Theo Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015 với mục tiêu từng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh n
Trang 1KIỀU LỘC THỊNH
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NƯỚC MÁY TẠI THÀNH PHỐ
RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội, 2017
Trang 2KIỀU LỘC THỊNH
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG NƯỚC TRONG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI NƯỚC MÁY TẠI THÀNH PHỐ
RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS PHẠM NGỌC CHÂU
Hà Nội, 2017
Trang 3Để hoàn thành chương trình khóa đào tạo thạc sỹ Y tế công cộng và luận văn tốt nghiệp, với tất cả tấm lòng tôi xin trân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, các Phòng - Khoa, bộ môn cùng sự nhiệt tình giảng dạy của quý Thầy, quý
Cô Trường Đại Học Y Tế Công Cộng Hà Nội, đã tạo điều kiện thuận lợi và hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc PGS.TS Phạm Ngọc Châu và Ths Trần Khánh Long là những Thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Ban Giám đốc, các Khoa/Phòng và các bạn đồng nghiệp Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Kiên Giang; Ban lãnh đạo Công ty TNHH MTV cấp thoát nước Kiên Giang (Kiwaco) đã hỗ trợ và chấp thuận tham gia vào nghiên cứu để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng tôi xin ghi nhận sự quan tâm động viên, giúp đỡ với tấm lòng sâu sắc của gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp luôn động viên, chia sẻ thời gian và công sức để tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình học tập
Tôi xin ghi nhận tất cà những tình cảm và công lao ấy
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Học viên Kiều Lộc Thịnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
MỤC LỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC BẢNG, HÌNH BIỂU ĐỒ iv
TÓM TẮT ĐỀ TÀI v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm về nước ăn uống và cơ sở cung cấp nước 4
1.2 Tình hình cấp nước trên thế giới và Việt Nam 4
1.2.1 Tình hình cấp nước trên thế giới 4
1.2.3 Tình hình cấp nước tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 8
1.3 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến đời sống và sức khỏe con người 9
1.3.1 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến đời sống con người 9
1.3.2 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến sức khỏe con người 10
1.4 Sự ô nhiễm môi trường nước trên thế giới và tại Việt Nam 11
1.4.1 Sự ô nhiễm môi trường nước trên thế giới 11
1.4.2 Sự ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam 13
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối nước cấp14 1.5.1 Công tác giám sát chất lượng nước 14
1.5.2 Công tác kiểm tra, giám sát hệ thống, trục cấp nước 16
1.6 Cấp nước an toàn tại Việt Nam 18
1.7 Một số nghiên cứu về chất lượng nước cấp 22
1.8 Tiêu chuẩn đánh giá và ý nghĩa một số chỉ tiêu chất lượng nước ăn uống 23
1.9 Giới thiệu tóm tắt đặc điểm địa bàn nghiên cứu 25
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 30
2.1.2 Nghiên cứu định tính 30
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 30
Trang 52.4 Cỡ Mẫu và phương pháp chọn mẫu 31
2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng 31
2.4.2 Mẫu nghiên cứu định tính 32
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 33
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng 33
2.5.2 Nghiên cứu định tính 33
2.6 Các biến số trong nghiên cứu 34
2.6.1 Biến số về nghiên cứu định lượng 34
2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 35
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 35
2.8 Chỉ tiêu xét nghiệm và các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu 36
2.9 Phân tích số liệu 37
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khống chế sai số 37
2.11 Đạo đức trong nghiên cứu 38
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thực trạng chất lượng nước cấp tại chi nhánh cấp nước số 1 và 2 trên địa bàn thành phố Rạch Giá 39
3.1.1 Chất lượng nước cấp tại chi nhánh cấp nước số 1 39
3.1.2 Chất lượng nước chi nhánh cấp nước số 2 44
3.1.3 Chất lượng nước trên hai chi nhánh cấp nước số 1 và 2 49
3.2 Hàm lượng Clo dư và tỷ lệ nhiễm VSV trong hệ thống cấp nước chi nhánh số 1 và 2 50 3.2.1 Hàm lượng Clo dư trong hệ thống cấp nước chi nhánh cấp nước số 1 50
3.2.2 Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật nước cấp trong hệ thống trục cấp nước chi nhánh số 1 51
3.2.3 Hàm lượng Clo dư trong hệ thống cấp nước chi nhánh cấp nước số 2 54
3.2.4 Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật nước cấp trong hệ thống trục cấp nước chi nhánh số 2 55
3.2.5 Hàm lượng Clo dư và tỷ lệ nhiễm vi sinh vật trên 2 chi nhánh cấp nước số 1 và 2 58
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối nước máy chi nhánh số 1 và 2 60
3.3.1 Ảnh hưởng của yếu tố quản lý đến thực trạng tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối nước cấp 60
3.3.2 Yếu tố kỹ thuật về quản lý hệ thống đường ống ảnh hưởng đến cấp nước an toàn 63
Trang 6Chương 4: BÀN LUẬN 67
4.1 Thực trạng chất lượng nước cấp trên địa bàn thành phố Rạch Giá 67
4.2 Sự biến đổi Clo dư và tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống trục cấp nước: 71
4.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tái nhiễm VSV trong hệ thống cấp nước số 1 và 2 73
4.3.1 Yếu tố giám sát chất lượng nước đầu ra của nhà máy 73
4.3.2 Yếu tố kiểm tra giám sát chất lượng nước cấp 74
4.3.3 Yếu tố quản lý hệ thống phân phối nước cấp 76
KẾT LUẬN 78
KHUYẾN NGHỊ 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1 - Giới hạn các chỉ tiêu chất lượng nước ăn uống như sau:
Phụ lục 2 - Kết quả xét nghiệm mẫu nước của chi nhánh cấp nước số 1 và 2
Phụ lục 3 – Kết quả xé nghiệm chất lượng nước năm 2016
Phụ lục 4 - Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu nước đầu ra của nhà máy nước
Phụ lục 5 - Nội dung gợi ý phỏng vấn sâu lãnh đạo nhà máy nước
Phụ lục 6 - Nội dung gợi ý phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách hệ thống phân phối đường ống Phụ lục 7 - Nội dung gợi ý phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát chất lượng nước TTYTDP
Phụ lục 8 - Định nghĩa các biến số trong nghiên cứu
Phụ lục 9 – Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ tiêu trong nước cấp theo QCVN 01:2009/BYT
Phụ lục 10 - Kỹ thuật lấy mẫu nước trên hệ thống phân phối
Phụ lục 11 - Kỹ thuật bảo quản mẫu nước
Phụ lục 12 - Các phương pháp phân tích các chỉ tiêu trong nước
Trang 7Bar Đơn vị đo áp lực nước
CFU Colony Forming Units là số đơn vị khuẩn lạc trong 1 ml mẫu ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
E.coli Escherichia coli
HACH Thiết bị đo clo dư trong nước máy
HDPE Hight Density Poli Etilen (Ống chuyên dùng cho ngành nước) KQXN Kết quả xét nghiệm
Kiwaco Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cấp thoát nước
Kiên Giang
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
UNICEF Quỹ nhi đồng thế giới
WHO Tổ chứ Y tế thế giới
Trang 8MỤC LỤC BẢNG, HÌNH BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hệ thống cấp nước tại Kiên Giang 26
Hình 1.1: Bản đồ phân bố khu vực cấp nước 27
Bảng 1.1 Năng lực sản xuất của các đơn vị cấp nước trong tỉnh 28
Bảng 2.1 Tổng hợp mẫu nước được lấy trong nghiên cứu 32
Bảng 2.2 Các chỉ tiêu và phương pháp phân tích 36
Bảng 3.1 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 1 - chi nhánh số 1 39
Bảng 3.2 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 2 - chi nhánh số 1 40
Bảng 3.3 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 3 - chi nhánh số 1 41
Bảng 3.4 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại chi nhánh cấp nước số 1 42
Biểu đồ 3.1 So sánh chất lượng nước của 3 mạng cấp nước tại chi nhánh số 1 43
Bảng 3.5 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 1 - chi nhánh số 2 44
Bảng 3.6 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 2 - chi nhánh số 2 45
Bảng 3.7 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại mạng cấp 3 - chi nhánh số 2 46
Bảng 3.8 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại chi nhánh cấp nước số 2 47
Biểu đồ 3.2 So sánh chất lượng nước trên 3 mạng cấp nước tại chi nhánh số 2 48
Bảng 3.9 - Tỷ lệ các chỉ tiêu đạt chất lượng tại 2 chi nhánh cấp nước 49
Bảng 3.10 – Hàm lượng Clo dư trong 3 mạng cấp - chi nhánh cấp nước số 1 50
Bảng 3.11 – Hàm lượng Clo dư tại chi nhánh cấp nước số 1 51
Bảng 3.12 - Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật 3 mạng cấp - chi nhánh cấp nước số 1 51
Bảng 3.13 - Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật chi nhánh cấp nước số 1 52
Biểu đồ 3.3 Hàm lượng Clo dư và tỷ lệ mẫu không đạt VSV chi nhánh số 1 53
Bảng 3.14 – Hàm lượng Clo dư 3 mạng cấp – chi nhánh cấp nước số 2 54
Bảng 3.15 – Hàm lượng Clo dư chi nhánh cấp nước số 2 55
Bảng 3.16 - Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật mạng cấp 1 - chi nhánh cấp nước số 2 55
Bảng 3.17 - Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật chi nhánh cấp nước số 2 56
Biểu đồ 3.4 – Hàm lượng clo dư và tỷ lệ mẫu không đạt VSV chi nhánh số 2 57
Bảng 3.18 Hàm lượng Clo dư tại 2 chi nhánh cấp nước số 1 và 2 58
Bảng 3.19 – Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật tại 2 chi nhánh cấp nước 1 và 2 58
Trang 9Chất lượng nước cấp và việc duy trì chế độ khử trùng trong đường ống phân phối, bảo đảm nước không bị tái nhiễm vi sinh vật là ưu tiên hàng đầu trong công tác cấp nước cho người sử dụng Việc đánh giá chất lượng nước cấp từ đầu nguồn đến cuối nguồn cấp nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước và đưa
ra các giải pháp khắc phục những hạn chế, tồn tại là rất cần thiết giúp cho việc cấp nước trở nên an toàn và bền vững
Nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá chất lượng nước, xác định tỷ lệ nhiễm vi sinh vật và hàm lượng clo dư trong hệ thống phân phối nước máy tại TP Rạch Giá Xét nghiệm 162 mẫu nước máy tại 3 vị trí trên 3 mạng cấp nước
Kết quả 162 mẫu nước của chi nhánh số 1 và số 2 nhà máy nước TP Rạch Giá,
có 77 mẫu đạt chất lượng QCVN 01:2009/BYT tỷ lệ 47,5%, tỷ lệ đạt chỉ tiêu vi sinh (75,9%) Có 5 chỉ tiêu: Màu sắc, độ đục, độ cứng, hàm lượng clorua, hàm lượng sắt đạt tỷ lệ 100% Chỉ tiêu Clo dư có đạt thấp 51,9% Tỷ lệ chất lượng nước đạt tại chi nhánh cấp nước số 1 là 33,3%, chi nhánh cấp nước số 2 là 37% Hàm lượng Clo dư trung bình chi nhánh cấp nước số 1 tại mạng cấp 1 là 0,55mg/l, mạng cấp 2 là 0,38mg/l và mạng cấp 3 là 0,11mg/l Hàm lượng Clo dư trung bình chi nhánh cấp nước số 2 tại mạng cấp 1 là 0,60mg/l, mạng cấp 2 là 0,36mg/l và mạng cấp 3 là 0,09mg/l
Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật chi nhánh cấp nước số 1 tại mạng cấp 1 là 0, mạng cấp
2 là 3,7% và mạng cấp 3 là 59,3% Tỷ lệ nhiễm vi sinh vật chi nhánh cấp nước số 2 tại mạng cấp 1 là 0, mạng cấp 2 là 11,1% và mạng cấp 3 là 70,3%.
Khuyến nghị công ty cấp nước nâng cao năng lực phòng xét nghiệm nhất là nội kiểm tra định các chỉ tiêu ở mức giám sát B và C theo QCVN 01:209/BYT Các
cơ quan có thẩm quyền tăng cường công tác ngoại kiểm tra chất lượng nước cũng như đánh giá các chỉ số nước sạch theo qui định
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước sạch là một nhu cầu cơ bản của con người, để có sức khoẻ thì một trong những điều kiện hàng đầu là phải có nước sạch Theo Tổ chức Y tế Thế giới có đến 80% các bệnh tật của con người liên quan đến nguồn nước Trong đó, các bệnh truyền nhiễm gây dịch vẫn đang là vấn đề lớn rất cần được quan tâm giải quyết, một trong các biện pháp quan trọng để chủ động phòng ngừa và khống chế các bệnh liên quan đến phân, nước, vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường như: bệnh tiêu chảy, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản, tả, lỵ, thương hàn, tay chân miệng, giun sán, là đảm bảo người dân được sử dụng nguồn nước sạch, hợp vệ sinh [48]
Theo Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015 với mục tiêu từng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020, cải thiện điều kiện cung cấp nước sạch, vệ sinh, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi vệ sinh và giảm thiểu
ô nhiễm môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng sống cho người dân đặc biệt là người dân ở các vùng nông thôn, các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, biên giới, hải đảo, vùng ô nhiễm, khó khăn về nguồn nước [17]
Nguồn nước bị nhiễm vi sinh vật đang là vấn đề lớn trong cấp nước ăn uống, nước sinh hoạt kể cả các nguồn nước máy Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt tại các đô thị cho thấy như: mẫu nước tại các nhà máy và trạm cấp nước trên địa bàn TP Hà Nội năm 2014 có 56,2% bị nhiễm
Coliform tổng và 45,8% bị nhiễm Escherichia coli; tỷ lệ mẫu nước không đạt Clo
dư là 95,3%; không có mẫu nước nào đạt được các chỉ tiêu theo QCVN 01:2009/BYT [12] Tại tỉnh Long An năm 2013 chất lượng nước cấp theo đường ống đạt dao động trong khoảng từ 57,1 đến 71,4% [15] Kết quả giám sát chất lượng nước máy năm 2016 tại TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cho thấy chất lượng nước
cấp không đạt về vi sinh là 39,1% do nhiễm Colifom tổng và Escherichia coli
nguyên nhân có thể do tình trạng khử trùng nước cấp tại nguồn hoặc tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối nước sạch dẫn đến chất lượng nước cấp trong hệ thống phân phối chưa bảo đảm [33]
Trang 11bằng sông cửu long nguồn nước thường xuyên bị nhiễm phèn và là địa bàn bị thiệt hại nặng nề nhất về xâm nhập mặn, ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và cấp nước máy
TP Rạch Giá được cấp nước sạch từ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cấp thoát nước Kiên Giang với nhà máy nước TP Rạch Giá quy mô 50.000m3 ngày đêm được đưa vào khai thác từ năm 2008 Trong tương lai, Nhà máy sản xuất nước máy phát triển thêm nhà máy phía Bắc Rạch Giá được đầu tư xây dựng theo quy chuẩn với công xuất cấp nước 100.000m3 ngày đêm và sẽ đưa vào vận hành trong năm 2017[8] Tuy nhiên TP đang trong giai đoạn đô thị hóa, cải tạo, xây mới và sửa chữa rất đa dạng, xen lẫn nhau Hệ thống đường ống phân phối nước máy cũng bị
mở rộng cả về mức bao phủ và đối tượng khách hàng ở nhiều địa bàn dân cư phức tạp Việc duy trì chế độ khử trùng trong hệ thống đường ống phân phối, bảo đảm nước không bị tái nhiễm vi sinh vật là một yêu cầu cấp bách và cần thiết
Việc đánh giá thực trạng chất lượng nước cấp và tình trạng khử trùng nước máy trong hệ thống đường ống phân phối, thông qua đánh giá mức nhiễm vi sinh vật và việc duy trì được lượng Clo dư trong hệ thống cấp nước là rất cần thiết Xuất
phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu với đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng chất lượng nước trong hệ thống phân phối nước máy tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang năm 2017” thực hiện nhằm trả lời câu hỏi (i) Thực trạng
chất lượng nước trong hệ thống phân phối nước máy của TP Rạch Giá có tỷ lệ đạt chất lượng là bao nhiêu? (ii) Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối cấp nước máy TP Rạch giá, tỉnh Kiên Giang?
Trang 12Mục tiêu nghiên cứu
1 Mô tả thực trạng chất lượng nước trong hệ thống phân phối nước máy của Chi nhánh cấp nước số 1 và 2 tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang năm 2017
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng tái nhiễm vi sinh vật trong
hệ thống phân phối cấp nước máy của Chi nhánh số 1 và 2
Trang 13TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm về nước ăn uống và cơ sở cung cấp nước
Theo thông tư số: 50/2015/TT-BYT của Bộ Y tế đưa ra một số khái niệm về nước ăn uống, nước thành phẩm và cơ sở cung cấp nước như sau [5]:
- Nước ăn uống: là nước dùng cho các mục đích ăn uống, chế biến thực phẩm
do các cơ sở cung cấp nước cung cấp, bảo đảm chất lượng theo các quy chuẩn kỹ thuật do Bộ Y tế ban hành
- Nước thành phẩm: là sản phẩm nước đã kết thúc công đoạn cuối cùng của
quá trình xử lý nước và được đưa vào mạng lưới đường ống hoặc phương tiện phân phối nước để cung cấp cho tổ chức, cá nhân sử dụng
- Cơ sở cung cấp nước: là tổ chức, cá nhân thực hiện một phần hoặc tất cả
các hoạt động khai thác, sản xuất, kinh doanh, cung cấp nước ăn uống, nước sinh hoạt
Theo thông tư số: 16/2012/TT-BXD của Bộ xây dựng cũng đưa ra một số khái niệm về cấp nước an toàn, bảo đảm cấp nước an toàn và kế hoạch cấp nước an toàn cho cộng đồng dân cư đô thị như sau [3]:
- Cấp nước an toàn: là việc cung cấp nước ổn định, duy trì đủ áp lực, liên tục,
đủ lượng nước, đảm bảo chất lượng nước theo quy chuẩn quy định
- Bảo đảm cấp nước an toàn: là những hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ,
phòng ngừa các nguy cơ, rủi ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước
- Kế hoạch cấp nước an toàn: là các nội dung cụ thể để triển khai thực hiện
việc bảo đảm cấp nước an toàn
1.2 Tình hình cấp nước trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình cấp nước trên thế giới
Tài nguyên nước là tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo, là các nguồn nước mà con người có thể sử dụng với các mục đích khác nhau như hoạt động sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, giải trí và các mục đích khác Các nguồn
Trang 14nước thiên nhiên sau khi xử lý được cung cấp cho các nhu cầu sử dụng của con người gọi là nước cấp Nước cấp được lấy chủ yếu từ nguồn nước mặt và nước ngầm, một phần nhỏ lấy từ nước mưa, ước tính có khoảng 70% nguồn nước được khai thác là nước mặt còn lại là nước ngầm [23] Tình trạng cấp nước tại các nước trên thế giới không đồng đều cả về số lượng và chất lượng nước giữa các nước có trữ lượng lớn về nước và những nước thiếu thốn nước như: ở Iceland lượng nước cấp là 605.000 m3/đầu người trong khí đó ở Israel chỉ có 289 m3/đầu người Ở Canada lượng nước cấp là 94.000 m3/đầu người trong khi đó ở Singapore có 172
m3/đầu người Ở Panama lượng nước cấp là 33.000 m3/đầu người trong khi đó ở Jordan có 114 m3/đầu người Ở Brazil lượng nước cấp là 31.000 m3/đầu người trong khi đó ở Malta có 85 m3/đầu người hay ở Gabon lượng nước cấp là 140.000 m3/đầu người trong khi đó ở Moldavia có 225 m3/đầu người [48]
Trên thế giới việc cung cấp nước cho người dân sử dụng đã được cải thiện rất nhiều ước tính hiện nay có khoảng 5,9 tỷ người chiếm khoảng 87% dân số được tiếp cận với nước để sử dụng tăng khoảng 1,8 tỷ người so với năm 1990 [47] nhưng tỷ lệ cung cấp nước lại rất khác nhau như: nhiều vùng lãnh thổ Sahara và Châu phi có khoảng 60% dân số được tiếp cận với nguồn nước cấp, các vùng ở Châu đại dương
tỉ lệ này chỉ có 50% trong khi đó ở Bắc phi hay Mỹ la tinh tỉ lệ người dân tiếp cận nguồn nước để sử dụng lên đến 90% [46]
Sự phát triển của các ngành công nghiệp, nông nghiệp, sự bùng nổ dân số và
đô thị hóa đã làm gia tăng nhu cầu sử dụng nước của con người Theo ước tính, bình quân trên toàn thế giới có khoảng 40% lượng nước cung cấp được sử dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt Tuy nhiên, nhu cầu nước sử dụng nước lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia Như ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử dụng cho nông nghiệp và 9% cho sinh hoạt và giải trí Ở Trung Quốc thì 7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% cho nông nghiệp, 6% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí [40]
Bản báo cáo của Quỹ Nhi Đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố trước thềm hội nghị tại diễn đàn nước thế giới năm 2013 cho biết trên thế giới có 2,5 tỷ người đang khát nước sạch, chiếm hơn 1/3 dân số toàn cầu Đây là một con số đáng
Trang 15dự báo của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), nhu cầu về nước vào năm 2050 sẽ tăng lên 55% [48]
Diễn đàn thế giới về nước lần thứ 4 diễn ra tại thủ đô Mexico có sự tham gia của hơn 11.000 đại biểu từ 130 nước đã cảnh báo tình trạng thiếu nước nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu Báo cáo về nguồn nước toàn cầu công bố nhân ngày nước thế giới hàng năm (22/3), cho biết hiện nay có tới 16% dân số thế giới không được dùng nước sạch, 49% dân số thế giới không được hưởng các điều kiện vệ sinh tối thiểu trong đó hơn 50% dân số sống ở Trung Quốc và Ấn Độ Trong khi nhiều khu vực trên thế giới có tới 40% nguồn nước bị lãng phí, hoặc bị khai thác bừa bãi, gây ô nhiễm, chỉ có 12% số nước phát triển có hệ thống quản lý nguồn nước hiệu quả Trước tình trạng sử dụng nguồn nước lãng phí như hiện nay, “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ” do Liên Hiệp Quốc đề ra là giảm 50% số người không được sử dụng nước sạch và các điều kiện vệ sinh tối thiểu vào năm 2015 nhưng mục tiêu này
đã không thể thực hiện được [48]
1.2.2 Hiện trạng cấp nước ở Việt Nam
Việt Nam là nước tăng dân số nhanh, tỉ lệ tăng dân số chủ yếu tập trung tại các thành phố lớn nên nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt ở đô thị là rất lớn Vấn đề nước cấp đang là vấn đề lớn của Việt Nam: nguồn nước dồi dào nhưng chưa đảm bảo chất lượng cho sử dụng; rất nhiều vùng trên lãnh thổ Việt Nam nguồn nước cấp đang bị ô nhiễm bao gồm cả nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm Nguồn nước cạn kiệt do chưa có biện pháp dự trữ hợp lí, do phá rừng, bên cạnh đó là nguyên nhân khách quan do biến đổi khí hậu Theo số liệu thống kê của tổ chức UNICEF thì hiện mới chỉ có 1/5 tổng số dân Việt Nam được hưởng nước sạch từ các nhà máy
xử lý nước tập trung cung cấp đến các hộ gia đình bằng hệ thống đường ống [9]
Về việc cấp nước đô thị, ngay từ năm 2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 117/2007/NĐ-CP về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch bao gồm các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch trong các hệ thống cấp nước tập trung ở khu vực đô thị và nông thôn
Trang 16Tại thành thị tính đến cuối năm 2010, đã có 18,15 triệu người dân có thể tiếp cận được với nước sạch, chiếm 69% tổng số dân thành thị Tỷ lệ phần trăm số dân
sử dụng nước sạch ở các đô thị được thống kê như sau: 70% dân số ở đô thị đặc biệt
và đô thị loại I, 45- 55% dân số ở đô thị loại II và III, 30-35% dân số ở đô thị loại
IV và 10-15% dân số ở đô thị loại V Theo đó, lượng nước sử dụng trung bình của các đô thị là 80-90 lít/người/ngày đêm; trong đó tại các thành phố lớn thì lượng nước này là 120-130 lít/người/ngày đêm [9]
Theo báo cáo của Cục quản lý môi trường Y tế - Bộ Y tế Hiện Việt Nam có
68 công ty cấp nước thực hiện cung cấp nước sạch cho các khu vực đô thị Nguồn nước mặt chiếm 70% tổng nguồn nước cấp và 30% còn lại là nước ngầm Có hơn
420 hệ thống cấp nước với tổng công suất thiết kế đạt 5,9 triệu m3/ngày Công suất hoạt động cấp nước đạt mức 4,5 triệu m3/ngày tương đương 77% công suất thiết kế Trong đó, có 35 trong số 67 thành phố được khảo sát đảm bảo cấp nước liên tục 24 giờ/ngày Hầu hết các thành phố còn lại chỉ hoạt động 14-20 giờ/ngày và có 3-4 thành phố chỉ có thể hoạt động 8-10 giờ/ngày [9]
Cũng theo báo cáo của Cục quản lý môi trường – Bộ Y tế chất lượng nước nhìn chung tại các nhà máy nước cấp cho các đô thị đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho ăn uống theo QCVN 01:2009/BYT Tuy nhiên, do chất lượng đường ống phân phối nước kém và tỷ lệ thất thoát, rò rỉ còn cao nước cấp đến hộ sử dụng thường không đảm bảo yêu cầu nước uống theo QCVN 01:2009/BYT mà chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng nước cấp cho sinh hoạt theo QCVN 02:2009/BYT Do việc giảm nhanh áp lực trong hệ thống phân phối, nước chỉ có thể chảy vào các bể chứa nước dưới đất của các hộ gia đình mà không thể tự chảy lên các bể ở cao hơn Hơn nữa, chất lượng nước cấp đến các hộ gia đình cũng không hoàn toàn đảm bảo theo tiêu chuẩn vệ sinh, mặc dù chất lượng nước thành phẩm tại các máy nước có thể đạt các chỉ tiêu của nước cấp Nguyên nhân là do nước được phân phối trong đường ống có áp lực thấp hay không có áp lực hay thậm chí có áp suất âm và các đấu nối
bị hỏng Những nguyên nhân trên khiến cho nước dễ dàng bị thấm nhiễm khi vận chuyển trong đường ống nước Khi áp lực nước bên trong ống tăng cao đến mức đủ cho nước có thể tự chảy (lớn hơn 0,6m/s), những cặn bẩn lâu ngày trong hệ thống
Trang 17các hộ gia đình Theo như kết quả khảo sát, hiện nay chỉ có khoảng 50% mạng lưới phân phối đạt tiêu chuẩn cấp nước sạch [9]
Hiện nay, dân số Việt Nam sống ở nông thôn có trên 60 triệu người, chiếm gần 69,4% số dân của cả nước [18] Vì vậy, việc cấp nước cho nhu cầu ăn uống sinh hoạt ở nông thôn đang là một vấn đề cấp thiết Trên thực tế, vùng nông thôn thiếu nước về số lượng và chất lượng nước dẫn đến sức khỏe của người dân chưa đảm bảo an toàn Nguồn nước cung cấp sinh hoạt chủ yếu là nước giếng đào, ao hồ, nước mưa, chưa qua xử lý Tại nhiều nơi, người dân địa phương áp dụng các biện pháp như lọc thô, giàn mưa và lọc để loại sắt để có nước sạch cho sinh hoạt gia đình [22]
Theo Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2015 với mục tiêu từng bước hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020 mục tiêu như sau: Đến hết năm 2015: có ít nhất 85% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 45% sử dụng nước đạt QCVN 02:2009/BYT với số lượng ít nhất là
60 lít/người/ngày; Đến hết năm 2020: 100% dân số nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó ít nhất 80% sử dụng nước đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT với số lượng ít nhất là 80 lít/người/ngày [17]
Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến cuối năm
2013 tỷ lệ dân số sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 82,5% Trong đó, tỷ lệ số dân được
sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02:2009/BYT là 38,7% Trong 7 vùng kinh tế - sinh thái: vùng Miền núi phía bắc tỷ lệ nước hợp vệ sinh đạt 79%; vùng Đồng bằng sông hồng đạt 87%; vùng Bắc trung bộ đạt 73%; vùng Duyên hải miền trung đạt 86%; vùng Tây nguyên đạt 77%; vùng Đông Nam bộ đạt 94%, vùng Đồng bằng sông cửu long đạt 81% [2]
1.2.3 Tình hình cấp nước tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
Thành phố Rạch Giá được công ty TNHH MTV cấp thoát nước Kiên Giang phục vụ cung cấp với công suất 50.000-55.000m3/ngày đêm và có hơn 77.000 người dân được thụ hưởng chiếm tỷ lệ 85% dân số được sử dụng nước do nhà máy cung
Trang 18cấp Nhà máy với 3 tuyến ống phân phối Tuyến ống cấp 1 là tuyến ống dẫn chính với chiều dài gần 90km có chức năng vận chuyển nước tới các khu vực của vùng phục vụ cấp nước và tới các khách hàng sử dụng nước lớn như các Nhà máy xi măng Sao Mai, xi măng Hà Tiên, Công ty thủy sản Tắc Cậu …; Tuyến ống cấp 2 với hơn 300km có chức năng điều hoà lưu lượng cho các tuyến ống chính và đảm bảo sự làm việc an toàn của hệ thống cấp nước và với hơn 850km tuyến ống cấp 3
là hệ thống các đường ống phân phối lấy nước từ các tuyến ống chính và ống nối dẫn tới khách hàng sử dụng nước [8]
Công ty chủ động phát triển các tuyến ống mới và cải tạo mạng cấp nước, loại
bỏ các điểm xung yếu, thay các tuyến ống cũ kém chất lượng bằng các loại ống gang phục hồi có tráng xi măng bên trong và ống nhựa HDPE, nhờ đó giảm hẳn mất nước do sự cố đường ống góp phần nâng cao chất lượng nước, giảm thất thoát thất thu Tuy nhiên, hiện nay số lượng đường ống cần được thay thế cũng còn rất lớn, đặc biệt là các tuyến ống bằng gang trên địa bàn thành phố Rạch Giá đã có thời gian
sử dụng trên 30 năm, bên trong thành ống bám rất nhiều tạp chất đã làm giảm tiết diện ống dẫn đến giảm lưu lượng, giảm áp lực nước, nguy cơ thẩm lậu nước và gây
ra hiện tượng nước nhiễm bẩn cục bộ [8]
Công tác nâng cao chất lượng nước tại các nhà máy cũng được chú trọng Trong những năm qua Công ty đã tập trung cải tạo, nâng cấp các nhà máy cũ, đầu tư xây dựng các nhà máy mới với công nghệ tiên tiến hiện đại trong xử lý nước Tuy nhiên qua báo cáo công tác giám sát chất lượng nước năm 2016 trên địa bàn thành phố Rạch Giá của Trung tâm Y tế dự phòng chất lượng nước đạt theo QCVN 01:2009/BYT là 55,7% [33]
1.3 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến đời sống và sức khỏe con người
1.3.1 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến đời sống con người
Nước có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc sống con người nhưng nó phải là nguồn nước sạch Nước sạch là một nhu cầu hết sức cấp thiết trong đời sống dân cư, nước sạch đang trở thành một đòi hỏi không thể thiếu trong việc bảo vệ sức khỏe và cải thiện điều kiện sinh hoạt cho người dân Cung cấp nước cho cộng đồng là rất quan trọng không chỉ đối với sự sống còn của cư dân mà còn để duy trì mức độ phát
Trang 19đang là một trong những vấn đề toàn cầu và là yếu tố gây hạn chế lớn trong việc phát triển kinh tế - xã hội đối với thế giới trong bối cảnh tốc độ gia tăng dân số một cách nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu Hiện nay, có khoảng 30 nước khan hiếm nước trong đó 20 nước cực kỳ khan hiếm nước Theo dự đoán đến năm 2020, số lượng quốc gia rơi vào tình trạng khan hiếm nước có thể lên tới con số 35 Đáng lo ngại là các nước đang phát triển phải đối mặt với cuộc khủng hoảng nước lớn nhất
và theo ước tính đến năm 2025, một phần ba dân số thế giới đang phát triển sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng [42]
Tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc đã chỉ ra tầm quan trọng của nước và các hoạt động liên quan đến nước trong việc hỗ trợ kinh tế, xóa đói giảm nghèo Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên Hiệp Quốc là: giảm một nửa tỷ
lệ người dân không được tiếp cận với nước sạch vào năm 2015 Báo cáo Thiên niên
kỷ 2006 đã chỉ ra rằng: mặc dù đã có những thành tựu đáng kể trong việc giảm tỉ lệ người không được tiếp cận với nước sạch từ 30% năm 1990 xuống còn 20% vào năm 2004, nhưng tỷ lệ đó vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa các nước [45]
1.3.2 Ảnh hưởng của chất lượng nước đến sức khỏe con người
Việc cung cấp nước sạch và đảm bảo chất lượng nước sinh hoạt là mục tiêu quan tâm hàng đầu không chỉ ở từng địa phương, từng quốc gia mà là của cả thế giới Mặc dù, tổng khối lượng nước trên toàn thế giới là 1,38 tỉ km3 nhưng chỉ có 0,3 % khối lượng nước (tương đương với 3,6 triệu km3) trên thế giới có thể sử dụng
là nước sinh hoạt Thiếu nước sạch đã cướp đi sinh mạng của khoảng 700.000 trẻ
em Châu Phi mỗi năm và việc cung cấp nước sạch sẽ là một trong những thử thách lớn nhất của loài người trong vài thập niên tới đây Liên Hiệp Quốc đưa ra một báo cáo thứ hai về nguồn nước thế giới nêu rõ là khoảng một phần năm dân số thế giới, tức chừng một tỷ mốt người, không được tiếp cận nguồn nước uống an toàn và 40% không được sử dụng các điều kiện vệ sinh cơ bản Theo một nghiên cứu của WHO
và UNICEF, số lượng cư dân đô thị không được tiếp cận với các nguồn nước được cải thiện trong thực tế đã tăng từ 113 triệu vào năm 1990 (5% tổng dân số đô thị) đến 173 triệu vào năm 2000 (6% tổng dân số đô thị) [41] Ở nhiều thành phố của
Trang 20các nước thứ ba, nơi điều kiện sống nghèo nàn, khó tiếp cận đủ nước và vệ sinh môi trường kém là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe đối với những người dân đô thị nghèo, những người thường xuyên là nguồn lao động tạo ra sự giàu có của thành phố [44] Như tại Ấn Độ, 85% dân số đô thị có thể tiếp cận với nước uống nhưng chỉ có 20% nước đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn sức khỏe và tối thiểu Người ta ước tính rằng vào năm 2050, một nửa dân số của Ấn Độ sống trong các khu đô thị và sẽ phải đối mặt với vấn đề về nước cấp [ 4 3 ]
1.4 Sự ô nhiễm môi trường nước trên thế giới và tại Việt Nam
1.4.1 Sự ô nhiễm môi trường nước trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt đổ
ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý trực tiếp
đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển Đây là thống kê của Viện
Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World Water Week)
khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9 hàng năm
Theo WHO đến năm 2025, một nửa dân số thế giới sẽ sống ở các khu vực căng thẳng về nước, ít nhất có 1,8 tỷ người sử dụng nguồn nước uống bị ô nhiễm, ước tính có khoảng 502.000 trường hợp tử vong mỗi năm do bị bệnh tiêu chảy Ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, có 38% các cơ sở chăm sóc sức khỏe thiếu nguồn nước sạch để cải thiện sức khỏe cho người dân, có 19% cơ sở không được cải thiện vệ sinh và có 35% cơ sở thiếu nước và xà phòng để rửa tay[48]
Thực tế nguồn chất thải chưa được kiểm soát đang làm cho nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô nhiễm nghiêm trọng Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và các bệnh liên quan đến nước Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm [44]
Giám đốc Điều hành UNICEF, Bà Ann M Veneman cho biết: “Trên Thế giới,
cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước nhiễm bẩn gây ra và nước nhiễm bẩn là thủ phạm của hầu hết các bệnh dịch và nạn suy dinh dưỡng Một
Trang 21nghèo”
Các công trình nghiên cứu mới đây đã cho thấy những bệnh do sử dụng nước nhiễm bẩn gây ra đã ảnh hưởng đến sức khỏe và làm giảm khả năng học hành của các em Hàng ngày có rất nhiều em ở các nước đang phát triển không được đến trường vì bị các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng đường ruột Hơn nữa, nhiều học sinh gái không thể đến trường đi học vì không có công trình nước và vệ sinh riêng biệt cho các em
Nước ao, hồ, sông, suối là nguồn nước ngọt quan trọng, nhưng con người đã làm cho nguồn nước này bị ô nhiễm bởi những chất thải, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khoẻ người dân Các nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm nước
bề mặt:
Do chất thải công nghiệp:
Theo tính toán của một số chuyên gia, cứ 1 m3 nước bị ô nhiễm sẽ làm cho 50-60 m3 nước ngọt khác không sử dụng được Trên thế giới hiện nay cứ mỗi năm
có tới 500 km3 nước bị ô nhiễm trộn vào nước nguồn tự nhiên trên trái đất, làm cho khoảng 2 tỷ người thiếu nước ngọt hợp vệ sinh [40]
Mặc dù các nước đã có những quan tâm đúng mức tới nguồn tài nguyên nước: năm 1950, Mỹ thành lập ủy ban cố vấn về các nguồn tài nguyên nước, năm
1956, ủy ban thanh tra quốc tế về nước được thành lập Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá diễn ra với tốc độ nhanh, các biện pháp bảo vệ môi trường chưa đủ mạnh nên tình hình ô nhiễm nước ngày càng trở nên trầm trọng
Do phát triển nông nghiệp :
Những thành tựu của khoa học kỹ thuật trên toàn cầu không chỉ thúc đẩy ngành công nghiệp hoá phát triển không ngừng mà sự thâm canh tăng năng suất nông nghiệp cũng luôn được cải tiến Sản lượng nông nghiệp hàng năm đã được nâng lên nhờ chất lượng giống và sử dụng các loại thuốc diệt trừ sâu bệnh Nhưng cũng chính điều này đã mang lại những hậu quả tai hại ghê gớm cho môi trường và con người, nhất là các loại hoá chất trừ sâu, diệt cỏ Qua nghiên cứu người ta đã thấy hàm lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ trong nước ở một số nước như: Pháp đạt tới
Trang 221,6-6,4 mg/l Tại Mỹ, một số dòng sông hàm lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ cao: DDT 11,3 mg/l, Aldrin 5 mg/l Sông Detroit hàng ngày có tới 20 triệu tấn chất thải hỗn hợp trong đó có các chất diệt côn trùng, chất diệt cỏ, dầu hoả và các chất phóng xạ
đổ vào [40]
Do chất thải sinh hoạt:
Trong sinh hoạt hàng ngày con người cũng thải vào môi trường một lượng rác thải đáng kể và đây cũng là một trong những nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước
bề mặt Qua phân tích mẫu nước tại 20 điểm của 18 con sông ở Kanagawa, Nhật Bản từ 1987-1995 cho thấy 64,7% mẫu nhiễm V.cholerae, ở Nga 98% mẫu xét nghiệm nước sông Cama có chỉ số E.coli 102-104/100ml nước [22]
1.4.2 Sự ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nguồn nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp và đô thị Từ 1996 đến 2000, trung bình mỗi năm Việt Nam có 1 triệu
ca tiêu chảy, 131.000 ca lỵ, 19.000 ca thương hàn, 37.300 ca lỵ amíp Các nghiên cứu chứng minh rằng có đến 88% ca tiêu chảy là do thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường kém Tại các vùng nông thôn (Hà Nam, Ninh Bình, Bắc Ninh) có 80% học sinh tiểu học bị nhiễm giun, mắc các bệnh mắt hột, viêm nhiễm ngoài da, viêm nhiễm đường sinh dục của phụ nữ tăng cao [21]
Trang 23triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh
Đối với các hệ thống cấp nước nông thôn, việc kiểm soát chất lượng nước còn rất nhiều thách thức và bất cập Ở nhiều nơi, vấn đề ô nhiễm các chất độc hại đang ngày càng nổi cộm như ô nhiễm asen, các hợp chất nitơ, hóa chất trừ sâu hay hóa chất công nghiệp độc hại, vv… Trong bối cảnh nguồn nước cấp ngày càng bị ô nhiễm, quy trình công nghệ truyền thống không cho phép loại bỏ các chất ô nhiễm đặc biệt như chất hữu cơ bền vững, kim loại nặng, các ion độc hại hòa tan, … đang đặt ra yêu cầu bảo vệ nguồn nước, cải tiến, nâng cấp các nhà máy xử lý nước và đổi mới phương thức quản lý hệ thống cấp nước [9]
Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp
và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm màng kết, tiêu chảy, ung thư… ngày càng tăng Người dân sinh sống quanh khu vực ô nhiễm ngày càng mắc nhiều loại bệnh nghi là do dùng nước nhiễm bẩn trong sinh hoạt Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, các hộ nuôi trồng thủy sản
1.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tái nhiễm vi sinh vật trong hệ thống phân phối nước cấp
1.5.1 Công tác giám sát chất lượng nước
Tốc độ đô thị hóa, sự gia tăng dân số, nguồn nước bị suy thoái cả về chất lượng và trữ lượng; năng lực các phòng xét nghiệm hạn chế, nhất là công tác kiểm tra, giám sát chất lượng nước còn chồng chéo, trùng lặp giữa các bộ, ngành có liên quan đang là thực trạng đáng lo ngại Ðây là những nguyên nhân dẫn đến tình trạng chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt ở nhiều khu vực đô thị, nông thôn bị nhiễm E.Coli, coliform, amoni và nitrit, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế Ðến cuối năm 2014, có khoảng 84,5% số dân nông thôn được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh và năm 2015 con số này là 85%, trong đó 42% sử dụng nước sạch đạt QCVN 02:2009/BYT của Bộ Y tế Tuy
Trang 24nhiên, kết quả kiểm tra, giám sát chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt do các cơ quan chức năng của Bộ Y tế thực hiện cho thấy: Ðối với các cơ sở cấp nước từ 1.000 m3/ngày đêm trở lên, tỷ lệ các cơ sở không đạt vệ sinh chung là 21,6%; tỷ lệ không đạt chỉ tiêu lý hóa là 17,2%; tỷ lệ không đạt chỉ tiêu vi sinh là 4,8% Ðối với các cơ
sở cấp nước dưới 1.000 m3/ngày đêm, tỷ lệ các cơ sở không đạt vệ sinh chung là 27,4%; tỷ lệ không đạt chỉ tiêu lý hóa là 22,2%; tỷ lệ không đạt chỉ tiêu vi sinh là 11,7% Các chỉ tiêu không đạt, thường do nhiễm vi sinh (E.Coli, coliform) và chất hữu cơ (pecmanganat) liên quan đến ngập lụt ở một số tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Cửu Long Chỉ tiêu clo dư thấp hơn tiêu chuẩn cho phép, do quy trình xử lý chưa bảo đảm các biện pháp duy trì hàm lượng clo dư trong mạng lưới phân phối, hoặc do đường ống bị rò rỉ Ðiển hình như, tại Trạm cấp nước Mỹ Ðình
II (TPO Hà Nội), các mẫu nước còn nhiễm asen; nước tại bể chứa, bể mái khu đô thị Nam Ðô (TP Hà Nội) có hàm lượng clo thấp hơn tiêu chuẩn cho phép; đồng thời nhiễm E.Coli, colifrom, pecmanganat và các hợp chất ni-tơ như amoni và nitrit Hiện nay, chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế phối hợp liên ngành giữa các bộ: Y tế, Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường trong việc kiểm tra, giám sát chất lượng nước, dẫn đến việc chồng chéo, trùng lặp trong việc kiểm tra chất lượng nước Thí dụ, những cơ sở cấp nước tập trung được thanh tra, kiểm tra nhiều lần, song lại có những cơ sở không được kiểm tra dẫn đến lãng phí nguồn lực và ngân sách Bên cạnh đó, nhiều đơn vị khi xét nghiệm đánh giá chất lượng nước sử dụng các labo và phương pháp xét nghiệm có khác nhau, dẫn đến nhận định kết quả cũng khác nhau Ðơn cử như một số cơ sở cấp nước tự lấy mẫu nước để giám sát nội kiểm gửi mẫu phân tích labo do cơ sở lựa chọn, có những labo xét nghiệm và đánh giá theo TCVN 5502:2003 của Bộ Khoa học và Công nghệ, lại khác với kết quả kiểm nghiệm của trung tâm y tế dự phòng thực hiện theo QCVN 01:2009/BYT Hay Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định hai cách đánh giá chất lượng nước sinh hoạt, gồm nước sinh hoạt hợp vệ sinh và nước sinh hoạt đạt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT, gây khó khăn cho các địa phương trong việc đánh giá chất lượng nước tại địa phương
Trang 25rất nhiều khó khăn, hạn chế do thiếu nguồn nhân lực Vì hiện nay, mỗi trung tâm y
tế dự phòng chỉ có từ hai đến ba cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát chất lượng nước tại địa phương quản lý Các đơn vị này mới đủ năng lực xét nghiệm được từ 12 đến 20 chỉ tiêu (chủ yếu là nhóm A) Ðáng chú ý, hiện nay các đơn vị y
tế từ Trung ương đến địa phương chưa có ngân sách thường xuyên dành riêng cho công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng nước định kỳ và đột xuất; hệ thống thống kê, báo cáo, phần mềm cập nhật phân tích số liệu nhanh, kiểm tra, giám sát chất lượng nước còn thiếu và yếu Trong khi đó, nguồn nước ở nước ta đã và đang
bị suy thoái cả về chất lượng và trữ lượng, do bị ô nhiễm bởi chất thải, nước thải sinh hoạt và sản xuất; nguồn nước ngầm khai thác quá mức cho phép và sự tác động của biến đổi khí hậu
1.5.2 Công tác giám sát hệ thống phân phối nước cấp
Hệ thống cấp nước có vai trò quan trọng đối với đời sống và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của đô thị Mặc dù kết quả hoạt động của các công ty cấp nước Việt Nam được xem là khả quan, nhưng vẫn chưa phát huy hết công suất thiết
kế, tỷ lệ thất thoát, thất thu còn cao Vì vậy, cần phải nỗ lực để cải thiện hiệu suất hoạt động cũng như sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả
Các nhà máy nước: Tính đến năm 2008, toàn quốc có khoảng gần 300 nhà máy nước với tổng công suất 5 triệu m3/ngày đêm Trừ các nhà máy nước của các thành phố trực thuộc trung ương và các đô thị tỉnh lỵ mới được đầu tư xây mới hoặc nâng cấp cải tạo có công nghệ tương đối hiện đại, còn lại là các nhà máy nước cũ có công nghệ lạc hậu và chưa có điều kiện quản lý tự động hoá các khâu khai thác vận hành
Mạng lưới đường ống: Tổng chiều dài đường ống làm nhiệm vụ truyền tải và phân phối nước trên toàn bộ hệ thống cấp nước trong cả nước vào khoảng 15.000
km Trong số đó có tới trên 30% đã được lắp đặt trên 30 năm chưa được sửa chữa thay thế Đây là khâu yếu nhất hiện nay của hệ thống cấp nước các đô thị Mạng lưới cấp nước hiện tại đáp ứng được 70% nhu cầu dùng nước Nhiều đường ống vẫn tiếp tục xuống cấp và hư hỏng Tình trạng đục đấu trái phép đường ống vẫn chưa
Trang 26chấm dứt Thêm vào đó, mạng lưới đường ống xây dựng trước đây phần lớn chưa
có quy hoạch hợp lý, chồng chéo qua một số giai đoạn nâng cấp, cải tạo Chất lượng ống không đồng đều, nhiều tuyến ống cũ đã xuống cấp nghiêm trọng xen kẽ với các đường ống mới lắp đặt, gây khó khăn cho công tác quản lý Tỷ lệ thất thoát thất thu nước trong đô thị còn cao hơn 30%
Trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng trên mạng lưới còn thiếu và lạc hậu Các giếng thăm xây dựng chưa đúng quy cách và không thuận tiện cho việc kiểm tra và vận hành, sửa chữa Các thiết bị trên mạng lưới như: van xả khí, van xả cặn, họng cứu hoả, gối đỡ, van khoá, đồng hồ khu vực còn thiếu và chưa đảm bảo chất lượng, lạc hậu Các thiết bị điều khiển từ xa chưa được tăng cường, nên việc quản lý mạng lưới hầu hết mang tính chất thủ công Chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu trong quản
lý và vận hành tự động hoá các trang thiết bị kỹ thuật chuyên dùng trên mạng lưới
Áp lực nước: Chỉ có một số ít đô thị hiện nay cung cấp nước cho người dân đảm bảo áp lực và lưu lượng cho 24 giờ trong ngày Còn lại, đa số các đô thị áp lực trong mạng lưới mới đạt được cấp nước cho tầng 1, còn tầng trên đều phải dùng bơm cục bộ
Công tác đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước và phân phối nước hầu hết do chính quyền các đô thị chịu trách nhiệm Vốn đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước trước đây lấy từ ngân sách nhà nước Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp có tính tự chủ cao, họ có thể vay vốn để đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất và cung cấp nước Chính quyền địa phương cần tăng cường vai trò của mình trong kiểm tra, kiểm soát để nhằm đảm bảo cung cấp nước cho mọi nhu cầu dùng nước trong đô thị
và đạt được mục tiêu trong quản lý kinh doanh nước sạch
Đẩy mạnh việc triển khai thực hiện Chương trình quốc gia chống thất thoát, thất thu nước sạch như đầu tư, cải tạo các tuyến ống cũ, rò rỉ và các trang thiết bị quản lý hệ thống cấp nước; trong đó tập trung ở các đô thị lớn như TP Hà Nội, TP
Hồ Chí Minh
Đào tạo, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Trước tiên, tập trung đào tạo, nâng cao năng lực về quản lý, vận hành, bảo dưỡng, bảo trì hệ thống cấp nước cho đơn vị cấp nước, bao gồm cả đơn vị quản lý cấp nước tại các khu đô
Trang 27nước đáp ứng yêu cầu phát triển cấp nước và nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước
Tổ chức truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nguồn nước, công trình cấp nước và có ý thức sử dụng nước tiết kiệm
1.6 Cấp nước an toàn tại Việt Nam
Cấp nước an toàn là việc cung cấp nước ổn định, duy trì đủ áp lực, liên tục, đủ lượng nước, đảm bảo chất lượng nước theo quy chuẩn quy định Bảo đảm cấp nước
an toàn là những hoạt động nhằm giảm thiểu, loại bỏ, phòng ngừa các nguy cơ, rủi
ro gây mất an toàn cấp nước từ nguồn nước qua các công đoạn thu nước, xử lý, dự trữ và phân phối đến khách hàng sử dụng nước
Theo báo cáo của Cục hạ tầng kỹ thuật Bộ Xây dựng năm 2013, Cấp nước an toàn giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thực hiện Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch, ngày 31/12/2008, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 16/2012/QĐ-BXD về quy chế bảo đảm an toàn cấp nước Kể từ ngày quyết định được ban hành cho đến nay đã gần 5 năm, quyết định này đã được các ngành đặc biệt được UBND các tỉnh, thành phố quan tâm và các đơn vị cấp nước các địa phương hưởng ứng và tổ chức triển khai thực hiện
Việc ban hành quyết định số 16/2012 được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đánh giá cao và Việt Nam là một trong 8 nước khu vực Châu Á ban hành một văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến cấp nước an toàn và tổ chức triển khai thực hiện tại các đô thị trên quy mô cả nước Quy trình thực hiện và nhiều nội dung phù hợp với hướng dẫn của Tổ Chức Y tế thế giới Sau gần 5 năm thực hiện, có thể khái quát những kết quả đã đạt được và những hạn chế như sau:
- Về lập và phê duyệt xây dựng kế hoạch cấp nước an toàn
Cho đến nay hầu hết các đơn vị cấp nước đã lập Kế hoạch cấp nước an toàn và phê duyệt theo quy định Việc xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch cấp nước
an toàn giúp cho các đơn vị cấp nước chủ động kiểm soát từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ đảm bảo nước sạch cung cấp cho người sử dụng đạt tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh Mặc dù về cơ bản nội dung của kế hoạch cấp nước an toàn theo Quyết định số
Trang 2816/2012 của Bộ Xây dựng phù hợp với hướng dẫn của WHO Tuy nhiên, trong nội dung có lồng ghép giữa nội dung mang tính kỹ thuật và tổ chức bộ máy, đội ngũ cán
bộ thực hiện là chưa hợp lý Một số nội dung được quy định chưa mang tính luật hóa, vì vậy cũng cần được rà soát lại Quy định về thẩm quyền phê duyệt kế hoạch cấp nước an toàn giao cho đơn vị cấp nước là chưa hợp lý và hiệu lực pháp lý không cao Bởi vì, Kế hoạch cấp nước an toàn bao gồm từ bảo vệ nguồn nước đến
hộ sử dụng và liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều ngành trong tỉnh Theo đề nghị của nhiều địa phương Kế hoạch này phải được cơ quan hành chính phê duyệt mới có giá trị pháp lý vì vậy cần được nghiên cứu và sửa đổi
- Về tổ chức thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn
a) Thành lập đội ngũ cấp nước an toàn:
Cho đến nay hầu hết các đơn vị cấp nước đã xây dựng đội ngũ cấp nước an toàn với trách nhiệm và quyền hạn cụ thể Đội ngũ này do đơn vị cấp nước quyết định thành lập và hoạt động trong phạm vi do đơn vị cấp nước quản lý
Tuy nhiên, số lượng cán bộ chuyên môn cao trong các đơn vị chưa nhiều, đội ngũ cán bộ thực hiện cấp nước an toàn chưa chuyên nghiệp, chưa được tập huấn, bồi dưỡng và đào tạo nâng cao và phần lớn là kiêm nhiệm nên việc tổ chức triển khai nhiệm vụ cấp nước an toàn chưa đồng bộ, hiệu quả
b) Ban chỉ đạo cấp nước an toàn cấp tỉnh:
Xuất phát từ yêu cầu của địa phương và tầm quan trọng của cấp nước an toàn, một số địa phương như Cà Mau, Thừa Thiên - Huế, Bà Rịa - Vũng tàu, Khánh Hòa, Bình Dương, Hải Dương đã thành lập Ban chỉ đạo về cấp nước an toàn do một đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm trưởng ban, thành viên bao gồm các cơ quan chuyên môn (các Sở và tương đương), đơn vị cấp nước Sở Xây dựng là cơ quan thường trực
Việc thành lập Ban chỉ đạo Cấp nước an toàn của các Tỉnh trên đã giúp việc chỉ đạo thực hiện Kế hoạch cấp nước an toàn đi vào nề nếp hơn, có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý về cấp nước trên địa bàn tỉnh Nhờ có sự chỉ đạo thống nhất, các địa phương trên đã thu được những kết quả khả quan: Tỷ lệ thất thoát
Trang 29người dân của các tỉnh được hưởng lợi nhiều từ công tác quản lý này
Tuy nhiên, số lượng Ban Chỉ đạo Cấp nước an toàn mới chỉ có 6/63 tỉnh thành Chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo chưa có hướng dẫn cụ thể để thống nhất trên toàn quốc Do vậy nhiều địa phương kiến nghị thành lập Ban Chỉ đạo cấp Tỉnh, trong đó cần quy định cụ thể nhiệm vụ, thành phần tham gia để thống nhất
c) Thực hiện cấp nước an toàn:
Trong thời gian qua, WHO thông qua Hội Cấp, Thoát nước Việt Nam đã hỗ trợ, tài trợ các khóa đào tạo cho tất cả các đơn vị cấp nước trên toàn quốc về lập và triển khai thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn Trên cơ sở triển khai thực hiện cấp nước an toàn, các đơn vị cấp nước tại các tỉnh như Thừa thiên Huế, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Hải Dương, Hải Phòng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Hà Nội đã nâng cao chất lượng dịch vụ, hiệu quả an tòan cho hệ thống cấp nước:
Duy trì, đảm bảo ổn định, liên tục áp lực, lưu lượng, chất lượng nước đạt yêu cầu
Kiểm soát và giảm thiểu các nguy cơ rủi ro, cũng như tăng cường được công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ nguồn đến các khách hàng sử dụng, xây dựng các biện pháp khắc phục, xử lý rủi ro, sự cố kịp thời
Tổ chức tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc tiết kiệm nước và bảo vệ nguồn nước, các Công ty cấp nước đã tổ chức các hoạt động giáo dục trong nhà trường, nâng cao ý thức, vai trò, trách nhiệm, tầm quan trọng của nước sạch và bảo vệ môi trường, đã triển khai phối hợp với các Ban ngành địa phương liên quan để tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục tạo được niềm tin và sự đồng thuận lớn của cộng đồng
Việc nâng cao chất lượng nước uống và dịch vụ cấp nước là mục tiêu của các đơn vị khi thực hiện Kế hoạch cấp nước an toàn Cũng chính vì thực hiện tốt kế hoạch cấp nước an toàn, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã công bố cấp nước an toàn tại Thành phố Huế và nước uống trực tiếp tại vòi vào năm 2008 và trên địa bàn toàn tỉnh Thừa Thiên - Huế năm 2009
Trang 30Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, những tác động tiềm ẩn của biến đổi khí hậu, nguồn nước thải, rác thải chưa được xử lý Chất lượng nước thô giảm sút về chất lượng và lưu lượng do ô nhiễm ở thượng nguồn và nguy cơ nhiễm mặn tăng Công tác lập, quản lý quy hoạch xây dựng ở một số địa phương chưa tốt, nên gây khó khăn trong công tác đảm bảo an toàn công trình cấp nước như: bảo vệ, khắc phục sự cố, bảo trì hệ thống mạng Hệ thống các tuyến ống đã cũ kĩ, rò rỉ ảnh hưởng đến chất lượng, an toàn cấp nước cho toàn bộ hệ thống
d) Các quy định về trách nhiệm, cơ chế, chính sách trong Chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn:
Mặc dù đã có quy định trong Quyết định số 16 nhưng trong nội dung đôi chỗ còn trùng lặp và chưa cụ thể về việc phân định trách nhiệm, quyền hạn mối quan hệ, sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, cơ quan chuyên môn và với đơn vị cấp nước Vì vậy, việc bổ sung và làm rõ trách nhiệm và quyền hạn sẽ giúp cho việc quản lý và thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn tốt hơn
Thiếu cơ chế phối hợp trong việc xử lý kịp thời các tình huống khẩn cấp, ô nhiễm tại điểm thu nước của công trình cấp nước với sự tham gia của các đơn vị liên quan trên địa bàn trong việc xử lý, khắc phục sự cố liên quan đến ô nhiễm nguồn nước như: Chính quyền đô thị , Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng cảnh sát Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Xây dựng, Sở Nội vụ, đơn vị cấp nước và người sử dụng nước
Chưa có chính sách khuyến khích đơn vị xây dựng và thực hiện cấp nước
an toàn
Quy định chế tài đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định cấp nước an toàn Công tác thanh tra, kiểm tra và chế tài xử phạt chưa kịp thời Mặc dù kết quả đạt được có ý nghĩa rất quan trọng nhưng những hạn chế có thể là nhỏ nhưng cũng tác động không nhỏ đến hiệu quả thực hiện kế hoạch cấp nước an toàn
Để hoàn thiện văn bản pháp lý và nghiên cứu rà soát và bổ sung, sau khi tiếp nhận các ý kiến góp ý của các địa phương, các công ty cấp nước và các Bộ, ngành có liên quan, Cục Hạ tầng kỹ thuật đã trình Bộ ban hành thông tư số 08/2012
“Hướng dẫn thực hiện bảo đảm cấp nước an toàn” với một số nội dung cơ bản là:
Trang 31nước và kế hoạch cấp nước an toàn
Hoàn thiện nội dung kế hoạch cấp nước an toàn
Xác định nguồn kinh phí để thực hiện cấp nước an toàn
Quy định về thành lập Ban chỉ đạo cấp nước an toàn bao gồm: Thành viên, trách nhiệm, mối quan hệ làm việc và kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo
Quy định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến bảo đảm cấp nước an toàn
Quy định về thanh, kiểm tra
1.7 Một số nghiên cứu về chất lượng nước cấp
Việc đẩy mạnh công nghiệp hoá và kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã đưa nền kinh tế phát triển không ngừng, tuy nhiên vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề cấp bách cần được quan tâm Chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường phần lớn bị dồn chảy vào sông, hồ và cuối cùng tích
tụ ở đáy đại dương Tại Mỹ (1950) hơn 200 km2 nước (tương đương với 1/4 dòng chảy thường xuyên của Mỹ) đã cho chạy qua các nhà máy điện nguyên tử và làm tăng nhiệt độ 10-120C, phá vỡ nghiêm trọng hệ thống thuỷ văn Anwar và Cộng sự (1999) nghiên cứu về chất lượng nước uống ở Punjab cho thấy 95,83% giếng khoan
và 91,3% bể chứa nước bị nhiễm khuẩn [36]
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Lê Mạnh Hùng, Mai Thị Hương Xuân và Nguyễn Thị Chúc nghiên cứu về “Đánh giá chất lượng nước uống qua chỉ
số vi sinh vật vệ sinh tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số huyện Buôn Đôn, tỉnh Đăk Lăk năm 2007” kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nước uống không đạt tiêu chuẩn vi sinh vật tại xã Krông Na là 86,67%; tại xã Ea Huar là 73,33% và tại xã Ea Noul là 80% [13]
Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Ngọc Chánh và cộng sự khảo sát chất lượng nước sinh hoạt nông thôn tại tỉnh Long An và tỉnh Hậu Giang cho thấy mẫu nước đạt tiêu chuẩn của tỉnh Long An là 44,9% cao hơn so với mẫu nước đạt tiêu chuẩn của tỉnh Hậu Giang là 23,9% [6]
Trang 32Kết quả nghiên cứu của Lê Hoàng Ninh và Cộng sự tại huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An cho thấy tỷ lệ mẫu nước đạt chất lượng theo QCVN 02:2009/BYT là 65% Trong đó, tỷ lệ mẫu nước máy đạt chất lượng dao động từ 57,1 – 71,4% Chỉ tiêu không đạt chất lượng là pH, độ đục, màu sắc, sắt tổng số, amoni, Coliforms tổng và E.coli [15]
Cũng theo nghiên cứu của Lê Hoàng Ninh và cộng sự năm 2013 tại một số tỉnh Đồng bằng sông cửu long kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hộ gia đình sử dụng nước hợp vệ sinh chưa đạt mục tiêu đề ra của Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn Cụ thể tỷ lệ nước đạt vệ sinh ở tỉnh Trà Vinh là thấp nhất chỉ có 43,7%, kế đến là tỉnh Bạc Liêu là 49,5%, tỉnh Cà Mau là 78,4%, tỉnh hậu Giang là 82,6%, tỉnh Kiên Giang là 83,3% và tỉnh Long An là 89,8% [16]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang 192 mẫu nước của tác giả Doãn Ngọc Hải và cộng sự kết quả cho thấy có 26 mẫu nước lấy từ bể chứa sau xử lý của 26 nhà máy/trạm cấp nước và 166 mẫu nước lấy tại các điểm sau đồng hồ nước và trước khi đổ vào bể chứa hộ gia đình nhằm đánh giá chất lượng nước ăn uống, sinh hoạt tại các nhà máy, trạm cấp nước trên địa bàn thành phố Hà Nội theo Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 01:2009/BYT Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mẫu nước đạt tiêu chuẩn hóa học thấp (3,65%), nguyên nhân chủ yếu là do không đạt tiêu chuẩn về hàm lượng Clo dư, hàm lượng Pecmanganat, hàm lượng Amoni và Asen
Tỷ lệ mẫu nước nhiễm Coliform cao 56,2%, có thể do đường ống lâu ngày không được tu sửa nên thâm nhiễm từ ngoài vào và hàm lượng Clo dư không đủ để tiệt trùng vi sinh vật trong nước Không có mẫu nước từ nhà máy, trạm cấp nước hay hộ gia đình nào đạt được tất cả các chỉ tiêu theo QCVN 01: 2009/BYT [12]
1.8 Tiêu chuẩn đánh giá và ý nghĩa một số chỉ tiêu chất lượng nước ăn uống
Để đánh giá chất lượng nước dùng để ăn uống, nước sinh hoạt cho các đô thị, các thành phố lớn Cục Y tế dự phòng và Môi trường biên soạn QCVN 01:2009/BYT và được Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành theo Thông tư số: 04/2009/TT-
BYT ngày 17 tháng 6 năm 2009 [4] (QCVN 01:2009/BYT xin xem phụ lục 1)
- Độ đục: Độ đục do sự hiện diện của các chất huyền phù trong nước như đất sét,
bùn, chất hữu cơ li ti và nhiều loại vi sinh vật khác Nước có độ đục cao chứng tỏ
Trang 33giảm[14]
- Độ màu (màu sắc): Màu sắc của nước gây ra bởi lá cây, gỗ, thực vật sống hoặc đã
phân hủy dưới nước, từ các chất bào mòn có nguồn gốc từ đất đá, từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp màu sắc của nước có thể là kết quả từ sự hiện diện của các ion
có tính kim khí như sắt, mangan [7]
- Độ cứng: Độ cứng của nước là đại lượng biểu thị hàm lượng các ion caxi và
magie có trong nước Độ cứng của nước chia làm 3 loại: độ cứng tạm thời, độ cứng toàn phần, độ cứng vĩnh cửu [14]
- Giá trị pH: pH có ý nghĩa quan trọng về mặt môi sinh, trong thiên nhiên pH ảnh
hưởng đến hoạt động sinh học trong nước, liên quan đến một số đặc tính như tính ăn mòn, hòa tan,… chi phối các quá trình xử lý nước như: kết bông tạo cợn, làm mềm, khử sắt diệt khuẩn [23]
- Chloride: Chloride là ion chính trong nước thiên nhiên và nước thải Vị mặn của
Chloride thay đổi tùy theo hàm lượng và thành phần hóa học của nước Với mẫu chứa 25mg Cl-/lít người ta đã có thể nhận ra vị mặn nếu trong nước có chứa ion
Na+ Tuy nhiên khi mẫu nước có độ cứng cao, vị mặn rất khó nhận biết dù có chứa đến 1000mg Cl-/lít Hàm lượng Chloride cao sẽ gây ăn mòn các kết cấu ống kim loại [23]
- Sắt (Fe) :
+ Sắt là nguyên tử vi lượng cần thiết cho cơ thể con người để cấu tạo hồng cầu Vì thế sắt với hàm lượng 0,3mg/l là mức ấn định cho phép đối với nước ăn uống, sinh hoạt Vượt qua giới hạn trên, sắt có thể gây nên những ảnh hưởng không tốt [14]
+ Sắt có mùi tanh đặc trưng, khi tiếp xúc với khí trời, kết tủa Fe (III) hydrat hình thành làm nước trở nên có màu đỏ gạch tạo ấn tượng không tốt cho người sử dụng
+ Kết tủa sắt lắng đọng thu hẹp dần tiết kiệm hữu dụng của ống dẫn mạng lưới phân phối nước
Trang 34- Clo dư: Clo dư là chất khử trùng mạnh, được đưa vào nguồn nước sinh hoạt để
khử khuẩn trước khi đưa vào sử dụng Clo dư bao gồm Clo tự do (trong dạng Cl2, HOCl, OCl-) và Clo liên kết (Clo liên kết với nitơ trong các hợp chất amoni và oxit nitơ) [14]
- Fecal coliform (Coliform có nguồn gốc từ phân): Nhóm vi sinh vật Coliform
được dùng rộng rãi làm chỉ thị của việc ô nhiễm phân, đặc trưng bởi khả năng lên men lactose trong môi trường cấy ở 35 – 370 C với sự tạo thành axit aldehyd và khí trong vòng 48h [14]
- Escherichia Coli (E.Coli): Escherichia Coli, thường được gọi là E.Coli hay trực
khuẩn đại tràng, thường sống trong ruột người và một số động vật E.Coli đặc hiệu
cho nguồn gốc phân, luôn hiện diện trong phân của người và động vật, chim với số
lượng lớn Sự có mặt của E.Coli vượt quá giới hạn cho phép đã chứng tỏ sự ô nhiễm
về chỉ tiêu này Đây được xem là chỉ tiêu phản ánh khả năng tồn tại của các vi sinh vật gây bệnh trong đường ruột như tiêu chảy, lị…[14]
1.9 Giới thiệu tóm tắt đặc điểm địa bàn nghiên cứu:
Kiên Giang nằm tận cùng phía Tây nam đất nước lãnh thổ bao gồm đất liền
và hải đảo Phía Bắc giáp với Vương quốc Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp Vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp với các tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang Phần hải đảo nằm trong vịnh Thái Lan bao gồm hơn 150 hòn đảo lớn nhỏ [34]
Theo số liệu thống kê của Trung tâm dân số tỉnh Kiên Giang tính đến tháng
12 năm 2015 dân số toàn tỉnh là 1.762,3 ngàn người, mật độ 278 người/ km2 Hiện nay Tỉnh có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố thuộc tỉnh (TP Rạch Giá), 1 thị xã (Tx Hà Tiên) và 13 huyện Dân cư phân bố không đồng đều giữa các vùng, các khu vực phần lớn sinh sống ở địa bàn nông thôn, mật độ dân số thường tập trung cao ở vùng đô thị, nhất là ở TP Rạch Giá (2.307 người/km2) [34]
Đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn đang tạo hiệu ứng thúc đẩy đô thị hóa nhanh lan toả diện rộng trên phạm vi các tỉnh, các vùng trong cả nước Nhiều đô thị mới, khu đô thị mới được hình thành phát triển; nhiều đô thị cũ được cải tạo, nâng
Trang 35trường Vì vậy việc cấp nước an toàn cho người dân cũng cần phải phát triển song song với sự đô thị hóa chính vì vậy Công ty TNHH MTV Cấp thoát nước Kiên Giang với tổng công suất thiết kế là 81.800m3/ngày đêm phục vụ cho khoảng 77.000 khách hàng trên địa bàn Hai khu vực chính cấp nước là khu vực thành phố Rạch Giá vớ 4 chi nhánh cấp nước và các khu vực cấp nước tại các trạm cấp nước các Huyện, Thị trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Có một nhà máy thành phố Rạch Giá
và các trạm cấp nước khu vực Huyện, Thị: Trạm cấp nước thị xã Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc, Hòn Chông, Giồng Riềng, An Biên, An Minh, Hòn Đất, Tân Hiệp, Minh lương, Tắc Cậu Sơ đồ tổ chức bộ máy các trạm cung cấp nước được trình bày theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Hệ thống cấp nước tại Kiên Giang
Khu vực Huyện, Thị Khu vực Rạch Giá
Nhà máy nước Rạch Giá
Trạm Cấp nước Kiên Lương
Trạm Cấp nước Tân Hiệp
Trạm Cấp nước Tắc Cậu
Trạm Cấp nước Giồng
Riềng
Trạm Cấp nước
An Minh
Trạm Cấp nước
An Biên
Trạm Cấp nước Phú Quốc
CN Cấp
nước
số 2
CN Cấp nước
số 4
XN Cấp nước HàTiê
n
Trạm Cấp nước Minh Lương
Trang 36Hình 1.1: Bản đồ phân bố khu vực cấp nước
Trạm Hòn Chông
Trang 37Stt TÊN TRẠM CẤP NƯỚC NĂM XÂY
DỰNG
CÔNG SUẤT THIẾT KẾ (m 3 /ngày đêm)
NGUỒN NƯỚC
02 Xí nghiệp Cấp nước Hà
Trang 381.9 Khung lý thuyết:
YẾU TỐ KỸ THUẬT
- Hệ thống phân phối (Áp lực, lưu lượng, van xả khí, van điều tiết, van xả cặn, ăn mòn, lắng đọng trên ống)
- Tỷ lệ thất thoát
YẾU TỐ QUẢN LÝ
- Giám sát chất lượng nước đầu
ra của nhà máy: Chỉ số pH; Độ
đục; Độ màu; Hàm lượng Clo
dư; Coliform tổng; E.coli
- Kiểm tra, giám sát chất lượng
nước của cơ quan có thẩm quyền
theo qui định
CHẤT LƯỢNG NƯỚC CẤP Theo tiêu chuẩn QCVN 01:2009/BYT
YẾU TỐ SINH HỌC VÀ HÓA HỌC
- Có sự xuất hiện của vi sinh vật
- Có sự xuất hiện vượt tiêu chuẩn của một số chỉ tiêu hóa lý
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
2.1.1 Nghiên cứu định lượng:
Mẫu nước máy thành phẩm cung cấp cho người dân sử dụng tại mạng cấp I (ống chính), cấp II (ống dẫn) và cấp III (hộ gia đình) trên 2 chi nhánh cấp nước số 1
và 2 Chi nhánh số 1 (phục vụ khách hàng nằm trên địa bàn Phường Vĩnh Thanh, Vĩnh Quang, Phường Vĩnh Thông) và chi nhánh số 2 (phục vụ khách hàng nằm trên địa bàn Phường Vĩnh Thanh Vân) thuộc nhà máy nước TP Rạch Giá
Sổ sách, báo cáo tổng hợp số liệu thống kê về kết quả xét nghiệm qua các đợt giám sát chất lượng nước của Trung tâm Y tế dự phòng trong năm 2016
Sổ sách, báo cáo tổng hợp số liệu thống kê về kết quả xét nghiệm giám sát chất lượng nước đầu ra của nhà máy nước TP Rạch Giá năm 2017
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Mẫu nước được lấy đủ số lượng:
+ Mẫu xét nghiệm lý hóa: Mẫu được lấy đủ 1000ml
+ Mẫu xét nghiệm vi sinh vật: Mẫu được lấy 500ml
Báo cáo, thống kê kết quả xét nghiệm qua các đợt giám sát của Trung tâm
Y tế dự phòng trên địa bàn TP Rạch Giá trong năm 2016
Báo cáo, thống kê kết quả xét nghiệm giám sát chất lượng nước đầu ra trong thời gian thu thập số liệu kể từ tháng 3/2017 đến tháng 6/2017
2.1.2 Nghiên cứu định tính:
Cán bộ lãnh đạo nhà máy nước TP Rạch Giá
Cán bộ phụ trách kiểm tra, giám sát hệ thống phân phối của nhà máy nước
TP Rạch Giá
Cán bộ phụ trách giám sát chất lượng nước của Trung tâm y tế dự phòng
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2017 đến tháng 7/2017
Trang 40 Địa điểm: TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng với nghiên cứu định tính
2.4 Cỡ Mẫu và phương pháp chọn mẫu:
2.4.1 Mẫu nghiên cứu định lượng: Sử dụng phương pháp lấy mẫu tổ hợp theo
Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 6663-1) [30] để xác định vị trí lấy mẫu trên hệ thống phân phối của nhà máy nước thống nhất theo từ đầu nguồn cấp đến cuối nguồn cấp Tần suất lấy mẫu là 9 lần lặp lại tại tất cả các vị trí trong suốt quá trình nghiên cứu (10 ngày lấy 1 lần) để đánh giá mức độ tác động cũng như biến đổi của các thông số
được phân tích Vị trí lấy mẫu và số mẫu được xác định như sau:
- Đối với mạng ống cấp 1 và cấp 2: Xác định 3 vị trí lấy mẫu đã được thiết kế
sẵn theo đường ống cấp nước của nhà máy Vị trí số (1) tương ứng với van lấy mẫu
số 1; Vị trí số (2) tương ứng với van lấy mẫu số 2; Vị trí số (3) tương ứng với van lấy mẫu số 3 Như vậy đối với mạng ống cấp 1 và cấp 2 xác định được vị trí lấy
mẫu như sau: 3 vị trí x 2mạng cấp x 2chi nhánh = 12 vị trí
Số mẫu mạng cấp 1 và 2 là: 12 vị trí x 9 lần = 108 mẫu
- Đối với mạng ống cấp 3 (hộ gia đình):
+ Chi nhánh cấp nước số 1: dựa vào danh sách hộ gia đình sử dụng nước cấp
do nhà máy nước cung cấp của 3 phường là: Vĩnh Thanh, Vĩnh Quang, Vĩnh Thông Đánh số thứ tự hộ gia đình của từng phường sau đó bốc thăm ngẫu nhiên mỗi phường lấy 1 hộ gia đình đại diện cho 1 phường Ta có 3 hộ gia đình tương ứng với 3 vị trí lấy mẫu của chi nhánh cấp nước số 1
+ Chi nhánh cấp nước số 2: dựa vào danh sách hộ gia đình sử dụng nước cấp
của phường Vĩnh Thanh do nhà máy nước cung cấp Đánh số thứ tự hộ gia đình của phường sau đó bốc thăm ngẫu nhiên lấy 3 hộ gia đình Ta có 3 hộ gia đình tương ứng với 3 vị trí lấy mẫu của chi nhánh cấp nước số 2
Xác định vi trí lấy mẫu mạng ống cấp 3: 3vị trí x 2 chi nhánh = 6 vị trí
Số mẫu mạng cấp 3 là 6 vị trí x 9 đợt = 54 mẫu
Tổng số mẫu 3 mạng cấp là: 108 + 54 = 162 mẫu