BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN ĐIỀU SỰ HÀI LÕNG VỀ CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC CHUYÊN TRÁCH CÔNG TÁC AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI
Trang 1NGUYỄN ĐIỀU
SỰ HÀI LÕNG VỀ CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC CHUYÊN TRÁCH CÔNG TÁC AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ
THUỘC TỈNH TÂY NINH NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN ĐIỀU
SỰ HÀI LÕNG VỀ CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC CHUYÊN TRÁCH CÔNG TÁC AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI CÁC TRẠM Y TẾ XÃ
THUỘC TỈNH TÂY NINH NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN HỒNG SƠN
HÀ NỘI, 2017
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 5
2 Vai trò và trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP 5
2.1 Vai trò, nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm 5
2.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP 6
3 Sự hài lòng của nhân viên đối với công việc 8
3.1 Khái niệm sự hài lòng 8
3.2 Lý thuyết về sự hài lòng 9
3.3 Lợi ích từ việc làm hài lòng nhân viên 10
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc 11
3.5 Các công cụ đánh giá sự hài lòng về công việc và các yếu tố ảnh hưởng 12
4 Thực trạng quản lý an toàn thực phẩm tại Tây Ninh 14
4.1 Vị trí địa lý về tỉnh Tây Ninh 14
4.2 Dân số - Kinh tế - Văn hóa – Xã hội 14
4.3 Thực trạng về cơ cấu, tổ chức chuyên trách an toàn thực phẩm lĩnh vực y tế tuyến xã tỉnh Tây Ninh 15
5 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế 15
5.1 Nghiên cứu nước ngoài về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế 15
5.2 Nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại Việt Nam 17 6 Khung lý thuyết 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 42 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
3 Thiết kế nghiên cứu 22
4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 22
5 Thu thập số liệu 23
5.1 Xây dựng công cụ và biến số 23
5.2 Tổ chức thu thập số liệu 23
6 Các biến số nghiên cứu 25
6.1 Phương pháp xác định các biến số 25
6.2 Biến số nghiên cứu và định nghĩa biến số 25
6.3 Tiêu chuẩn đánh giá 26
6.4 Phân tích độ tin cậy 26
7 Xử lý số liệu 27
8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 27
9 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 28
9.1 Hạn chế của nghiên cứu 28
9.2 Biện pháp khắc phục 28
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30
2 Sự hài lòng của cán bộ phụ trách công tác an toàn thực phẩm tuyến xã đối với các yếu tố ảnh hưởng đến công việc 32
2.1 Sự hài lòng về mối quan hệ với lãnh đạo 32
2.2 Hài lòng về mối quan hệ với đồng nghiệp 34
2.3 Hài lòng về lương và phúc lợi 35
2.4 Hài lòng về cơ hội học tập và phát triển 38
2.5 Hài lòng về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc 39
2.6 Tổng hợp các nhân tố (yếu tố) liên quan đến sự hài lòng 40
3 Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc 42
3.1 Yếu tố duy trì 42
3.2 Yếu tố động viên 44
Trang 51 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 46
2 Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế 47
3 Mối liên quan giữa sự hài lòng chung đối với công việc của nhân viên ATTP tại TYT với các yếu tố xã hội 55
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58
CHƯƠNG 6: KIẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Phụ lục 1: Bản đồ tỉnh Tây Ninh 65
Phụ lục 2: Bảng định nghĩa biến số, phân loại biến và phương pháp thu thập 66
Phụ lục 3: Phiếu khảo sát cán bộ chuyên trách công tác ATTP 70
Phụ lục 4: HƯỚNG DẪN NỘI DUNG 78
Phục lục 5 KINH PHÍ 82
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khung lý thuyết về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ chuyên trách
quản lý công tác ATTP thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã 21
Bảng 2.1 Hệ số tin cậy của các yếu tố đo lường sự hài lòng 27
Bảng 3.1 Thông tin về đăc điểm đối tượng nghiên cứu (n=95) 30
Bảng 3.2 Sự hài lòng về mối quan hệ với lãnh đạo (N=95) 32
Bảng 3.3 Hài lòng về mối quan hệ với đồng nghiệp 34
Bảng 3.4 Hài lòng về lương và phúc lợi 35
Bảng 3.5 Hài lòng về cơ hội học tập và phát triển 38
Bảng 3.6 Hài lòng về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc 39
Bảng 3.7 Sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu với từng nhân tố 40
Trang 7OR Mối liên quan giữa các biến số (Odds Ratio)
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả sự hài lòng của đội ngũ chuyên trách quản lý công tác an toàn thực phẩm (ATTP) thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã tại tỉnh Tây Ninh năm 2017 và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của đội ngũ chuyên trách quản lý ATTP thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã tại tỉnh Tây Ninh năm 2017; từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng nguồn nhân lực ATTP thuộc lĩnh vực y tế của tỉnh Tây Ninh nói chung, đặc biệt là tuyến xã nói riêng
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, bằng công cụ là Phiếu khảo sát sự hài lòng được triển khai từ tháng 04/2017 đến tháng 09/2017 Đối tượng nghiên cứu là 95 nhân viên y tế làm công tác quản lý
an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã và đại diện Ban Giám đốc Sở Y tế, đại diện Ban lãnh đạo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm, đại diện Ban Giám đốc Trung tâm Y tế tuyến huyện
Kết quả cho thấy trong các đối tượng nghiên cứu có Nữ nhân viên hài lòng với công việc là 37,89%; nhóm tuổi trên 30 có tỷ lệ hài lòng với công việc chiếm 38,95% Chỉ có 5,26% nhân viên ATTP có thu nhập trung bình/tháng trên 5 triệu hài lòng với công việc, nhưng có đến 34,74% nhân viên ATTP có thu nhập trung bình/tháng dưới 5 triệu hài lòng với công việc Hầu hết các đối tượng nghiên cứu có thâm niên dưới 15 năm công tác (35,79%) 26,32% nhân viên phải kiệm nhiệm thêm các công việc khác hài lòng với công việc
Kết quả sự hài lòng của cán bộ phụ trách công tác an toàn thực phẩm tuyến
xã đối với các yếu tố ảnh hưởng đến công việc Trong các yếu tố sự hài lòng về mối quan hệ với lãnh đạo, yếu tố khuyến khích của lãnh đạo có điểm trung bình 4,17 là cao nhất Nhìn chung các yếu tố còn lại có điểm trung bình lớn hơn 4, đều này cho thấy sự hài lòng về mối quan hệ lãnh đạo khá cao Yếu tố có sự hài lòng cao nhất là
“Cách hướng dẫn nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền lợi” chiếm 85,26% Yếu tố có sự hài lòng cao nhất là “sự giúp đỡ của lãnh đạo” chiếm 80,05%
Đối với sự hài lòng về mối quan hệ với đồng nghiệp, yếu tố “sự hài lòng trong phân công nhiệm vụ” giữa đồng nghiệp với nhau có điểm trung bình thấp nhất
là 3,99 (<4) Yếu tố có sự hài lòng cao nhất là “sự giúp đỡ của đồng nghiệp khi có
Trang 10khó khăn” chiếm 90,53% Hài lòng về lương và phúc lợi có yếu tố có tỉ lệ hài lòng, điểm trung bình cao nhất (4,07) là “chế độ nghỉ phép thường niên” chiếm 78,95% Kết quả hài lòng về cơ hội học tập và phát triển có hai yếu tố có điểm trung bình dưới mức hài lòng là yếu tố “định hướng công việc” và “quy hoạch cán bộ” có điểm trung bình 3,93; Hài lòng về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc thì nhân tố cơ sở vật chất, điều kiện làm việc gồm 4/5 yếu tố hợp thành, có điểm số trung bình <4 Theo
đó, thấp nhất là yếu tố “trang thiết bị” có điểm trung bình 3,78 ± 1,02
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp bằng chứng cho các nhà lãnh đạo tỉnh Tây Ninh có sự đầu tư và quan tâm hợp lý hơn đối với đội ngũ chuyên trách ATTP thuộc lĩnh vực ngành y tế tỉnh Tây Ninh trong đó có đội ngũ chuyên trách ATTP tuyến xã với mục tiêu cuối cùng ổn định, duy trì và phát triển nguồn nhân lực ATTP ngành y tế được tốt nhất
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) giữ vị trí quan trọng trong sự nghiệp bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, duy trì
và phát triển nòi giống, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước Trong thời gian qua, vấn đề bảo đảm ATTP đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và đã đạt được một số kết quả nhất định Nhận thức của nhà quản lý, người sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng về ATTP bước đầu đã có chuyển biến Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác ATTP đã được xây dựng và từng bước được hoàn thiện Bộ máy tổ chức cơ quan quản lý nhà nước về ATTP từ Trung ương đến địa phương từng bước được kiện toàn; thực hiện phân công, phân cấp và phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương bước đầu phát huy hiệu quả; công tác quản lý và bảo đảm ATTP có tiến bộ rõ nét ở một số mặt
Tuy nhiên, công tác bảo đảm ATTP đang gặp nhiều thách thức như: ô nhiễm thực phẩm, tồn dư hóa chất độc hại trong nông sản thực phẩm vẫn còn tồn tại; thực phẩm không rõ nguồn gốc, nhập lậu, kém chất lượng vẫn lưu thông trên thị trường; ngộ độc thực phẩm tại khu công nghiệp, khu chế xuất, tại các bữa ăn đông người và
do độc tố tự nhiên vẫn diễn biến phức tạp đang gây bức xúc dư luận xã hội Nguyên nhân chính là do việc chấp hành các quy định pháp luật về sản xuất, kinh doanh thực phẩm chưa nghiêm, việc kiểm soát chất lượng, an toàn thực phẩm chưa có hiệu quả, chưa kiểm soát được các cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm nhỏ lẻ, thủ công; đặc biệt là năng lực của một số bộ phận trong hệ thống quản lý an toàn thực phẩm còn hạn chế; đội ngũ cán bộ chuyên trách về quản lý công tác ATTP còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là tại tuyến cơ sở [1]
Trong những năm qua, tỉnh Tây Ninh đã có nhiều chính sách đối với đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác ATTP từ tỉnh đến cơ sở, nhằm nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho đội ngũ này Tuy nhiên, do đặc thù nghề nghiệp, thu nhập thấp, môi trường và vị trí việc làm không thuận lợi nên có lúc, có nơi cán bộ, công chức, viên chức chuyên trách về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh nói chung đặc biệt là tuyến xã chưa thật sự hài lòng, chưa tận tâm và an tâm đối với công
Trang 12việc, không thu hút được đội ngũ trẻ có tay nghề cao để phục vụ lĩnh vực công tác này
Theo Quyết định số 950/QĐ-SYT ngày 17/4/2014 của Giám đốc Sở Y tế Tây Ninh về việc phân cấp quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản
lý của ngành y tế thì viên chức phụ trách công tác ATTP tuyến xã vừa đóng vài trò thường trực cho Ban Chỉ đạo An toàn vệ sinh thực phẩm cấp xã, vừa tham mưu, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại tuyến
xã, phường, thị trấn Số cửa hàng thức ăn đường phố của tỉnh được giao cho tuyến
xã quản lý là 3.455 cơ sở Chính vì vậy, việc nâng cao năng lực chuyên môn và sự hài lòng của đội ngũ chuyên trách công tác ATTP tại tuyến xã có vai trò, vị trí rất quan trọng trong việc bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm tại tuyến xã nói riêng và của toàn tỉnh nói chung
Sự hài lòng đối với công việc là sự phù hợp giữa những gì mà người lạo động mong muốn được đáp ứng từ công việc với những gì họ cảm nhận được từ công việc Sự hài lòng là cảm giác của người lao động cảm thấy thoải mái, dễ chịu đối với công việc cả về cảm xúc, suy nghĩ và hành động Sự hài lòng của người lao động đối với công việc đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho người lao động, giúp tăng năng suất lao động và hiệu quả công việc Qua đó phản ánh lên hiện nay, nhìn chung độ hài lòng đối với công việc của đội ngũ viên chức y
tế không cao nhất là tại khu vực y tế cơ sở xã, phường Chính vì vậy, việc quan tâm đến tâm lý, tình cảm, nguyện vọng của mỗi cá nhân và bảo đảm các chế độ chính sách đãi ngộ thích hợp, tạo môi trường làm việc thân thiện…có vai trò rất quan trọng, trong việc nâng cao sự hài lòng đối vơi công việc của người lao động, giúp người lao động tận tâm và tâm huyết nghề nghiệp góp phần đáng kể đến việc hoàn thành công việc của mỗi người
Tại Tây Ninh, từ trước đến nay chưa có một nghiên cứu nào đánh giá sự hài lòng của đội ngũ cán bộ y tế nói chung cũng như đội ngũ cán bộ chuyên trách lĩnh vực an toàn thực phẩm nói riêng, trong đó có đội ngũ chuyên trách công tác ATTP
tại tuyến xã Chính vì vậy, việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Sự hài lòng về công việc của viên chức chuyên trách công tác an toàn thực phẩm và một số yếu tố ảnh
Trang 13hưởng tại các Trạm Y tế xã thuộc tỉnh Tây Ninh năm 2017” là cần thiết để cung cấp
bằng chứng, đƣa ra các giải pháp giúp cho các nhà lãnh đạo, quản lý tỉnh Tây Ninh có các chế độ, chính sách và quan tâm hợp lý hơn đối với đội ngũ chuyên trách ATTP thuộc lĩnh vực y tế tại tuyến xã thuộc tỉnh Tây Ninh, với mục tiêu cuối cùng ổn định, duy trì và phát triển nguồn nhân lực ATTP trong lĩnh vực y tế, góp phần thực hiện tốt nhất nhiệm vụ bảo đảm an toàn thực phẩm tại tuyến xã nói riêng và trong toàn tỉnh Tây Ninh nói chung
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả sự hài lòng của đội ngũ viên chức chuyên trách quản lý công tác an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã tại tỉnh Tây Ninh năm 2017
2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của đội ngũ viên chức chuyên trách quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực y tế tuyến xã tại tỉnh Tây Ninh năm 2017
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu
- Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm [25]
- Thức ăn đường phố là thực phẩm được chế biến dùng để ăn, uống ngay, trong thực tế được thực hiện thông qua hình thức bán rong, bày bán trên đường phố, nơi công cộng hoặc những nơi tương tự [25]
- Cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống là cơ sở chế biến thức ăn bao gồm cửa hàng, quầy hàng kinh doanh thức ăn ngay, thực phẩm chín, nhà hàng ăn uống, cơ sở chế biến suất ăn sẵn, căng-tin và bếp ăn tập thể
- An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người [25]
- Nhân lực y tế: là các cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản
lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn) [8]
- Viên chức: Theo Luật Viên chức ngày 15/11/2010, viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [26]
2 Vai trò và trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP 2.1 Vai trò, nguyên tắc quản lý an toàn thực phẩm
Bảo đảm an toàn thực phẩm (ATTP) giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh, nâng cao chất lượng cuộc sống, duy trì và phát triển nòi giống An toàn thực phẩm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp thường xuyên tới sức khỏe của mỗi con người
mà còn ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng hiệu quả phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước Chính vì vậy, bảo đảm ATTP là trách nhiệm của mọi tổ chức, cá
Trang 16nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm, của mỗi người dân và của toàn xã hội Quản
lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với ATTP để đề ra và thực hiện các giải pháp bảo đảm ATTP
Trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải chịu trách nhiệm về an toàn đối với thực phẩm do mình sản xuất, kinh doanh, phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật, các điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tương ứng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành
2.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP
Do vai, trò vị trí quan trọng của việc bảo đảm ATTP, nên Luật An toàn thực phẩm đã quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ATTP và giao cho
Bộ Y tế chiu tra ch nhiêm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về ATTP, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về ATTP và Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về ATTP trong phạm vi địa phương [25]
Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ về ATTP có nhiệm vụ: (1) Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc quy định về chỉ tiêu và mức giới hạn an toàn đối với tất cả các sản phẩm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm; (2) Xây dựng các quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh thực phẩm; (3) Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; (4) Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với một số sản phẩm gồm:thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, phụ gia thực phẩm, vi chất dinh dưỡng, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng
cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm theo quy định của pháp luật; (5) Chủ trì tổ chức thực hiện việc giám sát, đánh giá nguy cơ, phòng ngừa, điều tra và phối hợp ngăn chặn ngộ độc thực phẩm, khắc phục sự cố về an
Trang 17toàn thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ; (6) Tổng hợp, thống kê, báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm trên cơ sở giám sát và tổng hợp báo cáo của các bộ quản lý ngành, địa phương
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa phương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố cso nhiệm vụ: Ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương và tổ chức, thực hiện các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành về an toàn thực phẩm tại địa phương Trong đó, Sở Y tế tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn với các nhiệm vụ: (1) là đầu mối tổ chức kiểm tra tình hình an toàn thực phẩm, giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn; (2) quản lý điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý; (3) là đầu mối tổng hợp, báo cáo tình hình an toàn thực phẩm tại địa phương
Ủy ban nhân dân xã, phường chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp huyện về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa bàn với nhiệm vụ: (1) tổ chức, điều hành Ban Chỉ đạo liên ngành về Vệ sinh an toàn thực phẩm xã, phường; (2) thực hiện các quy định của Chính phủ, các Bộ, Ngành và Ủy ban nhân dân cấp trên về an toàn thực phẩm; (3) chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp huyện về quản lý các hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn xã, phường theo phân cấp Trạm Y tế xã là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tế cấp huyện được thành lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, có chức năng cung cấp, thực hiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân trên địa bàn xã, phường, thị trấn đó
Theo quy định tại Thông tư số 33/2015/TT-BYT ngày 27/10/2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã, phường, thị trấn, thì Trạm Y tế xã, phường, thị trấn có nhiệm vụ: (1) Thực hiện các hoạt động chuyên
Trang 18môn, kỹ thuật về: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, kết hợp, ứng dụng y học
cổ truyền trong chữa bệnh và phòng bệnh; chăm sóc sức khỏe sinh sản; cung ứng thuốc thiết yếu; quản lý sức khỏe cộng đồng; truyền thông giáo dục sức khỏe theo hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên và quy định của pháp luật; (2) Hướng dẫn
về chuyên môn và hoạt động đối với đội ngũ NVYT thôn, bản; (3) Phối hợp với các
cơ quan liên quan thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn; (4) Tham gia kiểm tra các hoạt động hành nghề y, dược tư nhân và các dịch vụ có nguy
cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhân dân trên địa bàn; (5) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo theo quy định của pháp luật
Trong lĩnh vực quản lý an toàn thực phẩm, Trạm Y tế xã có nhiệm vụ tham gia kiểm tra, giám sát và triển khai các hoạt động về an toàn thực phẩm trên địa bàn
xã theo quy định của pháp luật và phân cấp của Sở Y tế
Về nhân lực của Trạm Y tế xã, phường: người làm việc tại Trạm Y tế xã, phường là viên chức nằm trong tổng số viên chức của Trung tâm Y tế cấp huyện
Cơ cấu chức danh nghề nghiệp và số lượng của từng chức danh nghề nghiệp làm việc tại Trạm Y tế xã, phường xác định trên cơ sở nhu cầu thực tế, khối lượng công việc và đặc điểm, điều kiện kinh tế xã hội của đơn vị hành chính cấp xã nơi có Trạm
Y tế Viên chức làm việc tại Trạm Y tế xã, phường chịu trách nhiệm phụ trách lĩnh vực công tác theo sự phân công của Trưởng trạm để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của Trạm Y tế
3 Sự hài lòng của nhân viên đối với công việc 3.1 Khái niệm sự hài lòng
- Hài lòng công việc là một khái niệm chưa được thống nhất của các nhà nghiên cứu xuất phát từ góc nhìn khác nhau, các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau
- Từ điển Oxford Advance Learner’s Dictionary định nghĩa: "Sự hài lòng" là việc đáp ứng một nhu cầu hay mong muốn nào đó Sự hài lòng công việc có thể được hiểu là điều mà người lao động được đáp ứng nhu cầu hay mong muốn của họ khi làm việc
- Kusku (2003) cho rằng sự hài lòng công việc phản ánh nhu cầu và mong muốn cá nhân được đáp ứng và mức độ cảm nhận của các nhân viên về công việc
Trang 19của họ Định nghĩa này xuất phát từ lý thuyết thang đo nhu cầu của Maslow (1943) cho rằng người lao động hài lòng khi đáp ứng các nhu cầu từ thấp lên cao
- Một số nhà nghiên cứu khác điển hình là Smith và cộng sự (1969) cho rằng
sự hài lòng công việc là sự hài lòng với các khía cạnh công việc khác nhau [45] Mức độ hài lòng với các khía cạnh công việc ảnh hưởng đến thái độ và nhận thức của nhân viên Trong nghiên cứu của Smith và cộng sự thì sự hài lòng công việc được thể hiện qua sự hài lòng với năm nhóm nhân tố chính của công việc là (1) bản chất công việc, (2) cơ hội thăng tiến, (3) lãnh đạo, (4) đồng nghiệp và (5) tiền lương/thu nhập Việc xem xét sự hài lòng dưới nhiều khía cạnh công việc của Smith cũng được thừa nhận của nhiều nhà nghiên cứu khác như Spector (1997) [46]; Trần Kim Dung (2005) [27]; Luddy (2005) [41]
Nhìn chung có hai xu hướng định nghĩa sự hài lòng công việc: (1) là xem xét
sự hài lòng công việc là một biến chung mang tính chất cảm xúc (tích cực và tiêu cực) của người lao động tới công việc có thể ảnh hưởng đến niềm tin, hành vi của người lao động; (2) xem xét sự hài lòng công việc dưới nhiều khía cạnh công việc khác nhau
3.2 Lý thuyết về sự hài lòng
Học thuyết của Frederick Herzberg: Học thuyết này còn được gọi là học thuyết 2 nhân tố [36] Các yếu tố tạo nên động lực làm việc và sự thỏa mãn với công việc được F Herzberg chia thành 02 nhóm:
Nhóm các yếu tố duy trì (06 yếu tố):
- Lương và các khoản thu nhập (05 tiểu mục): lương được trả tương xứng với khối lượng công việc; mức độ nâng lương và tần suất tăng lương; trả lương tương xứng với năng lực của nhân viên; cơ hội tăng lương; chế độ phụ cấp theo đặc thù công việc
- Người quản lý trực tiếp (8 tiểu mục): năng lực giải quyết công việc của người quản lý; cách đối xử của người quản lý với nhân viên; sự quan tâm của người quản lý đến nhân viên; sự quý trọng người quản lý; sự phản hồi thông tin của người quản lý cho nhân viên; sự chia sẻ và lắng nghe nhân viên của người quản lý; sự động viên kịp thời của người quản lý; sự hướng dẫn công việc của người quản lý
Trang 20- Quản trị và điều hành của tổ chức (06 tiểu mục): những nguyên tắc và thủ tục hành chính; sự ủng hộ về nỗ lực của nhân viên; sự rõ ràng về chính sách, chế độ; sự quá tải và áp lực hoàn thành công việc; sự giám sát trong công việc; sự hài lòng về chính sáchcủa tổ chức đối với nhân viên
- Quan hệ đồng nghiệp (06 tiểu mục): sự quý mến đồng nghiệp; sự tôn trọng đồng nghiệp; thích làm việc với đồng nghiệp; sự động viên, chia sẻ của đồng nghiệp; sự giúp đỡ của đồng nghiệp; việc trao đổi thông tin với đồng nghiệp
- Điều kiện làm việc (03 tiểu mục): đảm bảo điều kiện trang thiết bị chuyên môn; đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất; trang thiết bị an toàn
- Sự ổn định và an toàn của công việc (03 tiểu mục): sự ổn định của công việc;
sự thích hợp của công việc; sự thuận lợi của công việc
Nhóm các yếu tố động viên (05 yếu tố):
- Chế độ chính sách của tổ chức (05 tiểu mục): chế độ an bồi dưỡng, chính sách của tổ chức khi nhân viên gặp rủi ro, chế độ công tác phí
- Bản chất công việc (05 tiểu mục): ý nghĩa của công việc; sự yêu thích làm công việc của mình; sự tự hào về công việc của mình; sự thú vị của công việc; sự chịu trách nhiệm với công việc
- Phát triển chuyên môn/nghề nghiệp (05 tiểu mục): sự tiến bộ và thăng cấp; đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn; nâng cao kỹ năng, kinh nghiệm nghề nghiệp; môi trường học tập; định hướng công việc
- Sự thành đạt (05 tiểu mục): đánh giá của xã hội; đánh giá của lãnh đạo; đánh giá của đồng nghiệp; đánh giá của gia đình; đánh giá của người bệnh
- Sự ghi nhận thành tích (05 tiểu mục): sự ghi nhận kết quả công việc; sự đánh giá đúng của lãnh đạo về công việc; sự thừa nhận về đóng góp ý kiến; sự ghi nhận của đồng nghiệp; hài lòng về phương thức bình xét thi đua
3.3 Lợi ích từ việc làm hài lòng nhân viên
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến sự phát triển của các tổ chức Các chuyên gia về chất lượng tại Mỹ như Deming, Juran cho rằng sự hài lòng công việc
sẽ dẫn đến tăng năng suất và hiệu suất làm việc Chuyên gia chất lượng Nhật Bản như Ishikawa (1985) luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của “yếu tố con người” để tạo
Trang 21ra môi trường làm việc chất lượng cao Ishikawa cho rằng kiểm soát chất lượng hiệu quả phải dựa trên quản lý con người và sự hài lòng công việc có ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của người lao động Nhìn chung các nghiên cứu cho thấy việc làm hài lòng trong công việc sẽ làm cho người lao động trung thành hơn, ít xin nghỉ việc hơn, giảm tình trạng đình công [27]
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên được mô tả theo chỉ số mô tả công việc (JDI: Job Description Index) Các yếu tố này bao gồm: bản chất công việc, cơ hội thăng tiến, lãnh đạo, đồng nghiệp và tiền lương/thu nhập
- Bản chất công việc: Sự phù hợp của công việc với người lao động được thể hiện qua nhiều khía cạnh thuộc về bản chất công việc như: công việc có phù hợp với năng lực và chuyên môn của người lao động hay không, người lao động có hiểu
rõ ràng về công việc mình thực hiện hay không, công việc có đem lại sự thỏa mãn
và tạo những động lực cống hiến, sáng tạo của người lao động hay không, công việc
có đem lại những thử thách và phát huy được các năng lực của cá nhân người lao động hay không Nhiều nghiên cứu bằng thực nghiệm cho thấy nhân tố công việc có ảnh hưởng đến sự hài lòng đối với công việc của người lao động
- Cơ hội đào tạo và thăng tiến: Cơ hội được đào tạo và thăng tiến có liên hệ chặt chẽ với sự hài lòng công việc của người lao động Tại Việt Nam các nghiên cứu của Trần Kim Dung (2005), Châu Văn Toàn (2009) trong những người lao động làm việc văn phòng tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy cơ hội thăng tiến có ảnh hưởng tích cực đến sự hài lòng công việc Các khía cạnh của yếu tố cơ hội được đào tạo và thăng tiến được xem xét có ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc của nhân viên bao gồm: được đào tạo về chuyên môn, có cơ hội phát triển cá nhân, có
cơ hội cho những người có khả năng, tính công bằng của chính sách phát triển nhân
sự, tạo cơ hội nâng cao các kỹ năng chuyên môn của người lao động [5],[27]
- Tiền lương và thu nhập: Một số nhà nghiên cứu như Oshagbemi (2000) cho rằng: Yếu tố thu nhập là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên đối với công việc Trong điều kiện tại các quốc gia đang phát triển như Việt
Trang 22Nam, tiền lương và thu nhập vẫn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc [12], [16]
- Lãnh đạo: Lãnh đạo được hiểu là người cấp trên trực tiếp của nhân viên Lãnh đạo đem đến sự hài lòng cho người lao động thông qua việc tạo ra sự đối xử công bằng, thể hiện sự quan tâm đến cấp dưới thông qua năng lực, tầm nhìn và khả năng điều hành cũng như việc hỗ trợ nhân viên trong công việc của lãnh đạo (Robins et al, 2002) Nhiều nghiên cứu bằng thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa nhân tố lãnh đạo và sự hài lòng công việc [16], [28]
- Đồng nghiệp là những người có cùng một vị trí với nhau, có nội dung công việc tương tự nhau hoặc trên một chuỗi nghiệp vụ có liên quan đến nhau trong tổ chức Phần lớn thời gian làm việc, những người lao động tiếp xúc với nhau Vì vậy mối quan hệ giữa các đồng nghiệp với nhau cũng ảnh hưởng đến sự thỏa mãn chung trong công việc Các yếu tố chính về sự thỏa mãn của đồng nghiệp là sự tin cậy, tận tâm trong công việc, giúp đỡ nhau trong công việc, sự thân thiện [27]
3.5 Các công cụ đánh giá sự hài lòng về công việc và các yếu tố ảnh hưởng
Một trong những phương pháp đầu tiên dùng để đo lường sự hài lòng với công việc do Kunin (1955) phát triển, được gọi là Thang trạng thái nét mặt (Faces Scale) Mặc dù dễ dùng, song thang này không còn được sử dụng thường xuyên một phần là do thang không đủ chi tiết, thiếu giá trị đo lường khái niệm (construct validity) và vì một số nhân viên tin rằng thang này quá đơn giản nên không có giá trị
Thang đo Chỉ số mô tả công việc (Job Descriptive Index - JDI): được Smith, Kendall và Hulin phát triển, bao gồm một loạt tính từ và phát biểu do nhân viên đánh giá Nhân viên sẽ chấm điểm các tính từ và phát biểu này Thang đo tính điểm trên năm phương diện của sự hài lòng với công việc: Quản lý/giám sát, tiền lương,
cơ hội thăng tiến, đồng nghiệp và bản thân công việc
Một thước đo tương tự để đo lường sự hài lòng với công việc là Bảng câu hỏi
về sự hài lòng Minnesota (Minnesota Satisfaction Questionnaire MSQ), do Weiss, Dawis, England và Lofquist (1967) phát triển; gồm 100 câu hỏi tính điểm trên 20
Trang 23thang đo Thực tế là, JDI tính điểm trên 5 thang đo và MSQ tính điểm trên 20 thang làm nổi bật một vấn đề: Không dễ để đo lường sự hài lòng với công việc
Thang đo Likert là thang đo được sử dụng một cách phổ biến nhất trong nghiên cứu định lượng Thang đo Likert được phát triển và giới thiệu bởi Rennis Likert vào năm 1932 Dạng thang đo Likert đánh giá sự hài lòng của mối con người với một yếu tố nào đó theo 5 cấp độ: (1) Hoàn toàn không đồng ý; (2) Không đồng ý; (3) Không có ý kiến; (4) Đồng ý; (5) Hoàn toàn đồng ý Thang đo này được gọi
là thang đo Likert 5 mức độ hay đọc nhanh là Likert 5 Ngoài ra người ta cũng có thể dùng các thang đo Likert 3 và Likert 7 mức độ Bên cạnh đó ta có thể thay thế từ
“đồng ý” bằng các từ như “chấp nhận”, “có thiện ý”, “tuyệt vời” Mức độ thì vẫn được chia nhỏ như nhau tùy theo thang đó Likert là 5 hay 3 hoặc 7 mức độ
Tại Việt Nam, năm 2016, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 6859/QĐ-BYT về việc ban hành nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện Việt Nam năm
2016, trong đó có mẫu Phiếu số 3 - Đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế năm
2016 [12] Bộ công cụ này là bảng câu hỏi về sự hài lòng gồm có 44 tiểu mục cấu trúc thành 5 yếu tố, tính điểm trên 5 thang đo từ 1 (Rất không hài lòng) đến 5 (Rất hài lòng)
Trong nghiên cứu “Sự hài lòng đối với công việc của NVYT tuyến cơ sở”,
được thực hiện bởi Lê Thanh Nhuận và Lê Cự Linh, tại tỉnh Vĩnh Phúc Tác giả đã
sử dụng bộ công cụ gồm 40 mục thuộc 7 yếu tố công việc để đo lường sự hài lòng đối với từng yếu tố công việc của NVYT cơ sở với độ tin cậy cao Ngoài ra, bộ công cụ sử dụng một câu hỏi về mức độ “Hài lòng chung đối với công việc” để tìm hiểu mối liên quan giữa sự hài lòng chung đối với công việc của NVYT và các biến
xã hội: nhân khẩu, nghề nghiệp và các yếu tố về sự hài lòng đối với công việc [17]
Nghiên cứu “Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện tỉnh thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016” của Trần Văn Bình được tiến hành tại tất cả các bệnh viện
trong tỉnh Kon Tum, bao gồm 4 bệnh viện tuyến tỉnh và 7 Trung tâm Y tế huyện có giường bệnh (Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Đăk Tô, Đăk Hà, Sa Thầy, Kon Rẫy và Kon Plong) Nghiên cứu đã sử dụng bộ công cụ bằng Phiếu khảo sát do Bộ Y tế ban hành và có bổ sung thêm lựa chọn trong trường hợp NVYT không có ý kiến để đo
Trang 24lường sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc của họ trong các bệnh viện [32] Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát ý kiến tất cả NVYT tại các đơn vị nêu trên
và kết quả có 1.320 người tham gia, tỷ lệ 85% [32]
4 Thực trạng quản lý an toàn thực phẩm tại Tây Ninh 4.1 Vị trí địa lý về tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam, nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, Vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Tỉnh có thành phố Tây Ninh nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng
100 km theo đường Quốc lộ 22, cách biên giới Campuchia 40 km về phía Tây Bắc
Tỉnh Tây Ninh có địa hình tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi cho phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng Tây Ninh có tiềm năng dồi dào về đất, trên 96% quỹ đất thuận lợi cho phát triển cây trồng các loại, từ cây trồng nước đến cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây ăn quả các loại
4.2 Dân số - Kinh tế - Văn hóa – Xã hội
Tỉnh Tây Ninh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và
8 huyện Trong đó có 8 thị trấn, 7 phường và 80 xã, tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Tây Ninh đạt gần 1.100.000 người, mật độ dân số đạt 268 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 169.100 người, dân số sống tại nông thôn đạt 911.600 người Dân số nam đạt 535.500 người, nữ đạt 545.200 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,9 %
Về kinh tế, tỉnh Tây Ninh được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu
về quốc tế quan trọng giữa Việt Nam với Campuchia, Thái Lan… Đồng thời tỉnh có
vị trí quan trọng trong mối giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Tây Ninh ngày càng phát triển vững chắc đồng thời đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ
mì, các nhà máy chế biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh
Trang 254.3 Thực trạng về cơ cấu, tổ chức chuyên trách an toàn thực phẩm lĩnh vực y tế tuyến xã tỉnh Tây Ninh
-Thực trạng tình hình sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý của tuyến xã trên địa bàn tỉnh: Số cửa hàng thức ăn đường phố được giao cho tuyến
xã quản lý là 3.455 cơ sở
- Tại 95 xã, phường, thị trấn trong tỉnh đều có Trạm Y tế xã Trạm Y tế là đơn vị chuyên môn y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Biên chế của các Trạm Y tế từ 5-7 viên chức, trong đó có 01 viên chức được Giám đốc Trung tâm Y tế huyện/thành phố quyết định phân công đảm trách trực tiếp công tác đảm bảo ATTP (theo quy định của Thông tư số 33/2015/TT-BYT ngày 27/10/2015 của Bộ Y tế về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của Trạm Y tế xã, phường, thị trấn), trung bình mỗi Trạm Y tế xã bố trí 01 viên chức Như vậy, có thể thấy được lực lượng viên chức làm công tác ATTP tuyến xã tại Tây Ninh còn rất ít
- Theo báo cáo tổng kết công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh Tây Ninh năm 2015, tỷ lệ người quản lý nói chung có kiến thức đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm là 84,27%; tỷ lệ người quản lý tuyến xã nói riêng có kiến thức đúng
về vệ sinh an toàn thực phẩm là 79.21% Mục tiêu được đề ra trong cả nước là 80% người quản lý, lãnh đạo có kiến thức đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm Như vậy, mặc dù tỷ lệ này tính chung của toàn tỉnh đã đạt được mục tiêu đề ra nhưng đối với tuyến xã thì chưa đạt mục tiêu, do nhân lực đội ngũ chuyên trách ATTP còn hạn chế
5 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài và Việt Nam về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế
5.1 Nghiên cứu nước ngoài về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y
tế
Nghiên cứu định tính của Jun A L và cộng sự năm 2010 tại vùng nông thôn nghèo của Trung Quốc về sự hài lòng trong công việc và các hình thức hài lòng trong công việc của NVYT trong Trạm Y tế thị trấn Nghiên cứu này đã phỏng vấn
172 NVYT của tất cả các Trạm Y tế thị trấn của 2 tỉnh Anhui và Xinjiang, Trung Quốc Đối tượng phỏng vấn là bác sỹ, kỹ thuật viên y tế, NVYT cộng đồng Thang
Trang 26điểm định tính về việc hài lòng trong công việc là từ 0 – 100 điểm được lấy làm thước đo sự hài lòng trong công việc của NVYT Kết quả là NVYT tại các Trạm Y
tế của vùng nông thôn nghèo của Trung Quốc có số điểm trung bình hài lòng với công việc là 83,3 điểm NVYT hài lòng về công việc của mình vì họ cho rằng công việc đó có ý nghĩa và có sự hợp tác của đồng nghiệp trong công việc Điều khiến họ
ít hài lòng trong công việc là điều kiện làm việc, thưởng và cơ hội thăng tiến trong công việc [39]
Nghiên cứu của Persefoni L và cộng sự năm 2010 tại Bệnh viện Đa khoa cộng đồng trên đảo Địa Trung Hải (Cyprus) về động lực và sự hài lòng giữa bác sỹ
và nhân viên điều dưỡng Đối tượng nghiên cứu bao gồm 67 bác sỹ và nha sỹ, 219 điều dưỡng Nghiên cứu xem xét động lực và sự hài lòng trong công việc của bác
sỹ, nha sỹ và điều dưỡng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm mối liên quan giữa sự hài lòng trong công việc với các biến dân số, xã hội, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cho thấy động lực trong công việc đối với NVYT là đặc tính nghề nghiệp (bác sỹ hay là y sỹ), thù lao, đồng nghiệp, thành tích Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thù lao trong công việc với giới tính của NVYT Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự hài lòng trong công việc và khu vực làm việc của NVYT Vì bác sỹ làm việc tại khu vực cấp cứu và ngoại trú của bệnh viện thì có thu nhập cao hơn các khu vực còn lại của bệnh viện Đối với NVYT thì bác
sỹ có sự hài lòng trong công việc thấp hơn điều dưỡng Điều này được lý giải do bác sỹ chịu nhiều áp lực trong công việc hơn điều dưỡng [43]
Theo một nghiên cứu của Cemil K năm 2012 về tác động của sự hài lòng trong công việc của NVYT lên hiệu quả hoạt động của cơ quan Nghiên cứu này được tiến hành tại một bệnh viện của Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011 Với sự tham gia của
249 NVYT trong bệnh viện Kết quả nghiên cứu chỉ ra 4 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc của NVYT là thái độ của người quản lý, lương/thưởng, đồng nghiệp và sự đảm bảo trong công việc [34]
Trang 27Nam
5.2 Nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của cán bộ y tế tại Việt
Theo nghiên cứu của Trần Anh Dũng và cộng sự về sự hài lòng với công việc của cán bộ y tế dự phòng Miền bắc Việt Nam Đây là một nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng được tiến hành ở 13 tỉnh Miền bắc Việt Nam với đối tượng nghiên cứu là NVYT dự phòng ở cấp tỉnh và huyện Mức độ hài lòng của NVYT dự phòng có thang điểm 0-6 điểm Điểm trung bình về mức độ hài lòng của NVYT đạt 3,81-4,81 điểm Trong đó, sự hài lòng về tiền lương
và phúc lợi xã hội là thấp nhất [47]
NVYT dự phòng không hài lòng về tiền lương của mình Vì thu nhập của họ chỉ từ lương và phụ cấp y tế Trong khi đó, những đồng nghiệp làm trong hệ điều trị thì ngoài lương và phụ cấp y tế thì còn có thu nhập thêm từ thu nhập tăng thêm của bệnh viện và phòng khám tư Chính điều đó làm cho thu nhập trung bình của NVYT trong bệnh viện thì cao hơn thu nhập của NVYT dự phòng
Nam và nữ có mức độ hài lòng trong công việc ngang bằng nhau trong tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến công việc
NVYT đã lập gia đình thì có mức độ hài lòng công việc thấp hơn so với NVYT còn độc thân, vì họ cho rằng, người đã lập gia đình thì cần chi nhiều tiền cho những nhu cầu của gia đình hơn so với người còn độc thân [21]
Sự hài lòng của NVYT tuyến tỉnh và huyện cũng có sự khác nhau do điều kiện làm việc, giao tiếp và quan hệ với đồng nghiệp NVYT dự phòng làm việc tuyến tỉnh thì hài lòng về điều kiện làm việc hơn NVYT tuyến huyện, vì điều kiện làm việc ở tuyến tỉnh thì hiện đại hơn và được nhà nước chi trả lương cao hơn so với tuyến huyện Ngược lại, nhân viên tuyến huyện thì hài lòng về giao tiếp và có mối quan hệ đồng nghiệp tốt hơn so với nhân viên tuyến tỉnh Điều này được cho rằng do Trung tâm Y tế tuyến huyện thì nhỏ về diện tích và số lượng nhân viên ít hơn so với Trung tâm Y tế tỉnh [21]
Nghiên cứu “Sự hài lòng đối với công việc của NVYT tuyến cơ sở”, được
thực hiện bởi Lê Thanh Nhuận và Lê Cự Linh, tại tỉnh Vĩnh Phúc Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh giá sự hài lòng đối với công việc của NVYT tuyến cơ sở
Trang 28và tìm hiểu các yếu tố liên quan Nghiên cứu được thực hiện trên 142 NVYT tuyến
cơ sở đang làm việc ở Bệnh viện Đa khoa huyện, Trung tâm Y tế Dự phòng huyện
và các Trạm Y tế xã tại một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc với bộ công cụ gồm 40 mục thuộc 7 yếu tố công việc có giá trị dự đoán sự hài lòng đối với công việc của NVYT cơ sở với độ tin cậy cao Ngoài ra, mục “Hài lòng chung đối với công việc” được sử dụng để tìm hiểu mối liên quan giữa sự hài lòng đối với công việc của NVYT và các biến xã hội: nhân khẩu, nghề nghiệp và các yếu tố về sự hài lòng đối với công việc Kết quả nghiên cứu cho thấy NVYT chưa thực sự hài lòng đối với công việc, tỷ lệ hài lòng với từng yếu tố đạt thấp: Lương và phúc lợi (32,4%); Cơ sở vật chất (39,4%); Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (50,0%); Mối quan hệ với lãnh đạo (52,1%); Học tập, phát triển và khẳng định (52,5%); Môi trường tương tác của cơ quan (53,5%); Mối quan hệ với đồng nghiệp (67,6%) Tuy nhiên, tỷ lệ NVYT hài lòng chung đối với công việc đạt tương đối cao 71,1% Điều này cho thấy NVYT tuyến cơ sở có thể “ước lượng” về sự hài lòng đối với công việc cao hơn sự hài lòng đối với từng yếu tố có thể ảnh hưởng đến với công việc Nghiên cứu đưa ra giả thuyết: NVYT phản ánh đúng cảm nhận của bản thân về sự hài lòng từng yếu tố liên quan đến công việc với kỳ vọng các tồn tại được cải thiện nhằm đạt được mục tiêu của cơ quan/đơn vị trong khi đó đánh giá chung về sự hài lòng đối với công việc là một cảm nhận có sự tương tác của sự hài lòng đối với các yếu tố của công việc, đặc điểm cá nhân và gia đình, bối cảnh văn hóa, kinh tế - xã hội mà họ đang sống theo xu hướng tích cực [17]
Nghiên cứu của Phạm Trí Dũng, Phùng Thanh Hùng và Phạm Quỳnh Anh bàn luận về phương pháp nghiên cứu và một số kết quả của các luận văn thạc sỹ tại trường Đại học Y tế Công cộng về sự hài lòng với công việc của NVYT trong bệnh viện [23] Đối tượng nghiên cứu là 09 luận văn thạc sỹ Trường Đại học Y tế công cộng về sự hài lòng đối với công việc của NVYT trong các bệnh viện từ 2008 – 6/2013 Qua nghiên cứu, các tác giả đã chỉ ra có 05 yếu tố thường được khảo sát về
sự hài lòng của NVYT: Hài lòng về lương và các khoản thu nhập; hài lòng về điều kiện làm việc; hài lòng về sự ghi nhận; hài lòng về yếu tố phát triển chuyên môn;
Trang 29hài lòng về mối quan hệ với mọi người Sau khi rà soát kết quả của các nghiên cứu, nhận thấy có 3 yếu tố có tỉ lệ hài lòng thấp bao gồm:
Lương và các khoản thu nhập: có 4/7 bệnh viện có tỷ lệ hài lòng <40%; kết quả nghiên cứu định tính của 4/5 bệnh viện đã chỉ ra yếu tố này là một trong những nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sự hài lòng với công việc của NVYT
Điều kiện làm việc: có 5/8 bệnh viện có tỷ lệ hài lòng <40%; kết quả nghiên cứu định tính của 3/6 bệnh viện cho thấy phần lớn NVYT chưa hài lòng với cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho công việc
Sự ghi nhận: có 3/7 bệnh viện có tỷ lệ hài lòng <40%; nhiều NVYT được phỏng vấn đã chia sẻ rằng họ chưa thực sự hài lòng với việc khen thưởng và sự công nhận thành tích
Nghiên cứu “Sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện và các yếu
tố liên quan, 2005” được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Trần Qụy, Hội
Điều Dưỡng Việt Nam và bệnh viện Bạch Mai thực hiện nhằm đánh giá mức độ hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện và các yếu tố liên quan trên 2.800 điều dưỡng-hộ sinh đang làm việc trong các bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện Trung ương thuộc 12 tỉnh đại diện cho ba vùng trong toàn quốc tham gia điền bộ câu hỏi [28] Sự hài lòng nghề nghiệp được đánh giá dựa vào chỉ số chất lượng công việc gồm 46 câu hỏi, được chia thành 6 nhóm: (1) Lương và thu nhập, (2) Giá trị nghề nghiệp, (3) Điều kiện lao động, (4) Mối quan hệ đồng nghiệp, (5) Quan hệ với người bệnh, (6) Sự hỗ trợ của gia đình và người thân Kết quả cho thấy chỉ có 49,1% điều dưỡng hài lòng với công việc, có 4/6 yếu tố liên quan đến công việc có điểm hài lòng trung bình thấp là: Lương và thu nhập (0,9/4 điểm); giá trị nghề nghiệp (1,5/4 điểm); quan hệ với người bệnh (1,5/4); điều kiện lao động (1,6/4 điểm) và có 2/4 yếu tố liên quan đến công việc có điểm trung bình cao: Mối quan hệ với đồng nghiệp (2,1/4 điểm), sự hỗ trợ của gia đình và người thân (2,1/4 điểm) Những yếu tố có liên quan đến sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng bệnh viện bao gồm: Nơi làm việc, nhóm tuổi >50, trình độ chuyên môn, thiếu nhân lực, thiếu phương tiện, áp lực tâm lý tại nơi làm việc, an toàn nghề nghiệp, vị thế nghề nghiệp,
cơ hội học tập, các mối quan hệ đồng nghiệp và sự hỗ trợ của gia đình [14]
Trang 30Trần Thị Châu nghiên cứu trên 987 điều dưỡng công tác tại 10 bệnh viện và
4 TTYT tại thành phố Hồ Chí Minh về sự hài lòng nghề nghiệp Kết quả cho thấy: 84,4% điều dưỡng tự hào về nghề nghiệp, 59,95% điều dưỡng lạc quan với tương lai của nghề điều dưỡng, 58,76% điều dưỡng cho rằng nghề điều dưỡng được đánh giá đúng mức, 77,41% điều dưỡng hài lòng về phương tiện chăm sóc bệnh nhân, 60,49% điều dưỡng hài lòng về cơ hội học tập và phát triển, 67,88% điều dưỡng không định hướng cho con cái theo nghề điều dưỡng Những yếu tố liên quan đến
sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng bao gồm: Áp lực tâm lý, áp lực công việc,
sự đánh giá nghề nghiệp điều dưỡng của gia đình, người thân, lương và thu nhập không tương xứng với công việc và trách nhiệm của người điều dưỡng [29]
Nghiên cứu của Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn Hữu Nghị về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng công việc của NVYT tại thành phố Cần Thơ [15] Nghiên cứu được tiến hành tại các bệnh viện công và tư tại thành phố Cần Thơ với
330 người được phỏng vấn là bác sỹ, điều dưỡng Sử dụng thang đo Likert với 5 cấp
độ để đánh giá mức độ hài lòng của đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hài lòng công việc của NVYT có điểm trung bình là 3,54 điểm và có 5 yếu
tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của NVYT là: môi trường làm việc, phương tiện làm việc, tiền lương, đồng nghiệp và cơ hội đào tạo, phát triển
6 Khung lý thuyết
Căn cứ vào lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên đối với công việc tại mục
3 (tr.5-11) và tình hình thực tế địa phương, chúng tôi xây dựng khung lý thuyết:
Trang 31HÀI LÕNG VỚI CÔNG VIỆC
Về mối quan hệ với lãnh đạo
Về mối quan hệ với đồng nghiệp
Điều kiện làm việc
Mối quan hệ đồng nghiệp
Người quản lý trực tiếp
Chính sách phúc lợi
Cơ sở vật chất
Yếu tố động viên
Sự ghi nhận thành tích
Sự phát triển chuyên môn, nghề nghiệp
(Cơ hội học tập và phát triển)
Trang 32CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
- Viên chức của Trạm Y tế xã/phường/thị trấn được phân công chuyên trách thực hiện công tác quản lý ATTP trên địa bàn xã/phường /thị trấn của 8 huyện và một thành phố trong tỉnh Tây Ninh
- Lãnh đạo quản lý của Sở Y tế, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh và Trung tâm Y tế huyện
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Đối tượng trong diện nghiên cứu, đồng ý tham gia nghiên cứu trên tinh thần tự nguyện sau khi đã được nhóm nghiên cứu thông báo cụ thể mục đích và nội dung nghiên cứu
- Tiêu chí loại trừ: Vắng mặt (đi công tác, nghỉ phép, nghỉ ốm, ) hoặc từ chối tham gia nghiên cứu
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 04/2017 đến tháng 09/2017
Địa điểm: Trạm Y tế các xã/phường/thị trấn của 8 huyện và 01 thành phố trong tỉnh Tây Ninh
3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
- Nghiên cứu định lượng: Chọn toàn bộ viên chức được phân công chuyên trách làm công tác quản lý ATTP tại tất cả 95 Trạm Y tế xã/phường/thị trấn của 8 huyện và 01 thành phố trong tỉnh Tây Ninh: tổng số 95 người (một người đại diện cho một Trạm Y tế xã/phường/thị trấn) Số phiếu thu thập được thực tế là 95/95, đạt
tỷ lệ 100%
- Nghiên cứu định tính: Chọn mẫu có chủ đích + Phỏng vấn sâu: Đại diện lãnh đạo Sở Y tế (01); Lãnh đạo Chi cục ATVSTP (01); Giám đốc Trung tâm Y tế huyện/thành phố (09);
+ Thảo luận nhóm: viên chức chuyên trách công tác ATTP tại Trạm Y tế (06)
Trang 335 Thu thập số liệu 5.1 Xây dựng công cụ và biến số
- Bộ công cụ định lượng: Căn cứ vào Phiếu khảo sát ý kiến của NVYT do Bộ
Y tế ban hành (Mẫu phiếu số 3) trong Quyết định số 6859/QĐ-BYT ban hành các nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện năm 2016 [12] Bên cạnh các biến
số về sự hài lòng của nhân viên ATTP tuyến xã được xây dựng dựa trên thuyết 2 nhân tố của F Herzberg [34] và tham khảo thêm nghiên cứu của Lê Thanh Nhuận
(2008) [17], Lê Thị Cam Phúc (2014)[18] và Ninh Trọng Thái (2016) [22] Chúng
tôi xây dựng Phiếu khảo sát cán bộ chuyên trách công tác ATTP tuyến xã để phù hợp với đối tượng nghiên cứu và tình hình thực tế địa phương
Đồng thời trong quá trình xây dựng bộ công cụ, nhóm nghiên cứu cũng đã điều chỉnh một số câu hỏi thuộc về chế độ chính sách của công tác ATTP thuộc ngành Y tế tỉnh Tây Ninh cho phù hợp với nội dung nghiên cứu, địa bàn nghiên cứu
và đối tượng nghiên cứu Xây dựng bộ công cụ định lượng phát vấn nhằm đánh giá
sự hài lòng đối với công việc của đối tượng nghiên cứu dựa trên các biến số nghiên cứu đã xác định (Phụ lục 3, tr.72)
- Bộ công cụ định tính: Một hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc, nội dung hướng dẫn thảo luận nhóm được phát triển với các nội dung liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên như: phân công công việc, động viên khuyến khích, giám sát của lãnh đạo; quan hệ đồng nghiệp; các chế độ và lương; đào tạo; cơ hội học tập và phát triển; điều kiện làm việc và các giải pháp để nâng cao sự hài lòng của nhân viên trong hoàn cảnh thực tế hiện nay (Phụ lục 4, tr80)
5.2 Tổ chức thu thập số liệu
* Thu thập số liệu định lượng Phát vấn: người tham gia nghiên cứu tự điền vào bộ phiếu điều tra
Tổ chức thu thập số liệu: Điều tra viên thông báo mục đích của nghiên cứu, phát phiếu nghiên cứu và giải thích rõ các thắc mắc của người tham gia nghiên cứu theo đúng nội dung đã thống nhất
Trang 34Nghiên cứu viên có măt tại điểm thu thập thông tin cho đến khi quá trình thu thập thông tin hoàn tất và nhắc nhở không để người tham gia nghiên cứu trao đổi thông tin
Khi người tham gia nghiên cứu nộp phiếu điều tra, điều tra viên kiểm tra xem phiếu đã được điền đầy đủ chưa Những trường hợp còn thiếu, nghiên cứu viên yêu cầu người tham gia bổ sung đầy đủ Người tham gia nghiên cứu không ghi hoăc
ký tên vào phiếu phỏng vấn Người nghiên cứu trực tiếp thu thập phiếu điều tra và các số liệu thứ cấp
* Thu thập số liệu định tính
Để tìm hiểu rõ những quan niệm về sự hài lòng trong công việc của cán bộ chuyên trách công tác ATTP tuyến xã, chúng tôi tiến hành nghiên cứu định tính sau khi đã tiến hành nghiên cứu định lượng Tiến hành cùng với việc thu thập số liệu định lượng, nghiên cứu viên chia nhóm trực tiếp phỏng vấn các đối tượng đúng theo
kế hoạch đã xây dựng, bao gồm:
Sau khi có kết quả thu thập số liêu nghiên cứu định lượng, tiến hành thảo luận nhóm 06 viên chức y tế xã phụ trách công tác ATTP đại diện 02 nhóm, nhóm viên chức hài lòng (03 người) và chưa hài lòng (03 người) để hỏi sâu thêm các lý do tại sao hài lòng và tại sao chưa hài lòng; sự quan tâm của lãnh đạo, các chế độ chính sách , từ đó mới có thể đưa ra những bàn luận và khuyến nghị phù hợp các đối tượng trên Đây là nhóm đại diện cho đối tượng trực tiếp đón nhận chính sách Thực hiện thảo luận nhóm tại phòng họp riêng
Xây dựng nội dung và kế hoạch phỏng vấn sâu và tiến hành phỏng vấn sâu sau khi phát vấn (Phụ lục 4) Nghiên cứu viên phỏng vấn trực tiếp Lãnh đạo Sở Y tế; Lãnh đạo Chi cục ATVSTP; Giám đốc Trung tâm Y tế huyện/thành phố
Nhóm nghiên cứu đều bố trí phòng riêng để nghiên cứu viên tiến hành phỏng vấn từng người Dữ liệu được thu thập bằng ghi âm và biên bản phỏng vấn
Trang 356 Các biến số nghiên cứu 6.1 Phương pháp xác định các biến số
Để xây dựng các biến số nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc, chúng tôi tìm hiểu đề tài nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến sự hài lòng đối với công việc như:
Tác giả Lê Thanh Nhuận (2008), nghiên cứu về “Thực trạng nguồn nhân lực
và sự hài lòng đối với công việc của NVYT cơ sở huyện Bình Xuyên, tỉnh Vinh Phúc”, với bộ công cụ có 40 tiểu mục cấu trúc thành 7 yếu tố có giá trị dự đoán sự
hài lòng đối với công việc của NVYT cơ sở với độ tin cậy cao bao gồm: Mối quan
hệ với lãnh đạo (8 tiểu mục); Mối quan hệ với đồng nghiệp (6 tiểu mục); Lương và phúc lợi (6 tiểu mục); Học tập, phát triển và khẳng định (7 tiểu mục); Môi trường tương tác của cơ quan (7 tiểu mục); Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (4 tiểu mục) và Cơ sở vật chất (2 tiểu mục)
Để phù hợp với địa phương và vấn đề quan tâm nghiên cứu, đề tài đã chọn lọc và thiết kế bộ câu hỏi phát vấn gồm 41 câu hỏi, trong đó 08 câu hỏi về thông tin chung và 33 câu hỏi, cấu tạo thành 05 nhân tố chính với giả định là các các yếu tố này có ảnh hưởng đến sự hài lòng của viên chức đối với công tác quản lý ATTP tại các Trạm Y tế xã/phường/thị trấn trong tỉnh (Phụ lục 3)
6.2 Biến số nghiên cứu và định nghĩa biến số
Các nhóm biến số chính của nghiên cứu bao gồm:
1 Thông tin chung về đăc
2 Hài lòng với công việc
điểm đối tượng nghiên cứu (8 biến số)
- Mối quan hệ lãnh đạo – nhân viên (8 biến số)
- Mối quan hệ với đồng nghiệp (6 biến số)
- Lương và phúc lợi (7 biến số)
- Cơ hội học tập và phát triển (5 biến số)
- Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc (4 biến số) Bảng định nghĩa biến số, phân loại biến và phương pháp thu thập xem chi tiết trong phụ lục 2
Trang 366.3 Tiêu chuẩn đánh giá
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang đo Likert Theo thang điểm Likert thì mỗi tiểu mục về sự hài lòng có 05 mức độ đánh giá (1: rất không hài lòng; 2: không hài lòng; 3: bình thường; 4: hài lòng; 5: rất hài lòng) NVYT được xác định hài lòng với từng tiểu mục khi họ chọn mức độ đánh giá >3 Vì thế thang điểm Likert sẽ được mã hóa thành 2 nhóm: Nhóm chưa hài lòng (1 - 3 điểm) và nhóm hài lòng (4 - 5 điểm) đối với từng tiểu mục Từ đó tính tỷ lệ hài lòng theo từng tiểu mục
Điểm của từng yếu tố được tính bằng tổng điểm của các tiểu mục có trong yếu tố đó Một yếu tố giả sử có n tiểu mục, như vậy điểm tối thiểu của các yếu tố đó
là 1n và tối đa là 5n chọn điểm cắt là 3n Tuy nhiên, chọn điểm cắt là 3n để đo lường sự hài lòng làm việc cho một yếu tố là chưa phù hợp, vì với thang Likert 5 mức độ thì mức 3 là “Bình thường” tương đương với không hài lòng hoặc đối tượng nghiên cứu không muốn nói thẳng vấn đề Nên nhóm nghiên cứu chọn điểm cắt là 4n để phù hợp giá trị ở 2 mức tương đương nhau số lượng đối tượng Chúng tôi sẽ chạy các biến nếu chúng có phân phối chuẩn và điểm trung bình 4n thì xem là
“hài lòng” với yếu tố đó, ngược lại nếu không phân phối chuẩn và điểm trung bình
< 4n thì xem là “không hài lòng” với yếu tố đó [24] Nhóm không hài lòng (1 - 3 điểm); nhóm trung bình (3 – 4 điểm) và nhóm hoàn toàn hài lòng (4 - 5 điểm) đối với từng tiểu mục
6.4 Phân tích độ tin cậy
Độ tin cậy của thang đo được đánh giá bằng phương pháp nhất quán nội tại qua hệ số Cronbach’s Alpha Sử dụng phép kiểm độ tin cậy nhất quán nội tại – Test for internal consistency reliability trước khi phân tích nhân tố để loại các biến không phù hợp vì các biến rác này có thể tạo ra các yếu tố nhiễu (Nguyễn Đình Thọ
và Nguyễn Thị Mai Trang, 2009) [19]
Trang 37Bảng 2.1 Hệ số tin cậy của các yếu tố đo lường sự hài lòng
Tương quan biến
- tổng
Cronbach’s Alpha
2 Sự hài lòng về mối quan hệ với đồng nghiệp 0,599 0,779
4 Sự hài lòng về cơ hội học tập và phát triển 0,625 0,771
5 Sự hài lòng về cơ sở vật chất, điều kiện làm việc 0,677 0,754
Bảng 2.1 trình bày hệ số tin cậy của các yếu tố đo lường sự hài lòng trong công việc cho thấy tất cả các yếu tố đều có hệ số Cronbach’s Alpha > 0,6 và hệ số tương quan biến – tổng > 0,3 Như vậy, độ tin cậy của các yếu tố đưa vào đánh giá trong nghiên cứu này là phù hợp và chấp nhận được
7 Xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra tính phù hợp và làm sạch trước khi tiến hành nhập liệu bằng phần mềm phần mềm Epidata và trích xuất ra số liệu để phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Thông tin định tính được gỡ băng và phân tích theo chủ đề
Nhóm nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả bao gồm tần số, tỷ lệ, trung bình,
độ lệch chuẩn (ĐLC) để trình bày các thông tin chung và sự hài lòng của viên chức chuyên trách công tác an toàn thực phẩm tuyến xã đối với công việc Kiểm định χ2
được sử dụng để xác định mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với sự hài lòng chung với công việc của đối tượng nghiên cứu Các thông tin định tính được sử dụng để phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố về mối quan hệ với lãnh đạo, đồng nghiệp, chế độ chính sách, cơ hội học tập và phát triển, môi trường làm việc, cơ sở vật chất với với sự hài lòng chung với công việc của đối tượng nghiên cứu
8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành khi đươc sự đồng ý tham gia của đối tượng, hoàn toàn không ép buộc đối tượng nghiên cứu phải tham gia
Trang 38Nghiên cứu đảm bảo tính bí mật riêng tư của đối tượng: phiếu trả lời phỏng vấn được mã hoá và toàn bộ thông tin thu được sẽ được giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu Do đó sẽ không ảnh hưởng đến thể chất, tâm lý của người tham gia phỏng vấn
Đề cương nghiên cứu này đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Trường Đại học Y tế Công cộng xem xét, thông qua
9 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 9.1 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu về sự hài lòng của viên chức làm công tác quản lý ATTP là một vấn đề nhạy cảm
✓ Kết quả trả lời có thể không phản ảnh đúng ý nghia của nghiên cứu, nhóm câu hỏi về “sự quan tâm của lãnh đạo” là những câu hỏi “nhạy cảm”, tiềm ẩn sai lệch thông tin ở những người đang có “thành kiến” hoăc người “lấy lòng” với lãnh đạo Nhóm câu hỏi về “cơ sở vật chất, điều kiện làm việc” cũng có nguy cơ sai lệch thông tin do người tham gia thiếu thông tin đánh giá tình trạng trang thiết bị, cơ sở vật chất hiện có của lĩnh vực công tác
✓ Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể găp sai số do nhu cầu của mỗi nhân viên khác nhau
✓ Sai số do nhớ lại: Nghiên cứu có một số câu hỏi đòi hỏi đối tượng nghiên cứu phải nhớ lại các nhu cầu đã có và các hoạt động đã làm
✓ Thiết kế nghiên cứu dạng mô tả cắt ngang nên kết quả nghiên cứu chỉ đánh giá được tại thời điểm nghiên cứu
9.2 Biện pháp khắc phục
Để giải quyết vấn đề này, nhóm nghiên cứu đã thảo luận và đạt được sự đồng thuận về vấn đề nghiên cứu với các cấp lãnh đạo Điều này đã được ghi rõ ràng trong “Phiếu nghiên cứu” nhằm tạo tâm lý thoải mái cho đối tượng tham gia nghiên cứu
Măt điều tra
khác, người tham gia nghiên cứu không phải ghi và ký tên vào phiếu
Trang 39Các điều tra viên giải thích rõ ràng mục đích và ý nghia độngviên sự tự nguyện tham gia
của nghiên cứu,
Các phiếu điều tra được điều tra viên kiểm tra ngay sau khi người tham gia hoàn thành việc tự điền vào phiếu phỏng để yêu cầu bổ sung những thông tin còn thiếu
Các điều tra viên được tập huấn kỹ, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá, đã tiến hành thử nghiệm bộ công cụ, rút kinh nghiệm trước khi tiến hành điều tra
Thông báo trước lịch phỏng vấn với các đối tượng nghiên cứu để các đối tượng sắp xếp thời gian, giải thích rõ mục đích của nghiên cứu, tính bảo mật của nghiên cứu, tạo không khí thoải mái, cởi mở trong quá trình thực hiện
Trang 40CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Bảng 3.1 Thông tin về đăc điểm đối tượng nghiên cứu (n=95)
Loại công việc