Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2017 và một số yếu tố liên quan.. Công nhân môi trường n
Trang 1ĐỖ KIỀU TRANG
THỰC TRẠNG TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN THU GOM RÁC THẢI
ĐÔ THỊ THUỘC MỘT CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2016-2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
ĐỖ KIỀU TRANG
THỰC TRẠNG TAI NẠN LAO ĐỘNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở CÔNG NHÂN THU GOM RÁC THẢI
ĐÔ THỊ THUỘC MỘT CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH MTV
MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2016-2017
TS LƯƠNG MAI ANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau đại học, các phòng chức năng trường Đại học Y tế Công cộng đã giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập để có thể hoàn thành luận văn này
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin cảm ơn Tiến sĩ Lương Mai Anh và Thạc sĩ Trần Thị Thu Thủy đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin được cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp đã động viên, chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã yêu thương, là nguồn động viên to lớn trong quá trình học tập để tôi hoàn thành luận văn này!
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thông tin chung về điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải 3
1.1.1 Một số khái niệm 3
1.1.2 Điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải 4
1.2 Thực trạng Tai nạn lao động chung và Tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải 6
1.2.1 Khái quát về thực trạng TNLĐ trên thế giới 6
1.2.1.1 Thực trạng TNLĐ nói chung 6
1.2.1.2 Tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải qua một số nghiên cứu trên thế giới 7
1.2.2 Khái quát chung về thực trạng TNLĐ tại Việt Nam 10
1.2.2.1 Thực trạng TNLĐ nói chung 10
1.2.2.2 TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải 10
1.3 Yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích ở công nhân thu gom rác thải 11
1.3.1 Yếu tố liên quan đến điều kiện lao động 11
1.3.1.1 Thời gian làm việc 12
1.3.1.2 Phương tiện lao động 12
1.3.1.3 TNLĐ do lao động thủ công 14
1.3.1.4 TNLĐ do làm việc ngoài trời 14
1.3.2 Yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân người lao động 15
1.3.2.1 Tuổi tác và kinh nghiệm làm việc 15
1.3.2.2 Hành vi sử dụng thiết bị bảo hộ lao động 15
1.3.2.3 Tình trạng con cái 15
1.3.2.4 Căng thẳng tâm lý 16
1.4 Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu 16
1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 18
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu 19
Trang 52.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 19
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng 19
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính 19
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 20
2.6 Xử lý và phân tích số liệu 21
2.7 Biến số nghiên cứu 21
2.7.1 Nghiên cứu định lượng 21
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính 22
2.8 Đạo đức nghiên cức 22
2.9 Hạn chế, sai số và cách khắc phục 22
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24
3.1 Thông tin chung 24
3.2 Thực trạng TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải 27
3.3 Một số yếu tố liên quan đến TNLĐ 38
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 44
4.1 Đặc điểm chung và điều kiện lao động của đối tượng nghiên cứu 44
4.2 Thực trạng TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải 45
4.3 Một số yếu tố liên quan đến TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải 48
4.4 Bàn luận về một số hạn chế của nghiên cứu 51
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 52
CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 58
Phụ lục 1: Bảng chi tiết biến số nghiên cứu 58
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn sâu công nhân đã từng gặp TNLĐ 62
Phụ lục 3: Phiếu phỏng vấn sâu công nhân thu gom rác thải (không bị TNLĐ trong 1 năm qua) 63
Phụ lục 4: Phiếu phỏng vấn đối tượng nghiên cứu 65
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội của người lao động (n=447) 24
Bảng 2: Thông tin về bảo hiểm y tế/bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc của người lao động (n=447) 25
Bảng 3: Thông tin về sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình làm việc (n=447) 26
Bảng 4: Tỷ lệ TNLĐ theo giới tính và độ tuổi ở công nhân thu gom rác thải 28
Bảng 5: Tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải theo nguyên nhân 28
Bảng 6: Hoàn cảnh xảy ra TNLĐ 31
Bảng 7: Tính chất tổn thương khi bị TNLĐ 34
Bảng 8: Xử trí sau TNLĐ 35
Bảng 9: Số trường hợp có tiêm phòng sau TNLĐ do vật sắc nhọn 36
Bảng 10: Hậu quả của TNLĐ 37
Bảng 11: Kết quả phân tích đơn biến mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên cứu và tai nạn lao động 39
Bảng 12: Kết quả phân tích đơn biến mối liên quan giữa yếu tố điều kiện lao động và tai nạn lao động 40
Bảng 13: Kết quả phân tích đơn biến mối liên quan giữa được trang bị bảo hộ lao động, tham gia tập huấn an toàn lao động với tai nạn lao động 41
Bảng 14: Mô hình hồi quy đa biến giữa tình trạng bị TNLĐ và các yếu tố liên quan 42
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
URENCO Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Thu gom rác thải là ngành nghề có nguy cơ cao bị tai nạn lao động (TNLĐ), nhưng số liệu về vấn đề này tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng còn hạn chế Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu mô tả thực trạng tai nạn lao động ở
công nhân thu gom rác thải từ tháng 3/2016 đến tháng 3/2017 và một số yếu tố liên
quan Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được sử
dụng trong nghiên cứu này Nghiên cứu đã phỏng vấn toàn bộ công nhân thu gom
rác thải (TGRT) tại một chi nhánh công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội
(sau gọi là công ty MTĐT Hà Nội) Thông tin về tình hình TNLĐ trong 12 tháng trước thời điểm điều tra và một số đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện làm việc của công nhân được thu thập và phân tích Trong 447 đối tượng được đưa vào phân tích,
72 người báo cáo 90 trường hợp TNLĐ trong 1 năm với tỷ suất TNLĐ là 201/1000 người TNLĐ xảy ra trong tất cả các bước của quy trình thu gom rác thải, nhiều nhất khi thu gom rác tại hộ gia đình (47,8%), trút rác từ xe gom lên xe tải (22,2%),
và trong khi công nhân di chuyển đến điểm tập kết (16,7%) Loại TNLĐ phổ biến
nhất là tổn thương vật sắc nhọn (33,3%), tai nạn giao thông (17,8%), vật rơi/đè và
ngã (cùng là 13,3%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ TNLĐ giữa các
nhóm tuổi khác nhau và giữa các ca làm việc khác nhau cho thấy cần tổ chức lao động hợp lý để góp phần hạn chế TNLĐ cho công nhân thu gom rác thải
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, cùng với sự gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế - xã hội
là sự gia tăng về khối lượng rác thải sinh hoạt tại các đô thị lớn, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội [2] Theo thống kê của Sở Tài nguyên và môi trường Hà Nội, trong giai đoạn
2011 - 2015, rác thải sinh hoạt chiếm khoảng 60% tỷ trọng các loại chất thải với tổng khối lượng rác phát sinh khoảng 6.000 tấn/ngày [8], đòi hỏi một số lượng lớn người lao động thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy rác, đảm bảo vệ sinh môi trường Công nhân môi trường nói chung và công nhân TGRT nói riêng phải làm việc trong điều kiện tồn tại nhiều yếu tố nguy hiểm dẫn đến nguy cơ cao bị TNLĐ Làm việc ngoài trời trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, làm việc ca đêm với nguy cơ bị tấn công ảnh hưởng đến tâm lý [12], hay tư thế lao động gò bó là những điều kiện lao động đặc thù dẫn đến nguy cơ TNLĐ trong đối tượng này Hơn nữa, TGRT thủ công, thiếu kiến thức về nguy cơ TNLĐ, thao tác lặp đi lặp lại và tiếp xúc trực tiếp với rác thải cũng góp phần gây ra những sự cố khiến người lao động bị chấn thương do rác thải sắc nhọn, trượt ngã/vấp ngã, say nóng/say nắng… [12] Tại Việt Nam nói chung
và Hà Nội nói riêng chưa có nghiên cứu chuyên sâu về sức khỏe công nhân MTĐT, đặc biệt trong vấn đề TNLĐ Hiện tại, công ty MTĐT Hà Nội (URENCO) là một trong những doanh nghiệp chính chịu trách nhiệm thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải ở các quận nội thành và một số quận huyện ngoại thành Hà Nội, với số lượng lớn công nhân trực tiếp thu gom rác Công ty có thực hiện thống kê báo cáo TNLĐ hàng năm theo quy định tuy nhiên con số TNLĐ/ số vụ TNLĐ thực tế có thể cao hơn rất nhiều so với số liệu thống kê vì nhiều trường hợp người lao động không biết hoặc
không báo cáo đầy đủ [7] Vậy thực trạng tai nạn lao động hiện nay ở công nhân
TGRT thuộc công ty MTĐT Hà Nội như thế nào và các yếu tố liên quan là gì? Để trả
lời câu hỏi trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Thực trạng tai nạn lao động và một
số yếu tố liên quan ở công nhân thu gom rác thải thuộc một chi nhánh công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội, 2016-2017” Kết quả của nghiên cứu là cơ sở để đề
xuất khuyến nghị phù hợp nhằm xây dựng một môi trường làm việc lành mạnh, hạn chế nguy cơ tai nạn lao động ở công nhân môi trường đô thị
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tai nạn lao động của công nhân thu gom rác thải thuộc một chi nhánh công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2016 - 2017
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tai nạn lao động của công nhân thu gom rác thải thuộc một chi nhánh công ty môi trường đô thị Hà Nội
Trang 11CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thông tin chung về điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải
1.1.1 Một số khái niệm
Công nhân môi trường đô thị (MTĐT): Người làm việc cho một doanh nghiệp công lập hoặc tư nhân để thu thập và loại bỏ rác từ dân cư, thương mại, công nghiệp để chế biến tiếp và xử lý Khối lượng công việc của một công nhân thu gom rác thường khá lớn Công nhân MTĐT bao gồm người lao động trực tiếp và lao động gián tiếp Đối với lao động trực tiếp có các loại hình lao động khác nhau như: Thu gom, vận chuyển, xử lý rác
Điều kiện lao động: Là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh
tế, xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc Điều kiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng lao động, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạo nên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất [4]
Tai nạn lao động (TNLĐ): Theo điều 142 Bộ Luật lao động năm 2012, TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc) [10] Trong nghiên cứu này, TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải được ghi nhận thông qua phỏng vấn đối tượng nghiên cứu về số lượt TNLĐ xảy ra trong vòng một năm trước thời điểm thu thập số liệu nghiên cứu
Để đánh giá tình hình tai nạn lao động, Tổ chức lao động quốc tế sử dụng hệ
số tần suất tai nạn lao động, được tính bằng tỉ lệ phần nghìn của số ca bị TNLĐ trên tổng số người lao động trong quần thể lao động được xem xét
Trang 121.1.2 Điều kiện lao động của công nhân thu gom rác thải
Các rủi ro nghề nghiệp với người lao động có thể xảy ra ở tất cả các bước trong quá trình quản lý rác thải, từ thu gom rác thải tại hộ gia đình tới khi vận chuyển đến địa điểm tái chế hoặc tiêu hủy Tại Việt Nam, thu gom rác thải còn là ngành thuộc nhóm IV trong các công việc nặng nhọc, độc hại nguy hiểm theo Thông tư 36/2012/TT-BLĐTBXH của Bộ lao động thương binh và xã hội ban hành năm 2012 [1]
Đối tượng lao động
Công nhân thu gom rác thải với nhiệm vụ thu gom rác thải từ các hộ gia đình tới điểm tập kết chủ yếu lao động với rác và các thành phần của chúng Tại Việt Nam, thành phố Hà Nội là đô thị đặc biệt của cả nước với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng Tính bình quân người dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng, thực phẩm cao gấp 2-3 lần người dân nông thôn, kéo theo lượng rác thải đô thị cũng tăng gấp 2- 3 lần Lượng rác thải thu gom biến động theo thời điểm trong ngày, trong tuần và mùa Trong năm 2016, chất thải sinh hoạt phát sinh tại Hà Nội khoảng gần 7.000 tấn/ngày, trong đó rác từ hộ gia đình chiếm khoảng 60% [2] Do vậy, cần một
số lượng lớn những người lao động làm việc để thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy các lượng rác thải này
Môi trường làm việc
Công nhân chủ yếu làm việc trên đường phố, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ những điều kiện khí hậu khắc nghiệt như mưa, nắng, tiếp xúc với hơi khí độc, bụi bẩn kết hợp với chỗ nghỉ tạm bợ trên đường phố Mức độ đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo sự gia tăng lớn về khối lượng rác thải cần phải giải quyết Trong khi đó cơ
Trang 13sở hạ tầng thấp kém, thiếu đồng bộ, nhận thức giữ gìn vệ sinh đô thị của người dân còn hạn chế làm tăng đáng kể cường độ làm việc của công nhân thu gom rác đô thị, ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của họ
Thời gian làm việc
Y văn cho thấy hầu hết công nhân thu gom rác phải làm việc ca kíp, mỗi ca kéo dài 8 giờ, riêng ca cuối cùng cần làm cho đến khi hết rác Số ca trong ngày thay đổi tùy khối lượng rác cần xử lý Nghiên cứu của Dannine Consoli cho thấy thời gian làm việc của công nhân TGRT thành phố Buffalo, Hoa Kỳ chia thành 2 ca gồm
ca sáng từ 6h đến 14h; ca chiều từ 15h đến 23h đêm Khi khối lượng công việc lớn, công nhân TGRT phải tăng ca hoặc làm ngoài giờ hành chính [22] Tại công ty MTĐT Hà Nội, công nhân TGRT được chia làm 3 ca làm việc: ca 1 từ 4h sáng đến 12h trưa, ca 2 từ 12h trưa đến 20h tối và ca 3 làm việc từ 18h tối 2h sáng Do khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh nhiều vào lúc chiều tối nên có sự giao nhau giữa
ca 2 và ca 3 để tăng cường công nhân
Tư thế làm việc
Đây là công việc yêu cầu thể lực cao, động tác lặp đi lặp lại như nhấc túi rác
bỏ vào xe hoặc thông qua hệ thống ròng rọc Đôi khi họ phải nâng nhấc vật nặng hoặc có kích thước lớn, như đồ nội thất hoặc các thiết bị nhà bếp lớn Bên cạnh đó, công nhân duy trì tư thế đứng trong phần lớn thời gian làm việc Tuy đây là tư thế khá linh hoạt cho phép người lao động vận động cơ xương khớp chi dưới khi làm việc nhưng đứng và di chuyển trong thời gian dài gây co cơ, giảm lưu thông máu, dồn máu xuống chân gây phù, sưng ở bàn chân, cẳng chân và mỏi cơ vào cuối ngày
[45] Ngoài ra, tư thế bất lợi còn xuất phát từ công cụ lao động không phù hợp với
nhân trắc của người lao động Các công ty thường trang bị cho công nhân những xe rác có thùng quá cao hoặc nặng khiến cho việc nâng, kéo và đẩy xe trở nên khó khăn [34]
Thao tác công việc chủ yếu bằng tay
Tại các nước phát triển, hầu như các quá trình làm sạch đường phố đã được
cơ giới hóa [35] Trong khi ở các nước đang phát triển, rác thải cần thu gom ít khi được lưu trữ trong thùng kín mà thường đổ trực tiếp trên mặt đường Với nguồn lực
Trang 14hạn chế, hầu hết các quá trình làm sạch trên địa bàn đô thị vẫn được thực hiện bằng lao động thủ công với chổi, xẻng, Vì thế, công nhân ở các quốc gia này tiếp xúc trực tiếp với rác nhiều hơn một cách đáng kể so với các đồng nghiệp của họ ở các nước phát triển, những nơi đã xử lý niêm phong rác bằng túi nhựa và thùng rác được đậy nắp kín [35] Với thao tác làm việc chủ yếu với đôi tay, công nhân VSMT phải đối mặt với nguy cơ gặp chấn thương ở vị trí bàn tay, ngón tay do tiếp xúc trực tiếp với rác thải chưa qua phân loại, xử lý
Trang bị bảo hộ cá nhân
Trên thế giới, có bốn loại phương tiện bảo hộ cá nhân cho công nhân TGRT
là quần áo bảo hộ huỳnh quang che phủ toàn bộ bề mặt cơ thể, ủng cao su che chân, găng tay để bảo hộ từ ngón tay đến cổ tay và khẩu trang để che miệng và mũi [16] Tại Việt Nam, qua quan sát thực tế, công nhân thường xuyên sử dụng ba loại phương tiên bảo hộ lao động là quần áo bảo hộ huỳnh quang, găng tay và khẩu trang; ủng cao su ít được sử dụng
Ở hầu hết các nước phát triển, số liệu về các vấn đề sức khỏe và TNLĐ liên quan nghề nghiệp đối với công nhân làm việc trong lĩnh vực này vẫn còn thiếu thì ở các nước đang phát triển hầu như chưa có Hầu hết các nghiên cứu bị giới hạn ở việc đánh giá phơi nhiễm, và thiếu thông tin về yếu tố gây nhiễu có liên quan [2]
Do môi trường làm việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất thải nên công nhân làm trong ngành vệ sinh MTĐT phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp như bụi bẩn, vi khuẩn, nấm mốc, các loại độc tố, hóa chất, các vật sắc nhọn, bên cạnh đó là nguy cơ TNLĐ gặp phải trong quá trình tham gia TGRT, hoặc những tình huống tai nạn ngoài ý muốn do các yếu tố bên ngoài tác động vào [15], [18], [41]
1.2 Thực trạng Tai nạn lao động chung và Tai nạn lao động ở công nhân thu
Trang 15rằng 270 triệu tai nạn lao động xảy ra mỗi năm và trong số đó đã có khoảng 2,3 triệu lao động tử vong [44] Theo đó, chi phí y tế cho các ca tai nạn lao động chiếm khoảng 2,6% đến 3,8% tại Châu Âu Tỷ lệ xuất hiện TNLĐ đứng đầu là Châu Phi, theo sau là Châu Á [23] Tại các nước Đông Nam Á, số người bị TNLĐ cũng rất lớn TNLĐ không chỉ gây tổn thất về tính mạng của người lao động mà nó còn gây
ra nhiều tổn thất khác như các thương tổn trên thân thể người lao động làm giảm sức lao động Các chi phí trực tiếp và gián tiếp để điều trị, ảnh hưởng tâm lý, số ngày phải nghỉ làm do tai nạn lao động cũng là một tổn thất rất lớn cho người lao động và cộng đồng
1.2.1.2 Tai nạn lao động ở công nhân thu gom rác thải qua một số nghiên cứu
trên thế giới
TNLĐ góp phần đáng kể vào gánh nặng bệnh tật và tử vong trên toàn thế giới, ở cả các nước phát triển và nước đang phát triển [50] Công nhân làm việc trong lĩnh vực thu gom, xử lý rác có nguy cơ nghề nghiệp đặc thù và tỷ lệ TNLĐ cao hơn công nhân làm việc ngành nghề khác [54]
Năm 2010, trong báo cáo của Liên hiệp lao động làm việc công Canada về công nhân làm nghề thu gom rác, TNLĐ tác động lên 35% số công nhân [23] Cũng trong năm này, một nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã đánh giá TGRT là một trong những nghề nguy hiểm nhất, có tỷ lệ tử vong là 30/100.000 công nhân TGRT tưởng chừng như không nguy hiểm đối với người lao động, nhưng những người làm trong ngành công nghiệp tại Canada nhận định, đây là một ngành có thể gây nhiều rủi ro về sức khỏe, khiến cho gần 35000 công nhân ngành này trên nhiều quốc gia bỏ việc bất cứ lúc nào do tình trạng sức khỏe không đảm bảo [23]
Tỷ lệ TNLĐ khác nhau giữa các nghiên cứu về TNLĐ ở công nhân môi trường đô thị tuy nhiên nhìn chung đều ở mức khá cao Iven và cộng sự (1998) báo cáo rằng 17% trong số 667 công nhân TGRT tại một thành phố của Đan Mạch đã từng bị một TNLĐ nghề nghiệp Theo Gutberlet và Baeder (2008), 38% công nhân làm vệ sinh môi trường tại Brazil có các chấn thương trong quá trình làm việc một cách khá thường xuyên Gonese và cộng sự (2006) điều tra được 41% công nhân có
Trang 16một TNLĐ hoặc nhiều hơn trong vòng 1 năm Từ 2001 đến 2002 tại Zimbabwe: trong tổng số 153 công nhân thu gom rác, 62 công nhân gặp TNLĐ trong đó có 1 trường hợp tử vong [26] Englehardr (2003) tính toán được tỷ lệ bị TNLĐ ở công nhân Florida là 80 TNLĐ trên 100 công nhân MTĐT mỗi năm Nghiên cứu đánh giá TNLĐ trên 876 công nhân TGRT đô thị thành phố Addis Ababa, Ethiopia năm
2014 thì tỷ lệ có TNLĐ trong vòng 12 tháng là 383 người chiếm 43,7% [18]
Trong thực tế, TGRT đã được xác định là một trong những công việc nguy hiểm nhất tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992-1997 Thu gom và xử lý rác thải chiếm hơn 1% tổng số tử vong nghề nghiệp trên toàn nước Mỹ những năm 1992-1997; từ năm 1992-1997, 111 công nhân TGRT đã tử vong khi đang làm việc [47] Các báo cáo từ năm 1980 đến 1992 của Viện sức khỏe nghề nghiệp cũng ghi nhận 450 công nhân trên 16 tuổi tử vong liên quan đến TGRT [43] Một nghiên cứu của Bourdouxhe (1993) báo cáo tỷ lệ TNLĐ cao ở công nhân TGRT: 74% công nhân làm việc tại công ty nhà nước và 57% tại công ty tư nhân Thực trạng tương tự được ghi nhận tại Brazilian, trong một nghiên cứu thì tỷ lệ TNLĐ là 70 TNLĐ trên 100 công nhân thu gom rác trong vòng 1 năm [48] Tại Hàn Quốc, công nhân trong ngành công nghiệp quản lý rác thải có tỷ lệ TNLĐ tăng từ 1,27 lên 1,37; Tỷ lệ tử vong tăng từ 2,57 lên 2,67 trong giai đoạn năm 2010-2011 [37]
Một số nhà nghiên cứu so sánh tỷ lệ TNLĐ trong ngành thu gom xử lý rác thải với các nhóm nghề nghiệp khác Một nghiên cứu tại Đan Mạch tiến hành từ năm 1989 đến 1992 cho thấy tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác là 99 trên 1000 công nhân, trong khi tỷ lệ này ở công nhân trong ngành công nghiệp nói chung là 17 trên 1000 người [17] Như vậy, tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác tại Đan Mạch cao hơn 5,6 lần công nhân làm việc tại Đan Mạch nói chung Verbeek (1991) thấy rằng tỷ lệ mắc khuyết tật do công việc ở công nhân TGRT tại thủ đô của Hà Lan cao hơn bốn lần so với tỷ lệ này ở công nhân cùng công ty môi trường đó nhưng chỉ làm việc tại văn phòng [55] Một nghiên cứu tương tự được thực hiện bởi Yang (2001) cho người thu gom rác tại Đài Loan [20] Nguy cơ chấn thương ở lưng và khuỷnh tay/bàn tay của các công nhân thu gom rác cao hơn 2 lần so với các đồng nghiệp của họ chỉ làm việc ở văn phòng Một nghiên cứu cũ hơn của Cmino (1975)
Trang 17so sánh tần suất TNLĐ và sự nghiêm trọng của TNLĐ (số ngày nghỉ việc do gặp TNLĐ) ở công nhân MTĐT thành phố New York so với công nhân các ngành công nghiệp khác: công nhân MTĐT có tần suất TNLĐ cao hơn 5 lần so với công nhân ngành nghề khác, mặc dù tính chất nghiêm trọng của tai nạn thì thấp hơn (1205 ngày nghỉ so với 4846 ngày nghỉ) [33]
Theo nghiên cứu của Ivens và cộng sự (1998), vị trí thương tổn thường gặp ở công nhân thu gom rác là lưng (15%), đầu gối (12%), và tay (12%) [53] Thông thường, chấn thương xảy ra khi người công nhân va chạm với phương tiện giao thông khi làm việc trên đường phố hay bị ngã do mặt đường trơn trượt Chấn thương cũng gắn liền với cường độ làm việc cao và mang, vận chuyển các loại thùng rác khác nhau [53] Ở một nghiên cứu khác, trong tổng số 482 công nhân TGRT tại thành phố Bahir Dar được điều tra, chấn thương thường gặp nhất là tay (22,7%), sau đó là chân (21,8%) và các bộ phận khác: vai và cổ, lưng, mắt, mũi [25] Tương tự, về vị trí thường gặp khi xảy ra TNLĐ, nghiên cứu thực hiện trên công nhân thu gom rác ở Australia báo cáo kết quả chấn thương gặp ở tay: 9 %, chân: 20%, lưng: 25%, vai/cổ: 21% Sự khác nhau giữa tỷ lệ chấn thương ở tay, chân, lưng có thể do dung tích khác nhau của các thùng chứa rác [44] Theo kết quả nghiên cứu các loại thương tổn ở công nhân thu gom rác thành phố Kentucky: Tình trạng căng cơ và bong gân là loại chấn thương phổ biến nhất ở công nhân TGRT ở
cả công ty nhà nước và tư nhân, mặc dù công nhân làm việc khu vực công có tỷ lệ
bị tình trạng căng cơ cao hơn công nhân công ty tư nhân (64% so với 48%) Bị gãy xương phổ biến hơn ở khu vực tư nhân (12%) so với khu vực công (8%) Công nhân làm việc cho tư nhân cũng có tỷ lệ cao hơn các chấn thương thể chất, chật khớp và thoát vị đệm hơn công nhân làm việc khu vực công [19] Hậu quả của TNLĐ bao gồm các tử vong, các chấn thương dẫn đến mất số ngày làm việc Cũng trong nghiên cứu của Zemichael tại thành phố Bahir Dar, trong 308 công nhân có gặp chấn thương, 110 người (35,7%) công nhân phải nghỉ làm từ 1-3 ngày, 25% công nhân phải nghỉ làm hơn 3 ngày [25] Trong điều tra trên 325 công nhân nam Hàn Quốc gặp TNLĐ khi đang TGRT trong giai đoạn 2010 – 2011: 2,5% công
Trang 18nhân đã tử vong; 86,4% bị chấn thương nghỉ việc trên 4 ngày và 11,1% chấn thương nhẹ nghỉ việc dưới 4 ngày [36]
1.2.2 Khái quát chung về thực trạng TNLĐ tại Việt Nam
1.2.2.1 Thực trạng TNLĐ nói chung
Tại Việt Nam, tình hình TNLĐ trong những năm gần đây diễn biến phức tạp
có chiều hướng gia tăng Trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2014, số vụ tai nạn lao động xảy ra trong cả nước được thống kê báo cáo là hơn 37 nghìn vụ, số vụ có người chết là hơn 3200 vụ, chiếm 11,5% tổng số vụ tai nạn Đồng thời, số vụ tai nạn lao động tăng bình quân từ trên 10% mỗi năm [46] Một số nguồn số liệu tai nạn lao động của Việt Nam hiện nay tổng hợp từ báo cáo một số ngành như: Bộ Lao động
và thương binh xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Cục Y tế dự phòng, Trung tâm y tế, từ điều tra cộng đồng, từ báo cáo của các Doanh nghiệp sử dụng người lao động Tuy nhiên số liệu báo cáo thường không đầy đủ và bỏ sót các trường hợp TNLĐ có thể do liên quan đến cơ chế bồi thường hay thỏa thuận giữa người lao động và người chủ sử dụng Ước tính của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) cho thấy, một vụ tai nạn lao động chết người được điều tra đầy đủ có thể phòng ngừa 600 vụ tai nạn tương tự có thể xảy ra tiếp theo Nhưng thực tế, con số báo cáo về TNLĐ luôn chỉ là “phần nổi của tảng băng chìm” nên tác dụng phòng ngừa rất hạn chế Do đó, tăng cường và thu thập, sử dụng dữ liệu TNLĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc xây dựng môi trường an toàn và sức khỏe cho người lao động [57]
1.2.2.2 TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải
Các nghiên cứu về thực trạng sức khỏe công nhân TGRT trên cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng hiện nay vẫn còn bị bỏ ngỏ Đặc biệt, dữ liệu về thực trạng tai nạn lao động trên đối tượng công nhân TGRT hầu như chưa có Có một vài nghiên cứu trên đối tượng công nhân thu gom rác đô thị như nghiên cứu của Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội năm 1994 trong đề tài “Nghiên cứu điều kiện lao động của nữ công nhân thu gom rác đô thị, khuyến nghị và giải pháp” Khi nói tới vị trí, tư thế lao động và đi lại trong ca làm việc, công nhân thu gom rác đô thị chủ yếu làm việc ở các ngõ, phố Tư thế lao động vừa đi vừa làm, xoay người
Trang 19sang phải, sang trái để thu gom rác; cúi khom hoặc ngửa người phía sau hoặc vặn người sang phải sang trái để xúc đất, rác lên ô tô, thùng xe [12] Công nhân làm việc sau nhiều giờ ngoài trời dẫn đến mệt mỏi, ảnh hưởng đến các thao tác làm việc,
là nguyên nhân gây TNLĐ [11] Bên cạnh đó các vấn đề về tai nạn giao thông (TNGT) cũng là nguy cơ lớn đối với họ, đã có các các bằng chứng về TNGT của các công nhân vận hành xe chở rác và công nhân thu gom rác; chấn thương do các vật sắc nhọn, bị va đập với các vật cứng, máy móc, và ngã [11] Theo kết quả điều tra 345 công nhân của Nguyễn Thị Bích Hạnh trong nghiên cứu “Cải thiện điều kiện lao động của công nhân làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tại công ty MTĐT Hà Nội” (năm 2016), có 63% công nhân trả lời phỏng vấn đã từng bị thương trong quá trình làm việc [7] Tuy nhiên, cấu phần của nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc ghi nhận số ca bị thương tích ở công nhân mà chưa mô tả chi tiết các thông tin liên quan về nguyên nhân, hoàn cảnh, hậu quả…của tai nạn lao động cũng như các yếu
tố liên quan Vì vậy, cần có các nghiên cứu tiếp theo để mang đến bức tranh mô tả thực trạng tai nạn lao động và cung cấp thông tin làm bằng chứng cho các biện pháp can thiệp nhằm hạn chế tình trạng tai nạn lao động ở công nhân trực tiếp làm công việc TGRT
1.3 Yếu tố nguy hiểm gây TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải
Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng TNLĐ có thể xảy ra bởi sự tương tác, kết hợp giữa các yếu tố, đó là sự kết hợp giữa các đặc điểm của điều kiện lao động và đặc điểm cá nhân người lao động [49]
1.3.1 Yếu tố liên quan đến điều kiện lao động
Nghề công nhân môi trường được biết đến như là một nghề tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ TNLĐ khác nhau do điều kiện làm việc như: tai nạn giao thông, bị kẹt trong các máy nén rác, bị đâm/chọc bởi các chất thải sắc nhọn; bị trượt hay ngã [31], [38], [58] Ngoài ra, tư thế làm việc đòi hỏi người công nhân liên tục cúi xuống để nâng và vận chuyển khối lượng rác thải lớn, do đó tăng nguy cơ bị các chấn thương gây ra đau cơ xương khớp
Trang 201.3.1.1 Thời gian làm việc
Một vài nghiên cứu ở công nhân thu gom rác đô thị chỉ ra rằng tỷ lệ TNLĐ khác nhau giữa các thời điểm làm việc Tại Đan Mạch, tỷ lệ TNLĐ tăng cao điểm vào tháng 5 và tháng 9 [53], và nhiều TNLĐ xảy ra hơn vào thứ 2 và thứ 5 Một xu hướng tương tự, tai nạn xảy ra nhiều hơn vào thứ 2 được tìm thấy trong nghiên cứu của Aarhus (1992) Nghiên cứu tại Brazin cũng cho thấy các TNLĐ hầu hết liên quan đến ngày thứ hai và thứ 3 của tuần làm việc [48]
Thời gian làm việc ca kíp, bên cạnh các yếu tố nguy cơ bệnh tật, người lao động với đặc thù làm việc ca đêm có nhiều yếu tố nguy cơ, trong đó có nguy cơ bị
kẻ lạ vô cớ tấn công khiến các công nhân làm ca đêm hoang mang, lo lắng Không chỉ bị đánh gây thương tích, có nhiều trường hợp họ gặp phải đối tượng quấy rối tình dục, sàm sỡ hay đe dọa Bên cạnh đó các vấn đề về tai nạn giao thông buổi đêm cũng là nguy cơ lớn đối với họ Công nhân thường làm việc 6 ngày một tuần bất kể tình hình thời tiết và giao thông Họ được phân chia công việc TGRT theo khu vực,
có thể về nhà miễn là hoàn thành công việc tại nơi được phân công Mặc dù qui định này cho phép công nhân nghỉ ngơi sau khi hoàn thành công việc song có thể khiến một số công nhân cố gắng làm việc với cường độ cao để hoàn thành công việc sớm Việc bỏ qua việc sử dụng các thiết bị bảo hộ khi làm việc với cường độ nhanh
có thể là nguy cơ dẫn đến TNLĐ [55] Tại Brazin, nghiên cứu của Camadaa (2012) ghi nhận rằng mặc dù không phải là yêu cầu nhưng công nhân thường từ bỏ thời gian một giờ nghỉ ngơi ăn trưa để không làm trì hoãn tiến độ công việc [21] Lúc này, mệt mỏi và khả năng kiểm soát kém có thể ảnh hưởng đến an toàn lao động
1.3.1.2 Phương tiện lao động
Một trong những yếu tố có khả năng cao gây TNLĐ cho công nhân thu gom rác trong quá trình lao động là xe TGRT Trung bình, một nhóm công nhân dành từ
4 đến 5 giờ một ngày để chất rác đã thu gom lên các xe tải Hệ thống giám sát tử vong và chấn thương nghề nghiệp Hoa Kỳ (NTOF) báo cáo từ năm 1980 đến 1992,
303 công nhân từ 16 tuổi trở lên đã tử vong trong tai nạn liên quan đến xe chở rác
110 công nhân trong số này tử vong do trượt chân/ngã từ chiếc xe thu gom rác, hoặc
do bị đâm bởi chính chiếc xe [42]
Trang 21Nhiều báo cáo trường hợp công nhân môi trường đã tử vong trong khi làm nhiệm vụ tại NewYork Vào tháng Giêng năm 2010, một công nhân đã chết vì bị gắn giữa móc máy kéo với xe tải chở rác của mình Trong khoảng giữa năm 2003 và
2005, một công nhân đã ngã xuống phía sau xe tải và bị bánh xe tải đè lên người Hai công nhân khác, tại 2 thời điểm khác nhau, ngã xuống từ chiếc xe tải rác đang
di chuyển và tử vong Một công nhân vệ sinh ngã bên dưới bánh sau của xe tải, và
bị chiếc xe tải cán qua người [51] Một vài số liệu nữa liên quan đến TNLĐ xảy ra trong quá trình vận chuyển rác thải, ghi nhận tại Bang New Jersey, Mỹ, từ năm
1992 đến 2002, có 43 trường hợp công nhân thu gom rác tử vong liên quan đến các
xe chứa rác Theo thống kê, 20 trường hợp trong số đó tử vong do bị vật nặng đè nén (như bánh xe, thùng chứa rác) hoặc văng ra khỏi xe chở rác trong quá trình di chuyển, 9 trường hợp do tai nạn giao thông liên quan đến xe chở rác, 8 người tử vong trong quá trình lái xe, 3 người bị kẹt giữa xe rác và thùng chứa rác khi đang thu gom [29]
Một cuộc điều tra nguyên nhân các vụ TNLĐ trong khi công nhân đang đổ rác vào xe chở rác tập trung được thực hiện bởi văn phòng Concord năm 2003 Thứ nhất, các thùng chứa rác có thể bị bật ra trong di chuyển nếu các thanh khóa thùng không vào chốt Thứ hai, các thùng rác có thể rơi nếu các dây cáp bị lỗi hoặc nếu móc bị long ra khỏi vị trí thùng rác khi nâng thùng rác lên Điều tra của cơ quan Quản lý An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp (OSHA) cho biết nhân viên của một công ty xử lý chất thải đã bị trọng thương khi làm việc ở phía sau của xe chở rác (Các nhân viên đổ rác từ các thùng ở phía sau xe) Khi các thanh khóa gặp vấn đề trục trặc, thùng chứa rác rơi xuống và đè vào các công nhân gây chấn thương/tử vong do bị mắc kẹt giữa thùng chứa rác và xe tải [52] Bên cạnh đó, nghề thu gom rác yêu cầu thể lực tốt để thường xuyên nâng, kéo, đẩy các thùng rác và người công nhân phải nâng, đẩy rác trong tư thế bất tiện do các thùng rác thường nặng hơn dung tích qui định Chính điều này là nguy cơ dẫn đến các TNLĐ lao động [44] Hầu hết chấn thương với chân xảy ra trong tình huống nâng và đổ thùng rác vào xe tải chở rác [32]
Trang 221.3.1.3 Thao ta ́ c lao động thủ công
Nâng nhấc vật bằng tay là bao gồm tất cả các hoạt động đòi hỏi con người phải dùng lực tay để nâng, hạ, kéo, mang, vác, di chuyển, nắm giữ một vật bất kỳ Tai nạn chủ yếu là chấn thương vùng lưng do mang vác vật nặng hoặc bị vật đè, kẹp vào chân tay [14]
Bên cạnh đó, quy trình lao động sử dụng bàn tay tiếp xúc trực tiếp với rác thải sắc nhọn tăng nguy cơ tai nạn lao động cho công nhân Rác thải sắc nhọn gây ra nhiều chấn thương đặc biệt đối với bàn tay và ngón tay Trong đó kim tiêm và chấn thương do kim tiêm đâm gây nguy hiểm đặc hiểm cho công nhân TGRT Nguyên nhân là người dùng đã không vứt bỏ kim tiêm một cách thích hợp và đầu nhọn của kim tiêm có thể xuất hiện lẫn trong rác thải sinh hoạt Nghiên cứu của tác giả Janice Tibbetts về những tai nạn thường gặp phải khi TGRT của công nhân vệ sinh môi trường báo cáo rằng đã có nhiều công nhân bị bơm kim tiêm chọc vào tay có nguy
cơ cao bị lây nhiễm HIV, phải điều trị bằng thuốc Azidothymidine (AZT) để giảm nguy cơ lây nhiễm Cũng trong nghiên cứu này đã mô tả trường hợp một công nhân
bị đâm thủng tay do chạm phải một ly rượu vang vỡ trong túi rác vứt bên lề đường Anh bị tổn thương tĩnh mạch tay và phải khâu sáu mũi, nghỉ việc trong 2 tuần để phục hồi sức khỏe [51] Một nghiên cứu khác trên 482 công nhân TGRT tại thành phố Bahir Dar, 308 người chiếm 63,9% trả lời có bị chấn thương liên quan đến công việc trong vòng 12 tháng Nguyên nhân phổ biến nhất là tiếp xúc với rác thải sắc nhọn (23,7%); kéo/đẩy/di chuyển thùng rác nặng (12%), ngã/trượt (3,5%) [25] Viện Sức khỏe và an toàn Hoàng gia Anh đã khuyến nghị một loạt các biện pháp kiểm soát rủi ro cho công nhân môi trường bao gồm sử dụng găng tay phù hợp, mặc quần áo chống đâm thủng, mang thiết bị cấp cứu đầy đủ để đảm bảo các vết thương được làm sạch kịp thời [28]
1.3.1.4 Lao động ngoài trời
Công nhân MTĐT ngoài TGRT gia đình thì còn TGRT trên đường phố Do điều kiện phải làm việc ngoài đường xá nên chỉ một sự lơ đễnh, thiếu quan sát của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông có thể sẽ gây tai nạn cho họ [58]
Trang 23Bên cạnh đó, làm việc ngoài trời khi nhiệt độ cao có thể gây ra các hiện tượng chấn thương là say nóng, mệt lả, co giật do rối loa ̣n cân bằng nhiệt
1.3.2 Yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân người lao động
1.3.2.1 Tuổi tác, thâm niên và kinh nghiệm làm việc
Theo như các nghiên cứu sức khỏe nghề nghiệp, người trẻ tuổi và ít kinh nghiệm làm việc có nguy cơ cao nhất với tai nạn nghề nghiệp [54] Họ không chỉ bị TNLĐ với tần suất cao hơn mà hậu quả cũng để lại nghiêm trọng hơn Những người nhiều kinh nghiệm làm việc thường có nhận thức tốt hơn về những nguy cơ xảy ra tai nạn trong môi trường làm việc của họ Trong nghiên cứu của Ivens và cộng sự trên 667 công nhân TGRT tại Đan Mạch (1998) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tuổi đời và tuổi nghề với nguy cơ TNLĐ [53] Ở một xu hướng ngược lại, nhiều nghiên cứu lại tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rằng nhóm tuổi cao có khả năng bị TNLĐ cao hơn nhóm tuổi trẻ [40]
1.3.2.2 Hành vi tuân thu ̉ ATVSLĐ và sử dụng thiết bị bảo hộ lao động
Thiết bị làm việc nguy hiểm cộng với thao tác làm việc chưa phù hợp của công nhân có thể dẫn đến TNLĐ Sử dụng thiết bị bảo hộ khi lao động giảm thiểu những tác động có hại cho sức khỏe của công nhân thu gom và xử lý rác thải [23] Trong nghiên cứu trên công nhân TGRT đô thị tp Addis, tỷ số chênh TNLĐ giữa những công nhân sử dụng thiết bị bảo hộ lao động khi thực hiện công việc và công nhân không sử dụng là 2,62 lần [18] Trong nghiên cứu của Gellin (1985), mặc dù bao tay bảo hộ được công ty phát cho tất cả công nhân TGRT, vẫn có nhiều người không sử dụng khi làm việc và dẫn đến tăng tỷ lệ rách da/ chảy máu khi tiếp xúc với
vâ ̣t sắc nho ̣n Nhiều nhà nghiên cứu đã khuyến nghị tăng tỷ lệ sử dụng các thiết bị bảo hộ trong công nhân MTĐT Rahkonen (1987) khuyến nghị công nhân MTĐT nên mặc trang phục được thiết kế chống thấm nước và chống bám bụi, đồng thời có màu sắc phản quang để phòng tránh TNLĐ
1.3.2.3 Tình trạng con nho ̉
Một nghiên cứu cắt ngang đánh giá thương tích nghề nghiệp của công nhân TGRT đô thị thành phố Addis Ababa, Ethiopia cho thấy qui mô của gia đình người công nhân là yếu tố liên quan tới thương tích Những công nhân có có 1-2 người
Trang 24con có nguy cơ TNLĐ bằng một nửa những công nhân có từ 4 người con trở lên [18] Giải thích tác giả đưa ra là những người có nhiều con hơn có thể bận rộn hơn nghĩ về con cái của họ dẫn đến sao lãng khi làm việc, tăng nguy cơ TNLĐ Một lý
do khác có thể là những người mà qui mô gia đình lớn không đủ khả năng mua thiết
bị bảo hộ cá nhân để dùng thường xuyên khi làm việc
1.3.2.4 Căng thẳng tâm lý
Căng thẳng tâm lý ở công nhân khiến cơ thể họ luôn ở trạng thái căng cơ bắp dẫn đến dễ mệt mỏi, thiếu tập trung chú ý và dễ xảy ra sai sót trong quá trình thao tác, làm việc Kim (2013) và cộng sự đã nghiên cứu mối quan hệ giữa căng thẳng trong công việc và các thương tích liên quan đến công việc Họ kết luận rằng căng thẳng công việc có thể là một lý do dẫn đến các TNLĐ [27] Một nghiên cứu trên
561 công nhân thu gom rác tại 4 thị trấn phía Bắc Ethiopia cũng cho thấy căng thẳng nghề nghiệp có mối liên quan với TNLĐ, những công nhân cho biết họ cảm thấy căng thẳng trong công việc có tỷ lệ TNLĐ cao hơn 1,94 lần so với công nhân nói rằng không bị căng thẳng do công việc [24]
1.4 Giới thiệu tóm tắt địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Công ty TNHH MTV MTĐT Hà Nội (URENCO) URENCO là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hà Nội, là doanh nghiệp chính chịu trách nhiệm quản lý môi trường, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị trên địa bàn Hà Nội, cung ứng các dịch vụ vệ sinh MTĐT và khu công nghiệp trên phạm vi toàn quốc Hiện tại, URENCO phụ trách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải ở 4 quận trung tâm của thành phố Hà Nội là Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa và Hai Bà Trưng với khối lượng rác thải sinh hoạt thu gom trung bình là 3.500 tấn/ngày Không chỉ phụ trách TGRT sinh hoạt phát sinh hàng ngày, URENCO còn là công ty hàng đầu về thu gom, xử lý các loại chất thải khác như chất thải xây dựng, chất thải Công nghiệp, chất thải Y tế nguy hại và phân bùn bể phốt Về cơ cấu cán bộ công ty thực hiện các nhiệm vụ về thu gom, vận chuyển chất thải tại mỗi chi nhánh có trên 500 công nhân
Nghiên cứu được thực hiện tại URENCO 3 Hai Bà Trưng với tổng số cán bộ
là 503 người Trong đó số lao động gián tiếp chiếm 3% Lao động trực tiếp chiếm
Trang 25phần lớn với các chức danh nghề nghiệp khác nhau gồm CN TGRT, công nhân thu dọn nhà VSCC và lái xe chở rác Công nhân TGRT làm việc theo 3 như sau: Ca 1:
từ 4h00’ – 12h00; Ca 2: từ 12h00’ – 20h00’; Ca 3: từ 18h00’ – đến khi hết rác Công nhân thu dọn nhà vệ sinh công cộng với công việc chính là quét dọn nhà vệ sinh công cộng làm giờ hành chính từ 7h30’ đến 17h30 Công nhân lái, vận hành các loại xe chuyên dùng chở phân, rác: công việc chính là vận chuyển rác thải sinh hoạt từ các điểm tập kết rác lên khu xử lý chất thải Nam Sơn – Sóc Sơn Thời gian làm việc chia làm 3 ca: Ca 1: từ 5h00’ – 13h00’; Ca 2: từ 13h00’ – 21h00’; Ca 3: từ 20h00’ – 4h00’sáng
Trang 261.5 Khung lý thuyết nghiên cứu
Áp dụng khung lý thuyết trong các nghiên cứu về TNLĐ và các yếu tố nguy
cơ trên thế giới, khung lý thuyết đề cập tới ba nhóm yếu tố liên quan tới TNLĐ là: Yếu tố cá nhân, yếu tố điều kiện làm việc và yếu tố dịch vụ y tế lao động
hộ lao động
Đào tạo phòng chống TNLĐ
Yếu tố điều kiện làm việc
Số giờ làm việc trung bình 1 ngày
Ca làm việc
Loại hình công việc
Khung lý thuyết về TNLĐ và các yếu tố liên quan ở công nhân môi trường đô thị Nguồn: tổng hợp từ các tài liệu tham khảo khác nhau [9], [11], [18]
Trang 27CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là công nhân thuộc chi nhánh số 3 (quận Hai Bà Trưng) của công ty MTĐT Hà Nội
Tiêu chuẩn lựa chọn là công nhân làm trực tiếp công việc TGRT tại doanh nghiệp ít nhất 1 năm trước thời điểm nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: Không thể tự trả lời các câu hỏi; hoặc trực tiếp sản xuất nhưng không phải công việc TGRT
2.2 Thời gian và địa điểm tiến hành nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2016 đến tháng 6/2017, trong đó thời gian thu thập số liệu từ tháng 1/3/2017 – 15/4/2017
Địa điểm nghiên cứu: Tại chi nhánh công ty MTĐT Hà Nội URENCO số 3 – (chi nhánh Quận Hai Bà Trưng)
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, định lượng kết hợp định tính
2.4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ công nhân TGRT công ty URENCO chi nhánh số 3 (chi nhánh Hai Bà Trưng) Tổng số đối tượng đã phỏng vấn được là 470 người, tuy nhiên sau khi làm sạch số liệu, 447 đối tượng có đầy đủ thông tin được lựa chọn đưa vào phân tích (đạt tỷ lệ 95,1%)
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính
Số liệu nghiên cứu định tính được thu thập để tìm hiểu một số yếu tố điều kiện lao động dẫn đến TNLĐ, nhận định của người lao động về nguy cơ bị TNLĐ, hoàn cảnh xảy ra các chấn thương và nguyên nhân TNLĐ hay gặp phải, cũng như một số biện pháp phòng tránh TNLĐ, giải thích thêm cho thông tin định lượng
Nghiên cứu định tính được tiến hành sau phỏng vấn định lượng để xác định những đối tượng bị TNLĐ trong vòng 1 năm trước thời điểm nghiên cứu Tổng cộng nghiên cứu đã chọn chủ đích và phỏng vấn 12 công nhân TGRT trong đó 6 công nhân đã từng bị ít nhất 1 TNLĐ trong 1 năm trước thời điểm nghiên cứu
Trang 282.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu định lượng
Bộ công cụ phỏng vấn định lượng: Bộ công cụ được xây dựng, tham khảo
các nghiên cứu trước và được thử nghiệm, chỉnh sửa trước khi thu thập chính thức
Bộ câu hỏi được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm các phần sau (xin xem chi tiết Phụ lục 4 trang 71):
Phương pháp tiếp cận đối tượng nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu liên hệ phòng Tổ chức lao động của công ty để xin danh sách công nhân TGRT làm việc tại chi nhánh và thông tin liên lạc của các tổ trưởng Qua lịch hẹn trước với các tổ trưởng, điều tra viên phỏng vấn công nhân TGRT trước hoặc sau ca làm việc của họ
Thu thập số liệu định tính
Bộ công cụ phỏng vấn định tính: Bao gồm 2 hướng dẫn phỏng vấn sâu dành
cho công nhân TGRT đã từng bị ít nhất 1 TNLĐ trong 1 năm trước thời điểm điều tra và đối tượng không bị TNLĐ (xin xem chi tiết Phụ lục 2 – trang 68, Phụ lục 3 –Trang 69)
Phương pháp tiếp cận đối tượng: Nghiên cứu viên liên hệ lại đối tượng
thông qua số điện thoại được cung cấp trên phiếu phỏng vấn định lượng, xin cuộc
Trang 29hẹn với người lao động để phỏng vấn sâu Kết quả đã có 12 cuộc phỏng vấn sâu với người lao động được thực hiện, mỗi cuộc phỏng vấn diễn ra trong khoảng 20 phút
2.6 Xử lý và phân tích số liệu
Số liệu định lượng:
Nhập số liệu bằng phần mềm Epidata sau đó chuyển sang phần mềm SPSS 20.0
Kiểm tra các giá trị bị bỏ sót (missing), các giá trị bất thường, lỗi logic và lỗi do
mã hóa
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0
Thống kê mô tả cho các biến sử dụng trong nghiên cứu để hiển thị tần số, tỷ
lệ phần trăm, phương sai và độ lệch chuẩn Phân tích đơn biến dùng kiểm định khi bình phương chi-square với bảng 2x2, tính OR với khoảng tin cậy 95% cho biến độc lập và biến phụ thuộc để tìm mối liên quan giữa các biến đặc điểm cá nhân người lao động, đặc điểm điều kiện làm việc, dịch vụ y tế lao động với sự xuất hiện của các TNLĐ
Sau khi phân tích đơn biến để xác định các yếu tố liên quan có ý nghĩa, nghiên cứu viên tiến hành phân tích hồi qui Logistic đa biến để kiểm soát yếu tố nhiễu và xác định độ mạnh của từng yếu tố Các biến trong mô hình đơn biến có mức ý nghĩa p < 0,2 được xem xét đưa vào mô hình đa biến vì các biến này có thể đóng góp vào mô hình hồi qui đa biến Các biến có ý nghĩa trong mô hình đa biến được kết luận là các yếu tố liên quan đến TNLĐ, với mức ý nghĩa trong mô hình đa biến là p < 0,05 (khoảng tin cậy 95%)
Số liệu định tính: Số liệu thu thập được từ phỏng vấn sâu được gỡ băng và phân tích theo các chủ đề phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
2.7 Biến số nghiên cứu
2.7.1 Nghiên cứu định lượng
Biến phụ thuộc: sự xuất hiện TNLĐ (có hay không gặp TNLĐ)
Trang 303 Các yếu tố dịch vụ y tế lao động: huấn luyện an toàn vệ sinh lao động, trang bị bảo hộ lao động
Bảng chi tiết biến số nghiên cứu xin xem Phụ lục 1 trang 64
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Các yếu tố của điều kiện làm việc liên quan đến TNLĐ
Phương tiện/ công cụ lao động
Trang thiết bị bảo hộ lao động
Nhận định của người lao động về mức độ nguy hiểm của nghề nghiệp
Những hoàn cảnh có nguy cơ cao có thể dẫn đến chấn thương
Những loại chấn thương phổ biến
Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích và nội dung nghiên cứu Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi nhận được sự chấp nhận tham gia của đối tượng nghiên cứu Đối tượng có quyền từ chối tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào Trong quá trình nghiên cứu không có sự có mặt của bất cứ cá nhân/tổ chức nào có thể gây áp lực tới việc tham gia nghiên cứu tự nguyện của đối tượng
2.9 Hạn chế, sai số và cách khắc phục
Hạn chế
Nghiên cứu chỉ tiến hành tại 1 chi nhánh của URENCO nên tính đại diện còn hạn chế, khó có thể suy rộng cho công nhân của các chi nhánh URENCO khác hoặc công ty khác
Việc đánh giá thực trạng TNLĐ chỉ thông qua phỏng vấn nên thông tin thu được có thể bị sai số
Trang 31Kết quả nghiên cứu chỉ đại diện cho công nhân TGRT, không đại diện cho các đối tượng vận chuyển, xử lý rác hoặc làm việc trong các nhà máy xử lý rác
Trang 32CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội của người lao động (n=447)
Không có con dưới 5 tuổi 248 55,5
Nhiều hơn 2 con dưới 5 tuổi 13 2,9
Trình độ học vấn chủ yếu của công nhân là trình độ PTTH (chiếm 66,7%), trình độ THCS chiếm 28,0% Chỉ 1 phần nhỏ (0,9%) công nhân đã từng học bậc cao đẳng, đa ̣i ho ̣c
Trang 33Về tình trạng hôn nhân, đa số đối tượng (89,7%) đã kết hôn và sống với vợ/chồng Có 37,4% đối tượng có 1-2 con dưới 5 tuổi, phần lớn đã có con lớn hoă ̣c chưa có gia đình
Thu nhập của công nhân phần lớn ở mức từ 3,7 đến 5 triệu đồng (chiếm 55,9%) Có 37,4% đối tượng trả lời có thu nhập trên 5 triệu đồng và một số ít (1,1%) có thu nhập dưới 2,5 triệu đồng
Bảng 2: Thông tin về bảo hiểm y tế/bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc của
Bảo hiểm xã hội
Trong tổng số đối tượng nghiên cứu: 68,8% công nhân trả lời có Bảo hiểm y
tế bắt buộc và 65,2% có Bảo hiểm xã hội (hình thức bảo hiểm được công ty chi trả)
Trang 34Hầu hết công nhân thu gom rác có chế độ làm việc 6 ngày/tuần (99,1%) và 8 giờ một ngày (85,7%) Có 64 công nhân (chiếm 14,3%) trả lời phải làm việc trên 8 giờ đồng hồ một ngày, trong đó cụ thể 5,8% công nhân làm việc 9 tiếng/ngày; 6,5% làm việc 10 tiếng/ngày và 2% trả lời phải làm việc lên tới 12 tiếng/ngày Khối lượng công việc và thiếu nhân lực là hai trong nhiều lý do làm thêm giờ được nhắc đến khi phỏng vấn
“Do tổ chị thiếu người, tổ trưởng cử lao động trẻ như chị làm thêm ca nối ca
nọ với ca kia, cũng có hôm phải làm 2 ca/ngày” - (PVS, Công nhân nữ, 28 tuổi)
“Tình hình là công việc vất vả nên bây giờ thiếu người, lúc chưa tuyển được người thay thì mình hay phải làm thêm để đáp ứng với khối lượng rác của ngày hôm đấy”- (PVS, Công nhân nam, 35 tuổi)
Bên cạnh đó, thời gian làm việc bị kéo dài thêm nếu xe cẩu rác đến muộn do giao thông hoặc số đầu xe, chuyến chạy ít Đặc biệt là công nhân làm ca đêm phải trút hết rác lên xe cẩu thì mới kết thúc công việc
“Có hôm phải đợi mấy tiếng đồng hồ xe cẩu rác chưa đến, mình chẳng có xe gom mà làm, đợi xe đến xong mình mới làm tiếp được, kéo theo mình đi làm mười mấy tiếng đồng hồ một ngày” - (PVS, Công nhân nam, 45 tuổi)
Về ca làm việc, công nhân hiện nay được chia làm 3 ca làm việc Số công nhân làm ca 3 chiếm tỷ lệ cao nhất (50,3%) Công ty bố trí công nhân làm theo ca
cố định mà ít xoay chuyển ca làm việc Về thâm niên làm việc trong nghề, số công nhân làm việc trong nghề trên 5 năm chiếm 89,1%
Bảng 3: Thông tin về sử dụng thiết bị bảo hộ lao động trong quá trình làm việc
(n=447) Thường
Có 397 88,9 422 94,4 421 94,2 438 98,0 440 98,4 435 97,3
Không 50 11,1 25 5,6 26 5,8 9 2,0 7 1,6 12 2,7
Trang 35Tỷ lệ công nhân trả lời có sử dụng thiết bị bảo hộ lao động nhìn chung ở mức
khá cao: trên 90% công nhân được hỏi trả lời có sử dụng giày, khẩu trang, găng tay,
quần áo bảo hộ và quần áo phản quang khi lao động Kết quả phỏng vấn sâu cho
thấy tuy đã được công ty trang bị bảo hộ lao động nhưng phần lớn công nhân vẫn
phải mua thêm đồ bảo hộ lao động do công ty cấp không đủ
“Bảo hộ nói chung được phát nhưng vẫn phải mua thêm, nhất là khẩu trang
và găng tay” – (PVS, Công nhân nam, 45 tuổi)
Các phương tiện bảo hộ được đánh giá là góp phần phòng tránh TNLĐ và
các yếu tố tác hại cho người lao động, tuy nhiên quần áo bảo hộ chưa phù hợp với
đặc thù công nhân làm việc ngoài trời, chịu ảnh hưởng trực tiếp các điều kiện thời
tiết
“Đông hay hè thì cũng chỉ có 1 loại quần áo, mùa hè chúng tôi mặc khi làm
việc rất khó chịu, mệt mỏi, không phù hợp, ảnh hưởng không nhỏ đến công việc” –
(PVS, Công nhân nữ, 38 tuổi)
3.2 Thực trạng TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải
3.2.1 Thực trạng TNLĐ chung ở công nhân TGRT
Biểu đồ 1: Thư ̣c tra ̣ng Tai nạn lao động trong 12 tháng trước thời điểm điều
tra (n=447)
83.9
12.9 2.2 1
Không bị Một lần TNLĐ Hai lần TNLĐ Ba lần TNLĐ
Trang 36Trong 72 đối tượng có bị TNLĐ, 58 người báo cáo bị TNLĐ 1 lần chiếm tỷ
lệ trong tổng lượt TNLĐ, 10 người báo cáo bị TNLĐ 2 lần và 4 người bị TNLĐ 3 lần Tổng cộng trong 1 năm trước nghiên cứu có 90 trường hợp TNLĐ được khai báo trên tổng 447 đối tượng phỏng vấn Như vậy, tỷ suất TNLĐ của công nhân trong nghiên cứu là 201/1000 người lao động
Bảng 4: Tỷ lê ̣ TNLĐ theo giới tính và độ tuổi ở công nhân thu gom rác thải
Bảng 5: Tỷ lê ̣ TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải theo nguyên nhân
Trang 37Khi bị TNLĐ, nguyên nhân gây chấn thương phổ biến nhất ở công nhân TGRT là vật sắc nhọn (33,3%), va chạm do tai nạn giao thông (17,8%), vật rơi/đè
và ngã lần lượt chiếm tỷ lệ 13,3% Một số nguyên nhân khác chiếm tỷ lệ ít hơn, như say nắng (11,1%), nâng nhấc vật nặng (9,0%) và bị hành hung khi đang làm việc (2,0%)
Biểu đồ 2: Tỷ lệ TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải theo loại công việc
đang làm khi xảy ra TNLĐ
Theo biểu đồ 2, hoàn cảnh xảy ra chấn thương nhiều nhất tính trên 90 lượt TNLĐ là khi công nhân thu gom rác tại hộ gia đình bằng xe gom, tiếp đến là khi công nhân trút rác từ xe gom lên xe cẩu rác và di chuyển đến điểm tập kết rác Cuối cùng, chấn thương cũng xảy ra khi công nhân đứng sau xe tải nhỏ để thu gom và thu
Thu gom rác bằng xe gom
Trút rác từ
xe gom lên
xe cẩu rác
Di chuyển đến điểm tập kết rác
Đứng sau xe tải nhỏ để thu gom
Thu gom rác bằng xe đạp
Tỷ lệ %
Trang 38Biểu đồ 3: Vị trí cơ thể bị chấn thương do TNLĐ ở công nhân thu gom rác thải
Vị trí tổn thương phổ biến nhất do TNLĐ được báo cáo là tay (36,0%), tiếp
đến là chân (24,0%), thân mình (18%), đầu - mặt – cổ (11%) Có 11,1% đối tượng
trả lời bị đa chấn thương
Biểu đồ 4: Tính chất thương tổn của TNLĐ
Trong các loại thương tổn trên 90 lượt TNLĐ được báo cáo: trầy xước, rách
da, chảy máu có tỷ lệ cao nhất (chiếm 70,0%), tiếp đến là bầm tím, sưng đau
(16,7%); bong gân, rạn xương, trật khớp (12,8%)
Trang 40Từ bảng kết quả có thể thấy, đa phần các trường hợp TNLĐ do vật sắc nhọn xảy ra khi thu gom rác (với 70% các trường hợp) Theo kết quả phỏng vấn đối với công nhân bị thương do vật sắc nhọn, thủy tinh vỡ và kim nhọn là nguyên nhân chủ yếu gây thương tích cho công nhân TGRT Trong 30 trường hợp tổn thương do VSN, 18 trường hợp xảy ra do rác thải sắc nhọn để lẫn với rác thường được bọc trong túi rác đen nên công nhân không nhìn thấy khi thu gom
“Lúc cầm túi rác lên, dồn túi rác xuống xe gom thì bất ngờ bị cái kim khâu trong túi chọc thẳng vào ngón cái, vào viện khâu mất 3 mũi” (PVS - Công nhân nữ,
Tai nạn giao thông cũng là loại TNLĐ thường xảy ra khi công nhân làm
công việc thu gom rác thải tại hộ gia đình Trong tổng số 447 đối tượng nghiên cứu,
ghi nhân 16 lượt bị tai nạn giao thông trong vòng 12 tháng trước thời điểm nghiên cứu Tai nạn giao thông thường xảy ra khi công nhân làm việc trên đường lớn và thường do người khác đâm/va phải Theo kết quả phỏng vấn sâu công nhân thì tai
nạn giao thông khi làm việc rất khó để họ phòng tránh
“Có những trường hợp người ta say rượu, đi ẩu, phóng nhanh đâm vào mình không tránh được”’; “Nó phụ thuộc vào người đi đường chứ không phải nguyên ý thức phòng tránh của mình – (PVS – Công nhân nam, 45 tuổi)
Công ty cũng đã phát cho công nhân phương tiện cảnh báo nguy hiểm như chóp phản quang tuy nhiên phương tiện này chỉ dùng được tại điểm tập kết rác khi công nhân tập trung trút rác lên xe cẩu
Đối với TNLĐ do vật rơi/vật đè, hoàn cảnh chấn thương thường gặp nhất là khi công nhân trút rác từ xe gom lên cẩu Công cụ lao động chưa được thiết kế phù hợp và sự phối hợp công việc chưa tốt giữa lái xe cẩu rác và công nhân TGRT là
các lý do chính được người lao động nhắc đến