Ngoài ra, nghiên cứu nhận thấy sự sẵn có thông tin về phương pháp lựa chọn giới tính và các dịch vụ giúp xác định và lựa chọn giới tính, việc áp dụng các biện pháp lựa chọn g
Trang 1BÙI THU HƯỜNG BÙI THU HƯỜNG
HÀNH VI LỰA CHỌN GIỚI TÍNH KHI SINH
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CẶP
VỢ CHỒNG TẠI HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2016
Trang 2BÙI THU HƯỜNG
ÙI THU HƯỜNG
HÀNH VI LỰA CHỌN GIỚI TÍNH KHI SINH
VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CẶP
VỢ CHỒNG TẠI HUYỆN GIA LÂM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 – 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các anh chị và các bạn Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học, Trường Đại học Y tế Công cộng đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lưu Bích Ngọc và Ths Đỗ Thị Hạnh Trang đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban Giám đốc Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện Gia Lâm, Ban chỉ đạo công tác Dân số - KHHGĐ xã Cổ Bi, Dương Quang, Văn Đức đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện nghiên cứu tại địa phương Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bác trưởng thôn, bí thư chi bộ, các cặp vợ chồng cùng gia đình 3 xã đã nhiệt tình tham gia vào nghiên cứu, cung cấp những thông tin quý báu cho nghiên cứu này
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn người thân trong gia đình và bạn bè đã luôn động viên tinh thần và là nguồn động lực lớn lao cho tôi trong suốt những năm tháng học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2016
Học viên
Bùi Thu Hường
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vi
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.Cơ cấu giới tính của dân số và xu hướng MCBTSGTKS 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Xu hướng MCBTSGTKS 5
1.2.Các yếu tố ảnh hưởng tới MCBTSGTKS 13
1.3.Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 21
1.4.Khung lý thuyết 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.1 Với tiếp cận định lượng 25
2.1.2 Với tiếp cận định tính 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 25
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu 25
2.4 Cỡ mẫu 25
2.5 Phương pháp chọn mẫu 26
2.5.1 Với tiếp cận định lượng Error! Bookmark not defined 2.5.2 Với tiếp cận định tính Error! Bookmark not defined 2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 27
2.6.1 Với tiếp cận định lượng Error! Bookmark not defined 2.6.2 Với tiếp cận định tính Error! Bookmark not defined 2.7 Các chỉ số, biến số nghiên cứu 28
Trang 52.7.1 Các chỉ số 28
2.7.2 Chủ đề phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm 29
2.8 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 29
2.9 Phân tích số liệu 30
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 31
2.11 Hạn chế trong nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục 31
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Thực trạng MCBTSGTKS trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 – 2014 33
3.2 Hành vi xác định và lựa chọn giới tính trước sinh của các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện Gia Lâm 33
3.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính trước sinh của các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện Gia Lâm 36
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 50
4.1 Xu hướng MCBTSGTKS trên địa bàn huyện GL giai đoạn 2010 – 2014 50
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính trước sinh của các cặp vợ chồng trên địa bàn huyện Gia Lâm 50
KẾT LUẬN 60
KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Tiếng Việt 64
Tiếng Anh 66
PHỤ LỤC 69
Phụ lục 1: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN 69
Phụ lục 2: HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM 70
Phụ lục 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 72
Phụ lục 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU BỐ/MẸ CHỒNG 75
Phụ lục 5: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ Y TẾ LÀM SẢN 76
Phụ lục 6: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CB DÂN SỐ HUYỆN/XÃ 77
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BSS Bác sĩ sản KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình MCBTSGTKS Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh TĐTDS Tổng điều tra Dân số
TSGTKS Tỷ số giới tính khi sinh UNFPA Quỹ Dân số Liên hợp quốc
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ số giới tính khi sinh ở một số quốc gia, 2004 – 2009 5Bảng 1.2 TSGTKS theo thứ tự sinh của một số nước 6Bảng 1.3 Các yếu tố góp phần làm thay đổi thay đổi TSGTKS ở Trung Quốc, Ấn
độ, Hàn Quốc và Việt Nam 15
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ số giới tính khi sinh ở Trung Quốc qua các năm 7
Biểu đồ 1.2 Tỷ số giới tính khi sinh phân theo thành thị và nông thôn 10
Biểu đồ 1.3 Tỷ số giới tính khi sinh theo khu vực 10
Biểu đồ 1.4 Tỷ số giới tính khi sinh theo các lần sinh 11
Biểu đồ 1.5 TSGTKS theo thứ tự sinh và số con trai đã có trong các lần sinh trước, cơ cấu giới tính của số con theo năm sinh 12
Biểu đồ 1.6 Những áp lực góp phần vào hành vi lựa chọn giới tính 14
Biểu đồ 1.7 MCBTSGTKS của huyện Gia Lâm và một số quận huyện thuộc Hà Nội 22
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh sẽ tác động đến cấu trúc dân số trong tương lai, dẫn đến tình trạng thừa nam, thiếu nữ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng như gia tăng áp lực kết hôn sớm với các em gái, bất bình đẳng giới, gia tăng tệ nạn xã hội như mại dâm; hiếp dâm; lạm dụng tình dục; buôn bán trẻ em, phụ nữ, Số liệu báo cáo của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện Gia Lâm trong những năm gần đây (Năm 2010 là 109; năm 2011 là 116; năm 2012 là 117; năm
2013 là 118; năm 2014 là 117) cho thấy chênh lệch tỷ số giới tính khi sinh trên địa bàn huyện có xu hướng tăng cao liên tục Cho đến nay, tại huyện Gia Lâm chưa có một báo cáo toàn diện nào phân tích xu hướng MCBTSGTKS cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính thai nhi của các cặp vợ chồng ở địa phương Trước tình hình đó, đề tài nghiên cứu “Xu hướng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính thai nhi của các cặp vợ chồng tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2014” được thực hiện nhằm phân tích xu hướng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh tại huyện Gia Lâm
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận định lượng kết hợp với tiếp cận định tính Với tiếp cận định lượng, nghiên cứu tiến hành thu thập các báo cáo tổng kết, kế hoạch về công tác Dân số - KHHGĐ huyện Gia Lâm từ năm 2010 đến 2014 Với tiếp cận định tính, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu các cặp vợ chồng, bố mẹ chồng, lãnh đạo, cán bộ y tế và thực hiện thảo luận nhóm với lãnh đạo, chính quyền địa phương Khảo sát thực địa được thực hiện tại 3 xã huyện Gia Lâm từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015
Kết quả cho thấy TSGTKS trên địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 – 2014 đang ở mức cao và cao hơn hẳn so với mức chung của toàn thành phố Hà Nội Năm
2010, TSGTKS là 109, năm 2013 là 116, đến năm 2014 tỷ số này là 117,4 Trong
22 xã trên địa bàn huyện Gia Lâm, 3 xã có TSGTKS cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây: xã Dương Quang, xã Văn Đức và xã Cổ Bi TSGTKS tại những xã này
Trang 10trong những năm gần đây tăng cao với nguyên nhân chính vẫn là quan niệm trọng nam khinh nữ của người dân Phần lớn họ có tư tưởng ưa thích con trai để nối dõi tông đường, chăm sóc cha mẹ lúc về già Ngoài ra, nghiên cứu nhận thấy sự sẵn có thông tin về phương pháp lựa chọn giới tính và các dịch vụ giúp xác định và lựa chọn giới tính, việc áp dụng các biện pháp lựa chọn giới tính khi sinh như siêu âm, cắt thuốc uống theo nhận định của các bà mẹ có xác suất thành công cao, các đối tượng được khảo sát đều biết giới tính thai nhi trong quá trình mang thai và với các dịch vụ phá thai dễ dàng, nhiều bà mẹ đã lựa chọn phương pháp này để loại bỏ thai nhi khi giới tính không như mong muốn Sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật, quy định của nhân viên y tế cũng như người dân còn kém, sự ảnh hưởng của chính sách dân số kiểm soát mức sinh dẫn đến việc các bà mẹ lựa chọn giới tính khi sinh ở lần đầu và tăng dần ở các lần sinh tiếp theo
Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục về các quy định pháp luật cũng như làm cho người dân nhận thức rõ hơn về hậu quả của MCBTSGTKS; tăng cường tuyên truyền đến người dân về hậu quả MCBTSGTKS
có quy định nghiêm và chế tài xử phạt rõ ràng với cơ sở y tế tư nhân công bố giới tính khi sinh, phá thai lựa chọn giới tính; giáo dục về bình đẳng giới, lồng ghép nội dung bình đẳng giới vào các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện điều kiện sống và hệ thống an sinh xã hội; nên tuyên truyền để người dân phát hiện cung cấp bằng chứng về vi phạm để xử phạt cơ sở y tế tư nhân công bố giới tính khi sinh, phá thai lựa chọn giới tính
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) bắt đầu gia tăng tại một số quốc gia Châu
Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ từ cuối những năm 1970, cùng với sự xuất hiện của siêu âm và kỹ thuật chọc ối, giúp cho các cặp vợ chồng biết được giới tính của thai nhi Sau 20 năm, vào cuối những năm 1990, TSGTKS của Trung Quốc, Hàn Quốc lên tới 115 Ở Việt Nam, sự gia tăng bất thường của TSGTKS đã xuất hiện trong mấy năm gần đây, vấn đề này trở lên “nóng” và được xã hội quan tâm rất nhiều Theo số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009, TSGTKS có xu hướng tăng từ 107 năm 1999 lên 111 vào năm 2009 TSGTKS tăng không đồng đều giữa các vùng, các tỉnh Đặc biệt cao nhất ở Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh Hà Nội cũng là một trong những thành phố có tình trạng gia tăng TSGTKS: năm 2012,
tỷ số này là 116; năm 2013 là 115
Tại huyện Gia Lâm, theo báo cáo của Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) huyện, xu hướng mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh (MCBTSGTKS) đã xảy ra khi TSGTKS năm 2010 là 109, năm 2011 là 116 và năm
2014 là 119, trong đó một số xã có tình trạng MCBTSGTKS rất cao như: Dương Quang là 132, Đặng Xá 136, Kiêu Kỵ 135, Trâu Quỳ 133, Phù Đổng 130 [2] Theo nhận định, TSGTKS gia tăng trên địa bàn huyện do hành vi lựa chọn giới tính khi sinh, có trường hợp phá thai khi siêu âm và biết thai nhi không như ý muốn [2] Nếu tình trạng MCBTSGTKS kéo dài có thể gây hậu quả nghiêm trọng và đã được Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc cảnh báo: nếu xu hướng này lặp lại ở Việt Nam và lan rộng, diễn ra với tốc độ nhanh sẽ trở thành vấn đề nghiêm trọng trong tương lai, ảnh hưởng đáng kể đến cơ cấu giới tính và nhân khẩu học Nếu không có can thiệp hiệu quả để giảm MCBTSGTKS thì sau 20 năm nữa Việt Nam sẽ có 4,3 triệu thanh niên ít có cơ hội lấy được vợ trong nước Dù làm tốt can thiệp để giảm MCBTSGTKS tại thời điểm này thì con số đó cũng còn tới 2,3 triệu, tạo sự khan hiếm phụ nữ trong tương lai gây thêm áp lực về kết hôn độ tuổi trẻ hơn, tảo hôn, tăng nhu cầu mại dâm, buôn bán phụ nữ, bạo hành giới là nguy cơ mà phụ nữ và các
em gái phải đối mặt; có thể gây suy giảm chất lượng lao động, kéo tụt đà phát triển
Trang 12bền vững của đất nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc củng cố quốc phòng - an ninh…[40]
Trong khi TSGTKS có dấu hiệu tăng cao liên tục, cho đến nay tại huyện Gia Lâm chưa có một báo cáo toàn diện nào phân tích xu hướng MCBTSGTKS cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính thai nhi của các cặp vợ
chồng ở địa phương Vì vậy, việc thực hiện đề tài nghiên cứu: “Hành vi lựa chọn giới tính khi sinh và các yếu tố ảnh hưởng của các cặp vợ chồng tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 – 2014” thực sự cấp thiết Kết quả nghiên
cứu này sẽ góp phần cung cấp thêm bằng chứng khoa học giúp cho chính quyền địa phương có những biện pháp tích cực hơn trong thực hiện công tác Dân số - KHHGĐ trên địa bàn, đồng thời giúp các nhà hoạch định chính sách trong việc xây
dựng biện pháp phù hợp nhằm góp phần hạn chế MCBTSGTKS
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả hành vi lựa chọn giới tính khi sinh ở các cặp vợ chồng tại địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 – 2014
2 Mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính khi sinh tại địa bàn huyện Gia Lâm giai đoạn 2010 - 2014
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ cấu giới tính của dân số và xu hướng MCBTSGTKS
1.1.1 Một số khái niệm
Theo Điều 3 – Pháp lệnh Dân số định nghĩa: Dân số là tập hợp người sinh
sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý hoặc một đơn vị hành chính Như vậy, một tập hợp người sẽ bao gồm quy mô, cơ cấu, chất lượng của tập hợp người
đó và xét theo không gian là sự phân bố dân cư giữa các khu vực, vùng địa lý, kinh
tế, đơn vị hành chính
Cơ cấu Dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác (Điều 3 -
Pháp lệnh dân số) Theo cách xác định trên, cơ cấu dân số nhằm phản ánh các đặc
trưng của mỗi người dân và của toàn bộ dân số Các đặc trưng về giới tính, độ tuổi phản ánh về nhân khẩu học, các đặc trưng về dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn phản ánh về mặt kinh tế Ngoài ra các đặc trưng khác về giai cấp, thành phần xã hội nhằm phân loại tập hợp người theo các khía cạnh của đời sống xã hội
Tỷ số giới tính: là số nam giới so với 100 nữ giới tính chung trong toàn bộ dân số
Được tính theo công thức:
SR =
Tổng số nam
*100 Tổng số nữ
Tỷ số giới tính khi sinh: là số trẻ trai sinh ra so với 100 trẻ gái sinh ra trong
một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh Được tính theo công thức:
(SBR) = Số bé trai sinh ra
*100 Số bé gái sinh ra
TSGTKS thông thường 103 đến 106 trẻ nam so với 100 trẻ nữ được sinh ra, tỷ số này nhìn chung rất ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người Như vậy nếu tỷ số này thay đổi (số trẻ nam được sinh ra nhỏ hơn 103 hoặc lớn hơn 106) thì sẽ xảy ra MCBTSGTKS
Trang 151.1.2 Xu hướng MCBTSGTKS
1.1.2.1 Xu hướng MCBTSGTKS trên thế giới
Phần lớn các quốc gia trên thế giới có TSGTKS dao động ở mức 104-106 trẻ
em trai cho 100 trẻ em gái Tuy nhiên, TSGTKS đã tăng dần trong 25 năm qua ở một số quốc gia châu Á [18] Theo thống kê của Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc, Châu Á là nơi có sự MCBTSGTKS cao nhất thế giới đặc biệt là Trung Quốc và Ấn
Độ [5] TSGTKS ở một số vùng của hai quốc gia này rất cao, đạt mức trên 125 hoặc 130 Đáng chú ý nhất là các vùng phía Đông Trung Quốc hay Tây Bắc Ấn
Độ, có TSGTKS tăng liên tục từ những năm cuối thập kỷ 80 và đạt mức cao trên
Châu Á
Trung Quốc 120,6 2008 Ước lượng quốc gia
Ấn Độ 110,6 2006-08 Hệ thống đăng ký khai sinh mẫu
Pakistan 108,9 2003-07 Điều tra Nhân khẩu và Sức khỏe Hàn Quốc 106,4 2008 Hệ thống đăng ký khai sinh
Đông Nam Châu Âu
Albania 111,5 2008 Hệ thống đăng ký khai sinh
Trang 16Quốc gia/vùng TSGTKS Thời kỳ Nguồn số liệu
Montenegro 109,6 2004-08 Tỷ số giới tính trẻ em
Kosovo 112 2010 Hệ thống đăng ký khai sinh Macedonia 109 2009 Hệ thống đăng ký khai sinh
(Nguồn: Văn phòng thống kê, UNFPA 2010, Eurostat)
Ở một số nước trên thế giới, MCBTSGTKS xảy ra ngay từ lần sinh thứ nhất, thứ hai và cao nhất ở lần sinh thứ ba trở đi
Bảng 1.2 TSGTKS theo thứ tự sinh của một số nước [17]
Tên nước SRB lần 1 SRB lần 2 SRB lần 3 Năm thống kê
Armenia 106,8/100 110,4/100 176,9/100 2001-2008 Trung Quốc 108,4/100 143,2/100 156,4/100 2005
trong phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư và người dân [17]
Trang 17Biểu đồ 1.1 Tỷ số giới tính khi sinh ở Trung Quốc qua các năm [45]
Suốt từ những năm 1990 cho đến nay, TSGTKS ở Trung Quốc luôn ở mức cao và rất cao: năm 1990 là 111,3/100, năm 1995 là 116,8/100, năm 2000 là 119,9/100, năm 2005 là 120,5/100 và giai đoạn 2009 - 2011 vẫn ở mức 118,1/100 Qua kết quả điều tra chọn mẫu 2005 cho thấy tỷ lệ giới tính khi sinh của Trung Quốc đã rất cao (120,49); và ở 31 tỉnh/thành có sự chênh lệch rất lớn, tỉnh cao nhất là Giang Tây (137,31); thấp nhất là Tây Tạng (105,15), đây là tỉnh được coi như có
tỷ lệ giới tính khi sinh hoàn toàn bình thường theo quy luật nhân khẩu học Trong tổng số 31 tỉnh/thành có 3 tỉnh có mức trên 130; 8 tỉnh có mức trên 120; 16 tỉnh có mức trên 110 và chỉ có 4 tỉnh có mức trên 100, tức được coi là bình thường theo quy luật nhân khẩu học Phân tích theo thứ tự số sinh cho thấy rất rõ hành vi cố sinh con trai, tỷ lệ giới tính khi sinh của lần sinh thứ nhất là 108,41; đây là mức hoàn toàn bình thường theo quy luật nhân khẩu học Tỷ lệ giới tính khi sinh của con thứ hai đã vọt lên 143,22; đây là mức MCBTSGTKS nghiêm trọng, cao hơn mức MCBTSGTKS chung là 122,49 Đến tỷ lệ giới tính khi sinh của con thứ ba là 152,88; đây là mức quá bất bình thường Ngoài ra tình hình MCBTSGTKS vẫn tăng mạnh, theo Uỷ ban Dân số-KHHGĐ Trung Quốc, tại một số tỉnh như Hải Nam, Quảng Đông, sự mất cân bằng tăng nhanh với con số tương ứng 121,97 (2005) lên 135,6 (2007) và 119,93 (2005) lên 130,3 (2007) Mặc dù việc chọn lựa giới tính thai nhi bị nghiêm cấm, nhưng nhiều gia đình ở Trung Quốc vẫn "khát" con trai và bất chấp rủi ro, đặc biệt tại các khu vực nông thôn [17]
1.1.2.3 Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh ở Ấn Độ
Ấn Ðộ, với dân số hơn 1,2 tỉ người; là đất nước mà tình trạng mất thăng bằng về giới tính được đánh giá là đã vượt mức trung bình Rất nhiều phụ nữ Ấn Ðộ đang đặt tình trạng sức khỏe mình vào rủi ro, thậm chí có thể trở thành vô sinh, khi chấp nhận trải qua những vụ phá thai liên tục để chỉ sinh con trai Theo truyền thống Ấn
Độ, một gia đình phải có ít nhất một con trai, ngoài ra tập tục con gái muốn lập gia đình phải có của hồi môn cho nhà chồng, tuy bất hợp pháp nhưng cũng là một lý do nữa khiến phụ nữ muốn phá thai nếu biết sẽ sinh con gái Phá thai là hợp pháp ở Ấn
Trang 18Ðộ nên không chỉ phụ nữ thuộc tầng lớp nghèo mà phụ nữ ở vùng thành thị giàu có hơn cũng liên tục phá thai để cố sinh con trai Kết quả từ cuộc điều tra dân số mới nhất của Ấn Độ cho thấy tỷ lệ trẻ em nữ so với trẻ em nam đã xuống thấp kỷ lục kể
từ khi nước này độc lập vào năm 1947 [17]
Hiện toàn Ấn Độ tỷ lệ này là 914 trẻ em nữ so với 1.000 trẻ em nam ở độ từ
0-6 tuổi Tỷ lệ trung bình của thế giới hiện nay là 1.050 nữ/1.000 nam Tạp chí y tế Lancet của Anh trong một cuộc nghiên cứu thực hiện hồi năm 2006 cho thấy tại Ấn
Độ có nửa triệu bào thai được xác định là nữ đã bị bỏ Tình trạng trên xảy ra ngay cả tại những bang thịnh vượng nhất ở Ấn Độ như Punjab, Haryana, Delhi và Uttar Pradesh, có nghĩa là kinh tế tăng trưởng không phải là điều bảo đảm cho sự thay đổi nhận thức xã hội Nhờ vào sự tiến bộ của công nghệ, việc siêu âm để xác định giới tính thai nhi hiện chỉ tốn có 10 USD Mặc dù pháp luật nghiêm cấm và tại các phòng khám đều phải treo bảng “Không kiểm tra giới tính thai nhi” nhưng việc thực hiện lại rất lỏng lẻo, thậm chí người ta còn xách cả những chiếc máy siêu âm di động đến những khu làng hẻo lánh để thực hiện công việc đó [17, 28]
1.1.2.4 Thực trạng MCBTSGTKS tại Việt Nam
MCBTSGTKS ở Việt Nam diễn ra muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh
Ở Việt Nam, những số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 1989 và 1999 không cho thấy sự bất thường nào của TSGTKS [10] Do vậy không có nhiều bằng chứng về xu hướng này ở Việt Nam trong thập kỷ trên Nhưng một số nghiên cứu sâu lấy số liệu từ bệnh viện phát hiện ra rằng TSGTKS theo thứ tự sinh và giới tính của những đứa con được sinh trước đó cao hơn so với kỳ vọng và một số nhóm xã hội - đặc biệt là các cán bộ nhà nước có mức sống cao và cơ hội có học vấn cao - có
xu hướng chịu áp lực về việc phải lựa chọn giới tính của đứa con được sinh ra [10] Bước sang thiên niên kỷ mới, những nghiên cứu sâu hơn đã cho thấy Việt Nam đã xảy ra tình hình MCBTSGTKS Mặc dù năm 2000, TSGTKS vẫn bình thường ở mức 106 bé trai trên 100 bé gái, đến năm 2009, tỷ số này đã tăng lên mức
111 bé trai trên 100 bé gái; năm 2010 là 111,2; năm 2011 là 111,9 [23]; kết quả điều tra giữa kỳ năm 2014 tỷ số là 112 [12] Từ kết quả trên có thể thấy rằng MCBTSGTKS diễn ra muộn nhưng tốc độ gia tăng nhanh
Trang 19Tình trạng MCBTSGTKS ở Việt Nam xảy ra ở cả thành thị và nông thôn, nhiều vùng địa lý; một số vùng có TSGTKS cao liên tục qua nhiều cuộc điều tra; một số tỉnh TSGTKS đã ở mức rất cao
Kết quả Điều tra Biến động Dân số - KHHGĐ ngày 1/3/2011 cho thấy MCBTSGTKS xảy ra cả ở thành thị và nông thôn (nông thôn 111,1 và thành thị 114,2) [23]
Nghiên cứu phân tích sâu từ kết quả của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm
2009 cho thấy, ở cấp quốc gia không có sự khác biệt nào đáng kể về TSGTKS giữa khu vực nông thôn (110,6) và thành thị (110,7) Đây là một kết quả bất ngờ vì sự khác biệt nông thôn/thành thị là một đặc điểm quan trọng của hiện tượng MCBTSGTKS ở các quốc gia Châu Á khác Ở Việt Nam, TSGTKS ở khu vực nông thôn của các tỉnh phía Bắc cao hơn hẳn so với khu vực thành thị, thể hiện rõ rệt nhất
ở vùng Đồng bằng sông Hồng với TSGTKS ở nông thôn là 117 so với mức 111 ở thành thị Tương tự, các khu vực Bắc Trung bộ và Duyên Hải miền Trung cũng có khác biệt về TSGTKS ở khu vực nông thôn cao hơn ít nhất là 5 điểm phần trăm (biểu đồ 1.2) Ngược lại, ở các vùng khác, TSGTKS ở khu vực thành thị lại cao hơn
ở khu vực nông thôn Những phát hiện này cho thấy tính chất phức tạp về xã hội của hiện tượng này Một mặt, lựa chọn giới tính trước sinh đang diễn ra trong nhiều gia đình nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, nơi có văn hóa mang nặng tính gia phong
rõ nét hơn các khu vực khác Trong khi mức sinh giảm làm tăng nguy cơ không có con trai, thì nhu cầu có con trai có lẽ mạnh mẽ nhất trong các hộ gia đình nông nghiệp của vùng Đồng bằng sông Hồng Nhưng ở các vùng còn lại của cả nước, nhu cầu có con trai lại tỏ ra mạnh mẽ hơn ở các khu vực đô thị Các dịch vụ y tế tốt hơn tại các khu đô thị và mức sinh thấp hơn đã có tác động đến hiện tượng này Thực hành lựa chọn giới tính trước sinh đã diễn ra theo những cơ chế khác nhau giữa miền Bắc và các vùng còn lại của Việt Nam [18]
Thành thị Nông thôn
Trang 20Biểu đồ 1.2 Tỷ số giới tính khi sinh phân theo thành thị và nông thôn
Năm 1999 có 3/8 vùng địa lý kinh tế xảy ra MCBTSGTKS, thì đến năm 2011 con số này là 6/8, 2 vùng không xảy ra tình trạng này là Duyên hải miền Trung 103,3
và Tây Nguyên (104,3); cao nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng (122,4) Sự khác biệt này là hoàn toàn có ý nghĩa [23]
Biểu đồ 1.3 Tỷ số giới tính khi sinh theo khu vực [23]
Ở cấp tỉnh, năm 1999 có 36 tỉnh, thành phố xảy ra MCBTSGTKS trong đó có
28 tỉnh từ 110 trở lên; đến năm 2009 có 45 tỉnh, thành phố MCBTSGTKS (tăng thêm
Trang 219 tỉnh), trong đó có 35 tỉnh từ 110 trở lên (tăng thêm 7 tỉnh); có 10 tỉnh TSGTKS từ
115 trở lên; thậm chí có 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên vượt trên mức 120 TSGTKS cao ở những tỉnh xung quanh Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, trong đó cao nhất là các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng Sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định,… Đây là những địa phương thuộc vùng kinh tế năng động, tư tưởng nho giáo khá nặng nề, sự ưa thích con trai mãnh liệt và người dân có điều kiện tiếp cận khá dễ dàng các dịch vụ chọn lọc trước sinh [18]
Tỷ số giới tính khi sinh và thứ tự sinh
Biểu đồ 1.4 Tỷ số giới tính khi sinh theo các lần sinh [23]
(Nguồn: Báo cáo tổng quan về mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam)
Theo biểu đồ 1.4 tại Việt Nam cho đến nay các ước lượng đáng tin cậy về MCBTSGTKS theo thứ tự sinh chưa có do các mẫu phân tích quá nhỏ Số liệu phân tích kết quả TĐTDS 2009 cho thấy MCBTSGTKS xảy ra ngay từ lần sinh đầu tiên Điều này có nghĩa là một số cặp vợ chồng có thể đã thực hiện lựa chọn giới tính trước sinh ngay trong lần sinh thứ nhất Hiện tượng này hiếm khi được ghi nhận ở các quốc gia khác Đáng ngạc nhiên là TSGTKS lại thấp hơn ở lần sinh 2, tăng cao
ở lần sinh thứ 3
Trang 22Biểu đồ 1.5 TSGTKS theo thứ tự sinh và số con trai đã có trong các lần sinh
trước, cơ cấu giới tính của số con theo năm sinh
TSGTKS cao ở những gia đình có kinh tế khá giả, những phụ nữ có trình
độ học vấn cao
TSGTKS thấp nhất (105) ở nhóm 20% dân số nghèo nhất và tăng ở 3 nhóm dân cư giàu nhất (112) Đặc biệt đối với 20% dân số giàu nhất ở lần sinh thứ 3 trở lên, tỷ số giới tính khi sinh rất cao: 133 [10] TSGTKS thấp nhất (107) ở nhóm phụ
nữ không biết chữ và tăng dần theo trình độ học vấn, lên đến 114 ở nhóm các bà mẹ
có trình độ cao đẳng trở lên [18]
Những gia đình có kinh tế khá giả, những phụ nữ có trình độ học vấn cao, có mức sinh thấp hơn một cách rõ rệt so với các đối tượng khác Những phụ nữ có trình độ học vấn cao biết chủ động sử dụng các biện pháp tránh thai và chủ động điều chỉnh số con mong muốn; những phụ nữ này thường lại có điều kiện kinh tế tốt hơn để có thể chi trả dịch vụ lựa chọn giới tính trước sinh và họ thỏa mãn được cả 2 mục tiêu: quy mô gia đình nhỏ và có con trai [18]
Hậu quả của mất cân bằng giới tính:
Trang 23Theo Ủy ban về Các vấn đề xã hội đã tổng hợp và đưa ra những hậu quả về mất cân bằng giới tính khi sinh
Việt Nam bắt đầu xảy ra tình trạng MCBGTKS từ năm 2006 và sau khoảng 20-25 năm (tính từ năm 2006), số lượng nam giới trưởng thành sẽ nhiều hơn so với
nữ trưởng thành Như vậy, sẽ có nhiều đàn ông đến tuổi kết hôn nhưng không tìm được bạn đời tương ứng, từ đó có thể gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị và trật tự an toàn xã hội, cụ thể như:
Nam giới khó kết hôn, kết hôn muộn, thậm chí là không thể kết hôn do không tìm được bạn đời dẫn đến phải tìm cô dâu là người nước ngoài Trong khi việc kết hôn với người nước ngoài cũng có nhiều vấn đề này sinh như: khác biệt lớn về văn hóa, ngôn ngữ … sẽ dẫn đến nguy cơ ảnh hưởng đối với gia đình, phân biệt đối xử và mất bình đẳng giới
Ngoài ra, do gia đình nhà chồng hoặc người chồng muốn có con trai, khi người vợ không sinh được con trai theo ý muốn, người chồng bỏ rơi hoặc ly dị vợ; gia đình chồng ép người chồng bỏ rơi vợ, hay cặp vợ chồng đẻ được con gái, cho con gái đi làm con nuôi…
Tình trạng MCBGTKS đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng ở một số nước là thậm chí còn nghiêm trọng hơn so với Việt Nam như hiện tượng giết chết trẻ em gái mới sinh (rải rác xuất hiện ở Ấn Độ, Trung Quốc)
Hiện nay, hàng trăm ngàn cô dâu Việt Nam ở Hàn Quốc, Đài Loan; 65% trong số gần 5.000 vụ buôn bán người phát hiện trong 5 năm vừa qua là số phụ nữ Việt Nam bị bán, bị lừa đi lấy chồng Trung Quốc, có lẽ đó là những bằng chứng điển hình về hậu quả MCBGTKS [25]
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới MCBTSGTKS
Mô hình của Guilmoto năm 2009 về những áp lực góp phần vào hành vi lựa chọn giới tính
Trang 24Biểu đồ 1.6 Những áp lực góp phần vào hành vi lựa chọn giới tính [11]
Theo Guilmoto 2009 về các điều kiện cần thiết với tâm lý ưa thích con trai và nhu cầu chọn lọc giới tính trước sinh cần xem xét ba điều kiện:
- Thứ nhất và là điều kiện tiên quyết là sự hiện hữu của tâm lý ưa thích con trai trong xã hội Đây là một chiều cạnh phức tạp, bao hàm cả quan niệm truyền thống kế thừa từ quá khứ và các giá trị hiện đại hình thành từ sự chuyển đổi nền kinh tế trong thời gian qua
- Điều kiện thứ hai là sự có mặt của các cơ sở chăm sóc y tế hiện đại đáp ứng cho việc chẩn đoán và lựa chọn giới tính trước sinh
- Điều kiện cuối cùng là mức sinh thấp, bởi vì ít có con đồng nghĩa với tăng nguy cơ không có con trai
Một nghiên cứu khác tổng quan 37 tài liệu về chủ đề TSGTKS của các nước Châu Á đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc và Việt Nam năm 2010 của UNFPA cho thấy năm nhóm yếu tố: 1) Quan niệm và các chuẩn mực truyền thống; 2) Gia đình; 3) Những thay đổi về kinh tế - xã hội; 4) Chính sách và 5) Tiếp cận tới công nghệ là những yếu tố làm góp phần làm thay đổi TSGTKS tại các quốc gia này
Trang 25[10] Bảng dưới đây trình bày tóm tắt các yếu tố cơ bản góp phần làm thay đổi TSGTKS ở Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc và Việt Nam
Bảng 1.3 Các yếu tố góp phần làm thay đổi thay đổi TSGTKS ở Trung Quốc,
Ấn độ, hàn Quốc và Việt Nam [10]
Các yếu tố tác động tới sự gia tăng TSGTKS
Trung Quốc, Ấn độ, Hàn Quốc và Việt Nam
Trung Quốc
Ấn
Độ
Hàn Quốc
Việt Nam Các chuẩn mực và giá trị truyền thống/gia đình
1 Sự ưa thích con trai X X X X
2
Chi phí cao cho của hồi môn/chi phí nuôi
dạy con gái học ở trình độ cao hơn và cho
con gái lấy chồng muộn hơn
Không X Không Không
3 Khuôn mẫu giới truyền thống X ? ? X
4 Tích cực lựa chọn giới tính nhằm đạt được
quy mô gia đình mong muốn X X X X
5 Tuổi và số lần sinh của người mẹ X X X X
6
Tác động của các thành viên trong gia
đình có nhiều thế hệ bao gồm cả cha mẹ
chồng
7 Có chồng là con trai duy nhất ? X X ?
8 Mô hình phân công lao động truyền thống X X X ?
Các thay đổi về kinh tế - xã hội
9 Nâng cao học vấn và sự tham gia vào lực
lượng lao động của nữ giới X X X X
10 Phụ nữ có học vấn cao hơn X X X X
11 Di cư ra sống ở thành thị X X X X
12 Sự phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa
13 Các thay đổi trong đời sống/vị thế được
nâng cao do đô thị hóa ? X ? ?
Trang 26Các yếu tố tác động tới sự gia tăng TSGTKS
Trung Quốc, Ấn độ, Hàn Quốc và Việt Nam
Trung Quốc
Ấn
Độ
Hàn Quốc
Việt Nam Chính sách
14
Khoảng trống trong chính sách xã hội:
trong chăm sóc người già, bình đẳng giới
và các quy định pháp luật liên quan tới
việc sàng lọc giới tính
15 Hệ quả xã hội của việc áp dụng nghiêm
ngặt chính sách “có từ một tới hai con” X X X X
16 Chính sách nghiêm ngặt nhằm giữ gìn gia
đình truyền thống ? X Không ?
17 Chính sách kế hoạch hóa gia đình – một
con quá cứng nhắc X Không Không Không
18 Các nhà hoạch định chính sách chưa có
19 Luật pháp hóa việc nạo phá thai ba tháng
Tiếp cận công nghệ/thị trường
20 Sự sẵn có và tiếp cận với các công nghệ
21 Tiếp thị tới người tiêu dùng về công nghệ
lựa chọn giới tính X X X ?
22
Tư nhân hóa và thương mại hóa hệ thống
y tế tạo ra việc lạm dụng các thiết bị công
nghệ và xét nghiệm hiện đại
23
Tiếp cận dễ dàng và sự sẵn có của công
nghệ lựa chọn giới tính ở tất cả mọi nơi kể
cả khu vực nông thôn
24 Những người cung cấp dịch vụ y tế coi ? X ? ?
Trang 27Các yếu tố tác động tới sự gia tăng TSGTKS
Trung Quốc, Ấn độ, Hàn Quốc và Việt Nam
Trung Quốc
Ấn
Độ
Hàn Quốc
Việt Nam
Sàng lọc giới tính là một ngành kinh
doanh có lợi nhuận cao
Ghi chú:
X: Yếu tố ảnh hưởng lớn
Không: Yếu tố không ảnh hưởng
?: Không hoàn toàn được giải thích
* Các giá trị và chuẩn mực truyền thống/gia đình
Các giá trị truyền thống bắt nguồn từ hệ tư tưởng “Trọng nam khinh nữ” Ở Trung Quốc và Hàn Quốc, với ảnh hưởng Nho giáo, gia đình phải có người thờ cúng tổ tiên và nối dõi tông đường là yếu tố quyết định [10, 20, 26, 30, 32] Ở Ấn
Độ, sự ưa thích con trai không bắt nguồn từ việc thờ cúng tổ tiên nhưng lại nằm trong cội rễ của hệ thống gia trưởng, hôn nhân và thừa kế Sự ưa thích có con trai,
do đó, không phải là bị áp đặt hay bị ngăn cấm bởi những quan niệm đạo đức xuất phát từ trên tôn giáo mà là sự chấp nhận mang tính xã hội [10, 13, 29, 28, 31]
Theo nghiên cứu của Christophe Z Guilmoto năm 2009 về "Giai đoạn quá độ của TSGTKS ở châu Á", TSGTKS ở Tây và Đông Á không cân bằng, khoảng 110 Thậm chí ở Trung Quốc khoảng dưới 120, ở Ấn Độ trung bình là 108 Phần lớn nguyên nhân là do tâm lý ưa thích con trai do cần có người thừa kế, do truyền thống gia đình cần con trai nối dõi và do hệ quả của chính sách gia đình một con như ở Trung Quốc đã áp dụng nhiều năm qua và đặc biệt là sự sẵn sàng của công nghệ lựa chọn giới tính, khả năng để sử dụng lựa chọn các công nghệ chọn lọc giới tính hiện đại và áp lực quy mô gia đình nhỏ cần phải lựa chọn giới tính cho thế hệ tiếp theo của mình [38]
Cũng theo báo cáo của Christophe Z Guilmoto năm 2010 ở Nam Âu, tỷ số giới tính khi sinh ở Albania đã đạt tới 111,5 vào năm 2008, ở Kosovo là 108,9 vào năm
2009 Tỷ số này tăng cao ở một số nước là do lựa chọn giới tính, tâm lý ưa thích
Trang 28con trai và tránh đẻ con gái điển hình như ở Kosovo và vai trò quyền lực của tâm lý
ưa thích con trai ở Albania [39]
"Gia tăng TSGTKS có xảy ra ở Việt Nam không?" Khuất Thị Hải Oanh và cộng sự năm 2009 đã phân tích chi tiết hơn số liệu cuộc điều tra và số liệu bệnh viện không cho thấy TSGTKS theo thứ tự sinh và theo giới tính của trẻ em được sinh ra trước đó cao hơn với con số kỳ vọng và nghề nghiệp của mẹ trong xã hội dường như có nhiều động cơ, nhiều áp lực hơn để tác động tới giới tính của trẻ sinh
ra [39]
Một nghiên cứu định tính của UNFPA để tìm hiểu “Tại sao sinh con trai lại được khao khát tại Việt Nam?” cho thấy các yếu tố duy trì dòng dõi, thờ cúng tổ tiên, hỗ trợ khi về già, thừa kế (đặc biệt với những gia đình khá giả), áp lực gia đình/chuẩn mực của cộng đồng là những yếu tố ảnh hưởng tới xu hướng này [9]
Cùng với một số nước châu Á, chính bởi tư tưởng Nho giáo truyền thống nối dõi tông đường, có người thờ cúng đã làm tâm lý ưa thích con trai của người dân
Việt Nam trở nên mãnh liệt Tâm lý này được thể hiện rất rõ trong quan niệm “nhất
nam viết hữu, thập nữ viết vô” - có con trai mới được xem là có con, không có con
trai là tuyệt tự Quan niệm “con trai - nơi nương tựa của cha mẹ lúc về già” và
“con gái là con người ta”, “con rể là khách” Mặc dù những tập tục, quan niệm này
cho đến nay đã được giảm nhiều, không còn nặng nề như trước đây, song đã cho thấy một thực tế là: tất cả những điều đó đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân, cặp vợ chồng, dòng họ Hiện nay, phần lớn các thế hệ già và thế hệ trẻ đều dựa vào gia đình và với quan niệm nho giáo, cha mẹ phải dựa vào con trai [21]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Huệ về “Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi lựa chọn giới tính tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh năm 2012” đã cho thấy nguyên nhân chính là quan niệm trọng nam khinh nữ của người dân Những người vợ trong gia đình cần phải sinh ra con trai để nối dõi tông đường và thờ cúng sau này Việc mong muốn đó đã khiến nhiều cặp vợ chồng áp dụng theo sách vở hoặc đến các thầy lang, các bác sĩ tư để được tư vấn, hướng dẫn về chế độ ăn uống, sinh hoạt [4] Trong nghiên cứu Nguyễn Ngọc Mai cũng đưa ra kết quả tương tự, sự tồn tại tư tưởng trọng nam trong người dân và nó có ảnh hưởng mạnh mẽ sâu sắc đến
Trang 29mong muốn, quyết tâm sinh con trai của các cặp vợ chồng và từ đó tác động đến việc lựa chọn giới tính trước sinh của các cặp vợ chồng đó [7]
* Dịch vụ y tế hiện đại và tiếp cận thông tin dễ dàng
Theo Almond và Douglas về "Tỷ số giới tính thiên về con trai năm 2000, Tổng điều tra dân số Hoa Kỳ", nghiên cứu tập trung tìm hiểu về TSGTKS của trẻ
em có bố mẹ là người gốc Hoa, Hàn, Ấn để đối chứng với TSGTKS tại các quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ cho thấy sự trùng lặp về mô hình thiên lệch về con trai ở những lần sinh cao hơn Sự mất cân bằng thiên về con trai được hiểu là bằng chứng cho việc lựa chọn giới tính từ khi mang thai và kết quả của việc tiếp thị tới khách hàng công nghệ lựa chọn giới tính qua xét nghiệm máu tại thời kì đầu của giai đoạn mang thai [36]
Theo dữ liệu được công bố gần đây nhất về TSGTKS đã khẳng định sự tiếp cận thông tin ngày càng dễ dàng về công nghệ lựa chọn giới tính chất lượng cao đang cho phép nhiều cặp vợ chồng điều chỉnh hành vi sinh sản để có thể sinh con trai như mong ước Các cặp vợ chồng chủ động tìm kiếm và sử dụng công nghệ lựa chọn giới tính chất lượng cao và phá thai vì mục đích lựa chọn giới tính; Chúng ta biết rằng dịch vụ kiểm tra giới tính và phá thai sẵn có và chi phí có thể chấp nhận được Ước tính trung bình một phụ nữ Việt Nam có ít nhất 2 lần phá thai trong suốt cuộc đời sinh sản của mình [10]
Hiện nay, nhiều người vừa muốn sinh ít con lại vừa muốn có con trai nên họ đã lạm dụng những tiến bộ khoa học công nghệ để thực hiện mong muốn này Áp
dụng từ lúc bắt đầu chuẩn bị có thai (chế độ ăn uống, chọn ngày phóng noãn );
trong lúc thụ thai (chọn thời điểm phóng noãn, chọn phương pháp thụ tinh, lọc rửa
tinh trùng để chọn tinh trùng mang nhiễm sắc thể Y ); khi đã có thai (sử dụng siêu
âm, chọc hút dịch ối ) để chẩn đoán giới tính, khi thai là con trai thì họ giữ lại, còn nếu thai là con gái thì họ bỏ đi [21]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Bằng và cộng sự năm 2011 về "Bằng chứng trực tiếp sự lựa chọn giới tính thai nhi ảnh hưởng đến tỷ số giới tính khi sinh" tại Việt Nam đã cho thấy hệ quả của việc biết được giới tính thai nhi qua siêu âm, và nạo phá thai nữ đã làm cho tỷ số giới tính khi sinh của Việt Nam tăng lên nhiều
Trang 30trong những năm gần đây Tỷ số giới tính khi sinh của phụ nữ biết giới tính thai nhi là 110,8; và 110,0 ở những người biết qua siêu âm thai từ tuần 12 trở đi [37]
Theo báo cáo của Tổng cục thống kê sự gia tăng tình trạng MCBTSGTKS trong thời gian qua, đặc biệt là những năm gần đây rất đáng lo ngại Việc mong muốn có con trai đã tồn tại trong tâm lý của người Châu Á nói chung và người Việt Nam nói riêng hàng nghìn năm nay Tuy nhiên, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và cơ hội tiếp cận nó ngày càng dễ dàng và thuận lợi của người dân, việc thực thi luật pháp trong việc lựa chọn giới tính thai nhi chưa nghiêm, an sinh xã hội còn chưa đảm bảo nên nhiều người dân mong có con trai để nương tựa tuổi già, đã khiến TSGTKS ngày càng tăng [21]
* Chính sách
Một yếu tố khác có thể góp phần làm tăng TSGTKS ở Việt Nam là việc thực hiện chính sách quy mô mỗi gia đình chỉ có “một hoặc hai con” Các nghiên cứu cho thấy rằng trong khi trên cả nước các cặp vợ chồng được khuyến khích là chỉ nên
có hai con thì chính sách này lại được áp dụng nghiêm ngặt hơn với Đảng viên và cán bộ nhà nước Hầu như đối tượng này có trình độ học vấn cao hơn và điều kiện kinh tế tốt hơn, việc tiếp cận với các thông tin về phương pháp lựa chọn giới tính khi sinh theo nhiều hình thức hơn, dễ dàng hơn [10]
Với việc tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, các dịch vụ có thể lựa chọn giới tính dễ dàng thì người dân tiếp cận với những công nghệ này nhiều hơn, ví dụ: Mặc dù đã có văn bản pháp quy (Điều 10 Nghị định 104/2003 của Chính phủ) về việc cấm chẩn đoán, lựa chọn giới tính thai nhi dưới mọi hình thức, xong vấn đề này vẫn chưa được quan tâm, việc quản lý các cơ sở thực hiện dịch vụ y tế vẫn còn lỏng lẻo
Mặt khác, hệ thống an sinh xã hội cho người cao tuổi chưa phát triển, nhất là ở các khu vực nông thôn, nơi có tới 70% dân số đang sinh sống Người cao tuổi hầu hết không có lương hưu, hay trợ cấp xã hội, họ cần sự chăm sóc về y tế Tất cả phụ thuộc vào khả năng phụng dưỡng của con cái, mà theo quan niệm của gia đình truyền thống, trách nhiệm đó chủ yếu thuộc về con trai Chính vì vậy, người già
Trang 31luôn cảm thấy lo lắng cho tương lai và cảm thấy bất an nếu không có con trai, người
phụ nữ trong gia đình sẽ luôn phải chịu áp lực này [20]
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Gia Lâm là một huyện ngoại thành, nằm ở cửa ngõ Đông Bắc của thành phố Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Bắc Ninh, phía Nam giáp với tỉnh Hưng Yên, phía Tây giáp với quận Long Biên và Hoàng Mai, phía Bắc giáp với huyện Đông Anh Huyện có 1.147.299 ha đất tự nhiên, 643.762 ha đất nông nghiệp (chiếm 56,11%), 485.306 ha đất phi nông nghiệp (chiếm 42,03%) và 181,7 ha đất chưa sử dụng (chiếm 1,58%)
Huyện Gia Lâm có 259.258 người, gồm 20 xã và 02 thị trấn, là nơi có bề dày truyền thống văn hoá và lịch sử, tự hào là quê hương của Phù Đổng Thiên Vương, biểu tượng khí phách quật khởi của dân tộc Việt Nam, đậm đà bản sắc văn hoá Kinh Bắc và văn hoá Thăng Long – Hà Nội ngàn năm văn hiến
Địa bàn là khu vực phát triển đô thị ở phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, là nơi tập trung các công trình đầu mối giao thông và hạ tầng kỹ thuật quan trọng của quốc gia và thành phố (có đường quốc lộ 5, 1A, 1B, một phần quốc lộ 3, đường sắt Hà Nội – Lào Cai – Lạng Sơn – Quảng Ninh – Hải Phòng) thuận lợi cho việc lưu thông trong nước và quốc tế nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ tai nạn giao thông, dịch bệnh
Trên địa bàn huyện tập trung nhiều làng nghề truyền thống như Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (đồ gỗ), Ninh Hiệp (trồng, kinh doanh thuốc Bắc và buôn bán vải)…
Huyện Gia Lâm có giá trị sản xuất nông, thủy sản năm sau cao hơn năm trước Một số cây trồng hiệu quả kinh tế thấp có xu hướng giảm dần, được trồng thay thế bằng cây ăn quả, rau, hoa và cây cảnh có giá trị kinh tế cao hơn Gia Lâm cũng đã quy hoạch một số vùng sản xuất rau an toàn, tập trung tại các xã: Văn Đức, Lệ Chi, Đặng Xá Đời sống của người dân trong huyện được nâng lên rõ rệt
Theo báo cáo công tác Dân số - KHHGĐ huyện Gia Lâm, số con trung bình của mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 2,26 con năm 2008, năm 2012 xuống còn 2,21 con, tỷ suất sinh thô giảm từ 18,24%o năm 2008 xuống còn 16,82%o năm
Trang 322014, cao hơn so với tỷ suất chung của thành phố (16,5%o năm 2014); tỷ lệ dân số
tự nhiên giảm dần từ 1,6% xuống còn 1,28% năm 2014, tỷ lệ sinh con thứ ba trở lên giảm từ 9,47% năm 2012 còn 7,17% năm 2014, tỷ lệ này thấp hơn mặt bằng chung của thành phố Hà Nội (7,43% năm 2014), cao hơn so với các quận khác nhưng thấp hơn so với các huyện ngoại thành: quận Long Biên là 3,27%, huyện Đông Anh là 9,18%, huyện Sóc Sơn là 10,25% [1, 2, 15]
Trong những năm gần đây, công tác Dân số – KHHGĐ có những chuyển biến tích cực, chất lượng dân số được nâng lên, tuy nhiên vẫn phải đối mặt với những thách thức, khó khăn trong thời gian tới: Quy mô dân số lớn, mật độ dân cư đông, tỷ
lệ sinh, sinh con thứ ba có giảm nhưng chưa bền vững, TSGTKS cao
Biểu đồ 1.7 MCBTSGTKS của huyện Gia Lâm và một số quận huyện thuộc
Hà Nội
Theo thống kê số liệu của Tổng cục dân số - kế hoạch hóa gia đình, Chi cục dân số - kế hoạch hóa gia đình Thành phố Hà Nội và Trung tâm dân số - kế hoạch hóa gia đình huyện Gia Lâm cho thấy TSGTKS tại Hà Nội và huyện Gia Lâm cao hơn rất nhiều so với toàn quốc [17]
Trang 331.4 Khung lý thuyết
Mất cân bằng
tỷ số giới tính khi sinh
Yếu tố cá nhân:
- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp
- Nơi sinh sống
- Nguồn thu nhập
- Tâm lý thích con trai
- Áp lực sinh con trai
Yếu tố chính sách và thực hiện chính sách dân số:
- Áp lực giảm sinh
- Việc xử lý các trường hợp vi phạm chính sách dân số
mang tính hình thức, lỏng lẻo
- Chưa có chế độ hay chính sách an sinh xã hội cho người già
- Quản lý các cơ sở làm dịch vụ y tế còn lỏng lẻo
Yếu tố gia đình:
- Tư tưởng nho giáo
- Tác động là con 1, con trưởng, trưởng dòng họ
- Tư tưởng sinh dự phòng tránh rủi ro
- Điều kiện kinh tế
Yếu tố văn hóa – xã hội:
- Tư tưởng ưa thích con trai trong xã hội nói chung
- Tư tưởng trọng nam khinh nữ
- Có con trai để nương tựa tuổi già
- Áp lực từ những người xung quanh đã có con trai
- Trào lưu sinh con năm đẹp, hợp tuổi bố/mẹ
- Việc tiếp cận thông
tin về sinh con theo
ý muốn dễ dàng:
internet, sách, tài
liệu về sinh con theo
ý muốn…
Trang 34Trong khung lý thuyết này, hành vi được coi là lựa chọn giới tính trước sinh của bà mẹ với 3 tiêu chí: sử dụng phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi, xác định giới tính thai nhi, loại bỏ thai nhi, và điều này dựa trên nghị định 104/2003/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện pháp lệnh dân số [12]
Nhiều nghiên cứu chỉ ra MCBTSGTKS và các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính trước sinh của bà mẹ, nghiên cứu này tổng hợp được 5 yếu tố: văn hóa, bản thân người phụ nữ, pháp luật, dịch vụ y tế và truyền thông, từ đó tìm được đặc trưng cũng như giải pháp phù hợp đối với địa bàn nghiên cứu [3, 7]
Trang 35CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
Đối tượng nghiên cứu ở đây là các báo cáo tổng kết, kế hoạch về công tác Dân số
- KHHGĐ huyện Gia Lâm từ năm 2012 đến 2014
2.1.2 Nghiên cứu định tính
Đối tượng nghiên cứu theo phương pháp thiết kế nghiên cứu định tính gồm những cặp vợ chồng sinh sống trên địa bàn huyện Gia Lâm và đủ điều kiện sau:
- Cặp vợ chồng có hành vi lựa chọn giới tính trước sinh (bắt mạch cắt thuốc
đẻ con trai hoặc thực hiện chế độ ăn uống hoặc thời điểm giao hợp hay đã thực hiện nạo phá thai…)
- Cặp vợ chồng sinh con một bề là gái có ý định sinh thêm con
- Bố/mẹ chồng
- Lãnh đạo chính quyền, các ngành, đoàn thể (Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội người cao tuổi)
- Cán bộ làm công tác Dân số - KHHGĐ xã
- Lãnh đạo trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện
- Cán bộ y tế (1 bác sỹ sản bệnh viện công lập, 1 bác sỹ tư)
- Một số người có uy tín trong cộng đồng (trưởng thôn)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Gia Lâm, Hà Nội
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng phương pháp thiết kế nghiên cứu định tính
2.4 Cỡ mẫu
Phỏng vấn sâu:
Cỡ mẫu xác định như trong bảng sau:
Trang 36TT Đối tượng
Số lượng/
xã Số xã
Tổng cộng
1
Cặp vợ chồng sinh con một bề gái có ý
định sinh thêm con có hành vi lựa chọn
giới tính thai nhi (Nạo phá thai, siêu
âm, chọn ngày rụng trứng…)
2
Cặp vợ chồng đã sinh con năm 2013
hoặc 2014 có hành vi lựa chọn giới tính
thai nhi (canh trứng, chế độ ăn uống…)
4 Cán bộ khoa sản BV Gia Lâm 1 1 1
5 Bác sĩ sản tư nhân 1 1 1
6 Lãnh đạo Trung tâm Dân số - KHHGĐ
1 cuộc x 3 xã = 3 cuộc TLN
Trang 37Bước 2: Chọn đối tượng phỏng vấn: thảo luận với cán bộ chuyên trách dân số của xã được chọn để xác định và lập danh sách đối tượng phỏng vấn: những cặp vợ chồng sinh con một bề chưa có con trai, có ý định sinh thêm con và có hành vi lựa chọn giới tính khi sinh (bắt mạch uống thuốc, thực hiện chế độ ăn uống, thời điểm giao hợp hoặc đã nạo phá thai…)
Trên cơ sở danh sách đó chúng tôi đã phỏng vấn 6 cặp vợ chồng sinh con một bề chưa có con trai muốn sinh thêm con và 9 cặp vợ chồng đã sinh con có hành vi lựa chọn giới tính khi sinh (sinh con từ năm 2013 – 2014) Phỏng vấn đối tượng các
bà mẹ, bản thân họ tự nhận là họ đã phá thai lựa chọn giới tính
Do nghiên cứu định tính cần nhìn nhận vấn đề từ nhiều nguồn thông tin, thông qua quan niệm và kinh nghiệm từ nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, nên nghiên cứu của chúng tôi đã chọn thêm các đối tượng phù hợp có thể cung cấp nhiều thông tin cho nghiên cứu Các đối tượng này là người ảnh hưởng đến việc ra quyết định sinh con của các cặp vợ chồng hoặc là các bên liên quan có hiểu biết và thực thi về chính sách cũng như tác động nhất định đến hành vi lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp vợ chồng
Các bên liên quan trong nghiên cứu của chúng tôi: liên quan đến gia đình của các cặp vợ chồng có bố/mẹ chồng, liên quan đến cộng đồng có lãnh đạo Trung tâm dân số - Kế hoạch hóa gia đình huyện, xã, cán bộ y tế hành nghề sản khoa cũng tham gia vào nghiên cứu
Tổng số có 24 đối tượng tham gia phỏng vấn sâu trong nghiên cứu này
Thảo luận nhóm: Chọn có chủ đích đại diện lãnh đạo chính quyền, một số ngành đoàn thể gồm: Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội người cao tuổi, cán bộ y tế xã, cán bộ phụ trách sản tại xã, trưởng thôn Mỗi cuộc thảo luận nhóm gồm 8 người, người được chọn đồng ý tham gia thảo luận nhóm
2.6 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
Mỗi cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm được tiến hành bởi 2 nghiên cứu viên: 1 nghiên cứu viên đảm nhiệm vai trò phỏng vấn, 1 nghiên cứu viên đảm nhiệm vai trò ghi chép và quan sát Sau mỗi cuộc phỏng vấn, các nghiên cứu viên
Trang 38tiến hành gỡ băng kèm bảng ghi chép, tổng hợp thông tin và chỉnh sửa bảng hướng dẫn phỏng vấn cho phù hợp
Phỏng vấn sâu các cặp vợ chồng sinh con một bề có ý định sinh thêm con, các cặp vợ chồng thực hiện hành vi lựa chọn giới tính khi sinh và bố/mẹ chồng: Xây dựng bộ câu hỏi hướng dẫn phỏng vấn sâu Mỗi cuộc phỏng vấn tiến hành trong khoảng 30 – 60 phút, có ghi âm Phỏng vấn các đối tượng vào thời điểm khác nhau Thời gian phỏng vấn phụ thuộc vào thời gian rảnh rỗi của đối tượng được phỏng vấn (được hẹn trước), phỏng vấn tại nhà Kết thúc buổi phỏng vấn, nghiên cứu viên
sẽ nghe lại quá trình phỏng vấn qua băng ghi âm và ghi lại những nội dung chính liên quan đến mục tiêu nghiên cứu và rút kinh nghiệm để điều chỉnh bản hướng dẫn phỏng sâu cho các đối tượng tiếp theo
Thảo luận nhóm với các thành phần lãnh đạo chính quyền, một số ngành, đoàn thể, cán bộ y tế, cán bộ dân số, người có uy tín trong cộng đồng để tìm ra những nguyên nhân khác nhau về lựa chọn giới tính khi sinh tại các xã Tiến hành thảo luận nhóm trong khoảng 1 – 2 tiếng, có ghi âm Thời gian và địa điểm tiến hành thảo luận nhóm tại hội trường UBND xã Điều tra viên giới thiệu và làm quen với các thành viên trong buổi thảo luận nhóm, tạo không khí vui tươi, gần gũi, thoải mái cho các thành viên Trong buổi thảo luận có 1 thư ký ghi lại những ý kiến Nghiên cứu viên là người chủ trì, duy trì và kiểm soát toàn bộ buổi thảo luận, điều tiết các ý kiến thảo luận Cuối buổi, trao đổi lại với các thành viên tham gia về các ý kiến khác được chia sẻ thêm Kết thúc buổi thảo luận, nghiên cứu viên nghe lại băng ghi
âm và ghi chép lại những từ khóa liên quan đến mục tiêu nghiên cứu và rút ra kinh nghiệm để điều chỉnh bản hướng dẫn thảo luận nhóm cho các buổi tiếp theo
2.7 Các chỉ số, biến số nghiên cứu
Trang 392.7.2 Chủ đề phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
Thực trạng hành vi lựa chọn giới tính khi sinh của các cặp vợ chồng sinh
con một bề có ý định sinh thêm con:
+ Thực trạng MCBTSGTKS ở địa phương
+ Thái độ, hành vi, nguyện vọng của các cặp vợ chồng, gia đình, dòng họ về vấn đề lựa chọn giới tính
+ Thực trạng áp dụng biện pháp sinh con theo ý muốn của người mẹ bao gồm cả nạo phá thai do giới tính
Các yếu tố tác động tới hành vi lựa chọn giới tính trước sinh:
+ Yếu tố bản thân người phụ nữ thích con trai
+ Yếu tố gia đình: điều kiện kinh tế, gia đình con một, con trưởng, trưởng họ…
+ Yếu tố văn hóa – xã hội: truyền thống ưa thích con trai, xung quanh các gia đình đã có con trai
+ Yếu tố về phương tiện truyền thông: dễ tiếp cận, dễ tìm hiểu về việc lựa chọn giới tính khi sinh
+ Yếu tố dịch vụ y tế: tính sẵn có các dịch vụ trên địa bàn
+ Yếu tố chính sách, pháp luật: chính sách áp dụng giảm sinh, chính sách kỷ luật đảng viên vi phạm chính sách Dân số - KHHGĐ, chính sách quản lý các dịch
vụ chẩn đoán và lựa chọn giới tính (thanh tra, giám sát, xử phạt, )
2.8 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Tỷ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai được sinh ra còn sống trên 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong khoảng thời gian một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh [19]
Ở mức bình thường, tự nhiên, TSGTKS ở mức 105/100 (dao động trong khoảng 104-106/100), đây là tỷ số rất được các nhà hoạch định chính sách quan tâm, bởi sự tác động của nó đến cấu trúc dân số sau này [25]
Độ tin cậy của TSGTKS phụ thuộc rất lớn vào mẫu số được điều tra, mẫu số càng lớn thì độ tin cậy càng cao Và chỉ khi nào mẫu số được thống kê trên 10.000 trẻ thì con số đó mới có giá trị thống kê Các số liệu về TSGTKS tính chung trong
Trang 40cả nước được nêu trên đây là đáng tin cậy Tuy nhiên trên địa bàn huyện hay xã thì không có nơi nào đạt được số trẻ sinh ra là 10.000 trẻ/năm nhưng ta có thể thấy được xu hướng TSGTKS tăng của địa phương đó Ngoài ra, cũng có thể tham khảo TSGTKS của nhóm 0 tuổi hoặc nhóm 0 – 4 tuổi TSGTKS của nhóm 0 – 4 tuổi cũng tăng từ 108,65 (Tổng điều tra dân số1.4.2009) lên 111 (1.4.2010), đây là
những dấu hiệu đáng báo động về TSGTKS hiện nay [22]
Mất cân bằng tỷ số giới tính khi sinh là số trẻ em trai được sinh ra còn sống cao hơn hay thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ em gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh Theo quy ước nhân khẩu học, khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một tỉnh/thành phố từ 110 trở lên là mất cân bằng giới tính khi sinh [19]
Theo Điều 10 Nghị định 104 (Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số) với nội dung nghiêm cấm các hành vi lựa chọn giới tính thai nhi, định nghĩa về hành vi lựa chọn giới tính ở đây là những việc làm có liên quan đến việc lựa chọn giới tính như:
- Phổ biến, hướng dẫn, tuyên truyền các sách, phương pháp lựa chọn giới tính thai nhi
- Xác định giới tính thai nhi bằng các biện pháp siêu âm, bắt mạch, xét nghiệm máu, gen, nước ối, tế bào…
- Loại bỏ thai nhi như phá thai, biện pháp đình chỉ thai nghén khi biết giới tính thai là nữ
2.9 Phân tích số liệu
Số liệu báo cáo được tổng hợp phân tích theo mục tiêu nghiên cứu
Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và ghi chép đầy đủ (có sự đồng ý của đối tượng tham gia nghiên cứu) Băng ghi âm được gỡ một cách trung thực, đánh máy ghi chép vào file word, sau đó được mã hóa Phương pháp phân tích và tổng hợp theo chủ đề sẽ được áp dụng Sau đó mỗi chủ đề nghiên cứu
sẽ được so sánh giữa các đối tượng nghiên cứu và tổng hợp lại để rút ra kết quả nghiên cứu