1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng tuân thủ điều trị và yếu tố liên quan của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại trạm y tế an bình, huyện cao lãnh, tỉnh đồng tháp

90 1,2K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 2,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua trao đổi với y, bác sỹ tại TYT và bệnh nhân đến khám điều trị ĐTĐ type 2 cho thấy hầu hết đều nói rằng thay đổi chế độ ăn và rèn luyện thể lực, dùng thuốc liên tục là không thường xu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO -BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi nhận được rất nhiều

sự giúp đỡ của các đơn vị, các thầy cô giáo, các anh chị đồng nghiệp, bạn bè và người thân trong gia đình

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hà Văn Như, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo truyền đạt cho tôi những kiến thức kinh nghiệm quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, quí thầy cô Trường Đại Học Y tế Công Cộng đã trang bị kiến thức, tạo điều kiện cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi xin cám ơn Ban giám đốc Trung tâm y tế dân số huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp và nhân viên TYT xã An Bình nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi cả về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập Tôi xin chân thành cám ơn các anh, chị em cộng tác viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu thực địa Xin cám ơn các quí bệnh nhân ĐTĐ type 2 đang quản lý điều trị tại TYT đã dành thời gian để trả lời những câu hỏi trong nghiên cứu

Tôi xin chân thành cám ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã luôn quan tâm chia sẽ và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, tháng 9 năm 2016

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT III DANH MỤC CÁC BẢNG IV DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ V TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VI

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1.ĐỊNH NGHĨA BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 4

1.2 THỰC TRẠNG ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 4

1.3 CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 5

1.4 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 13

1.5 KHUNG LÝ THUYẾT 16

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 17

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 17

2.3 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 17

2.4 CỠ MẪU VÀ PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU 17

2.5 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU 18

2.6 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU (PHỤ LỤC 5) 19

2.7 PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 22

2.8 VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU 23

2.9 HẠN CHẾ, SAI SỐ VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 23

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

3.1 THÔNG TIN CHUNG VÀ THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA ĐTNC 25

3.2 MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ĐTĐ TYPE 2 38

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44

4.1 THÔNG TIN CHUNG VÀ THỰC TRẠNG TTĐT CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 44

Trang 5

4.2 CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN GIỮA CHẾ ĐỘ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ĐTĐ TYPE 2 CỦA ĐTNC

VỚI CÁC YẾU TỐ NHÂN KHẨU HỌC VÀ HỖ TRỢ GIA ĐÌNH- XÃ HỘI 51

KẾT LUẬN 54

KHUYẾN NGHỊ 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI PHỎNG VẤN CỦA ĐTNC 60

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PHỎNG VẤN NGƯỜI BỆNH ĐTĐ TYPE 2 ĐANG QUẢN LÝ 61

PHỤ LỤC 3: PHIẾU HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ TYT 67

PHỤ LỤC 4: PHIẾU HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM NGƯỜI BỆNH 68

PHỤ LỤC 5: CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 70

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADA Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ

(American Diabetes Association)

TTYTDS Trung tâm y tế dân số

WHO Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization)

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

BẢNG 3.1.ĐẶC ĐIỂM NHÂN KHẨU HỌC 25

BẢNG 3.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG CỦA ĐTNC 25

BẢNG 3.3 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ CHẾ ĐỘ ĂN 27

BẢNG 3.4.THỰC TRẠNG TUÂN THỦ CHẾ ĐỘ TẬP LUYỆN 28

BẢNG 3.5.THỰC TRẠNG TUÂN THỦ DÙNG THUỐC 29

BẢNG 3.6.THỰC TRẠNG TUÂN THỦ HẠN CHẾ RƯỢU,BIA - THUỐC LÁ 31

BẢNG 3.7.THỰC TRẠNG TUÂN THỦ THEO DÕI GLUCOZE MÁU 32

BẢNG 3.8 THỰC TRẠNG TUÂN THỦ TÁI KHÁM ĐÚNG LỊCH HẸN 33

BẢNG 3.9.THÔNG TIN ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TẠI TRẠM Y TẾ 35

BẢNG 3.10.THÔNG TIN VỀ SỰ HỖ TRỢ CỦA GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 37

BẢNG 3.11.MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUÂN THỦ VỀ CHẾ ĐỘ ĂN VỚI CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC VÀ HỖ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 39

BẢNG 3.12 MỐI LIÊN QUAN TUÂN THỦ RÈN LUYỆN THỂ LỰC VÀ CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC, HỖ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 39

BẢNG 3.13 MỐI LIÊN QUAN TUÂN THỦ DÙNG THUỐC VÀ CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC, HỔ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 40

BẢNG 3.14 MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUÂN THỦ HẠN CHẾ RƯỢU BIA, THUỐC LÁ VỚI CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC, HỖ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI .41

BẢNG 3.15.MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUÂN THỦ KIỂM SOÁT GLUCOSE VỚI CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC, HỖ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 42

BẢNG 3.16.MỐI LIÊN QUAN GIỮA TUÂN THỦ TÁI KHÁM VỚI CÁC YẾU TỐ NHÂN CHỦNG HỌC, HỖ TRỢ GIA ĐÌNH - XÃ HỘI 42

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

BIỂU ĐỒ 3.1.TỶ LỆ BỆNH NHÂN NHẬN BIẾT CÁC BIẾN CHỨNG CỦA BỆNH26BIỂU ĐỒ 3.2.TỶ LỆ CÁC CHẾ ĐỘ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ ĐTĐ TYPE 2 (N=177) 34 BIỂU ĐỒ 3.3 PHÂN BỔ TỶ LỆ TUÂN THỦ CHUNG CỦA ĐTNC 35 BIỂU ĐỒ 3.4.TỶ LỆ BỆNH NHÂN ĐƯỢC CBYT HƯỚNG DẪN CÁC CHẾ ĐỘ ĐIỀU TRỊ 36

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bệnh ĐTĐ type 2 là một bệnh mãn tính cần điều trị lâu dài và đúng theo chỉ dẫn của cán bộ y tế Ngoài việc dùng thuốc cần kết hợp các chế độ điều trị khác như chế độ ăn, rèn luyện thể lực, hạn chế rượu,bia, thuốc lá thì mới kiểm soát được glucose máu.Vì vậy, tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 của người bệnh là rất quan trọng nó

quyết định đến kết quả điều trị Nghiên cứu“Thực trạng tuân thủ điều trị và yếu tố liên

quan của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại trạm y tế xã An Bình, huyện Cao Lãnh,

tỉnh Đồng Tháp năm 2016” nhằm mô tả thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố

liên quan tới tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 trên những bệnh nhân này

Nghiên cứu mô tả cắt ngang sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính trên 177 bệnh nhân ĐTĐ type 2 đang quản lý điều trị tại TYT xã An Bình Số liệu định lượng thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân Số liệu định tính thu thập sau khi có kết quả số liệu định lượng bằng thảo luận 2 nhóm bệnh nhân (nhóm tuân thủ tốt

và nhóm tuân thủ chưa tốt) và phỏng vấn sâu 2 cán bộ y tế: 01 cán bộ quản lý chương trình ĐTĐ và y sỹ trực tiếp điều trị tại TYT Thời gian thu thập số liệu từ 3/2016 - 9/2016

Kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị chung ĐTĐ type 2 của ĐTNC là 61,1% trong đó

tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn 54,8%; rèn luyện thể lực 20,9%; thuốc 28,2%; hạn chế rượu bia, thuốc lá 8,5%; theo dõi glucose máu 39%; tái khám đúng lịch hẹn 31,1% Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị bao gồm: yếu tố giới tính liên quan có ý nghĩa thống kê với chế độ tuân thủ rèn luyện thể lực; yếu tố giới tính, nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp liên quan có ý nghĩa thống kê với chế độ tuân thủ hạn chế rượu bia, thuốc lá; yếu tố học vấn liên quan có ý nghĩa thống kê với chế độ tuân thủ tái khám theo lịch hẹn

Dựa vào kết quả nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: Cán bộ TYT chú trọng đến công tác tư vấn và hướng dẫn cho bệnh nhân về TTĐT bệnh, nội dung tập trung các chế độ: dùng thuốc; hạn chế rượu bia, thuốc lá; kiểm soát glucose máu và tái khám theo lịch hẹn Đối tượng tập trung người cao tuổi, trình độ học vấn thấp, nhóm nghề khác,

Trang 10

người sống một mình.Tăng cường sự hổ trợ từ gia đình, các tổ chức xã hội: câu lạc bộ ĐTĐ, dự án phòng chống ĐTĐ… để tăng tỷ lệ tuân thủ điều trị của bênh nhân.

Trang 11

Việt Nam nằm trong khu vực các quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ type 2 nhanh nhất thế giới (8 - 20%/năm).Theo kết quả điều tra tại Việt Nam năm 2008, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 trong cả nước là 5,7%, riêng tại các thành phố lớn và khu công nghiệp có tỷ lệ từ 7,0% đến 10% Tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 chưa được chẩn đoán trên 64,5% và có tới 70%-80% số người tham gia phỏng vấn không hiểu biết về bệnh và cách phòng bệnh [17]

Đái tháo đường type 2 là bệnh cần theo dõi điều trị đúng và đủ, điều trị lâu dài đến hết cuộc đời Mục tiêu điều trị là kiểm soát chỉ số glucoze máu ở mức độ cho phép

để giảm tối đa các nguy cơ biến chứng [6] Dùng thuốc đúng, đủ liều, đều đặn, tích cực thay đổi lối sống như thực hiện chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ các chất dinh dưỡng Giảm cân nặng nếu quá cân, thay đổi thói quen như hút thuốc lá, hạn chế bia rượu, tăng cường hoạt động thể lực ở mức độ phù hợp, định kỳ kiểm tra chỉ số glucoze máu [32] là có thể kiểm soát được glucoze máu Nếu kiểm soát tốt glucoze máu có thể phòng được các biến chứng bệnh giúp bệnh nhân vẫn làm việc bình thường, kéo dài tuổi thọ và nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm nhẹ gánh nặng bệnh tật với bản thân, gia đình và xã hội Tuy nhiên trên thực tế việc tuân thủ chế độ điều trị của bệnh nhân đang là một vấn đề mà cả bệnh nhân và những nhà quản lý y tế cần phải quan tâm điều chỉnh Nếu ĐTĐ không kiểm soát được glucoze máu tốt trong giới hạn cho phép [4],

sẽ dẫn đến các biến chứng nặng nề như : ở mắt, ở thận, ở tim, tổn thương mạch máu, bệnh lý bàn chân Ảnh hưởng sức khỏe kèm theo gia tăng chi phí y tế, stress về tài chính, giảm chất lượng cuộc sống, tàn tật và dẫn tới tử vong [3]

An Bình là một xã vùng ven của Huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp Theo thống

kê hàng năm của trạm y tế về tình hình bệnh tật của nhóm các bệnh không lây nhiễm như: ung thư, hen phế quản, tăng huyết áp, đái tháo đường, thoái hóa khớp ngày một

Trang 12

gia tăng Năm 2015 bệnh nhân ĐTĐ type 2 trạm y tế quản lý là 177 bệnh nhưng tỷ lệ tuân thủ điều trị là bao nhiêu, những yếu tố nào liên quan đến tuân thủ đó, hiện vẫn chưa

có câu trả lời [5]

Qua trao đổi với y, bác sỹ tại TYT và bệnh nhân đến khám điều trị ĐTĐ type 2 cho thấy hầu hết đều nói rằng thay đổi chế độ ăn và rèn luyện thể lực, dùng thuốc liên tục là không thường xuyên.Với kết quả đánh giá nhanh sơ bộ bệnh nhân ĐTĐ type 2 tại TYT bằng câu hỏi có/không dựa trên nguyên tắc điều trị ĐTĐ type 2 là kết hợp thuốc với chế độ ăn hợp lý; giảm bia rượu-thuốc lá; tập thể dục hàng ngày; đo đường huyết thường xuyên và tái khám theo lịch hẹn thì đa phần trong số đó không thực hiện được đầy đủ theo khuyến cáo của người thầy thuốc Điều này chứng tỏ rằng những bệnh nhân đang điều trị ĐTĐ type 2 tại TYT được khảo sát tuân thủ là chưa đạt, những bệnh nhân này nguy cơ mắc các biến chứng bệnh có thể xảy ra và cách họ tự kiểm soát chiến lược điều trị lâu dài cho bản thân là chưa cao Cho đến nay tại Huyện Cao Lãnh nói chung và xã An Bình nói riêng chưa có một nghiên cứu nào nêu ra các

số liệu cụ thể, chính xác để đánh giá tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ type 2 Từ

những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng tuân thủ điều trị và yếu tố liên quan của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại trạm y tế An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016"

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang được quản lý tại trạm y tế An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016

2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường type 2 đang được quản lý tại trạm y tế An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2016

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Định nghĩa bệnh đái tháo đường type 2

Đái tháo đường type 2 là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin; khiếm khuyết hoạt động insulin hoặc cả hai Tăng đường máu mạn tính trong ĐTĐ type 2 sẽ gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan nhất là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [15]

1.2 Thực trạng đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình mắc bệnh đái tháo đường trên thế giới

Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO), năm 1985 trên thế giới có 30 triệu người bị đái tháo đường type 2 Đến năm 1994 số bênh nhân đã là 98,9 triệu người [37] Theo ước tính của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế năm 2012 số người mắc ĐTĐ type 2 tăng từ 157,3 triệu người lên 371 triệu người và ước tính đến năm 2030 sẽ có khoảng 552 triệu người mắc bệnh Ở các nước có nền công nghiệp phát triển thì bệnh đái tháo đường type 2 chiếm trên 90% tổng số người mắc bệnh đái tháo đường, nhưng

tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ type 2 thì có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ

Theo thống kê về người mắc bệnh ĐTĐ type 2 ở Trung Quốc cho thấy tỷ lệ tăng nhanh rõ rệt: năm 1986 có trên 1%; năm 1994 có 2,5% Như vậy bệnh ĐTĐ type

2 ở Trung Quốc tính từ năm 1986 đến 1994 đã tăng 300%, số người mắc ĐTĐ type 2 bùng nổ trong năm 2012 với 92,3 triệu người tăng gấp đôi so với năm 2009 (43,2 triệu) vượt lên đứng đầu Ấn Độ với 63 triệu người mắc ĐTĐ type 2, Indonesia đứng thứ 7 với 7,6 triệu người mắc ĐTĐ type 2 năm 2012 dự kiến sẽ tăng tới 11,8 triệu người năm 2030 Ai Cập là quốc gia đứng thứ 8 về tỷ lệ người mắc bệnh ĐTĐ type 2, năm 2012 có tới 7,3 triệu người mắc bệnh và con số này dự báo lên 12,4 triệu người vào năm 2030

1.2.2 Tình hình mắc đái tháo đường type 2 ở Việt Nam

Theo thống kê của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế năm 2012 Việt Nam có 3,2 triệu người mắc bệnh ĐTĐ type 2 chiếm (5,4%) dân số trưởng thành, trong đó có đến 65% bệnh nhân không biết mình mắc bệnh [11] Với tỉ lệ bệnh nhân tăng từ 8-10 % năm Việt Nam trở thành nước có tỉ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ type 2 nhanh nhất thế giới.Theo tổng kết các nghiên cứu năm 1990 bệnh ĐTĐ type 2 ở các khu vực Hà Nội (1,2%), Huế (0,95%), Thành phố Hồ Chí Minh (2,52 %) Năm 2002 báo cáo kết quả của một

Trang 15

đề tài nghiên cứu tại Hà Nội tỷ lệ người bệnh ĐTĐ type 2 tăng gấp đôi (2,16%) so với

10 năm trước [3] [3] Năm 2004 nghiên cứu Tạ Văn Thành tiến hảnh nghiên cứu đối tượng từ 30-64 tuổi đang sinh sống tại 4 thành phố lớn là Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng

và Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả cho thấy tỷ lệ mắc ĐTĐ type 2 là 4,6% [2] Năm

2009, Tạ Thị Tuyết Mai tiến hành nghiên cứu trên 2.331 đối tượng từ 40 - 60 tuổi tại nội thành Thành phố Hồ Chí minh với kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh đái tháo đường type

2 là 11,2% [14]

Năm 2007 Đồng Tháp mở cuộc tổng điều tra trên phạm vi toàn tỉnh cho thấy tỷ

lệ mắc ĐTĐ type 2 là 5,8% khá cao so với báo cáo của toàn quốc Người bị mắc ĐTD type 2 chưa được phát hiện chiếm 76,8%; tỷ lệ mắc tiền ĐTĐ type 2 chiếm 20,3% Dự

án phòng chống đái tháo đường tại Đồng Tháp triển khai và thực hiện với nhiều hoạt động khám sàng lọc, điều tra từ cuối năm 2009 Theo kết quả sàng lọc 03 năm từ 2009 đến 2011: tỷ lệ người bị ĐTĐ type 2 chiếm tới 9,12% [18]

An Bình là một xã diện tích 820 ha, có 03 ấp (An Định, An Nghiệp, An Lạc) với tổng số hộ: 2.334 hộ; số dân: 9.669 người Theo thống kê của trạm y tế số liệu khám chữa bệnh BHYT, dịch vụ, khám sức khỏe người cao tuổi hàng năm ghi nhận tỷ

lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 đang quản lý điều trị theo các năm như: năm 2012 có 236/6.022 tỷ lệ 3,92%, năm 2013 có 251/6.285 tỷ lệ 3,9%, năm 2014 có 231/5.523 tỷ

lệ 4,2 %, năm 2015 có 177/4.469 tỷ lệ 3,97% [5], bệnh thường tập trung chủ yếu ở lứa tuổi trung niên và người già Họ thường khám bệnh tại Trạm y tế xã, BVĐK Huyện và các bệnh viện tuyến tỉnh Ngoài số liệu trạm y tế xã cập nhật được thì bên cạnh đó còn không ít bệnh nhân không thuộc là dân sinh sống trên địa bàn xã, họ đăng ký tạm trú tạm vắng ở địa phương nên tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường type 2 tại xã có thể cao hơn

số liệu đã ghi nhận

1.3 Chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2

1.3.1.Chẩn đoán bệnh đái tháo đường

Theo Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA) năm 2015 [32], hội nghiên cứu ĐTĐ Châu Âu, quyết định của Bộ y tế năm 2011 về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:

(1) Glycated hemoglobin (HbA1C), test xét nghiệm máu nếu HbA1C > 6.5% trên 2 mẫu xét nghiệm riêng biệt chứng tỏ bệnh nhân bị ĐTĐ Xét nghiệm này chỉ ra được glucoze máu trung bình của bệnh nhân trong 2 - 3 tháng trước, bằng cách đo

Trang 16

phần trăm glucose gắn vào hemoglobin (một protein mang oxy trong hồng cầu) Khi glucoze tăng cao trong máu nhiều hemoglobin sẽ gắn với đường hơn

(2) Xét nghiệm glucoze máu 2 giờ > 200mg/dl (11.1mmol/l) khi làm test dung nạp glucose (dung dịch 75gram glucose)

(3) Xét nghiệm glucoze máu đói > 126 mg/dl (mẫu máu được lấy sau khi nhịn

ăn ít nhất là 8giờ) được chẩn đoán là ĐTĐ

(4) Xét nghiệm glucose máu ngẫu nhiên > 200mg/dl (11.1mmo1/1) kèm theo bệnh nhân có triệu chứng cổ điển của glucose máu hay tăng glucose máu trầm trọng [31] như : ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều, gầy nhiều

1.3.2.Điều trị bệnh đái tháo đường type 2

Nguyên tắc điều trị

Theo hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 của BYT [6] gồm:

Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn, HbA1C gần như đạt được mức lý tưởng nhằm giảm các biến chứng có liên quan và giảm tỷ lệ tử vong

do bệnh đái tháo đường

Giảm cân nặng (với người thừa cân, béo phì) hoặc duy trì cân nặng hợp lý Dùng thuốc điều trị hạ glucose máu phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập Phối hợp điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì số đo huyết áp hợp lý, phòng chống các rối loạn đông máu Khi cần phải dùng kết hợp với thuốc tiêm insulin (đợt cấp của bệnh mạn tính, bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật…)[6]

Mục tiêu điều trị bệnh ĐTĐ type 2

Bệnh nhân cần kiểm soát tối thiểu các chỉ số (xem bảng 1.1) [13]

Bảng 1.1 Các chỉ số cần kiểm soát trong điều trị ĐTĐ type 2 (theo quyết định

của Bộ y tế năm 2011 về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2)

> 7,0

> 10,0 HbA1c % < 6,5 > 6,5 đến < 7,5 > 7,5

140/90 > 140/90

Trang 17

Năng lượng cung cấp cho người bệnh ĐTĐ type 2 khoảng từ 1600 - 2800 calorie/ngày phụ thuộc vào tuổi, giới, mức độ hoạt động, cân nặng và phong cách sống Thông thường lượng carbohydrates cần khoảng 40 - 60% năng lượng/ngày, chất

xơ cần 20-35g/ngày, chất béo ít hơn khoảng 30% chủ yếu là dầu thực vật Một số nghiên cứu đã chỉ rõ lượng chất béo nên < 300mg/ngày, lượng protein khoảng 10 - 20% tổng lượng calories /ngày, protein thực vật như: đậu, đỗ, được khuyến nghị sử dụng [12]

Bên cạnh đó, khoa Nội tiết - Bệnh viện Bạch Mai đưa ra một tháp thức ăn theo khuyến nghị của ADA để hướng dẫn cho người bệnh ĐTĐ sử dụng [12] Tháp thức ăn chia làm 6 nhóm thức ăn và số lượng của khẩu phần cho mỗi nhóm Khẩu phần nhỏ nhất trong mỗi nhóm đạt được 1600 calorie/ngày và khẩu phần lớn nhất trong mỗi nhóm 2800 calorie /ngày Số lượng khẩu phần cho mỗi nhóm thức ăn phụ thuộc vào mục tiêu kiểm soát glucose máu, cung cấp năng lượng và dinh dưỡng Một số gợi ý về khẩu phần ăn trong mỗi nhóm (theo khuyến cáo ADA) người bệnh cần đảm bảo [32]:

Ăn 6 -11 khẩu phần chất bột/ngày: (1 khẩu phần = 1lát bánh mỳ = 1 bát phở đã nấu = 1/2 bát ngũ cốc như đậu, khoai môn đã nấu = 3/4 bát ngũ cốc khô như bắp nổ

= 1/2 bát cơm = 1 củ khoai tây nhỏ)

Trang 18

Ăn 2 - 4 khẩu phần hoa quả/ngày: (1 khẩu phần = 4 -5 quả chôm chôm = 1 quả

lê nhỏ = 1 quả quýt = 1/2 nước cam = 1/2 cốc nước nho = 1 quả chuối nhỏ)

Ăn 3 - 5 khẩu phần rau/ngày: (1 khẩu phần = 1/2 bát đậu đũa luộc = 1 bát rau

ăn sống như sà lách, cà rốt, hành, ớt ngọt = 1/2 bát nước cà chua hoặc cà rốt ép)

Ăn 2 - 3 khẩu phần sữa hoặc sữa chua/ngày: (1 khẩu phần = 1 cốc sữa chua

không béo = 1 cốc váng sữa hoặc sữa không béo)

Ăn 2 -3 khẩu phần chất đạm/ngày: (1 khẩu phần = 60 - 90 gram cá, thịt gà, thịt

vịt = 90 - 120 gram đậu phụ = 1 quả trứng gà hoặc trứng vịt)

Hạn chế sử dụng đường và thực phẩm có chứa nhiều đường: bánh kẹo ngọt, nước uống có gas [4] Chọn loại thức ăn có ít béo, có hàm lượng chất béo bão hoà và cholesterol thấp, đảm bảo các bữa ăn cách nhau từ 4h - 5 h [13]

Người bệnh ĐTĐ nên ăn đúng giờ mỗi ngày không bỏ bữa, có thể chia nhiều bữa nhỏ nhưng không ăn vặt Ăn cùng một lượng mỗi ngày, ăn cùng một lượng chất bột đường mỗi bữa, ăn đầy đủ các nhóm thực phẩm mỗi ngày [13]

Chế độ luyện tâp

Mục đích luyện tập ở người bệnh ĐTĐ type 2 [21] tác dụng điều chỉnh glucose

máu thông qua việc làm giảm tình trạng kháng insulin nhờ giảm cân nặng Nhất là những đối tượng thừa cân béo phì và giảm đề kháng insulin

Luyện tập thể lực là một trong những biện pháp bắt buộc trong chế độ điều trị bệnh đái tháo đường Tập luyện ở mức độ trung bình như đi bộ, đạp xe đạp … trong thời gian từ 30-60 phút/ ngày, 3-5 lần/ tuần đã được khuyến nghị (tối thiểu 150 phút/1 tuần) Nhóm hoạt động này sẽ đốt khoảng 3,5 -7 kilocalories /phút Hoạt động thể dục thể thao nên bắt đầu với làm ấm cơ thể trong 5-10 phút và không nên dừng lại đột ngột

mà chậm dần lại [13] Người bệnh ĐTĐ type 2 đang sử dụng insulin hay thuốc hạ glucose máu cần phải biết về chế độ luyện tập, hạ glucose máu có thể xảy ra trong khi hoạt động thể lực Do đó, thời gian hoạt động thể lực sẽ phụ thuộc vào chế độ điều trị của mỗi bệnh nhân và phong cách sống của người đó Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ khuyến nghị người bệnh trước khi tập thể thao nên ăn một bữa nhỏ trước 30 - 60 phút hoặc có kẹo, đồ uống ngọt ngay cạnh khi tập luyện thể thao đề phòng trường hợp hạ glucose máu xảy ra [10] Vì vậy, để đạt được mục đích này hàng ngày phải luyện tập khoảng 30- 45 phút và mỗi tuần tập ít nhất là từ 3 đến 5 ngày/tuần (150 phút/tuần)

Theo dõi glucose máu

Trang 19

Thử glucose máu bằng máy đo đường huyết cá nhân hoặc tại cơ sở y tế và ghi

vào sổ theo dõi được tổ chức y tế thế giới (WHO) khuyến cáo là phương pháp tin cậy

phù hợp cho mọi người bệnh ĐTĐ [28] Khi mới được chẩn đoán hoặc khi thay đổi chế độ điều trị, bệnh nhân nên kiểm tra glucoze máu từ 2 lần/ ngày vào trước bữa ăn chính và trước khi đi ngủ Khi glucoze máu tương đối ổn định có thể kiểm tra glucoze máu sau ăn 2 giờ hoặc có biểu hiện hạ glucose máu và tốt nhất kiểm tra glucoze máu

lúc đói 01 lần/03 ttháng [13]

Chế độ dùng thuốc điều trị

Mục đích: Giảm cân nặng (với người béo) hoặc không tăng cân (với người

không béo) Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn gần như ở mức độ sinh lý và đạt mức HbA1C lý tưởng sẽ giảm tỷ lệ biến chứng và tử vong do đái tháo đường

Nguyên tắc: Dùng thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và tập luyện, phải phối hợp

điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì số đo huyết áp hợp lý,

chống các rối loạn đông máu

Thông thường bệnh nhân mới được chẩn đoán là bệnh ĐTĐ type 2 sẽ được chỉ định dùng metformin (Glucophage) hây một số thuốc kích thích tuyến tụy tăng sản xuất và phóng thích insulin (nhóm thuốc sulfonyureas) hoặc nhóm acarbose sẽ ức chế men phân giải carbohydrates và làm giảm glucoze máu sau ăn Nếu đường máu tăng cao phải kết hợp thuốc uống và tiêm thuốc insulin hạ đường huyết [31]

1.3.2 Phân tuyến điều trị đái tháo đường type 2

Theo quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 9/9/2011 về việc ban hành tài liệu chuyên

môn“Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2” Nguyên tắc

chung, hướng dẫn phân tuyến điều trị được áp dụng chung trong toàn quốc Tùy điều kiện của cơ sở điều trị (về nhân lực và phương tiện) người đứng đầu cơ sở y tế có thể quyết định mức độ can thiệp và chuyển tuyến

a/ Tuyến xã - phường

Nếu có bác sỹ nội khoa có thể điều trị cho người bệnh ĐTĐ type 2 nhất là các thể nhẹ và trung bình Cụ thể mức glucose huyết tương máu lúc đói dưới 10,0 mmol/l và/hoặc HbA1 C dưới 8,0% Khi mức glucose huyết tương máu lúc đói trên 10,0 mmol/l phải chuyển ngay lên tuyến huyện và không có bác sỹ phải chuyển ngay lên tuyến trên

Trang 20

b/ Tại tuyến huyện:

Nếu mức glucose huyết tương máu lúc đói từ 10,0 mmol/l trở lên đến dưới 13,0 mmol/l; HbA1c dưới 9,0% mà người bệnh không có biến chứng gì nặng (ví dụ biến chứng bàn chân, tim mạch) có thể điều trị cho bệnh nhân tại tuyến huyện

Chuyển tuyến trên nếu có một trong các tình trạng sau:

- Glucose huyết tương máu lúc đói trên 13,0 mmol/l và/hoặc HbA1C trên 9,0%

- Người bệnh kèm theo các biến chứng nặng về tim mạch (thiếu máu cục bộ cơ tim, nhồi máu cơ tim), bàn chân đái tháo đường, biến chứng thận

- Có những dấu hiệu của biến chứng cấp tính, phải tiến hành sơ cứu và chuyển lên tuyến trên nhanh nhất

- Đã điều trị tích cực nhưng sau 3 tháng vẫn không đạt được những chỉ tiêu về quản lý glucose máu

c/ Tuyến tỉnh:

Là tuyến cuối của các địa phương nên phải phấn đấu điều trị bệnh một cách toàn diện, chuyển tuyến trên khi có một trong các tình trạng sau:

- Bệnh có những biến chứng nặng vượt quá khả năng can thiệp

- Sau 6 tháng điều trị vẫn không đạt được các mục tiêu điều trị

1.3.3 Tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ và sự liên quan đến kết quả điều trị Khái niệm tuân thủ điều trị

Theo khuyến nghị Bộ Y tế “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2 năm

2011” và hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ năm 2015 về tuân thủ điều trị ĐTĐ type 2 gồm:

(1) Tuân thủ chế độ ăn đảm bảo đủ thành phần dinh dưỡng theo khuyến cáo (2) Tuân thủ chế độ luyện tập thể dục

(3) Tuân thủ dùng thuốc điều trị là dùng thường xuyên các loại thuốc được kê đơn theo đúng sự chỉ dẫn của cán bộ y tế (CBYT)

(4) Tuân thủ về hạn chế rượu bia, thuốc lá

(5) Tuân thủ về theo dõi và ghi lại chỉ số glucoze máu

(6) Tuân thủ tái khám định kỳ theo đúng lịch hẹn

Cách đo lường tuân thủ điều trị

Định nghĩa: Theo ADA năm 2015 [32] và theo khuyến nghị của Bộ Y tế năm

2011 “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ type 2”, tuân thủ điều trị là trong hành vi

của một người bệnh như dùng thuốc, thay đổi chế độ ăn, thay đổi lối sống, tăng cường

Trang 21

chế độ luyện tập, theo dõi kiểm tra glucose máu định kỳ … đúng với những hướng dẫn

theo khuyến cáo phù hợp của CBYT

Cách đo lường: Đo lường hành vi tuân thủ điều trị, cho đến nay chưa có

“chuẩn vàng” phương pháp lí tưởng để đo lường TTĐT đáp ứng được các tiêu chuẩn như: đảm bảo chi phí thấp, có giá trị đáng tin cậy, khách quan và dễ sử dụng Tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp [32] Nhằm làm giảm các biến chứng của bệnh và tăng hiệu quả trong quá trình điều trị Việc đánh giá chính xác hành vi TTĐT là vô cùng quan trọng, giúp thầy thuốc theo dõi bệnh

nhân, đưa ra những phương pháp, phác đồ điều trị phù hợp

Các yếu tố tác động đến TTĐT của bệnh nhân: Đái tháo đường type 2 là một

bệnh mạn tính mang gánh nặng tâm lý cho bệnh nhân, gia đình và xã hội Đặc biệt là những bệnh nhân không tuân thủ điều trị dẫn đến thất bại trong điều trị, một trong

những lý do bệnh nhân không tuân thủ điều trị đó là:

- Do thuốc điều trị: uống quá nhiều thuốc trong một ngày, điều trị bằng thuốc

uống kết hợp với thuốc tiêm phải dùng ít nhất 2 loại thuốc trở lên Số lượng thuốc và thời gian dùng thuốc kéo dài suốt đời, kèm theo với tâm lý sợ đau khi tiêm là những rào cản lớn tác động đến sự tuân thủ Một nguyên nhân khác do tác dụng phụ của thuốc quá nặng nề ví dụ như gây hạ đường huyết khi dùng insullin không đúng cách

- Những hạn chế về chế độ ăn liên quan đến sử dụng thuốc: Do mỗi thuốc có

cách sử dụng khác nhau liên quan đến chế độ ăn như có thuốc phải uống sau bữa ăn,

có thuốc phải uống xa bữa ăn, có thuốc phải kiêng rượu bia, có thuốc tiêm phải tiêm vào đúng giờ qui định … Điều này cũng sẽ gây ra những khó khăn nhất định làm bệnh nhân nhiều khi sử dụng thuốc không đúng chỉ dẫn, do bệnh nhân không nhớ hoặc phải

có thói quen sử dụng bia rượu (ở bệnh nhân nam thường nghiện những đồ uống này)

- Do thiếu hỗ trợ (gia đình, bạn bè): Ngoài sự hỗ trợ của cán bộ y tế thì người

thân trong gia đình, bạn bè, các câu lạc bộ đái tháo đường,… của người bệnh là những yếu tố quan trọng góp phần đảm bảo việc TTĐT

- Do gánh nặng về tài chính: Quá trình mắc bệnh kéo dài phải chi phí cho cuộc

sống, chi phí điều trị Bệnh nhân không có khả năng tạo ra thu nhập (bệnh nhân lớn tuổi) sẽ là gánh nặng tài chính cho bệnh nhân và cả những người trong gia đình [24]

- Do mối quan hệ giữa bác sỹ và bệnh nhân: Bác sĩ giao tiếp tốt với bệnh

nhân, chỉ rõ ích lợi của các biện pháp điều trị Nhắc lại nhiều lần thật rõ ràng cho bệnh

Trang 22

nhân, báo trước các tác dụng phụ có thể có hoặc khích lệ bệnh nhân thì việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tốt hơn nhiều

- Do hệ thống chăm sóc y tế: Hệ thống chăm sóc y tế có thuận tiện cho bệnh

nhân không ? Thái độ phục vụ, trình độ chuyên môn và các dịch vụ y tế khác có thuận tiện cho bệnh nhân không ? Hây bệnh nhân cứ tin tưởng vào hệ thống chăm sóc y tế là

đủ Tất cả các lý do trên đều ảnh hưởng tới sự tuân thủ của bệnh nhân [25]

- Do các yếu tố khác như: Sự lan tràn thuốc bắc, thuốc nam điều trị ĐTĐ

không rõ nguồn gốc cũng góp phần làm cản trở đến vấn đề TTĐT của bệnh nhân

Hậu quả của việc không tuân thủ điều trị [19]

Không kiểm soát được đường huyết

Không ngăn ngừa được các biến chứng cấp tính:

Hạ glucose máu

Hôn mê tăng glucose máu (hôn mê tăng áp lực thẩm thấu)

Hôn mê do nhiễm toan lactic

Các bệnh nhiễm trùng cấp tính [27]

Không ngăn ngừa được các biến chứng mạn tính:

Biến chứng tim mạch: bệnh mạch máu, bệnh tim, đột quỵ…

Biến chứng tại mắt: xuất huyết - xuất tiết võng mạc, giảm thị lực … Biến chứng tại thận: tổn thương thận, suy thận…

Biến chứng bàn chân: loét bàn chân, cắt cụt chi dưới, hoại thư…

Biến chứng thần kinh

Suy giảm chức năng sinh dục ở nam,nữ [22]

Các biện pháp giúp tăng tuân thủ điều trị

Để giúp cho bệnh nhân kiểm soát tốt được đường huyết và hạn chế các biến chứng có thể diễn ra cho bệnh nhân Công việc chúng ta nên làm là giúp họ xác định được những yếu tố ngăn cản để họ tuân thủ triệt chế độ điều trị Những biện pháp đó bao gồm:

Thông tin chuẩn cho bệnh nhân các biện pháp tuân thủ điều trị như chế độ dinh dưỡng, tập thể dục, dùng thuốc đều độ, theo dõi glucose máu, tái khám đúng hẹn,…

Để bệnh nhân nắm được tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị, giúp họ chủ động đưa ra kế hoạch đảm bảo sự tuân thủ điều trị [17] Luôn khích lệ, động viên tạo mọi điều kiện để bệnhh nhân đi khám bệnh và theo dõi sức khỏe đều đặn tại cơ sở y tế

Trang 23

Đồng thời nói với bệnh nhân về các rào cản sự tuân thủ của họ, giúp họ tìm được cách khắc phục các rào cản này [16]

Tăng cường sự hỗ trợ gia đình, bạn bè, CBYT, các tổ chức xã hội… hỗ trợ cả

về tinh thần lẫn vật chất, tạo niềm tin và lạc quan giúp người bệnh Vận dụng các nguồn lực để đảm bảo thuốc được cung cấp miễn phí giúp bệnh nhân giảm được gánh nặng về tài chính, đồng thời đề xuất lãnh đạo phát triển hệ thống y tế hiệu quả [25]

1.4 Một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị đái tháo đường type 2

1.4.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Sự thành công tuân thủ điều trị cho bất cứ một bệnh nhân nào thường phụ thuộc một phần lớn vào ba yếu tố: thứ nhất là thái độ bệnh nhân đối với bệnh tật bao gồm cả

sự hợp tác của bệnh nhân đối với bác sỹ để kiểm soát tốt các biến chứng; thứ hai là sự

tự tin của bệnh nhân góp phần vào khả năng tự quản lý bệnh của mình; thứ 3 là bệnh nhân phải có kiến thức tốt để giúp cho họ đưa ra những quyết định phù hợp trong việc kiểm soát các triệu chứng bệnh của mình [26] Trên thế giới một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị khá cao và cũng đã tìm ra một số yếu tố liên quan như : Nghiên cứu tại Ba Lan với 200 người bệnh ĐTĐ type 2 cho thấy tuân thủ không đạt với yêu cầu điều trị bằng thuốc và tự kiểm soát glucose máu như: chỉ có 50% dùng thuốc liên tục và đầy đủ; 52,5% tự kiểm soát glucose máu

Nghiên cứu Joan N kalyago và cộng sự (2008) về tuân thủ điều trị của bệnh nhân đái tháo đường tại bệnh viện Uganda tiến hành trên 402 bệnh nhân trên 18 tuổi chẩn đoán bệnh đái tháo đường type 1 và 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám ít nhất là 1 tháng Kết quả tuân thủ điều trị về thuốc chiếm tỷ lệ cao 71,1% Tuy nhiên nghiên cứu chỉ đề cập đến tuân thủ điều trị thuốc và chưa tìm hiểu lý do tại sao lại tuân thủ điều trị, chưa có kết quả của các chế độ tuân thủ khác

Nghiên cứu Senay Uzun và cộng sự (2009) tại trường Đại học điều dưỡng Thổ Nhỹ Kỳ “nghiên cứu tuân thủ điều trị đái tháo đường và những khuyến cáo thay đổi lối sống” tiến hành trên 150 bệnh nhân ĐTĐ đang điều trị ngoại trú ít nhất 1 năm; kết quả

sự tuân thủ điều trị về thuốc, chế độ ăn, chế độ luyện tập, theo dõi đường huyết & khám định kỳ lần lượt: 72%; 65%; 31%, 63% Nghiên cứu này cũng đưa ra kết quả có 11% bệnh nhân tuân thủ 1 khuyến cáo, 23% bệnh nhân tuân thủ 2 khuyến cáo, 29% bệnh nhân tuân thủ 3 khuyến cáo, 24% bệnh nhân tuân thủ 4 khuyến cáo, 13% bệnh nhân thủ

5 khuyến cáo

Trang 24

Nghiên cứu Alan M và cộng sự (2006) tiến hành trên 83 bệnh nhân cho thấy kết quả tỷ lệ tuân thủ về thuốc tốt hơn tuân thủ về thay đổi lối sống Nghiên cứu này cũng đưa ra tỷ lệ tuân thủ điều trị theo khuyến cáo là: bệnh nhân tuân thủ chế độ ăn chiếm 65%, 19% bệnh nhân tuân thủ chế độ luyện tập, 53% người bệnh tuân thủ về thuốc và 67% bệnh nhân thường xuyên đo đường huyết

Nghiên cứu Chua SS và cộng sự (2011) tại phòng khám bệnh viện trường đại học Y tại Malaysia Nghiên cứu mô tả cắt ngang phỏng vấn trực tiếp dựa trên bộ câu hỏi và hồ sơ bệnh án trên 405 bệnh nhân Kết quả với tỷ lệ 41,7% không tuân thủ điều trị thuốc và lý do không tuân thủ dùng thuốc là quên và bận chiếm (30,2%) [36]

Nghiên cứu Juma Al-Kaabi và cộng sự (2009) “Hoạt động thể lực và những yếu

tố rào cản đến hoạt động thể lực của bệnh nhân đái tháo đường type 2 tại Ả Rập” [29], trên 390 bệnh nhân điều trị ngoại trú tại phòng khám huyện Al-Ain tại Ả rập Kết quả 28% bệnh nhân hoạt động thể lực (trong đó: 25% tham gia hoạt động thể lực, 3% thực hiện theo khuyến cáo); 72% không tuân thủ hoạt động thể lực

Với kết quả các nghiên cứu đánh giá TTĐT của người bệnh ĐTĐ type 2 nhận thấy tuân thủ thuốc chiếm tỷ cao nhất kế đến là các chế độ tuân thủ theo thứ tự: chế độ tập luyện; chế độ dinh dưỡng; kiểm soát glucose máu; tái khám theo lịch hẹn Các nghiên cứu cũng chưa đề cập đến các yếu tố liên quan của người bệnh ĐTĐ type 2 trong tuân thủ điều trị

1.4.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Năm 2003 nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện Nguyễn Trãi với 138 người bệnh ĐTĐ type 2, kết quả kiểm soát glucose máu lúc đói tốt là 11,1%, kiểm soát glucose máu kém 50% Nguyên nhân kiểm soát glucose máu kém do bệnh nhân tuân thủ điều trị không giữ đúng chế độ dinh dưỡng, không rèn luyện thể lực, không dùng thuốc theo đúng y lệnh

Theo Nguyễn Vinh Quang và cộng sự (2006) việc quản lý và điều trị bệnh ĐTĐ type 2 ở Nam Định và Thái Bình trong năm 2003 cho thấy kiểm soát glucoze máu còn rất kém 65,06%; 54,22% bệnh nhân đang điều trị ĐTĐ type 2 vẫn có THA [20]

Nghiên cứu Nguyễn Minh Sang và cộng sự (2007) trên 104 người bệnh ĐTĐ type 2 cho thấy: 64,4% theo dõi glucose máu tại cơ sở y tế; 29,8% tự theo dõi glucose máu tại nhà và 5,8% không theo dõi glucose máu Nghiên cứu nêu thêm 80,8% kiểm soát glucose máu kém, 12,5% kiểm soát glucose máu tốt (HbA1C < 6,5%) [17]

Trang 25

Tạ Văn Bình theo dõi HbAlC người bệnh ĐTĐ type 2 tại Việt Nam có 51% quản lý bệnh tốt, 20% đạt yêu cầu, 70-75% không đạt yêu cầu [2] Một nghiên cứu trên 225 người bệnh ĐTĐ type 2 điều trị nội trú bệnh viện 30-4 từ 5/2006 – 5/2007 cho thấy nhóm điều trị liên tục 25,3% TTĐT kém; 46,7% trung bình và 28% là tốt [9]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 110 người bệnh ĐTĐ type 2 tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 91% không xác định được các dấu hiệu, triệu chứng, nguyên nhân

và biến chứng của bệnh và chỉ có 21% theo dõi glucose máu tại nhà [3]

Nghiên cứu Đỗ Quang Tuyển (2012) tại bệnh viện Lão khoa Trung ương “Mô

tả kiến thức thực hành và các yếu tố liên quan về TTĐT bệnh ĐTĐ type 2” trên 330 người bệnh cho thấy: tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn 78,8%; chế độ tập luyện 62,1%; tuân thủ dùng thuốc 71,2%; theo dõi đường huyết tại nhà và tái khám định kỳ là 26,4% Nghiên cứu cũng chưa đề cập đến mối liên quan giữa tuân thủ điều trị với chế độ kiểm soát glucose máu [28]

Dựa vào kết quả các nghiên cứu trên nhận thấy hầu hết các nghiên cứu đều đánh giá về tuân thủ điều trị của người bệnh ĐTĐ type 2, đưa ra tỷ lệ tuân thủ điều trị theo khuyến cáo như tuân thủ chế độ ăn cao nhất kế đến tuân thủ về thuốc, tập luyện thể dục, tái khám định kỳ, kiểm soát đường huyết, thói quen sử dụng rượu bia, thuốc

lá Nhận thấy các nghiên cứu chỉ tập trung vào tìm nguyên nhân kiểm soát glucose máu dựa vào tuân thủ thuốc, chế độ ăn, chế độ luyện tập và cũng có nghiên cứu đề cập đến chế độ tự theo dõi glucose máu tại nhà Tuy nhiên các nghiên cứu nêu chưa đầy đủ

về tuân thủ các chế độ điều trị và chưa đưa ra các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị theo khuyến cáo ADA năm 2015 [32] và hướng dẫn Bộ Y tế năm 2011 [6]

Trang 26

1.5 Khung lý thuyết

Bệnh ĐTĐ Type 2

Kết quả điều trị Glucose máu được kiểm soát tốt

Yếu tố cá nhân

Tuổi, giới, học vấn, nghề nghiệp, hoàn cảnh sống, ,biến chứng bệnh, hoàn cảnh phát hiện bệnh, thời gian mắc và thời gian điều trị bệnh, nhận biết các biến chứng bệnh và gia đình có người mắc bệnh

Yếu tố dịch vụ y tế Yếu tố gia đình

và xã hội

Hoạt động điều trị ngoại trú

Sự hài lòng của bệnh nhân

Thái độ, trình độ, tư vấn chăm sóc của CBYT, Khoảng cách

từ nhà tới Trạm y tế

Hỗ trợ, phối hợp của nhân viên y tế:

Tư vấn, hướng dẫn nhắc nhở về biến chứng bệnh, Các chế độ tuân thủ điều trị

Nhân khẩu học

Hỗ trợ của gia đình

và xã hội

Trang 27

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh đái tháo đường type 2 đang được quản lý điều trị tại xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Cán bộ y tế tại Trạm y tế xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

Tiêu chí chọn đối tượng

Người bệnh ĐTĐ type 2 đang được quản lý tại TYT xã An Bình, huyện Cao Lãnh

Có thời gian điều trị ngoại trú tại xã An Bình tối thiểu là 6 tháng

CBYT phụ trách quản lý chương trình ĐTĐ, y-bác sỹ trực tiếp điều trị tại TYT

Có khả năng giao tiếp để trả lời phỏng vấn và đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại trừ

Người bệnh có biến chứng nặng mà không thể tham gia nghiên cứu được

Người bệnh quá già không thể nghe rõ câu hỏi để trả lời

Người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2016 đến tháng 9/2016

Địa điểm nghiên cứu: Xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

Để xác định tỷ lệ bệnh nhân đái tháo đường type 2 tuân thủ điều trị, cỡ mẫu được tính theo công thức xác định một tỷ lệ sau:

d: độ chính xác tuyệt đối = 0,07

Trang 28

Thay số vào công thức trên, cỡ mẫu tính được là 173, cỡ mẫu này được cộng thêm 10% để dự phòng những trường hợp không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc đến nhà mà không gặp Như vậy cỡ mẫu là 190 Tại thời điểm nghiên cứu, tổng số bệnh nhân ĐTĐ type 2 được quản lý điều trị tại trạm y tế An Bình là 177, do đó chúng tôi chọn toàn bộ số bệnh nhân này vào nghiên cứu

- Một cuộc phỏng vấn sâu đối với y sỹ khám chữa bệnh tại trạm y tế

Thảo luận nhóm (04 cuộc):

- Hai cuộc thảo luận nhóm đối với người bệnh có tuân thủ điều trị tốt

- Hai cuộc thảo luận nhóm đối với người bệnh chưa có tuân thủ điều trị tốt Người bệnh tham gia nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi phân tích số liệu định lượng, xác định được hai nhóm người bệnh đáp ứng đủ tiêu chí đưa ra

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập thông tin thứ cấp

Báo cáo thống kê số liệu khám chữa bệnh và số liệu chương trình đái tháo đường của TYT năm 2015 - 2016 Sổ khám quản lý chữa bệnh tại TYT xã năm 2016 (nội dung quản lý khám, theo dõi và điều trị bệnh đái tháo đường type 2)

2.5.2 Thu thập thông tin sơ cấp

2.5.2.1 Thu thập số liệu nghiên cứu định lượng

Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để phỏng vấn ĐTNC (phụ lục 1,2), nội dung bộ câu hỏi xây dựng dựa trên Quyết định số 3280/QĐ-BYT ngày 09/09/2011 Phỏng vấn trực tiếp tại nhà bệnh nhân ĐTĐ type 2 đangquản lý tại xã An Bình, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Số liệu TYT cung cấp gồm: ấp An Định (69 bệnh nhân); ấp An Nghiệp (86 bệnh nhân); ấp An Lạc (22 bệnh nhân).Điều tra viên là cán bộ của TYT gồm 03 người (02 Y sỹ và 01 điều dưỡng trung cấp) ĐTV được tập huấn điều tra về các nội dung của bộ câu hỏi và cách ghi chép cũng như kỹ năng điều tra trước khi tiến hành điều tra thu thập số liệu

Trang 29

Giám sát điều tra: nghiên cứu viên là giám sát viên (GSV) giám sát thu thập số liệu và kiểm tra các phiếu phỏng vấn của ĐTV, xem các phiếu có đầy đủ thông tin không Giám sát viên kiểm tra và phỏng vấn ngẫu nhiên 5% số phiếu do ĐTV thu thập nhằm hạn chế sai sót và khắc phục kịp thời Nếu có sai sót hoặc thông tin trên phiếu không đầy đủ thì giám sát viên trực tiếp điều tra lại phiếu đó

2.5.2.2 Sau khi phân tích sơ bộ số liệu định lượng, hai nhóm bệnh nhân được lựa

chọn và thực hiện thảo luận nhóm

Nghiên cứu viên trực tiếp thực hiện 02 cuộc phỏng vấn sâu và 04 cuộc thảo luận nhóm (mỗi cuộc thảo luận nhóm gồm có 6 - 8 đối tượng tham gia nghiên cứu) Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thiết kế sẵn phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu (phụ lục 3,4) Trong các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm có sử dụng máy ghi âm (được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu) kết hợp với ghi chép nội dung chính Thời gian cho phỏng vấn sâu 45 phút, thảo luận nhóm là 60 phút

2.6 Các biến số nghiên cứu (phụ lục 5)

2.6.1 Các biến số thực trạng tuân thủ điều trị ĐTĐ của đối tượng nghiên cứu

Thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, sự quan tâm của tổ chức xã hộ, sự quan tâm của gia đình

Thông tin về bệnh ĐTĐ type 2 của ĐTNC: hoàn cảnh phát hiện bệnh, thời gian phát hiện và điều trị bệnh, nhận biết các biến chứng của bệnh

Hoạt động điều trị ngoại trú của TYT: khoảng cách từ nhà bệnh nhân tới TYT, đánh giá thái độ - trình độ của CBYT, bệnh nhân nhận được giải thích về biến chứng bệnh và các chế độ tuân thủ điều trị từ CBYT

Về tuân thủ điều trị: chế độ dinh dưỡng; chế độ dùng thuốc; chế độ luyện tập TDTT; hạn chế rượu bia, thuốc lá; kiểm soát glucose máu; tái khám định theo lịch hẹn

2.6.2 Các biến số về công tác quản lý, khám điều trị, hướng dẫn chăm sóc bệnh của cán bộ tại TYT và tuân thủ hoặc không tuân thủ điều trị của bênh nhân

Khảo sát CBYT quản lý chương trình ĐTĐ, Y- Bác sỹ trực tiếp khám bệnh

(1) Hoạt động trạm y tế: công tác khám bệnh, điều trị và tư vấn

(2) Quan tâm của lãnh đạo về hoạt động khám và điều trị, quản lý người bệnh (3) Các biện pháp hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị

(4) Yếu tố ảnh hưởng tới việc tuân thủ điều trị: cá nhân, gia đình và xã hội (5) Đánh giá về tuân thủ điều trị của bệnh nhân: đầy đủ hây chưa đầy đủ

Trang 30

(6) Công tác tập huấn chuyên môn nghiệp vụ

(7) Công tác kiểm tra, giám sát của lãnh đạo về quy trình làm việc

(8) Đề xuất ý kiến hiệu quả trong điều trị

Nhóm đối tượng nghiên cứu (tuân thủ, không tuân thủ)

(1) Hiểu biết của bệnh nhân về bệnh đái tháo đường

(2) Hiểu biết của bệnh nhân về điều trị đái tháo đường: thời gian điều trị, tuân thủ chế độ điều trị (dùng thuốc, chế độ ăn, hoạt động thể lực….)

(3) Mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân (tuân thủ hây không tuân thủ) (4) Những yếu tố giúp người bệnh tuân thủ điều trị (nhóm tuân thủ)

(5) Những yếu tố cản trở người bệnh không tuân thủ (nhóm không tuân thủ) (6) Sự quan tâm từ gia đình, tổ chức xã hội: câu lạc bộ ĐTĐ…

2.6.3 Cách cho điểm và tiểu chuẩn đánh giá

2.6.3.1 Cách cho điểm thực trạng tuân thủ điều trị của ĐTNC

Trong nghiên cứu này tuân thủ chế độ điều trị ĐTĐ type 2 bao gồm 6 tiêu chí trong hướng dẫn điều trị năm 2011 của Bộ y tế và khuyến cáo điều trị đái tháo đường type 2 của ADA năm 2015 gồm:

Tuân thủ chế độ ăn

Tuân thủ chế độ ăn là đảm bảo đầy đủ 6 nhóm thực phẩm theo khuyến cáo, nên chọn loại thức ăn có hàm lượng chất béo bão hoà và cholesterol thấp, các bữa ăn đảm bảo cách nhau từ 4h - 5h Hạn chế ăn các thức ăn tạo ra glucoze hấp thu nhanh: nước uống có đường, bánh kẹo ngọt, các loại trái cây, các loại ngũ cốc …

Bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng nghiên cứu từ câu C19 - C26, bệnh nhân được hỏi về mức độ ăn luôn được đánh giá dựa trên thang đo Likert scale 4 mức để đánh giá tần xuất thực hiện hành vi tăng cường sức khỏe của cá thể: 1 điểm = không bao giờ, 2 điểm = thỉnh thoảng, 3 điểm = thường xuyên, 4 = luôn luôn Do đó số điểm cao nhất mỗi câu hỏi là 4 điểm và thấp nhất 1 điểm Tổng số điểm đạt được cả 8 câu hỏi là từ 8

- 32 điểm Dựa theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang (2013) [8] bệnh nhân đạt ≥ 24 điểm là tuân thủ

Tuân thủ chế độ luyện tập

Tuân thủ chế độ luyện lập là thường xuyên luyện tập thể dục hoặc đi bộ, chạy

bộ, đạp xe đạp,… trong thời gian từ 30-60 phút/ ngày hoặc 3-5 lần/tuần đã được khuyến nghị (tối thiểu 150 phút/1 tuần) Mức độ tập luyện tùy thuộc vào tình trạng

Trang 31

bệnh tật của bệnh nhân Nếu glucose máu chưa được kiểm soát tốt, tình trạng bệnh còn nặng thì không nên tập thể dục mà hoãn lại cho đến khi điều trị hiệu quả

Dựa theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang (2013)[8] người bệnh đảm bảo tập luyện được tối thiểu 30 phút/ ngày (150 phút /tuần) là tuân thủ

Tuân thủ chế độ dùng thuốc điều trị

Dựa theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang (2013) [8] tuân thủ điều trị thuốc là bệnh nhân sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của CBYT, kể cả khi glucose máu được ổn định Bệnh nhân không được

tự ý thay đổi thuốc, liều lượng thuốc và tự ý ngưng thuốc Nghiên cứu này sử dụng nội dung đánh giá tuân thủ điều trị thuốc của Donald và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đánh giá (bảng 2.2) Với mỗi câu trả lời không = 1 điểm, trả lời có = 0 điểm, tuân thủ khi đạt ≥ 6 điểm

Bảng 2.2.Nội dung đánh giá tuân thủ điều trị thuốc gồm 8 mục

TT Các mục của nội dung đánh giá tuân thủ điều trị thuốc Có không

1 Từ lúc bắt đầu điều trị ĐTĐ type 2, có khi nào Ông/Bà quên

uống thuốc không?

2 Trong tuần vừa qua, ông/Bà có quên uống thuốc không?

3 Khi cảm thấy khó chịu do uống thuốc, Ông/Bà có tự ý ngừng

thuốc không?

4 Khi Ông/Bà đi xa nhà, có khi nào quên mang thuốc theo không?

5 Ngày hôm qua Ông/Bà có quên uống thuốc không?

6 Khi cảm thấy glucose máu đã được kiểm soát, Ông/Bà có bao giờ

tự ngừng uống thuốc không?

7 Ông/Bà có khi nào cảm thấy phiền toái vì ngày nào cũng phải

uống thuốc ĐTĐ không?

8 Ông/Bà có cảm thấy khó khăn trong việc phải nhớ dùng tất cả các

loại thuốc ĐTĐ không?

Tuân thủ hạn chế rượu bia, thuốc lá

Dựa theo kết quả nghiên cứu Lê Thị Hương Giang (2013)[8]: người bệnh không hút thuốc trong 1 tuần trước khi trả lời phỏng vấn là tuân thủ; với rượu/bia số

Trang 32

lượng uống vào ngày nhiều ≤ 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ≤ 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ≤ 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ≤ 9 cốc chuẩn/tuần (nữ) là tuân thủ Nghiên cứu này đánh giá tuân thủ điều trị liên quan đến hạn chế rượu bia trong tuần qua bằng cách hỏi về lượng rượu hoặc bia uống vào ngày nhiều nhất và lượng trung bình mà bệnh nhân uống trong mỗi ngày rồi tính tổng ra số lượng cốc chuẩn/tuần (Một cốc chuẩn chứa 10g ethanol tương đương 330 ml bia hoặc 120 ml rượu vang hoặc 30 ml rượu mạnh)

Tuân thủ theo dõi glucose máu

Tự theo dõi glucoze máu và ghi vào sổ theo dõi đã được khuyến cáo trên từng đối tượng bênh nhân Khi glucoze máu đã tương đối ổn định nên kiểm tra 01 lần/ 03 tháng và ghi lại các chỉ số vào sổ theo dõi Có thể kiểm tra glucoze máu sau ăn 2 giờ hoặc khi có biểu hiện hạ đường huyết hoặc khi bị ốm

Tuân thủ tái khám định kỳ theo lịch hẹn

Là khám bệnh đảm bảo thường xuyên định kỳ theo đúng lịch hẹn (xem sổ khám bệnh của bệnh nhân)

Đánh giá tuân thủ điều trị

Theo hướng dẫn chẩn đoán của BYT năm 2011 và khuyến cáo của ADA năm

2015, bệnh nhân đạt 4/6 tiêu chí là tuân thủ điều trị

2.6.3.2 Cách cho điểm công tác quản lý, khám chữa bệnh, hướng dẫn chăm sóc bệnh của cán bộ tại TYT và tuân thủ, không tuân thủ điều trị của ĐTNC

Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, trả lời sai hoặc trả lời không đầy đủ là 0

điểm Qua tham khảo một số nghiên cứu chúng tôi đánh giá công tác quản lý, khám

chữa bệnh, hướng dẫn chăm sóc bệnh của cán bộ tại TYT và tuân thủ hoặc không tuân thủ điều trị của bệnh nhân Kết quả đạt khi trả lời đúng 75% các tiêu chí của các phần

(cán bộ y tế, nhóm ĐTNC) trong bộ câu hỏi phỏng vấn cụ thể như sau:

- Đối với CBYT: đối tượng y sỹ và CBQL chương trình đái tháo đường của TYT là 18 câu, tổng điểm là 18, điểm đạt là 14

- Đối với nhóm ĐTNC: nhóm bênh nhân TTĐT và không TTĐT là 11 câu, tổng điểm là 11, điểm đạt là 8

Tổng số điểm đạt của tất cả các phần trên là 22 điểm

2.7 Phân tích số liệu

2.7.1 Đối với số liệu định lượng

Trang 33

Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng Epidata 3.1 và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0 Dùng thống kê mô tả để xác định tỷ lệ bệnh nhân TTĐT đạt theo quyết định số 3280/QĐ-BYT về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2 với khoảng tin cậy là 95%

2.7.2 Đối với thông tin định tính

Phân tích theo chủ đề, chuẩn bị số liệu, gỡ băng, tổng hợp và phân loại thông tin cần phân tích Đọc và tóm tắt thông tin, mã hóa thông tin theo chủ đề, tóm tắt và

tổng hợp thông tin trích dẫn làm minh chứng giải thích cho kết quả định lượng

2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ theo quy định về đạo đức nghiên cứu y sinh học của Hội Đồng Đạo Đức trường Đại học Y tế Công cộng Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trường ĐHYTCC cho phép theo quyết định số 181/2016/YTCC-HD3

Tất cả bệnh nhân được giải thích cụ thể về mục đích và nội dung nghiên cứu, việc tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện Bệnh nhân ký vào phiếu đồng ý tham gia trước khi tiến hành phỏng vấn, trong quá trình phỏng vấn bệnh nhân có quyền từ chối không tiếp tục trả lời câu hỏi, mọi thông tin của bệnh nhân đều được giữ

bí mật và sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học

2.9 Hạn chế, sai số và biện pháp khắc phục

2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ đánh giá TTĐT tại một thời điểm trong khi các chế độ tuân thủ điều trị: thuốc; luyện tập TDTT, chế độ ăn… của bênh nhân thay đổi theo thời gian hôm nay được đánh giá là TTĐT, hôm sau có thể là không tuân thủ

Nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân đang được TYT quản lý điều trị với quy mô nhỏ nên tính đại diện của nghiên cứu hạn chế về mặt phạm vi không thể suy rộng từ kết quả nghiên cứu Việc thu thập số liệu ở tại nhà nên tỷ lệ TTĐT của những bệnh nhân này sẽ có những khác biệt

2.9.2 Sai số của nghiên cứu

Trong quá trình thu thập số liệu bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, người phỏng vấn có thể dùng từ ngữ chưa rõ ràng, chưa gần gũi… làm bệnh nhân hiểu sai ý câu hỏi dẫn đến trả lời thiếu độ chính xác

Việc hỏi về hành vi tuân thủ điều trị thông qua việc phỏng vấn bệnh nhân nên không tránh khỏi sai số nhớ lại, thông tin khó ước lượng chính xác về chế độ ăn, sử

Trang 34

dụng rượu bia, hoạt động thể lực… Ngoài ra bệnh nhân trả lời qua loa, các việc làm theo quy định không như thực tế dẫn đến việc đánh giá thiếu độ chính xác

Sai số ngẫu nhiên trong quá trình nhập số liệu

Giải thích rõ mục đích nghiên cứu cho đối tượng bệnh nhân được phỏng vấn Nhập liệu hai lần để tránh sai số

Trang 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung và thực trạng tuân thủ điều trị của ĐTNC

3.1.1 Thông tin chung

Bảng 3.1.Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3.2 Một số đặc điểm về điều trị đái tháo đường của ĐTNC

Hoàn cảnh phát hiện bệnh Khám sức khỏe định kỳ 40 22,6

Trang 36

Tỷ lệ bệnh nhân nhận biết các biến chứng của bệnh được trình bày tại biểu đồ 3.1

Biểu đồ 3.1.Tỷ lệ bệnh nhân nhận biết các biến chứng của bệnh

Qua biểu đồ 3.1 cho thấy bệnh nhân nhận biết biến chứng mờ mắt chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,8%, thấp nhất là biến chứng của thận chỉ chiếm 28,2%

3.1.2 Thực trạng tuân thủ điều trị của ĐTNC

Trang 37

Bảng 3.3 Thực trạng tuân thủ chế độ ăn

Nội dung

Không bao giờ

n (%)

Thỉnh thoảng

n (%)

Thường Xuyên

n (%)

Luôn Luôn

n (%)

Chọn loại thức ăn có ít béo, có hàm lượng

chất béo bão hoà và cholesterol thấp)

63 (35,6)

60 (33,9)

48 (27,1)

6 (3,4)

Hạn chế sử dụng đường và thực phẩm có

chứa nhiều đường (bánh kẹo ngọt)

75 (42,4)

44 (24,9)

49 (27,7)

9 (5,1)

Ăn 6-11 khẩu phần chất bột mỗi ngày

11 (6,2)

98 (53,4)

48 (27,1)

20 (11,3)

Ăn 2 — 4 khẩu phần hoa quả mỗi ngày 20 (11,3) 109 (61,1) 46 (26) 2 (1,1)

Ăn 3 — 5 khẩu phần rau mỗi ngày

18 (10,2)

54 (30,5)

82 (46,3)

23 (13)

Ăn 2 - 3 khẩu phần sữa hoặc sữa chua mỗi 46 (26) 111 (62,7) 17 (9,6) 3 (1,7)

Ăn 2 -3 khẩu phần chất đạm mỗi ngày 16

(9)

98 (55,4)

56 (31,6)

7 (4)

Các bữa ăn cách nhau từ 4h – 5h 8

(4,5)

40 (22,6)

107 (60,5)

22 (12,4)

Ghi chú: Đánh giá thực hiện hành vi tăng cường sức khỏe của bệnh nhân là 1 điểm =

không bao giờ; 2 điểm = thỉnh thoảng; 3 điểm = thường xuyên; 4 điểm = luôn luôn

Kết quả bảng 3.3 cho thấy bệnh nhân chọn loại thức ăn ít chất béo và hàm lượng cholesterol thấp thường xuyên và luôn luôn chọn là (27,1%; 3,4%); 24,9% là thỉnh thoảng vẫn sử dụng các chế phẩm chứa nhiều đường Các khẩu phần ăn như chất bột, rau, chất đạm bệnh nhân tuân thủ lần lượt là (11,3%; 13%; 4%) Khẩu phần sữa hàng ngày tuân thủ là 1,7%; 26% là không bao giờ sử dụng Các bữa ăn đảm bảo cách nhau 4-5 giờ luôn luôn thực hiện 12,4%

Với cách chấm điểm như trên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ chế độ ăn đạt được 54,8% Khi tìm hiểu về chế độ ăn trong buổi thảo luận, nhóm bệnh nhân kém tuân thủ cho rằng khi đến giờ ăn thì ăn, tụi này sống chung gia đình thì con hây cháu nấu món

gì ăn món đó, có ăn là quý rồi có biết đâu mà hạn chế Một số bệnh nhân cho là lo làm lụng tối ngày, giữ cháu,… khi đói bụng ăn đại qua loa rồi đi làm tiếp, đôi khi ăn nhiều

đồ béo, đồ ngọt quá mà có hây đâu:

Trang 38

“Tôi thường ăn ở nhà vẫn đảm bảo chế độ ăn hạn chế đồ béo, đồ ngọt, tăng cường chế độ ăn nhiều rau Nhưng nhiều khi đi công tác do phải tiếp khách, do bạn

bè, do đối tác công việc trong giao thiệp làm ăn,… nữa nên khó kiểm soát lắm mấy chú ơi " ( BN nam 57 tuổi)

“Tôi ăn cùng gia đình vì thế chế độ ăn ở nhà chưa tuân thủ đúng được Con, cháu nấu gì thì tôi ăn như thế Nấu cả thức ăn ngọt, thức ăn nhiều mỡ, ít rau xanh,…

mình cũng ăn theo, chứa biết phải làm sao, không lẻ nấu riêng ăn” (BN nữ 56 tuổi)

Cán bộ làm quản lý chương trình cho biết: “Trong quá trình điều trị chúng tôi vừa tư vấn và gửi những tờ rơi về chế độ ăn cho bệnh nhân Nhưng thấy đa phần, bệnh nhân chưa thay đổi được thói quen trong ăn uống Họ nói ăn tuân theo chế độ rất là khó ăn và có cảm giác đói bụng liền liền gây khó chịu, một phần ăn chung với gia đình nên khó tuân thủ” (Nữ, Điều dưỡng 52 tuổi)

Thảo luận nhóm tuân thủ tốt về chế độ ăn đa số bệnh nhân đều cho biết: cần phải ăn uống điều độ và đảm bảo đủ chất dinh dưỡng, không nên ăn quá no trong một bữa mà phải chia nhỏ bữa ăn trong ngày:

“Tôi nghĩ mình tự tìm hiểu và nghe con, nghe cháu nhắc nhở nên ăn thứ gì và không nên ăn thứ gì để hài hòa với gia đình, đặt niềm tin cho con, cháu mà mình cũng

tuân thủ chế độ điều trị, phòng ngừa được biến chứng của bệnh” (BN nam 52 tuổi)

3.1.2.2 Tuân thủ chế độ tập luyện thể dục thể thao

Trang 39

Bảng 3.4 cho thấy 72,9% bệnh nhân luyện tập thể dục thường xuyên; thời gian luyện tập đúng 30 phút/ngày là 24%; tập đạt theo chế độ 150 phút/tuần trở lên là 20,9% Về tuân thủ chế độ luyện tập thảo luận nhóm bệnh nhân tuân thủ chưa tốt đưa

ra các lý do bận công tác, do thời tiết xấu, do chăm sóc cháu và cho rằng làm việc nội trợ trong nhà là có thể thay thế luyện tập thể duc:

“Do bận nhiều việc gia đình nên không có thời gian đi tập luyện mà tôi nghĩ tôi làm việc nhà chân tay muốn không ở không, như thế thì không cần phải đi bộ nữa hây tập thể dục gì cả, tôi thấy vậy là đủ rồi” (BN nữ 54 tuổi)

“Tôi còn bận giữ cháu nên không có thời gian ngày nào cũng đi bộ được, thỉnh thoảng mẹ bé phải đi công tác nên giữ cháu suốt, 1 tuần chỉ tập đi bộ được 2 đến 3

3.1.2.3 Tuân thủ điều trị thuốc

Bảng 3.5.Thực trạng tuân thủ dùng thuốc

(n)

Tỷ lệ (%)

Trong thời gian điều trị thỉnh thoảng có quên

Trang 40

Quên uống thuốc ngày hôm qua

Không 5 97,2

Tự ý ngừng thuốc khi cảm thấy glucose máu

được kiểm soát

Ghi chú: Đánh giá tần xuất thực hiện hành vi uống thuốc của bệnh nhân là chọn 1

điểm = không; 2 điểm = có

Bảng 3.5 cho thấy 62,1% bệnh nhân khi bắt đầu điều trị thỉnh thoảng quên uống thuốc; cảm thấy khó khăn khi phải nhớ tên thuốc 53,7%; phiền toái khi ngày nào cũng phải uống thuốc 69,5%; tự ý ngừng thuốc khi cảm thấy glucose máu được kiểm soát 88,1%; 2,8% là quên uống thuốc ngày hôm qua; 6,2% quên uống thuốc trong tuần và 16,4% quên mang thuốc khi đi xa nhà

Với cách đánh giá như trên, tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ chế độ dùng thuốc đạt được 28,2% Về việc uống thuốc đúng cách như: uống đúng liều lượng, uống đúng cách, uống đúng giờ, đúng theo hướng dẫn của y, bác sỹ là điều cần thiết trong quá trình điều trị Tìm hiểu về chế độ dùng thuốc của đối tượng nghiên cứu, thảo luận nhóm bệnh nhân tuân thủ kém đa phần họ cho: uống nhiều thuốc sợ có tác dụng phụ, ngại uống thuốc, nếu thỉnh thoảng ngưng uống thuốc 1 tuần cũng chẳn sao, uống thuốc

ở đâu quen đó không dám mua thuốc ở ngoài mỗi khi hết thuốc:

“Ngày nào cũng phải uống mấy loại thuốc, uống liên tục hồi ấy đến giờ nên tôi

sợ ảnh hưởng cho gan, cho thận lắm, thỉnh thoảng thấy người khỏe tôi cũng quên uống thuốc Giả lại, bác sỹ bảo tôi thấy xét nghiệm đường huyết ổn định rồi, an tâm rồi nên tôi chả uống làm gì, chỉ ăn uống đảm bảo hạn chế đồ ngọt là được” (BN nam

63 tuổi)

“Do nhà xa nên tôi không đi khám bệnh được đều đặn, khi hết thuốc thì tôi cũng không uống nữa, không dám tự ý mua thuốc bên ngoài vì mua thuốc ở bên ngoài chẳng biết thế nào có giống như thuốc trạm y tế cấp không và hơn nữa mua thuốc bên

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:33

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w