Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Hùng và cộng sự 2005 Thực trạng phương tiện vệ sinh bàn tay, nhận thức và thực hành vệ sinh bàn tay của Nhân viên Y tế tại một số bệnh viện khu vực phí
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH THANH HOÀNG
THỰC TRẠNG RỬA TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC - CHỐNG ĐỘC
VÀ KHOA HỒI SỨC NHI - SƠ SINH BỆNH VIỆN ĐA KHOA
ĐỒNG THÁP NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Hà Nội, 2015
Trang 2Đồng Tháp – 2015 TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HUỲNH THANH HOÀNG
THỰC TRẠNG RỬA TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TẠI KHOA HỒI SỨC TÍCH CỰC - CHỐNG ĐỘC VÀ KHOA HỒI SỨC NHI - SƠ SINH BỆNH VIỆN
ĐA KHOA ĐỒNG THÁP NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Hà Nội, 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, em nói riêng và lớp Cao học Quản lý Bệnh viện Đồng Tháp K6 nói chung đã được Ban Giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội tạo mọi điều kiện thuận lợi trong học tập, quí thầy cô ân cần, chu đáo, tận tình hướng dẫn, giảng dạy
Qua thời gian học tập và thực hiện luận văn em còn được sự quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ của Ban Giám đốc, các khoa, phòng, quí thầy, cô
và các bạn đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp
Để hoàn thành luận văn, em xin chân thành cám ơn Ban Giám hiệu, quí thầy cô Trường Đại học Y tế công cộng, Ban Giám đốc, các khoa, phòng, quí thầy, cô và các bạn đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa Đồng Tháp Đặc biệt lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Văn Hai, TS Nguyễn Đức Thành đã tận tình chỉ dẫn, hỗ trợ, cung cấp thông tin để em hoàn thành luận văn này
Cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Quản lý Bệnh viện Đồng Tháp khóa
6 đã cùng em học tập, trao dồi, chia sẻ kinh nghiệm trên lớp học và trong thời gian thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn !
Huỳnh Thanh Hoàng
Trang 4ii
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Lịch sử về vệ sinh tay 4
1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện 5
1.3 Tầm quan trọng của thực hành vệ sinh bàn tay 6
1.4.Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế 10
1.5 Khái quát về địa điểm nghiên cứu 12
KHUNG LÝ THUYẾT 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng nghiên cứu 15
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 15
2.3 Thiết kế nghiên cứu 15
2.4 Cỡ mẫu 15
2.5 Phương pháp chọn mẫu 15
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 16
2.7 Các biến số nghiên cứu 17
2.8 Các khái niệm 19
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 20
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 20
2.11 Hạn chế của nghiên cứu 21
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 22
3.2 Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay thường quy 23
3.3 Thái độ của NVYT về rửa tay 25
3.4 Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế 28
Trang 5i
3.5 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với các đặc điểm chung 30
CHƯƠNG 4, BÀN LUẬN 34
KẾT LUẬN 39
KHUYẾN NGHỊ 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC 1 46
PHỤ LỤC 2 47
PHỤ LỤC 3 53
PHỤ LỤC 4 56
PHỤ LỤC 5 57
PHỤ LỤC 6 58
Trang 6iv
DANH MỤC BIỂU BẢNG
ảng 3.1 Một số đặc điểm về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 22
ảng 3.2 Kiến thức của NVYT về rửa tay thường quy 23
ảng 3.3 Kiến thức của NVYT về các hình thức vệ sinh tay 24
ảng 3.4 Thái độ của NVYT về rửa tay đối với nhiễm khuẩn bệnh viện 25
ảng 3.5 Thái độ của NVYT về rửa tay 26
ảng 3.6 Tỷ lệ thực hành rửa tay của NVYT theo các thời điểm rửa tay 28
ảng 3.7 Tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế theo khoa 29
ảng 3.8 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với giới tính 30
ảng 3.9 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nhóm tuổi 30
ảng 3.10 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nghề nghiệp 31
ảng 3.11 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với trình độ chuyên môn 31
ảng 3.12 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với thâm niên 32
ảng 3.13 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với khoa 32
ảng 3.14 Mối liên giữa kiến thức với tuân thủ rửa tay 33
ảng 3.15 Mối liên giữa thái độ thức với tuân thủ rửa tay 33
Trang 7CKII Chuyên Khoa II
NKBV Nhiễm khuẩn bệnh viện
NVYT Nhân viên y tế
RTTQ Rửa tay thường quy
TTRT Tuân thủ rửa tay
VST Vệ sinh tay
Trang 8Hình 3 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về RTTQ 25 Hình 4 Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực về RTTQ 28
Trang 9vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Đặt vấn đề: Nhiễm khuẩn bệnh viện là vấn đề đang thu hút sự quan tâm của ngành
Y tế và của toàn x hội không ch ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới Tổ chức
Y tế thế giới đ khuyến cáo: Rửa tay thường quy với nước và xà phòng hoặc với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn là một biện pháp đơn giản và hiệu quả phòng tránh nhiễm khuẩn bệnh viện ệnh viện đa khoa Đồng Tháp là bệnh viện hạng 1 với 850 giường, 36 phòng khoa Tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh, điều trị và chăm sóc người bệnh là công việc trực tiếp phục
vụ người bệnh của ác s và Điều dưỡng nên việc rửa tay thường quy là rất quan trọng để phòng tránh nhiễm khuẩn bệnh viện cho người bệnh, gia đình người bệnh
và cả nhân viên y tế o đó, việc tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành rửa tay thường quy của nhân viên y tế và các yếu tố liên quan là vấn đề thời sự và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến
rửa tay thường quy của nhân viên y tế tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả c t ngang có phân tích, kết hợp với
nghiên cứu định tính được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 07 năm 2015
Kết quả: Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về rửa tay thường quy và có thái
độ tích cực về rửa tay thường quy đạt tỷ lệ 86,7% Tỷ lệ nhân viên y tế trong quá trình thực hành rửa tay thường quy đạt tỷ lệ tuân thủ 73,3% Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế theo 5 thời điểm rửa tay cho thấy kết quả như sau: Trước khi tiếp xúc bệnh nhân tỷ lệ tuân thủ là 73,3%, trước khi làm thủ thuật tỷ lệ tuân thủ là 81,7% Sau khi tiếp xúc bệnh nhân tỷ lệ tuân thủ là 80,0%, sau khi tiếp xúc máu, dịch tiết của người bệnh có tỷ lệ tuân thủ là 85,0% và sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân tỷ lệ tuân thủ là 28,3% Nghiên cứu cho thấy không
có mối liên quan nào có ý nghĩa thống kê giữa rửa tay thường quy với các yếu tố như: giới tính, nhóm tuổi, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, kiến thức và thái độ với p > 0,05
Trang 10viii
phản hồi tới các nhân viên y tế
- Có hình thức khen thưởng thích hợp đối với các tập thể khoa tuân thủ tốt
vệ sinh bàn tay
- Tiếp tục đầu tư và duy trì các phương tiện phục vụ vệ sinh tay cho các khoa theo điều kiện của bệnh viện Đặc biệt là trang bị dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn tại các buồng bệnh, ưu tiên các khoa có nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện cao
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở kh p nơi trên thế giới Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính ở bất cứ thời điểm nào cũng có hơn 1,4 triệu người bệnh trên thế giới m c nhiễm khuẩn bệnh viện [18 Kết quả từ nhiều nghiên cứu đ kh ng định 5 hậu quả của nhiễm khuẩn bệnh viện đối với người bệnh là: tăng tỷ lệ m c bệnh, tăng tỷ lệ tử vong, tăng ngày điều trị, tăng chi phí điều trị và tăng sự kháng thuốc của vi sinh vật Chi phí điều trị cho một ca nhiễm khuẩn bệnh viện tại Việt Nam là từ 2 đến 32,5 triệu đồng tùy thuộc vào cơ quan/bộ phận bị nhiễm khuẩn bệnh viện [31 Có nhiều phương thức lây truyền gây nhiễm khuẩn bệnh viện trong
đó lây truyền qua bàn tay nhân viên y tế là một trong những nguyên nhân hàng đầu [23 WHO đ khuyến cáo, rửa tay là biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất đề phòng nhiễm khuẩn bệnh viện [18 Một nghiên cứu tại Thụy S cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 48% lên 60% thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% xuống còn 9,9% [24]
Tại Việt Nam, ộ Y tế đ ban hành Thông tư số 18/2009/TT- YT ngày 14 tháng 10 năm 2009 về việc hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh, trong đó đ quy định thầy thuốc, nhân viên y
tế phải rửa tay theo quy định và theo hướng dẫn của cơ sở khám, chữa bệnh [4]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Việt Hùng và cộng sự (2005) Thực trạng phương tiện vệ sinh bàn tay, nhận thức và thực hành vệ sinh bàn tay của Nhân viên
Y tế tại một số bệnh viện khu vực phía c cho rằng rửa tay là biện pháp đơn giản
và hiệu quả nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế còn rất thấp 25,7%) [16 Nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang về tuân thủ rửa tay tại ệnh viện Chợ Rẫy năm 2010 cho thấy tỷ lệ TTRT của NVYT là 25,7%, tỷ lệ TTRT ở điều dưỡng (67,5%) cao hơn so với bác s (24,6%) [7 Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ về tuân thủ rửa tay còn thấp, do đó nguy cơ có thể lây nhiễm chéo từ người bệnh này sang người bệnh khác trong quá trình chăm sóc và điều trị đáng được quan tâm Mặc dù chúng ta không thể giữ bàn tay vô trùng, nhưng việc rửa tay thường xuyên bằng xà phòng có thể giúp mỗi người hạn
Trang 122
chế được sự lây lan các vi khuẩn, vi rút từ người này sang người khác và ngược lại Nhằm tạo cho nhân viên y tế có thói quen tuân thủ rửa tay s bảo vệ sức khỏe chính bản thân, cho người bệnh, đồng thời cũng góp phần vào công tác kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện Câu hỏi đặt ra là kiến thức, thái độ và việc thực hiện vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện đa khoa Đồng Tháp là như thế nào? Những yếu tố liên quan đến vệ sinh tay của nhân viên y tế tại các khoa hồi sức cấp cứu bệnh viện đa khoa Đồng Tháp là gì? Với những lý do trên, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài về Thực trạng rửa tay thường quy của nhân viên y
tế tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh bệnh viện
đa khoa Đồng Tháp năm 2015 Từ đó góp phần đề xuất những giải pháp, nâng cao
hiệu quả trong việc rửa tay thường quy cho nhân viên y tế, góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện trong thời gian tới
Trang 133
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về rửa tay thường quy của nhân viên
y tế tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh bệnh viện
đa khoa Đồng Tháp năm 2015
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến rửa tay thường quy của nhân viên y
tế tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp năm 2015
Trang 14Năm 1879, tại một hội thảo khoa học ở Paris, bác s Louis Pasteur đ nói
“Nguyên nhân gây tử vong ở những bà mẹ bị nhiễm trùng hậu sản chính là các bác
sỹ đã sử dụng bàn tay khám các bà mẹ bị bệnh rồi khám các bà mẹ mạnh khỏe”
Sau đó ông đ đưa ra Lý thuyết về “Mầm bệnh” và phương pháp tiệt khuẩn Pasteur được sử dụng tới ngày nay Trong những năm đó, khuyến cáo rửa tay đ gặp rất nhiều khó khăn bởi thiếu phương tiện rửa tay, thiếu nước, sự gia tăng đề kháng, kháng sinh của vi khuẩn trong khi đó nhân viên y tế thì rất thiếu kiến thức về vệ sinh bệnh viện [14]
Năm 1910, ác s Rosephine aker (Hoa Kỳ) đ tổ chức khoá tập huấn đầu tiên giảng dạy về vệ sinh bàn tay cho những cán bộ y tế chăm sóc bệnh nhi Năm
1992, một báo cáo khoa học của New ngland công bố kết quả nghiên cứu về rửa tay tại khoa hồi sức cấp cứu áo cáo cho thấy, mặc dù đ áp dụng những biện pháp giáo dục và giám sát đặc biệt, nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở cán bộ y tế ch xấp x 30% và tỷ lệ cao nhất ch đạt 48% Cũng năm đó Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh (C C) Hoa Kỳ cho biết tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giao động từ 5-15% tại các bệnh viện, điều này dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn trên nhân viên y tế và năm 1993 đ có 11 nhân viên y tế m c bệnh viêm gan A do không rửa tay sau khi tiếp xúc với 1 trong 2 bệnh nhân viêm gan A [14]
Năm 1961, tại các cơ sở y tế của M , nhân viên y tế được khuyến cáo rửa tay bằng xà phòng thường trước và sau tiếp xúc với bệnh nhân Sát khuẩn tay bằng cồn được coi là biện pháp ít có hiệu quả và ch áp dụng trong các trường hợp khấn cấp,
Trang 155
khi không đủ thời gian rửa tay hoặc ở các khu vực không có bồn rửa tay [26]
Tại Việt Nam, gần đây ngành y tế đ quan tâm, chú trọng đến vấn đề vệ sinh tay Năm 2006, ộ Y tế b t đầu thực hiện dự án tăng cường vệ sinh bệnh viện, trong
đó tửa tay thường quy với nước và xà phòng được coi là một trong các biện pháp chiến lược ự án đ phát động “Tuần lễ rửa tay” tại 21 bệnh viện với khoảng 7.000 người tham dự [5]
Năm 2009, tuân thủ vệ sinh tay được đưa vào nội dung Thông tư 18/2009/BYT-TT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh [4 Hưởng ứng phong trào vệ sinh tay toàn cầu, ngày 5 tháng 5 năm 2010, l nh đạo ngành y tế Việt Nam đ ký cam kết với WHO và đưa
V ệt Nam trở thành quốc gia thứ 118 cam kết sự ủng hộ của nước mình trước Thách thức toàn cầu và An toàn bệnh nhân trong chương trình Chăm sóc Sạch là Chăm sóc
An toàn hơn nhằm tập trung mọi nỗ lực hướng tới tầm quan trọng của việc vệ sinh bàn tay trong việc chăm sóc sức khỏe [35]
1.2 Nhiễm khuẩn bệnh viện
1.2.1 Định nghĩa nhiễm khuẩn bệnh viện
Theo Tổ chức y tế Thế giới, nhiễm khuẩn bệnh viện là các nhiễm khuẩn thường xuất hiện sau 48h kể từ khi bệnh nhân nhập viện và không hiện diện cũng như không ở giai đoạn ủ bệnh tại thời điểm nhập viện [38]
1.2.2 Phương thức lây truyền các tác nhân gây nhiễm khuẩn bệnh viện
Có 3 đường lây truyền chính trong cơ sở y tế là lây qua đường tiếp xúc,
đường giọt b n và không khí [13]
- Lây qua đường không khí: Xảy ra do các giọt b n li ti chứa tác nhân gây
bệnh, có kích thước < 5𝜇𝑚 Các giọt b n li ti phát sinh ra khi người bệnh ho hay h t hơi, sau đó phát tán vào trong không khí và lưu chuyển đến một khoảng cách xa, trong một thời gian dài tùy thuộc vào các yếu tố môi trường Những bệnh có khả năng lây truyền bằng đường không khí như lao phổi, sởi, thủy đậu, đậu mùa, cúm, quai bị, SARS khi có làm thủ thuật tạo khí dung
- Lây qua đường giọt bắn: Khi các tác nhân gây bệnh chứa trong các giọt
nhỏ b n ra khi người bệnh ho, h t hơi, nói chuyện b n vào kết mạc m t, niêm mạc
Trang 166
mũi, miệng của người tiếp xúc, các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có trong các giọt b n có thể truyền bệnh từ người sang người trong một khoảng cách ng n (<1 mét) Các giọt b n có kích thước rất khác nhau, thường >5 𝜇𝑚, có khi lên tới 30 𝜇𝑚 hoặc lớn hơn Một số tác nhân gây bệnh qua đường giọt b n cũng có thể truyền qua đường tiểp xúc trực tiếp hoặc tiếp xúc gián tiếp
- Lây qua đường tiếp xúc: Là đường lây nh ễm quan trọng và phổ biển nhất
trong NK V (chiếm 90% các nhiễm khuẩn bệnh viện) và được chia làm hai loại khác nhau là lây nhiễm qua đường tiếp xúc trực tiếp (tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây bệnh) và lây nhiễm qua tiếp xúc gián tiếp (tiếp xúc với vật trung gian chứa tác nhân gây bệnh) Nhiễm khuẩn huyết cũng được coi là một dạng đặc biệt của lây truyền qua đường tiếp xúc bởi các phương tiện dụng cụ có chứa vi khuẩn xâm nhập vào đường máu
1.3 Tầm quan trọng của thực hành vệ sinh bàn tay
1.3.1 Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
Rửa tay phòng bệnh là rửa tay sạch đúng cách bằng xà phòng và nước, tại đúng các thời điểm như trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, sau khi tiếp xúc với dịch máu, dịch cơ thể nhằm loại trừ các vi khuẩn gây bệnh bám trên tay người do quá trình tiếp xúc với môi trường mang lại Các nhà khoa học đ xác định, trên 1cm2 da của người bình thường chứa tới 40.000 vi khuẩn Đặc biệt số lượng này còn nhiều hơn ở trên da tay, vốn là nơi thường xuyên tiếp xúc với đủ mọi vật trong cuộc sống thường ngày [6]
Nhân viên y tế hàng ngày dùng bàn tay là công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của cán bộ y tế thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch sinh học và dịch tiết của người bệnh Các vi khuẩn gây bệnh từ bệnh nhân truyền qua tay của nhân viên y tế, làm cho bàn tay của nhân viên y tế là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh tiềm năng [18]
Năm bước bàn tay phát tán mầm bệnh
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay của nhân viên y tế
- Mầm bệnh sống trên da tay
Trang 177
- Rửa tay ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- a tay nhiễm khuẩn phát tán, mầm bệnh sang người bệnh hoặc đồ vật [18]
Các chủng vi khuẩn thường có trên da bàn tay nhân viên y tế [1]
a Vi khuẩn định cư: t có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm
nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn khi phẩu thuật, đặt catheter lòng mạch, cồn VS T bằng hoá chất khử khuẩn như cồn hoặc chlorhexidine với thời gian đủ dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này
b Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay nhân viên y tế
khi bàn tay bị ô nhiễm (bị bẩn) từ bệnh nhân hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện (chăn, drap giường, dụng cụ phương tiện phục vụ bệnh nhân), trong quá trình chăm sóc và điều trị Vi khuẩn v ng lai gồm mọi vi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, nấm, ký sinh trùng) và là thủ phạm chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện Có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp vệ sinh bàn tay thường quy với nước và xà phòng thường hoặc chà xát tay bằng dung dịch rửa tay có chứa cồn
1.3.2 Mối liên quan giữa tuân thủ rửa tay với nhiễm khuẩn bệnh viện
Vệ sinh tay làm giảm tỷ lệ tử vong do sốt hậu sản đ được chứng minh qua nghiên cứu can thiệp của Semmelweis năm 1847 Kết quả nghiên cứu cho thấy sau khi áp dụng biện pháp rửa tay b t buộc bằng dung dịch khử khuẩn, tỷ lệ tử vong ở sản phụ của ệnh viện đa khoa thành phố Viên giảm từ 18,3% vào tháng 4/1847 xuống 2,2% vào tháng 6/1848 [1]
Nhiễm khuẩn bệnh viện lây truyền qua một số con đường, trong đó lây truyền thông qua bàn tay của nhân viên y tế là phổ biến nhất [28]
Nhiễm khuẩn bệnh viện gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng không
ch với bệnh nhân mà còn đối với các nhân viên y tế Sự tuân thủ rửa tay của NVYT (như rửa tay với nước và xà phòng, rửa tay với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất để phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện [28]
Nhiều nghiên cứu cũng kh ng định vệ sinh tay bằng dung dịch có chứa cồn là biện pháp quan trọng nhất để dự phòng sự lây truyền tác nhân gây bệnh trong các cơ
Trang 188
sở y tế [33 Một nghiên cứu ở Thụy S từ năm 1994 đến 1997 trên 20.000 cơ hội rửa tay của NVYT tại bệnh viện Geneva đ cho thấy: khi tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tăng từ 48,0% (1994) lên 66,0% (1997) thì tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện giảm từ 16,9% (1994) xuống còn 6,9% (1997) [24]
Tại Việt Nam, can thiệp làm tăng sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của NVYT cũng
đ mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn bệnh viện (NK V) từ 17,1% trước can thiệp xuống còn 4,8% sau can thiệp [20]
Đánh giá được tầm quan trọng của vệ sinh bàn tay trong việc phòng ngừa và giảm tỷ lệ NK V, từ năm 1996 ộ y tế đ ban hành Quy trình rửa tay thường quy Năm 2007, dựa trên hướng dẫn mới nhất của Tổ chức Y tế thế giới về phương pháp rửa tay thường quy và sát khuẩn tay bằng dung dịch có chứa cồn, ộ Y tế đ mời các chuyên gia y tế và chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn sửa đổi quy trình cho phù hợp với điều kiện Việt Nam và ban hành công văn số 7517/ YT- Đtr ngày 12 tháng
10 năm 2007 đề nghị các Sở Y tế, các đơn vị tổ chức cho cán bộ, nhân viên bệnh viện học tập và thực hiện theo hướng dẫn mới và treo Quy trình rửa tay bằng hình ảnh ở những vị trí thuận lợi để nhân viên y tế thực hiện theo quy định [3 Năm
2009, ộ Y tế đ ban hành Thông tư 18/2009/ TT- YT: Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn tại các cơ sở khám, chữa bệnh Điều 1 của
Thông tư quy định “Thầy thuốc, nhân viên y tế, học sinh, sinh viên thực tập tại các
cơ sở khám chữa bệnh phải tuân thủ rửa tay đúng chỉ định và đúng quy trình kỹ thuật theo hướng dẫn của Bộ Y tế Người bệnh và người nhà ngườỉ bệnh, khách đến thăm phải rửa tay theo quy định và hướng dẫn của cơ sở khám chữa bệnh" [4]
Các thời điểm nhân viên y tế bắt buộc phải vệ sinh bàn tay bao gồm:
(1) Trước khi tiếp xúc bệnh nhân
(2) Trước khi làm thủ thuật
(3) Sau khi tiếp xúc bệnh nhân
(4) Sau khi tiếp xúc với máu, dịch tiết
(5) Sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân
Trang 199
Hình 1 Năm thời điểm rửa tay
Quy trình vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế với nước và xà phòng hoặc với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn gồm 6 bước ở hình 2 [3]
Hình 2 Quy trình vệ sinh tay thường quy
Trang 2010
1.3.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh bàn tay
Tại Việt Nam đ có một số nghiên cứu ch ra các yếu tố liên quan đến sự tuân thủ vệ sinh bàn tay của NVYT Nghiên cứu Hoàng Thị Xuân Hương cho thấy trong
8 yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ rửa tay và NVYT, có 2 yếu tố được các nhân viên y tế cho là ảnh hưởng nhiều nhất đến sự tuân thủ vệ sinh bàn tay đó là: Không nhận thức đúng về tầm quan trọng của vệ sinh tay và không có hoặc thiếu phương tiện vệ sinh tay (VST) [8]
V Văn Tân và cộng sự nghiên cứu của mình đ tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VST của NVYT đó là: nhận thức kém về tầm quan trọng của rửa tay khi chăm sóc người bệnh, thiếu nhân viên và quá tải bệnh viện [20]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh đ nêu lên những yếu tố tăng cường
và cản trở tuân thủ VST thường quy của NVYT Những yếu tố tăng cường tuân thủ
vệ sinh tay bao gồm: Quy chế chuyên môn, quy định của cơ sở, tập huấn, giám sát
và chế tài r ràng (khen thưởng và kỷ luật) Các yếu tố cản trở bao gồm: Quá nhiều
cơ hội phải VST trong khi thiếu nhân lực và quá tải công việc nên không có thời gian để VST Thiếu phương tiện hoặc phương tiện VST không phù hợp, hóa chất để VST không đạt chuẩn cũng là yếu tố làm giảm sự tuân thủ VST ở nhân viên y tế [15]
1.4 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đ có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại các bệnh viện nhằm đánh giá tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT
1.4.1 Nghiên cứu trên thế giới
Tuân thủ vệ sinh bàn tay phòng tránh được nhiễm khuẩn bệnh viện, tuy nhiên
tỷ lệ tuân thủ rửa tay của các nhân viên y tế còn rất thấp Tại Hoa Kỳ, một số nghiên cứu về tỷ lệ này được thực hiện trong khoảng thời gian từ năm 1991 đến 2000 cho thấy, tỷ lệ tuân thủ rửa tay ch đạt từ 29,0% đến 40,0% [24]
Năm 2002, tại Italia, Nonile và cộng sự đ tiến hành đánh giá kiến thức, thái
độ và thực hành vệ sinh bàn tay của các NVYT tại các khoa hồi sức tích cực của 24 bệnh viện vùng Campania và Calabria Kết quả cho thấy 53,2% NVYT có kiến thức đúng, tỷ lệ có thái độ tích cực về vệ sinh bàn tay là 96,8%, thái độ tích cực của nhóm NVYT có trình độ học vấn cao và nhóm nữ, lớn tuổi cao hơn có ý nghĩa thống kê so với các nhóm khác Trong nghiên cứu này tỷ lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại thời điểm trước khi chăm sóc người bệnh đạt 60% và sau khi chăm sóc
Trang 2111
người bệnh đạt 72,5% [32]
Nghiên cứu của Silvestri L và cộng sự năm 2005 cho thấy tỷ lệ tuân thủ rửa tay kém có thể gây ra 40% các trường hợp nhiễm khuẩn tại khoa điều trị tích cực [34 Nghiên cứu của Khaled M và cộng sự thực hiện năm 2008 tại ệnh viện Đại học Ain Shams (Cairo, Ai Cập) cho thấy, điều dưỡng có kiến thức về vệ sinh bàn tay tốt hơn bác s nhưng các bác s lại là những người tuân thủ rửa tay tốt hơn (37,5%) tuy nhiên tỷ lệ rửa tay đúng của họ ch là 11,6% [29]
1.4.2 Nghiên cứu tại Việt nam
Khoảng 10 năm trở lại đây, vệ sinh bàn tay của nhân viên y tế được chú trọng hơn tại Việt Nam, do đó đ có nhiều các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này
Theo một điều tra về tình hình thực hiện các biện pháp dự phòng cơ bản ênh viện ạch Mai và một số ệnh viện khu vực phía c được công bố ngày 17/3/2007 Tại ệnh viện ạch Mai ch 2,6% nhân viên y tế rửa tay thường quy ( RTTQ) trước khi thăm khám bệnh nhân và 4,2% RTTQ trước khi chuyển từ thao tác bẩn sang thao tác sạch trên cùng một bệnh nhân [17]
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng và cộng sự thực hiện tại một số bệnh viện khu vực phía c vào năm 2005 cho thấy tỷ lệ NVYT nhận thức về VS T chưa tốt
ở mọi đối tượng, mọi lứa tuổi Trong nghiên cứu này tỷ lệ NVYT có nhận thức tốt
Nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương trước và sau can thiệp về Vệ sinh bệnh viện tại V Đống Đa, Hà Nội năm 2010 được thực hiện trên đối tượng bác s
và điều dưỡng cho thấy sau can thiệp kiến thức đạt yêu cầu của NVYT về vệ sinh bàn tay tăng lên 12,7% (p<0.001) [8]
Đặng Thị Vân Trang năm 2010 đ khảo sát tỷ lệ TTRT theo 5 thời điểm tại bệnh viện Chợ Rẫy Kết quả cho thấy tỷ lệ TTRT của NVYT trung bình là 25,7%,
tỷ lệ TTRT ở điều dưỡng (67,5%) cao hơn so với bác s (24,6%), k thuật viên (3,1%) và các nhân viên khác (4,8%) Tỷ lệ tuân thủ rửa tay lần lượt là 17,0% trước khi tiếp xúc bệnh nhân, 31,8% trước thao tác vô khuẩn, 56,7% sau tiếp xúc dịch, 29,2% sau tiếp xúc bệnh nhân và 12,3% sau khi chạm vào môi trường xung quanh
Trang 2212
bệnh nhân [7]
Nghiên cứu của Trương Anh Thư, Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Quốc Anh về mức độ cải thiện vệ sinh tay của nhân viên y tế ệnh viện ạch Mai năm (2007- 2011), cho thấy tỷ lệ tuân thủ VST tăng từ 14,1% (năm 2007) lên 50,5% (năm 2011) (p <0,01) và tăng ở mọi đối tượng nhân viên y tế từ 12,9% lên 53,5% ở bác sĩ; 15,1% lên 55,3% ở điều dưỡng; 23,5% lên 51,9% ở hộ lý; và 11,7% tới 38,3% ở học viên) Như vậy có thể thấy mức độ VST ở nhân viên y tế ệnh viện ạch Mai được cải thiện r rệt qua các năm triển khai chương trình VST trong toàn bệnh viện [19]
Mai Ngọc Xuân năm 2010 đ khảo sát thái độ và sự tuân thủ rửa tay của các bác sĩ và điều dưỡng tại các khoa trọng điểm ệnh v ện Nhi đồng 2 cho thấykết quả phần lớn nhân viên y tế có thái độ tuân thủ rửa tay tốt 63,8%, tỷ lệ tuân thủ rửa tay của Điều dưỡng cao hơn ác sĩ (60,4% so với 49,6%) [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh (2012) về kiến thức và tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy của điều dưỡng ệnh viên Xanh Pôn Hà Nội cho thấy 71,0% điều dưỡng có kiến thức tốt về thực hành rửa tay Điều dưỡng khoa Ngoại có kiến thức tốt hơn so với điều dưỡng khoa Nội (63,6% so với 36,4%), tỷ lệ tuân thủ các
cơ hội rửa tay là 58%, tỷ lệ tuân thủ rửa tay ở buổi sáng cao hơn buổi chiều (60,7%
so với 54,3%) [15]
1.5.Khái quát về địa điểm nghiên cứu
ệnh viện đa khoa Đồng Tháp trụ sở chính: số 144 Mai Văn Khải, x M Tân, thành phố Cao L nh, t nh Đồng Tháp - là ệnh viện hạng 1 với 850 giường, 36 phòng khoa Hàng năm bệnh viện đều hoàn thành đạt và vượt ch tiêu kế hoạch đề
ra Năm 2013, tổng số lần khám chữa bệnh là 527.470 lượt, đạt t lệ 107,6% ; công suất sử dụng giường bệnh đạt 120,33% [2 ệnh viện luôn trong tình trạng quá tải,
số lượng người bệnh đến khám, chửa bệnh ngày càng gia tăng Tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp tình trạng quá tải này gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác khám, điều trị và chăm sóc người bệnh, mà nghiêm trọng hơn đó là nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện ngày càng
cao, hiện tại bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về vệ sinh tay của nhân viên y tế do
đó rất cần có những nghiên cứu để đánh giá kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế và các yếu tố liên quan tại bệnh viện, để từ đó đề
xuất các biện pháp nhằm tăng cường tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế Đó là
lý do để thực hiện nghiên cứu này
Trang 23- Thâm niên công tác
Nhân tố tạo điều
kiện
- Sự tiếp cận phương tiện vệ sinh bàn tay
- Sự sẵn có phương tiện vệ sinh bàn tay
Yếu tố củng cố/tăng cường
Trang 2414
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
ác s và điều dưỡng của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp đang làm việc tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 01/2015 đến tháng 07/2015 Tại các khoa hồi sức tích cực - chống độc và khoa hồi sức nhi - sơ sinh bệnh viện đa khoa Đồng Tháp
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả c t ngang có phân tích, kết hợp với nghiên cứu định tính
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Mẫu cho nghiên cứu định lượng
Chọn tất cả NVYT tại khoa hồi sức tích cực - chống độc và khoa hồi sức nhi
sơ sinh, tổng số 60 NVYT (trong đó ác s 7 và Điều dưỡng 53), chăm sóc và điều trị cho người bệnh
2.4.2 Mẫu cho nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu 8 đối tượng đích bao gồm: 1 Trưởng khoa hồi sức tích cực - chống độc; 1 Trưởng khoa hồi sức nhi – sơ sinh; 1 Điều dưỡng Trưởng khoa hồi sức tích cực – chống độc; 1 Điều dưỡng Trưởng khoa hồi sức nhi – sơ sinh; 2 Điều dưỡng khoa hồi sức tích cực – chống độc; 2 Điều dưỡng khoa hồi sức nhi – sơ sinh
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Tiêu chí chọn mẫu
- ác s , Điều dưỡng có trình độ từ trung cấp trở lên là nhân viên chính thức của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp và đang làm việc tại khoa hồi sức tích cực – chống độc và khoa hồi sức nhi – sơ sinh trong thời gian nghiên cứu, bác s , điều dưỡng có làm công tác chuyên môn, tiếp xúc với bệnh nhân theo 5 thời điểm của WHO: (1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân
(2) Trước khi làm thủ thuật vô trùng
(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể
(5) Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân
- Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
2.5.2 Tiêu chí loại trừ
ác sĩ, điều dưỡng không phải là nhân viên của bệnh viện đa khoa Đồng Tháp (nhân viên thực tập…) ác sĩ, điều dưỡng làm công tác hành chánh, không tiếp xúc trực tiếp bệnh nhân
Trang 2515
- Đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Quan sát thực hành rửa tay
- Quan sát viên là nghiên cứu viên tiến hành quan sát NVYT rửa tay trong lúc chăm sóc bệnh nhân và điền vào bảng kiểm (quan sát không tham gia)
- Quan sát viên sử dụng bộ công cụ và cách đánh giá sự tuân thủ rửa tay (được xây dựng dựa trên bộ công cụ và cách tiến hành đánh giá tuân thủ rửa tay đ được chuẩn hóa của Tổ chức Y tế thế giới thực hiện trên kh p các bệnh viện toàn thế giới) chọn vị trí quan sát không gây sự chú ý đối với NVYT và quan sát các đối tượng thực hiện những thao tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân tại buồng bệnh hoặc giường bệnh trong khoa, thời gian của mỗi lần giám sát là 20 ±10 phút (tùy thuộc vào thao tác chăm sóc NVYT thực hiện trên người bệnh), nếu hết thời gian quan sát NVYT chưa kết thúc thao tác chăm sóc bệnh nhân, thì quan sát viên tiếp tục quan sát cho tới khi NVYT hoàn thành thao tác chăm sóc đó, NVYT ch được ghi nhận
có VST khi thực hiện quy trình này tại các vị trí VST trong buồng bệnh [37 Tại mỗi khoa tiến hành giám sát vào hai thời điểm 8h đến 10h sáng và 14h đến 16h chiều
- Mỗi bác s /điều dưỡng được quan sát là 5 cơ hội vệ sinh tay để tính tỷ lệ tuân thủ VST theo cơ hội/thời điểm cần VST
2.6.2 Phát vấn điều tra kiến thức và đánh giá quá trình rửa tay
- Sau khi được quan sát đủ 5 cơ hội vệ sinh tay, nhân viên trong mẫu nghiên cứu được mời điền vào bảng thăm dò kiến thức và thái độ về VST Thời gian phát vấn và thu lại là khoảng 15 phút
- Sử dụng bảng kiểm để quan sát sự tuân thủ rửa tay của bác s và điều dưỡng (phụ lục 1)
- Sử dụng bảng câu hỏi phát vấn để bác s và điều dưỡng tự trả lời (phụ lục 2)
2.6.3 Phương pháp kiểm soát sai lệch
- Tuân thủ tiêu chí chọn mẫu và tiêu chí loại trừ
- Nghiên cứu viên khảo sát thử trên 10 phiếu sau đó có ch nh sửa sao cho phù hợp trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức
Trang 2616
2.7 Các biến số nghiên cứu
lường
1 Tuổi Tính theo tuổi dương lịch Rời rạc ộ câu
hỏi tự điền
hỏi tự điền
3 Khoa Khoa hiện tại NVYT đang làm
việc
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
4 Nghề nghiệp Nghề nghiệp chính của đối tượng Danh
định
ộ câu hỏi tự điền
5 Trình độ học
vấn
Là bậc học cao nhất của đối tượng Thứ bậc ộ câu
hỏi tự điền
6 Thời gian công
tác ở bệnh
viện
Số năm làm việc tại bệnh viện Rời rạc ộ câu
hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
9 Rửa tay đúng Rửa tay đúng quy trình theo quy Danh ộ câu quy trình định nhằm mục đích để phòng
ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện
ộ câu hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
Trang 27ộ câu hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
15 Phương tiện
rửa tay
Sau khi tiếp xúc với đồ vật, dụng
cụ dính máu, dịch và các chất bài tiết của người bệnh phải RT bằng
xà phòng và nước hoặc RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
16 Trước khi đi
găng sạch
Trước khi đi găng sạch phải RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
17 Rửa tay sau
khi khám bệnh
Sau khi khám bệnh cho một bệnh nhân phải RT bằng cồn/dd sát khuẩn có chứa cồn
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
19 Những vị trí Là mu bàn tay, các k ngón tay và Danh ộ câu thường bị
Danh định
ộ câu hỏi tự điền
21 Tuân thủ rửa
tay
Là thực hiện rửa tay theo đúng các thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu
Danh định
Quan sát theo bảng kiểm
Tỷ lệ tuân thủ VST = Tổng số cơ hội cần VST theo quy định
Rửa tay: Rửa tay dưới bất kỳ hình thức nào đúng hoặc không đúng theo quy
Trang 2818
trình vệ sinh bàn tay gồm 6 bước của ộ Y tế trong Công văn Số: 7517/ YT- ĐTr ngày 12 tháng 10 năm 2007 về việc Hướng dẫn thực hiện Quy trình rửa tay thường quy và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn [3]
Thời gian thực hiện vệ sinh tay với nước và xà phòng là khoảng 45 - 60 giây, với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn là từ 20 đến 30 giây (theo quy định của ộ Y tế) [3]
Các thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu:
(1) Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân
(2) Trước khi làm thủ thuật vô trùng
(3) Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân
(4) Sau khi tiếp xúc với máu và dịch thể cơ thể
(5) Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh bệnh nhân
Tiêu chuẩn đánh giá
- Đánh giá kiến thức về vệ sinh tay của nhân viên y tế gồm 20 câu hỏi, trả lời đúng 1 câu được 1 điểm (tổng cộng là 20 điểm) Cách chấm điểm được trình bày tại (phụ lục 3) Nhân viên y tế có kiến thức đúng từ 12 điểm trở lên là đạt yêu cầu, từ 0 – 11 điểm là nhân viên y tế có kiến thức không đúng và không đạt yêu cầu
- Đánh giá thái độ về vệ sinh tay của nhân viên y tế gồm 8 câu hỏi (tổng số điểm lớn nhất là 40 điểm), câu trả lời được chia thành 5 mức độ: 5-rất đồng ý, 4- đồng ý, 3-không có ý kiến, 2-không đồng ý, 1-rất không đồng ý Đánh giá thái độ được chia thành 2 nhóm: Nhóm có thái độ tích cực đạt mức 4 và 5 (tương ứng từ 32 điểm trở lên) Nhóm có thái độ không tích cực đạt mức từ 1 – 3 (tương ứng dưới 32 điểm trở xuống)
- Đánh giá tuân thủ vệ sinh bàn tay được xác định khi NVYT có vệ sinh bàn tay bằng nước sạch và xà phòng, cồn hoặc dung dịch khử khuẩn Xác định là không tuân thủ khi không rửa tay hoặc ch mang găng
2.9 Phương pháp phân tích số liệu
- Các số liệu được kiểm tra, làm sạch các lỗi, m hóa và nhập thông tin vào máy tính, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, sử dụng phương pháp thống kê thông thường để phân tích
- Kiểm định χ² được sử dụng để phân tích sự khác biệt giữa hai tỷ lệ và mối liên quan giữa hai biến phân loại với p< 0,05 là có ý nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95%)
- Số liệu định tính: ản ghi âm nội dung được gỡ băng, m hóa thông tin theo chủ đề và phân tích theo chủ đề bao gồm: s p xếp các thông tin được m hóa
Trang 2919
theo chủ đề vào bảng tổng hợp dữ liệu, trích dẫn phù hợp
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của an Giám đốc bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp và được thông qua hội đồng đạo đức của Trường Đại học YTCC
- Các thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu và số liệu được bảo mật và
ch được sử dụng cho mục đích nghiên cứu
2.11 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu thực hành vệ sinh tay ch tiến hành tại các khoa Hồi sức tích cực – chống độc và khoa Hồi sức nhi – sơ sinh, chưa tiến hành các khoa trên toàn bệnh viện
Nghiên cứu này ch thực hiện trong giờ hành chính, quan sát ngẫu nhiên không thực hiện hết tại các thời điểm do vậy có thể phản ánh chưa đầy đủ về thực hành vệ sinh tay của nhân viên y tế
Các sai số có thể gặp và cách khắc phục
Các sai số có thể gặp
Sai số do k năng người thu thập số liệu
Đối tượng nghiên cứu có thể phát hiện ra mình đang bị quan sát do đó s có ý thức tuân thủ rửa tay tốt hơn tại thời điểm bị quan sát (Tác động Hawthorne) Đây chính là sai số quan trọng nhất trong việc đánh giá t lệ tuân thủ rửa tay bằng quan sát trực tiếp Tuy nhiên, hiện nay chưa có biện pháp nào đánh giá t lệ tuân thủ rửa tay tốt hơn ất kỳ phương pháp đánh giá tuân thủ rửa tay nào cũng đều có ưu điểm
và nhược điểm Phương pháp này đ được WHO sử dụng để đánh giá t lệ tuân thủ rửa tay của NVYT tại các bệnh viện trên toàn thế giới trong nhiều năm nay, bộ công
cụ đ được chuẩn hóa và là phương pháp này được cho là nhiều ưu điểm nhất [27]
Cách khắc phục
Sai số do k năng người thu thập số liệu : Tập huấn người thu thập số liệu để
họ n m r được phương pháp đánh giá Thiết kế phiếu đánh giá dễ sử dụng với người thu thập số liệu ( ựa theo bộ công cụ đánh giá t lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế đ được chuẩn hóa của Tổ chức y tế thế giới)
Đối tượng nghiên cứu có thể phát hiện ra mình đang bị quan sát do đó s có ý thức tuân thủ rửa tay tốt hơn tại thời điểm bị quan sát Người thu thập số liệu s chọn vị trí quan sát phù hợp và thực hiện những hành động để không gây chú ý của đối tượng nghiên cứu và cũng để đối tượng nghiên cứu không nghĩ là họ đang bị quan sát xem có tuân thủ vệ sinh tay khi chăm sóc người bệnh hay không
Trang 3020
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc điểm về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trang 3121
3.2 Kiến thức của nhân viên y tế về rửa tay thường quy
Bảng 3.2 Kiến thức đúng của NVYT về rửa tay thường quy
Kiến thức đúng về rửa tay thường quy Tần số Tỷ lệ %
Nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở kh p các ệnh viện 39 65,0
àn tay của NVYT là tác nhân quan trọng trong việc lây
Vệ sinh tay trong chăm sóc bệnh nhân nhằm để tránh lây
nhiễm giữa NVYT với mỗi bệnh nhân
Tỷ lệ kiến thức đúng của NVYT chiếm cao nhất là yếu tố tuân thủ đúng quy trình rửa tay s làm giảm nguy cơ m c NK V và vệ sinh bàn tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân là 100% Tiếp theo là yếu tố bàn tay của NVYT là tác nhân quan trọng trong việc lây truyền NK V có tỷ lệ là 98,3%, vệ sinh tay trong chăm sóc bệnh nhân nhằm để tránh lây nhiễm giữa NVYT với mỗi bệnh nhân là 93,3%, rửa tay đúng quy trình là phương pháp đơn giản, hiệu quả phòng ngừa NK V là 68,3%, nhiễm khuẩn bệnh viện xảy ra ở các bệnh viện là 65,0% và kiến thức thấp nhất là yếu tố vệ sinh tay nhằm loại bỏ hầu hết các VSV thường trú trên da bàn tay với tỷ lệ kiến thức đúng là 20%
Những quy định của bệnh viện cũng đ được Điều dưỡng viên chia sẻ qua
cuộc phỏng vấn: “Quy định bắt buộc của phòng Điều dưỡng đối với tất cả các điều dưỡng viên, học sinh và sinh viên khi làm chuyên môn, là phải rửa tay thường quy theo quy định”(ĐDV khoa HS nhi-SS)
Trang 3222
Bảng 3.3 Kiến thức của NVYT về các hình thức vệ sinh tay
Kiến thức đúng về các hình thức vệ sinh tay Tần số Tỷ lệ %
Mang găng là biện pháp thay thế cho rửa tay 46 76,7 Mức độ ô nhiễm bàn tay của NVYT phụ thuộc vào thời gian
thực hiện thao tác trên người bệnh
Hình thức vệ sinh tay phù hợp sau khi tiếp xúc với đồ vật,
dụng cụ dính máu, dịch và các chất thải của người bệnh
vệ sinh tay phù hợp trước khi tiêm cho người bệnh là 75,0%, s p xếp các bước rửa tay theo đúng quy trình, vệ sinh tay phù hợp sau khi tiếp xúc với đồ vật, dụng cụ dính máu, dịch và các chất thải của người bệnh là 71,7% và các hình thức vệ sinh tay phù hợp trước khi đi găng là 53,3%, và kiến thức thấp nhất là yếu tố vệ sinh tay phù hợp sau khi khám bệnh cho một bệnh nhân là 31,7%
“… Đa số các quy trình kỹ thuật tại khoa HSTC-CĐ là mang găng tay và sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh ….” (Đ V khoa HSTC-CĐ)
Trang 33Hình 3 Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về RTTQ
Tỷ lệ nhân viên y tế có kiến thức đúng về rửa tay thường quy đạt 86,7%, còn lại là không đạt
“Kiến thức về rửa tay của nhân viên là có, tuy nhiên do bệnh đông và thời gian hạn chế nên việc rửa tay của NVYT chưa đảm bảo đúng kỹ thuật” (Đ T khoa
HSN-SS)
3.3 Thái độ của NVYT về rửa tay
Bảng 3.4 Thái độ của NVYT về rửa tay đối với nhiễm khuẩn bệnh viện
Thái độ
Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực
Tỷ lệ tuân thủ VST của NVYT tăng lên thì tỷ lệ
NK V s giảm xuống
58 96,7 2 3,3
Rửa tay là lựa chọn tốt nhất để giảm sự lây
truyền của các nhân tố gây nhiễm khuẩn có liên
Trang 3424
Thái độ
Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực
Tôi s ch ng nói gì nếu đồng nghiệp của tôi
không tuân thủ rửa tay trước khi thực hiện các
thăm khám thông thường, kiểm tra vết mổ
sạch…
42 70,0 18 30,0
Tôi s ch ng nói gì nếu đồng nghiệp của tôi
không tuân thủ rửa tay khi thực hiện các thủ
thuật xâm lấn trên người bệnh như đặt kim luồn,
đặt nội khí quản…
47 78,3 13 21,7
Tỷ lệ thái độ tích cực đối với các yếu tố chiếm cao nhất là rửa tay là lựa chọn tốt nhất để giảm sự lây truyền của các nhân tố gây nhiễm khuẩn có liên quan đến chăm sóc y tế có tỷ lệ là 100%, tiếp theo là yếu tố về tuân thủ VST của NVYT tăng lên thì tỷ lệ NK V s giảm xuống có tỷ lệ là 96,7% và có tỷ lệ thái độ tích cực thấp nhất là yếu tố rửa tay nhiều lần trong ngày s làm tổn thương da tay có tỷ lệ là 30,0%
“… Rửa tay là một trong các hoạt động nhằm giúp công tác chăm sóc và điều trị đạt hiệu quả, nếu không rửa tay thì sẻ ảnh hưởng đến bệnh nhân do đó cần phải duy trì và yêu cầu NVYT phải rửa tay khi chăm sóc người bệnh” (Đ V Khoa
HSN-SS)
Bảng 3.5 Thái độ của NVYT về rửa tay
Thái độ
Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực
Tổ chức các buổi tập huấn/sinh hoạt khoa học
cung cấp kiến thức về vệ sinh tay s làm tôi cảm
thấy phải tuân thủ rửa tay tốt hơn
52 86,7 8 13,3
Trang 3525
Thái độ
Nhân viên y tế Tích cực Không tích cực
Việc dán các tờ rơi/poster khuyến khích NVYT
rửa tay tại các vị trí dễ nhìn s làm tăng t lệ tuân
thủ rửa tay trong bệnh viện
54 90,0 6 10,0
Nếu bệnh viện đầu tư thêm các phương tiện RT
(l p thêm bồn rửa, cung cấp thêm các dung dịch
sát khuẩn tay, có khăn sử dụng 1 lần tại các điểm
RT …) thì t lệ tuân thủ rửa tay của NVYT s
tăng lên
53 88,3 7 11,7
Tỷ lệ thái độ tích cực chiếm cao nhất là yếu tố về việc dán các tờ rơi/poster, khuyến khích NVYT rửa tay tại các vị trí dễ nhìn s làm tăng t lệ tuân thủ rửa tay trong bệnh viện có tỷ lệ là 90%, tiếp theo là yếu tố nếu bệnh viện đầu tư thêm các phương tiện rửa tay thì t lệ tuân thủ rửa tay của NVYT s tăng lên có thái độ tích cực là 88,3% và thấp nhất là tỷ lệ thái độ tích cực về yếu tố tổ chức các buổi tập huấn/sinh hoạt khoa học cung cấp kiến thức về vệ sinh tay s làm tôi cảm thấy phải tuân thủ rửa tay tốt hơn có tỷ lệ là 86,7%
Tập huấn về vệ sinh tay được bệnh viện rất quan tâm đặc biệt đối với các khoa hồi sức, hầu hết các ý kiến của Điều dưỡng viên cho rằng thường xuyên tập
huấn VST rất hữu ích vì: “Hiện nay chúng em thường được tham dự khi điều dưỡng trưởng tập huấn lại cho các điều dưỡng viên trong khoa, điều đó giúp cập nhật kiến thức cho điều dưỡng, nâng cao ý thức tuân thủ VST”
Tại bệnh viện, phương tiện VST như bồn rửa và hóa chất vệ sinh tay đ
được trang bị tương đối đầy đủ ở các khoa hồi sức:“Tại các khoa hồi sức của bệnh viện Đồng Tháp khi muốn rửa tay nhanh thì có bình xịt sát khuẩn tay có chứa cồn, khi cần rửa nước thì có xà phòng, nước máy, bên cạnh đó, poster về quy trình rửa tay 6 bước của Bộ Y tế đều có dán tại các điểm rửa tay” (Đ T khoa HSTC-CĐ)
Trang 36Hình 4 Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực về RTTQ
Tỷ lệ nhân viên y tế có thái độ tích cực về rửa tay thường quy đạt tỷ lệ
86,7%, còn lại là không tích cực
3.4 Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế
Bảng 3.6 Tỷ lệ thực hành rửa tay của NVYT theo các thời điểm rửa tay
Thực hành rửa tay đúng của nhân viên y tế Tần số Tỷ lệ %
Sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân
Tỷ lệ thực hành rửa tay của nhân viên y tế theo 5 thời điểm rửa tay cho thấy kết quả như sau: Trước khi tiếp xúc bệnh nhân tỷ lệ đúng là 73,3%, trước khi làm thủ thuật tỷ lệ đúng là 81,7% Sau khi tiếp xúc bệnh nhân tỷ lệ đúng là 80,0%, sau khi tiếp xúc máu, dịch tiết của người bệnh có tỷ lệ đúng là 85,0% và sau khi tiếp xúc môi trường xung quanh bệnh nhân tỷ lệ đúng là 28,3%
“NVYT thực hiện đúng các bước rửa tay thường quy (theo 5 thời điểm rửa tay) Hằng năm có hướng dẫn, tập huấn phát động do Khoa KSNK kiểm tra và giám sát NVYT có tuân thủ chấp hành đúng rửa tay vì đây đã thành thói quen” (Đ T
khoa HSN-SS)
Quá nhiều cơ hội rửa tay: “Điều dưỡng viên cho rằng một trong những lý do