Đề tài nghiên cứu “Kiến thức phòng chống bệnh Lao và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016” nhằm góp phần cung cấp thông tin tron
Trang 1TRẦN THANH TUẤN
KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHONG MỸ, HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGHÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
Đồng Tháp - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN THANH TUẤN
KIẾN THỨC PHÕNG CHỐNG BỆNH LAO VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN XÃ PHONG MỸ, HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
TS.NGUYỄN THỊ MINH ĐỨC
Đồng Tháp - 2016
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và hỗ trợ của Ts Nguyễn Thị Minh
Đức và Ts Hoàng Khánh Chi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Trung tâm y tế huyện Cao Lãnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài trên địa bàn quản lý
Chân thành cảm ơn cán bộ viên chức Trạm Chống Lao tỉnh Đồng Tháp, Tổ Lao Trung tâm y tế huyện Cao Lãnh đã tạo điều kiện thuận lợi cung cấp thông tin cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu
Chân thành cảm ơn cán bộ viên chức Trạm y tế xã Phong Mỹ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thu thập số liệu trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT III DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ V TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VI
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1 Đ ỊNH NGHĨA 4
2 T ÌNH HÌNH BỆNH L AO TRÊN THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 4
3 M ỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO TRÊN THẾ GIỚI VÀ V IỆT N AM 6
4 M ỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN 10
CHƯƠNG 2 16
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
1 Đ ỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU (ĐTNC): 16
2 T HỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU : 16
3 T HIẾT KẾ NGHIÊN CỨU : 16
4 C Ỡ MẪU , PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU : 17
5 P HƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU : 18
6 P HÂN TÍCH SỐ LIỆU 19
7 C HỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU 19
8 K HÁI NIỆM , THƯỚC ĐO , TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ 24
9 V ẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 24
10 H ẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU , SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC SAI SỐ 25
CHƯƠNG 3 27
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1 T HÔNG TIN CHUNG : 27
3.2 C ÁC NGUỒN THÔNG TIN ĐTNC TIẾP CẬN VỀ BỆNH L AO : 28
3.3 K IẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 29
Trang 53.4 K IẾN THỨC ĐÚNG VỀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO : 32
CHƯƠNG 4: 40
BÀN LUẬN 40
4.1 V Ề KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN 40
4.2 K IẾN THỨC VỀ THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN 45
4.3 M ỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN 47
KẾT LUẬN 52
5.1 V Ề KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN 52
5.2 C ÁC MỐI LIÊN QUAN ĐẾN KIẾN THỨC , THỰC HÀNH VỀ PHÒNG CHỐNG BỆNH L AO CỦA NGƯỜI DÂN : 52
KHUYẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
TIẾNG VIỆT: 55
TIẾNG ANH: 58
PHỤ LỤC 59
P HỤ LỤC 1: 59
P HỤ LỤC 2: 67
P HỤ LỤC 3: H ƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU 68
P HỤ LỤC 4: B ẢNG K RISCH 70
P HỤ LỤC 5: THANG ĐIỂM KIẾN THỨC 71
P HỤ LỤC 6: THANG ĐIỂM KIẾN THỨC THỰC HÀNH 73
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học 27 Bảng 3.2: Mối liên quan giữa kiến thức về bệnh lao với các đặc điểm chung của đối
tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.3: Yếu tố tiếp nhận thông tin 36 Bảng 3.4: Mối liên quan giữa kiến thức về thực hành phòng ngừa lây nhiễm bệnh
lao với các đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.5: Yếu tố tiếp nhận thông tin từ cbyt liên quan đến kiến thức thực hành 38 Bảng 3.6: Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng ngừa lao 38
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Thông tin đến với ĐTNC về bệnh lao 28
Biểu đồ 3.2: Kiến thức về truyền thông trong phòng chống bệnh lao 29
Biểu đồ 3.3: Kiến thức đúng về hiệu quả của công tác truyền thông trong phòng chống bệnh lao 30
Biểu đồ 3.4: Kiến thức về bệnh lao của ĐTNC 30
Biểu đồ 3.5: Trách nhiệm phòng chống bệnh lao 31
Biểu đồ 3.6: Tổng hợp kiến thức chung về phòng chống bệnh lao 31
Biểu đồ 3.7: Kiến thức đúng về thực hành điều trị bệnh lao: 32
Biểu đồ 3.8: Kiến thức thực hành đúng phòng bệnh lao: 32
Biểu đồ 3.9: Kiến thức đúng truyền thông trong thực hành phòng chống bệnh lao:33 Biểu đồ 3.10: Kiến thức thực hành chung phòng chống bệnh lao: 34
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Lao là một bệnh phổ biến ở Việt Nam Trong công tác phòng chống Lao, ngoài hoạt động của y tế và Chương trình chống Lao, kiến thức cộng đồng vẫn là một vấn đề quyết định Cộng đồng có ý thức có thể có những đóng góp quan trọng trong phòng bệnh Đề tài nghiên cứu “Kiến thức phòng chống bệnh Lao và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016” nhằm góp phần cung cấp thông tin trong công tác phòng chống bệnh Lao tại địa phương, với mục tiêu là: Mô tả kiến thức và xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh Lao Nghiên cứu được thực hiện với thiết kế
mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính theo mô hình: nghiên cứu định lượng thực hiện trước và nghiên cứu định tính thực hiện sau; các kết quả nghiên cứu định tính sẽ được sử dụng để phiên giải một số kết quả của nghiên cứu định lượng Với bộ câu hỏi đã được soạn sẵn, điều tra viên trực tiếp đến từng hộ gia đình phỏng vấn Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu và phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu Nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu từ 284 người dân trong độ tuổi 18 đến 60, hiện sinh sống tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
Kết quả nghiên cứu cho thấy 96,8% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đã từng nghe nói đến bệnh Lao, có 94,4% biết bệnh Lao có thể lây truyền sang người khác, 87,3% ĐTNC biết muốn khỏi bệnh Lao cần phải dùng thuốc điều trị Lao theo đúng chỉ dẫn của cán bộ y tế và sẽ không mất tiền, 89,1% cho rằng bệnh Lao có thể phòng được, có đến 73,9% cho biết trách nhiệm phòng chống bệnh Lao là của tất cả mọi người, nhưng vẫn còn 20,1% cho biết là của cán bộ y tế, tuy nhiên chỉ có 38,7% ĐTNC biết được biện pháp hiệu quả nhất để phòng bệnh Lao là tiêm phòng BCG cho trẻ
Người dân có điều kiện tiếp thu thông tin từ nhiều phương tiện hiện đại như,
ti vi, đài phát thanh, hệ thống loa của địa phương, kể cả internet Trong đó thông tin đến với đối tượng nghiên cứu hàng đầu là từ cán bộ y tế 80,3%, kế đến là ti vi, đài truyền thanh 76,8%, còn lại là các nguồn khác Theo chúng tôi nghĩ, có thể là do cán bộ y tế cơ sở hoạt động thường xuyên nên có điều kiện tiếp xúc, tuyên truyền
Trang 10rộng nhưng chưa sâu, ngoài ra còn ti vi, đài truyền thanh đó là những phương tiện
có thể nâng cao hiểu biết chung của người dân về bệnh Lao nhưng không thể đi sâu vào những nội dung chuyên biệt, đặc thù của bệnh, của nghành chuyên môn
Những đối tượng nghiên cứu có tuổi trên 45 tuổi, nên chưa có kiến thức tốt
về bệnh Lao, bên cạnh đó nguồn thu nhập của gia đình thấp cũng ảnh hưởng chi phối đến kiến thức phòng chống bệnh Lao, sự quan tâm của gia đình, người thân cũng là một động lực cho người bệnh tuân thủ điều trị tốt, ngoài ra nguồn thông tin
về bệnh Lao mà người bệnh nhận được sẽ góp phần làm tăng thêm kiến thức của người dân trong cộng đồng
Kết quả cho ta thấy có 79,4% ĐTNC có kiến thức đạt và thực hành đạt, và có 31,3% ĐTNC có kiến thức không đạt, thực hành không đạt Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành về phòng bệnh Lao không có ý nghĩa thống kê p > 0,05, tuổi của ĐTNC nhỏ hơn 30 tuổi, có sự hiểu biết tốt hơn về bệnh Lao so với các nhóm tuổi khác và có ý nghĩa thống kê P < 0,05, trình độ học vấn từ cấp 2 trở lên và dưới cấp
2 có mối liên quan, những đối tượng có học vấn từ cấp 2 trở xuống có nguy cơ không đạt kiến thức về phòng bệnh Lao cao hơn gấp 1,53 lần P < 0,05, kinh tế hộ nghèo có nguy cơ kiến thức về phòng bệnh Lao không đạt gấp 1,73 lần so với hộ không nghèo điều này cho thấy kiến thức tiếp cận được cũng khác nhau và có ý nghĩa thống kê P < 0,05
Từ các kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của Ban chỉ đạo chăm sóc sức khỏe nhân dân xã là rất quan trọn cần phải đưa chỉ tiêu Lao vào nghị quyết của địa phương, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm Ban chỉ đạo trong viêc chăm sóc sức khỏe nhân dân, trong việc phòng chống bệnh Lao, thông qua hình thức hỗ trợ vốn
để phát triển kinh tế, thoát nghèo, lồng ghép vào các buổi hội hộp thường kỳ của các Ban nghành đoàn thể tại xã Cần phải nâng cao hơn nữa vai trò của cán bộ y tế đặc biệt là nhân viên y tế ấp trong việc giám sát, truyền thông giáo dục về bệnh Lao trong cộng đồng Nâng cao chất lượng truyền thông giáo dục sức khỏe về bệnh Lao bằng nhiều hình thức, tăng cường tổ chức các buổi tuyên truyền phòng chống bệnh Lao ngoài cộng đồng, nhằm nâng cao kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Lao là vấn đề sức khỏe mang tính chất toàn cầu, năm 2009 đã được Tổ chức
Y tế thế giới (TCYTTG) thông báo tình trạng khẩn cấp về tình trạng bệnh Lao có xu hướng quay trở lại và trầm trọng lên [2], [42]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, ước tính hàng năm có khoảng 1,7 triệu người trên thế giới tử vong do Lao, tức là khoảng 4.700 người tử vong mỗi ngày vì Lao,
về số người mới mắc hàng năm ước tính khoảng 9,4 triệu người Điều tra lớn nhất của Tổ chức Y tế thế giới năm 2010 cho thấy tỷ lệ Lao đa kháng thuốc cao nhất ở một số quốc gia thuộc khu vực Liên Xô cũ, thêm vào đó tới 28% số bệnh nhân Lao mới và nguy hiểm hơn là bệnh Lao siêu kháng đã xuất hiện trên 58 Quốc gia, trong
đó có Việt Nam [2], [3], [6]
Tại Việt Nam, bệnh Lao còn phổ biến và ở mức độ trung bình cao, xếp thứ
12 trong tổng số 22 quốc gia có số lượng bệnh nhân Lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong tổng số 27 quốc gia có tình hình Lao đa kháng và siêu kháng cao ở khu vực Tây - Thái Bình Dương, đồng thời đứng thứ ba sau Trung Quốc và Philipinnes về
số lượng bệnh nhân Lao lưu hành cũng như bệnh nhân Lao mới xuất hiện hàng năm
[3], [6], [33]
Do tính chất nguy hiểm về khả năng lây lan trong cộng đồng và hậu quả tổn thất nghiêm trọng về kinh tế xã hội cho người bệnh, từ năm 1984 vắc-xin phòng chống Lao (BCG) đã được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam [4] Từ tháng 11 năm 1994, bệnh Lao đã được đưa vào chương trình mục tiêu quốc gia (CTMTQG) [5] [12], và đến nay chương trình chống Lao (CTCL) đã được triển khai đến tận tuyến xã, qua đó đảm bảo phát hiện và tổ chức quản lý theo chiến lược điều trị ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp (DOTS) [6]
Năm 2015, tình hình bệnh Lao tại Đồng Tháp còn diễn biến phức tạp, tỉ lệ mắc Lao mới các thể trong cộng đồng tại một số huyện rất cao như huyện Lấp Vò, Lai Vung, Cao Lãnh so với toàn tỉnh, tỉ lệ mắc Lao mới các thể trong tỉnh là 109/100.000 dân, trong khi đó tỷ lệ toàn quốc và tỉnh lần lượt là 187/100.000 dân và
158/100.000 dân [33]
Mỗi năm huyện Cao Lãnh thu nhận khoảng 280 bệnh nhân Lao Tỷ lệ tái phát và bỏ trị khá cao so với tỷ lệ chung của tỉnh và toàn tỉnh, chiếm 6,78% Riêng
Trang 12xã Phong Mỹ tỷ lệ bệnh Lao mới trong năm 2013 là: 19 ca, 2014: 25 ca, 2015: 27 ca [16], [17], [18]
Việc điều trị tại nhà theo (DOTS) đã chứng minh có hiệu quả cao và đem lại nhiều lợi ích: giảm chi phí điều trị, giảm sự quá tải của bệnh viện, bệnh nhân không
bị tách khỏi môi trường gia đình và xã hội mà họ đang sống, nhanh chóng đưa bệnh nhân tái hòa nhập với cộng đồng [22], [6]
Trong chế độ điều trị như vậy kiến thức phòng chống bệnh Lao của cộng đồng có vai trò hết sức sức quan trọng, Nếu họ có kiến thức tốt họ sẽ hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị và khuyến khích người có triệu chứng nghi Lao đi khám để phát hiện bệnh kịp thời, từ đó làm giảm sự lây truyền của bệnh Lao trong cộng đồng
và ngược lại [27], [39], [31]
Việc tìm hiểu kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh Lao là cần thiết đặc biệt là tại xã Phong Mỹ, là xã có số ca mắc hàng năm cao nhất trong huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp [18] Nghiên cứu này nhằm trả lời hai câu hỏi:
Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp ra sao?
phương?
Để có cơ sở khoa học và trả lời cho các câu hỏi trên tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Kiến thức phòng chống bệnh Lao và một số yếu tố liên quan của người
dân tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016” từ đó đề
xuất các giải pháp hữu hiệu với các bên liên quan, các nhà quản lý, nhằm nâng cao kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân trong cộng đồng, hiệu quả công tác quản lý và kết quả điều trị cho bệnh nhân Lao tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh- Đồng Tháp
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016
Trang 14Chương 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1 Định nghĩa
Lao là bệnh nhiễm khuần do vi khuẩn Lao (Mycobacterium tuberculosis) gây
nên Bệnh Lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó Lao phổi là thể Lao phổ biến nhất (chiếm 80-85%) và là nguồn lây chính cho người xung quanh (theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị, dự phòng bệnh Lao ngày 13 tháng 10 năm 2015) Bệnh Lao trở thành vấn đề y tế rất cần quan tâm đối với nhân dân các nước nghèo và đang phát triển [4], [42]
Bệnh gây tử vong tới 80 % ở lứa tuổi lao động (15-60 tuổi) [7] Trung bình mỗi bệnh nhân Lao mất khoảng 3 - 4 tháng lao động làm giảm 20-30% thu nhập bình quân của gia đình Vì vậy bệnh Lao là nguyên nhân của sự nghèo đói và trở ngại đối với sự phát triển kinh tế của xã hội Ngoài ra, sự kì thị của xã hội làm họ
mặc cảm không tự giác đi khám bệnh, trở thành nguồn lây lan trong cộng đồng [8]
2 Tình hình bệnh Lao trên thế giới và trong nước
2.1 Tình hình bệnh Lao trên thế giới
Theo Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) tình hình dịch tễ bệnh Lao trên toàn cầu đã có dấu hiệu suy giảm, tuy nhiên bệnh Lao vẫn là vấn đề y tế cộng đồng của toàn cầu [42]
Năm 2009 trên thế giới hiện có khoảng 1/3 dân số toàn cầu nhiễm Lao Hàng năm trên thế giới có 1,8 triệu người chết do Lao, chiếm 25% trong tổng số tử vong
do mọi nguyên nhân [41]
Trong năm 2012, ước tính có khoảng 8,6 triệu ca nhiễm Lao mới và 1,3 triệu người chết vì bệnh Lao; hơn 95% tử vong do lao xảy ra ở các nước có mức thu nhập thấp và trung bình [30]
Theo báo cáo TCYTTG năm 2014 ước tính toàn cầu có khoảng 9,6 triệu người mắc Lao, 13% trong số mắc Lao có đồng nhiễm HIV Bệnh Lao là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 sau HIV với khoảng 1,3 triệu người tử vong do Lao [32]
Trang 152.2 Tình hình bệnh Lao tại Việt Nam
Theo báo cáo TCYTTG năm 2008, Việt Nam đứng thứ 12 trong 22 quốc gia
có tỷ lệ Lao cao trên thế giới [10], [41]
Năm 2013, Việt Nam có khoảng 130.000 người mắc Lao mới, 170.000 người mắc Lao lưu hành, khoảng 3.500 người mắc Lao đa kháng thuốc, có 18.000 người
tử vong do bệnh Lao [24]
Năm 2014, Việt Nam phát hiện được 102.070 bệnh nhân Lao các thể, tỷ lệ phát hiện là 111,35/100.000 dân; trong đó có 49.934 bệnh nhân lao phổi AFB (+) [32]
ước tính nguy cơ nhiễm Lao hàng năm trên toàn quốc là 1,7%, khu vực phía Nam là 2,2 %, và phía Bắc là 1,2% [10]
Hiện nay, bệnh Lao đang có chiều hướng trẻ hóa khi số người mắc Lao ở độ tuổi thanh thiếu niên chiếm gần 2% trong tổng số người mắc Lao [10], [3] Đồng nhiễm HIV và Lao làm tăng số bệnh nhân Lao, làm giảm hiệu quả điều trị và làm tăng tỷ lệ tử vong do Lao [5]
Mỗi năm, Việt Nam có khoảng 130.000 bệnh nhân mắc Lao mới, tuy nhiên mới chỉ phát hiện được khoảng 70%, còn 30% bệnh nhân Lao trong cộng đồng chưa được phát hiện Đây là điều đáng lo ngại, bởi những người mắc Lao chưa được phát hiện sẽ nguồn lây lan bệnh ra cộng đồng [10]
Trong năm 2015, tổng số bệnh nhân Lao các thể được phát hiện là hơn 100.000 người, trong đó có hơn 50.000 bệnh nhân Lao phổi Khu vực miền Nam có
tỷ lệ người mắc Lao phổi cao nhất cả nước So với năm 2014, số bệnh nhân Lao phổi dương tính mới tăng 155 người Đặc biệt, mỗi năm Việt Nam có hơn 5.000 bệnh nhân Lao kháng thuốc, trong đó gần 6% là Lao siêu kháng thuốc [23]
Chương trình chống Lao quốc gia đã đề ra mục tiêu là đến năm 2020, cố gắng giảm tỷ lệ mắc Lao trong cộng đồng xuống còn 131/100.000 người dân; giảm
số người chết do Lao xuống dưới 10/100.000 người dân; 100% bệnh nhân Lao được điều trị với công thức điều trị chuẩn của Chương trình và được cung cấp các loại thuốc chống Lao đầy đủ, bảo đảm chất lượng [7]
2.2.1 Tình hình bệnh Lao tại Đồng Tháp
Tỉnh Đồng Tháp đã triển khai công tác chống Lao theo hướng mới của dự án phòng chống Lao quốc gia như: Ưu tiên phát hiện và điều trị BN Lao phổi ho khạc
Trang 16ra vi trùng là nguồn lây Lao chính cho cộng đồng Theo thống kê của Trạm chống Lao tỉnh Đồng Tháp thì mỗi năm có khoảng 1.600-1.700 người mắc bệnh Lao và
khoảng 50-70 người chết do Lao [32]
Năm 2015, bệnh Lao của Đồng Tháp có chiều hướng gia tăng hơn các năm trước đây (3.024 - 2.800) Tỉ lệ BN tái phát, thất bại, điều trị lại cũng có chiều hướng gia tăng so với các năm trước (9,09% - 9%) [33], [34] Hiện nay trung bình mỗi năm trên địa bàn tỉnh phát hiện BN Lao phổi AFB (+) khoảng 105/100.000 dân Tỉ lệ điều trị khỏi khá cao, trung bình 94% số BN phát hiện [34]
2.2.2 Tình hình bệnh Lao tại huyện Cao Lãnh
Theo thống kê từ năm 2009-2013, số BN Lao đến khám phát hiện tại huyện khá cao, trung bình khoảng 130-140 bệnh nhân Lao phổi AFB (+) trên 100.000 dân,
có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới công tác khám phát hiện BN, đặc biệt là trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, địa bàn rộng, khả năng tiếp cận của người dân với các kênh truyền thanh, truyền hình không đồng đều nên ảnh hưởng không nhỏ đối với công tác khám và phát hiện bệnh [15], [16], [17]
Công tác khám phát hiện bệnh Lao mới chủ yếu là thụ động, dựa vào người dân đến khám tại: Bệnh viện phổi, Bệnh viện tỉnh, tổ Lao của TTYT, TYT xã, thị trấn [17], [33]
2.2.3 Tình hình bệnh Lao tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh
Mặc dù huyện, xã cùng phối hợp với các ban ngành đoàn thể đã chủ động tổ chức triển khai nhiều biện pháp nhưng số BN mắc mới trên địa bàn xã Phong Mỹ vẫn còn ở mức cao cụ thể là 31 ca (năm 2012), 19 ca (năm 2013), 25 ca (năm 2014) và 27 ca (năm 2015) [15], [18]
3 Một số nghiên cứu về phòng chống bệnh Lao trên thế giới và Việt Nam
3.1 Một số nghiên cứu về phòng chống bệnh Lao trên thế giới
Hiểu biết về bệnh Lao trong cộng đồng là một trong những yếu tố quan trọng
để thực hiện thành công chương trình chống Lao [22]
Nghiên cứu của tác giả Koay về kiến thức và thái độ đối với phòng chống Lao tại cộng đồng, kết quả nghiên cứu tại thị trấn Kudat, tỉnh Sabah của Malaysia cho thấy chỉ có 51% đối tượng cho rằng bệnh Lao gây ra bởi vi khuẩn và có thể lan truyền trong không khí [37]
Trang 17Tác giả Singh khi nghiên cứu 1.430 học sinh nam và nữ từ các trường học ở thành thị và nông thôn bang Punjab, Ấn Độ nhận thấy gần 70% học sinh biết bệnh Lao là do vi khuẩn, nhưng đặc biệt có 15% học sinh cho rằng có các thế lực độc ác
có thể gây bệnh [40]
Tác giả Mangesho nhận thấy bệnh Lao vẫn là vấn đề sức khỏe y tế công
cộng quan trọng, có 77% người kiến thức đúng về bệnh Lao [39]
Sanz Barbero nghiên cứu về những người gốc Mỹ La tinh trên 15 tuổi đã được chẩn đoán bệnh Lao trong năm 2003 tại Madrid, Tây Ban Nha, kết quả cho thấy 94% người mắc bệnh có kiến thức chính xác về đường lây truyền, tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ khá cao người lựa chọn câu trả lời sai về nguồn gốc lây truyền của bệnh: 42,3% cho rằng bệnh lây truyền qua đường máu, 55% qua đường tình dục và 81,3% cho rằng qua ăn uống [36]
Jianming Wang và cộng sự nghiên cứu tại thị trấn Yangzhong, tỉnh Jiangsu của Trung Quốc và kết quả cho thấy hầu như không ai hiểu gì về bệnh Lao và chương trình DOTS, phụ nữ ít biết hơn nam giới về việc điều trị là miễn phí, tuy nhiên sau khi có các biểu hiện bệnh, 79,2% phụ nữ đã tìm đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe so với 58,6% nam giới, mặc dù đa số họ lựa chọn các dịch vụ mức độ thấp [35]
Năm 2008, Long thực hiện nghiên cứu đối với 1.005 người nghi ngờ bệnh Lao, trong đó gồm 776 dân bản địa và 229 di dân, bị ho mạn tính ở Trùng Khánh, Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cho thấy người di dân chậm đi khám bệnh hơn so với người dân bản địa từ 68% đến 54% (P<0,01) Khi sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe, di dân chọn các dịch vụ ít tốn kém và các dịch vụ công cộng hơn 1,5 lần so với cư dân, chỉ có 5% di dân được giới thiệu tới phòng khám và nhận thuốc Lao, 47% cư dân và 62% di dân không biết bệnh Lao AFB (+) được điều trị miễn phí [35]
3.2 Một số nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống bệnh Lao
ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nhờ việc chương trình chống Lao đã được triển khai gần nửa thế kỷ, cũng như việc phát triển rộng rãi của mạng lưới y tế đối với nhiều người dân, bệnh Lao đã được hiểu rõ là một bệnh do vi khuẩn gây nên, lây nhiễm qua đường hô hấp và hoàn toàn có thể phòng và chữa khỏi được [34]
Trang 18Năm 2006 báo cáo kết quả điều tra KAP về bệnh Lao của Dự án phòng chống Lao tại 6 vùng: Đông Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy chỉ có 61,8% biết bệnh Lao là do vi khuẩn gây ra, nhưng có tới 32% người dân cho rằng bệnh Lao là do di truyền, có 73,9% đối tượng nghiên cứu biết đường lây chính của bệnh là đường hô hấp, 94,8% số người biết bệnh Lao có thể chữa khỏi, 89,5% biết biết bệnh Lao có thể phòng được, 84,7% biết thuốc Lao được cấp miễn phí, 19,3% biết phát hiện và điều trị sớm cho bệnh nhân là cách phòng bệnh tốt nhất, 41% biết tiêm BCG phòng Lao cho trẻ sơ sinh [19]
Năm 2008, báo cáo điều tra KAP trên toàn quốc của Dự án phòng chống Lao điều tra 2.400 người trên toàn quốc kết quả cho thấy 53% biết bệnh Lao là do vi khuẩn gây ra, nhưng có 35,8% người dân cho rằng bệnh Lao là do di truyền, 86% số người biết bệnh Lao do lây truyền, 82% biết bệnh lây theo đường hô hấp, 64,4% biết có HIV rất dễ mắc Lao, 88,6% biết bệnh Lao có thể chữa khỏi, 81% biết điều trị Lao tại trạm y tế nhà nước sẽ không mất tiền, 87% biết bệnh Lao có thể phòng được, 46,4% chọn BCG là cách phòng Lao hiệu quả cho trẻ [20]
Nghiên cứu của Lưu Thị Liên và cộng sự, năm 2005, ở 840 người dân xã Tân Hưng, huyện Sóc Sơn, Hà Nội cho thấy số người biết bệnh Lao là do vi khuẩn 61,3%, 24,9% cho rằng Lao là do “lao lực”, 13,1% cho rằng là do di truyền, 95% số người biết bệnh Lao là bệnh lây, 87,6% biết nguy cơ mắc bệnh khi tiếp xúc với người bệnh ho khạc ra vi khuẩn, 85,5% biết bệnh lây qua đường hô hấp, 11% cho rằng lây qua đường tiêu hóa, 54,3% biết ho kéo dài là triệu chứng chính của bệnh, 98,1% biết bệnh Lao có thể chữa khỏi được, 67,75 biết thời gian điều trị khỏi bệnh
là 8 tháng, 67,26% nguồn thông tin tiếp cận được từ truyền hình, 41,2 từ đài phát thanh, 16,5% từ cán bộ y tế, tỷ lệ hiểu biết về bệnh Lao; khá và giỏi chiếm 12,25%,
tỷ lệ yếu chiếm tới 78% [21]
Nghiên cứu của Đào Văn Quang thực hiện năm 2008 trên 422 nam giới trong lứa từ 18 đến 60 tại Bắc Giang cho thấy 50,5% số người được hỏi cho rằng Lao do
vi khuẩn Có một tỷ lệ lớn người được hỏi đã hiểu chưa đúng về nguyên nhân gây bệnh Lao: 49,5% cho rằng bệnh Lao là do di truyền, lao lực, hoặc không biết lý do lây bệnh, 30% cho rằng bệnh Lao lây qua nguồn nước ô nhiễm, 90% số người biết bệnh có thể chữa khỏi [27]
Trang 19Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống Lao của người dân trên
40 tuổi thị Trấn Thới Bình và xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình năm 2009 của Lâm Thuận Hiệp trong đó thành phần nông dân chiếm đa số 77,9%, học vấn từ không biết chữ đến tiểu học chiếm 48,76% cho nên mức độ hiểu biết phòng chống bệnh Lao còn thấp, 77,5% chưa biết nguyên nhân gây ra bệnh Lao là do vi trùng [11]
Năm 2008, Nguyễn Phương Hoa khi nghiên cứu 12.143 người dân ở một huyện vùng nông thôn ở Việt Nam, cho thấy nguồn thông tin đến với người dân từ truyền hình là 64,6% và từ bạn bè, là người thân là 42,7%, cách truyền thông tốt nhất là truyền hình 70,4%, loa truyền thanh 55,1%, cho thấy nam giới có điểm số trung bình kiến thức cao hơn đáng kể so với phụ nữ (4,8/8 và 4,0/8) [38]
Năm 2009, Nguyễn Ý Như Nghiên cứu kiến thức, thái độ về phòng và điều trị bệnh Lao của người dân thị trấn Yên Viên, Gia Lâm, Hà Nội kết quả cho thấy thấy tỷ lệ hiểu biết của người dân về nguyên nhân lây bệnh Lao 27,6% cho là do vi trùng, 14,2% cho là do lao lực quá sức, có 14,2% là do di truyền và 19,6% là do ô nhiễm môi trường, 41,9% biết được nguồn lây chính của bệnh, 41,9% cho rằng ô nhiễm môi trường là nguồn lây, 90%, lây bệnh qua đường hô hấp, chữa khỏi bệnh Lao là 85%, bệnh có thể phòng được bệnh là 90%, 70% điều trị tại cơ sở nhà nước không mất tiền, tỷ lệ tiêm phòng cho trẻ 5,5%, cách phòng bằng phát hiện sớm bệnh
tỷ lệ 14,5%, điều trị theo phác đồ 24,4%, tỷ lệ thực hành đạt 65,9% và tỷ lệ thực hành không đạt 34,1% [25]
Năm 2012, Nguyễn Văn Lấn nghiên cứu kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh Lao của người dân xã Mỹ Xương, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2012 cho thấy tỷ lệ hiểu biết của người dân về nguyên nhân lây bệnh Lao phổi, có 62,1% cho là do vi trùng, 25,6% cho là do lao lực, có 11,8% là do di truyền và khác là 0,5%, lây bệnh qua đường hô hấp là 41,5%, qua đường ăn uống là 35,3%, lây qua đường khi truyền máu là 22,7% và khác là 0,5%, chữa khỏi bệnh lao là 89,1%, không chữa khỏi bệnh là 1,4% Tỷ lệ không biết có chữa khỏi bệnh hay không là 9,5%, bệnh có thể phòng được bệnh là 81,5%, không thể phòng được bệnh là 4,5% và không biết là 14%, tỷ lệ tiêm phòng cho trẻ 31,0%, cách phòng bằng phát hiện sớm bệnh tỷ lệ 25,6%, điều trị theo phác đồ 23,2%, không khạc nhổ bừa bãi 19,0% và khác 1,2%, thời gian điều trị trong 8 tháng là 32,7%, trong 5 tháng 15,2%, trong 1 năm 4,5% và trong 3 tháng 2,4% không biết 45,2%, tỷ lệ thực hành đạt 63,6% và tỷ lệ thực hành không đạt 36,4% [14]
Trang 20Năm 2012, Điều tra mức độ hiểu biết về bệnh Lao của người dân 2 xã Nam
Ka và Ear Bin huyện Lăk, tỉnh Đắc Lắc của Trần Minh Hùng cho thấy Tỷ lệ mà người dân cho rằng bệnh Lao là bệnh lây qua đường hô hấp là chính chiếm 87%, bệnh có thể phòng ngừa được bằng cách tiêm phòng Lao cho trẻ sơ sinh 34%, che miệng khi ho 79%, Ho, khạc đàm vào lon, cốc, lọ đem chôn hoặc đốt 24%, hạn chế tiếp xúc với người mắc Lao 35%…chiếm khá cao, Về thực hành, một số thực hành sai như tự ý mua thuốc điều trị Lao chiếm tỉ lệ 24,4% [13]
Năm 2013, nghiên cứu của Nguyễn Trọng Bài và cộng sự về kiến thức, thái
độ, thực hành và một số yếu tố liên quan về phòng chống lao của người dân thành phố Cà Mau, trên 607 đối tương nghiên cứu cho thấy 90% có kiến thức tốt bề bệnh Lao, 87,35% thực hành tốt về phòng bệnh Lao [1]
4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân
Các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế đã chỉ ra một số yếu tố ảnh
hưởng đến phòng bệnh Lao của người dân, bao gồm các yếu tố cá nhân của đối
tượng nghiên cứu, gồm trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp (làm nông), và giới tính;
các yếu tố môi trường, xã hội như sự quan tâm giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân, chính quyền địa phương; và yếu tố cung cấp và sử dụng dịch vụ như
truyền thông, cung cấp, tư vấn về chuyên môn của nghành y tế địa phương Bên cạnh đó không thể không đề cập tới ảnh hưởng của các chính sách quốc gia đến phòng chống Lao như là một tiền đề mang tính quyết định cho sự hình thành, phát triển và thực hiện hiệu quả của chương trình Lao trong suốt những năm qua tại Việt Nam nói chung và các tỉnh/thành trong cả nước nói riêng
4.1 Nhóm yếu tố cá nhân
Trình độ học vấn thấp, nghề nghiệp làm nông, và giới tính nữ của đối tượng nghiên cứu là các yếu tố mang tính cá nhân có ảnh hưởng đến việc phòng bệnh Lao tại cộng đồng đã được các y văn đề cập đến
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Lấn năm 2012 đánh giá về KAP của người dân tại xã Mỹ Xương huyện Cao Lãnh cho biết các yếu tố liên quan đến tuổi (p = 0,02), giới tính (p = 0,3), nghề nghiệp (p = 0,001), trình độ học vấn có ảnh hưởng đến phòng bệnh Lao tại cộng đồng (p = 0,001) [14]
Trang 21Trong nghiên cứu của tác giả Lâm Thuận Hiệp năm 2009 về Khảo sát kiến thức, thái độ thực hành phòng chống Lao của người dân trên 40 tuổi tại thị trấn Thới Bình xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình đã ghi nhận nam giới hiểu biết về bệnh nhiều hơn nữ giới (22,62%-13,53%), (p = 0,021), trình độ học vấn thấp (không biết chữ
và tiểu học) chiếm 48,76% mức độ hiểu biết phòng chống bệnh Lao thấp [11] Khoảng 2/3 nhóm đối tượng nghiên cứu là nông dân đã có những hiểu biết không đúng về bệnh Lao Với nhóm đối tượng có trình độ học vấn cao như nhóm cán bộ công chức, mức độ hiểu biết tốt chiếm tỉ lệ cao hơn so với nghề khác 60.1% - 39,57% [11]
Nghiên cứu của Trần Minh Hùng năm 2012 Điều tra mức độ hiểu biết về bệnh Lao của người dân 2 xã Nam Ka và Ear Bin huyện Lăk, tỉnh Đắc Lắc, kết quả cho biết trong số đối tượng tham gia nghiên cứu có tới 67,7% nam giới trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức phòng bệnh Lao so với chỉ có 33,3% nữ giới trả lời đúng Mức độ chính xác của các câu trả lời ở nhóm đối tượng nghiên cứu trong độ tuổi 18-40 là 50%, cao hơn các độ tuổi khác như: 41- 60 là 33%, trên 60 tuổi là 21% Các yếu tố nghề nghiệp như cán bộ công chức có mức độ hiểu biết về bệnh Lao tốt hơn nhóm buôn bán, làm nông 77,7% - 22%, và trình độ học vấn thấp từ cấp 2 trở xuống là 73% được ghi nhận là có ảnh hưởng đến phòng bệnh Lao tại cộng đồng [13]
Theo báo cáo điều tra KAP trên toàn quốc của Dự án phòng chống Lao năm
2008, kết quả cho thấy kiến thức về bệnh Lao giữa nam và nữ là 13,61% – 12,63%, (p < 0,001), người dân tộc có sự hiểu biết về bệnh thấp hơn người Kinh 11,16% - 13,9%, (p < 0,001), có sự khác biệt về kiến thức, dân tộc [10]
Nghiên cứu của Nguyễn Phương Hoa: kiến thức phòng bệnh tại cộng đồng nam giới có kiến thức về bệnh cao hơn nữ giới 3,04% - 2,55, (p < 0,005) [38]
Theo Nguyễn Trọng Bài nhóm nghề nghiệp làm nông chiếm đa số so với các nghề khác 84,2%, (p < 0,05), hộ nghèo, cận nghèo chiếm 63,4%, (p < 0,001) có ảnh hưởng đến phòng bệnh Lao tại cộng đồng [1]
Theo Lưu Thị Liên nữ giới có nguy cơ nhận thức dưới trung bình về Lao cao hơn nam giới tới 1,83 lần p = 0,86, nông dân có nguy cơ nhận thức về bệnh dưới trung bình gấp 23,33 lần so với công chức, viên chức, công nhân, thợ thủ công (p = 0,012) [21]
Trang 224.2 Nhóm yếu tố môi trường chính sách, xã hội
Sự động viên, giúp đỡ của người thân trong gia đình, các ban ngành, đoàn thể góp phần rất lớn trong việc phát hiện sớm và làm giảm sự lây lan bệnh Lao trong cộng đồng
Theo Nguyễn Văn Lấn các đối tượng đã thực hiện nhắc nhở người bệnh đi khám khi có triệu chứng nghi ngờ và đi khám đúng chuyên khoa có tỷ lệ 80,8%, tỷ
lệ động viên thông cảm với người bệnh là 60,6%, tỷ lệ nhắc nhở không khạc nhổ bừa bãi 52,7% và tỷ lệ xa lánh, ăn ở riêng là 15,3% [14]
Theo Nguyễn Ý Như tỷ lệ động viên thông cảm với người bệnh là 70,6%, tỷ
lệ nhắc nhở không khạc nhổ bừa bãi 54,7% và tỷ lệ xa lánh, ăn ở riêng là 13,3% [25]
Theo báo cáo điều tra KAP trên toàn quốc của Dự án phòng chống Lao năm
2008, có 65,8% số người được hỏi cho rằng bệnh nhân Lao có thể sinh hoạt bình thường trong cộng đồng, 83,7% sẽ không dấu mọi người khi gia đình có người mắc bệnh, 68,2% sẽ giao tiếp bình thường với hàng xóm khi họ mắc bệnh [20]
Năm 2005 báo cáo kết quả điều tra KAP 6 vùng cho thấy 82,5% ĐTNC cho rằng sẽ không dấu mọi người xung quanh khi họ mắc bệnh, 76,5% nghĩ ngơi người bệnh có thể sống bình thường trong cộng đồng, 17,7% cho rằng cần phải cách ly người bệnh, 29% sẽ tránh tiếp xúc với bệnh nhân Lao và gia đình họ [19]
4.3 Nhóm yếu tố cung cấp và sử dụng dịch vụ
Sự tư vấn từ giới chuyên môn tại địa phương, các cơ sở y tế, truyền thông còn thấp, ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người dân về bệnh Lao, nên việc thực hành khám bệnh khi có các dấu hiệu nghi ngờ Lao Như: khi ho kéo dài trên 3 tuần chiếm tỷ lệ thấp Điều này dẫn đến chương trình phòng chống Lao luôn gặp nhiều trường hợp phát hiện muộn Nghiên cứu của Bác sỹ Nguyễn Việt Cồ-Trần Hà Như cho thấy tỷ lệ bệnh nhân lao phát hiện muộn chiếm đến 80,5% [8]
Theo Nguyễn Văn Lấn tỷ lệ có được cung cấp các thông tin tuyên truyền về bệnh Lao 74,4%, tỷ lệ không nhớ là 14,5% và tỷ lệ không được cung cấp thông tin
về bệnh Lao 11,1% nguồn thông tin có từ ti vi, radio là 76,6%, tỷ lệ nguồn thông tin từ đài phát thanh xã, phường 78,8 %, tỷ lệ nguồn thông tin từ CBYT 45,4%, tỷ lệ nguồn thông tin từ tờ rơi, áp phích, tranh là 46,5% và tỷ lệ nguồn thông tin từ các cuộc họp dân là 38,4% [14]
Trang 23Theo Nguyễn Ý Như nguồn thông tin có từ ti vi, radio là 86,0%, tỷ lệ nguồn thông tin từ đài phát thanh xã, phường 80,6%, tỷ lệ nguồn thông tin từ CBYT 47,6%, tỷ lệ nguồn thông tin từ tờ rơi, áp phích, tranh là 43,1% và tỷ lệ nguồn thông tin từ các cuộc họp dân là 37,0% [25]
Theo Lưu Thị Liên nguồn thông tin tiếp cận được từ truyền hình 67,26%, 41,2 từ đài phát thanh, 16,5% từ cán bộ y tế [21]
Theo Nguyễn Phương Hoa nguồn thông tin tiếp cận được từ truyền hình 64,6%, từ bạn bè và người thân 42,7%, cách truyền thông tốt nhất là truyền hình chiếm 70,4% [38]
4.4 Chính sách Lao quốc gia
Bệnh Lao có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm Vì vậy, công tác phòng bệnh Lao là một nhiệm vụ quan trọng lâu dài của cả hệ thống chính trị trong đó ngành Y
Chương trình chống Lao Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu toàn cầu do TCYTTG đề ra Để đạt được mục tiêu này cần áp dụng chiến lược DOTS một cách
có hiệu quả có thể phòng ngừa sự lây nhiễm lao mới và phòng ngừa sự xuất hiện của tình trạng đa kháng thuốc Đồng thời, tăng cường công tác giáo dục kiến thức bệnh Lao trong toàn dân, từng bước xã hội hoá công tác chống Lao
Năm 1994 CTCLQG được nhà nước thông qua quyết định thành lập và trở thành chương trình mục tiêu Y tế Hiện nay ở Hà Nội có Viện Lao và bệnh Phổi Trung ương, ở các tỉnh, thành phố có Trung tâm Lao và bệnh Phổi hoặc bệnh viện chuyên khoa Lao, cơ quan cấp tỉnh này ngoài việc quản lý CTCLQG còn là nơi tập trung các BN Lao nặng và các thể Lao khó, để điều trị nội trú tích cực và là nơi đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến huyện [7]
Ngoài ra, thực hiện phương pháp DOTS có thể phòng ngừa sự lây nhiễm lao mới và phòng ngừa sự xuất hiện của tình trạng đa kháng thuốc; có thể làm tăng thêm tuổi thọ ở những người bị nhiễm HIV
Trang 24Tuyến huyện, chương trình chống Lao lồng ghép trong chương trình y tế chung Tuyến huyện chịu trách nhiệm khám phát hiện, quyết định điều trị, cấp thuốc cho tuyến dưới, thực hiện giám sát, giúp đỡ tuyến xã hoàn thành công việc thực hiện DOTS [7]
Tuyến xã, nơi trực tiếp điều trị thuốc có giám sát cho BN, công tác chống Lao được lồng ghép chung vào với chương trình Y tế quốc gia khác [7]
4.5 Khung lý thuyết:
Khung lý thuyết dưới đây được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu về mô tả kiến thức và các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung khảo sát một số nội dung chủ yếu sau:
1 Mô tả kiến thức của người dân tại cộng đồng trong phòng chống bệnh Lao: chủ yếu là: Nguyên nhân, nguồn lây, đường lây bệnh Lao, triệu chứng của bệnh, cách phát hiện bệnh, nơi chẩn đoán, cách điều trị, cách loại bỏ nguồn lây, phòng bệnh cho người khác và biện pháp phòng chống
2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao trong số
các yếu tố được nêu trong khung lý thuyết, bao gồm:
Các yếu tố từ cơ sở y tế: bao gồm các hoạt động y tế được triển khai trong chương trình Lao quốc gia tại địa phương, sự phối hợp các chương trình y tế, việc vãng gia tại nhà bệnh nhân Lao
Các yếu tố thuộc về cá nhân: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, và giới tính, người thường xuyên tiếp xúc, quan hệ gần gũi, làm việc chung với người Lao phổi, điều kiện sống, lao động, tiền sử tiêm phòng Lao
Khung lý thuyết được mô hình hóa trong hình dưới đây
Trang 25Đặc điểm nhân khẩu học người dân
(Tuổi Giới tính Nghề nghiệp Trình độ học vấn Thu
nhập cá nhân)
Kiến thức phòng chống bệnh Lao của người dân
Kiến thức và Yếu tố liên quan đến phòng chống bệnh Lao
- Nguồn thông tin về bệnh mà ĐTNC tiếp cận được
- Thông tin ĐTNC yêu thích nhất
- Cách phòng ngừa bệnh Lao hiệu quả nhất hiện nay
- Các hoạt động đã triển khai hướng dẫn phòng bệnh Lao của y tế địa phương
- Các phương pháp truyền thông tại địa phương hiện nay
- Sự hiểu biết về bệnh Lao của người dân
- Hoạt động của các cấp chính quyền, sự hỗ trợ trong công tác phòng bệnh Lao
Trang 26Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu (ĐTNC):
Nghiên cứu của phần định lượng gồm những dữ liệu thứ cấp như:
Người dân đang sống tại xã Phong Mỹ tuổi từ 18 đến 60 tuổi, chấp nhận tham gia nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của phần định tính là:
- Lãnh đạo Trung tâm y tế huyện phó giám đốc phụ trách khối
- Trưởng trạm y tế xã
- Tổ trưởng tổ Lao TTYT huyện
- Cán bộ y tế xã phụ trách chương trình Lao xã
Tiêu chuẩn loại trừ
- Đối với người dân tại cộng đồng: Không mắc bệnh tâm thần, thần kinh, thiểu năng trí tuệ hay trình trạng sức khỏe khác có ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp
- Đối với nhóm cán bộ y tế: Có thời gian công tác tại vị trí hiện tại trên 6 tháng
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: được tiến hành từ tháng 12/2015 đến tháng 8/2016 (Thời gian thu thập số liệu từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2016)
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
3 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính theo mô hình: Nghiên cứu định lượng thực hiện trước và nghiên cứu định tính thực hiện sau
Nghiên cứu định lượng nhằm mô tả thực trạng kiến thức của người dân về phòng chống bệnh Lao (Mục tiêu 1)
Dùng kết quả nghiên cứu định tính để phiên giải một số kết quả của nghiên cứu định lượng Đồng thời cùng với nghiên cứu định lượng, nghiên cứu định tính
Trang 27cũng nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống bệnh Lao
để đáp ứng mục tiêu 2 của nghiên cứu
4 Cỡ mẫu, phương pháp chọn mẫu:
z: Hệ số tin cậy là 1,96 (mức ý nghĩa α = 0,05)
p: Tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng về bệnh (P= 0,6) Điều tra KAP trên toàn quốc của dự án phòng chống Lao năm 2008 [11]
d: Độ sai số chấp nhận được là 6%, vậy d = 0,06
Công thức trên có: n = 257
Vậy n tối thiểu = 257
Cộng 10% chênh lệch do mất mẫu hoặc đối tượng từ chối tham gia trả lời phỏng vấn là 27 Nên tổng số mẫu được chọn là 284 mẫu
Cách chọn mẫu:
Do hạn chế về thời gian và kinh phí nên chúng tôi không chọn đối tượng điều tra ngẫu nhiên dựa trên danh sách người từ 18 đến 60 tuổi mà thay vào đó, tôi chọn ngẫu nhiên hệ thống hộ gia đình và chọn mỗi hộ gia đình 01 người trong độ tuổi 18-60 để phỏng vấn Tổng số hộ gia đình tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp là 4.656 hộ, chúng tôi thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Dùng danh sách hộ gia đình đã có tại Trạm Y tế
- Bước 2: Tính trung bình mẫu k = N/n (trong đó, N là tổng hộ trong xã, n là
số mẫu được chọn), từ đó ta tính ra hệ số k theo công thức sau: 4.656/284 = 16
16
n
N k
- Bước 3: Chúng tôi chọn ngẫu nhiên hộ gia đình từ 1 đến 16 (gọi là hộ i), hộ
thứ 02 sẽ là (i+k), hộ thứ 03 là (i+2k) hộ gia đình thứ n là [i+ (n-1) k] Đến khi đủ
284 mẫu
Trang 28- Chọn đối tượng điều tra: Khi đã có danh sách hộ gia đình, tùy vào số người
trong hộ gia đình, chúng tôi chọn người phỏng vấn từ 18 đến 60 tuổi theo bảng
dụng lần lượt từ bảng 01 đến bảng 06 và tiếp tục quay vòng, nếu khi đến phỏng vấn tại hộ gia đình 02 lần không gặp đối tượng cần phỏng vấn, sẽ thay thế bằng một người bất kỳ trong độ tuổi phỏng vấn của hộ gia đình đó
4.2 Nghiên cứu định tính
Phỏng vấn sâu
Chọn chủ đích các đối tượng hiện công tác ở các vị trí khác nhau liên quan đến hoạt động của chương trình phòng chống Lao tại địa bàn nghiên cứu (xã Phong Mỹ) Các đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm lãnh đạo Trung tâm y tế huyện, (phụ trách chương trình Lao), lãnh đạo trạm y tế xã, cán bộ trạm y tế (phụ trách chương trình Lao); cụ thể nghiên cứu đã chọn được: 01 Phó giám đốc Trung tâm y tế huyện,
01 cán bộ phụ trách chương trình Lao huyện, 01 trưởng trạm y tế, 01 cán bộ y tế xã (phụ trách chương trình Lao) Tổng cộng có 04 cuộc phỏng vấn sâu
5 Phương pháp thu thập số liệu:
5.1 Số liệu định lượng
Đối tượng nghiên cứu được chọn phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 1) Bộ câu hỏi được điều tra thử với 10 người dân trên địa bàn xã Tân Nghĩa (không thuộc xã nghiên cứu) trước khi tiến hành điều tra, sau đó bộ câu hỏi
sẽ được điều chỉnh cho phù hợp Thời gian phỏng vấn mỗi người khoảng từ 30-45 phút
5.2 Số liệu định tính
Phỏng vấn sâu dựa theo bản hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc được xây dựng dựa trên tổng quan tài liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức về phòng chống bệnh Lao và kết quả nghiên cứu định lượng Nghiên cứu viên là người trực tiếp phỏng vấn, mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 - 45 phút, tại nơi làm việc của các cá nhân được mời phỏng vấn Hướng dẫn phỏng vấn sâu được trình bày ở Phụ lục 3 (trang 76)
Trang 296 Phân tích số liệu
6.1 Số liệu định lƣợng
- Loại bỏ phiếu không phù hợp
- Mã hoá phiếu điều tra, bằng phần mềm Epidata 3.1
- Sử dụng phần mềm SPSS 20,0 để phân tích số liệu
+ Phân tích mối tương quan giữa kiến thức, thực hành và các yếu tố liên quan
giữa đặc điểm chung của ĐTNC với kiến thức, thực hành phòng bệnh Lao của người dân trong cộng đồng
A THÔNG TIN CHUNG
khai sinh: Nam, nữ
Nhị phân
Phỏng vấn (PV)
dương lịch
Rời rạc
PV
lại thu nhập chủ yếu cho cuộc sống bản thân
Phân loại
PV
Trang 30Stt Chủ đề Định nghĩa Phân
loại
Phương pháp thu thập
ĐTNC
Thứ bậc
PV
/người của gia đình
- Nghèo: đối với nông thôn 700.000đ/tháng Đối với thành thị: 900.000 đ/tháng
- Không nghèo
Thứ bậc
Nhị phân
PV
bệnh Lao
Theo ĐTNC triệu chứng chính của bệnh Lao là gì?
Phân Loại
PV
ta nên làm gì
Theo ĐTNC để phòng chống bệnh Lao ta nên làm gì?
Định danh
PV
Trang 31Stt Chủ đề Định nghĩa Phân
loại
Phương pháp thu thập
nhất
Theo ĐTNC bệnh Lao nào dễ lây cho người khác nhất
Định danh
Định danh
PV
người thân bị nhiễm
Lao sẽ ta sẽ làm gì
Khi ĐTNC hoặc người thân nghi bị nhiễm Lao thì ta sẽ làm gì?
Định danh
bộ y tế không?
Định danh
PV
trị bệnh Lao có nên ăn
riêng và ngủ riêng
Theo ĐTNC một người đang điều trị bệnh Lao có nên ăn, ngủ riêng không?
Định danh
PV
bệnh Lao ăn, ngủ riêng
PV
Trang 32Stt Chủ đề Định nghĩa Phân
loại
Phương pháp thu thập
Lao ở đâu
Theo ĐTNC bệnh Lao có thể điều trị ở đâu?
Định danh
PV
được không
Theo ĐTNC bệnh Lao có thể phòng được không?
Phân Loại
PV
(hóa trị ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp)
Phân loại
PV
C KIẾN THỨC PHÒNG CHỐNG BỆNH LAO
28 Nơi ĐTNC đến khám
đầu tiên khi có biểu
hiện nghi bệnh Lao
Theo ĐTNC khi có biểu hiện nghi bệnh Lao thì đến khám ở đâu
Phân Loại
PV
29 Điều trị bệnh Lao tại
các cơ sở y tế có phải
chi trả tiền không
Theo ĐTNC điều trị bệnh Lao tại các cơ sở y tế có phải chi trả tiền không?
30 Những việc cần làm để
chữa khỏi bệnh Lao
Ý kiến của ĐTNC về việc cần làm để chữa khỏi bệnh Lao
Phân Loại
PV
31 Người nhiễm Lao có
phải uống thuốc đủ liều
theo chỉ dẫn của thầy
thuốc không
Theo ĐTNC người nhiễm Lao
có phải uống thuốc đủ liều theo chỉ dẫn của thầy thuốc không?
Phân loại
Phân loại
PV
33 Khi ĐTNC hoặc người
thân nhiễm Lao khi ho,
khạc đàm nhổ vào đâu
Khi ho, khạc đàm nhổ vào đâu nếu người thân hoặc ĐTNC bị nhiễm Lao
Phân loại
PV
Trang 33Stt Chủ đề Định nghĩa Phân
loại
Phương pháp thu thập
34 Đàm được xử lý như
thế nào
Theo ĐTNC đàm được xử lý như thế nào
Phân loại
PV
35
Khi ĐTNC hoặc người
thân nhiễm Lao sẽ tiếp
xúc với người xung
quanh như thế nào
ĐTNC hoặc người thân nhiễm Lao sẽ giao tiếp với người xung quanh như thế nào
Phân loại
Phân loại
1
Nhận định, giải thích
của các đối tượng tham
gia nghiên cứu về kiến
thức phòng chống bệnh
Lao dựa trên một số kết
quả phát hiện trong
nghiên cứu định lượng;
Là các nhận định, giải thích của cán bộ y tế và người dân về thực trạng kiến thức phòng chống bệnh Lao thu thập được trong phần nghiên cứu định
lượng
Định
tính
Phỏng vấn sâu, thảo luận
nhóm
Trang 34chống Lao tại cộng đồng
Định
tính
Phỏng vấn sâu, thảo luận
từ phía người dân;
Là những yếu tố bao gồm: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, mức thu nhập, … có ảnh hưởng đến kiến thức phòng chống Lao tại
cộng đồng
Định
tính
Phỏng vấn sâu, thảo luận
chống Lao tại cộng đồng
Định
tính
Phỏng vấn sâu, thảo luận
nhóm
8 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Phần kiến thức về phòng chống bệnh Lao có 23 biến, mỗi biến tương ứng với
1 điểm Riêng câu 11 có 5 lựa chọn đúng, câu 14 có 5 lựa chọn đúng, mỗi lựa chọn
là một điểm Vậy tổng cộng có 31 điểm
- Trả lời đúng 2/3 số câu, tương đương 22 điểm trở lên thì kiến thức đạt
- Kiến thức chưa đạt: trả lời đúng dưới 22 điểm trở xuống
Phần kiến thức thực hành phòng chống bệnh Lao có 10 biến, mỗi biến tương ứng với 1 điểm Vậy tổng cộng có 10 điểm
- Trả lời đúng 2/3 số câu, tương đương 7 điểm trở lên thì kiến thức thực hành đạt
- Kiến thức thực hành chưa đạt: trả lời đúng dưới 7 điểm trở xuống
9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Khảo sát đã được triển khai sau khi đã được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
Trang 35- Được sự đồng ý của ĐTNC đã tiến hành phỏng vấn
- Những thông tin được thu thập qua hồ sơ, bệnh án theo tiêu chí được thiết
kế, các thông tin được bảo mật nên không gây ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần của đối tượng nghiên cứu
- Trạm Y tế xã, được giải thích về nội dung nghiên cứu, bảo đảm bảo mật với mục đích nghiên cứu khoa học
- Thu thập, tổng hợp số liệu một cách trung thực, khách quan
- Khảo sát này đã được sự đồng ý của Lãnh đạo TTYT huyện Cao Lãnh
10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
10.1 Hạn chế của nghiên cứu
10.1.1 Hạn chế của nghiên cứu định lượng
- Đây là thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên có hạn chế trong việc xác định các yếu tố nguy cơ
- Nghiên cứu này được tiến hành trên một xã, vì thế kết quả nghiên cứu chỉ mang tính đại diện cho xã chứ không đại diện cho toàn huyện
- Một số sai số đo lường có thể xảy ra do điều tra viên hoặc công cụ
10.1.2 Hạn chế của nghiên cứu định tính
Những người được mời phỏng vấn sâu có thể không sẵn sàng cung cấp thông tin
10.2 Một số biện pháp khắc phục:
10.2.1 Một số biện pháp khắc phục hạn chế của nghiên cứu định lượng
+ Do điều tra viên: Tập huấn cho các điều tra viên, phương pháp phỏng vấn,
ghi chép kết quả để tránh sai số do kỹ năng thu thập thông tin không đồng nhất giữa các điều tra viên, tiêu chuẩn chọn điều tra viên
+ Do công cụ: Thử nghiệm bộ công cụ, chuẩn hóa bộ công cụ Tiến hành thử
nghiệm bộ câu hỏi trước khi nghiên cứu bằng cách phỏng vấn thử, sau đó có chỉnh sửa những sai sót cụ thể trước khi tiến hành điều tra chính thức
+ Do sai số lựa chọn mẫu: thực hiện đúng quy trình chọn mẫu, lập danh sách
hộ gia đình được chọn điều tra trước khi tiến hành điều tra, tuân thủ theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên để tránh mắc sai số lựa chọn
Trang 3610.2.2 Một số biện pháp khắc phục hạn chế của nghiên cứu định tính
- Cung cấp đầy đủ thông tin về ý nghĩa mục đích của nghiên cứu cho người được mời phỏng vấn sâu;
- Tạo niềm tin, sự thoải mái khi phỏng vấn sâu;
- Cam kết các thông tin do người tham gia nghiên cứu cung cấp sẽ được bảo mật và bảo đảm không ảnh hưởng công việc của họ
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung:
Bảng 3.1: đặc điểm nhân khẩu học
Stt Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu Tần số (n) Tỉ lệ (%)
Trang 38Kết quả bảng 3.1 cung cấp một số thông tin cơ bản về đối tượng nghiên cứu tại xã Phong Mỹ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp như sau: nhóm tuổi từ 46-60 chiếm tỉ lệ cao nhất là 60,2%, nhóm tuổi từ 31-45 chiếm 30,6% và nhóm tuổi từ 18-
30 chiếm 9,2% Giới tính nam chiếm 60,6%, nữ chiếm 39,4% Nghề nghiệp làm ruộng chiếm đa số 49,3%, làm mướn chiếm 28,2%, cán bộ công nhân viên chiếm 4,9%, buôn bán chiếm 9,5%, học sinh, sinh viên 2,1%, nghề khác 6,0%
Trình độ học vấn cấp Tiểu học cơ sở chiếm 53,9%, Trung học cơ sở là 35,9%, Trung học phổ thông trở lên chiếm 10,2% Kinh tế thuộc hộ nghèo chiếm
20,1%, không nghèo là 79,9%
3.2 Các nguồn thông tin ĐTNC tiếp cận về bệnh Lao:
Nguồn thông tin về bệnh Lao mà người dân tiếp cân được thể hiện qua biểu
đồ sau
Biểu đồ 3.1: thông tin đến với ĐTNC về bệnh Lao
Từ biểu đồ trên cho thấy nguồn thông tin về bệnh Lao đến với đối tượng nghiên cứu nhiều nhất (80,3%) và thích nhất (48,7%) là từ CBYT , kế đến là ti vi, đài truyền thanh (lần lượt là76,8% và 39,4%)
Trang 39Nguồn thông tin từ CBYT là CTV đến người dân là nhiều nhất do “CTV hoạt động nhiều chương trình nên thường xuyên tiếp xúc, gần gũi, quan tâm đến người dân, thường kết hợp tuyên truyền đến người dân các kiến thức về phòng bệnh Lao tại nhà và giải thích về bệnh rõ hơn nên được người dân nhớ đến,” (PVS cán bộ
chương trình)
3.3 Kiến thức phòng chống bệnh Lao của đối tƣợng nghiên cứu
Kiến thức phòng chống bệnh Lao của ĐTNC được minh họa qua các biểu đồ sau:
Biểu đồ 3.2: Kiến thức về truyền thông trong phòng chống bệnh Lao
Kết quả biểu đồ 3.2 cho ta thấy có từ 90,8% - đến 96,8% đối tượng nghiên cứu đã nghe nói đến bệnh Lao, và biết được bệnh Lao có thể chữa khỏi hoàn toàn và lây truyền cho ai, như thế nào
Có thể thấy “sự tuyên truyền từ CTV, cán bộ tuyến xã hàng tháng, sự hiệu quả của hoạt động truyền thông từ các Ban nghành, các nguồn thông tin đại chúng khác nhau đã đến được từng hộ gia đình thể hiện kiến thức về bệnh Lao của người dân từng bước được nâng lên” (PVS, cán bộ tổ Lao huyện)
Trang 40Biểu đồ 3.3: Kiến thức đúng về hiệu quả của công tác truyền thông trong
phòng chống bệnh Lao
Biểu đồ 3.3 cho thấy có từ 86,% đến 97,2% đối tượng nghiên cứu biết được khi nghi nhiễm Lao nên làm gì, và làm gì để giúp người bệnh không mặc cảm và tái hòa nhập cộng đồng
“Tỷ lệ người dân có hiểu biết đúng về bệnh Lao tương đối cao và kết quả này đạt được có sự đóng góp không nhỏ của CTV và phương tiện truyền thông đại chúng trong truyền thông, tư vấn cho người dân” (PVS, cán bộ chương trình)
Biểu đồ 3.4: Kiến thức về bệnh Lao của ĐTNC
Kết quả biểu đồ 3.4 có từ 48,6% đến 73,9% đối tượng nghiên cứu biết triệu chứng của bệnh Lao, biết được đường lây, nguồn lây và nguyên nhân gây bệnh