TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG PHẠM HỒNG KHANH KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÂN LOẠI, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ KINH DOANH DU LỊCH QUY MÔ NHỎ TẠI BÃI BIỂN THỊ TRẤN DƯƠNG Đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM HỒNG KHANH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÂN LOẠI, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ KINH DOANH DU LỊCH QUY MÔ NHỎ TẠI BÃI BIỂN THỊ TRẤN DƯƠNG
ĐÔNG HUYỆN PHÚ QUỐC NĂM 2017
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM HỒNG KHANH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÂN LOẠI, THU GOM, XỬ
LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ KINH DOANH
DU LỊCH QUY MÔ NHỎ TẠI BÃI BIỂN THỊ TRẤN DƯƠNG
ĐÔNG HUYỆN PHÚ QUỐC NĂM 2017
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Phạm Ngọc Châu
Hà Nội, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ một công trình nào khác /
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Người làm luận văn
Phạm Hồng Khanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành toàn bộ chương trình khóa học thạc sỹ và luận văn tốt nghiệp, với tất cả tấm lòng tôi xin trân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, các Phòng - Khoa, bộ môn cùng sự nhiệt tình giảng dạy của quý Thầy (cô) Trường Đại Học Y Tế Công Cộng Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài
Cảm ơn Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp như chiếc cầu nối giúp chúng tôi đến với khóa học này một cách thuận tiện nhất Xin cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, quí thầy cô trong Phòng điều phối bằng cách này, cách khác đã giúp đỡ chúng tôi một cách thầm lặng nhưng rất đáng trân trọng
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc PGS.TS Phạm Ngọc Châu và Thạc
Sỹ Phùng Quang Sơn là những Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức khoa học, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc và các bạn đồng nghiệp Trung tâm Y tế Phú Quốc, UBND thị trấn Dương Đông, Ban Quản Lý Công Trình Công Cộng và các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ tại khu phố 2 và khu phố 7 thị trấn Dương Đông đã hỗ trợ và chấp thuận tham gia vào nghiên cứu Giúp tôi thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin ghi nhận sự quan tâm động viên, giúp đỡ với tấm lòng sâu sắc của gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên, chia sẻ thời gian
và công sức để tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập
Tôi xin ghi nhận tất cà những tình cảm và công lao ấy
Mặc dù đã cố gắng song đề tài không tránh khỏi những mặt còn hạn chế rất mong nhận được sự góp ý của quý Thầy (cô), đồng nghiệp và bạn đọc
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Những khái niệm về rác 4
1.1.1 Một số khái niệm chung 4
1.1.2 Phân loại rác thải 4
1.1.3 Tác hại của rác thải 5
1.1.4 Các biện pháp xử lý rác sinh hoạt 8
1.1.5 Một số quy định về xử lý rác sinh hoạt 10
1.2 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt 10
1.2.1 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải trên Thế giới 11
1.2.2 Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam 13
1.2.3 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác sinh hoạt tại Kiên Giang 16
1.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phân loại thu gom, xử lý rác 18
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của người thường xuyên thu gom rác 21
1.5 Đặc điểmkinh tế xã hội, môi trường của huyện đảo Phú Quốc 21
1.6 Đặc điểm tình hình địa bàn nghiên cứu: 23
1.7 Khung lý thuyết: 26
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu 28
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 28
2.4.1 Để đánh giá trang thiết bị của các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ và Đội VSMT thị trấn: 28
Trang 62.5 Phương pháp thu thập số liệu 29
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu 29
2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin 29
2.6 Biến số trong nghiên cứu 30
2.6.1 Các biến số tương ứng với mục tiêu 1 - Mô tả kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 30
2.6.2 Đánh giá thực hành về phân loại xử lý rác sinh hoạt của các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch qui mô nhỏ: 30
2.6.3 Chủ đề nghiên cứu định tính 31
2.7 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khống chế sai số 31
2.7.1 Hạn chế, sai số của nghiên cứu 31
2.7.2 Cách khống chế sai số 32
2.8 Phân tích và xử lý số liệu 33
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu: 33
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Kiến thức, thực hành của nhân viên, chủ cơ sở về phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 34
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu: 34
3.1.2 Đặc điểm cung cấp dịch vụ của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.3 Kiến thức về phân loại, thu gom, xử lý rác thải của nhân viên 35
3.1.4 Thực hành của chủ cơ sở về thu gom, phân loại, xử lý rác sinh hoạt 39
3.1.5 Thực trạng truyền thông, kiểm tra, giám sát và chế tài 42
3.1.6 Thực trạng nguồn lực dịch vụ vệ sinh môi trường tại Dương Đông 44
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến phân loại, thu gom, xử lý rác thải 45
3.2.1 Yếu tố ảnh hưởng thuộc về cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô nhỏ 45 3.2.2 Yếu tố ảnh hưởng thuộc về Ban quản lý CTCC thị trấn Dương Đông 47
3.2.3 Yếu tố ảnh hưởng từ phía chính quyền 49
Chương 4 BÀN LUẬN 51
4.1 Kiến thức, thực hành phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của nhân viên tại cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô nhỏ 51
Trang 74.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 51
4.1.2 Kiến thức về phân loại, thu gom, xử lý rác sinh hoạt của nhân viên tại cơ sở kinh doanh 52
4.1.3 Thực hành phân loại, thu gom xử lý rác của chủ cơ sở 54
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác phân loại, thu gom, xử lý rác 57
4.2.1 Yếu tố về cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch mức độ nhỏ 57
4.2.2 Yếu tố thuộc về cung cấp dịch vụ VSMT thị trấn Dương Đông 59
4.2.3 Yếu tố chính quyền 59
KẾT LUẬN 61
5.1 Thực trạng kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom xử lý rác sinh hoạt tại các cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ tại thị trấn Dương Đông 61
5.1.1 Thực trạng kiến thức của người trực tiếp phân loại, thu gom, xử lý rác thải 61
5.1.2 Thực hành của chủ cơ sở về trang thiết bị, phân loại, thu gom, xử lý rác thải 61
5.2 Thực trạng nhân lực, trang thiết bị trong thu gom, xử lý rác thải của Ban quản lý CTCC 61
KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1 Phỏng vấn sâu Lãnh đạo Ban quản lý công trình công cộng
Phụ lục 2 Phiếu phỏng vấn sâu chủ cơ sở kinh doanh nhỏ
Phụ lục 3 Phiếu phỏng vấn sâu lãnh đạo UBND Thị trấn Dương Đông
Phụ lục 4 Phiếu đồng ý tham gia phỏng vấn
Phụ lục 5 Biến số trong nghiên cứu:
Phụ lục 6 Bảng kiểm phát thải rác sinh hoạt của các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ
Phụ lục 7 Cách chấm điểm kiến thức thu gom, phân loại, xử lý rác của người thường xuyên quét dọn tại cơ sở
Phụ lục 8 Cách chấm điểm thực hành thu gom, phân loại, xử lý rác của chủ cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ
Trang 83R Reduction-Reuse-Recycle (Giảm thiểu-tái sử dụng-tái chế) UNEP
Vệ sinh môi trường Trang thiết bị
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG
Sơ đồ 1.1 Xử lý rác bằng phương pháp ép kiện 8
Bảng 1.1.Lượng phát sinh rác thải trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 17
Sơ đồ 1.2: Hệ thống thu gom vận chuyển rác thải Phú Quốc 23
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng được phỏng vấn: 34
Bảng 3.2 Phân bố đôi tượng theo trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu: 34
Bảng 3.4 Kiến thức của nhân viên các cơ sở biết đến tác hại của rác sinh hoạt 35
Bảng 3.5 Kiến thức của nhân viên biết về lợi ích của việc thu gom rác 36
Bảng 3.6 Kiến thức của nhân viên về sự cần thiết phải phân loại rác sinh hoạt 36
Bảng 3.7 Kiến thức của nhân viên về xử lý rác hợp vệ sinh 37
Bảng 3.8 Kiến thức của nhân viên biết về rác thải sinh hoạt 37
Bảng 3.9 Kiến thức của nhân viên về thu gom bao nhiêu lần trong ngày thì hợp vệ sinh 38
Biểu đồ 3.1 Tổng hợp kiến thức chung của nhân viên về thu gom rác 38
Bảng 3.10 Cơ sở dịch vụ có trang bị thùng rác 39
Bảng 3.11 Cơ sở có thực hiện phân loại rác ngay tại nguồn 40
Bảng 3.12 Hình thức xử lý rác tại cơ sở 40
Bảng 3.13 Cơ sở tuyên truyền cho khách bỏ rác đúng nơi quy định 41
Bảng 3.14 Môi trường xung quanh cơ sở kinh doanh 41
Biểu đồ 3.2 Thực hành chung về thu gom xử lý rác của chủ cơ sở 42
Bảng 3.15 Nguồn cung cấp thông tin vệ sinh môi trường 42
Biểu đồ 3.3 Nguồn thông tin tuyên truyền vệ sinh môi trường 43
Bảng 3.16 Thực trạng giám sát, chế tài, xử phạt về vệ sinh môi trường 43
Bảng 3.17 Nguồn nhân lực, trang thiết bị của Đội VSMT 44
Bảng 3.18 Sự bố trí vị trí thuận tiện của thùng chứa rác 44
Bảng 3.19 Thực trạng bao phủ dịch vụ thu gom rác của Đội VSMT 45
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU KIẾN THỨC THỰC HÀNH PHÂN LOẠI, THU GOM, XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT CỦA CÁC HỘ KINH DOANH DU LỊCH QUY
MÔ NHỎ TẠI BÃI BIỂN THỊ TRẤN DƯƠNG ĐÔNG
HUYỆN PHÚ QUỐC NĂM 2017
Học viên: Phạm Hồng Khanh Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Phạm Ngọc Châu
Nghiên cứu được thực hiện tại thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc, từ tháng
4 – 8 năm 2017, mục đíchmô tả thực trạng công tác phân loại, thu gom, xử lý rác sinh hoạt (RSH) của các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ tại bãi biển thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc năm 2017 và Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức quản lý RSH Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngangđịnh lượng và định tính, đối tượng nghiên cứu là hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị để quản lý RSH, người trực tiếp phân loại, thu gom, xử lý RSH tại các cơ sở kinh doanh du lịch quy mô nhỏ, nhân viên viên thu gom rác và lãnh đạo Ban quản lý công trình công cộng
Kết quả nghiên cứu cho thấy hoạt động quản lý RSH cơ bản theo Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ
Kiến thức của nhân viên biết được tác hại của RSH, có 77,9% cho là có mùi hôithối, 75,8% gây ô nhiễm môi trường, 30,3% là nguồn gây bệnh và 17,18% cho là nơi côn trùng phát triển.Có 63,2% đối tượng cho là cần thiết phải phân loại RSH, 21,6% không cần thiết và 15,2% cho rằng không biết Có 49,6% đối tượng phân loại rác ngay tại nguồn phát thải, 31,2% tại nơi xử lý rác, 6,4% nơi tập kết rác và 12,8% cho là không biết Nhân viên có kiến thức tốt về tác hại, phân loại, thu gom,
xử lý RSH là 36,8% và có 63,2% là kiến thức chưa tốt
Cơ sở có trang bị thùng rác 84,8% khôngcó thùng rác 15,2%, trong đó thùng rác hợp vệ sinh 40,6%, không hợp vệ sinh 59,4% Có phân loại rác 17,6% không phân loại rác 82,4%, không phân loại Đội thu gom rác thực hiện xử lý 98,4%, chôn
Trang 11lấp tại nhà 1,6% Hình thức thu gom rác: Có 74,5% rác được thu gom hết vào thùng, 25,5% thùng rác đầy không còn chỗ chứa
Thực hành chung về thu gom RSH của chủ các cơ sở: thực hành đạt là 21,6% chưa đạt là78,4% Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phân loại, thu gom xử lý rác thải của các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ trên địa bàn thị trấn Dương Đông như: thiếu kiến thức, thực hành về phân loại, thu gom, xử lý rác thải; các ban, ngành liên quan chưa quan tâm đúng mức, chưa có sự phối hợp trong công tác tuyên truyền, tập huấn cho các chủ cơ sở nhất là Ban quản lý công trình công cộng.Thiếu nhân lực, trang thiết bị thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải Thiếu kiểm tra, giám sát trong hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn
Trang 12tế biển, góp phần đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển và giữ vững chủ quyền quốc gia.Trong đó sự phát triển của ngành du lịch các tỉnh ven biển đã đóng góp khá quan trọng vào sự phát triển kinh tế, chiếm hơn 60% tổng thu
từ du lịch của cả nước Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp mà ngành du lịch biển mang lại là sự gia tăng khối lượng lớn rác thải từ ngành du lịch thải ra ngoài môi trường, nước thải, rác thải của khu dân cư gần các bãi tắm cũng như của nhà hàng, khách sạn chưa được thu gom, xử lý triệt để làm ảnh hưởng đến cảnh quan, môi trường tự nhiên và chất lượng nguồn nước tại các khu vực này
Chất thải sinh hoạt tồn động không được xử lý kịp thời sẽ dẫn đến nhiều hậu quả xấu đối với con người, làm ô nhiễm môi trường sống thậm chí đã gây ra những
vụ dịch trên phạm vi quy mô lớn Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc cho thấy 50% trẻ em sống gần bãi rác có chì trong máu vượt quá tiêu chuẩn cho phép (10mg/dl); 46,9% trẻ mắc bệnh hô hấp; 17,9% có vấn đề về đường ruột; 14,5% mắc các bệnh về da[49]
Tại Việt Nam, tỷ lệ phát sinh chất thải sinh hoạt đang ngày một gia tăng Hà Nội là một trong những đô thị lớn hàng đầu của cả nước cũng có đến 47,5% loại chất thải rắn không được thu gom và xử lý kịp thời[4]
Thực trạng hiện nay nhiều bãi biển du lịch trong nước không có ngưới quản lý đang báo động về việc ô nhiễm rác do hoạt động con người gây ra làm mất mỹ quan
và gây phản cảm cho khách du lịch, nhưng có rất ít đề tài được nghiên cứu vế rác thải bãi biển
Phú Quốc là một huyện đảo có tiềm năng to lớn trong phát triển dịch vụ du lịch của tỉnh Kiên Giang, với nhiều bãi biển đẹp tự nhiên hoang sơ, rừng nguyên sinh và nhiều động, thực vật đa dạng, phong phú theo số liệu thống kê trong năm
Trang 132016 huyện đã tiếp đón 1,42 triệu lượt khách trong và ngoài nước đến tham quan nghỉ dưỡng Tuy nhiên cùng với sự phát triển đó là sự gia tăng lượng rác thải tại các bãi biển, các khu du lịch … trên địa bàn ngày càng trầm trọng, vượt quá khả năng thu gom của Ban quản lý CTCC rác ứ đọng nhiều tại các nơi tập kết rác, nhiều bãi biển rác vứt bừa bãi không có người thu gom, nhiều bãi rác, thùng rác bốc mùi hôi thối gây khó chịu cho cộng đồng xung quanh cũng như khách du lịch Làm mất cảnh quan trên địa bàn của huyện, cũng như gây ô nhiễm môi trường và khu dân cư, ảnh hưởng đến sức khỏe người dân trên địa bàn và khách du lịch Vì vậy nhằm cung cấp thông tin về việc phân loại, thu gom, xử lý rác thải cũng như nâng cao kiến thức, thực hành của người trực tiếp thu gom rác của các cơ sở kinh doanh du lịch qui mô nhỏ tại bãi biển thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc, giúp cải thiện vệ sinh môi trường bãi biển và khu du lịch cũng như góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng dân cư, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Kiến thức, thực hành phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ tại bãi biển thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc năm 2017”
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt
của các hộ kinh doanh quy mô nhỏ tại bãi biển Phú Quốc năm 2017
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ kinh doanh quy mô nhỏ tại bãi biển Phú
Quốc năm 2017
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Những khái niệm về rác
1.1.1 Một số khái niệm chung
Rác thải sinh hoạt: là chất thải có liên quan đến các hoạt động sống của con
người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại[25]
Thu gom chất thải rắn: Là những tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm
thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chấp nhận
Lưu giữ chất thải rắn: Là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian
nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến
cơ sở xử lý
Quản lý chất thải rắn: Bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây
dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ con người
Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát
sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng
Xử lý chất thải rắn: Là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
làm giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn
Hộ kinh doanh quy mô nhỏ (cá thể): Là hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh
1.1.2 Phân loại rác thải
Các loại chất thải rắn thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo nhiều cách như vị trí hình thành (người ta phân biệt rác hay chất thải rắn trong nhà,
Trang 16ngoài nhà, trên đường phố, chợ ), theo thành phần hóa học và vật lý ( bao gồm các thành phần hữu cơ, vô cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại, da , giẻ vụn, cao su, chất dẻo…), hoặc theo tính chất rác thải… Hiện nay, phân loại chất thải rắn thường dựa vào 2 tiêu chí sau[8], [2]
* Phân loại theo nguồn gốc phát sinh
Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH)
Chất thải rắn công nghiệp
Chất thải xây dựng
Chất thải nông nghiệp
* Phân loại theo mức độ nguy hại:
Chất thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng , độc hại, chất
thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất thải phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan có nguy cơ đe dọa tới sức khỏe người , động vật và cây
cỏ Nguồn phát sinh ra chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp[5]
Chất thải không thông thường (non risk waste): là những loại chất thải không
chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần
1.1.3 Tác hại của rác thải
1.1.3.1 Tác hại của rác thải đối với môi trường
Hiện nay do khối lượng rác thải phát sinh với một lượng quá lớn, ở các địa phương công tác thu gom xử lý và tiêu hủy đã và đang vượt quá năng lực Điều này
là nguyên nhân chủ yếu tác động xấu đến môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe cộng đồng[41]
Đối với môi trường đất: Rác thải sinh hoạt nằm rải rác khắp nơi không được
thu gom sẽ lưu giữ lại trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon,
vỏ lon, hydrocacbon làm thay đổi cơ cấu và ảnh hưởng tới hệ vi sinh vật đất Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… làm cho đất bị đóng cứng, khả năng thấm nước, hút nước kém, đất bị thoái hóa Bên cạnh đó là chất thải nguy hại chứa nhiều độc tố như hóa chất, kim loại nặng, chất phóng xạ… nếu không được xử lý đúng
Trang 17cách mà chỉ được chôn lấp như rác thải thông thường thì nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất rất cao, [38], [26]
Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc khi xét nghiệm mẫu đất tại bãi rác Dandora ở Nairobi, Kenya cho thấy nồng độ chì (Pb) trong các mẫu đất dao động 50-590 ppm và có 42% mẫu là có nồng độ trên 400 ppm; chỉ có một mẫu có nồng độ Pb là 50 ppm (tiêu chuẩn tham chiếu ở Hà Lan và Đài Loan)[49]
Đối với môi trường nước:
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên & Môi trường (2011) cho thấy Hà Nội tình trạng ô nhiễm amonia ở nước ngầm do hậu quả của nước rỉ rác và việc xả rác bừa bãi đang là vấn đề đáng báo động Hầu hết các giếng khoan tại một số khu vực như quận Hoàng Mai, Gia Lâm, Hai Bà Trưng đều có amoni vượt tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng amoni trong nước của nhà máy nước Tương Mai là 7-10mg/l; nhà máy nước Hạ Đình 10-15mg/l, có lúc lên đến 40mg/l; nhà máy nước Pháp Vân là 25-30mg/l, có lúc lên đến 60mg/l [4]
Đối với môi trường không khí:
Đặc biệt tại các bãi chôn lấp chất thải rắn thì mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại gây ô nhiễm không khí Bãi rác Đa Phước tại
TP Hồ Chí Minh được xác định là nguồn khí xú uế gây ảnh hưởng tới cộng đồng liền kề và Phú Mỹ Hưng
Theo kết quả nghiên cứu của Mohammad và nhóm cộng sự tại bãi chôn lấp rác
ở Jardan cho thấy trong quá trình chôn lấp rác đã thải ra 45%-60% khí metan, 60% carbon dioxide, 2%-9% các khí khác phát tán vào môi trường không khí và các chất khí này gây mùi hôi thối bên trong và bên ngoài các bãi chôn lấp [41]
40%-1.1.3.2 Tác hại của rác đối với sức khỏe con người
Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn Khi chôn lấp rác nếu không áp dụng theo đúng các quy định về kỹ thuật chôn lấp và xử lý thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền dịch bệnh Trong thành phần rác thải có rất nhiều chất độc, khi không được thu gom rác thải tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức
Trang 18khoẻ con người xung quanh Những người thường xuyên tiếp xúc với rác thải, những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ rác thải dễ mắc bệnh viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi, họng, [39], [38]
Theo nghiên cứu của nhóm tác giả Mark BR và cộng sự cho thấy tỷ lệ người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới 15,25 % dân số Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 %[39]
Nghiên cứu của tác giả Salam Abul tại bãi rác Golf Course thuộc thành phố Manzini cũng cho thấy 44% người dân ở gần khu vực bãi rác và 18% người dân cách khu vực bãi rác không xa nhập viện vì sốt rét; 50% dân cư nhập viện vì đau ngực; 26% dân cư nhập viện vì tiêu chảy và 12% nhập viện vì phẩy khuẩn tả [46] Theo kết quả nghiên cứu từ Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) cũng cho thấy các chất ô nhiễm từ bãi rác có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của một số trẻ em và thanh thiếu niên của vùng dân cư sống gần khu vực bãi rác Trong đó 46,9% trẻ mắc bệnh hô hấp; 17,9% có vấn đề về đường ruột; 14,5% mắc các bệnh về da [49]
Một nghiên cứu khác của nhóm tác giả George Rachiotis và cộng sự tại đô thị ở miền trung Hy Lạp (2012) [32] cho thấy tỷ lệ nhiễm viêm gan A trong số những người thu gom rác đô thị là 61% và 27% với những người làm vườn, sự khác biệt giữa 2 nhóm có ý nghĩa thống kê với p<0,001 Nghiên cứu của tác giả cũng cho thấy có sự liên quan giữa việc tiếp xúc chất thải với người nhiễm viêm gan A với OR=2,87; CI95% = 1,24-6,62
1.1.3.3 Tác hại của rác thải làm ảnh hưởng mỹ quan đô thị
Chất thải rắn, đặc biệt là rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ lộ thiên… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ
mỹ quan đường phố, thôn xóm
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh vẫn
Trang 19còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ[4], [8]
1.1.4 Các biện pháp xử lý rác sinh hoạt
1.1.4.1 Xử lý rác thải sinh hoạt bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện dựa trên cơ sở rác được phân loại trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại, nilon, giấy, thủy tinh, plastic… được thu hồi để tái chế Những chất còn lại sẽ được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành các kiện với tỷ số nén rất cao
Công nghệ xử lý rác thải bằng phương pháp ép kiện
Sơ đồ 1.1 Xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
1.1.4.2 Xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) có thể được coi như là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học, tạo môi trường tối ưu đối với quá trình
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ là một phương pháp truyền thống, được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển và ở Việt Nam Phương pháp này được áp dụng rất có hiệu quả Những đống lá hoặc đống phân có thể để hàng năm
và thành chất thải hữu cơ rồi thành phân ủ ổn định, nhưng quá trình có thể tăng nhanh trong vòng một tuần hoặc ít hơn Quá trình ủ có thể coi như một quá trình xử
lý – tốt hơn được hiểu và so sánh với quá trình lên men yếm khí bùn hoặc quá trình hoạt hóa bùn Theo tính toán của nhiều tác giả, quá trình ủ có thể tạo ra thu nhập
Rác
thải
Phể nạp rác
Băng tải rác
Phân loại
Các khối kiện
saukhi ép
Máy éprác
Băng tải thải vật liệu
Kim loại
Thủy tinh
Giấy
Nhựa
Trang 20cao gấp 5 lần khi bán khí mêtan của bể mêtan với cùng một loại bùn đó và thời gian rút ngắn lại một nữa Sản phẩm cuối cùng thu được không có mùi, không chứa vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ
1.1.4.3 Xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp đốt
Đốt rác là giai đoạn xử lý cuối cùng cho một số loại rác nhất định không thể
xử lý băng các phương pháp khác Đây là một giai đoạn oxy hóa nhiệt độ cao với sự
có mặt của oxy trong không khí, trong đó các rác độc hại được chuyển hóa thành khí và các chất thải rắn khác không cháy Các chất khí được làm sạch hoặc không được làm sạch thoát ra ngoài không khí Chất thải rắn được chôn lấp
Việc xử lý rác bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu sử dụng công nghệ tiến tiến còn có ý nghĩa cao bảo vệ môi trường Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí để đốt một tấn rác cao hơn khoảng 10 lần
Công nghệ đốt rác thường áp dụng ở các quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho việc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội của toàn dân Tuy nhiên đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh đioxin nếu việc xử lý khói không tốt (phần xử lý khói
là phần đắt nhất trong công nghệ đốt rác)
1.1.4.4 Xử lý rác thải sinh hoạt bằng phương pháp chôn lấp
Trong các phương pháp xử lý và tiêu hủy chất thải rắn, chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất Phương pháp này được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam[19] Đặc điểm của phương pháp này là lưu giữ chất thải trong một bãi và có phủ đất lên trên Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân hủy sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon và một
số khí như CO2, CH4
Chất thải rắn sinh hoạt được chấp nhận chôn lấp tại bãi chôn lấp hợp vệ sinh là tất cả các chất thải không nguy hại, có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian, bao gồm:
Trang 21Rác thải từ hộ gia đình, rác thải từ hoạt động thương mại, du lịch như chợ, khách sạn, nhà hàng ăn uống, rác thải đường phố, rác thải từ văn phòng, trường học…
1.1.5 Một số quy định về xử lý rác sinh hoạt
Thực hiện quyết định số 178/QĐ-TTg ngày 05/10/ 2004 của Thủ tướng Chính Phủ phê duyệt đề án phát triển tổng thể đảo Phú Quốc đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 trở thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí cao cấp Quốc gia và quốc tế
Thực hiện Quyết định số: 137/2008/QĐ-TTg ngày 10/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Đề án tổng thể bảo vệ môi trường Phú Quốc đến năm 2010
và định hướng đến năm 2020”;
Thực hiện Quyết định số 1570/ QĐ-TTg ngày 06/9/2013của Thủ tướng chính phủ vềQuyết định phê duyện chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và
bảo vệ môi trường biển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030[21]
Thực hiện Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
Đối với cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất thải, tuân thủ theo các yêu cầu quy định tại khoản 1,2,3,7 điều 4; khoản 1,2,3,4 tại điều 17[12]
Thực hiện Chỉ thị số: 04/2004/CT-UBND ngày 27/10/2004 của UBND huyện
về việc tăng cường công tác đảm bảo vệ sinh môi trường và an ninh trật tự trên địa bàn huyện Phú Quốc; Kế hoạch số: 133/KH-UBND ngày 01 tháng 10 năm 2007 về thực hiện cuộc vận động “Vì môi trường Phú Quốc: Xanh, Sạch, Đẹp và An Toàn”; Công văn số: 33/CV-HU ngày 18/10/2010 của Huyện ủy Phú Quốc về việc tăng cường lãnh đạo thực hiện Giờ môi trường và các hoạt động thu gom rác thải trên địa bàn huyện
Thực hiện Nghị định số 155/NĐ-CP ngày 12/ 12/ 2016 của Chính phủ về việc
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; căn cứ tại điểm c, d khoản 1 điếu 20 của Nghị định này[13]
1.2 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt
Trang 221.2.1 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác thải trên Thế giới
Lượng rác thải phát sinh ở mỗi khu vực tùy thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế
và quá trình đô thị hóa Vấn đề chất thải rắn không chỉ là thách thức với môi trường Việt Nam mà với cả nhiều nước trên thế giới cũng phải đối mặt Các khu vực đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị Đến năm
2015 con số này sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ ngày [33] Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa các nước, theo ước tính tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc, 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philipine; 37% ở Nhật Bản và 80% ở Việt Nam[35]
Ở Malaysia, giống như các nước đang phát triển khác cũng đang phải đối mặt với sự gia tăng của chất thải và các vấn đề về xử lý chất thải này Tỷ lệ phát sinh chất thải tại đây vào khoảng 16.000 tấn mỗi ngày và bình quân lượng rác thải phát sinh là khoảng 1 kg/người/ngày [50]
Tại Jordan, lượng rác thải ước tính trung bình vào khoảng 1.960.000 tấn mỗi năm tại vùng đô thị và 0,85 kg/ngày đối với vùng nông thôn và biện pháp xử lý chủ yếu ở đây là chôn lấp tuy nhiên sự ô nhiễm khí và nước rò rỉ từ bãi rác vào môi trường đang là mối quan tâm tại đây [41]
Thường thì các nước có thu nhập cao sẽ có tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thi cao Tuy nhiên các nghiên cứu gần đây ở các nước phát triển cho thấy, tỷ lệ phát sinh chất thải tính theo các mức thu nhập khác nhau lại không theo nguyên tắc này Theo kết quả nghiên cứu tại một số nước Châu Á cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải rắn đô thị ở Philipin theo các nhóm người có thu nhập khác nhau: thu nhập cao là 0,37-0,55 kg/người/ngày; thu nhập trung bình 0,37-0,6kg/người/ngày và thu nhập thấp là 0,62-0,9 kg/người/ngày[40]
Nghiên cứu của tác giả Imad A.Khatib (2011) [33] cho thấy tổng lượng rác thải phát sinh có mối tương quan với tổng số GDP, thu nhập bình quân đầu người
và dân số Nước có thu nhập thấp với GDP bình quân đầu người khoảng 5000USD
có tốc độ phát sinh chất thải là 0,3-0,9 kg/người/ngày Ở các quốc gia có thu nhập cao khoảng 45000USD thì lượng chất thải phát sinh vào khoảng 1,4-2,0 kg/người/ngày
Trang 23Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Jun Dong và cộng sự tại Hàng Châu, Trung Quốc (2014)[35] cho thấy sự phát triển công nghiệp và đô thị hóa đã tăng lượng rác thải vào môi trường, hàng năm có khoảng 158.050.000 tấn rác thải
đô thị đưa vào môi trường Hình thức xử lý ở đây chủ yếu là chôn lấp rác chiếm 79,4%; tiếp theo là đốt chiếm 18,8% và ủ là 1,8% Thành phần chất thải rắn chủ yếu
là rác thải từ nhà bếp chiếm 58,15%; tiếp theo là nhựa và cao su chiếm 18,81% và giấy là 13,27%; các thành phần khác như thủy tinh, kim loại, vải vụn, gốm chiếm tỷ
lệ rất thấp
Kết quả nghiên cứu của tác giả Florin Constantln Mihal về các chất thải phát sinh trong du lịch và chất thải phát sinh trong sinh hoạt của hộ gia đình ở khu vực Neamt thuộc Romania cho thấy có sự khác nhau về lượng chất thải phát sinh ở những vùng có lượng khách du lịch đến với những vùng chủ yếu là chất thải từ các hộ gia đình, mặc
dù lượng rác thải du lịch không nhiều, nhưng lượng rác thải ở một số vùng có lượng khách du lịch đến như Alexandru cel Bun, Agapia, Ceahlau tăng so với vùng khác là 4,2%; Baltatesti là 5,1% [30]
Theo kết quả báo cáo của Bộ du lịch Công hòa Maldives cho thấy khoảng 860 tấn rác thải mỗi ngày tại Maldives, trong đó 21% chất thải rắn là từ du lịch Ước tính có khoảng 134 tấn chất thải rắn được thải ra từ 101 khu nghỉ dưỡng ở Maldives, trong đó chất thải hữu cơ chiếm 89%; kim loại và nhựa chiếm 3% Thành phần chính của chất thải này là thực phẩm (chiếm 40%); cành cây từ khu nghỉ dưỡng chiếm 38% Bên cạnh chất thải từ các khu nghỉ dưỡng còn có lượng chất thải hữu cơ từ các thuyền thám hiểm ước lượng khoảng 8 tấn rác thải[40]
Theo nghiên cứu của tác giả K.Mythili tại điểm du lịch ven biển Andhra Pradesh Ấn Độ 2013 cho thấy lượng rác thải phát sinh hàng tuần tại khu du lịch là 9.800 kg trong đó 50% là chai nhựa; 40% là vỏ dừa, vỏ chuối và 10% là giấy [36]
Về việc thu gom và xử lý chất thải rắn, đối với các nước Châu Á, chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu hủy chất thải rắn vì chi phí rẻ Trung Quốc và
Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90% Vấn đề ủ rác thải tại Ấn Độ chỉ chiếm khoảng 12% Các bãi chôn lấp chất thải được chia làm 3 loại: bãi đỗ hở hay lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh và bãi chôn lấp hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy
Trang 2410-ở các nước có thu nhập cao, trong khi đó bãi đổ h10-ở phổ biến 10-ở các nước đang phát triển Tuy nhiên với sự phát triển của xã hội hiện nay cùng với sự gia tăng dân số, quỹ đất bị thu hẹp dần, cộng với bãi rác thải phải cách xa khu dân cư nên việc tìm được những bãi chôn lấp rác thải hợp vệ sinh là điều rất khó khăn cho nhiều nước trên thế giới [37], [33], [44]
Tại Hàn Quốc, việc quản lý chất thải cũng giống như một số nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, cũng đang tìm dần cách loại bỏ các bãi chôn lấp, đẩy nhanh quá trình giảm phát sinh chất thải Hiện nay, phương án Hàn Quốc đưa ra là xây dựng
lò đốt để giảm số lượng các bãi chôn lấp[37] Bên cạnh đó rác hữu cơ nhà bếp một phần được dùng làm giá thể trồng nấm thực phẩm, một phần được chôn lấp có kiểm soát để thu hồi khí biogas từ hố chôn cung cấp cho phát điện Sau khi rác tại hố chôn phân hủy hết thì tiến hành khai thác mùn bãi chôn làm phân bón và tái chôn lấp cho chu kỳ sau [45]
1.2.2 Thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Ở Việt Nam đã có những bước phát triển với tốc độ nhanh chóng cả về công nghiệp, nông nghiệp và thương mại dịch vụ, đời sống của nhân dân được cải thiện
rõ rệt Cùng với sự phát triển đó, vấn đề ô nhiễm môi trường cũng ngày càng trở nên bức xúc, ô nhiễm trong sản xuất công nghiệp, nông nghiêp và đặc biệt là ô nhiễm rác thải rắn sinh hoạt tại các địa phương Tình trạng rác thải rắn sinh hoạt, nước rỉ từ rác là một trong nhiều vấn đề cấp bách cần giải quyết ở các thành phố lớn của nước ta hiện nay Việc chất thải tồn đọng, không được xử lý kịp thời, đúng cách
sẽ dẫn đến những hậu quả xấu đối với con người, làm ô nhiễm môi trường sống, thậm chí là gây ra những vụ dịch trên qui mô lớn, khó có thể dập tắt được gây tổn hại nặng nề về sức khoẻ và kinh tế Một nghiên cứu tại Thái Bình cho thấy 75,1%
hộ gia đình không bao giờ phân loại rác trước khi đổ ra môi trường[14]
Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011) cũng cho thấy trong mùa lễ hội tại Chùa Hương, số lượng rác thải lên tới 5,4 tấn/ngày, còn các ngày khác trong năm chủ yếu là số lượng rác xả từ hộ gia đình và các quán ăn uống dọc hai bên đường vào bến Thiên Trù và trong 5,4 tấn rác được thải ra thì có 2,79 tấn rác được địa phương thu gom còn lại 2,69 tấn rác chưa được thu gom [4]
Trang 25Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Ái về thực trạng rác thải sinh hoạt tại huyện Kim Bảng và huyện Lí Nhân của tỉnh Hà Nam cho thấy 86,1% lượng rác thải sinh hoạt ở đây là túi nilon; 48,3% là rau, thực phẩm, chất hữu cơ dễ phân hủy Lượng rác thải sinh hoạt trung bình trên một ngày của các hộ gia đình dao động từ 1-2kg/ngày và hình thức xử lý rác thải ở đây chủ yếu là đốt tại nhà chiếm 45,4%[1]
Theo kết quả nghiên cứu ở Hạ Long của Dự án thử nghiệm Hạ Long (thuộc WASTE-ECON), cho thấy hiện nay lượng chất thải rắn sinh hoạt từ khách du lịch bình quân khoảng 0,67-0,8kg/người/ngày; chất thải lỏng khoảng 100-150 lít/ngày/người Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng từ hoạt động du lịch, đặc biệt là ở những nơi chưa đủ năng lực quản lý và xử lý chất thải [17] Nghiên cứu của Phạm Ngọc Châu, David Sevesend (2005) dự án thí điểm Thẻ báo cáo Việt Nam về dịch vụ thu gom rác sinh hoạt tại Hải Phòng cho thấy dịch vụ thu gom rác sinh hoạt do URENCO Hải Phòng mới chỉ bao phủ được 70% và mức độ hài lòng của người dân với dịch vụ chưa cao
Ở hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm 80% tổng lượng chất thải rắn đô thị Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Phương tại thành phố Đà Nẵng cho thấy tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong một năm là 654.773 tấn, trong đó chất thải rắn sinh hoạt đô thị là 203.516 tấn; chất thải rắn công nghiệp là 4.500 tấn; chất thải sinh hoạt phát sinh từ ngành y tế là 1.257 tấn [14]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Hoàng và cộng sự tại khu vực Nam sông Hương thành phố Huế (2010) [10] cho thấy thành phố Huế, thành phố Festival nên lượng khách du lịch đến nơi này càng ngày càng tăng kèm theo là lượng chất thải rắn phát sinh tại đây trung bình từ 8 đến 10% mỗi năm và tỷ lệ thu gom chất thải rắn đạt 95% trên toàn địa bàn Hình thức thu gom của thành phố chủ yếu là thu gom thủ công và thủ công kết hợp cơ giới Tại địa bàn nghiên cứu hiện có 239 thùng rác trong đó 23% số thùng bố trí phù hợp với lượng rác thải phát sinh; 58% thùng rác trong tình trạng quá tải; 17% thùng chứa ít rác và 2% thùng rác không sử dụng
Trang 26Hiện nay rác thải hầu như không được phân loại tại nguồn mà thu gom lẫn lộn với các loại rác thải khác và vận chuyển đến bãi chôn lấp Tỷ lệ thu gom trung bình tại các đô thị trên cả nước đạt 85%, ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 40-50%, trong khi đó lượng chất thải hàng năm phát sinh trên 5% Tỷ lệ xử lý CTR bằng phương pháp chôn lấp còn cao (chiếm 60%), trong khi đó chỉ có 16/98 bãi chôn lấp chất thải tập trung được coi là hợp vệ sinh Việc triển khai các chương trình 3T (Tiết giảm, tái sử dụng, tái chế) mới chỉ dừng ở mô hình trình diễn thí điểm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh
và TP Đà Nẵng [23]
Bên cạnh lượng chất thải phát sinh tại các đô thị, khu dân cư là sự gia tăng về khối lượng rác thải của ngành du lịch Lượng du khách đến khu vực ven biển Việt Nam tăng liên tục chiếm gần 80% tổng lượng khách du lịch, chính vì vậy đã làm gia tăng lượng rác thải vào môi trường Trong kết luận cuộc họp gần đây về điều tra cơ bản tài nguyên môi trường biển, Nhà nước ta cũng đưa ra hướng yêu cầu các bộ ngành điều tra tổng thể đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy, hải sản Việt Nam, quy hoạch và xây dựng
hệ thống các khu bảo tồn biển phục vụ phát triển bền vững [22]
Nghiên cứu của nhóm tác giả Châu Quốc Tuấn, Nguyễn Thị Minh Hiền về đánh giá phát triển du lịch biển đảo bền vững Vịnh Bái Tử Long (năm 2014) cho thấy lượng rác thải hàng năm có xu hướng tăng nhanh, năm 2007 lượng rác thải từ hoạt động du lịch là 628,2 tấn thì đến năm 2013 lượng này tăng lên 1830,6 tấn gấp 3 lần so với năm
2007 Thành phần rác thải chủ yếu là bao bì giấy bánh kẹo, vỏ chai nhựa, bao bì nilon, các loại bao bì nước giải khát, thức ăn thừa của khách du lịch Công tác thu gom xử lý rác thải trên Vịnh hầu như chỉ mang tính chất thủ công, rác chủ yếu chỉ thu gom tập kết thành bãi mà không xử lý Lượng nước thải cũng có mức tăng trưởng bình quân hàng năm cũng khá cao (18,7%) Nước thải từ hoạt động du lịch tại các cơ sở ở Vịnh Bái Tử Long chủ yếu chỉ xử lý thô sơ, cho lắng đọng sau đó thải luôn ra môi trường biển[27] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013) cho thấy tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm,
dự báo năm 2020 tăng 2,37 lần và năm 2025 tăng 3,2 lần so với năm 2010 Tỷ lệ thu gom ở các đô thị tăng từ 72% năm 2004 lên 83-85% năm 2010 nhưng vẫn còn khoảng 15-17% CTR đô thị bị thải bỏ bừa bãi gây ô nhiễm môi trường Các hình thức xử lý ở
Trang 27Việt Nam hiện nay vẫn là chôn lấp, nhiều đô thị hình thức thu gom thô sơ, không có nắp đậy, gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị [9]
1.2.3 Thực trạng quản lý, thu gom và xử lý rác sinh hoạt tại Kiên Giang
Thực trạng thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Kiên Giang còn nhiều hạn chế, đặc biệt là khu vực nông thôn Trang thiết bị, nhân lực, tài chính cho công tác thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh chưa đáp ứng được nhu cầu thực tại Hiện tại, trên địa bàn tỉnh chỉ có 01 nhà máy xử lý chất thải hợp vệ sinh (Nhà máy Tâm Sinh Nghĩa tại xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất) với công suất xử lý 170 tấn/ngày, chủ yếu xử lý rác thải của thành phố Rạch Giá và 03 huyện
An Biên, Tân Hiệp và Châu Thành Các huyện, thị còn lại trên địa bàn tỉnh đều có bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt, nhưng các bãi chôn lấp này không đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị
và nông thôn được thể hiện như sau:
Đối với chất thải rắn sinh hoạt đô thị: Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt đô thị đạt 86% (395 tấn/ngày) lượng phát sinh Lượng rác được thu gom chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn như: thành phố Rạch Giá (160 tấn/ngày), huyện Phú Quốc (75 tấn/ngày), Kiên Lương (50 tấn/ngày), Hà Tiên (45 tấn/ngày),…Trong đó, lượng chất thải rắn sinh họat đô thị được xử lý hợp vệ sinh (xử lý tại nhà máy Tâm Sinh Nghĩa) khoảng 170 tấn/ngày, chiếm 43% lượng rác được thu gom 57% lượng rác được thu gom còn lại (225 tấn/ngày) được đổ đống tại các bãi rác hở, không đảm bảo vệ sinh, gây ô nhiễm môi trường
Đối với chất thải rắn nông thôn: Hầu hết rác thải nông thôn chưa được tổ chức thu gom, xử lý theo quy định Ngoại trừ một vài xã đã được công nhận xã nông thôn mới có tổ chức thu gom và xử lý bằng bãi rác lộ thiên (chiếm 3%), còn lại do hộ dân tự xử lý theo cách riêng (chiếm 97%) Hiện nay, CTR ở nông thôn chưa được điều tra, thống kê Tuy nhiên theo Đoàn Hữu Thắng (2015), lượng CTR sinh hoạt ở vùng nông thôn tỉnh Kiên Giang là 0,315kg/người/ngày Do đó, có thể ước tính được hiện nay, vùng nông thôn toàn tỉnh thải ra 403 tấn CTR mỗi ngày Trong đó chỉ có khoảng 13 tấn CTR/ngày được thu gom, xử lý Lượng còn lại (khoảng 390 tấn/ngày) chưa có biện pháp quản lý Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn được người
Trang 28dân tự phát thu gom đổ ra ao, hồ, mương, vườn, kênh, rạch, chỉ có một số ít hộ đào
hố chôn sau vườn hoặc tự đốt rác Đây là một trong những nguyên nhân chính góp phần gây ô nhiễm môi trường nước vùng nông thôn[16]
Bảng 1.1.Lượng phát sinh rác thải trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016
Đô thị
Lượng CTR phát sinh
được thống kê
252,3 tấn/ngày 373,18 tấn/ngày 577,38 tấn/ngày
Lượng CTR được thu
398 tấn/ngày 401 tấn/ngày 403 tấn/ngày
Lượng CTR được thu
Trang 291.3 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành phân loại thu gom, xử lý rác
Để giải quyết tốt vấn đề rác thải bên cạnh việc thực hiện các biện pháp xử lý thì cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng Việc huy động cộng đồng dân cư tham gia quản lý và bảo vệ môi trường là cần thiết vì sẽ gắn kết được quyền lợi được hưởng với trách nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với môi trường sống Đồng thời giúp Nhà nước tăng được hiệu lực quản lý và hiệu quả kinh tế trong vấn đề vệ sinh bảo vệ môi trường Nghiên cứu của tác giả Salam Abul tại thành phố Manzini cho thấy 28% người dân cho rằng các bãi rác làm cho môi trường ô nhiễm; 20% người cho rằng làm tăng lượng chất thải vào môi trường; 15% là nguyên nhân gây bệnh nhưng vẫn còn 37% người dân không biết bãi rác ảnh hưởng như thế nào đến môi trường và sức khỏe con người Khi hỏi nên sử dụng phương pháp nào để xử lý rác thì 24% người dân cho rằng cần đốt chất thải; 48% cho rằng nên di chuyển bãi rác ra xa khu dân cư; và 28% cho rằng cần quản lý bãi rác đúng cách [46]
Theo kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả Foday Pinka Sankoh và cộng sự (2013) tại thành phố Freetown ở Sireria [31] cho thấy 33,7% người dân thu gom rác mang đến bãi rác; 29% người dân vứt rác vào cống rãnh và trên đường; 12,8% cho vào túi nilon và chỉ có 9% người dân thu gom rác vào thùng
Nghiên cứu của tác giả Jittree Pothimamaka về phân loại rác thải tại 400 hộ gia đình tại quận Bang Sue, Thái Lan [34] cho thấy 51% hộ gia đình không phân loại rác thải và lý do họ đưa ra là thiếu túi phân loại rác thải (69%); phiền hà, lãng phí (31%) Về nhu cầu phân loại rác thải có 49% hộ gia đình cho rằng cần thiết tách rác thải làm 3 loại; 28% cần thiết tách thành 2 loại và 18% là tách thành 4 loại Một nghiên cứu được thực hiện tại vùng Cape Town, Nam Phi của nhóm tác giả Thashlin Govender và cộng sự (2011) cho thấy khoảng 15% số hộ gia đình vứt bỏ rác trong cống nước; 49% chất thải rắn (phần lớn là thủy tinh) vứt xung quanh nhà và 6% rác được thu gom và xử lý [47]
Nghiên cứu của tác giả Ramatta Massa Yoada và cộng sự về nhận thức và thực hành của hộ gia đình về xử lý rác thải tại khu vực Accra (2014) [45] cho thấy 93,1% hộ gia đình vứt bỏ thức ăn thừa và 77,8% xử lý chất thải, 61,0% hộ gia đình cho rác vào
Trang 30thùng thu gom của đội thu gom đô thị và 39,0% xử lý chất thải bằng cách vứt vào cống rãnh, đường phố hoặc các bụi cây gần nhà Khoảng 83% số người được hỏi là cho là quản lý chất thải không đúng cách là nguyên nhân gây bệnh và đa số những người được hỏi cho rằng quản lý chất thải không đúng cách có thể dẫn đến bệnh sốt rét và tiêu chảy
Tại Malaysia, nghiên cứu của tác giả Elmira Shamshiry và cộng sự về mô hình quản lý chất thải rắn tại khu du lịch đảo Langkawi (2011) cho thấy 34,8% người dân quanh khu vực này cho rằng quản lý không đúng chất thải rắn trong du lịch ở đây sẽ góp phần ô nhiễm môi trường và dẫn đến sự ô nhiễm các nhánh sông Kilim; 23,2% cho rằng việc quản lý chất thải rắn không tốt sẽ hạn chế lượng khách đến du lịch; 12,4% cho rằng ô nhiễm đất, nước; 16,4% giảm mỹ quan môi trường và 13,2% gây mùi hôi thối ra môi trường Khoảng 37% người dân cho rằng cần có một nhu cầu để thu hút công chúng trong việc quản lý chất thải rắn; 20,2% cho rằng cần có những thực thi pháp luật để quản lý chất thải và 7,8% cho rằng cần có một khoản thu phí hoặc trả tiền khi gây ô nhiễm, nghĩa là “người gây ô nhiễm phải trả tiền” [29]
Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Dr.M.O Agwu và cộng sự tại thành phố Port-Harcourt, Nigeria cho thấy 44,3% nông thôn và 28,8% người dân tại thành phố này rất quan tâm cũng như quan tâm đến sự ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường; 59,4% quan tâm việc quản lý chất thải rắn; 33,2% cho biết người dân hài lòng với phương thức xử lý chất thải rắn hiện nay của địa phương [28]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Norasmah Othman và cộng sự tại khu du lịch Pantai Cahaya Bulan ở Kota Bharu, Kelantan, Malaysia cho thấy nhận thức của khách du lịch về hoạt động kinh doanh của khu du lịch đối với môi trường cho thấy khách du lịch đánh giá ô nhiễm bởi rác là cao nhất với số điểm trung bình là 4,13; tiếp theo là ô nhiễm nước bởi nước thải khu du lịch với điểm trung bình là 3,72 [42]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đinh Minh Sơn tại 3 xã Tiền Hải, Thái Bình (năm 2011) cho thấy 93,2% người dân biết tác hại của rác thải gây ô nhiễm môi trường; 56,4% biết rác thải ảnh hưởng không nhỏ đối với sức khỏe con người Kết quả của tác
Trang 31giả cũng cho thấy 83,1% số hộ gia đình xử lý rác thải bằng hình thức đổ rác ra vườn; 84,9% số hộ xử lý rác bằng hình thức đốt; 79,4% đổ rác ra bãi rác tập kết chung của xã
để đội vệ sinh môi trường thu gom; 22,6% đổ rác ra đường [18]
Một kết quả nghiên cứu khác của nhóm tác giả Phùng Khánh Chuyên, Ngô Vân Thụy Cẩm (2010) tại một số trường học tại thành phố Đà Nẵng [6] cho thấy số lượng học sinh phân biệt được hai loại rác hữu cơ và vô cơ chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ
có 6% học sinh tiểu học; 18,5% số học sinh cấp II; 29,3% số học sinh cấp III phân biệt được Tỷ lệ học sinh cho rằng rác là thứ bỏ đi chiếm rất cao đến 78,1% ở học sinh tiểu học; 35,5% ở học sinh cấp II và 38,1% ở học sinh cấp III
Nghiên cứu của tác giả Mai Thế Hưng (2010) tại thành phố Thái Bình cho thấy 91,2% người dân biết rác thải là nguồn gây ô nhiễm môi trường; 64,1% biết lợi ích của việc phân loại rác thải là giúp giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và thuận lợi cho quá trình xử lý; tuy nhiên chỉ có 6,9% là gia đình thực hiện phân loại rác tại nguồn [11]
Nghiên cứu của tác giả Phan Vĩnh Thịnh (2010) tại thị trấn huyện Khoái Châu tỉnh Hưng Yến cho thấy có 96% cho rác vào túi nilong đen đến nơi qui định, (81,1% biết vế tác hại của rác , 79,4% cho rằng có mùi hôi thối) [20]
Các nghiên cứu của nhiều tác giả cho ra các chỉ số khác nhau ở Việt Nam
và kết quả nghiên cứu ở Hạ Long của Dự án thử nghiệm Hạ Long (thuộc WASTE-ECON), cho thấy hiện nay lượng chất thải rắn sinh hoạt từ khách du lịch bình quân khoảng 0,67-0,8kg/người/ngày; chất thải lỏng khoảng 100-150 lít/ngày/người Đây là nguồn gây ô nhiễm môi trường quan trọng từ hoạt động du lịch, đặc biệt là ở những nơi chưa đủ năng lực quản lý và xử lý chất thải [17] Một kết quả nghiên cứu tại Owerri, tiểu bang Imo, Nigeria cũng cho thấy nguồn thông tin mà người dân nhận được về tác hại chất thải chủ yếu là phương tiện truyền thông đại chúng (tivi, radio, báo) chiếm 75,2%; tiếp theo là từ người thân, bạn bè chiếm 44,3%; còn từ chính quyền địa phương chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ (3,9%)[43] Theo kết quả của Khăn Pạ Sợt Sengngam (2005) tại xã Ngũ Hùng huyện Thanh Miện tỉnh Hải Dươngcho thấy có 89,9 % trả lời là rác thải làm ô nhiễm môi trường và 50,3 % là nguồn gây bệnh, 92,9% đối tượng được phỏng vấn biết tác hại
Trang 32của rác thải sinh hoạt và 7,1% số người được phỏng vấn không biết tác hại của rác thải Về xử lý rác hợp vệ sinh thì có 83,2% xử lí bằng đốt, 37,7% xử lí bằng chôn lấp, 37,7% bỏ vào thống thu gom và 7,1% bỏ xuống ao[15]
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thực hành của người thường xuyên thu gom rác
Công tác tập huấn về kiến thức, thực hành trong phân loại thu gom, xử lý rác; Việc kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng;việc thực hiện ký cam kết bảo vệ môi trường; Trình độ học vấn; Tuổi; Giới tính của chủ cơ sở hoặc người trực tiếp thu gom rác tại các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ là rất quan trọng, bởi vì chính nơi đây là nguồn phát thải rác sinh hoạt ra môi trường nhiều nhất Vì vậy yếu tố con người là yếu tố then chốt, quyết định việc đảm bảo giữ vệ sinh môi trường xung quanh tại các cơ sở và các bãi biển công cộng, do đó việc cung cấp kiến thức, thực hành trong việc phân loại, thu gom, xử lý rác hợp vệ sinh, những tác hại của rác gây
ra đối với môi trường cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng
Một kết quả nghiên cứu khác tại thành phố Owerri, tiểu bang Imo, Nigeria cho thấy 90% người dân được hỏi đều biết về quản lý chất thải và 97,5% có thái độ tích cực về việc quản lý chất thải; 98,9% người dân cho rằng cần tái chế chất thải; 94,7% cho rằng phương pháp xử lý là đốt; 71,6% là chôn lấp Kết quả cũng cho thấy 66,3% người dân thực hành là tái chế chất thải; 62,5% đốt chất thải; 25,9% chôn lấp và 9,2% là ủ Nghiên cứu cũng cho thấy có có sự khác nhau về kiến thức, thực hành của người dân về phương pháp xử lý chất thải với giới tính và trình độ học vấn (p<0,05) [43]
Theo nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Tiến (2015) cho thấy tỷ lệ nhân viên nhà hàng xử lý rác chưa đúng quy định là: chưa để đúng nơi quy định 53,6%; chưa thu gom chuyên nghiệp 30,5%; Rác để lưu lâu 21% và chưa phân loại rác là 27,3% Nghiên cứu cũng cho thấy có sự khác biệt giữa kiến thức tác hại của rác với trình độ học vấn với (P < 0,05) [24]
1.5 Đặc điểmkinh tế xã hội, môi trường của huyện đảo Phú Quốc
Phú Quốc là một huyện vùng biên giới, hải đảo của tỉnh Kiên Giang, nằm trong vịnh Thái Lan, cách đất liền 120 km về phía tây nam, với diện tích đất tự
Trang 33nhiên 593 Km2 Gồm 23 hòn đảo lớn nhỏ với nhiều sông suối, phía đông giáp Thành phố Rạch Giá, Phía nam giáp biển đông, phía tây giáp vịnh Thái Lan và phía bắc giáp nước bạn Campuchia Địa hình đồi núi chiếm 2/3 diện tích trên toàn đảo, giao thông đi lại trên đảo bằng đường bộ và đường tàu đò, còn đi vào đất liền bằng đường biển và đường hàng không.Dân số trên đảo là 114.256 người, mật độ 193 người/ km2 Huyện có 10 đơn vị hành chính gồm 08 xã và 02 thị trấn, có 49 ấp Dân cư sống tập trung ở 2 khu vực thị trấn Dương Đông và thị trấn An Thới còn lại các xã khác dân sống rải rác cặp theo các bãi biển Kinh tế chủ yếu của người dân ở đây là đánh bắt, chế biến, nuôi trồng thủy hải sản, trồng tiêu, kinh doanh dịch vụ du lịch Số hộ nghèo giảm chỉ còn 2,7% Tất cả các xã/ thị trấn đều có điện lưới quốc gia, đường ô tô đi đến các ấp, có hệ thống đài truyềnthanh/ truyền hình hoạt động thường xuyên Cơ sở hạ tầng điện - đường - trường - trạm đã được đầu tư nâng cấp Năm du lịch quốc gia 2016 với chủ đề "Khám phá đất phương Nam" đã chính thức được khai mạc vào trung tuần tháng 4 tại huyện Đảo Phú Quốc, Kiên Giang
Lý do mà Bộ VHTT&DL chọn Phú Quốc làm điểm nhấn trong Năm du lịch quốc gia 2016 bởi Phú Quốc có lợi thế rất lớn trong phát triển du lịch Những tiềm năng
du lịch của Phú Quốc không chỉ dừng lại ở cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp mà còn là nhiều cơ chế chính sách đặc thù được Chính phủ chấp thuận vận hành tại đây.Bên cạnh sự ưu đãi của thiên nhiên thì các chính sách thông thoáng đang là một yếu tố quan trọng giúp Phú Quốc thu hút đầu tư phát triển về du lịch mạnh mẽ.Hiện đã có
230 nhà đầu tư đầu tư vào Phú Quốc, với lĩnh vực đầu tư chủ yếu là du lịch, tổng số vốn lên tới gần 200.000 tỷ đồng Đây là kết quả bước đầu của những chính sách đặc thù mà Chính Phủ đã đồng ý ban hành riêng cho Phú Quốc như: giảm 50% tiền thuế đất trong 5 năm đầu, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm bằng 10% mức thuế hiện hành.Có rất nhiều các chính sách đặc thù để thu hút đầu tư, ví dụ như giảm thuế đất, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và đặc biệt là chính sách miễn giảm thị thực với công dân nước ngoài
Mục tiêu du lịch của Phú Quốc đến năm 2020 là trở thành một điểm đến hấp dẫn hàng đầu trong khu vực, thu hút được 3 triệu lượt khách một năm trong đó khách quốc tế chiếm 40% Những con số này là hoàn toàn có thể đạt được với một
Trang 34thiên nhiên ưu đãi và nhiều chính sách mở đặc thù cho huyện đảo Phú Quốc như hiện nay.Trong đề án xây dựng đặc khu kinh tế Phú Quốc trình Quốc hội, từ nay đến năm 2020 có rất nhiều mục tiêu mà Chính quyền tỉnh Kiên Giang và huyện đảo Phú Quốc phải đạt được Bên cạnh những thách thức hoàn thành mục tiêu thì trong quá trình phát triển, huyện đảo Phú Quốc cũng đang phải đối mặt với các vấn đề về đảm bảo an ninh trật tự và làm thế nào để giữ gìn vệ sinh môi trường xanh sạch đẹp Nếu như năm 2010, Phú Quốc chỉ đón 239.000 lượt khách thì năm 2016, ước tính ngành du lịch huyện đảo đón khoảng 1,42 triệu lượt khách (trong đó có khoảng 35% khách quốc tế), với tổng doanh thu toàn ngành dịch vụ, du lịch Phú Quốc đạt
900 tỷ đồng
Với đà tăng trưởng du lịch từ 18 – 20%/ năm cùng với mục tiêu đảm bảo đến năm 2020 lượng khách đến Phú Quốc đạt từ 2,5-3 triệu lượt (trong đó khách quốc tế chiếm 35%), huyện đảo Phú Quốc cũng như tỉnh Kiên Giang đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường.Hiện nay, bình quân mỗi ngày, lượng rác thải trên địa bàn huyện đảo vào khoảng 180 tấn[7]
Sơ đồ 1.2: Hệ thống thu gom vận chuyển rác thải Phú Quốc
1.6 Đặc điểm tình hình địa bàn nghiên cứu:
Thị trấn Dương Đông là là thị trấn ven biển, là trung tâm hành chính của huyện Phú Quốc, với diện tích tự nhiên 1.566,79 ha,số hộ là 13.723 hộ với dân số 48.127 người Thị trấn Dương Đông được chia thành 10 khu phố với 181 tổ nhân dân tự quản, số hộ nghèo và cận nghèo 152 hộ chiếm tỷ lệ 1,1%, thu nhập bình quân đầu người là 45.000.000 đ/ người/ năm Đời sống kinh tế chủ yếu là đánh bắt, chế biền hải sản, kinh doanh dịch vụ du lịch và buôn bán dịch vụ
Thị trấn Dương Đông là trung tâm du lịch của huyện, thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến xây dựng khách sạn, Resort, nhà nghỉ phục vụ cho khách
du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng Theo số liệu của Phòng thống kế huyện cho biết
kết chuyển Vận
Bãi chôn, lấp
Trang 35tính đến hết năm 2016 trên địa bàn đã có 212 cơ sở kinh doanh du lịch đang hoạt động, trong đó khách sạn 74, Resort 43 và nhà nghỉ 95
Trong số 212 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch có 34 cơ sở kinh doanh có bãi biển, bên cạnh các cơ sở kinh doanh khách sạn còn có 125 các cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ như bán tạp hóa, giải khát và bán đồ ăn nhanh phục vụ cho khách nằm trong du lịch trên bãi biển
Trước đây, có một thời gian, ô nhiễm môi trường biển do rác thải sinh hoạt là một trong những yếu tố cản trở sự phát triển của ngành du lịch Phú Quốc, trong đó
có thị trấn Dương Đông tình trạng ô nhiễm môi trường tại bãi biển Dinh Cậu và một
số bãi biển trên địa bàn thị trấn Rác ở đây do người dân địa phương và khách du lịch đến tắm biển, ăn uống xả ra ngay bãi biển hoặc các hàng quán buôn bán dọc bờ biển, từ các tàu thuyền đánh bắt hải sản, tàu đưa du khách đi câu cá, lặn ngắm san
hô và một phần không nhỏ rác từ trong sông trôi ra biển bị sóng đánh dạt vào bờ Điều này khiến cho việc thu gom rác trên bãi biển gặp nhiều khó khăn Rác không thu gom hết sẽ gây ô nhiễm bãi biển, mất mỹ quan ảnh hưởng đến thiện cảm của khách du lịch và chính người dân địa phương khi đến đây tắm biển, nghỉ dưỡng Trước thực trạng này, chính quyền huyện Phú Quốc đã triển khai nhiều biện pháp nhằm làm sạch đẹp môi trường, đặc biệt là môi trường bãi biển Đến nay, tình trạng ô nhiễm môi trường ở bãi biển Dinh Cậu tuy đã có những chuyển biến tích cực, song vẫn chưa được cải thiện là bao, nhiều bãi biển ít nhiều vẫn còn rác, ngoài việc bố trí lực lượng thu gom gác thải hàng ngày, các chủ quán ở đây còn bố trí các thùng rác để thuận tiện cho khách bỏ rác
Trong năm 2016 trên địa bàn thị trấn Dương Đông công tác thu gom, vận chuyển xử lý rác sinh hoạt được 31.126 tấn, riêng rác thu gom tại bãi biển Dinh Cậu
vá sông Dương Đông là 10.500 kg
Bên cạnh những việc đã làm được trong năm 2016 Ban quản lý công trình công cộng còn gặp một số kho khăn như: số hộ tham gia đổ rác tăng nhưng tỷ lệ thu không đạt so với thực tế, Hiện tại hai bãi rác đã quá tải nhưng chưa có chỗ thay thế;
Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương về tuyên truyền chưa được thường xuyên, tình trạng mua bán hàng rong, lấn chiếm vỉa hè, lề đường, xả
Trang 36rác tự do bừa bãi, một phần không nhỏ các cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ là
là nguồn phát thải rác trực tiến trực tiếp ra môi trường không kiểm soát được cũng
là những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến công tác vệ sinh môi trường trên địa bàn
huyện[3].Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu về“Kiến thức, thực hành
phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng của các hộ kinh doanh du lịch quy mô nhỏ ở bãi biển Phú Quốc năm 2017” để làm
cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo
Trang 371.7 Khung lý thuyết:
Yếu tố Cơ sở kinh doanh
mức độ nhỏ
Kiến thức của nhân
viên về phân loại, thu
gom, xử lý rác thải sinh
hoạt
Thực hành của các chủ
cơ sở phân loại, thu
gom, xử lý rác
Trang thiết bị thu gom
Nguồn, cơ sở phát thải
rác sinh hoạt
- Công tác vận động tuyên truyền
- Công tác kiểm tra, giám sát,
xử phạt
Kiến thức, thực hành phân loại, thu gom, xử lý rác sinh hoạt của các hộ kinh doanh dịch vụ du lịch mức độ nhỏ ở bãi biển Phú Quốc năm 2017”
Yếu tố chính quyền địa
phương
Yếu tố Đội VSMT Dương Đông
Nguồn nhân lực
Trang thiết bị thu gom, vận chuyển
Cơ sở hạ tầng xử lý tiêu hủy rác sinh hoạt
Ban Quản lý công trình công cộng huyện
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng
Toàn bộ các cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ cố định tại khu phố II và khu phố VII trên địa bàn thị trấn Dương Đông được quản lý (quán nước, bán tạp
hóa, bán đồ ăn nhanh) phục vụ cho khách du lịch và người dân
Người thường xuyên quét dọn , thu gom rác thải tại cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ trên địa bàn du lịch bãi biển thị trấn Dương Đông
Nghiên cứu định tính
Ban quản lý công trình công cộng
UBND thị trấn Dương Đông
Chủ các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ
Tiêu chí lựa chọn:
Đối tượng cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ: là các cơ sở phục vụ bán nước giải khát, thức ăn nhanh và bán tạp hóa phục vụ cho người dân và khách du lịch tại khu vực bãi biển thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc Các cơ sở này có từ
1 – 3 người bán hàng, trong đó chủ yếu là chủ các cơ sở nhỏ hoặc người trong gia đình đứng bán phục vụ cho khách, các cơ sở này nằm trong danh sách quản lý của trạm Y tế thị trấn Dương Đông
Đối tượng là Phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông là người phụ trách mảng văn hóa & xã hộ trên địa bàn thị trấn
Đối tượng là lãnh đạo Ban quản lý Công Trình Công Cộng thị trấn là cơ quan đảm nhiệm thu gom, vận chuyển, xử lý rác sinh hoạt trên địa bàn huyện
Trang 392.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: từ tháng 04/ 2017 đến tháng 8/ 2017
Địa điểm nghiên cứu: Tại thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo mô tả cắt ngang kết hợp với định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt
ngang nhằm mô tả thực trạngthu gom, phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt Mô tả kiến thức, thực hành củanhững người thường xuyên quét dọn, thu gom rác tại các
cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ phục vụ cho khách tại khu du lịch bãi biển
Nghiên cứu định tính: Là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả,
phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng công tác phân loại, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt của các chủ cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ, lãnh đạo Ban quản lý Công Trình Công Cộng và UBND thị trấn Dương Đông huyện Phú Quốc
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Để đánh giá trang thiết bị của các cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ và Đội VSMT thị trấn:
*Cỡ mẫu định lượng:
Trên địa bàn thị trấn Dương đông tại khu du lịch có bãi biển có tổng cộng 125
cơ sở kinh doanh du lịch quy mô nhỏ thỏa mãn điều kiện lựa chọn đối tượng nghiên cứu, chọn toàn bộ các cơ sở trên tất cả các cơ sở này để đánh giá về trang thiết bị Theo Nghị định số 38/NĐ-CP ngày 24/ 4/ 2015 của Chính phù về quản lý chất thải
và phế liệu [12]
*Cỡ mẫu định tính: 7 mẫu
Một phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông phụ trách về văn hóa xã hội
Một Phó Ban quản lý CTCC thị trấn Dương Đông phụ trách về hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Dương Đông
Chọn 5 chủ cơ sở kinh doanh mức độ nhỏ trên địa bàn nghiên cứu
2.4.2 Đánh giá kiến thức, thực hành trong phân loại, thu gom xử lý rác:
Trang 40Tại mỗi cơ sở khinh doanh du lịch mức độ nhỏ chọn một người thường xuyên quét dọn, thu gom rác (125 cơ sở ) trên địa bàn khu du lịch có bãi biển tại thị trấn Dương Đông để phỏng vấn vế kiến thức phân loại, thu gom, xử lý rác, theo bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn, dùng bảng kiểm quan sát việc thực hiện phân loại, thu gom, xử lý rác thải của các chủ cơ sở
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi để đánh giá về kiến thức phân loại, thu gom, xử lý rác của người thường xuyên quét dọn, thu gom rác thải của toàn bộ 125 cơ sở kinh doanh du lịch mức độ nhỏ (phụ lục 4) Bộ công cụ được thiết kế và áp dụng thử với 10 đối tượng
để làm rõ cách hiểu nội dung câu hỏi, tiếng địa phương, thời gian hoàn thành phỏng vấn, sau đó đã chỉnh sửa bổ sung, hoàn thiện bộ câu hỏi chính thức
Bảng kiểm quan sát về trang thiết bị thu gom, phân loại và xử lý rác của 125
cơ sở (phụ lục 6)
Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu trong quá trình thiết kế bản hướng dẫn phỏng vấn sâu đã tham vấn chuyên gia môi trường và giáo viên hướng dẫn để phù hợp của đối tượng chủ cơ sở kinh doanh quy mô nhỏ, Ban quản lý Công Trình Công Cộng, Lãnh đạo UBND thị trấn Dương Đông (phụ lục 1, 2, 3)
Người thực hiện: 2 điều tra viên là nhân viên của khoa Y tế công cộng thuộc Trung tâm Y tế huyện Phú Quốc được tập huấn kỹ về kỹ năng và các bước tiếp cận tiến hành điều tra, phỏng vấn, thống nhất nhận định kết quả
2.5.2 Phương pháp thu thập thông tin
Phỏng vấn sâu một đồng chí phó Ban quản lý Công Trình Công Cộng đã được thực hiện tại phòng làm việc của các đối tượng nghiên cứu, cuộc phỏng vấn đã thực hiện có thời gian trung bình từ 15 đến 20 phút
Hướng dẫn phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu phó chủ tịch UBND thị trấn Dương Đông phụ trách về văn hóa – xã hội, đối tượng này sẽ được phỏng vấn tại Phòng làm việc của UBND thời gian khoảng 15 – 20 phút