Nghiên cứu “ Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn năm 2017” được thực hiện với mục tiêu: 1 mô tả thực trạng phương tiện,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ KIM HỒNG
THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN HOÀN MỸ SÀI GÒN NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 60.72.07.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THỊ KIM HỒNG
THỰC TRẠNG PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN HOÀN MỸ SÀI GÒN NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH : 60.72.07.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS.BS NGUYỄN VĂN HẢI
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học và quý Thầy – Cô Trường Đại Học Y tế công cộng đã tận tình giảng dạy , cung cấp kiến thức quý báu và hướng dẫn em trong suốt khóa học
Với tất cả sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy, cô hướng dẫn khoa học, người đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ, truyền đạt những kinh nghiệm và tạo mọi điều kiện nhằm giúp em hoàn thành luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy – Cô các bộ môn, các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên Lớp Quản lý bệnh viện – Khóa 8, Thành phố Hồ Chí Minh, năm học 2015 – 2017 đã có những ý kiến đóng ghóp quý báu giúp em trong khi thực hiện luận văn này
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Đốc, các Khoa/Phòng Bệnh viện Hoàn
Mỹ Sài Gòn đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc thu thập số liệu cũng như cung cấp những tài liệu tham khảo giúp em thu thập được những thông tin chính xác, trung thực làm cơ sở hoàn thành luận văn này
Cuối cùng xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ
em trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 QUẢN LÝ CTYT TRONG BV 4
1.1.1 Giảm thiểu CTYT 4
1.1.2 Phân định CTYT 4
1.1.3 Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT 5
1.1.4 Phân loại CTYT 6
1.1.5 Thu gom CTYT 7
1.1.6 Vận chuyển CTYT 9
1.1.7 Lưu giữ CTYT 10
1.1.8 Tái chế CTYT 12
1.1.9 Xử lý CTYT 12
1.2 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRONG QUẢN LÝ CTYT 13
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển 13
1.2.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển 16
1.3 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CTYT TẠI VN 19
1.4 CÁC NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC THỰC HÀNH VỀ QUẢN LÝ CTRYT 20
1.4.1.Trên thế giới 20
1.4.2 Tại Việt Nam 21
1.5 CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI BV HOÀN MỸ SÀI GÒN 22
1.5.1 Thông tin chung về Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn 22
1.5.2 Quản lý CTRYT tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn 23
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
Trang 52.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 26
2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 26
2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 26
2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 26
2.4.1 Cỡ mẫu 26
2.4.2 Cỡ mẫu k h ả o s á t k i ế n t h ứ c t h ự c h à n h phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 27
2.4.3 Quan sát các trang thiết bị, dụng cụ 28
2.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 28
2.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp 28
2.5.2 Thu thập thông tin sơ cấp 28
2.6 THƯỚC ĐO VÀ TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 30
2.7 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 32
2.8 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGHIÊN CỨU 32
2.9 HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 THỰC TRẠNG PHƯƠNG TIỆN, DỤNG CỤ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT 34
3.2 KIẾN THỨC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ NHÂN VIÊN VỆ SINH VỀ PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CTRYT 38
3.2.1 Thông tin chung về ĐTNC 38
3.2.2 Kiến thức của nhân viên y tế về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 44
3.2.3 Kiến thức của nhân viên vệ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 48
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 52
4.1 THỰC TRẠNG PHƯƠNG TIỆN, DỤNG CỤ PHỤC VỤ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CTRYT 52
Trang 64.2 KIẾN THỨC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ NHÂN VIÊN VỆ SINH VỀ PHÂN LOẠI, THU
GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CTRYT 53
4.2.1 Thông tin chung của ĐTNC 53
4.2.2 Kiến thức của NVYT và nhân viên vệ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 54
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 56
5.1 KIẾN THỨC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VỀ PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CTRYT 56
5.2 KIẾN THỨC CỦA NHÂN VIÊN VỆ SINH VỀ PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ CTRYT 56
CHƯƠNG 6 : KHUYẾN NGHỊ 57
6.1 ĐỐI VỚI NVYT BV HOÀN MỸ SÀI GÒN 57
6.2 ĐỐI VỚI NVVS CÔNG TY PAN SERVISES 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
PHỤ LỤC 1: 61
PHỤ LỤC 2: 74
PHỤ LỤC 3 : 78
PHỤ LỤC 4: 82
PHỤ LỤC 5: 87
PHỤ LỤC 6: 88
Trang 7ĐTNC : đối tượng nghiên cứu
NVVS : nhân viên vệ sinh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ Bảng số liệu:
Bảng 2.4 Phân bố NVYT và NVVS 27
Bảng 2.5 Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 30
Bảng 2.6 Thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 31
Bảng 3.1.1 Thực trạng về mã màu, số lượng và biểu tượng của phương tiện, dụng cụ 34
Bảng 3.1.2 Thực trạng túi đựng CTRYT 35
Bảng 3.1.3 Thực trạng hộp đựng chất thải sắc nhọn 35
Bảng 3.1.4 Thực trạng thùng thu gom CTRYT 36
Bảng 3.1.5 Thực trạng phương tiện vận chuyển CTRYT 37
Bảng 3.1.6 Thực trạng nhà lưu giữ CTRYT 37
Bảng 3.2.1.1 Thông tin chung về giới của ĐTNC 39
Bảng 3.2.1.2 Thông tin chung về tuổi của ĐTNC 39
Bảng 3.2.1.3 Thông tin chung về chức danh chuyên môn của ĐTNC 40
Bảng 3.2.1.4 Thông tin chung về trình độ học vấn của ĐTNC 41
Bảng 3.2.1.5 Thông tin chung về đối tượng lao động của ĐTNC 42
Bảng 3.2.1.6 Thông tin chung về thời gian đào tạo của ĐTNC 42
Bảng 3.2.1.7 Thông tin chung về hướng dẫn, tập huấn của ĐTNC 43
Bảng 3.2.1.8 Thông tin chung về bộ phận làm việc của ĐTNC 43
Bảng 3.2.2.1 Kiến thức của điều dưỡng về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 44
Trang 9Bảng 3.2.2.2 Kiến thức của hộ lý về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 45 Bảng 3.2.2.3 Kiến thức của kỹ thuật viên và nữ hộ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 46 Bảng 3.2.2.4 Kiến thức thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT của điều dưỡng 47 Bảng 3.2.2.5 Kiến thức thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT của hộ lý 47 Bảng 3.2.2.5 Kiến thức thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT của kỹ thuật viên và nữ hộ sinh 48 Bảng 3.2.3.1 Kiến thức của nhân viên vệ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 49 Bảng 3.2.3.2 Kiến thức thực hành về thu gom CTRYT của nhân viên vệ sinh 49 Bảng 3.2.3.3 Kiến thức thực hành về vận chuyển CTRYT của nhân viên vệ sinh 50 Bảng 3.2.3.4 Kiến thức thực hành về lưu giữ CTRYT của nhân viên vệ sinh 50
Trang 10Biểu đồ:
Biểu đồ 2.1 Kiến thức của nhân viên y tế về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 46 Biểu đồ 3.1 Kiến thức thực hành của nhân viên y tế về phân loại CTRYT 48 Biểu đồ 3.2 Kiến thức thực hành của nhân viên vệ sinh về thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT 50
Trang 11TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chất thải rắn y tế (CTRYT) do các cơ sở khám chữa bệnh đặc biệt là các bệnh viện (BV) nếu không được quản lý đúng cách sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe nhân viên, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và cả cộng đồng dân cư, đặc biệt ảnh hưởng tới vấn đề nhiễm khuẩn trong BV
Nghiên cứu “ Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn
y tế tại bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn năm 2017” được thực hiện với mục tiêu: (1)
mô tả thực trạng phương tiện, dụng cụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT và (2) mô tả kiến thức thực hành của NVYT và NVVS về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, thực hiện từ tháng 12/2016 với thời gian thu thập số liệu từ tháng 2 đến tháng 4 năm
2017 Khảo sát các phương tiện, dụng cụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển
và lưu giữ CTRYT, khảo sát tổng số 282 NVYT và 22 NVVS của các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của BV đã tham gia cung cấp thông tin qua phát vấn về kiến thức thực hành về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của BV đều được trang bị các phương tiện, dụng cụ phục vụ công tác quản lý CTRYT Nhân viên y tế đạt kiến thức về phân loại CTRYT là 56%, thu gom là 64%, vận chuyển là 65,2% và lưu giữ là 63,5% Nhân viên vệ sinh đạt kiến thức về phân loại CTRYT là 100%, thu gom là 100%, vận chuyển là 54,5% và lưu giữ là 90,9% Dựa vào các kết quả nghiên cứu này đưa ra các khuyến nghị cho NVYT và NVVS để công tác quản lý CTRYT của BV ngày càng tốt hơn và phần nào cũng cung cấp cơ sở khoa học cho một số nghiên cứu tiếp theo
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành Y tế Nhằm đáp ứng kịp thời các nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ của nhân dân, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, hệ thống các cơ sở y
tế (CSYT) không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện Trong quá trình hoạt động, các CSYT, đặc biệt là bệnh viện (BV) đã thải ra môi trường một lượng không nhỏ các chất thải Chất thải có thể ở thể rắn, lỏng và khí bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường Chất thải nguy hại có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh, chất gây độc gen, hóa chất độc hại, phóng xạ …có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe, bệnh tật của cán bộ, nhân viên ngành
y tế, người bệnh, người thăm nuôi cũng như dân cư xung quanh
Theo Tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải BV có khoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn và khoảng 5% là chất thải gây độc hại như chất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hoá chất độc hại phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị.[31]
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế (BYT)
và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng lượng chất thải rắn y tế (CTRYT) trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường bệnh/ngày, trong đó CTRYT nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2 kg/giường bệnh/ngày.[2]
CTRYT phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng CSYT và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế
Nhằm hướng dẫn các CSYT thực hiện đúng công tác quản lý chất thải y tế (CTYT) và đảm bảo đúng Luật Bảo vệ môi trường, ngày 31 tháng 12 năm 2015 BYT và Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Thông tư số: 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT quy định về quản lý CTYT, thông tư này áp dụng đối với các cơ quan, tổ
Trang 13chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có hoạt động liên quan đến CTYT trên lãnh thổ Việt Nam Theo thông tư, quản lý CTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý CTYT và giám sát quá trình thực hiện [4] Quản lý tốt CTYT, đặt biệt là chất thải rắn sẽ tiết kiệm được kinh phí dành cho công tác này, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Chính
vì thế công tác quản lý tốt CTRYT là một trong những vấn đề luôn được lãnh đạo các BV quan tâm
BV Hoàn Mỹ Sài Gòn trực thuộc Tập đoàn Y khoa Hoàn Mỹ là một cơ sở điều trị đa khoa trực thuộc Sở Y tế tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh có chức năng chính là thu nhận, khám, cấp cứu, điều trị cho bệnh nhân thuộc hầu hết các chuyên khoa trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng lân cận BV có công suất thiết kế là
251 giường bệnh Theo báo cáo kết quả quan trắc môi trường BV của Phòng Hành chánh quản trị thì lượng chất thải rắn thông thường phát sinh trung bình trong ngày
là 750 kg (tương đương với 2,98kg/giường bệnh) và lượng CTRYT nguy hại phát sinh trung bình trong ngày là 140kg (tương đương với 0,55kg/giường bệnh) Như vậy, so với cả nước thì tổng lượng chất thải của BV cao hơn là 3,46 lần và CTRYT lây nhiễm là: 2,75 - 3,92 lần Vì vậy công tác quản lý hiệu quả CTRYT đang là một trong những ưu tiên của BV
Những câu hỏi đang được BV quan tâm như hiện tại việc quản lý CTRYT có đáp ứng được các yêu cầu được quy định tại Thông tư 58 hay không? Kiến thức, thực hành của nhân viên bệnh viện trong việc này ra sao, có đúng theo quy định hay không? Trong khi đó, tại BV chưa có một nghiên cứu chính thức nào về công tác quản lý CTYT nói chung và CTRYT nói riêng Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi
tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ Sài Gòn năm 2017”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng phương tiện, dụng cụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn năm 2017
2 Mô tả kiến thức của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn năm 2017
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Quản lý CTYT trong BV
Quản lý CTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện [4]
1.1.1 Giảm thiểu CTYT
Giảm thiểu CTYT là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT [4]
Cơ sở y tế (CSYT) phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu phát sinh chất thải
y tế theo thứ tự ưu tiên sau:
1 Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh CTYT
2 Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh CTYT
3 Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả
1.1.2 Phân định CTYT
Chất thải lây nhiễm bao gồm [4]:
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; bơm liền kim tiêm; đầu sắc nhọn của dây truyền; kim chọc dò; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, cưa dùng trong phẫu thuật
và các vật sắc nhọn khác
b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: Chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: Mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng, dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp III trở lên theo quy định tại Nghị định số 92/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 8 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành
Trang 16Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm về bảo đảm an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm
d) Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể người thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
Chất thải nguy hại không lây nhiễm bao gồm [4]:
a) Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại
b) Dược phẩm thải bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại
từ nhà sản xuất
c) Thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng
d) Chất hàn răng amalgam thải bỏ
đ) Chất thải nguy hại khác theo quy định tại Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại (sau đây gọi tắt là Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT)
Chất thải y tế thông thường bao gồm [4]:
a) Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người
và chất thải ngoại cảnh trong CSYT
b) Chất thải rắn thông thường phát sinh từ cơ sở y tế không thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại hoặc thuộc Danh mục chất thải y tế nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại
c) Sản phẩm thải lỏng không nguy hại
1.1.3 Bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT
Bao bì (túi), dụng cụ (thùng, hộp, can), thiết bị lưu chứa chất thải y tế thực hiện theo quy định Bảo đảm lưu chứa an toàn chất thải, có khả năng chống thấm và
Trang 17có kích thước phù hợp với lượng chất thải lưu chứa.Màu sắc của bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế quy định như sau:
a) Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm; b) Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm;
c) Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường;
d) Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
Bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế sử dụng phương pháp đốt không làm bằng nhựa PVC
Thùng, hộp đựng chất thải có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng Thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng Thùng, hộp đựng chất thải có thể tái sử dụng theo đúng mục đích lưu chứa sau khi đã được làm sạch và để khô
1.1.4 Phân loại CTYT
Nguyên tắc phân loại CTYT [4]
a) CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
b) Từng loại CTYT phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải theo quy định Trường hợp các chất thải y tế nguy hại không có khả năng phản ứng, tương tác với nhau và áp dụng cùng một phương pháp xử lý có thể được phân loại chung vào cùng một bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa
c) Khi chất thải lây nhiễm để lẫn với chất thải khác hoặc ngược lại thì hỗn hợp chất thải đó phải thu gom, lưu giữ và xử lý như chất thải lây nhiễm
Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải [4]
Trang 18a) Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại CTYT
b) Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại CTYT phải có hướng dẫn cách phân loại
và thu gom chất thải
Phân loại CTYT [4]
a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Đựng trong thùng hoặc hộp có màu vàng b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng
c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng
d) Chất thải giải phẫu: Đựng trong 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng
e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen
f) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Đựng trong các dụng cụ có nắp đậy kín
g) CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh
h) CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế: Đựng trong túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng
1.1.5 Thu gom CTYT
Thu gom CTYT là quá trình tập hợp chất thải y tế từ nơi phát sinh và vận chuyển về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên CSYT [4]
Thu gom chất thải lây nhiễm:
Trang 19a) Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên CSYT
b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom
c) CSYT quy định tuyến đường và thời điểm thu gom chất thải lây nhiễm phù hợp để hạn chế ảnh hưởng đến khu vực chăm sóc người bệnh và khu vực khác trong CSYT
d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên CSYT
e) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày;
f) Đối với các CSYT có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên CSYT hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01 (một) lần/tháng
Thu gom chất thải nguy hại không lây nhiễm:
a) Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên CSYT
b) Thu gom chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân: Chất thải có chứa thủy ngân được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường
Thu gom chất thải y tế thông thường:
CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng
Trang 20Vận chuyển CTYT trong CSYT
CTYT nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của CSYT ít nhất một lần một ngày
và khi cần
CSYT phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khu vực sạch khác
Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng; không được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trình vận chuyển
Vận chuyển CTYT ra ngoài CSYT
Các CSYT ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển
và tiêu hủy chất thải Trường hợp địa phương chưa có cơ sở đủ tư cách pháp nhân vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế thì CSYT phải báo cáo với chính quyền địa phương để giải quyết
CTYT nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng bảo đảm vệ sinh, đáp ứng yêu cầu tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng
12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại CTYT nguy hại trước khi vận chuyển tới nơi tiêu hủy phải được đóng gói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển
Trang 21Chất thải giải phẫu phải đựng trong hai lượt túi màu vàng, đóng riêng trong thùng hoặc hộp, dán kín nắp và ghi nhãn “CHẤT THẢI GIẢI PHẪU” trước khi vận chuyển đi tiêu hủy
1.1.7 Lưu giữ CTYT
CSYT bố trí khu vực lưu giữ CTYT trong khuôn viên CSYT đáp ứng các yêu cầu sau [4]
a) CSYT thực hiện xử lý CTYT nguy hại cho cụm CSYT và BV phải có khu
vực lưu giữ CTYT nguy hại đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật:
Có mái che cho khu vực lưu giữ; nền đảm bảo không bị ngập lụt, tránh được nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào, không bị chảy tràn chất lỏng ra bên ngoài khi có sự cố rò rỉ, đổ tràn
Có phân chia các ô hoặc có dụng cụ, thiết bị lưu giữ riêng cho từng loại chất thải hoặc nhóm chất thải có cùng tính chất; từng ô, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại trong khu vực lưu giữ phải có biển dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa phù hợp với loại CTYT nguy hại được lưu giữ với kích thước phù hợp, dễ nhận biết
Có vật liệu hấp thụ (như cát khô hoặc mùn cưa) và xẻng để sử dụng trong trường hợp rò rỉ, đổ tràn CTYT nguy hại ở dạng lỏng
Có thiết bị phòng cháy chữa cháy theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về phòng cháy chữa cháy
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ b) CSYT khác:
Có mái che cho khu vực lưu giữ; nền đảm bảo không bị ngập lụt, tránh được nước mưa chảy tràn từ bên ngoài vào, không bị chảy tràn chất lỏng ra bên ngoài khi có sự cố rò rỉ, đổ tràn
Phải bố trí vị trí phù hợp để đặt các dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa phải phù hợp với từng loại chất thải và lượng chất thải phát sinh trong cơ sở y tế Các chất thải khác nhau nhưng cùng áp
Trang 22dụng một phương pháp xử lý được lưu giữ trong cùng một dụng cụ, thiết bị lưu chứa
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải có nắp đậy kín, có biểu lượng loại chất thải lưu giữ theo đúng quy định tại phụ lục 02 ban hành kèm theo Thông tư này
Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải phải thường xuyên vệ sinh sạch sẽ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại tại khu lưu giữ chất thải trong CSYT thực hiện thống nhất theo quy định và phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: a) Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải
b) Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định
c) Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật
d) Dụng cụ, thiết bị lưu chứa hóa chất thải phải được làm bằng vật liệu không
có phản ứng với chất thải lưu chứa và có khả năng chống được sự ăn mòn nếu lưu chứa chất thải có tính ăn mòn Trường hợp lưu chứa hóa chất thải ở dạng lỏng phải
có nắp đậy kín để chống bay hơi và tràn đổ chất thải
CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên CSYT
Chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng
Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm:
a) Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại CSYT, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại CSYT không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp
Trang 23lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày Đối với CSYT có lượng chất thải lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, thời gian lưu giữ không quá 03 ngày trong điều kiện bình thường và phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín
b) Đối với chất thải lây nhiễm được vận chuyển từ CSYT khác về để xử lý theo mô hình cụm hoặc mô hình tập trung, phải ưu tiên xử lý trong ngày Trường hợp chưa xử lý ngay trong ngày, phải lưu giữ ở nhiệt độ dưới 20°C và thời gian lưu giữ tối đa không quá 02 ngày
1.1.8 Tái chế CTYT
Chỉ được phép tái chế CTYT thông thường và chất thải lây nhiễm sau khi xử
lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như CTYT thông thường [4]
Không được sử dụng vật liệu tái chế từ CTYT để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm [4]
Khi chuyển giao chất thải để phục vụ mục đích tái chế, CSYT phải thực hiện các quy định sau:
a) Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định
b) Ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn giao chất thải phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định
1.1.9 Xử lý CTYT
CTYT nguy hại phải được xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [4]
Trang 24Ưu tiên lựa chọn các công nghệ không đốt, thân thiện với môi trường và bảo đảm xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành [4]
Hình thức xử lý CTYT nguy hại theo thứ tự ưu tiên sau:
a) Xử lý tại cơ sở xử lý CTYT nguy hại tập trung hoặc tại cơ sở xử lý chất thải nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT
b) Xử lý CTYT nguy hại theo mô hình cụm CSYT (CTYT của một cụm CSYT được thu gom và xử lý chung tại hệ thống, thiết bị xử lý của một cơ sở trong cụm)
c) Tự xử lý tại công trình xử lý CTYT nguy hại trong khuôn viên CSYT Hình thức xử lý CTYT nguy hại theo mô hình cụm CSYT phải được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt trong kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý CTYT nguy hại trên địa bàn tỉnh bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương và quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
1.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia trong quản lý CTYT
1.2.1 Kinh nghiệm của các nước phát triển
Xây dựng khung chính sách về quản lý CTYT
Việc quản lý chất thải nguy hại ở các nước phát triển được thiết lập và vận hành bởi hai đối tượng chính: chủ nguồn thải và chủ hành nghề quản lý chất thải Giữa hai đối tượng này có một hợp đồng kinh tế, theo đó chủ nguồn thải trả phí dịch
vụ cho chủ hành nghề xử lý, tiêu hủy chất thải theo nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Chính phủ phát triển và điều tiết thị trường này thông qua các công cụ chính sách và hệ thống giám sát, cưỡng chế
Khung pháp lý về quản lý chất thải nguy hại của các quốc gia phát triển có những điểm quan trọng là: nghĩa vụ và trách nhiệm của chủ nguồn thải và chủ hành nghề quản lý chất thải nguy hại ; Trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp; Hệ thống đăng ký, cấp phép, thanh tra và chế tài xử lý
Trang 25vi phạm; Các tiêu chuẩn/yêu cầu về quy trình vận hành, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất, lưu giữ hồ sơ, theo dõi và báo cáo; Cơ chế tài chính, bao gồm phí dịch vụ, huy động nguồn lực và hợp tác công tư trong quản lý chất thải nguy hại
Ở Mỹ, Quốc hội thông qua đạo luật theo dõi CTYT vào năm 1988, trong đó yêu cầu Cục Bảo vệ môi trường (EPA) triển khai chương trình theo dõi trong hai năm Sau đó, các bang và cơ quan chính quyền liên bang chịu trách nhiệm quy định
và hướng dẫn quản lý CTYT Hầu hết 50 bang đã ban hành quy định riêng về quản
lý CTYT Các cơ quan chính quyền liên bang chịu trách nhiệm ban hành các hướng dẫn kỹ thuật như Tiêu chuẩn phơi nhiễm nghề nghiệp với vi sinh vật gây bệnh qua đường máu của Cục Sức khỏe và an toàn nghề nghiệp; Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong CSYT của Trung tâm kiểm soát bệnh và Các thực hành môi trường tốt nhất cho CSYT của EPA
Các nước có thu nhập cao ở châu Âu và châu Á quản lý CTRYT theo nguyên tắc lồng ghép Ở Anh, khung chính sách bao gồm Luật Bảo vệ môi trường năm
1990 và quy định quản lý chất thải nguy hại năm 2005 Ở Đức, quản lý chất thải nói chung được thực hiện theo Luật Quản lý chất thải; vận chuyển chất thải nguy hại phải theo Quy định về hàng hóa nguy hiểm; còn thiêu đốt chất thải phải tuân thủ Luật Kiểm soát ô nhiễm không khí Công tác phân loại và tiêu hủy CTYT được lồng ghép trong quản lý chất lượng CSYT [23] Liên minh châu Âu không có văn bản pháp quy riêng về quản lý CTYT nhưng có nhiều Nghị quyết, quyết định hướng dẫn quy trình và thiết bị cho các loại chất thải khác nhau
Ở Nhật Bản, quy định đầu tiên về quản lý chất thải lây nhiễm được ban hành năm 1992, bổ sung thêm vào Luật Tiêu hủy chất thải có từ năm 1970 Ở Hàn Quốc, Quốc hội sửa đổi Luật Quản lý chất thải năm 1999 để kiểm soát tốt hơn CTRYT từ nơi phát sinh tới nơi tiêu hủy cuối cùng [33] Bên cạnh Luật, các nước còn ban hành các hướng dẫn kỹ thuật như Hướng dẫn quản lý an toàn CTYT (Anh), các quy định
về Kiểm soát nhiễm khuẩn và an toàn nghề nghiệp (Đức), Hướng dẫn quản lý chất thải lây nhiễm (Nhật Bản), Hướng dẫn quản lý CTYT (Hàn Quốc)
Trang 26Triển khai các công ước quốc tế liên quan đến quản lý CTYT
Tại Mỹ, các nước thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc đã tham gia Công ước Basel về chất thải nguy hại, Công ước Stốckhôm về chất thải hữu cơ khó phân hủy (POPs), Công ước Minamata về thủy ngân và đã đạt được những kết quả đáng kể trong giảm thiểu POPs và thủy ngân
Trên thế giới, việc thiêu đốt CTRYT từng là biện pháp xử lý phổ biến nhất Tại Đức từng có trên 550 lò đốt CTRYT vào năm 1984 Tại Mỹ, vào năm 1988, Cục BVMT ước tính có khoảng 80% chất thải bệnh viện được thiêu đốt Để hạn chế phát thải POPs như dioxin và furan, các nước phát triển kiểm soát chặt chẽ các lò đốt bằng những tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt và loại bỏ những lò đốt quy mô nhỏ trong CSYT Ở Mỹ, số lượng lò đốt CTRYT đã giảm mạnh từ 2.373 vào năm 1995 xuống còn 54 lò trong năm 2010 và còn 33 lò trong năm 20133 Đến năm 2002, Đức đã cho đóng tất cả các lò đốt quy mô nhỏ trong các bệnh viện, mặc dù hiện vẫn còn vận hành một số lò đốt quy mô lớn Ailen và Bồ Đào Nha đã loại bỏ hoàn toàn tất cả các lò đốt CTRYT
Để hạn chế việc thiêu đốt, các nước phát triển đã áp dụng công nghệ không đốt như khử khuẩn bằng hơi nước (lò hấp), khử khuẩn bằng vi sóng, khử khuẩn bằng hóa chất, công nghệ tan chảy hay phân loại asma… Lò hấp được các bệnh viện trên thế giới sử dụng để khử khuẩn vật liệu nuôi cấy vi sinh vật (xử lý sơ bộ chất thải lây nhiễm cao) trong khoa xét nghiệm từ những năm 1970 Trong năm 1997, một khảo sát của Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Mỹ thống kê hơn 1.500 công nghệ không đốt được lắp đặt để xử lý CTRYT trên nước Mỹ Khử khuẩn bằng hơi nước kết hợp với nghiền cắt đã trở nên phổ biến ở Hàn Quốc, đạt tỷ lệ 46,4% trong
số các phương pháp để xử lý CTRYT vào năm 2002 [33] Ở Nhật Bản, đến năm
2006, 6% công ty xử lý CTRYT sử dụng công nghệ tan chảy [32]
Mặt khác, các nước đã loại bỏ mô hình xử lý tại chỗ và chuyển sang mô hình
xử lý tập trung Ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hầu hết CTRYT hiện đang được xử lý bởi các nhà máy xử lý tập trung Năm 2006, Nhật Bản có khoảng 296 công ty xử lý
Trang 27chất thải lây nhiễm, ký hợp đồng cung ứng dịch vụ với 98% bệnh viện, trong khi
đó, có ít hơn 0,8% số bệnh viện tự xử lý [31] Ở Hàn Quốc, 90% lượng CTRYT được xử lý tập trung [33]
Năm 2000, Nhật Bản ban hành Luật mua sắm xanh, trong đó hạn chế sản xuất
và mua sắm thiết bị, chế phẩm y tế chứa thủy ngân Nhiệt kế và huyết áp kế điện tử
đã cơ bản thay thế cho thiết bị chứa thủy ngân nên các thiết bị y tế chứa thủy ngân
đã giảm mạnh Nhu cầu thủy ngân cho chất hàn răng almagam khoảng 5.200 kg vào năm 1970 đã giảm xuống 700 kg vào năm 1999; 100 kg vào năm 2006 và khoảng
20 kg vào năm 2010 [20] Mỹ có nhiều quy định kiểm soát phát thải thủy ngân, trong đó có Hướng dẫn loại bỏ thủy ngân trong các bệnh viện vào năm 2002 của Cục bảo vệ môi trường Ngành y tế Mỹ về cơ bản đã loại bỏ các thiết bị y tế chứa thủy ngân Ngày nay, hầu như không thể mua được nhiệt kế thủy ngân ở Mỹ Liên minh châu Âu cũng đã ban hành chiến lược về thủy ngân vào năm 2005 và cấm sử dụng một số thiết bị đo lường trong y tế (nhiệt kế, huyết áp kế) có chứa thủy ngân
từ năm 2014 Bộ Môi trường Hàn Quốc có kế hoạch và giải pháp quản lý thủy ngân vào năm 2006
1.2.2 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển
Độ và chính quyền các bang cũng có những hướng dẫn về quản lý CTYT Để khuyến khích tập trung hóa và tư nhân hóa dịch vụ xử lý chất thải y sinh, Ban Kiểm soát ô nhiễm Trung ương ban hành Hướng dẫn cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung
và Bộ Môi trường hỗ trợ 25% tổng chi phí đầu tư cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung theo cơ chế hợp tác công tư [26]
Trang 28Trung Quốc ban hành Quy định kiểm soát CTYT vào năm 2003 sau khi xảy ra dịch SARS Năm 2004, Trung Quốc phê duyệt Kế hoạch quốc gia xây dựng các cơ
sở xử lý chất thải nguy hại và CTYT tập trung Các văn bản pháp lý quy định quản
lý CTYT bao gồm các giải pháp cho hồ sơ vận chuyển chất thải nguy hại, danh mục phân loại CTYT, giải pháp quản lý chất thải từ các CSYT, giải pháp xử lý vi phạm hành chính trong quản lý CTYT Ngoài ra, Trung Quốc cũng có một số tiêu chuẩn
và hướng dẫn kỹ thuật như Tiêu chuẩn kỹ thuật cho lò đốt CTRYT , Tiêu chuẩn kỹ thuật cho phương tiện vận chuyển CTRYT , và đang thử nghiệm tính năng kỹ thuật cho Tiêu hủy CTYT tập trung [21]
Trong khu vực Đông Nam Á, đa số các nước đã có quy định, kế hoạch và hướng dẫn quản lý CTRYT nhưng ở tình trạng khác nhau Malaixia và Philipin có khung pháp lý về quản lý CTRYT Từ những năm 90 của thế kỷ XX, Malaixia đã
có chiến lược tư nhân hóa và tập trung hóa xử lý CTRYT Philipin đã cấm thiêu đốt CTRYT từ tháng 7/2003 và có chính sách loại bỏ dần thủy ngân trong y tế Lào và Campuchia cũng có quy định và chính sách cụ thể trong quản lý CTYT [32, 19] Ngược lại, Inđônêxia và Myanma chưa đầu tư cải thiện khuôn khổ pháp lý cho quản
Triển khai các công ước quốc tế liên quan đến quản lý CTYT
Trang 29Nhiều nước đang phát triển trên thế giới đã và đang đi theo xu hướng loại bỏ các lò đốt CTRYT quy mô nhỏ trong các bệnh viện, chuyển sang mô hình xử lý tập trung và áp dụng công nghệ không đốt nhằm hạn chế phát thải dioxin và furan ra môi trường không khí (theo Công ước Stốckhôm) Ở Ấn Độ, lò đốt chỉ được phép vận hành trong cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung, trong khi việc lắp đặt các lò đốt đơn lẻ trong CSYT không được khuyến khích Ấn Độ giới thiệu các công nghệ không đốt vào hệ thống văn bản pháp quy từ năm 1996, nhờ đó, các công nghệ không đốt được áp dụng rộng rãi với 2.710 lò hấp, 179 lò vi sóng và 4.250 máy nghiền cắt vào năm 2012 Hiện có hơn 205 cơ sở xử lý chất thải y sinh tập trung cung cấp dịch vụ xử lý CTYT cho hơn 70% CSYT trong toàn quốc [26]
Từ năm 2004, Trung Quốc đã phê duyệt và triển khai Kế hoạch quốc gia xây dựng các cơ sở xử lý chất thải nguy hại và CTYT tập trung, trong đó có 331 cơ sở
xử lý CTRYT tập trung Đến cuối năm 2012, Trung Quốc đã xây dựng 272 cơ sở xử
lý CTRYT tập trung ở các tỉnh, thành phố Trong số đó, có 137 cơ sở lựa chọn công nghệ thiêu đốt và 135 cơ sở lựa chọn công nghệ không đốt Tỷ lệ số cơ sở xử lý CTRYT áp dụng công nghệ không đốt ở Trung Quốc đã hơn 50%, cho thấy công nghệ không đốt đã trở thành lựa chọn chủ yếu ở nước này [21]
Trong khu vực Đông Nam Á, Philipin là nước đầu tiên và cũng là nước duy nhất cấm thiêu đốt CTRYT từ tháng 7/2003 theo Luật Không khí sạch 1999 Malaixia đã chuyển sang mô hình xử lý tập trung sau khi Chính phủ giao cho 3 công ty tư nhân thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy CTRYT Tuy nhiên, thiêu đốt vẫn là biện pháp chủ yếu để xử lý CTRYT ở Malaysia Các CSYT ở Campuchia, Lào, Myanma và Inđônêxia đang sử dụng rộng rãi lò đốt tại chỗ [32, 19, 28]
Việt Nam tham gia Công ước Stốckhôm từ năm 2001 Hiện nay, khung pháp
lý đã đưa ra các tiêu chuẩn nghiêm ngặt đối với lò đốt CTRYT (QCVN 02:2012/BTNMT), ngừng hoạt động các lò đốt không đạt tiêu chuẩn (Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT), khuyến khích công nghệ không đốt (Nghị định số 38/20015/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT) và hướng đến hệ thống xử lý tập trung (Quyết định số 170/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính
Trang 30phủ) Với hệ thống quy định đầy đủ, Việt Nam tập trung tăng cường giám sát việc thực hiện các quy định và hạn chế đầu tư mới các lò đốt trong các CSYT
Ấn Độ, Trung Quốc và hầu hết các nước ASEAN (trừ Lào và Myanma) đã tham gia Công ước Minamata về thủy ngân Tuy nhiên, việc triển khai Công ước Basel và công ước Minamata về thủy ngân cũng chỉ mới bắt đầu Năm 2008, Philipin ban hành quyết định loại trừ dần thủy ngân trong ngành y tế Hơn 50 bệnh viện ở Philipin tiến tới môi trường chăm sóc không thủy ngân Một số bệnh viện ở
Ấn Độ và Trung Quốc mới bắt đầu loại bỏ thiết bị y tế chứa thủy ngân [25] Việt Nam đã tham gia Công ước Minamata từ năm 2013 Chính phủ và BYT bắt đầu quản lý thủy ngân bằng các khảo sát phát thải thủy ngân trong công nghiệp và y tế Trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch hành động, hướng dẫn kỹ thuật loại bỏ dần sản phẩm chứa thủy ngân trong y tế
1.3 Tình hình quản lý CTYT tại VN
Công tác thu gom, lưu trữ CTRYT nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao CTYT phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của BYT, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được
xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử
lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó [1]
Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển chất thải rắn chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (CTYT thông thường, CTYT nguy hại ) [1]
Trong vận chuyển CTRYT, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTYT nguy hại; 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ chất thải nguy hại đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường [1] Phương tiện thu gom chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do
Trang 31vậy mua sắm phương tiện thu gom chất thải rắn đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nô ̣i, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Một số khu vực lưu trữ chất thải rắn trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hoà và hệ thống thông gió theo Quy định Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng Hoạt đô ̣ng vận chuyển CTYT nguy hại từ bệnh viện, CSYT đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có các trang thiết bi ̣ đảm bảo cho quá trình vâ ̣n chuyển được an toàn
1.4 Các nghiên cứu kiến thức thực hành về quản lý CTRYT
Theo nghiên cứu của Suwarna Madhukumar, tại Bangalore năm 2011 kiến thức về quản lý CTRYT của điều dưỡng nhìn chung tốt hơn so với các nhân viên khác (bác sĩ, thực tập sinh, kỹ thuật viên và các nhân viên khác, cụ thể kiến thức đúng về phân loại và xử lý CTYT chính xác, điều dưỡng chiếm 81,9%, bác sĩ là 76,8%, 38,5% là thực tập sinh, 27,3% kỹ thuật viên có kiến thức đúng Đa số các cán bộ y tế có kiến thức đúng về các vấn đề sức khỏe gây ra bởi CTRYT, trong đó cao nhất là điều dưỡng với 38,8% , 32,9% không biết các quy định của pháp luật về CTRYT Kiến thức đúng liên quan đến màu sắc trong phân loại CTRYT tại nguồn
là 96,1% Về thực hành, điều dưỡng có thực hành quản lý CTRYT tốt nhất
Trang 32Một khảo sát của WHO đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành về quản lý chất thải y tế của các nhà cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khảo sát trên
110 bác sĩ, 151 điều dưỡng và 89 nhà quản lý y tế Kết quả ghi nhận các nhà quản lý
có hiểu biết về chính sách của BV và hệ thống xử lý chất thải nhưng kém chi tiết về quy trình xử lý chất thải y tế nhiều hơn bác sĩ và điều dưỡng Đánh giá thực hành quản lý chất thải y tế trên 2 nhóm là điều dưỡng và bác sĩ, nhóm điều dưỡng có thực hành tốt hơn nhóm bác sĩ , 84% so với 67,3%
1.4.2 Tại Việt Nam
Theo kết quả nghiên cứu đánh giá kiến thức thái độ thực hành của điều dưỡng,
hộ lý trong công tác phân loại và thu gom CTRYT tại BV II Lâm Đồng của nhóm tác giả Hoàng Trung Lập, Hoàng Thị Toàn, Cao Thị Phượng, Nguyễn Thi Thu Dung cho kết quả: 99,38% điều dưỡng và 97,4% hộ lý có kiến thức đúng về chất thải y tế 88,82% điều dưỡng và 89,74% hộ lý hiểu đúng về phân nhóm chất thải y
tế Có 91,3% điều dưỡng hiểu đúng quy định túi đụng chất thải, 82,05% hộ lý hiểu đúng thùng đựng chất thải Về phân loại chất thải đa số điều dưỡng và hô lý hiểu đúng (99,38% và 97,44%) Có 11,80% điều dưỡng và 51,28% hộ lý không biết thời gian được phép lưu giữ chất thải là 48 giờ và tối đa là 72 giờ nếu được bảo quản trong phòng lạnh Có 52,80% điều dưỡng và 56,41% hộ lý hiểu biết sai về quy định
mã màu sắc của túi đựng chất thải
Luận văn “Nghiên cứu thực trạng quản lý CTRYT của NVYT BV Đa Khoa Đông Anh năm 2011” của tác giả Hoàng Thị Thúy [11] dùng thiết kế nghiên cứu
mô tả cắt ngang có kết hợp định lượng và định tính; bộ công cụ thu thập số liệu định lượng là bảng kiểm và bộ câu hỏi tự điền được xây dựng dựa trên nội dung quyết định 43/2007/QĐ – BYT; và cách xác định kiến thức cũng như thực hành đạt hay chưa đạt cũng dựa vào cách cho điểm và tính điểm, mỗi câu đúng là 1 đạt 1 điểm, không đúng là 0 điểm, tương ứng với tổng số câu của mỗi phần là tổng số điểm, nếu
có số điểm đạt trên phân nửa tổng số điểm của mỗi phần thì được xác định là đạt; kết quả nghiên cứu là:
Trang 33 Kiến thức chung đạt về quản lý CTRYT tương đối cao (86,8%); trong
đó đạt về phân loại là 63,2%, thu gom là 48,5%, vận chuyển 96,3% và lưu giữ là 79,4%
Thực hành về phân loại CTRYT đạt là 82,4%; thu gom là 52,6%, vận chuyển là 52,6% và lưu giữ chất thải là 100%
Tương tự, luận văn “ Mô tả kiến thức, thực hành quản lý CTRYT của NVYT
và yếu tố liên quan tại BV Đa khoa huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp năm 2014” của tác giả Nguyễn Văn Quản Châu [12] cũng dùng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
có kết hợp định lượng và định tính; bộ công cụ thu thập số liệu định lượng là bảng kiểm và bộ câu hỏi tự điền được xây dựng dựa trên nội dung quyết định 43/2007/QĐ – BYT; và cách xác định kiến thức cũng như thực hành đạt hay chưa đạt cũng dựa vào cách cho điểm và tính điểm, mỗi câu đúng là 1 đạt 1 điểm, không đúng là 0 điểm, tương ứng với tổng số câu của mỗi phần là tổng số điểm, nếu có số điểm đạt từ 70% tổng số điểm của mỗi phần thì được xác định là đạt; kết quả nghiên cứu là:
Tỷ lệ kiến thức đạt chung là 75%, đạt về phân loại là 71,7%, thu gom là 81,7%, vận chuyển 81,7% và lưu giữ là 74,2%
Thực hành về phân loại CTRYT đạt là 72,5%; thu gom là 55%, vận chuyển là 55% và lưu giữ chất thải là 60%
1.5 Công tác quản lý chất thải rắn tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn
1.5.1 Thông tin chung về Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
BV Hoàn Mỹ Sài Gòn nằm ở 60-60A Phan Xích Long, phường 1, Quận Phú Nhuận
BV có quy mô 251 giường nhưng do mô hình bệnh tật ngày càng phức tạp cùng với nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao nên số lượng bệnh nhân đến khám
và điều trị tại BV không ngừng gia tăng, do đó tuy là BV tư nhân nhưng công suất hoạt động của BV luôn đạt mức 80-85%
Trang 34BV có tổng cộng 597 nhân viên với tổng số khoa phòng là 28 trong đó khoa lâm sàng 12 (Cấp cứu, Khám bệnh, Hồi sức - lọc thận, Nội tổng hợp, Tim mạch, Nội thần kinh, Ngoại tổng hợp, Tiêu hóa, Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Phụ sản, Kiểm soát nhiễm khuẩn, Dinh dưỡng tiết chế), cận lâm sàng 3 (Chẩn đoán hình ảnh
và thăm dò chức năng, Xét nghiệm, Dược) và 13 phòng ban chức năng (Ban giám đốc, Kế hoạch tổng hợp, Quản lý chất lượng, Nhân sự, Pháp chế, Điều dưỡng, Vật
tư thiết bị y tế, Hành chánh quản trị, Công nghệ thông tin, Chăm sóc khách hàng, Kinh doanh, Tiếp thị, Mua hàng)
1.5.2 Quản lý CTRYT tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn
Tại BV hoạt động quản lý CTYT của BV tuân thủ theo thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BTNMT ngày 31/12/2015 của BYT và Bộ Tài nguyên môi trường Theo đó Phòng Hành chánh có sổ theo dõi lượng chất thải được chuyển tiêu hủy hàng ngày và Khoa KSNK phối hợp với phòng hành chánh hướng dẫn kiểm tra, giám sát tuân thủ quy định phân loại chất thải tại các khoa/phòng định kỳ mỗi tháng
1 lần và đột xuất Các quy định trong thông tư 58 về việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT được áp dụng và triển khai thực hiện trong toàn BV Theo báo cáo kết quả quan trắc môi trường BV: chất thải rắn thông thường phát sinh trong ngày là 750kg; chất thải rắn nguy hại phát sinh trung bình trong ngày là 140 kg Chất thải sau khi được lưu trữ tại BV sẽ được đưa đi hủy Chất thải sinh hoạt được đưa đi xử lý 2 lần mỗi ngày (10 giờ và 21 giờ), CTYT là 1 lần trong ngày (12 giờ 30) và chất thải nguy hại là định kỳ 6 tháng hoặc mỗi khi đầy kho BV
ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh để xử lý CTYT, chất thải nguy hại và Công ty dịch vụ công ích quận Phú Nhuận để xử lý chất thải sinh hoạt Chất thải tái chế được thu mua mỗi tuần bởi một nhà thầu có giấy phép
Qua tổng quan tài liệu các nghiên cứu đã tìm hiểu cho thấy các yếu tố tác động đến việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại BV:
1 Yếu tố tiền đề:
Trang 35 Yếu tố chính sách: các văn bản quy phạm pháp luật như Luật bảo vệ môi trường, Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BTNMT ngày 31/12/2015 của BYT và Bộ Tài nguyên môi trường; sự quan tâm của lãnh đạo BV về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Yếu tố cá nhân: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, thâm niên công tác, loại hình lao động, kiến thức, thực hành của điều dưỡng, hộ lý, nhân viên vệ sinh về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Yếu tố hạ tầng cơ sở và kinh phí: cơ sở hạ tầng của BV; trang thiết bị, dụng cụ, phương tiện cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT; nhân lực; ngân sách cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Yếu tố tạo điều kiện: tập huấn, truyền thông là yếu tố quan trọng trong việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
2 Yếu tố liên quan đến việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT của nhân viên y tế và nhân viên vệ sinh : yếu tố cá nhân, yếu tố chính sách, yếu tố hạ tầng, truyền thông, tập huấn
Trên cơ sở đó luận văn tiến hành xây dựng khung lý thuyết như sau:
Trang 36Kiến thức của nhân
viên y tế và nhân viên
vệ sinh về phân loại,
thu gom, vận chuyển
và lưu giữ CTRYT
Luật Bảo vệ môi trường
- Thông tư liên tịch 58
Sự quan tâm của lãnh đạo BV về quản lý CTRYT
Yếu tố HT, KP
Cơ sở hạ tầng BV Trang thiết bị phục vụ quản lý chất thải
Hệ thống giám sát Nhân lực
- Kinh phí cho công tác quản lý CTRYT
Yếu tố tiền đề
Thực trạng việc phân loại, thu gom,vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại BV Hoàn
Mỹ Sài Gòn năm
2017
Thực trạng phương tiện, dụng cụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển
và lưu giữ CTRYT
Yếu tố điều kiện
Truyền thông Tập huấn
Trang 37Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Phương tiện, dụng cụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Tất cả điều dưỡng, hộ lý, kỹ thuật viên và nữ hộ sinh tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Tất cả NVVS của công ty PAN Servises tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017, thời gian thu thập số liệu từ tháng 02-04/2017
Địa điểm nghiên cứu : Các Khoa lâm sàng và Cận lâm sàng BV Hoàn Mỹ Sài Gòn, 60-60A Phan Xích Long, Phường 1, Quận Phú Nhuận
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau:
n= 𝑧(1−𝛼/2)𝑝 (1−𝑝)2
𝑑 2Trong đó:
n: Cỡ mẫu
Z: Hệ số tin cậy với = 5%, độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
p: Sử dụng tỷ lệ nhân viên có kiến thức đạt về quản lý CTRYT là 75% (p=0,75) tại BV Đa khoa huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp năm 2014 [12]
d: Là sai số cho phép, ở nghiên cứu này chúng tôi lấy d = 0,05
Thay các giá trị trên ta tính được cỡ mẫu n = 288
Trang 38Theo số liệu của Phòng Nhân sự và Hành chánh quản trị, có bảng số liệu về NVYT (điều dưỡng, hộ lý, nữ hộ sinh và kỹ thuật viên) và NVVS như sau:
Chọn mẫu toàn bộ NVYT và nhân viên vệ sinh trực tiếp tham gia vào việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT của các khoa lâm sàng và cận lâm sàng là 304 người (đảm bảo lớn hơn cỡ mẫu tối thiểu 288)
2.4.2 Cỡ mẫu khảo sát kiế n thứ c thự c hành phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Khảo sát toàn bộ NVYT và nhân viên vệ sinh tham gia phân loại, thu gom,
Trang 39vận chuyển, lưu giữ CTRYT tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Theo phân công công việc tại BV Hoàn Mỹ Sài Gòn, NVYT là đối tượng thực hiện phân loại CTRYT, nhân viên vệ sinh thì thực hiện thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT Vì vậy, cỡ mẫu khảo sát kiến thức thực hành cho 4 khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT cụ thể là:
Về phân loại CTRYT : NVYT là người tham gia phát sinh CTRYT sẽ trực tiếp phân loại CTRYT, tổng số NVYT trực tiếp tham gia phân loại CTRYT
là 282
Về thu gom: 20 nhân viên vệ sinh trực tiếp thu gom CTRYT
Về vận chuyển: 1 nhân viên vệ sinh chuyên trách vận chuyển CTRYT cho toàn BV
Về lưu giữ: 1 nhân viên vệ sinh chuyên trách quản lý kho chứa chất thải của
BV
2.4.3 Quan sát các trang thiết bị, dụng cụ
Thực hiện quan sát các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp
Các tài liệu liên quan đến nội quy, quy định, văn bản hướng dẫn liên quan đến việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT, các thông tư, nghị định liên quan đến việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Sổ sách ghi chép theo dõi về phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT năm 2016
2.5.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Khảo sát kiến thức thức thực hành
Đánh giá kiến thức thực hành của đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp phát vấn, tổng cỡ mẫu phát vấn là 304 bằng phương pháp phát vấn, sử dụng bộ câu
Trang 40hỏi thiết kế sẵn
Nội dung bộ câu hỏi được thiết kế xây dựng dựa trên Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BTNMT ngày 31/12/2015 của BYT và Bộ Tài nguyên môi trường (Phụ lục 1)
Quan sát các trang thiết bị, dụng cụ tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng
Thực hiện quan sát thực trạng các trang thiết bị, dụng cụ phục vụ cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng theo bảng kiểm (phụ lục 2)