1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi tw

98 708 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả định tính cũng cho thấy khu vực làm việc cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng bị bạo lực của điều dưỡng viên trong đó đa số các điều dưỡng viên cho rằng làm việc tại khu vực cấp

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐÀO NGỌC PHỨC

THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐÀO NGỌC PHỨC

THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN ĐỐI VỚI ĐIỀU DƯỠNG VIÊN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH

VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG NĂM 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cảm ơn các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã cùng chia sẻ những lúc khó khăn, dành cho tôi những tình cảm, là nguồn động viên lớn và ủng hộ cho tôi về mọi mặt trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình hoàn thiện nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những khiếm khuyết, học viên kính mong nhận được sự chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, sự trao đổi của các bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, Ngày 25 tháng 11 năm 2017

Học viên

Đào Ngọc Phức

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện 4

1.1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực 4

1.1.2 Khái niệm và phân loại bạo lực nơi làm việc 5

1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của điều dưỡng 7

1.2.1 Khái niệm về điều dưỡng: 7

1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng : 7

1.3 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế 9

1.3.1 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế trên thế giới 9

1.3.2 Thực trạng bạo lực với nhân viên Y tế tại Việt Nam 14

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện của nhân viên y tế 16

1.5 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương 17

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 20

2.2 Phương pháp nghiên cứu 20

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 20

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 20

2.3 Nội dung và biến số nghiên cứu 22

2.3.1 Bộ câu hỏi đánh giá bạo lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên 22

Trang 5

2.3.2 Biến số nghiên cứu 22

2.3.3 Chủ đề nghiên cứu định tính 23

2.4 Phương pháp thu thập số liệu 23

2.4.1 Thử nghiệm phiếu điều tra 23

2.4.2 Thu thập số liệu định lượng 24

2.4.3 Thu thập số liệu định tính 24

2.4.4 Phân tích số liệu 24

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 25

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Thực trạng BLBV đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương 28

3.2.1 Tỷ lệ bạo lực đối với ĐDV do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương 28

3.2.2 Phản ứng khi ĐDV bị bạo lực do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương 30

3.2.3 Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố có thể làm gia tăng BLBV 31

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện ở điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương 35

Chương 4 BÀN LUẬN 39

4.1 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương 39

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương 48

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 51

KẾT LUẬN 52

KHUYẾN NGHỊ 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 54

Phụ lục 1: Biến số nghiên cứu 57

Trang 6

Phụ lục 2: Phiếu đồng ý tham gia trả lời câu hỏi phát vấn 65 Phụ lục 4: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu ban Giám đốc, trưởng phòng TCCB, trưởng phòng điều dưỡng 72 Phụ lục 6: Hướng dẫn thảo luận nhóm 76

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3 1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3 2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3 3: Tính chất công việc đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3 4: Phân loại bạo lực 28

Bảng 3 5: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng tới tình trạng bạo lực bệnh viện 31

Bảng 3 6: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố chủ quan có thể ảnh hưởng tới tình trạng bạo lực bệnh viện 32

Bảng 3 7: Liên quan giữa yếu tố công việc và BLBV của điều dưỡng viên 35

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3 1: Tỷ lệ điều dưỡng đã từng bạo lực trong 12 tháng qua 28Biểu đồ 3 2: Vị trí điều dưỡng gặp tình trạng bạo lực bệnh viện 29Biểu đồ 3 3: Đối tượng gây nên BLBV đối với ĐDV 30Biểu đồ 3 4: Tỷ lệ phản ứng của điều dưỡng viên khi xảy ra bạo lực bệnh viện 30Biểu đồ 3 5: Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên 33

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Hiện nay bạo lực bệnh viện đang có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ nghiêm trong của sự việc Bạo lực bệnh viện có thể gây ra thương tổn về mặt tinh thần, thể chất và gây tổn thất về kinh tế cho người bị bạo lực và các

tổ chức sử dụng lao động Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng viên là nghề có nguy cơ bị bạo lực bệnh viện cao do hàng ngày phải chăm sóc và tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Để đánh giá thực trạng và tìm ra giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu bạo lực tại nơi làm việc ở điều dưỡng tại bệnh viện Nhi trung ương Chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017”

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04/2017 đến tháng 07/2017 trên 300 điều dưỡng làm việc tại Bệnh viện Nhi trung ương bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa định lượng và định tính Kết quả như sau:

Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên:72,7% điều dưỡng bị bạo

lực trong 12 tháng qua Trong số 65,3% bị bạo lực bằng lời nói thì chửi bới: 57,67%; lăng mạ, xúc phạm và đe dọa: 30%, các hành vi khác chiếm 6,7% 30,7% điều dưỡng bị bạo lực thể chất cụ thể đánh đập, xô đẩy: 17,33%, phá đồ đạc: 8%

cấu cắn: 6%; dùng vũ khí: 3%

Phản ứng của điều dưỡng khi bị bạo lực: 73,4% ĐDV có các hình thức phản ứng

khác nhau: 10,6% báo cáo cho bệnh viện; 18,8% thông báo cho an ninh/công an; 62,4% báo cáo cho người quản lý; 19,7% phản ứng bằng lời nói

Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện: Sau khi bị bạo lực có 89,4% bị stress, 92,7% lo

lắng; 26,6% muốn thay đổi nơi làm việc, 76,1%; giảm hiệu suất làm việc; 41,7% bị chấn thương

Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố có thể gây nên tình trạng bạo lực bệnh viện: Trên 90% các điều dưỡng cho rằng thời gian chờ đợi lâu; quá tải bệnh viện;

thiếu hướng dẫn, chỉ dẫn trong bệnh viện; hành vi không phù hợp ở ĐDV; người nhà bệnh nhân sử dụng chất kích thích; ĐDV thiếu kỹ năng ứng phó bạo lực Trên 70% cho rằng khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ; không minh bạch trong cung cấp

Trang 11

dịch thiếu thông tin của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân là các yếu tố có thể làm gia tăng tình trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên: Khu

vực làm việc (khu vực cấp cứu/ phòng khám) có liên quan với tình trạng bạo lực

bệnh viện (OR: 2,02; 95%CI: 1,03 – 4,10) Tương tự mối quan hệ chưa thân thiện

giữa điều dưỡng viên với bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân có liên quan với tình trạng bạo lực bệnh viện (OR: 2,32; 95%CI: 1,36– 3,96)

Kết quả định tính cũng cho thấy khu vực làm việc cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng bị bạo lực của điều dưỡng viên trong đó đa số các điều dưỡng viên cho rằng làm việc tại khu vực cấp cứu và phòng khám bị bạo lực cao hơn các khu vực khác đặc biệt là khu vực cấp cứu vào tua trực ban đêm tỷ lệ bị bạo lực là cao nhất trong bệnh viện Đa số các cán bộ tham gia trả lời phỏng vấn nói rằng mối quan hệ giữa nhân viên y tế và bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân có ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực đối với nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng nói riêng

Các hành vi đe dọa mà ĐDV phản ánh thường là dọa bị đánh, dọa có quan hệ với các lãnh đạo bệnh viện, khoa phòng hoăc là có mối quan hệ với những người có chức tước, địa vị trong xã hội có xu hướng dễ gây bạo lực cho điều dưỡng viên hơn

Từ những kết quả trên nhóm nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị như sau: Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn kỹ năng cho cán bộ điều dưỡng, đặc biệt là

kỹ năng giao tiếp với người nhà bệnh nhân nhằm hạn chế những mối quan hệ không tốt với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân qua đó hạn chế các tình huống xảy ra bạo lực tại bệnh viện Tăng cường các biện pháp an ninh, an toàn tại các điểm nóng như khu vực hồi sức, cấp cứu, phòng khám

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Ủy Ban Châu Âu thì bạo lực bệnh viện là những rủi ro mà nhân viên làm việc bị lạm dụng, đe dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến nghề nghiệp của họ, xuất phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ

rõ ràng hay tiềm tàng tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe [12]

Theo nghiên cứu tội phạm tại Anh cho thấy điều dưỡng có 5% là nạn nhân của tấn công thể chất tại nơi làm việc, số liệu cao gấp 4 lần số liệu trung bình toàn Vương Quốc Anh [6] Theo phân tích của Bộ lao động Mỹ, có tới 60% người lao động bị tấn công trong chăm sóc sức khỏe và hầu hết những cuộc tấn công gây ra bởi các bệnh nhân [9]

Bạo lực bệnh viện có thể gây ra stress nghề nghiệp Ngoài các tổn thất về tinh thần, các tổn thất về vật chất liên quan kinh phí điều trị cho nạn nhân bị bạo lực rất lớn, Theo một nghiên cứu về chi phí điều trị cho điều dưỡng viên bị tấn công ước tính là 31.643 USD [9]

Bạo lực bệnh viện xảy ra ở điều dưỡng viên với tần suất ngày càng tăng ở các quốc gia trên thế giới Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng viên là nghề

có nguy cơ bị bạo lực bệnh viện cao nhất Do tính chất công việc, thời gian tiếp xúc với người bệnh và gia đình người bệnh của điều dưỡng viên là lớn nhất so với các nhân viên khác trong bệnh viện Điều dưỡng viên phải giao tiếp với những người mắc bệnh, rối loạn, bị mắc stress (do bản thân hoặc người nhà bị bệnh), đau đớn và cảm giác bất lực Mặt khác, người bệnh và gia đình thường xuyên ở một trạng thái

bị phụ thuộc vào người khác về chăm sóc, có thể là nguyên nhân họ bị áp lực dẫn tới sự hung hăng [18]

Ở Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá về bạo lực bệnh viện ở điều dưỡng viên Trong khi công việc điều dưỡng hàng ngày phải chăm sóc và tiếp xúc với bệnh nhân và gia đình người bệnh Mặt khác, tình trạng quá tải bệnh nhân và quá tải công việc là vấn đề thường thấy tại các bệnh viện ở Việt Nam, những rối loạn tâm thần như căng thẳng, lo âu, trầm cảm được ghi nhận ở một số nghiên cứu Bên cạnh đó, hành lang pháp lý hiện nay còn chưa đủ mạnh để bảo vệ cán bộ y tế trước bạo lực đến từ bệnh nhân cũng như giữa các nhân viên y tế

Trang 13

Bệnh viện Nhi Trung ương là bệnh viện tuyến cuối về nhi khoa, mặc dù được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, bệnh viện không ngừng được đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực Tuy vậy, do nhu cầu khám, chữa bệnh ngày một tăng cao, các cán bộ

y tế phải làm việc với áp lực của tình trạng quá tải Qua khảo sát ban đầu, mỗi điều dưỡng viên thường phải chăm sóc 20-30 bệnh nhân trong mỗi ca trực Một số trường hợp được ghi nhận là người nhà bệnh nhân có sự đe dọa, hành hung cán bộ tại bệnh viện

Hiện nay tại Việt nam chưa có nghiên cứu nào quan tâm nghiên cứu bạo lực ở các bệnh viện trẻ em cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với ĐDV làm việc ở các Bệnh viện trẻ em

Để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu bạo lực tại nơi làm việc ở cán bộ điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và

một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017”

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017

2 Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương năm 2017

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện

1.1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực

1.1.1.1 Khái niệm bạo lực

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): “Bạo lực là hành vi cố ý sử

dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc

có nguy cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến

sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác” [12]

Định nghĩa này của WHO bao gồm cả những hành vi cố ý gây thương tích giữa người với người và hành vi tự sát cũng như các xung đột vũ trang Những sự kiện xảy ra ngoài ý muốn (ví dụ tai nạn giao thông hay cháy nổ) không được coi là bạo lực

1.1.1.2 Phân loại bạo lực

Theo WHO (2002), bạo lực được phân loại theo phạm vi bạo lực hoặc loại hành vi bạo lực Phạm vi bạo lực bao gồm:

Bạo lực tự thân: Được chia làm 2 thể chính là:

Hành vi tự sát: Bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng chưa

thành và tự sát thành công

Ngược đãi bản thân: Là các hành động tự hành hạ bản thân

Bạo lực giữa các cá nhân:

Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này rất phổ biến giữa

các thành viên trong gia đình và đối tác quan hệ tình dục, thông thường (nhưng không phải luôn luôn) xảy ra trong nhà Loại hình bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục và hành hạ người cao tuổi

Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ ruột

thit, có thể quen biết hoặc không quen biết nhau trước đây, thường xảy ra ở ngoài Loại hình bạo lực này bao gồm bạo lực ở trẻ em, các hành động bạo lực ngẫu hứng,

Trang 16

hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở, trại giam…

Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: Bạo lực này chia làm 3 thể là bạo lực xã hội,

bạo lực chính trị và bạo lực kinh tế Không giống với 2 loại bạo lực trên, các loại hình bạo lực này thường có động cơ rõ ràng bởi số lượng lớn các cá nhân hoặc của một tổ chức nào đó Chính vì hành động bạo lực này gây ra bởi nhiều cá nhân nên hình thức và diễn biến vô cùng phức tạp Hành vi bạo lực bao gồm:

- Bạo lực thể chất

- Bạo lực tình dục

- Bạo lực tinh thần

- Kỳ thị/phân biệt đối xử/hắt hủi/xa lánh/thờ ơ

1.1.2 Khái niệm và phân loại bạo lực nơi làm việc

1.1.2.1 Khái niệm bạo lực nơi làm việc

- Bạo lực nơi làm việc: Là những rủi ro mà nhân viên làm việc bị lạm dụng, đe dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến nghề nghiệp của họ, nó xuất phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ rõ ràng hay tiềm tàng

tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe [12]

- Tấn công/hành hung: Là hành vi có chủ đích gây hại cho người khác về mặt thể chất [12]

- Bắt nạt: Hành vi tấn công lặp lại, qua thời gian bằng thù oán, hung ác, hoặc có

ác tâm cố gắng làm nhục hoặc hủy hoại một người hoặc một nhóm người [12]

- Lạm dụng: Hành vi làm nhục, hạ thấp hoặc các biểu lộ khác một sự thiếu tôn trọng với phẩm giá và giá trị một cá nhân [12]

- Bạo lực tinh thần: Còn được gọi là bạo lực tình cảm/tâm lý Đây là loại bạo lực khá phổ biến nhưng nó khó nhận dạng được so với bạo lực thể chất Nạn nhân phải chịu các kiểu hành hạ như chửi mắng, hạ nhục với những lời lẽ thô thiển, nặng nề xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự Không những thế, bạo lực tinh thần nhiều khi còn tồn tại dưới nhiều dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý [12]

- Quấy rối: Mọi hành xử dựa trên tuổi tác, khuyết tật, nhiễm HIV, hoàn cảnh gia đình, giới tính, tình trạng tình dục, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị,

Trang 17

công đoàn hoặc quan điểm khác, lựa chọn, niềm tin, quốc tịch hoặc nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, thuộc nhóm thiểu số, nghèo đói, sinh đẻ hoặc các tình trạng khác không mong muốn hoặc không hợp tác, ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông và phụ nữ tại nơi làm việc [12]

- Xúc phạm chủng tộc: Mọi cư xử dựa trên chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, dân tộc thiểu số, hoặc tình trạng khác không mong muốn hoặc không đáp ứng và nó ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông và phụ nữ tại nơi làm việc [12]

- Đe dọa: Sử dụng sức mạnh thể chất hoặc thể lực (thậm chí cả sức mạnh tâm lý) dẫn đến nỗi sợ hãi về thể chất, nguy hại đến tình dục, tâm lý hoặc những hậu quả khác đến những cá nhân hoặc nhóm người [12]

- Nạn nhân: Bất cứ người nào là mục đích của hành động bạo lực hoặc hành vi bạo lực đã được mô tả như trên [12]

- Thủ phạm/người gây ra: Bất cứ người nào vi phạm các hành vi bạo lực hoặc dàn xếp hành vi bạo lực được mô tả như trên [12]

- Bạo lực bệnh viện: Trong giới hạn của nghiên cứu này, bạo lực bệnh viện là

bạo lực nơi làm việc xảy ra tại bệnh viện

1.1.2.2 Phân loại bạo lực bệnh viện

Bạo lực thể chất: Việc sử dụng vũ lực chống lại một người hoặc nhóm người, gây

ra các tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm thần Nó bao gồm đánh, đá, tát, đạp, xô

đẩy, cắn và véo [12]

Bạo lực lời nói: Việc cố tình sử dụng có chủ đích về quyền lực, bao gồm cả đe

dọa sức lực, chống lại một người hoặc một nhóm, có thể gây lên tác hại về thể chất, tâm thần, tâm hồn, luôn thường đạo lý, đạo đức hoặc sự phát triển xã hội Nó bao gồm lạm dụng ngôn từ, bắt nạt, lạm dụng, quấy rối và đe dọa [12]

Bạo lực tình dục: Có mặt khắp nơi trên thế giới mặc dù hầu hết các quốc gia đều

có sự khảo sát rằng vấn đề này rất ít xảy ra Bạo lực tình dục được xem là hành vi ai

đó chạm đến bộ phận cơ thể nhạy cảm của người khác khi không được phép hoặc ai

đó bị ép phải chạm đến những bộ phận nhạy cảm của người khác [12]

Trang 18

1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của điều dưỡng

1.2.1 Khái niệm về điều dưỡng:

Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao, tối

ưu về sức khỏe và các khả năng; dự phòng bệnh và sang thương; xoa dịu nỗi đau qua chẩn đoán và điều trị đáp ứng con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội

Ngày nay, điều dưỡng đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các thành phần trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, người làm nghề điều dưỡng gọi là điều dưỡng viên

1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng :

1.2.2.1 Chức năng của điều dưỡng :

 Chức năng chủ động (chức năng độc lập)

- Chức năng chủ động của người điều dưỡng là thực hiện những nhiệm vụ chăm sóc

cơ bản thuộc phạm vi kiến thức đã được đào tạo Người điều dưỡng thực hiện những nhiệm vụ này một cách chủ động

- Thực hiện chức năng chủ động, thực chất là chủ động đáp ứng các nhu cầu cơ bản của bệnh nhân, bao gồm các nhu cầu về: hô hấp, dinh dưỡng, bài tiết, vận động, duy trì thân nhiệt, vệ sinh cá nhân, thay mặc quần áo, ngủ và nghỉ, an toàn, giao tiếp, tín ngưỡng, lao động, học tập, hỗ trợ tinh thần

- Chủ động thực hành các kỹ thuật điều dưỡng, trong tiếp đón bệnh nhân đến khám bệnh và thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp bệnh nặng, tai nạn, tai biến

- Người điều dưỡng hiện đại có trách nhiệm chủ động, tích cực hoạt động xây dựng ngành Điều dưỡng, hoạt động huấn luyện, đào tạo và nghiên cứu khoa học chuyên ngành điều dưỡng

 Chức năng phối hợp

Trang 19

- Người điều dưỡng hiện nay là người cộng tác của bác sỹ (Co- Ordinator), không phải là người trợ tá, giúp việc (Dotor`s helper) của bác sỹ như quan niệm trước kia

- Chức năng phối hợp của người điều dưỡng thể hiện trong việc thực hiện y lệnh và báo cáo tình trạng bệnh nhân cho bác sỹ Phối hợp với bác sỹ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc

- Người điều dưỡng cần phải phối hợp với các đồng nghiệp khác (điều dưỡng, kỹ thuật viên, hộ sinh…) để hoàn thành nhiệm vụ của mình

- Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo 5 nhiệm vụ cơ bản của điều dưỡng:

+ Chăm sóc những người bị ốm đau, bệnh tật hoặc những ai cần được chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu cần thiết của từng cá nhân về thể chất, tình cảm, về xã hội tại bệnh viện và trong cộng đồng

+ Hướng dẫn, khuyên nhủ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về chăm sóc sức khoẻ

+ Theo dõi, thăm khám, đánh giá tình trạng bệnh nhân Phát hiện các triệu chứng lâm sàng, tác dụng phụ của thuốc, báo cáo tình trạng bệnh nhân cho bác sỹ điều trị + Huấn luyện cho nhân viên y tế khác trong chăm sóc bệnh nhân và trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu

+ Cộng tác với các nhân viên y tế khác trong việc nâng cao chất lượng điều dưỡng hoặc quản lý tốt sức khoẻ cộng đồng

Trên cơ sở trình độ được đào tạo và vị trí công tác mà mỗi điều dưỡng có các nhiệm

vụ cụ thể khác nhau, cần thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các chức năng điều dưỡng 1.2.2.2 Nhiệm vụ của điều dưỡng

Bộ Y tế đã có Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/1/2011 về hướng dẫn công tác điều dưỡng chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, điều dưỡng viên có 12 nhiệm

vụ chuyên môn:

- Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe;

- Chăm sóc về tinh thần;

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân;

- Chăm sóc dinh dưỡng;

Trang 20

- Chăm sóc phục hồi chức năng;

- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật;

- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh;

- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong;

- Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng;

- Theo dõi, đánh giá người bệnh;

- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh;

- Ghi chép hồ sơ bệnh án

1.3 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế

1.3.1 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế trên thế giới

Hiện nay xã hội rất quan tâm đến các loại bạo lực có thể xảy ra đối với con người như bạo lực gia đình, bạo lực học đường, bạo lực xảy ra tại nơi làm việc trong đó có bạo lực xảy ra tại các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác nhau trên thế giới về các loại bạo lực nói trên Một nghiên cứu phân tích gộp về bạo lực đối với tổng cộng 136 bài báo cung cấp dữ liệu về 151.347 điều dưỡng Kết quả đã cho thấy khoảng 1/3 điều dưỡng trên toàn thế giới bị bạo lực thể chất, khoảng 1/4 bị quấy rối tình dục, và khoảng 2/3 chỉ ra bạo lực lời nói Bạo lực thể chất phổ biến nhất ở các khoa cấp cứu, lão khoa, và cơ sở tâm thần Bạo lực thể chất và quấy rối tình dục phổ biến nhất nước Anh, trong khi đó bạo lực lời nói là phổ biến nhất ở Trung Đông Bệnh nhân là đối tượng chủ yếu gây nên bạo lực thể chất ở châu Âu, người nhà và và bạn bè của bệnh nhân lại là đối tượng chính gây nên bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng ở khu vực Trung Đông [23] Đa số các nghiên cứu đều mô tả bạo lực xảy ra với điều dưỡng viên nói chung

Theo các nghiên cứu đã thực hiện cho thấy tỷ lệ bị bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế tùy thuộc vào từng nghiên cứu nhưng đều nằm trong khoảng từ 40%

- 70% cụ thể như:

Tỷ lệ bạo lực chung: Tại Châu Phi, trong nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh

viện đối với điều dưỡng tại Gambia Nghiên cứu được thực hiện trên 219 điều dưỡng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự đánh giá và 35 cuộc phỏng vấn sâu Việc

Trang 21

thu thập dữ liệu được tiến hành từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2014 tại 14 cơ sở chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Kết quả thu được là phần lớn số người trả lời (62,1%) cho biết có tiếp xúc với bạo lực trong 12 tháng trước cuộc điều tra; tiếp xúc với lạm dụng lời nói, bạo lực thể xác và quấy rối tình dục là 59,8%, 17,2% và 10% Các thủ phạm chủ yếu là bệnh nhân / người nhà bệnh nhân [22]

Một nghiên cứu khác về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại nơi làm việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ tại khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập của tác giả Abdellah Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực bệnh viện Bạo lực bằng miệng được chiếm tỷ lệ nhiều nhất (58,2%), bạo lực thể chất là 15,7% Các yếu tố gây nên tình trạng bạo lực là thời gian chờ đợi và sự mong đợi của bệnh nhân và gia đình không được đáp ứng Chỉ có 29,5% nhân viên y tế bị bạo lực bằng lời và 23,8% những người đã từng bị bạo lực thể xác báo cáo cho cơ quan của bệnh viện Khoảng 75% nhân viên y tế nghĩ rằng bạo lực bệnh viện có thể được ngăn ngừa, và khoảng 60% nói rằng không có hành động nào được thực hiện đối với kẻ tấn công bởi cơ quan bệnh viện [3]

Tại Châu Âu: Nghiên cứu của Pinar và Ucmak năm 2010 về bạo lực lời nói và thể chất đối với điều dưỡng tại các khoa cấp cứu ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ

lệ bị bạo lực bằng lời nói là 91,4%; có 74,9% điều dưỡng trải qua bạo lực thể chất

ít nhất một vài đợt trong 12 tháng trước đó Sau khi trải qua bạo lực, hầu hết các điều dưỡng cảm thấy sợ hãi, có 3% cho biết họ nghỉ ốm, trong khi đó 80% không báo cáo về tình trạng bạo lực họ gặp phải Các điều dưỡng cho biết, sau khi bị bạo lực tại nơi làm việc, họ tìm thấy sự hỗ trợ chủ yếu từ các đồng nghiệp của họ trong các phòng cấp cứu Hơn một nửa trong số các điều dưỡng (65%) cảm thấy không an toàn trong các khoa cấp cứu, 89,8% trong số họ cho biết bệnh nhân và người nhà có thể có những hành vi bạo lực đối với nhân viên khi bệnh nhân vào khoa cấp cứu [21]

Tại Châu Á: Nghiên cứu tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc năm 2014 cho thấy trong tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo hành về lời nói trong 12 tháng đã qua là 63,8%, tiếp theo là đe dọa bạo lực (41,6%), bị bạo lực thể xác (22,3%) và quấy rối tình dục (19,7%) [20]

Trang 22

Nghiên cứu về bạo lực đối với nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế gia đình ở Saudi Arabia cho thấy có 123 nhân viên chăm sóc sức khoẻ trong nghiên cứu (45,6%) đã trải qua một số loại bạo lực hơn 12 tháng trước khi nghiên cứu Bao gồm bạo lực thể chất (6,5%), bạo lực lời nói (94,3%) và hăm dọa (22,0%) Người gây ra bạo lực đối với nhân viên y tế chủ yếu là bệnh nhân 71,5%, người đi cùng (20,3%), hoặc cả hai (3,3%) Sau khi bị bạo lực gần một nửa (48,0%) các nhân viên không báo cáo, 38,2% chủ động báo cáo, và 13,8% đã hỏi ý kiến của đồng nghiệp [5]

Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tại nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc cho thấy có 57,2% đã bị bạo lực bệnh viện trong năm trước[7]

Trong nghiên cứu của Mingli Jiao và cộng sự năm 2014 trên đối tượng là 588 điều dưỡng tại tỉnh Hắc Long Giang Trung quốc cho kết quả có 7,8% điều dưỡng trả lời có bị bạo lực thể chất 71,9% cho biết bị bạo lực tinh thần trong năm trước đó Người gây bạo lực là bệnh nhân hoặc họ hàng của họ (93,5% và 82%), và 24% các

y tá gặp phải bạo lực phi thể chất liên quan đến tổ chức Yi Nao (nhóm đối tượng chuyên gây rối tại các bệnh viện) [13]

Các hình thức bạo lực là khác nhau Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tai nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014 Kết quả cho thấy có 57,2% đã bị bạo lực bệnh viện trong năm trước Các hình thức bạo lực ở nơi làm việc phổ biến nhất là lạm dụng lời nói (53,4%), bạo lực thể xác (16,1%), bắt nạt / quấy rối (14,2%), quấy rối tình dục (4,6%) và quấy rối chủng tộc (2,6%) Hầu hết các hành vi bạo lực xảy ra bởi bệnh nhân và người thân, đồng nghiệp, và người giám sát [7]

Tỷ lệ bạo lực lời nói là tương đối cao trong các nghiên cứu:

Tại châu Phi: Một nghiên cứu về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại nơi làm việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ của khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập của tác giả Abdellah Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực bệnh viện Bạo lực bằng miệng được chiếm tỷ lệ nhiều nhất (58,2%)[3]

Trang 23

Nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng tại Gambia Nghiên cứu được thực hiện trên 219 điều dưỡng bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự đánh giá và 35 cuộc phỏng vấn sâu cho thấy lạm dụng lời nói là 59,8% [22]; trong nghiên cứu của Nouf Al-Turkiat all (2016), bạo lực lời nói (94,3%) và hăm dọa (22,0%) [5]

Tại châu Âu: Nghiên cứu của Fisekovic Kremic và cộng sự tại Serbia năm 2016 cho thấy 47,8% nhân viên y tế tham gia nghiên cứu bị bạo lực bằng lời nói [17] Nghiên cứu của Pinar và Ucmak năm 2010 về bạo lực đối với điều dưỡng tại các khoa cấp cứu ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy tỷ lệ bị bạo lực bằng lời nói là 91,4%[21]

Tại châu Á: Trong một số nghiên cứu về bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế thì tỷ lệ nhân viên y tế bị bạo lực lời nói dao động từ 50% - 90% [5, 8]

Nghiên cứu tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc năm 2014 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo hành về lời nói trong 12 tháng qua là 63,8%[20]

Ở Trung Đông, trong nghiên cứu về bạo lực đối với nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế gia đình ở Saudi Arabia của tác giả Nouf Al-Turkiat all (2016) cho thấy có

123 nhân viên chăm sóc sức khoẻ trong nghiên cứu (45,6%) đã trải qua một số loại bạo lực hơn 12 tháng trước khi nghiên cứu trong đó bạo lực lời nói (94,3%) và hăm dọa (22,0%)[5]

Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tai nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014 Kết quả cho thấy có 57,2% đã bị bạo lực bệnh viện trong năm trước Các hình thức bạo lực ở nơi làm việc phổ biến nhất là lạm dụng lời nói (53,4%)

Tỷ lệ nhân viên y tế bị bạo lực thể chất có sự khác biệt rõ ràng giữa các nghiên cứu:

Tại Châu Phi: Một nghiên cứu khác về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại nơi làm việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ tại khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập của tác giả Abdellah Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực bệnh viện trong đó bạo lực thể chất là 15,7%[3]

Trang 24

Tại châu Á: Có nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ bị bạo lực thể chất tương đối thấp như nghiên cứu của TerisCheung tỷ lệ bị bạo lực thể chất 16,1%[7]

Trong nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc năm 2014 là 22,3%[20]

Nghiên cứu về bạo lực tại nơi làm việc của điều dưỡng làm việc tại bệnh viện ở Iraq của Abu AlRub và cộng sự cho thấy có 49 trong số 116 người tham gia cho rằng họ đã bị tấn công về thể chất trong công việc [4]

Trong nghiên cứu của Pai HC, Lee S về tình trạng bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên lâm sàng tại Đài loan năm 2011 cho thấy trong số những người tham gia

có 19,6% đã từng bị bạo lực thể chất, 51,4% bị ngược đãi, 29,8% đã từng bị bắt nạt / bạo lực [19]

Ngoài ra nhân viên y tế còn bị một số loại bạo lực khác như: Nghiên cứu của

Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tại nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc Thời gian thu thập dữ liệu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014 Kết quả cho thấy quấy rối tình dục (4,6%) và quấy rối chủng tộc (2,6%) [7] Trong nghiên cứu này tác giả có chỉ ra các loại bạo lực khác nhau

mà nhân viên y tế gặp phải, tuy nhiên tỷ lệ này lại rất thấp Trong nghiên cứu của Pai HC, Lee S về tình trạng bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên lâm sàng tại Đài loan năm 2011 cho thấy trong số những người tham gia có 12,9% đã từng bị quấy rối tình dục [19]

Tỷ lệ điều dưỡng viên bị quấy rối tình dục có cao hơn Nghiên cứu tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc năm 2014 cho thấy trong tỷ lệ điều dưỡng viên bị quấy rối tình dục (19,7%) [20]

Đối tượng gây ra bạo lực với nhân viên y tế: Nghiên cứu về tình trạng bạo lực

bệnh viện đối với điều dưỡng tại Gambia, các thủ phạm chủ yếu là bệnh nhân / người nhà bệnh nhân [22]

Trong nghiên cứu về bạo lực đối với nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế gia đình ở Saudi Arabia, người gây ra bạo lực đối với nhân viên y tế chủ yếu là bệnh nhân 71,5%, người đi cùng (20,3%), hoặc cả hai (3,3%) [5]

Trang 25

Trong nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tai nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc, hầu hết các hành vi bạo lực xảy ra bởi bệnh nhân và người thân, đồng nghiệp, và người giám sát [7].Đối tượng gây ra bạo lực đối với nhân viên y tế phần lớn là bệnh nhân và thân nhân của

họ Trong nghiên cứu của Mingli Jiao và cộng sự năm 2014 trên đối tượng là 588 điều dưỡng tại tỉnh Hắc Long Giang Trung quốc, người gây bạo lực là bệnh nhân hoặc họ hàng của họ (93,5% và 82%), và 24% các y tá gặp phải bạo lực phi thể chất liên quan đến tổ chức Yi Nao (nhóm đối tượng chuyên gây rối tại các bệnh viện) [13]

Qua một số nghiên cứu trên có thể thấy tình trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên có nhiều loại khác nhau như bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực bằng lời nói, các hình thức đe dọa, bạo lực tình dục… trong đó có hai loại bạo lực hay gặp nhất là bạo lực lời nói và bạo lực thể chất Tùy thuộc vào từng nghiên cứu

sẽ có các mức độ và tỷ lệ các điều dưỡng viên gặp phải bạo lực khác nhau Tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo lực thể chất dao động từ 7,8% đến 74,9%; bạo lực lời nói nằm trong khoảng từ 63,8% đến 91% Như vậy trên 50% số điều dưỡng viên đã gặp phải bạo lực lời nói trong quá trình làm việc Không có nhiều nghiên cứu đề cập đến vấn đề bị bạo lực tình dục nơi làm việc đối với điều dưỡng viên nhưng thông qua một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bị bạo lực tình dục cũng đáng quan tâm khi tỷ lệ khoảng từ 12% đến 20% Hầu hết các nghiên cứu về tình trạng bạo lực do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra cho nhân viên Y tế nói chung và điều dưỡng viên nói riêng đều tập trung ở các cơ sỏ y tế của người lớn, Hiện chưa tìm thấy nghiên cứu nào nghiên cứu về bạo lực với điều dưỡng viên tại các cơ sở chăm sóc Nhi khoa

1.3.2 Thực trạng bạo lực với nhân viên Y tế tại Việt Nam

Hiện nay tình trạng bạo lực trong ngành Y tế đang có xu hướng gia tăng tại Việt Nam cả về số lượng cũng như tính chất của sự việc Những vụ việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác khám chữa bệnh Hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy các nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế nói chung và điều dưỡng viên nói riêng tại Việt Nam Tuy nhiên theo thống kê khi bạo lực bệnh viện

Trang 26

xảy ra đối tượng bị tấn công chủ yếu là bác sĩ với 70%, điều dưỡng 15% Có đến 90% số vụ việc xảy ra trong khuôn viên bệnh viện, trong khi thầy thuốc đang cấp cứu, chăm sóc cho người bệnh (chiếm 60%), và các vụ bạo lực xảy ra chủ yếu là trong giờ trực [5]

Nghiên cứu của Hà Thế Tấn năm 2010 tỷ lệ nhân viên y tế bị bệnh nhân/người nhà bệnh nhân lăng mạ chiếm 18,4% và hành hung là 2,4%, trong đó số nhân viên y

tế là nam bị lăng mạ, hành hung đều cao hơn nữ (21,7%, 3,7% so với 16,6%, 1,7%)

Tỷ lệ nhân viên y tế bị lăng mạ tại tuyến huyện là 19,9%, tuyến tỉnh 19,0%, tuyến trung ương 15,4% Tương tự tỷ lệ bị hành hung tại tuyến huyện là 3,1%, tuyến tỉnh 2,1%, tuyến trung ương 2,9% Tỷ lệ điều dưỡng viên bị lăng mạ là 14,0%, hành hung là 2,7%, tuyến trung ương bị lăng mạ, hành hung cao hơn tuyến tỉnh lần lượt

là (15,6%, 3,7% so với 12,9%, 2,7%) [2]

Nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp năm 2009trên đối tượng là các bác sỹ, dược

sỹ, y sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý và các NVYT khác làm công tác khám chữa bệnh, xét nghiệm và công tác phòng chống dịch bệnh tại 132 bệnh viện và các cơ sở y tế dự phòng từ trung ương đến tuyến xã… tỷ lệ nhân viên y tế bị chửi mắng chiếm 17,2%, đe dọa 11,2% và đã từng bị hành hung là 2,7% Sau khi bị bệnh nhân/người nhà bệnh nhân chửi mắng, đe dọa và hành hung thì có gần 20% nhân viên y tế không có phản ứng gì [1]

Qua một số vụ việc trên chúng ta có thể thấy tình trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên Y tế tại Việt Nam cũng giống như trên thế gới đa số nhân viên bị bạo lực

về thể chất và bạo lực về lời nói Mức độ và tính chất của các vụ việc khác nhau từ mức chỉ chửi bới, đe dọa, hành hung đánh đập đến mức nghiêm trọng là đâm chết nhân viên y tế trong đêm trực khi đang cấp cứu người bệnh Thực trạng này ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý, sức khỏe của nhân viên y tế trực tiếp bị bạo lực cũng như tinh thần của toàn bộ nhân viên trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh cho người điều trị

Trang 27

Hiện nay tại Việt nam chưa có nghiên cứu nào quan tâm nghiên cứu bạo lực ở các bệnh viện trẻ em cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với ĐDV

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện của nhân viên y tế

Có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế như : Môi trường làm việc, tính chất công việc, vị trí công việc, khối lượng công việc… Các yếu tố này tùy thuộc vào thời gian, đối tượng, khu vực nghiên cứu

mà có thể có sự khác biệt cụ thể như :

Về môi trường làm việc:Trong nghiên cứu Nouf Al-Turki và cộng sự, các tác giả đã chỉ ra những người làm việc trong môi trường không có sự khuyến khích báo cáo khi bạo lực xảy ra thì bị bạo lực thường xuyên hơn so với nhóm còn lại (50,7%

so với 31,3%, P = 0,006)[5]

Tính chất công việc: Những người làm việc nhiều hơn một ca mỗi ngày bị bạo

lực thường xuyên hơn so với những người chỉ làm một ca (63,5% và 38,8%, P

<0,001) Những người làm việc vào ban đêm bị bạo lực thường xuyên hơn so với những người làm việc ban ngày (64,1% so với 38,0%, P <0,001)[5]

Thời gian chờ đợi lâu, kỳ vọng của bệnh nhân và gia đình vượt quá khả năng của bệnh viện:Nghiên cứu của Abdellahđối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ tại khoa

cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập Abdellah Kết quả có 59,7% nhân viên y tế trả lời có bị bạo lực bệnh viện Các yếu tố gây nên tình trạng bạo lực là thời gian chờ đợi và sự mong đợi của bệnh nhân và gia đình không được đáp ứng[3]

Nghiên cứu của Fisekovic Kremic và công sự tại Serbia năm 2016, chỉ ra rằng điều dưỡng chuyên nghiệp (OR = 2,57, 95% CI: 1,59-4,13), người làm việc từ 6 giờ đến 7 giờ sáng (OR = 1,34, KTC 95%: 1,07-1,68) tương tác với bệnh nhân trong thời gian làm việc (OR = 1,77, KTC 95%: 1,26-2,47), với ít hơn 20 nhân viên trong cùng một môi trường làm việc (OR = 1,43, KTC 95%: 1,10-1,85) và không khuyến khích báo cáo bạo lực tại nơi làm việc (OR = 1,56, KTC 95%: 1,28-1,96), là yếu tố tiên đoán bạo lực lời nói [17]

Trang 28

Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về tình trạng bạo lực tai nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc Thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 8 đến tháng 12 năm 2014 Kết quả cho thấy việc bị bắt nạt, quấy rối tình dục

và quấy rối chủng tộc không có ý nghĩa thống kê giữa bác sĩ và điều dưỡng Nghiên cứu này cho thấy có mối liên quan giữa đối tượng gây ra tình trạng bạo lực thể chất đối với bác sĩ và điều dưỡng Các bác sĩ ít bị lạm dụng lời nói so với điều dưỡng (p

<0.05) [7]

Các yếu tố về đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân và quốc tịch, không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến bạo lực Tương tự, các đặc điểm nghề nghiệp, như số lượng đồng nghiệp, giới tính của bệnh nhân không có liên quan đáng kể đến bạo lực [5]

1.5 Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương

Bệnh viện Nhi Trung ương được thành lập vào năm 1969 theo Quyết định số 111/CP ngày 14/7/1969 của Chính phủ với tên gọi ban đầu là Viện Bảo vệ Sức khỏe trẻ em, trên cơ sở là Khoa Nhi của Bệnh viện Bạch Mai Viện bảo vệ sức khỏe Trẻ

em, Bệnh viện Nhi Việt Nam Thụy điển, Viện Nhi Hiện nay, tên gọi chính thức là Bệnh viện Nhi Trung ương

Bệnh viện Nhi Trung ương luôn là địa chỉ tin cậy của người bệnh Trong giai đoạn 2010 – 2016 số lượng người bệnh đến khám ngoại trú luôn tăng dần theo từng năm Mô hình khám bệnh phong phú, có các loại bệnh lý thông thường, cấp tính, bệnh lý mạn tính Đáp ứng tốt nhu cầu của người bệnh Chất lượng điều trị và chăm sóc được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ bệnh nhân tử vong và xin về giảm còn 2,35 % (2014)

so với 2,44% (2013) và 3,08% (2012) Các nhóm bệnh được can thiệp tốt hơn đã giảm tỷ lệ tử vong rõ rệt như nhóm bệnh hệ tuần hoàn, chu sinh, dị tật bẩm sinh Kết quả này đánh giá chất lượng khám chữa bệnh của Bệnh viện Nhi Trung ương vẫn đảm bảo do đặc điểm bệnh nhân nặng, phức tạp nhiều hơn trong thời gian gần đây được chuyển tuyến từ các bệnh viện trong khu vực miền Bắc

Để đạt được những thành công như hiện nay, các cán bộ công nhân viên y tế của bệnh viện phải luôn luôn nỗ lực cố gắng không ngừng nghỉ 24h/ngày và 7 ngày/

Trang 29

tuần 52 tuần/ năm Nhân viên các khoa Cấp cứu chống độc, HSCC, Sơ sinh phải đảm bảo 3 ca 4 kíp làm việc liên tục Giờ giấc làm việc, nhịp sinh học bị thay đổi liên tục, cơ thể không thể thích nghi được dẫn đến nhiều bất ổn về thể chất và tinh thần của cán bộ, đặc biệt là các điều dưỡng viên

Hiện nay, Bệnh viện Nhi trung ương có 34 khoa lâm sàng với tổng số 761 cán bộ điều dưỡng đang làm việc tại các đơn vị này Số lượng điều dưỡng viên tại các khoa phân bố khác nhau do đặc thù về số lượng người bệnh cần chăm sóc Khoa ít nhất là

2 điều dưỡng viên và khoa nhiều nhất là 85 điều dưỡng viên Tại khoa Điều trị tích cựu (ICU) có tổng số 41 ĐDV nhưng lại có cơ số giường là 70, phần lớn các bệnh nhân nặng phải thở máy và chăm sóc đặc biệt

Với số lượng điều đưỡng viên trực tiếp chăm sóc bệnh nhân mỏng, bên cạnh đó, bệnh nhân ngày một tăng cao, áp lực ngày một nhiều hơn Qua khảo sát ban đầu, mỗi điều dưỡng viên thường phải chăm sóc 20-30 bệnh nhân trong mỗi ca trực, công việc của họ thì vô cùng vất vả, áp lực cao, họ là người phải chăm sóc trực tiếp cho các bệnh nhân, thực hiện các y lệnh của bác sỹ, lo cho bệnh nhân từng bữa ăn, giấc ngủ, và phải thực hiện rất nhiều các y lệnh chăm sóc khác Với khối lượng công việc thì vô cùng nhiều như vậy, luôn phải làm việc với cường độ và áp lực cao, họ không thể tránh khỏi các sơ xuất có thể xảy ra, bên cạnh đó, họ luôn phải đối đầu và lo lắng với bạo lực có thể xảy ra với mình bất cứ lúc nào, bạo lực luôn rình rập họ ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào

Trang 30

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

Yếu tố bệnh của bệnh nhân:

 Nhân viên bảo vệ, giám sát

Nội quy, quy định bệnh viện

Đặc điểm công việc:

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

 Điều dưỡng viên :

+ Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Điều dưỡng viên làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện Nhi trên 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn loại trừ:

- Vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

 Cán bộ quản lý:

- Đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh, điều dưỡng trưởng khoa cấp cứu

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2017 đến tháng 07/2017

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Nhi Trung ương 18/879 Đê La Thành- Đống

Đa- Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

a) Cỡ mẫu

 Nghiên cứu định lượng

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:

Trang 32

(1 2) 2

- n: Cỡ mẫu nghiên cứu

- Z: Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95%, tra bảng có (1 )

2

Z  = 1,96

- p = 0,75 (lấy theo tỷ lệ điều dưỡng đã bị bạo lực trong nghiên cứu của và

Ucmak 74,5%)[21]

- d: Sai số tuyệt đối cho phép, lấy d= 0,06 (sai số cho phép 6%)

- Thay số vào ta được kết quả n = 288 mẫu Dự phòng 10% đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc hoặc điền thiếu thông tin nên cỡ mẫu sẽ là 317 mẫu

 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

+ Phỏng vấn sâu: 05 người

+ Thảo luận nhóm: 2 cuộc

b) Phương pháp chọn mẫu:

 Định lượng:

Hiện tại Bệnh viện Nhi có 761 điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng Căn

cứ vào tiêu chuẩn chọn mẫu thì chỉ có 641 điều dưỡng đủ điều kiện đưa vào nghiên cứu Như vậy cứ 2 điều dưỡng chọn 1 người đưa vào nghiên cứu Nghiên cứu viên bốc thăm chọn điều dưỡng tham gia nghiên cứu của từng khoa một cách ngẫu nhiên

(VD một khoa có 10 người sẽ chọn ngẫu nhiên lấy 5 người) tổng số phiếu đã thu thập được là 325 phiếu Sau khi thu thập, làm sạch số liệu nghiên cứu viên chỉ chọn

được 300 mẫu đưa vào phân tích kết quả

 Định tính:

+ Phỏng vấn sâu: 05 cuộc (đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh, điều dưỡng trưởng khoa cấp cứu)

+ Thảo luận nhóm: 2 cuộc: Nhóm 1 (5 cán bộ đã từng bị bạo lực); Nhóm 2 (5 cán bộ chưa bị bạo lực)

Trang 33

2.3 Nội dung và biến số nghiên cứu

2.3.1 Bộ câu hỏi đánh giá bạo lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên

Bộ câu hỏi dựa vào nghiên cứu “Bạo lực tại nơi làm việc đối với điều dưỡng ở 3

cơ sở y tế khác nhau của Hy Lạp” năm 2014 và được đăng trên tạp chí WORK của tác giả Fafliora E và cộng sự (2015) [12]; dựa trên các tiêu chuẩn của Văn phòng người lao động quốc tế (International Labour Office), Hội điều dưỡng thế giới (International Council of Nurses); Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization) và mỗi phần của bộ câu hỏi được thiết lập từ các nghiên cứu có liên quan [12] Bộ công cụ gốc có 109 câu hỏi để thu thập các thông tin cá nhân, môi trường làm việc, bạo lực bệnh viện: bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực bệnh viện và hậu quả của bạo lực bệnh viện Bộ câu hỏi được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn khám, chữa bệnh tại bệnh viện Nhi Trung ương, được bệnh viện Nhi Trung ương thông qua Do đặc thù là bệnh viện điều trị nhi khoa, cũng như khuân khổ nghiên cứu của nghiên cứu này mà nhóm nghiên cứu đã điều chỉnh, bỏ bớt một số các câu hỏi thuộc bạo lực tình dục, quấy rối chủng tộc, vì vậy bộ câu hỏi còn 39 câu hỏi

Bộ câu hỏi gồm các phần: Thông tin chung đối tượng nghiên cứu; đánh giá bạo lực gây ra tại các khoa/phòng của bệnh viện; đánh giá sự từng trải bạo lực, thủ phạm, các tình huống gây ra bạo lực và mức độ ảnh hưởng của bạo lực lên sức khỏe, công việc của người điều dưỡng viên; xác định các giải pháp phòng ngừa

2.3.2 Biến số nghiên cứu

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu như: Tuổi, giới tính, trình độ, thâm niên công tác, khoa phòng công tác, loại hình công việc

- Tình trạng bị bạo lực bệnh viện: đã từng bị bạo lực bệnh viện, bạo lực lời nói, bạo lực thể chất, quy trình báo cáo, các phản hồi của lãnh đạo sau khi bị bạo lực,mức độ an ninh của bệnh viện

Trang 34

- Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên: Nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực bệnh viện; việc sử dụng chất kích thích của bệnh nhân/người nhà bênh nhân; sự quá tải; sự minh bạch trong cung cấp dịch vụ; thiếu hướng dẫn/chỉ dẫn trong bệnh viện; sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ; hành vi không phù hợp của ĐDV; thiếu thông tin của bệnh nhân/người nhà bênh nhân; thời gian chờ đợi

- Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng: Stress; lo lắng; trầm cảm; không hài lòng công việc; muốn thay đổi nơi làm việc; hiệu suất làm việc kém…

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Thử nghiệm phiếu điều tra

- Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các tiêu chuẩn biến

số nghiên cứu và một số tài liệu tham khảo

- Phiếu điều tra sau khi được xây dựng đã tiến hành thử nghiệm 30 phiếu chia làm 3 khu vực (cấp cứu, phòng khám và nội trú) mỗi khu vực phỏng vấn khoảng 10 cán bộ ĐDV tại các khoa nhằm kiểm tra các sai sót, các từ ngữ hoặc cách đặt câu hỏi chưa phù hợp, chưa đúng với phương pháp điều tra

- Sau khi thử nghiệm phiếu điều tra đã được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp

Trang 35

2.4.2 Thu thập số liệu định lượng

Được sự đồng ý của Ban giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, nhóm nghiên cứu làm việc với lãnh đạo các khoa/phòng về kế hoạch và thời gian thu thập số liệu của từng khoa/ phòng

Sau thời gian giao ban của các khoa/phòng các điều dưỡng tham gia nghiên cứu được tập hợp tại phòng giao ban của khoa trả lời câu hỏi theo phương pháp phát vấn Trong buổi thu thập số liệu các điều tra viên đã giải thích cho các điều dưỡng

về mục đích nghiên cứu và cách điền câu trả lời vào phiếu phát vấn Những điều dưỡng đồng ý tham gia nghiên cứu ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu và được phát phiếu điều tra

Trong quá trình thu thập thông tin, các điều tra viên giám sát để đối tượng nghiên cứu không trao đổi câu trả lời với nhau làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Khi đối tượng nghiên cứu đã trả lời xong các điều tra viên kiểm tra thông tin xem đã đúng và đầy đủ chưa rồi mới thu phiếu

Nghiên cứu viên phỏng vấn sâu 05 cuộc (đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh, điều dưỡng

trưởng khoa cấp cứu).Thảo luận nhóm: 2 cuộc: Nhóm 1 (5 cán bộ đã từng bị bạo lực); Nhóm 2 (5 cán bộ chưa bị bạo lực) Dữ liệu được thu thập bằng ghi âm biên

bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

2.4.4 Phân tích số liệu

- Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để cho các thông tin mô tả và phân tích thống kê

Trang 36

- Tính tỷ suất chênh OR để tìm hiểu các mối liên quan

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo Quyết định số 220/2017/YTCC-HĐ3 ngày 30 tháng 3 năm 2017.Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Bệnh viện Nhi Trung ương Các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích nghiên cứu và đều đồng ý tham gia nghiên cứu Nghiên cứu không gây ảnh hưởng tiêu cực tới đối tượng tham gia nghiên cứu Các thông tin cá nhân về đối tượng được giữ bí mật bằng cách mã hóa Thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và không sử dụng vào mục đích nào khác

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục

Nghiên cứu thu thập thông tin bằng phương pháp phát vấn, một số câu đòi hỏi đối tượng nghiên cứu phải nhớ lại các sự việc đã xảy ra trong quá khứ và các hoạt động đã làm nên không thể tránh khỏi chọn nhầm và sai số nhớ lại Việc thực hiện thu thập thông tin trên bộ câu hỏi thiết kế sẵn và tương đối dài nên có thể gặp sai số

do đối tượng nghiên cứu không hợp tác, không hiểu câu hỏi, bỏ cuộc hay từ chối tham gia Để hạn chế tối đa sai số, nghiên cứu viên trực tiếp tham gia các buổi thu thập thông tin vàgiải thích rõ nội dung câu hỏi cho đối tượngnghiên cứu

Để giảm bớt sai số do quá trình nhập liệu, nghiên cứu viên tiến hành nhập liệu 2 lần để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nhập liệu

Trang 37

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Số lượng (n=300) Tỷ lệ (%)

Qua bảng 3.1 cho thấy ĐDV đang công tác tại bệnh viện Nhi Trung ương đa số

là nữ giới (89,3%); tỷ lệ có trình độ trung cấp và đại học tương đương nhau (42% và 43%), điều dưỡng có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ nhỏ (1,7%); tỷ lệ điều dưỡng

có độ tuổi từ 30 trở xuống là 49%

Trang 38

Bảng 3 2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu Nội dung Số lượng (n=300) Tỷ lệ (%)

Bảng 3 3: Tính chất công việc đối tượng nghiên cứu Nội dung Số lượng (n=300) Tỷ lệ (%)

Thường xuyên tiếp xúc bệnh nhân/người nhà bệnh nhân

Trang 39

Hầu hết các ĐDV thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân/người nhà bệnh nhân (99,3%) và thực hiện các thủ thuật trên người bệnh (96,3%)

3.2 Thực trạng BLBV đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương

3.2.1 Tỷ lệ bạo lực đối với ĐDV do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Biểu đồ 3 1: Tỷ lệ điều dưỡng đã từng bạo lực trong 12 tháng qua

Qua biểu đồ 3.1 cho thấy trong 12 tháng qua có 72,7% điều dưỡng bị bạo lực; 30,7% điều dưỡng đã từng bị bạo lực thể chất và 65,3% bị bạo lực bằng lời nói

Bảng 3 4: Phân loại bạo lực

Bạo lực lời nói

Trang 40

Bảng 3.4 cho thấy về các loại bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên có 57,67%

số điều dưỡng cho biết họ từng bị chửi bới trong khi thực hiện CSBN; tỷ lệ bị lăng

mạ, xúc phạm và đe dọa chiếm khoảng 30%, các hành vi khác chiếm 6,7% 17,33% ĐDV từng bị BN/NNBN đánh đập, xô đẩy, gần 8% ĐDV từng bị khách hàng phá

đồ đạc, 6% ĐDV đã từng bị khách hàng cấu cắn và gần 3% ĐDV từng bị khách hàng cầm dao, gậy đuổi đánh

Biểu đồ 3 2: Vị trí điều dưỡng gặp tình trạng bạo lực bệnh viện

Biểu đồ 3.2 cho thấy trong số các khu vực mà điều dưỡng viên đã gặp bạo lực bệnh viện thì khu vực cấp cứu là nơi điều dưỡng viên gặp nhiều nhất (50,5%), tiếp đến là khu vực khám bệnh (37,2%) và khu điều trị nội trú (36,7%) và có 2,3% điều dưỡng viên gặp bạo lực bệnh viện ở các vị trí khác

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w