) Sông Vàm Cỏ Đông chảy dọc huyện chia diện tích huyện thành hai vùng xấp
xỉ nhau Rạch Sóc Om và Rạch Vàm Dình là hai thượng nguồn của sông Vàm Cỏ Đông Nguồn nước ngọt quanh năm không cạn rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên sông Vàm Cỏ Đông mang đặc tính bán nhật triều nên khi triều dâng cao nhất thì vụ lúa mùa có thể bị thiệt hại ở những vùng trũng sâu, ven sông Vàm Cỏ Đông
Huyện gồm 15 xã, thị trấn với tổng sản lượng gà thịt chiếm 40% sản lượng
gà thịt toàn tỉnh Tây Ninh Đây là nguồn cung cấp thịt gà và các sản phẩm từ gà chủ yếu cho Tây Ninh và một số tỉnh lân cận và tỉnh Svây Riêng (Campuchia)
Trang 35Hình 1-3: Huyện Châu Thành
1.7 Khung lý thuyết
Theo lý thuyết về hành vi sức khỏe của Glanz và các cộng sự [24], hành vi của một cá nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong nghiên cứu này việc dẫn đến tồn dư kháng sinh trong gà bắt nguồn từ kiến thức, thái độ và thực hành của người chăn nuôi Kiến thức bắt nguồn từ sự học tập, kinh nghiệm được tổng hợp, khái quát hóa Chúng ta tiếp thu kiến thức từ trường lớp, từ tập huấn đào tạo của cơ quan ban ngành có liên quan, từ sách vở, báo chí, internet, và từ những người trong
ngành có kinh ngiệm.Thái độ thể hiện một phản ứng, quan điểm của cá nhân đối với
một người, sự kiện, quan điểm nào đó Nó phản ánh những gì người ta thích hoặc
Trang 36không thích; ủng hộ hoặc không ủng hộ Chúng bắt nguồn từ những trải nghiệm của chúng ta hoặc từ những người thân Chúng làm cho chúng ta thích thú, tin tưởng, ủng hộ điều này hoặc đề phòng, cảnh giác với điều khác Tuy nhiên, thực tế cho thấy người ta không thể luôn luôn ứng xử theo thái độ của họ Hành vi của con người hình thành trong mối quan hệ giữa con người và xã hội Tất cả các yếu tố từ kiến thức, thái độ, thực hành dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi và
hệ quả là tồn dư kháng sinh trong thực phẩm mà cụ thể ở đây là gà
Khung lý thuyết nghiên cứu này trình bày như Hình 1-4 Nghiên cứu xem
xét các thực trạng tồn dư kháng sinh trong thực phẩm, kiến thức, thái độ, thực hành
về việc sử dụng kháng sinh của người chăn nuôi trong chăn nuôi Kiến thức, thái độ ảnh hưởng đến thực hành sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi mà đây là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc tồn dư kháng sinh trong thịt gà
Trang 37Hình 1-4: Khung lý thuyết
Yếu tố tiền đề
- Địa phương: công tác truyền thông
- Bạn bè: trao đổi thông tin
Thực hành sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
- Thói quen mua
và chọn lựa kháng sinh
- Thói quen mua
và chọn lựa thức
ăn chăn nuôi
- Tuân thủ nguyên tắc sử dụng kháng sinh
Tồn dư kháng sinh trong thịt gà
- Hoàn cảnh điều kiện tại địa phương
sinh sống và chăn nuôi
- Tiếp cận các lớp tập huấn, chương
trình chăn nuôi sạch, an toàn sinh
học
Yếu tố tăng cường
Yếu tố tạo điều kiện
Yếu tố bản thân và xã hội:
Trang 38PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 2:
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại các gia trại chăn nuôi gà với tiêu chí: số lượng
gà từ 100 đến 3000 con Hiện nay tại huyện Châu Thành nói riêng và tỉnh Tây Ninh nói chung có các hình thức chăn nuôi gà nhỏ lẻ hộ gia đình (<100 con), các gia trại (100 -3000) con, và trang trại (>3000 con) Gia trại và trang trại là nguồn cung cấp
gà thịt chủ yếu cho thị trường tiêu thụ Các trang trại ký kết với công ty cổ phần chăn nuôi, được cung cấp giống, thức ăn đã qua kiểm duyệt, đảm bảo quy trình chăn nuôi và cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dùng trong khi các gia trại chưa thực hiện điều này Chính vì vậy nghiên cứu chọn gia trại để khảo sát trong nghiên cứu và đây cũng là hình thức đang được mở rộng về quy mô cũng như
số lượng
Đối tượng nghiên cứu gồm hai nhóm:
Nhóm mẫu thịt gà được tiến hành xét nghiệm xác định tỷ lệ tồn dư kháng sinh Nhóm chủ gia trại được tiến hành khảo sát theo bộ câu hỏi soạn sẵn nhằm đánh giá tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành về sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi
2.1.1 Các mẫu thịt gà
- Mua 1 mẫu đơn (tương ứng 1 con gà) theo tiêu chuẩn lựa chọn tại mỗi gia
trại (vì trong một gia trại, cùng cách chăm sóc: chế độ ăn uống, phòng trị bệnh là như nhau)
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
o Gà đạt tiêu chuẩn xuất chuồng (chuẩn bị xuất chuồng) tại gia trại
o Đối với các gia trại không có lứa gà chuẩn bị xuất chuồng vào thời điểm phát vấn, chọn gà >2 tháng tuổi và có tuổi gần với tuổi mà gia trại cho xuất chuồng nhất
2.1.2 Người chăn nuôi gà
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
o Chủ gia trại
- Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:
Trang 39o Không đồng ý tham gia vào nghiên cứu
o Vắng mặt nhiều lần trong thời gian phát vấn điều tra
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2017 đến tháng 07/2017
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
n = 86 mẫu thịt gà (số mẫu này được lấy từ 86 gia trại)
Dự trù tỷ lệ từ chối tham gia nghiên cứu là 10%
Như vậy số mẫu cần thu thập = 86 *110% = 95 mẫu
Thực tế số mẫu thu thập trên địa bàn là 106 mẫu
Kỹ thuật chọn mẫu:
Tại thời điểm khảo sát, số lượng gia trại gà thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là 115 gia trại Danh sách này được Trạm thú y và chăn nuôi huyện Châu Thành cung cấp Nghiên cứu chọn mẫu theo tiêu chí tại 100% gia trại chăn nuôi gà thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Trong quá trình thu thập số liệu có 2 gia trại từ chối tham gia nghiên cứu, 7 gia trại đồng ý tham gia nghiên cứu nhưng gà
Trang 40còn nhỏ (2-3 ngày tuổi) hoặc vừa bán hết gà Như vậy tổng số phiếu và mẫu thịt gà được thu thập là 106
Tất cả các mẫu được xử lý kỹ, rửa sạch bằng nước máy để loại bỏ bụi, bẩn đất Các mẫu được đóng gói riêng có dán nhãn và mã hóa bằng ký hiệu và số thứ tự, lưu giữ trong thùng lạnh và chuyển đến phòng thí nghiệm của Trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực phía Nam – Viện Y tế Công Cộng Thành phố
Hồ Chí Minh Các mẫu được bảo quản trong tủ đông -200C trước khi phân tích Đây
là phòng thí nghiệm đạt chuẩn ISO/IEC 17025:2005 (chuẩn VILAS) với chức năng nhiệm vụ kiểm nghiệm, giám sát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong nước
và thực phẩm nhập khẩu
2.3.2.2 Phương pháp xét nghiệm:
Mẫu thịt gà được xử lý và xét nghiệm bằng phương pháp Sắc ký lỏng hai lần khối phổ (LC/MS/MS) [45] Phương pháp này được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và sử dụng xác định hàm lượng kháng sinh trong thực phẩm vì thiết bị hiện đại với lợi thế độ nhạy cao, phân tích nhanh, chính xác, độ tin cậy cao Labo Sắc ký – TTKNATTP KVPN đã phối hợp với các chuyên gia trong dự án Jica nghiên cứu tối
ưu phương pháp phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm, đáp ứng cho công tác thanh kiểm tra, quản lý của các cơ quan chức năng trong việc kiểm soát kháng sinh trong thịt, trứng gia cầm
Hiệu suất thu hồi và giới hạn phát hiện của các loại kháng sinh
Kháng sinh Hiệu suất thu hồi
(%)
Giới hạn phát hiện (µg/kg)