1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng hoạt động và kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone của người nghiện chích ma túy tại tỉnh tây ninh

90 253 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người NCMT đang tham gia điều trị tại tỉnh Tây Ninh, năm 2017 ..... Chính vì những lý do trên, nghiên

Trang 1

TỐNG THỊ NGỌC LOAN

THỰC TR NG HO T NG VÀ KẾT QUẢ AN ẦU

ỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT D NG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE CỦA N ƢỜI NGHIỆN CHÍCH MA TÚY T I TỈNH TÂY N NH NĂM 2017

LUẬN VĂN TH SĨ HUYÊN N NH Y TẾ CÔNG C NG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

HÀ N I - 2017

Trang 2

TRƯỜN I HỌC Y TẾ CÔNG C NG

TỐNG THỊ NGỌC LOAN

THỰC TR NG HO T NG VÀ KẾT QUẢ AN ẦU

ỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CÁC CHẤT D NG THUỐC

MA TÚY T I TỈNH TÂY N NH NĂM 2017

LUẬN VĂN TH SĨ HUYÊN N NH Y TẾ CÔNG C NG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

N ƯỜ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS HỒ THỊ HIỀN

HÀ N I - 2017

Trang 3

MỤ LỤ

MỤC LỤC i

DANH MỤC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1.Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4

1.1.1 Khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Hiệu quả sử dụng Methadone 6

1.1.3 Đối tượng tham gia điều trị Methadone 6

1.1.4 Mục đích điều trị 7

1.2 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Tây Ninh 7

1.2.1 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS tại Việt Nam 8

1.2.3 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV tại Tây Ninh 8

1.3 Tình hình chương trình MMT trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Tây Ninh 9

1.3.1 Tình hình điều trị Methadone (MMT) trên thế giới 9

1.3.2 Tình hình điều trị Methadone ở Việt Nam 9

1.3.3 Nhu cầu triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Tây Ninh 10

1.3.4 Các văn bản về triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone ở Việt Nam 11

1.3.5 Tình hình điều trị bằng Methadone ở Tây Ninh 11

1.3.6 Một số nghiên cứu về kết quả điều trị Methadone 12

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

1.5 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 19

Trang 4

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2.1 Thời gian nghiên cứu 20

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu 21

2.5 Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu 21

2.6 Các biến số, chỉ số nghiên cứu 22

2.6.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) 22

2.6.2 Tình trạng sức khoẻ của ĐTNC và tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân 22

2.6.3 Kết quả ban đầu điều trị của người NCMT 22

2.6.4 Biến số thực trạng công tác quản lý chương trình MMT 23

2.7 Phương pháp phân tích số liệu 23

2.8 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 23

2.9 Đạo đức của nghiên cứu 24

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đặc tính chung của người NCMT tham gia điều trị MMT 25

3.2 Đặc tính về tình trạng sức khoẻ và tiền sử sử dụng ma túy của người NCMT điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone 26

3.3 Kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người NCMT đang tham gia điều trị tại tỉnh Tây Ninh, năm 2017 29

3.3.1 Thực trạng hoạt động chương trình điều trị MMT tại Tây Ninh 29

3.3.2 Kết quả ban đầu điều trị MMT tại tỉnh Tây Ninh 36

Chương 4 BÀN LUẬN 38

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu tham gia điều trị MMT 38

4.1.1 Giới tính của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.2 Tuổi của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.3 Hôn nhân của đối tượng nghiên cứu 38

4.1.4 Học vấn của đối tượng nghiên cứu 39

Trang 5

4.1.5 Tuổi sử dụng ma túy của đối tượng nghiên cứu 39

4.2 Tình trạng sức khoẻ và tiền sử sử dụng ma túyvà của người NCMT 39

4.2.1 Tình trạng HIV và điều trị ARV của đối tượng nghiên cứu 39

4.2.2 Các bệnh kèm theo ở người NCMT điều trị tại cơ sở Methadone 40

4.2.3 Thời gian sử dụng ma túy trước điều trị của đối tượng nghiên cứu 40

4.3 Thực trạng hoạt động chương trình MMT tại tỉnh Tây Ninh 41

4.3.1 Cơ cấu tổ chức 41

4.3.2 Nhân lực 41

4.3.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí 42

4.4 Kết quả ban đầu điều trị MMT của người NCMT và một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả 42

4.4.1 Tình trạng sử dụng ma túy của bệnh nhân và kết quả xét nghiện heroin trong nước tiểu 42

4.4.2 Cân nặng của bệnh nhân 43

4.4.3 Việc làm của bệnh nhân 43

4.4.4 Tuân thủ điều trị 44

4.4.5 Liều Methadone duy trì trong điều trị 44

4.6 Hạn chế của nghiên cứu 44

KẾT LUẬN 46

KHUYẾN NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Phụ lục: 54

Phụ lục 1: Biến số 54

PHỤ LỤC 2: BẢNG THU THẬP THÔNG TIN BỆNH NHÂN (TỪ BỆNH ÁN) 60 PHỤ LỤC 3: PHIẾU PHỎNG VẤN SAU ĐIỀU TRỊ 63

Phụ lục 4: BẢNG KIỂM DÀNH CHO CƠ SỞ ĐIỀU TRỊ METHADONE 69

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của người NCMT điều trị nghiện các chất dạng thuốc

phiện bằng Methadone (n=130) 25

Bảng 3.2 Các đặc tính về độ tuổi và thời gian sử dụng ma túy (n=130) 26

Bảng 3.3 Thời gian sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị của bệnh nhân (n=130) 27

Bảng 3.4 Tình trạng sức khỏe của người NCMT trước khi tham gia điều trị MMT (n=130) 27

Bảng 3.5 Kế hoạch triển khai phối hợp với các ban ngành 30

Bảng 3.6 Hoạt động xét nghiệm 33

3.3.1.6 Kinh phí 35

Bảng 3.7 Bảng Kinh phí thực hiện từ nguồn ngân sách tỉnh và nguồn trung ương đảm bảo[20] 35

Bảng 3.8 Các chỉ số đánh giá kết quả điều trị của người NCMT trước và sau khi tham gia điều trị MMT (n=130) 36

Bảng 3.9 Mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân (n=130) 37

Bảng 3.10 Liều điều trị Methadone của bệnh nhân (n=130) 37

Trang 7

ANH MỤ HỮ V ẾT TẮT

AIDS: Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (Acquired

Immune Deficiency Syndorome) ARV: Thuốc kháng vi-rút (Anti Retroviral (Drug)

WHO: Tổ chức Y tế thế giới (The World Health

Organization)

Trang 8

TÓM TẮT Ề T N H ÊN ỨU

Điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện đã được triển khai ở nhiều nước trên thế giới, và đã đạt được nhiều thanh tựu trong việc giảm lây truyền HIV trong nhóm NCMT và từ nhóm NCMT ra cộng đồng và giảm tỷ lệ tội phạm

Chương trình điều trị thay thế thuốc Methadone tại Việt Nam bắt đầu triển khai từ năm 2008 tại TP Hồ Chí Minh và Hải Phòng Kết quả đánh giá cho thấy hiệu quả về nhiều mặt: giúp tiết kiệm chi phí cho người nghiện, gia đình và cộng đồng Giảm nguy cơ lây truyền HIV cho cộng đồng Đồng thời, tạo điều kiện cho người NCMT tái hòa nhập cộng đồng

Tỉnh Tây Ninh đã triển khai điều trị Methadone từ 03/2015, đến nay đã triển khai được 02 cơ sở điều trị Methadone tại thành phố (TP) Tây Ninh và huyện Gò Dầu Tuy nhiên, sau thời gian triển khai điều trị, hiện nay tại Thành phố Tây Ninh cũng như huyện Gò Dầu chưa có các số liệu thực tế về điều trị thay thế bằng Methadone Chính vì những lý do trên, nghiên cứu “Thực trạng hoạt động và kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone của người nghiện chích ma túy tại tỉnh Tây Ninh năm 2017” được thực hiện nhằm:

1 Mô tả thực trạng hoạt động chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tỉnh Tây Ninh năm 2017

2 Mô tả kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người nghiện chích ma túy đang tham gia điều trị tại tỉnh Tây Ninh, năm 2017

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính Sử dụng bộ câu hỏi soạn sẵn và bảng kiểm soạn sẵn cùng với sử dụng số liệu thứ cấp từ hồ sơ bệnh án để thu thập thông tin ban đầu của bệnh nhân như thể trạng, liều dùng, thời gian sử dụng heroin, nghề nghiệp cũng như tình trạng sức khỏe, kế hoạch và báo cáo của cơ sở Methadone tỉnh Tây Ninh

Qua nghiên cứu chúng tôi đã có kết quả như sau: Tỷ lệ HIV dương tính khá cao 16,9% Trong số bệnh nhân HIV có 23% bệnh nhân không tham gia điều trị ARV 64% bệnh nhân có mắc các bệnh kèm theo, viêm gan C là bệnh phổ biến nhất

Trang 9

(63%) Khoảng 56%- 77% bệnh nhân có mối quan hệ tốt với xã hội: như công an,

sở Lao động thương binh xã hội, hàng xóm, bạn có hoặc không NCMT

Kết quả về thực trạng hoạt động của cơ sở điều trị Methadone: Tỉnh đã ban hành các Quyết định thành lập cơ sở Methadone tại Thành phố Tây Ninh và Huyện

Gò Dầu trong năm 2015 Tỉnh Tây chưa chưa triển khai mô hình lồng ghép điều trị ARV vào cơ sở điều trị MMT Cơ sở vật chất gồm phòng cấp thuốc, phòng tư vấn, phòng khám, phòng xét nghiệm và phòng họp nhóm, đảm bảo mỗi cơ sở có 10 nhân

sự trong đó có 02 bác sĩ và 08 trung cấp là điều dưỡng, y sỹ, dược sĩ và kỹ thuật viên xét nghiệm đúng theo hướng dẫn tại Nghị định số 96/2012/NĐ-CP Kinh phí mua vật tư tiêu hao và sinh phẩm phục vụ công tác chuyên môn từ nguồn ngân sách tỉnh hỗ trợ, thuốc Methadone do Trung ương cấp Được sự ủng hộ của các ban ngành tại địa phương cũng như các hoạt động truyền thông và huy động cộng đồng tạo sự đồng thuận đã được thực hiện từ tuyến thành phố đến cấp quận, huyện và xã phường bằng nhiều hình thức phong phú

Kết quả của điều trị MMT của người NCMT: Bệnh nhân sau điều trị giảm đáng kể tần suất dùng ma túy bất hợp pháp với tỷ lệ NCMT của bệnh nhân trước và sau điều trị là 96,1% và 3,9% Tỷ lệ bệnh nhân thất nghiệp có xu hướng giảm, số bệnh nhân có Heroin trong nước tiểu giảm đáng kể 43% giảm xuống còn 10%, tuy nhiên hầu hết bệnh nhân tham gia các công việc buôn bán trong gia đình Ngoài ra, cân nặng trung bình của bệnh nhân khi tham gia điều trị MMT tăng 0,9 kg

Cần triển khai mô hình lồng ghép điều trị ARV với cơ sở điều trị MMT tại tỉnh Tây Ninh; tăng cường tập huấn cho các cán bộ, bác sĩ tại các cơ sở điều trị kiến thức về sàng lọc, chẩn đoán những bệnh đồng nhiễm phổ biến thường gặp ở bệnh nhân NCMT như viêm gan C, HIV, viêm gan B, lao Chính quyền địa phương nên

đề xuất thêm các hỗ trợ cho bệnh nhân MMT, đặc biệt là chương trình hỗ trợ xã hội trong đó tập trung vào: đào tạo nghề và tạo việc làm, và truyền thông giảm kỳ thị và phân biệt đối xử

Trang 10

ẶT VẤN Ề

Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone (MMT)

đã được chứng minh trên toàn cầu là phương pháp hiệu quả trong việc kiểm soát sử dụng chất dạng thuốc phiện (CDTP) và phòng chống lây nhiễm HIV [25] Chương trình này bắt đầu năm 1964 và đã giúp ích cho hàng triệu người trong quá trình cai nghiện các CDTP[30] Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh tuân thủ MMT có thể làm giảm sử dụng heroin, tội phạm cũng như hành vi tiêm chích ma túy (TCMT)[32], đồng thời giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV cũng như các bệnh truyền qua đường máu khác như như viêm gan B và C trong nhóm TCMT[25] Ngoài ra, khi tuân thủ MMT bệnh nhân sẽ giảm nguy cơ tử vong so với những người không hoặc

bỏ điều trị thuốc Hơn nữa MMT còn giúp làm giảm chi phí và cãi thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân [26]

Tại Việt Nam tình hình lạm dụng ma túy vẫn đang diễn biến phức tạp Phần lớn người sử dụng ma túy có trình độ học vấn thấp, có tiền án hình sự, có việc làm

và có thu nhập không ổn định Theo báo cáo của Bộ Công an, tính đến cuối năm

2014, cả nước có 204.377 người sử dụng ma tuý, trong đó 85,0% có hành vi TCMT Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng ma túy không được quản lý thì vẫn chưa có thể thống kê được [1]

Việt Nam là một trong những nước có số ca nhiễm HIV cao nhất do hành vi TCMT Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong số những người TCMT vẫn còn rất cao trong những năm gần đây Theo kết quả của cuộc điều tra giám sát trọng điểm HIV năm

2014, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT là 45% trong tổng số 224.223 người nhiễm HIV [2]

Chương trình Methadone triển khai tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 Kết quả đánh giá bước đầu đã ghi nhận những kết quả hết sức tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và xã hội Từ đó Chính phủ đã cho phép nhiều tỉnh, thành phố tiến hành triển khai chương trình Methadone Đến nay tại Việt Nam đã mở rộng ra tại 20 tỉnh, thành phố với 60 cơ sở điều trị, có 13.000 bệnh nhân đang được điều trị (tính đến quý I

Trang 11

năm 2013) và dự tính số bệnh nhân có thể tăng lên đạt mức 80.000 bệnh nhân vào năm 2015.[2]

Tỉnh Tây Ninh đã triển khai MMT từ 03/2015, đến nay đã triển khai được 02

cơ sở điều trị Methadone tại thành phố Tây Ninh và huyện Gò Dầu Với mục đích của chương trình là: Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP; Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra; Cải thiện sức khoẻ cá nhân và cộng đồng, giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội Tuy nhiên, hiện tại Tỉnh Tây Ninh vẫn chưa có nghiên cứu nào được thực hiện để đánh giá hiệu quả của chương trình điều trị MMT nói chung cũng như kết quả điều trị nói riêng (bao gồm các chỉ số điều trị: tần suất tiêm chích ma túy, cân nặng, việc làm, kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu của người tham gia nghiên cứu) Bên cạnh đó, vì chương trình mới đưa vào hoạt động nên hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào báo cáo về tình trạng hoạt động của chương trình tại địa phương

Với tình hình hiện tại của địa phương như đã nêu trên thì việc thu thập số liệu nhằm đưa ra những bằng chứng thực tiễn về thực trạng hoạt động và kết quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là cần thiết Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng hoạt động và kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone của người nghiện chích ma túy tại tỉnh Tây Ninh năm 2017”

Trang 12

MỤ T ÊU N H ÊN ỨU

1 Mô tả thực trạng hoạt động chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại tỉnh Tây Ninh năm 2017

2 Mô tả kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người nghiện chích ma túy đang tham gia điều trị tại Tây Ninh, năm 2017

Trang 13

hương 1: TỔN QUAN N H ÊN ỨU 1.1.Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu

1.1.1 Khái niệm cơ bản

Methadone

Methadone là một chất tổng hợp, đồng vận với chất dạng thuốc phiện (CDTP); hấp thu tốt qua đường uống, có thời gian bán hủy dài, có sự khác biệt thời gian bán hủy huyết tương giữa các cá thể Tác dụng của Methadone tương tự như Morphin và các CDTP khác[2]

Các tác dụng của Methadone bao gồm: giảm đau, êm dịu, ức chế hô hấp và phê sướng Mức độ phê sướng khi sử dụng Methadone bằng đường uống ít hơn so với tiêm chích Heroin [2]

Các tác dụng ngoài ý của điều trị Methadone đường uống bao gồm: rối loạn giấc ngủ, nôn và buồn nôn, táo bón, khô miệng, tăng tiết mồ hôi, giãn mạch và ngứa, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, chứng vú to ở nam giới, suy giảm tình dục bao gồm cả liệt dương, giữ nước và tăng cân [2]

Hầu hết người đã sử dụng Heroin đều xuất hiện một số tác dụng ngoài ý khi

sử dụng methadone Khi điều trị ở liều ổn định, độ dung nạp tăng dần cho đến khi

kỹ năng nhận thức và khả năng chú ý không còn bị ảnh hưởng Triệu chứng táo bón, suy giảm tình dục, và đôi khi tăng tiết mồ hôi có thể vẫn tiếp tục gây khó chịu cho bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị duy trì bằng Methadone [2]

Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone

Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là một điều trị lâu dài, có kiểm soát, giá thành rẻ, được sử dụng theo đường uống, dưới dạng siro nên giúp dự phòng các bệnh qua đường máu như HIV, Viêm gan B, C, đồng thời giúp người bệnh phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, lao động và tái hòa nhập cộng đồng [2]

Mục tiêu của điều trị duy trì bằng Methadone là giảm hoặc ngừng sử dụng bất hợp pháp Heroin và các chất dạng thuốc phiện (CDTP) khác, cải thiện tình trạng sức khỏe, cuộc sống và tái hòa nhập cộng đồng, giảm lây truyền các bệnh lây truyền

Trang 14

qua đường máu liên quan đến tiêm chích các chất dạng thuốc phiện, giảm nguy cơ

tử vong liên quan đến sử dụng các CDTP và giảm tội phạm liên quan đến sử dụng các CDTP [2]

Đánh giá: Là hoạt động xem xét tình hình thực tế để đưa ra những nhận xét

trên cơ sở những thông tin dữ kiện thực tế Mục đích kịp thời điều chỉnh hoạt động cho phù hợp, thúc đẩy sự phát triển của chương trình, tạo nền tảng để chương trình phát triển sang những bước mới [2]

Các chất dạng thuốc phiện (CDTP)

Thuốc phiện, Morphin, Heroin, Methadone, Buprenorphine, codein, pethidine, fentanyle là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); thời gian tác dụng nhanh nên người bệnh nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc

hệ thần kinh trung ương; thời gian bán hủy ngắn do đó phải sử dụng nhiều lần trong ngày nếu không sử dụng lại sẽ bị hội chứng cai Vì vậy người nghiện CDTP (đặc biệt Heroin) luôn giao động giữa nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và trình trạng thiếu thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồn gốc dẫn đến những hành

vi nguy hại cho bản thân và những người khác [2]

Theo khái niệm khoa học: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên (morphin); bán tổng hợp (heroin được bán tổng hợp từ morphin) hay tổng hợp (amphetamine) có tác dụng lên thần kinh trung ương gây cảm giác như giảm đau, hưng phấn hay cảm thấy dễ chịu mà khi dùng nhiều lần thì sẽ phải sử dụng lại nó nếu không sẽ rất khó chịu [2]

Ma túy đá hay còn gọi là háng đá, chấm đá là tên gọi chung cho các loại ma túy tổng hợp, có chứa chất methamphetamine (meth) và amphethamine (amph) thậm chí là niketamid được phối trộn phức tạp từ nguyên liệu tự nhiên và hóa chất khác nhau trong đó thành phần chính, phổ biến là methamphetamine [2]

Heroin là một chất gây nghiện được chiết xuất từ quả cây thuốc phiện Heroin được xếp cùng nhóm với các chất giảm đau mạnh được biết đến với tên chất dạng thuốc phiện.[2]

Trang 15

1.1.2 Hiệu quả sử dụng Methadone

Về mặt sức khoẻ: Dự phòng lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu

như HIV, viêm gan B, C Người bệnh nhanh chóng ổn định tâm lý, nhân cách hồi phục sức khoẻ và ổn định cuộc sống, có cơ hội tái hoà nhập với gia đình và cộng

đồng [2]

Về mặt xã hội: Do người nghiện không còn nhu cầu kiếm tiền mua ma tuý

nên tình hình an ninh trật tự được cải thiện rõ rệt Sự kỳ thị phân biệt đối xử với người nghiện giảm, cơ hội kiếm việc làm của người nghiện sẽ tăng lên giúp tăng sức sản xuất cho gia đình, xã hội [2]

Về mặt kinh tế: Bản thân người nghiện và gia đình không mất tiền mua ma

tuý khoảng 7 - 9 triệu/tháng, ngược lại có thể còn có việc làm tăng thu thập cho gia đình Đối với Nhà nước, Chính phủ theo báo cáo của tổ chức Y tế thế giới đầu tư cho chương trình điều trị Methadone sẽ tiết kiệm được từ 7 đến 10 lần các chi phí liên quan đến pháp lý, y tế, xã hội, chi phí vận hành một cơ sở điều trị Methadone cho 250 người bệnh chỉ vào khoảng 1,4 tỷ đồng/năm Chi phí điều trị tính bình quân cho một người bệnh là 15.435 đồng/ngày, trong đó tiền thuốc khoảng 7.000 đồng/1 ngày/1 người Theo nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới với 1 USD Mỹ sẽ tiết kiệm được 7 USD cho các vấn đề phát sinh khác như pháp luật, y tế (ông Phạm Đức Mạnh - Phó Cục trưởng Cục Phòng chống HIV/AIDS) [2]

1.1.3 Đối tượng tham gia điều trị Methadone

Theo điều 5 - nghị định số 96/2012/NĐ - CP quy định về điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế:

- Là người nghiện chất dạng thuốc phiện

- Có nơi cư trú rõ ràng

- Tự nguyện tham gia điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện và cam kết tuân thủ điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện Đối với người nghiện chất dạng thuốc phiện chưa đủ 16 tuổi, chỉ được điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện khi có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp của người đó

- Không thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật [2]

Trang 16

1.1.4 Mục đích điều trị

Hiện nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau:

- Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy

- Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra (hoạt động tội phạm, lây nhiễm HIV/AIDS, viêm gam B, C do sử dụng chung bơm kim tiêm, tử vong do sử dụng quá liều các CDTP)

- Cải thiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng, giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội [2]

1.2 Tình hình nghiện chích ma túy và H V/A S trên thế giới, Việt Nam và tỉnh Tây Ninh

1.2.1 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS trên thế giới

Theo kết quả của hiệp hội phòng chống AIDS năm 2016 trên 160 quốc gia, chỉ trong hai năm gần đây, số người HIV đang điều trị ARV đã tăng khoảng một phần ba, đạt 17,0 triệu người Kể từ khi chương trình điều trị HIV toàn cầu được thiết lập vào năm 2003, thì hàng năm tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS giảm 43% Khu vực bị ảnh hưởng bởi HIV mạnh mẽ nhất như Đông và Nam châu Phi, thì số người được điều trị đã tăng hơn gấp đôi kể từ năm 2010, đạt gần 10,3 triệu người

Tỷ lệ tử vong liên quan đến AIDS ở khu vực này đã giảm 36% kể từ năm 2010 Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh vẫn còn nhiều thách thức lớn phía trước Năm 2015 đã có 2,1 triệu ca nhiễm HIV mới trên toàn thế giới, nâng tổng số người sống chung với HIV lên con số 36,7 triệu người [33]

Năm 2014 trên thế giới ước tính có khoảng 12 triệu người tiêm chích ma túy

và 1,6 triệu người tiêm chích ma túy đang sống chung với HIV và 6.000.000 đang sống chung với viêm gan C Trong đó, 29 triệu người bị rối loạn sử dụng ma túy nhưng chỉ có một phần sáu trong số người này đang được điều trị Theo thống kê của hiệp hội phòng chống AIDS trên thế giới thì cứ bảy người tiêm chích ma túy có một người bị nhiễm HIV, hai người bị nhiễm viêm gan C Ngoài ra, tiêm chích ma túy là hành vi có nguy cơ lây nhiễm HIV và viêm gan nguy hiểm nhất trong cộng đồng Ở khu vực châu Phi cận Sahara gần một phần ba số ca nhiễm HIV mới xảy ra

Trang 17

ở người TCMT Hơn nữa, các nghiên cứu đã tìm thấy người TCMT tham gia vào các hành vi tình dục nguy hiểm, dẫn đến có nguy cơ lây nhiễm HIV cao [34]

1.2.2 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV/AIDS tại Việt Nam

Tình hình HIV ở Việt Nam khá phổ biến và diễn tiến phức tạp Trong năm

2015 cả nước phát hiện thêm 10.195 trường hợp mới nhiễm HIV, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 6.130, số bệnh nhân tử vong là 2.130 trường hợp Tính đến cuối năm 2015, toàn quốc có 227.154 người nhiễm HIV đang còn sống, 85.194 người nhiễm HIV trong giai đoạn AIDS và trên 86.716 người nhiễm HIV đã

tử vong Theo ước tính của Bộ y tế, cả nước hiện có khoảng 254.000 người nhiễm HIV, mỗi năm có khoảng 12.000-14.000 trường hợp mới nhiễm HIV Điều đặc biệt quan trọng là hiện nay chỉ khoảng 80% người nhiễm HIV biết được tình trạng HIV của họ [4]

Kết quả giám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3% Các yếu tố nguy cơ lây truyền HIV ở Việt Nam giai đoạn hiện nay vẫn là lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và từ nhóm nghiện chích ma túy nhiễm HIV sang vợ bạn tình của họ [4]

1.2.3 Tình hình nghiện chích ma túy và HIV tại Tây Ninh

Theo báo cáo của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Tây Ninh tính đến ngày 30/11/2016 toàn tỉnh có 3.202 người nhiễm HIV còn sống tại 94/95 xã/phường; tỷ lệ nhiễm HIV còn sống trên 100.000 dân là 0,2%, tỷ lệ này đặc biệt cao tại huyện Hòa Thành (0,05%) Trong tổng số người nhiễm HIV tích lũy đến 30/11/2016, lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao (45,28%), lây truyền qua đường máu chiếm 16,81%, lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,88% và tỷ lệ không

Trang 18

1.3 Tình hình chương trình MMT trên thế giới, tại Việt Nam và tỉnh Tây Ninh

1.3.1 Tình hình điều trị Methadone (MMT) trên thế giới

Trên thế giới, điều trị thay thế bằng thuốc methadone còn được gọi là MMT (Methadone Maintenance Therapy) không phải là một giải pháp mới trong các hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV Chương trình điều trị thay thế bằng Methadone đã được triển khai tại rất nhiều nước trên thế giới: Úc, Mỹ, Hà Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar, Trung Quốc, Hồng Kông Tại những nước này, Chương trình MMT đã góp phần đáng kể vào việc giảm tội phạm, giảm sự lây truyền HIV trong nhóm nghiện chích ma túy và từ nhóm nghiện chích ma túy ra cộng đồng Hiện nay trên toàn thế giới có hơn 70 nước triển khai Chương trình methadone, điều trị khoảng 580.000 bệnh nhân tại Châu Âu, hơn 200.000 bệnh

nhân tại Châu Á [5]

Methadone được sử dụng lần đầu trong điều trị người nghiện Heroin tại Mỹ vào năm 1965, Hồng Kông (1972), Hà Lan (1980), Australia (1993), Pháp (1994) Quy mô áp dụng tại các nước khá rộng lớn, tại Mỹ trong những năm 1970 có 20.000 bệnh nhân được điều trị bằng Methadone Đến năm 2008, Thụy Sĩ có 3.000

cơ sở điều trị, Tây Ban Nha có 5.000 cơ sở, Đức có 4.000 cơ sở, Trung Quốc có 500

cơ sở Tại khu vực Đông Nam Á, có nhiều nước đã áp dụng như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Myanmar Hiện nay, trên thế giới có ít nhất 70 quốc gia đang

sử dụng phương pháp này với quy mô khoảng 580.000 người thuộc khu vực châu

Âu và 200.000 người ở châu Á[12],[56]

1.3.2 Tình hình điều trị Methadone ở Việt Nam

Chương trình Methadone triển khai tại Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2008 Kết quả đánh giá bước đầu đã ghi nhận những kết quả hết sức tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân bệnh nhân, gia đình bệnh nhân và xã hội Từ đó Chính phủ đã cho phép nhiều tỉnh, thành phố tiến hành triển khai chương trình Methadone Đến nay tại Việt Nam đã mở rộng ra tại 20 tỉnh, thành phố với 60 cơ sở điều trị, có 13.000 bệnh nhân đang được điều trị (tính đến quý I năm 2013) và dự tính số bệnh nhân có thể tăng lên đạt mức 80.000 bệnh nhân vào năm 2015.[2]

Trang 19

Chương trình Methadone đã làm giảm đáng kể hành vi và tần suất sử dụng

ma túy trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị Trước khi tham gia điều trị 100% bệnh nhân sử dụng Heroin, sau 06 tháng điều trị tỷ lệ này đã giảm xuống còn 14,05%, sau 12 tháng còn 9,05% và sau 24 tháng chỉ còn 8,41% số bệnh nhân tiếp tục sử dụng ma túy Trước điều trị hầu hết bệnh nhân có tần suất sử dụng rất cao với 48,5% bệnh nhân sử dụng trên 05 lần/ngày, 45,1% bệnh nhân sử dụng từ 3-4 lần/ngày và chỉ có 6,3% bệnh nhân sử dụng với tần suất 1-2 lần/ngày Tuy nhiên sau 12 tháng điều trị, không có bệnh nhân nào sử dụng từ 2 lần/ngày trở lên và tần suất sử dụng ma túy trong nhóm bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng chỉ còn từ 2-3 lần/tháng [2]

Bệnh nhân tham gia chương trình Methadone đã có sự cải thiện về mặt sức khỏe về thái độ sau một thời gian điều trị Chương trình Methadone làm giảm nguy

cơ lây nhiễm HIV, giảm tỷ lệ tiêm chích ma túy Sẽ góp phần dự phòng lây nhiễm HIV từ nhóm những người tiêm chích ma túy sang bạn tình của họ và cộng đồng.[2]

1.3.3 Nhu cầu triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tỉnh Tây Ninh

Trong những năm qua Tây Ninh đã triển khai nhiều biện pháp can thiệp như chương trình phân phát bơm kim tiêm miễn phí cho các đối tượng tiêm chích ma túy, chương trình điều trị cai nghiện tập trung và cai nghiện tự nguyện tại cộng đồng Các chương trình này đã từng bước mang lại hiệu quả, tuy nhiên cần có một biện pháp hữu hiệu hơn không những giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV mà còn giúp làm giảm tần suất và tiến tới ngừng sử dụng ma túy, giảm hành vi vi phạm pháp luật và gia tăng tỉ lệ bệnh nhân có việc làm và cải thiện chất lượng cuộc sống [19]

Thực tế chương trình Methadone tại một số tỉnh, thành phố đã chứng minh tính hiệu quả cao và cần được nhân rộng, giai đoạn 2014 - 2015 Tây Ninh sẽ thành lập 1 cơ sở và điều trị cho 400 người nghiện chích ma túy trên địa bàn theo Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20 tháng 6 năm 2014 của Thủ tướng chính phủ về việc giao chỉ tiêu bệnh nhân được điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện

Trang 20

bằng thuốc Methadone năm 2014 và 2015, đồng thời xem xét mở rộng trong thời gian tiếp theo.[19]

1.3.4 Các văn bản về triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc methadone ở Việt Nam

Quyết định số 6/2004/ Đ-TTg ngày 17/3/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược Quốc gia về phòng, chống HIV/AIDS ở Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020 khẳng định vai trò của điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone

Quyết định số 5076/ Đ-BYT ngày 12/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone và Hướng dẫn tổ chức thực hiện

Quyết định số 140/ Đ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone

Nghị định 96/2012 ngày 15/11/2012 của Chính Phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày 12/4/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 96/NĐ-CP ngày 15/11/2012 của Chính Phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế

Chỉ thị số 32/CT-TTG ngày 31/10/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế

1.3.5 Tình hình điều trị bằng Methadone ở Tây Ninh

Tây Ninh mới triển khai điều trị methadone từ 03/2015, đến nay đã triển khai được 02 cơ sở điều trị methadone tại TP Tây Ninh và huyện Gò Dầu với kết quả chỉ 11,5% người NCMT tham gia chương trình MMT trên tổng số 2594 bệnh nhân NCMT trong toàn Tỉnh [20]

Trang 21

ơn vị

Số bệnh nhân điều trị Methadone Số người nghiện

chích ma túy (N MT) của tỉnh Tây Ninh

Tỷ lệ bệnh nhân điều trị/người NCMT (%)

Thành phố Tây Ninh

1.3.6 Một số nghiên cứu về kết quả điều trị Methadone

Với thực trạng hiện nay, trong điều kiện chưa có phương pháp điều trị triệt

để các chất gây nghiện, điều trị thay thế là phương pháp hiệu quả nhất Điều trị thay thế được kết hợp với các biện pháp hỗ trợ tâm lý xã hội sẽ đạt được hiệu quả cao nhất cho bệnh nhân Với các thành quả mang lại như: giúp giảm hoặc ngừng sử dụng ma túy bất hợp pháp, giảm TCMT, cũng như nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường máu, nguy cơ sử dụng ma túy quá liều, giảm hoạt động tội phạm, tăng cường sức khỏe thể chất và tâm thần cho bệnh nhân Dưới đây là một số kết quả điều trị Methadone, theo nhiều nghiên cứu trên thế giới

1.3.6.1 Thực trạng hoạt động chương trình MMT tại Việt Nam

Nghiên cứu mô tả thực trạng nhu cầu hỗ trợ kỹ thuật của cán bộ chuyên môn tại các cơ sở điều trị methadone trên cả nước, năm 2015 - 2016 Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 821 cán bộ y tế làm việc tại 133 cơ sở điều trị methadone Hơn 50% bác sĩ tại không có kinh nghiệm lâm sàng khi về làm việc tại

Trang 22

cơ sở, 29,7% từng tham gia khóa học nâng cao trong điều trị Methadone Khoảng 70% cơ sở có lồng ghép điều trị HIV [22]

Nhằm triển quản lý tốt chương trình các cơ sở điều trị MMT phải đảm bảo thực hiện công tác quản lý và chỉ đạo như sau: Thành lập Nhóm hỗ trợ kỹ thuật hướng dẫn kỷ thuật và kiểm tra giám sát đánh giá kết quả thực hiện do Sở Y tế quyết định, tổ chức giao ban hàng tuần tại cơ sở điều trị với đơn vị hỗ trợ kỹ thuật kịp thời giải quyết những khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai, tổ chức các đợt kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất đến cơ sở điều trị để tăng cường chỉ đạo thực hiện chương trình theo các mục tiêu và tiến độ đề ra.[19]

Thực hiện Thông tư số 12/2013/TT - BYT Hướng dẫn thực hiện một số điều

nghị định 96 quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở điều trị Methadone như sau:

1.3.6.1.1 Cơ sở vật chất

Có nơi tiếp đón, phòng hành chính, phòng cấp phát và bảo quản thuốc, phòng tư vấn, khám bệnh và phòng xét nghiệm Các phòng trong cơ sở điều trị thay thế phải có diện tích từ 10 m2

trở lên; Bảo đảm các điều kiện về quản lý chất thải y

tế, phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật; Bảo đảm có đủ điện, nước

và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh; Các phòng của cơ sở điều trị thay thế phải được xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh, có cửa ra vào, cửa sổ chắc chắn và có khóa

Phòng xét nghiệm phải đáp ứng các điều kiện sau: Tường của khu vực xét nghiệm, bàn xét nghiệm phải bằng phẳng, không thấm nước, chịu được nhiệt và các loại hóa chất ăn mòn; Có bồn nước rửa tay, vòi rửa mắt khẩn cấp, hộp sơ cứu

1.3.6.1.2 Trang thiết bị

Có đủ thiết bị, dụng cụ y tế và thuốc điều trị thay thế phù hợp với quy mô hoạt động điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện; Có thiết bị để khử trùng dụng cụ

và bệnh phẩm; Có các thiết bị giám sát việc thực hiện điều trị

Phòng cấp phát và bảo quản thuốc: Ẩm kế; Nhiệt kế đo nhiệt độ phòng; Điều hòa nhiệt độ; 02 tủ có khóa, trong đó: 01 tủ để đựng thuốc cấp phát hằng ngày và 01

Trang 23

tủ để bảo quản thuốc; Dụng cụ cấp phát thuốc; Tủ hoặc giá đựng hồ sơ, sổ sách, phiếu theo dõi điều trị

Phòng khám bệnh: Nhiệt kế đo thân nhiệt; Ống nghe; Tủ thuốc cấp cứu (trong đó có thuốc giải độc); Máy đo huyết áp; Bộ trang thiết bị cấp cứu; Cáng cứu thương và xe đẩy; Giường khám bệnh; Cân đo sức khỏe - chiều cao

Phòng xét nghiệm: Bộ dụng cụ xét nghiệm nước tiểu và lấy máu; Tủ lạnh bảo quản sinh phẩm, bệnh phẩm

Nơi lấy nước tiểu của người bệnh: Bộ bàn cầu (với đường cấp nước có van đặt ở bên ngoài nơi lấy nước tiểu); Vách ngăn dán kính màu một chiều từ bên ngoài

để nhân viên của cơ sở điều trị quan sát được quá trình tự lấy mẫu nước tiểu của người bệnh

Các trang thiết bị khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng phòng

1.3.6.1.3 Nhân sự

Cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone phải có đủ các tiêu chuẩn sau:

có cán bộ y tế được phép khám bệnh, chữa bệnh, kê đơn thuốc gây nghiện; có nhân viên y tế hỗ trợ công tác khám bệnh, chữa bệnh, xét nghiệm, tư vấn; có nhân viên bảo quản và cấp phát thuốc Methadone; có nhân viên phụ trách hành chính Số lượng nhân viên làm việc toàn thời gian phải đạt tỷ lệ từ 75% trở lên trên tổng số nhân viên của cơ sở điều trị

Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật và người trực tiếp thực hiện việc điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện của cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone phải đáp ứng các điều kiện sau: Là bác sỹ có giấy chứng nhận đã qua đào tạo, tập huấn về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone được cấp bởi các cơ sở đào tạo được Bộ Y tế giao nhiệm vụ; Là người làm việc toàn thời gian tại cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone

Người phụ trách bộ phận dược của cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone có thể là người làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nhưng phải đáp ứng các điều kiện về chuyên môn theo quy định của pháp luật về dược

Các nhân viên khác làm việc tại cơ sở điều trị thay thế phải có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với công việc mà người đó được phân công

Trang 24

Số lượng nhân sự công tác tại cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone cần tuân theo quy định chi tiết tại Điều 5, Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày 12/4/2013 của Bộ Y tế, chi tiết như sau:

Phòng khám bệnh có ít nhất 03 nhân viên có trình độ trung cấp chuyên ngành

y trở lên, trong đó có ít nhất 01 bác sỹ phụ trách chuyên môn kỹ thuật có thời gian làm công tác khám bệnh, chữa bệnh từ 18 tháng trở lên; Phòng cấp phát và bảo quản thuốc có ít nhất 02 nhân viên có trình độ trung cấp chuyên ngành dược hoặc trung cấp chuyên ngành y trở lên, trong đó nhân viên làm nhiệm vụ bảo quản thuốc phải có trình độ từ trung cấp chuyên ngành dược trở lên; Phòng tư vấn có ít nhất 01 nhân viên có trình độ trung cấp chuyên ngành dược hoặc trung cấp chuyên ngành y hoặc trung cấp chuyên ngành xã hội trở lên; Phòng xét nghiệm có ít nhất 01 nhân viên có trình độ trung cấp thuộc một trong các chuyên ngành y, dược, sinh học hoặc hóa học trở lên; Phòng hành chính có ít nhất 01 nhân viên có trình độ trung cấp trở lên; Có ít nhất 02 nhân viên bảo vệ Tổng cộng : 10 nhân viên cho 1 cơ sở điều trị

1.3.6.2 Kết quả điều trị MMT

1.3.6.2.1 Tình trạng sử dụng chất gây nghiện

Tần suất sử dụng chất gây nghiện sẽ được giảm khi bệnh nhân tham gia chương trình cai nghiện đó là kết quả ghi nhận được qua các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới Một nghiên cứu hồi cứu của Jaganathan Premila Devil trên

117 bệnh nhân điều trị methadone trên 12 tháng trở lên cho thấy sự giảm có ý nghĩa đối với các chỉ tiêu đánh giá theo thang điểm trước và sau điều trị 12 tháng, điểm khác biệt về sử dụng heroin là 2,18 (95% CI: 1,72-2,64).[35] kết quả nghiên cứu khác tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy số bệnh nhân trước điều trị hành vi tiêm chích heroin là 86% giảm xuống còn 81% sau 3 tháng, 53% sau 6 tháng và 59% sau 9 tháng điều trị[3] Kết quả trong nghiên cứu thực trạng cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế chương trình dùng thuốc thay thế methadone can thiệp trong nhóm nghiện chích ma túy tại thành phố Hà Nội năm 2012 trên 70 đối tượng cho thấy: Tần suất sử dụng heroin hàng ngày của bệnh nhân giảm đi rõ rệt: Trước điều trị 1,24 lần/ngày; giai đoan dò liều 1,07 lần/ngày sau 7 ngày là 0,33 lần/ngày, sau tháng điều trị là 0,08 lần/ngày [8]

Trang 25

1.3.6.2.2 Kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu

Kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu cũng là chỉ số đáng tin cậy chứng minh được tình trạng giảm sử dụng chất gây nghiện của bệnh nhân khi tham gia chương trình MMT Nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần Hải Phòng cho thấy với liều duy trì từ 35mg đến 45mg/ngày, kết quả xét nghiệm nước tiểu cho thấy tỷ lệ dương tính với CDTP thấp, chỉ chiếm khoảng 5% trên tổng số hơn 1.000 mẫu nước tiểu[3] Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh

và Hải Phòng (2009- 2011) cho thấy: Tỷ lệ bệnh nhân dương tính với ma túy khi xét nghiệm nước tiểu giảm từ 98,2% trước khi điều trị xuống 15,5% sau 12 tháng và 12,4% sau 24 tháng, chỉ số hiệu quả là 84,2% và 87,4% (p< 0,001) [10]

1.3.6.2.2 Cải thiện kinh tế

Tình trạng kinh tế của bệnh nhân có sự thay đổi tích cực Tỷ lệ không có việc làm giảm từ 60% xuống còn 15,4% theo nghiên cứu của Phạm Thị Đào Trước điều trị có 35,6% bệnh nhân có việc làm, sau 6 tháng điều trị tỷ lệ này tăng lên 60,3%, sau 10 tháng là 80%, mặc dù nhiều bệnh nhân chỉ làm những công việc đơn giản, thời vụ hoặc phụ giúp gia đình song đây là những kết quả tốt hỗ trợ thu nhập, cải thiện cuộc sống cho người nghiện chích ma tuý [17]

1.3.6.2.3 Tăng cân

Hầu hết các nghiên cứu đã chứng minh được bệnh nhân đã tăng cân sau khi tham gia chương trình MMT Năm 2012, Phạm Thị Đào thực hiện nghiên cứu tại Đà Nẵng kết quả phần lớn bệnh nhân đã tăng cân sau ba tháng điều trị Methadone với tỷ lệ tăng trung bình là 3kg [31] Năm 2008, Bộ Y tế đánh giá mô hình triển khai thí điểm điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone tại Tp Hải Phòng và Tp Hồ Chí Minh, 75% bệnh nhân tăng cân sau khi tham gia chương trình MMT [8]5 Một nghiên cứu khác tại Thái Bình năm 2013, đánh giá trên 50% bệnh nhân tăng cân khi tham gia cai nghiện

1.3.6.2.4 Tuân thủ điều trị

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng (2009-2011) cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ sau 12 tháng điều trị là 11,7% và sau 24 tháng điều trị là 22,2% [10] Phạm Văn Hán và cộng sự

Trang 26

tiến hành nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân điều trị Methadone trên 394 bệnh nhân tại cơ sở điều trị Methadone quận Lê Chân - Hải Phòng năm 2011 cho kết quả: Tỷ lệ bệnh nhân không tuân thủ điều trị là 22,1% [18] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng thì tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 13% [13]

Nhiều nghiên cứu cho thấy việc tuân thủ điều trị MMT mang lại những lợi ích như tăng cường chất lượng cuộc sống ở mức tốt hoặc rất tốt; tăng tỉ lệ bệnh nhân “hài lòng” hoặc “rất hài lòng” với tình trạng sức khỏe; giảm nguy cơ lây truyền HIV (giảm tỉ lệ bệnh nhân tự báo cáo có TCMT và tỉ lệ dùng chung BKT, tăng sử dụng bao cao su); tăng tỉ lệ có việc làm; các bệnh nhân tái hòa nhập với gia đình và xã hội tốt hơn; giảm các vấn đề trong quan hệ với gia đình và bạn bè[10][21]

1.3.6.2.5 Duy trì Methadone liều cao để giảm sử dụng heroin

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh rằng duy trì Methadone liều cao là quan trọng để giảm sử dụng heroin Theo đó, một nghiên cứu hồi cứu thống

kê của M.Hartel và cộng sự tại Mỹ năm 1995 sử dụng các dữ liệu thu được trong một mẫu cắt ngang của 652 bệnh nhân điều trị bằng Methadone đã khẳng định kết quả trên [24] Tương tự, các nghiên cứu của Herman Joseph và cộng sự tại Mỹ năm

2000, và nghiên cứu của Howard M Rhoades, một nghiên cứu hồi cứu của John

R, M Caplehorn và cộng sự tại Úc năm 1993 đã xem xét mối liên quan giữa liều Methadone và sử dụng heroin bằng cách kiểm tra nước tiểu trong khoảng thời gian

cố định của một nghiên cứu đoàn hệ 62 bệnh nhân cho thấy duy trì điều trị Methadone sẽ làm giảm hội chứng cai và sự thèm muốn với heroin [28, 29, 31]

Trang 27

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu

Kết quả ban đầu điều trị bằng Methadone của người NCMT

- Kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu sau khi

tham gia điều trị

- Tình trạng việc làm sau khi tham gia điều trị

- Tần suất sử dụng ma túy sau khi tham gia điều trị

- Cân nặng sau khi tham gia điều trị

Trang 28

1.5 ặc điểm về địa bàn nghiên cứu

Tây Ninh là một tỉnh ở miền Đông Nam Bộ nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Pnôm Pênh vương quốc Campuchia Tây Ninh có dân

số 1.080.700 người, diện tích 4.042 km², về hành chính có 01 Thành phố và 8 huyện với 95 xã, phường, thị trấn Kinh tế của tỉnh chủ yếu là nông nghiệp nhưng từ năm

2010 trên địa bàn tỉnh xuất hiện nhiều khu công nghiệp tại Trảng Bàng, Gò Dầu và Thành phố Tây Ninh nên đời sống nhân dân từ từ chuyển sang công nghiệp

Sự phát triển về kinh tế và xã hội đã mang lại nhiều vấn đề hệ lụy khác Cụ thể: Tình hình trật tự an toàn xã hội điển hình như tệ nạn ma túy, mại dâm, cướp giật, phạm pháp, các vấn đề y tế với các dịch bệnh nguy hiểm trong đó nổi cộm là dịch HIV/AIDS đang là vấn đề cấp bách cần được giải quyết Chính quyền địa phương nhận thấy sự nguy hiểm của dịch HIV/AIDS và tệ nạn ma túy đến sự phát triển kinh tế xã hội nên đã đưa ra nhiều chính sách để khắc phục, trong đó chương trình can thiệp giảm hại trên nhóm TCMT hiện đang được chú trọng

Chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone tại Tỉnh Tây Ninh được triển khai từ tháng 3/2015 với 02 cơ sở tại Thành phố Tây Ninh và huyện Gò Dầu Chương trình được triển khai với mục đích:

1/ Giảm sử dụng các CDTP bất hợp pháp, giảm tỷ lệ tiêm chích CDTP; 2/ Giảm tác hại do nghiện các CDTP gây ra;

3/ Cải thiện sức khoẻ cá nhân và cộng đồng, giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội

Sau 2 năm điều trị, tổng số bệnh nhân hiện đang tham gia điều trị tại 03 cơ sở trên địa bàn toàn tỉnh là 350 người Sau thời gian triển khai điều trị, hiện nay tại Thành phố Tây Ninh cũng như huyện Gò Dầu chưa có các số liệu thực tế về vấn đề điều trị thay thế bằng Methadone Việc thu thập số liệu và công bố những bằng chứng thực tiễn về kết quả điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone là cần thiết, vì vậy chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài này

Trang 29

hương 2: Ố TƯỢN V PHƯƠN PH P N H ÊN ỨU

2.1 ối tượng nghiên cứu

ịnh lượng: Những bệnh nhân đang được điều trị nghiện các chất dạng

thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại cơ sở Methadone tỉnh Tây Ninh

ịnh tính: Cán bộ đang công tác tại cơ sở điều trị MMT tại Phường 4,

Thành phố Tây Ninh và Xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu

Tiêu chuẩn lựa chọn

ịnh lượng

- Là những bệnh nhân đang điều trị tại cơ sở Methadone tại Phường 4, Thành phố

Tây Ninh và Xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu có đầy đủ hồ sơ bệnh án

- Bệnh nhân có thời gian điều trị từ 3 tháng trở lên

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

ịnh tính

- Là cán bộ lãnh đạo của cơ cở điều trị MMT (Trưởng hoặc phó cơ sở điều trị)

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

ịnh lượng

Những bệnh nhân không hợp tác tham gia nghiên cứu

ịnh tính

Những cán bộ không hợp tác tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02/2017 đến tháng 8/2017

2.2.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại cơ sở điều trị Methadone của Phường 4, Thành phố Tây Ninh và cơ sở Methadone Xã Thạnh Phước, huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế cắt ngang mô tả, kết hợp định lượng và định tính

Trang 30

2.4 ỡ mẫu

ịnh lượng: Chọn mẫu toàn bộ, tổng cộng có 130 bệnh nhân theo số lượng

bệnh nhân được tiếp nhận trong quý IV năm 2016

ịnh tính: chọn 2 cán bộ công tác tại 2 cơ sở điều trị Methadone của

Phường 4, Thành phố Tây Ninh và cơ sở Methadone Xã Thạnh Phước, huyện Gò Dầu tỉnh Tây Ninh

2.5 Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu

ịnh lượng

Phương pháp chọn mẫu: mẫu được chọn theo phương pháp lấy mẫu toàn bộ

Số liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc được thiết kế sẵn (phụ lục 3), và thông tin từ bệnh án (phụ lục 2) cho bệnh nhân có thời gian điều trị ≥ 03 tháng Để lấy thông tin về kết quả điều trị Methadone ban đầu của bệnh nhân đang điều trị tại Tỉnh

ịnh tính

Phỏng vấn đối tượng dựa trên bảng kiểm (phụ lục 4) Bảng kiểm được xây dựng dựa trên các quy định của Nghị định 96/2012/NĐ - CP ngày 15/11/2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế và qui định tại điều 5 mục I Chương 2 Thông tư số 12/2013/TT - BYT Hướng dẫn thực hiện một số điều nghị định 96 cho cơ sở điều trị MMT

Đồng thời kết với với khảo sát thực địa tại cơ sở dựa theo các tiêu chí trong bảng kiểm soạn sẵn, kiểm tra các báo cáo và kế hoạch của cơ sở

Kỹ thuật thu thập số liệu:

ịnh lượng

Bước 1: Chọn đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân đang điều trị tại 02 cơ sở

Mehadone từ 3 tháng trở lên Bệnh nhân được chọn sẽ được điều tra viên giải thích

rõ về mục đích của điều tra Nếu bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký tên vào giấy xác nhận tự nguyện tham gia nghiên cứu Nơi phỏng vấn đảm bảo tính riêng tư, không bị quấy rầy trong suốt thời gian phỏng vấn, người được phỏng vấn cảm thấy thoải mái, dễ chịu

Trang 31

Bước 2: ĐTV tiến hành điều tra theo hướng dẫn và trình tự bộ câu hỏi

Trong quá trình điều tra, ĐTV hỏi chậm rãi từng câu hỏi để đối tượng hiểu câu hỏi

và trả lời chính xác

Bước 3: Kết thúc cuộc phỏng vấn, ĐTV hỏi lại đối tượng cần bổ sung hoặc

sửa đổi thông tin gì hay không Nếu không có thời giới thiệu bệnh nhân sang Phòng xét nghiệm dùng test xét nghiệm nước tiểu để xác định bệnh nhân có sử dụng heroin trong khi đang uống thuốc methadone không

ịnh tính

Thực hiện phỏng vấn dựa trên bảng kiểm đã soạn sẵn, cuộc phỏng vấn diễn

ra mặt đối mặt trực tiếp giữa cán bộ của cơ sở điều trị MMT được lựa chọn và điều tra viên

Đồng thời kết với với khảo sát thực địa tại cơ sở dựa theo các tiêu chí trong bảng kiểm soạn sẵn, thu thập các thông tin từ báo cáo và kế hoạch của cơ sở

2.6 ác biến số, chỉ số nghiên cứu

Các biến số nghiên cứu theo qui định của Chương trình điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng Methadone của Bộ Y tế (phụ lục 1)

Biến số của nghiên cứu được phân chia thành 5 nhóm chính như sau:

2.6.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (ĐTNC)

Các biến số chung về dân số xã hội: gồm các biến số về giới, tuổi, tình trạng

hôn nhân, trình độ học vấn, dân tộc, tuổi sử dụng ma túy

2.6.2 Tình trạng sức khoẻ của ĐTNC và tiền sử sử dụng ma túy của bệnh nhân

Các biến số về tình trạng sức khỏe của người NCMT: tình trạng HIV, điều trị ARV, tình trạng bệnh lao, điều trị lao, tình trạng rối loạn tâm thần, tình trạng viêm gan B và C

Các biến số tiền sử sử dụng ma túy: Tuân thủ điều trị; những khó khăn gặp phải khi tham gia điều trị; liều điều trị Methadone duy trì và thời gian điều trị

2.6.3 Kết quả ban đầu điều trị của người NCMT

Biến số về các chỉ số đánh giá kết quả điều trị: kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu, tình trạng việc làm, tần suất sử dụng ma túy, cân nặng của ĐTNC sau khi tham gia điều trị

Trang 32

2.6.4 Biến số thực trạng công tác quản lý chương trình MMT

Các chỉ số quản lý chương trình: Quản lý và chỉ đạo của nhà nước cho chương trình, cơ sở vật chất, nhân sự, trang thiết bị, kinh phí của chương trình MMT tại tỉnh Tây Ninh

2.7 Phương pháp phân tích số liệu

Phân tích số liệu: sử dụng phần mềm thống kê SPSS 16.0

Các thống kê mô tả (sử dụng tần suất và tỷ lệ % cho biến số định tính; sử dụng trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị cực tiểu và cực đại cho biến số định lượng)

Phân tích mối liên quan: Dùng kiểm định Chi-square với khoảng tin cậy 95%, với giá trị p <0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê để xác định mối liên quan giữa biến số phụ thuộc là các chỉ số đánh giá kết quả điều trị (tần suất sử dụng ma túy, cân nặng, tình trạng việc làm, kết quả xét nghiệm heroin trong nước tiểu) của người sử dụng ma túy sau khi tham gia điều trị với các yếu tố liên quan

2.8 Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Đối tượng nghiên cứu là đối tượng nhạy cảm nên tiếp cận rất khó khăn, đồng thời những đối tượng này có thể cung cấp những thông tin không chính xác

Để hạn chế loại sai số này, người phỏng vấn đã giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu,

sử dụng kỹ năng tiếp cận đối tượng phù hợp để tạo nên sự tin tưởng của đối tượng nghiên cứu Sau khi đã đạt được không khí thoải mái, tin tưởng, cuộc phỏng vấn mới bắt đầu Trong quá trình phỏng vấn, người phỏng vấn luôn lắng nghe và tỏ thái độ tôn trọng đối tượng nghiên cứu

Sai số gặp do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên: Để khắc phục sai số này, nghiên cứu viên đã chọn điều tra viên có kinh nghiệm, các điều tra viên được tập huấn đầy đủ và cho thực tập trước khi tiến hành thu thập số liệu Những phiếu điều tra ban đầu đã được nghiên cứu viên giám sát và hỗ trợ Các phiếu điều tra được kiểm tra cuối mỗi ngày khi nộp phiếu, với những phiếu thông tin thu thập chưa đầy

đủ hoặc không hợp lý được yêu cầu điều tra viên điều tra lại

Do đối tượng nghiên cứu trả lời không đúng: câu hỏi nhạy cảm, sai số nhớ lại, không nhớ rõ khi trả lời: Để khắc phục sai số này, bộ câu hỏi cần dễ hiểu ,nghiên

Trang 33

cứu viên điều tra viên có kinh nghiệm, các điều tra viên được tập huấn đầy đủ và cho thực tập trước khi tiến hành thu thập số liệu

2.9 ạo đức của nghiên cứu

Được sự đồng ý thông qua của Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng

Được sự cho phép của Sở Y tế Tây Ninh về chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone

Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

Mọi thông tin của đối tượng nghiên cứu đều được giữ bí mật, chỉ có người nghiên cứu được phép tiếp cận và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Trang 34

hương 3 KẾT QUẢ N H ÊN ỨU 3.1 ặc tính chung của người NCMT tham gia điều trị MMT

Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu kết quả điều trị methadone của 130 bệnh nhân đang điều trị duy trì bằng Methadone Một số đặc điểm về giới tính, tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, người giới thiệu đến cơ

sở MMT

Bảng 3.1 ặc điểm chung của người NCMT điều trị nghiện các chất dạng thuốc

phiện bằng Methadone (n=130)

ặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ % Giới tính

Trang 35

Đài phát thanh, truyền hình, ti vi 1 0.8

Người hỗ trợ điều trị Methadone

Phần lớn bạn bè là người đã giới thiệu bệnh nhân đến cơ sở điều trị Methadone (96,1%) Đối tượng đã hỗ trợ cho bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị chủ yếu là cha mẹ của đối tượng (76,9%) và vợ hoặc chồng (18,5%)

3.2 ặc tính về tình trạng sức khoẻ và tiền sử sử dụng ma túy của người NCMT điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone

Bảng 3.2 ác đặc tính về độ tuổi và thời gian sử dụng ma túy (n=130)

bình

Độ lệch chuẩn

Trung

vị

Giá trị lớn nhất

Giá trị nhỏ nhất Tuổi sử dụng ma túy 20,7 4,9 20 40 10 Tuổi tham gia điều trị

Methadone

28,9 6,0 28,5 61 17

Thời gian dùng thuốc 9,8 6,1 8,0 43 1 Thời gian sử dụng ma túy

trước khi tham gia điều trị 8,3 6,1 7,0 41 0

Tuổi trung bình sử dụng thuốc phiện trong nghiên cứu là 20,7 tuổi Trong

đó, nhỏ nhất là 10 tuổi và lớn nhất là 40 tuổi

Trang 36

Tuổi trung bình bắt đầu tham gia điều trị MMT của bệnh nhân là 29 tuổi Trong đó, độ tuổi nhỏ nhất là 17 tuổi và 61 tuổi là người có độ tuổi lớn nhất

Thời gian từ khi bắt đầu NCMT đến khi tham gia điều trị trung bình là 8,3 năm trong đó, thời gian lâu nhất từ khi NCMT đến khi tham gia điều trị MMT là 41 năm, và tham gia điều trị ngay (0 năm) là thời gian ngắn nhất

Thời gian sử dụng ma túy trung bình của đối tượng là 9,8 năm trong đó 1 năm là thời gian nghiện ngắn nhất là thời gian nghiện dài nhất là 43 năm (bảng 3.2)

Bảng 3.3 Thời gian sử dụng ma túy trước khi tham gia điều trị của bệnh nhân

(n=130) Thời gian sử dụng ma túy trước khi tham gia

điều trị

Đa phần trước khi tham gia điều trị MMT, bệnh nhân có thời gian sử dụng

ma túy trên 5 năm, chiếm tỷ lệ khoảng 58%

Bảng 3.4 Tình trạng sức khỏe của người NCMT trước khi tham gia điều trị

MMT (n=130)

ặc tính Tần số (n) Tỷ lệ % Tình trạng HIV

Trang 37

Tỷ lệ dương tính với HbsAg khá thấp (4,6%), khoảng 20% đối tượng không được làm xét nghiệm HbsAg Tỷ lệ dương tính với HbsAg trong những được xét nghiệm là 5,8% (104 người)

Trang 38

Khác với xét nghiệm HbsAg Tỷ lệ dương tính với HCV cao hơn gấp 2,5 lần nhóm âm tính (70,1% so với 28,2%) Tính trong số những người đã được xét nghiệm thì tỷ lệ dương tính với HCV là 71,3%

Tỷ lệ không được xét nghiệm bệnh lao trước khi tham gia điều trị cai nghiện khá cao, chiếm tỷ lệ 63% Trong những bệnh nhân được xét nghiệm lao, chỉ có 2 trường hợp (1,5%) phát hiện mắc bệnh lao Trong số những người đã được xét nghiệm thì tỷ lệ dương tính với bệnh Lao là 5,0%

Nghiên cứu không phát hiện được trường hợp có tình trạng rối loạn tâm thần

3.3 Kết quả ban đầu điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone ở người N MT đang tham gia điều trị tại tỉnh Tây Ninh, năm 2017 3.3.1 Thực trạng hoạt động chương trình điều trị MMT tại Tây Ninh

Kết quả thực trạng hoạt động của chương trình điều trị MMT tại tỉnh Tây Ninh bao gồm các phần: công tác quản lý và chỉ đạo;cơ sở vật chất; nhân lực; trang thiết bị, kinh phí

3.3.1.1 Công tác quản lý và chỉ đạo

Ủy Ban nhân dân tỉnh Tây Ninh, Sở Y tế và lãnh đạo chính quyền Thành phố Tây Ninh và huyện Gò Dầu đã ban hành các văn bản và chỉ đạo cho chương trình Methadone tại 02 địa bàn trên Cơ sở điều trị Methadone thành phố Tây Ninh được thành lập ngày 10/3/2015 theo Quyết định số 328/QĐ - SYT ngày 04/02/2015 và cơ

sở điều trị methadone huyện Gò Dầu thành lập ngày 23/11/2015 theo Quyết định số 1225/QĐ - SYT 30/7/2015 của Sở Y tế Tây Ninh [20]

Để xét chọn bệnh nhân tham gia điều trị, Sở Y tế Tây Ninh cũng đã ban hành Quyết định về việc thành lập Ban xét chọn bệnh nhân tham gia điều trị Thành phần Ban xét chọn bao gồm: Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Sở Công an thành phố, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Giám đốc Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS, Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội và một số Ban, ngành khác Nhiệm

vụ của Ban xét chọn là để tuyển chọn những bệnh nhân đăng ký đạt tiêu chuẩn tham gia vào điều trị

Sở Y tế, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Tây Ninh đã định kỳ hàng quý giám sát hoạt động chuyên môn tại 02 cơ sở điều trị Methadone Trung tâm phòng,

Trang 39

chống HIV/AIDS chịu trách nhiệm chính về việc quản lý, giám sát thường xuyên các hoạt động và chỉ tiêu chuyên môn của cơ sở

Bên cạnh đó, Sở Y tế, Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS định kỳ tổ chức họp giao ban hàng quý với sự tham dự đầy đủ của các ngành chức năng tại 02 cơ sở, qua đó, những khó khăn, trở ngại đã được chia sẻ để cùng giải quyết Việc giao ban giữa Trưởng cơ sở điều trị với các nhân viên trong CSĐT được duy trì hàng tuần

Tỉnh đã triển khai nhiều hoạt động triển khai và tạo sự đồng thuận trong cộng đồng cụ thể:

Các hoạt động truyền thông và huy động cộng đồng tạo sự đồng thuận đã được thực hiện từ tuyến thành phố đến cấp huyện và xã phường thị trấn bằng nhiều hình thức phong phú: tổ chức lễ khai trương, hội nghị vận động các ban, ngành tại địa phương tham gia bảng bá, giới thiệu chương trình và tổ chức 01 buổi tọa đàm trực tiếp trên Đài PTTH tỉnh Tây Ninh với chủ đề “Điều trị Methadone” Qua buổi tọa đàm đã giới thiệu, quảng bá và tạo sự đồng thuận cao của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh

Các ban ngành chức năng, các cơ quan đoàn thể xã hội của quận đã triển khai, phổ biến theo ngành dọc đến tận khu xóm, tổ dân phố, hộ gia đình và đến những người nghiện ma tuý ở cộng đồng

Bảng 3.5 Kế hoạch triển khai phối hợp với các ban ngành

1 Xây dựng kế hoạch triển khai

chương trình tại địa phương

Sở Y tế TTPC HIV/AIDS

2 Tuyên truyền vận động UBND huyện/thành phố

3 Hội nghị vận động chính sách UBND tỉnh - Sở Y tế

4 Hội nghị triển khai UBND tỉnh - Sở Y tế

5 Phê duyệt kế hoạch UBND tỉnh

6 Thành lập cơ sở điều trị Trung tâm PC HIV/AIDS

7 Thẩm định và cấp phép Sở Y tế

8 Triển khai điều trị Trung tâm PC HIV/AIDS

Trang 40

9 Hỗ trợ kỹ thuật Nhóm hỗ trợ kỹ thuật

10 Kiểm tra, đánh giá định kỳ Các Sở, ban, ngành

11 Sơ, tổng kết chương trình UBND tỉnh chủ trì, Sở Y tế,

các sở ban ngành liên quan

Tuy nhiên, vì chương trình chỉ mới triển khai nên số bệnh nhân tham gia chương trình chòn hạn chế, từ 03/2015 đến nay Tỉnh đã triển khai được 02 cơ sở điều trị methadone tại TP Tây Ninh và huyện Gò Dầu nhưng kết quả chỉ 11,5% người NCMT tham gia chương trình MMT trên tổng số 2594 bệnh nhân NCMT trong toàn Tỉnh Bên cạnh đó, tỷ lệ bệnh nhân bỏ trị có quyết định ra khỏi chương trình khá cao, chiếm tỷ lệ 19,3%

Ngoài ra, hạn chế của địa phương là cơ sở điều trị MMT vẫn chưa lồng ghép với điều trị ARV Phòng khám của Tỉnh chỉ động viên, tư vấn, chuyển gửi bệnh nhân đến phòng khám ngoại trú để điều trị HIV bằng thuốc ARV, hiện nay có khoảng 25% trường hợp nhiễm HIV chưa điều trị thuốc ARV

3.3.1.2 Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất của 2 cơ sở điều trị MMT tại Tỉnh Tây Ninh đảm bảo theo yêu cầu của Bộ Y tế: Có nơi tiếp đón, phòng cấp phát và bảo quản thuốc Phòng cấp phát và bảo quản thuốc phải có diện tích từ 15m2 trở lên; Bảo đảm các điều kiện về phòng cháy, chữa cháy theo quy định của pháp luật; Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ người bệnh; Các phòng của cơ sở điều trị thay thế bằng thuốc Methadone phải được xây dựng chắc chắn, đủ ánh sáng, có trần chống bụi, tường và nền nhà sử dụng các chất liệu dễ tẩy rửa làm vệ sinh, có cửa ra vào, cửa sổ chắc chắn và có khóa [19]

Cụ thể cơ cấu tổ chức của cơ sở điều trị Methadone của tỉnh Tây Ninh gồm

05 phòng: Phòng khám bệnh; Phòng cấp phát và bảo quản thuốc; Phòng tư vấn; Phòng xét nghiệm; Phòng hành chánh Các cơ sở điều trị Methadone hoạt động dưới sự quản lý của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS Tây Ninh [20]

3.3.1.3 Nhân sự

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w