1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông chương mỹ a, huyện chương mỹ, thành phố hà nội

135 531 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các yếu tố chính được xác định liên quan đến bị bạo lực bao gồm: Giới tính, khối lớp, từng bị người nhà gây thương tích, học sinh biết về việc bị nhà trường kỷ luật do hành vi bạo lực họ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐỖ THỊ ĐIỆP

THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG MỸ A, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

ĐỖ THỊ ĐIỆP

THỰC TRẠNG BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG MỸ A, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

PGS.TS PHẠM VIỆT CƯỜNG

HÀ NỘI, 2016

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hoàn thành luận văn thuộc chương trình đào tạo Thạc sỹ Y

tế công cộng, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, bạn bè và gia đình

Để đạt được kết quả hôm nay, trước hết tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Việt Cường đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Chương Mỹ A đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu cho chủ đề luận văn của mình

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn thư viện trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập các tài liệu liên quan tới bài tập

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy giáo, cô giáo và các phòng ban trường Đại học Y tế công cộng đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho quá trình học tập và nghiên cứu

Sau cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình những người bạn thân thiết nhất của tôi đã cùng chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 01 tháng 5 năm 2017

Đỗ Thị Điệp

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

BLHĐ Bạo lực học đường

CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ

ĐTNC Đối tượng nghiên cứu

ĐHYTCC Đại học Y tế công cộng

ĐTV Điều tra viên

GD – ĐT Giáo dục – Đào tạo

NCV Nghiên cứu viên

THPT Trung học phổ thông

THCS Trung học cơ sở

WHO Tổ chức Y tế thế giới

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

MỤC TIÊU 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Định nghĩa bạo lực 5

1.2 Phân loại bạo lực 5

1.3 Bạo lực học đường và phân loại bạo lực học đường 8

1.3.1 Khái niệm bạo lực học đường 8

1.3.2 Phân loại bạo lực học đường 8

1.4 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam 9

1.4.1 Bạo lực học đường trên thế giới 9

1.4.2 Bạo lực học đường tại Việt Nam 10

1.5 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường 12

1.5.1 Yếu tố cá nhân học sinh 12

1.5.2 Yếu tố gia đình 14

1.5.3 Yếu tố trường học/thầy cô 15

1.5.4 Yếu tố bạn bè 16

1.5.5 Yếu tố môi trường xã hội 16

1.6 Quy định về xử lý bạo lực học đường tại Việt Nam…… 17

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 21

1.8 Khung lý thuyết 23

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu: 25

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa 25

2.1.2 Đối tượng loại trừ 25

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.3 Thiết kế nghiên cứu 25

Trang 6

2.4 Cỡ mẫu 25

2.4.1 Cỡ mẫu định lượng 25

2.4.2 Cỡ mẫu định tính 26

2.5 Phương pháp chọn mẫu 26

2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng 26

2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính: 27

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 28

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính 29

2.7 Công cụ và biến số nghiên cứu 29

2.7.1 Công cụ nghiên cứu 29

2.7.2 Biến số nghiên cứu 29

2.7.3 Các chủ đề nghiên cứu định tính 32

2.8 Thước đo 33

2.9 Phân tích số liệu: 34

2.9.1 Số liệu nghiên cứu định lượng 34

2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 35

2.11 Sai số và các biện pháp khắc phục 35

2.11.1 Sai số và hạn chế của nghiên cứu 35

2.11.2 Biện pháp khắc phục 36

CHƯƠNG 3 – KẾT QUẢ 37

3.1 Mô tả một số thông tin của đối tượng nghiên cứu 37

3.2.Thực trạng bạo lực và bị bạo lực của của đối tượng nghiên cứu 43

3.2.1 Thực trạng bạo lực học đường 43

3.2.2 Thực trạng bị bạo lực học đường 52

3.3.Một số yếu tố liên quan đến vấn đề bạo lực học đường 60

3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực 63

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng bị bạo lực 63

CHƯƠNG 4 – BÀN LUẬN 66

4.1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 66

Trang 7

4.2 Thực trạng bạo lực/bị bạo lực học đường 66

4.2.1 Thực trạng bạo lực học đường 66

4.2.2 Thực trạng bị bạo lực học đường 69

4.3 Các yếu tố liên quan đến bạo lực học đường 70

4.4 Các yếu tố liên quan đến bị bạo lực học đường 75

CHƯƠNG 5 - KẾT LUẬN 79

5.1 Thực trạng bạo lực và bị bạo lực học đường 79

5.2 Một số yếu tố liên quan 79

5.2.1 Các yếu tố liên quan tới hành vi bạo lực học đường 79

5.2.2 Các yếu tố liên quan tới tình trạng bị bạo lực học đường 80

CHƯƠNG 6 - KHUYẾN NGHỊ 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHỤ LỤC 91

Phụ lục 1: Phiếu tình nguyện tham gia nghiên cứu 91

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi khảo sát 92

Phụ lục 3: Mẫu phiếu phỏng vấn sâu học sinh 108

Phụ lục 4: Nội dung phỏng vấn sâu Bí thư Đoàn Thanh niên 109

Phụ lục 5: Nội dung phỏng vấn sâu Giáo viên chủ nhiệm 109115

Phụ lục 6: Biến số nghiên cứu định lượng 109116

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Số lượng học sinh của Trường THPT Chương Mỹ A năm học 2015-2016 21

Bảng 3.1: Mô tả thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2: Thông tin chung về phụ huynh học sinh 38

Bảng 3.3: Mô tả đặc điểm về gia đình của đối tượng nghiên cứu 39

Bảng 3.4: Mô tả đặc điểm liên quan đến bạn bè của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.5: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 44 Bảng 3.6: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm của gia đ ình 45

Bảng 3.7: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm về bạn bè 46

Bảng 3.8: Hành vi bạo lực học đường theo một số đặc điểm về nhà trường 47

Bảng 3.9: Hành vi bạo lực theo một số đặc điểm về môi tr ường xã hội 48

Bảng 3.10: Hành vi bạo lực theo một số hành vi nguy cơ 49

Bảng 3.11: Hành vi bạo lực theo một số vấn đề khác của đối tượng nghiên cứu 50

Bảng 3.12: Lý do thực hiện hành vi bạo lực học đường và người thực hiện

hành vi bạo lực 51

Bảng 3.13: Bị bạo lực theo một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 52

Bảng 3.14: Bị bạo lực học đường theo một số đặc điểm của gia đình 53

Bảng 3.15: Bị bạo lực học đường theo một số đặc điểm về bạn bè 54

Bảng 3.16: Bị bạo lực học đường theo một số đặc điểm về nhà trường 55

Bảng 3.18: Bị bạo lực học đường theo một số hành vi nguy cơ 56

Bảng 3.19: Bị bạo lực học đường theo một số vấn đề khác của đối tượng 57

Bảng 3.20: Phân bố đặc điểm của người thực hiện hành vi bạo lực 59

Bảng 3.21: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến hành vi

bạo lực thể chất 60

Bảng 3.22: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến hành vi

bạo lực lời nói 60

Bảng 3.23: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến hành vi

bạo lực xã hội 61

Bảng 3.24: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến hành vi

bạo lực điện tử 612

Bảng 3.25: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến

bị bạo lực thể chất 633

Bảng 3.26: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến

bị bạo lực lời nói 64

Bảng 3.27: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến

bị bạo lực xã hội 634

Bảng 3.28: Mô hình hồi quy logistic về các yếu tố liên quan đến

bị bạo lực điện tử 634

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Phân bố nghề nghiệp của phụ huynh học sinh ………44

Biểu đồ 3.2: Phân bố mối quan hệ của đối tượng nghiên cứu với nhà trường… 47

Biểu đố 3.3: Phân bố thực trạng hành vi bạo lực của học sinh………48

Biều đồ 3.4: Phân bố tỷ lệ người hỗ trợ thực hành vi bạo lực……… 57

Biểu đố 3.5: Thực trạng bị bạo lực học đường của học sinh………58

Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ người học sinh chia sẻ khi bị bạo lực……….66 Biểu đồ: 3.7: Phản ứng của học sinh khi chứng kiến hành vi bạo lực học đường…67

Trang 10

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Bạo lực học đường hiện nay thực sự đang trở thành mối lo lắng và quan tâm lớn của toàn xã hội bởi hậu quả và tính chất ngày càng nghiêm trọng Nghiên cứu cắt ngang mô tả kết hợp định lượng và định tính được thực hiện trên 406 học sinh nhằm tìm hiểu thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường trung học phổ thông Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội năm 2016

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong vòng 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu, 41,9% số học sinh đã từng có hành vi bạo lực học đường, trong đó bạo lực về lời nói chiếm tỷ lệ cao nhất (35,5%), tiếp theo là bạo lực xã hội (26,8%), bạo lực thể chất (14%) và thấp nhất là bạo lực điện tử (12,6%) Các yếu tố chính được xác định liên quan đến hành vi bạo lực bao gồm: Giới tính, khối lớp, từng bị người nhà gây thương tích, có bạn thân từng có hành vi bạo lực học đường và từng nghĩ đến tử tự

Về bị bạo lực học đường, tỷ lệ học sinh từng bị ít nhất một hành vi bạo lực trong vòng 6 tháng qua là 32%, trong đó bị bạo lực lời nói chiếm tỷ lệ cao nhất với 25,4%, tiếp đến là bị bạo lực xã hội (16%), bị bạo lực thể chất (12,3%) và thấp nhất

là bị bạo lực điện tử (10,1%) Các yếu tố chính được xác định liên quan đến bị bạo lực bao gồm: Giới tính, khối lớp, từng bị người nhà gây thương tích, học sinh biết

về việc bị nhà trường kỷ luật do hành vi bạo lực học đường, từng hút thuốc lá, từng mang hung khí trong người trong năm học qua và từng chứng kiến các vụ bạo lực xảy ra tại nơi sinh sống

Từ kết quả nghiên cứu, nhà trường nên tăng cường tuyên truyền về phòng chống bạo lực học đường qua các buổi sinh hoạt tập thể hoặc hoạt động ngoại khóa; tăng cường gắn kết giữa giáo viên và học sinh để giúp giáo viên hiểu được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em, kịp thời điều chỉnh những nhận thức chưa đúng đắn và những hành vi chưa phù hợp với những chuẩn mực; đối với gia đình tạo môi trường sống lành mạnh, không để xảy ra tình trạng bạo lực trong gia đình, luôn giám sát chặt chẽ con cái để ngăn ngừa và phát hiện sớm các hành vi nguy cơ của bạo lực học đường

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bạo lực trong giới trẻ đang là một vấn đề y tế công cộng trên toàn cầu Theo Thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm ước tính có 200.000 người trẻ tuổi từ 10-29 bị sát hại, tử vong do các hành vi bạo lực là một trong bốn nguyên nhân tử vong hàng đầu trong nhóm tuổi này Có tới hàng triệu người khác phải chịu thương tích liên quan đến bạo lực cần điều trị y tế và vô số những trường hợp khác bị các vấn đề sức khỏe tâm thần và có hành vi nguy cơ cao như hút thuốc lá, lạm dụng rượu và ma túy do hành vi bạo lực mà họ đã từng trải qua Đặc biệt, theo báo cáo của Cơ quan phòng, chống tội phạm của Liên Hợp quốc (UNODC), mỗi năm trên thế giới có khoảng 6 triệu em trai và 4 triệu em gái có liên quan trực tiếp đến bạo lực học đường [4]

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, bạo lực học đường đã trở thành mối quan tâm của nhiều gia đình, nhà trường và là nỗi trăn trở của toàn xã hội Hiện tượng học sinh đánh nhau ngày càng trở lên phổ biến, không chỉ diễn ra ở một vài nơi mà rộng khắp trên cả nước; không chỉ diễn ra ở thành thị mà còn ở cả nông thôn, không chỉ giữa nam sinh với nhau mà còn giữa nữ sinh với nữ sinh; không chỉ giữa học sinh này với học sinh kia mà còn cả nhóm học sinh với học sinh [17] Thống kê của Bộ Giáo dục và Đạo tạo trên toàn quốc cũng cho thấy, trong 5 năm từ 2010-2014 đã có tới 7.735 học sinh, sinh viên tham gia đánh nhau, bị xử lý kỷ luật Những vụ bạo lực học đường thường gây ra những hậu quả về mặt thể xác, đó là những vết bầm tím, trầy xước, tổn thương vùng ngoài da, gãy xương, thậm chí không ít vụ bạo lực đã cướp đi sinh mạng của các em [10] Đặc biệt theo thống kê của Cục Quản lý môi trường y tế tại 63 tỉnh/thành phố, riêng trong năm 2014 có tới

88 trường hợp ở học đường (trẻ dưới 19 tuổi) tử vong liên quan vấn đề bạo lực [2]

Bạo lực học đường ngày càng diễn ra dưới nhiều hình thức như: chửi thề, nói xấu, chia rẽ bè phía, miệt thị; Nhắn tin hoặc gửi thư uy hiếp, bắt nạt, trấn lột đồ đạc hoặc tiền bạc; Uy hiếp bằng hình ảnh, thông tin mang tính chất bạo lực, đồi trụy trên mạng internet; Dùng vũ lực như tát, đá, đấm, đánh, giật tóc, lột quần áo; Quay video clip các hành vi bạo lực và đưa lên mạng internet…và các phương tiện sử

Trang 12

dụng cũng đa dạng hơn như: dao, mã tấu, giày dép, sách vở, bút, kiếm, ống sắt, dao lam, thư truyền tay, mạng internet, điện thoại di động… [1] Những đối tượng có hành vi bạo lực bao gồm cả lứa tuổi tiểu học cho tới trung học và thậm chí ở những bậc học cao hơn Tuy nhiên, vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở nhóm học sinh THPT Đây là lứa tuổi mà cơ thể các em đang có nhiều biến đổi về mặt tâm sinh lý, suy nghĩ nông nổi, cho rằng mình đã là người lớn, muốn tự bản thân giải quyết các mâu thuẫn, đặc biệt dễ bị bạn bè rủ rê, lôi kéo, kích động, thích thể hiện “bản lĩnh” bằng vũ lực Đó chính là những yếu tố thúc đẩy các em dễ có những hành vi thiếu kiểm soát bản thân, dẫn tới bạo lực [1]

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về bạo lực và các hành vi nguy cơ liên quan đến bạo lực học đường không nhiều, đặc biệt là trên đối tượng học sinh THPT vùng nông thôn Đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bạo lực học đường và các yếu tố liên quan

sẽ là cơ sở đề xuất cho nhà trường các biện pháp phòng chống bạo lực ở học sinh một cách phù hợp nhất

Qua phỏng vấn nhanh Ban giám hiệu Trường THPT Chương Mỹ A, giáo viên chủ nhiệm và một số học sinh cho thấy bạo lực học đường trên địa bàn huyện Chương Mỹ nói chung và tại Trường THPT Chương Mỹ A nói riêng có xu hướng gia tăng cả về số lượng, loại hình và mức độ nghiêm trọng Chỉ riêng trong kỳ I, năm học 2015-2016, tại Trường THPT Chương Mỹ A đã có 4 vụ học sinh đánh nhau xảy ra, trong đó có những vụ gây chấn thương rất nghiêm trọng

Để có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề bạo lực học đường ở học sinh THPT,

tác giả tiến hành nghiên cứu “Thực trạng bạo lực học đường và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường Trung học phổ thông Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội năm 2016”

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa bạo lực

Theo Tổ chức Y tế thế giới trong Báo cáo thế giới về bạo lực và sức khỏe

“Bạo lực là việc cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc một nhóm người, cộng đồng, dẫn đến hậu quả hoặc nguy

cơ dẫn đến chấn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển hoặc gây ra các tổn hại khác” [64]

Như vậy theo định nghĩa này: Bạo lực bao gồm những hành vi bạo lực giữa các cá nhân cũng như hành vi tự tử và xung đột vũ trang Nó bao gồm một loạt các hành vi, không chỉ là những hành vi thể chất mà còn bao gồm các mối đe dọa và đe dọa Ngoài tử vong và thương tật, bạo lực còn dẫn đến vô số những hậu quả không

rõ ràng như tổn hại về tâm lý, thiếu thốn và kém phát triển, gây tổn hại đến phúc lợi của cá nhân, gia đình và cộng đồng

1.2 Phân loại bạo lực

Có nhiều cách phân loại bạo lực, tuy nhiên theo Báo cáo thế giới về bạo lực

và sức khỏe năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới chia bạo lực ra làm 3 lĩnh vực chính

tùy thuộc vào đặc điểm hành động của bạo lực [64], bao gồm:

Dưới 3 dạng bạo lực chính ở trên, mỗi loại bạo lực còn được chia nhỏ hơn phản ánh nhiều dạng bạo lực chi tiết hơn nữa

Bạo lực tự thân

Bạo lực cá nhân được chia làm 2 dạng chính là hành vi tự sát và tự hành hạ bản thân Thể thứ nhất bao gồm các hành vi nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng chưa thành và tự sát thành công Thể thứ hai là các hành động tự hành hạ bản thân

Trang 15

Bạo lực giữa các cá nhân: cũng chia làm hai thể

Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này rất phổ biến giữa

các thành viên trong gia đình và với đối tác quan hệ tình dục, thông thương (nhưng không phải luôn luôn) xảy ra trong nhà Loại hình bạo lực này bao gồm các hình thức như lạm dụng trẻ em, bạo lực tình dục và hành hạ người cao tuổi

Bạo lực cộng đồng: Bạo lực xảy ra giữa các cá nhân không có mối quan hệ

ruột thịt, có thể quen biết hoặc không quen biết nhau tr ước đây, thường xảy ra ở ngoài Loại hình bạo lực này bao gồm bạo lực ở giới trẻ, các hành động bạo lực ngẫu hứng, hiếp dâm hoặc quấy rối tình dục bởi người lạ và các hành động bạo lực xảy ra tại các cơ quan như trường học, công sở, trại giam…

Về bản chất hành vi bạo lực bao gồm:

- Bạo lực thể chất

- Bạo lực tình dục

- Bạo lực tinh thần

- Bỏ rơi/thiếu quan tâm

Hình 1 dưới đây dưới đây mô tả các dạng bạo lực và bản chất của các hành vi bạo lực:

Trang 16

Hình 1: Các dạng bạo lực và bản chất của bạo lực

BẠO LỰC

Bạo lực tự thân

Bạo lực giữa các cá nhân

Bạo lực tập thể

Xã hội

Chính trị

Kinh

tế

Đối tác

Trẻ

em

Người già

Ngườ

i lạ

Người quen

Trang 17

1.3 Bạo lực học đường và phân loại bạo lực học đường

1.3.1 Khái niệm bạo lực học đường

Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC), tại tờ thông tin năm 2015: Bạo lực học đường là một phần thuộc bạo lực giới trẻ, xảy ra ở những người trong độ tuổi từ 10-18 tuổi Một số hành vi bạo lực bao gồm bắt nạt, tát, đánh – thường gây tổn hại về tâm lý nhiều hơn so với thể chất Một số hình thức khác như bạo lực băng đảng và tấn công vũ lực (có hoặc không sử dụng vũ khí) có thể dẫn đến những chấn thương nghiêm trọng, thậm chí tử vong [23, 65]

Trường hợp bạo lực học đường: được định nghĩa là các hành vi bạo lực ở độ tuổi 10-18, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về nhà, và trong các hoạt động do nhà trường tổ chức [25]

Bắt nạt học đường: là một hành động đối xử thô bạo trong giới học sinh với nhau Các hành vi bắt nạt bao gồm từ các hành động bạo lực về thể chất (đá, xô đẩy) cho đến việc sử dụng lời nói (đặt tên hay đe dọa), và bạo lực tinh thần như gây lời đồn, xa lánh/cô lập [57]

1.3.2 Phân loại bạo lực học đường

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, bạo lực học đường được phân loại dựa trên phân loại của một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam [8, 61, 68] Trong đó bạo lực học đường được chia thành 4 nhóm sau:

- Bạo lực thể chất: bao gồm các hành vi như đánh, đấm, đá, đẩy, tát, dứt tóc, kéo tai, xé quần áo, trấn lột, cướp đồ vật của một/một nhóm học sinh khác;

- Bạo lực bằng lời nói: bao gồm các hành vi như gán/gọi biệt danh (mang ý nghĩa xấu), chế nhạo làm tổn thương nhau, sỉ nhục, dùng lời nói đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình;

- Bạo lực xã hội: bao gồm các hành vi như phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, tạo/phát tán tin đồn (mang ý nghĩa xấu) cho một/một nhóm học sinh khác;

- Bạo lực điện tử: bao gồm các hành vi như nhắn tin, gọi điện để uy hiếp đe doạ/ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo ý mình, sử dụng email, ảnh cá nhân để uy hiếp, đe doạ, ép buộc một/một nhóm học sinh khác làm theo

Trang 18

ý mình, lập/tham gia các hội trên mạng để cô lập/tẩy chay một/một nhóm học sinh khác

Như vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, khái niệm bạo lực học đường được hiểu là hành vi bạo lực giữa các học sinh/nhóm học sinh với nhau, xảy ra trong khuôn viên nhà trường, trên đường tới trường hoặc từ trường về hoặc trong các hoạt động do nhà trường tổ chức, bao gồm các hành vi được phân loại ở trên Khái niệm này không đề cập đến hành vi bạo lực giữa giáo viên đối với học sinh và ngược lại

1.4 Thực trạng bạo lực học đường trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Bạo lực học đường trên thế giới

Theo báo cáo về thực trạng phòng chống bạo lực năm 2014 của Tổ chức Y tế thế giới, số liệu được ghi nhận từ 133 quốc gia trên toàn thế giới cho thấy, trung bình mỗi năm có khoảng 200.000 người trẻ tuổi từ 10-29 tuổi tử vong do bạo lực, đây là nguyên nhân tử vong đứng thứ tư trong nhóm tuổi này Trong đó có đến 80% nạn nhân là nam giới Đi đôi với mỗi vụ tử vong, nhiều trường hợp hơn nữa phải nhập viện điều trị do thương tích và việc điều trị cho các nạn nhân của bạo lực là gánh nặng lớn đối với hệ thống y tế Ngoài cái tử vong và thương tích, bạo lực trong giới trẻ có thể dẫn đến những vấn đề về sức khoẻ tâm thần và làm gia tăng hành vi nguy cơ như hút thuốc lá, sử dụng rượu và ma túy và tình dục không an toàn Người thực hiện hành vi bạo lực và nạn nhân của bạo lực giới trẻ thường có một lịch sử lâu dài liên quan đến bạo lực, và nhiều người là nạn nhân của sự ngược đãi trẻ em [65]

Kết quả khảo sát về hành vi nguy cơ ở học sinh từ lớp 9 đến lớp 12 tại Mỹ năm 2015 của CDC, có 7,8% học sinh cho biết đã từng tham gia đánh nhau, 20,2 % học sinh từng bị cướp đồ, 15,5% từng bị bạo lực điện tử trong vòng một năm qua, 4,1% học sinh từng mang vũ khí (sung, dao) đến trường trong vòng 1 tháng trước thời điểm nghiên cứu Đặc biệt có tới 5,6% học sinh cho biết đã không đi học một hoặc nhiều ngày trong vòng 1 tháng qua vì cảm thấy ở trường hoặc trên đường đến trường/từ trường về nhà không an toàn [37]

Một nghiên cứu trên quy mô quốc gia về bạo lực học đường quy mô quốc gia trên 5.939 học sinh của 121 trường THPT tại Nam Phi năm 2012 cho thấy, 22,2% học sinh cho biết đã bị từng bị đe doạ hoặc là nạn nhân của một cuộc tấn công, cướp

Trang 19

10

tài sản hoặc tấn công tình dục tại trường trong năm qua Trong đó 12,2% từng bị đe dọa bằng bạo lực, 6.3% từng bị tấn công, 4,7% từng bị tấn công tình dục hoặc cưỡng hiếp và 4,5% từng bị cướp ở trường [46]

Một nghiên cứu khác tiến hành trong nhóm học sinh THPT tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2011 cũng cho kết quả tương tự khi một tỷ lệ rất cao (83%) học sinh trả lời từng liên quan đến các hành vi bạo lực trong trường học, trong đó, có 17% là nằm trong vòng quay của bạo lực (violence/bullying cycle) nghĩa là từng là nạn nhân của bạo lực và sau đó đi thực hiện hành vi bạo lực với các học sinh khác [49]

Nghiên cứu Qiao YJ và cộng sự năm 2010 khi tiến hành điều tra tỷ lệ và các yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực thể chất trên 5.718 học sinh từ lớp 7 đến 12 tại Bắc Kinh cho thấy trong số học sinh tham gia nghiên cứu, thì có 14,3% học sinh cho rằng đã tham gia hành vi bạo lực thể chất trong vòng 12 tháng qua [49]

1.4.2 Bạo lực học đường tại Việt Nam

Theo báo cáo Thống kê của Vụ Công tác học sinh sinh viên, thống kê từ 38

Sở Giáo dục & Đào tạo gửi về Bộ, từ năm 2003 đến cuối năm 2010 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỷ luật Cụ thể là nữ sinh tụ tập đánh nhau, đánh hội đồng, làm nhục bạn; nam sinh dùng dao, kiếm, mã tấu chém nhau ngay trong trường học,… Tất cả những vụ bạo lực này đều xuất phát từ những mâu thuẫn trong tình bạn, tình yêu,… hay đơn giản không có mâu thuẫn nhưng

“thấy ghét là đánh” Theo số liệu đựợc Bộ Giáo dục và Đào tạo thống kê năm 2012, trong một năm học, toàn quốc xảy ra gần 1.600 vụ việc học sinh đánh nhau ở trong

và ngoài trường, trung bình khoảng 5 vụ/ngày Cũng theo thống kê của Bộ Giáo dục

và Đào tạo, cứ khoảng trên 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau, cứ hơn 11.000 học sinh thì có một em bị buộc thôi học vì đánh nhau, cứ 9 trường thì có một trường xảy ra việc học sinh đánh nhau Trong hội thảo tâp ̣ huấn công tác bảo đảm an ninh, trâṭ tự trường học và công tác học sinh, sinh viên năm 2014 - 2015, Bộ Giáo dục & Đào tạo cho biết, từ năm 2010 đến 8/2014 đã có tới 7.735 học sinh, sinh viên tham gia đánh nhau, bị xử lý kỷ luật Tỷ lệ phạm pháp của đối tượng này cũng ngày càng gia tăng về tính chất, mức độ lẫn sự nghiêm trọng trong các vụ việc [10]

Trang 20

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang năm 2012 trên 392 học sinh tại trường THPT Trần Phú, Quận Hoàn Kiếm, TP Hà Nội cho thấy tỷ lệ học sinh đã từng tham gia hành vi bắt nạt/bạo lực học đường chiếm 46,9%; trong đó tỷ lệ từng

có hành vi bắt nạt/bạo lực thể chất; sử dụng lời nói; mối quan hệ x ã hội; và điện tử lần lượt là 17,1%, 41,8%, 25,3%, và 12,8% Tỷ lệ các em học sinh từng bị bắt nạt/bạo lực học đường nói chung là 42,4% với tỷ lệ từng bị bắt nạt/bạo lực về thể chất; sử dụng lời nói; mối quan hệ xã hội; và điện tử lần lượt là 19,6%, 35,3%, 17,6%, và 5,9% Trong đó các yếu tố quan trọng liên quan đến bạo lực học đường được xác định là giới tính; sử dụng chất gây nghiện; mang vũ khí; có bạn th ân tham gia vào các vụ bắt nạt/bạo lực; từng bị người nhà đánh; và có ý định tự tử [8]

Một nghiên cứu khác của Đinh Anh Tuấn tại 8 trường Trung học ở TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (4 trường THCS và 4 trường THPT) trên 496 học sinh năm

2013 cho thấy tỷ lệ học sinh từng đánh nhau là 29,8%, tỷ lệ học sinh nói xấu, xúc phạm bạn là 62,5% Đặc biệt có 2,2% học sinh dùng hung khí tấn công bạn [3]

Trong hội thảo "Trường học an toàn, thân thiện và bình đẳng - Thực trạng

và giải pháp" diễn ra tại Hà Nội ngày 26/11/2014, do Sở GD-ĐT Thành phố Hà Nội

tổ chức, các báo cáo của Viện nghiên cứu Y - Xã hội và Tổ chức từ thiện Plan Việt Nam, đã công bố kết quả nghiên cứu về bạo lực giới trong trường học Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2014, với 3.000 học sinh của 30 trường THCS, THPT trên địa bàn Hà Nội, sử dụng phương pháp bảng hỏi và phỏng vấn sâu Kết quả cho thấy, khoảng 80% học sinh cho biết từ trước đến nay đã bị bạo lực giới trong trường học ít nhất một lần, 71% bị bạo lực trong vòng 6 tháng qua Trong

đó, bạo lực tinh thần (mắng chửi, đe dọa, bắt phạt, đặt điều, sỉ nhục ) chiếm tỷ lệ cao nhất 73%, bạo lực thể chất (tát, đá, xô đẩy, kéo tóc, bạt tai, đánh đập ) l à 41%

và bạo lực tình dục (tin nhắn với nội dung tình dục, sờ, hôn, hiếp dâm, yêu cầu chạm vào bộ phận sinh dục, lan truyền tin đồn t ình dục ) chiếm 19% [6]

Một khảo sát khác trên 297 học sinh một số trường phổ thông tại TP Hồ Chí Minh năm 2014 (39,4% là học sinh THCS và 60,6% là học sinh THPT) cho thấy 52,1% học sinh trả lời đã từng là nạn nhân của bạo lực học đường Hành động mà học sinh thường làm nhất khi bị bạo lực là báo với giáo viên (41,2%), phản ứng tức

Trang 21

thời bằng cách nói lại bạn chiếm 38,8% và về nhà nói chuyện với người thân trong gia đình chiếm 36,7% Phản ứng bạo lực nhất là đánh lại bạn chiếm 29,6 % [14]

1.5 Một số yếu tố liên quan đến hành vi bạo lực học đường

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố bao gồm: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố nhà trường/thầy cô, yếu tố bạn b è và môi trường xã hội có liên quan với các hành vi bạo lực học đường ở học sinh

1.6.1 Yếu tố cá nhân học sinh

Có nhiều yếu tố dẫn đến hành vi bạo lực học đường, trong đó có yếu tố liên quan đến cá nhân học sinh bao gồm tuổi, giới, kết quả học tập, thiếu hụt kỹ năng sống, các vấn đề sức khỏe tâm thần và các hành vi nguy cơ khác của học sinh…

Học sinh THPT đã bước qua lứa tuổi dậy thì, bắt đầu giai đoạn muốn khẳng định bản thân Các em đang trong giai đoạn hình thành, phát triển tâm lý và thể chất cho nên luôn hiếu động và tìm mọi cách thể hiện cái tôi bản thân Và khi phải chịu nhiều áp lực căng thẳng gây nên những rắc rối trong đời sống tâm lý, nếu không nhận được sự khuyên bảo, chỉnh đốn kịp thời, các em dễ rơi vào những hành động quá khích, khó kiểm soát bản thân Với tâm lý muốn được thể hiện và muốn được công nhận, việc tiếp nhận những thông tin và những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đều rất dễ rối nhiễu tâm lý lứa tuổi của các em Vì thế, do đặc điểm tâm lý lứa tuổi, do người chưa thành niên thiếu kìm chế, không làm chủ được bản thân, khi các

em quá khích có thể không xác định được những hành động mình gây ra có thể gây nguy hại cho người khác và cho chính bản thân mình [1, 3, 8]

Hành vi bạo lực xuất hiện phổ biến hơn và có mức độ nghiêm trọng hơn ở nhóm học sinh nam so với nữ sinh Có khá nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các em học sinh nam thường tham gia nhiều hơn vào các hoạt động bạo lực; trong khi đó,

tỷ lệ này được tìm thấy ở các nữ sinh thường thấp hơn khá nhiều [8] Xét về hình thức bạo lực, học sinh nam thường có những hành vi ẩu đả, bắt nạt, tổ chức đánh nhau thậm chí có sử dụng vũ khí như dao, gậy, súng ngắn; trong khi đó, các hành vi chủ yếu ở nhóm nữ sinh gồm có trêu chọc bằng lời nói, đặt biệt danh, cô lập Tính cách bốc đồng, hiếu động thái quá, khả năng kiểm soát bản thân kém khi bị khiêu khích và việc phải chịu đựng nhiều áp lực căng thẳng trong cuộc sống cũng như

Trang 22

trong học tập, kết quả học tập kém, hay phải đối mặt với sự thất vọng trong một thời gian dài cũng được chứng minh là có ảnh hưởng tới hành vi bạo lực ở cả nam và nữ học sinh Nhiều em coi hành vi đánh nhau như một cách để khẳng định chính mình, nâng cao vị thế của bản thân Trong nhiều trường hợp khác, một số học sinh lại chọn thực hiện hành vi bạo lực như một cách để bảo vệ bản thân thoát khỏi cảnh nạn nhân Ngoài ra, hành vi bạo lực cũng chính là một trong những hệ quả của sự thiếu kỹ năng sống ở học sinh.

Theo Tổ chức Y tế thế giới, “Kỹ năng sống là khả năng thích nghi một cách tích cực của hành vi, cho phép các cá nhân ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày” [66]

Một thực trạng đáng lo ngại là giới trẻ hiện nay, đặc biệt là học sinh THPT chưa được trang bị các kỹ năng sống cơ bản một cách toàn diện và hệ thống, dẫn đến việc các em bị thiếu hụt rất nhiều kỹ năng cần thiết như kỹ năng tự nhận thức,

kỹ năng đối phó với căng thẳng, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng ứng xử với các mối quan hệ bạn bè, các mâu thuẫn ở lứa tuổi học trò, dễ bị kích động bạo lực [10]

Bên cạnh các yếu tố liên quan đến tâm sinh lý phát triển lứa tuổi, một số yếu

tố về sức khỏe tâm thần và trầm cảm cũng được các nghiên cứu chỉ ra là có ảnh hưởng làm tăng hành vi bạo lực ở học sinh, bao gồm việc từng có ý định tử tự [8], cảm giác bất an, buồn chán cả ngày, cảm giác bực bội, dễ cáu giận và mất kiểm soát Đây cũng chính là một biểu hiện của việc chưa được trang bị đầy đủ kỹ năng sống cũng như khả năng đối phó và giải quyết các vấn đề ở học sinh [40]

Việc sử dụng rượu bia và chất kích thích cũng được một số nghiên cứu chứng minh là một trong những yếu tố có mối liên quan với hành vi bạo lực ở học sinh Các chất này không chỉ tạo ảo giác, khiến con người cảm thấy hưng phấn mà

nó còn làm cho họ mất khả năng kiểm soát hành vi, muốn thể hiện cái tôi của bản thân Ngoài ra, việc sử dụng các chất gây nghiện cũng làm trầm trọng thêm hành vi bạo lực ở lứa tuổi vị thành niên và thanh niên, làm tăng thêm tình trạng mang hung khí và tính bốc đồng của giới trẻ [8,66]

Trang 23

Một kết quả nghiên cứu tại Nam Phi năm 2012 cho thấy rằng, các em học sinh chứng kiến bạo lực càng nhiều, sinh sống trong gia đình thiếu hoặc có người phạm tội và có nhiều bạn bè có hành bi bạo lực thì càng có xu hướng diễn ra bạo lực đối với người khác Ngoài ra, cơ hội tiếp cận với rượu, thuốc phiện và vũ khí

càng nhiều thì khả năng có hành vi bạo lực càng cao [46];

Một nghiên cứu khác cũng giải thích rằng, bạo lực gia đình đối với trẻ em sẽ

để lại những hệ quả tiêu cực trong việc phát triển và hoàn thiện cách của trẻ Bằng chứng là bạo lực sẽ có xu hướng chuyển giao hành vi này cho thế hệ sau Tác giả khẳng định, những người chứng kiến cảnh bạo lực hoặc chính họ là nạn nhân của bạo lực, sẽ ít nhiều tiếp nhận hành vi bạo lực đó trong tâm trí Với trẻ em sống trong gia đình có hành vi bạo lực, lớn lên ra ngoài xã hội có thể rụt rè, sợ hãi người khác, không dám bày tỏ suy nghĩ của mình, nhưng cũng có thể sử dụng bạo lực để giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống Có 15,5% thanh thiếu niên phạm tội bạo lực thì gia đình có mối bất hòa, 14,3% là cha mẹ nghiện rượu, 2,6% là cha

mẹ có hành vi bạo lực đối với con cái [9] Ngoài ra, cấu trúc gia đình cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi bạo lực ở học sinh Một số nghiên cứu đã chứng minh rằng trẻ em lớn lên trong các gia đình chỉ có bố hoặc mẹ có nguy cơ rất cao với bạo lực [46]

Bên cạnh đó, tình trạng kinh tế của gia đình cũng có ảnh hưởng đến hành vi bạo lực ở học sinh Theo kết quả điều tra quốc gia về bạo lực học đường tại Georgia năm 2006, học sinh ở những gia đình có điều kiện kinh tế thấp có xu hướng bạo lực hơn so với những gia đình có điều kiện kinh tế trung bình (48% và 44%) Tuy nhiên, nguy cơ này lại cao hơn ở những gia đình có thu nhập cao (51,5%) [18] Xu hướng này cũng phù hợp với thực trạng tại Việt Nam Giải thích cho thực trạng này,

Trang 24

Bộ GD-ĐT Việt Nam đã chỉ ra rằng những gia đình khá giả, kiếm được nhiều tiền thì một trong những cách thể hiện sự giàu sang của bố mẹ là nuông chiều con cái, cho tiền, mua sắm cho con không thiếu thứ gì để họ cảm thấy hãnh diện vì con mình không thua kém người khác Tuy nhiên, họ không hiểu rằng đấy là một trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi lệch chuẩn của trẻ, thích hơn người, và sẵn sàng bắt nạt người khác để khẳng định mình [4, 52]

1.5.3 Yếu tố trường học/thầy cô

Một thực tế nhức nhối là có rất nhiều vụ bạo lực xảy ra chính từ nhân cách của những người thầy, người cô khi đứng trước những hành vi lệch chuẩn của trẻ, thay vì thầy cô nên giữ thái độ bình tĩnh, ân cần chỉ bảo để các em dần dần nhận ra

sự không đúng đắn và từ bỏ nó thì các thầy, cô lại quát tháo, đánh đập, nhiếc móc hoặc trừng phạt các em, điều đó không những làm các em không thay đổi mà chỉ làm tăng thêm những hành vi đó ở học sinh Bên cạnh đó, nhà trường thiếu hoặc ít quan tâm đến những xích mích, những mâu thuẫn của học sinh cũng là nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường ngày càng tăng Hơn nữa, giáo viên chủ nhiệm lớp, thầy

cô bộ môn ít quan tâm, theo sát để nắm bắt tâm tư, tình cảm của các em học sinh [7] Điều này được chứng minh qua các vụ việc các “clip” nữ sinh đánh nhau được đưa lên các trang mạng xã hội thì nhà trường mới biết và biện pháp cuối cùng để xử

lý bao giờ cũng là đình chỉ hoặc buộc thôi học

Nghiên cứu tổng quan của Sarah Lindstom Johnson (2009) cũng đã đưa ra nhận định học sinh có nhận thức quy tắc của trường và tin tưởng họ càng tốt thì càng ít có xu hướng bạo lực học đường diễn ra Khi đó, học sinh sẽ có mối quan hệ tích cực với giáo viên, cảm thấy thân thiện với ngôi trường của họ, cảm thấy môi trường tích cực và trật tự [54] Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Phương Thảo, Cao Hàn Thi năm 2012 được thực hiện trên 340 học sinh từ lớp 8-12 của 8 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nhóm tác giả này đã kết luận rằng, sự kém tuân thủ quy định ở trường, ấn tượng tiêu cực

về trường học là một trong những nhân tố tác động đến hành vi bạo lực học đường của học sinh hiện nay [9]

Trang 25

Một nghiên cứu của Rosembloom và Way năm 2004 cũng chỉ ra rằng thái độ không thân thiện hay quá nghiêm khắc của giáo viên đã vô tình gián tiếp dẫn tới sự thù hằn trong học sinh Ngoài ra, tỷ lệ bạo lực học đường có xu hướng cao hơn khi giáo viên có sự đối xử không công bằng giữa các học sinh, khi học sinh phải chịu nhiều áp lực từ học tập Tỷ lệ này cũng thấp hơn một nửa nếu giáo viên chuẩn bị giáo án tốt và dành phần lớn thời gian để giảng dạy thay vì kiểm soát lớp học [58]

1.5.4 Yếu tố bạn bè

Ảnh hưởng từ bạn bè đồng trang lứa nhìn chung được xem xét như một yếu

tố khá quan trọng và tích cực trong mối quan hệ cá nhân, tuy nhiên, nó cũng có thể gây ra các tác động tiêu cực, tùy vào tình bạn của mỗi người [29] Trong một số trường hợp, khi hành vi bạo lực xảy ra trong môi trường học đường, bạn bè có thể là đối tượng lên tiếng can ngăn và giúp đỡ nạn nhân, nhưng cũng có thể chỉ im lặng đứng xem, đơn giản chỉ vì để tránh trở thành nạn nhân tiếp theo [36] Thậm chí, nhiều em còn có hành vi hò reo, cổ vũ, khiêu khích, kích động bạo lực, rồi có thể sử dụng điện thoại, máy quay phim quay lại như một trò vui Ngoài ra, những học sinh

có bạn bè vi phạm pháp luật cũng được chứng minh là thường có hành vi bạo lực [64]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang năm 2013 cũng chỉ ra rằng, những học sinh có bạn thân từng tham gia vào hành vi bạo lực thì có nguy cơ bạo lực thể chất và bạo lực mối quan hệ xã hội cao gấp 3,4 lần nhóm còn lại [8]

1.5.5 Yếu tố môi trường xã hội

Cộng đồng nơi học sinh đang sống có ảnh hưởng rất quan trọng tới bản thân

và gia đình học sinh đó Nhìn chung, học sinh sống ở vùng thành thị thường liên quan đến bạo lực học đường nhiều hơn các em sống ở vùng nông thôn Theo nghiên cứu của Noemi E Olsen và cộng sự năm 2010 về xu hướng bắt nạt giữa học sinh thành thị, ngoại ô, và nông thôn cho thấy, tỷ lệ bạo lực học sinh ở thành thị cao hơn

ở nông thôn và ngoại ô do học sinh thành thị có nguy cơ bị stress và phải đối mặt với các vấn đề về học hành và xã hội cao hơn học sinh ở nông thôn Bên cạnh đó, những học sinh sống cạnh hàng xóm có tỷ lệ phạm tội cao thường có xu hướng dễ

Trang 26

tham gia bạo lực hơn Các cộng đồng có nhiều băng nhóm, nghiện ngập cũng có tỷ

lệ bạo lực ở giới trẻ gia tăng [44]

Một số yếu tố xã hội đã được chứng minh là có liên quan đến bạo lực học đường như tăng dân số, cơ cấu chính trị và ảnh hưởng của văn hóa [46] Đặc biệt, trong những năm gần đây, do sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghệ thông tin, bạo lực trên các phương tiện thông tin đại chúng (ti vi, internet và game online) ngày càng trở nên phổ biến và có tác động không nhỏ tới việc hình thành nhân cách

và hành vi của học sinh, đặc biệt là những em đang ở trong độ tuổi vị thành niên [11, 50],

1.6 Quy định về xử lý bạo lực học đường tại Việt Nam

Hiện nay việc xử lý các vi phạm liên quan đến bạo lực học đường được áp dụng theo Thông tư số 08/TT ngày 21 tháng 3 năm 1988 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo hướng dẫn về việc khen thưởng và kỷ luật học sinh các trường phổ thông

Theo qui định, việc thi hành kỉ luật đối với học sinh phổ thông phạm khuyết điểm (trong đó có bạo lực học đường) với 5 hình thức, cụ thể vận dụng như sau:

* Khiển trách trước lớp:

Những học sinh phạm một trong các khuyết điểm sau đây trong quá trình thực hiện nội quy của nhà trường, quyền hạn và nhiệm vụ cấp bản thân sẽ bị khiển trách trước lớp:

- Nghỉ học không xin phép từ 3 buổi trở lên trong thời gian 1 tháng

- Không thuộc bài hoặc làm bài, không chuẩn bị bài đầy đủ do thầy, cô giáo quy định từ 3 lần trở lên trong thời gian 1 tháng

- Đi học không đúng giờ hoặc đi lao động không mang theo dụng cụ lao động mà nhà trường đã qui định từ 3 lần trở lên trong thời gian 1 tháng

- Nói năng thô tục, đánh bạc (chơi số đề) hút thuốc lá…

- Mắc khuyết điểm sai phạm thuộc những điều nhà trường ngăn cấm, dù chỉ

là một lần, song đã có tác hại nhất định đến việc giáo dục toàn diện của nhà trường như: quay cóp hoặc gà bài cho bạn trong giờ kiểm tra bài, có thái độ kém văn hoá hoặc hành vi thiếu đạo đức đối với thầy cô giáo, đối với cha mẹ, bạn bè và những

Trang 27

người xung quanh, gây mất đoàn kết trong tổ, nhóm học tập, bao che hoặc đồng tình với hành động sai phạm của bạn, không báo cáo với nhà trường những việc làm sai trái của bạn mà mình đã biết để nhà trường có biện pháp ngăn ngừa kịp thời, hoặc kiểm điểm sai phạm khác mà tính chất và mức độ có tác hại tương đương

- Việc quyết định khiển trách trước lớp sẽ do giáo viên chủ nhiệm lớp xét quyết định sau khi đã tham khảo ý kiến của cán bộ chi đoàn và cán bộ lớp và công

bố kịp thời vào buổi sinh hoạt lớp hàng tuần, sau đó giáo viên chủ hiệm lớp báo cáo Hiệu trưởng để biết va theo dõi

* Khiển trách trước hội đồng kỉ luật nhà trường:

Những học sinh phạm 1 trong các những khuyết điểm sau đây: trong quá trình thực hiện nội qui của nhà trường, quyền hạn và nhiệm vụ của bản thân sẽ bị khiển trách trước Hội đồng kỉ luật nhà trường

- Tái phạm nhiều lần một trong các khuyết điểm, sai phạm đã bị khiển trách trước lớp

- Mắc khuyết điểm, sai phạm thuộc những điều nhà trường ngăn cấm, dù chỉ

là một lần, song đã gây nhiều tác hại ảnh hưởng không tốt đến việc giáo dục toàn diện của nhà trường như: ăn cắp bút, sách, tiền bạc, đồ dùng tư trang, … của bạn bè, thầy cô giáo, gia đình hoặc của nhân dân nơi mình ở: gây gỗ, đánh nhau với bạn bè

và nhữn người ở ngoài nhà trường: tung dư luận xấu, phao tin đồn nhảm; tham gia tuyên truyền các hoạt động mê tín dị đoan; nghe nhạc, xem phim hoặc truyền báo sách báo có nội dung xấu; hoặc mắc các khuyết điểm sai phạm khác có tính chất v à mức độ tác hại tương đương

- Trong trường hợp học sinh mắc khuyết điểm, sai phạm những điều nhà trường nghiêm cấm, song chưa đến mức độ phải khiển trách trước Hội đồng kỉ luật nhà trườngnhư tái phạm một trong các khuyết điểm, sai phạm đã bị khiển trách trước lớp thì giáo viên chủ nhiệm lớp có thể tham khảo ý kiến của cán bộ chi đoàn, cán bộ lớp đề nghị Hiệu trưởng quyết định cho khiển trách trước lớp, giáo viên chủ nhiệm lớp cần công bố kịp thời kỉ luật đọc trước lớp và thông báo cho cha mẹ học sinh biết để phối hợp giáo dục

- Việc khiển trách trước Hội đồng kỉ luật nhà trường sẽ do Hội đồng kỉ luật nhà trường xét đề nghị Hiệu trưởng quyết định và thực hiện

Trang 28

* Cảnh cáo trước toàn trường:

- Những học sinh phạm một trong các khuyết điểm sai phạm sau đây trong quá trình thực hiện nội qui nhà trường, quyền hạn và nhiệm vụ của bản thân sẽ bị Hội đồng kỉ luật cảnh cáo trước toàn trường

- Mắc khuyết điểm sai phạm đã bị khiển trách trước Hội đồng kỉ luật nhà trường mà không chịu sửa chữa, vẫn còn tái phạm

- Đã nhiều lần trốn học, trốn lao động hoặc quay cóp g à bài cho bạn trong lúc kiểm tra

- Mắc khuyết điểm sai phạm lớn, dù chỉ là một lần, song có tác hại nghiêm trọng như: ăn cắp hoặc cướp giật ở trong và ngoài trường; có lời nói và hành động

vô lễ với thầy cô giáo; trêu chọc hoặc có hành vi thô bỉ với phụ nữ, với người nước ngoài; có những biều hiện rõ ràng về gây rối trật tự an ninh; bị công an tạm giam giữ hoặc thông báo cho nhà trường biết; đánh nhau có tổ chức hoặc mắc những khuyết điểm sai phạm khác có tính chất và mức độ tác hại tương đương

- Hình thức kỉ luật cảnh cáo trước toàn trường sẽ do Hội đồng kỉ luật nhà trường đề nghị Hiệu trưởng quyết định và thực hiện Hình thức kỉ luật này sẽ ghi vào học bạ của học sinh và thông báo cho gia đình biết

* Đuổi học một tuần lễ:

- Những học sinh vi phạm các khuyết điểm đã bị cảnh cáo trước toàn trường nhưng không biết hối lỗi và sửa chữa khuyết điểm, có ảnh hưởng xấu tới những học sinh khác; hoặc phạm khuyết điểm lần đầu nhưng có tính chất và mức độ nghiêm trọng, làm tổn thương nhiều đến danh dự của nhà trường, của thầy cô giáo và tập thể học sinh như: trộm cắp, chấn lộ, gây gỗ đánh nhau có tổ chức và gây thương tíc cho người khác, …hoặc mắc những khuyết điểm sai phạm khác có tính chất và mức

độ tác hại tương đương thì Hội đồng kỉ luật nhà trường xét đề nghị Hiệu trưởng quyết định và thi hành, đồng thời báo cáo lên cơ quan quản lí giáo dục cấp trên trực tiếp để biết và theo dõi

- Hình thức kỉ luật này sẽ ghi vào học bạ của học sinh và thông báo cho gia đình biết để phối hợp giáo dục

- Trong thời gian 1 tuần sẽ bị đuổi học, học sinh này phải kiểm điểm và suy nghĩ một cách sâu sắc về những khuyết điểm sai phạm của mình, nếu tỏ ra thành khẩn ăn năn, hối lỗi, có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm để tiến bộ th ì sau thời gian

Trang 29

bị đuổi học Hiệu trưởng có thể xét và quyết định cho tiếp tục học Thời gian học sinh bị đuổi học sẽ được coi là nghỉ học có phép nếu được học lại

- Nếu trong thời gian bị đuổi học 1 tuần lễ, học sinh mắc khuyết điểm sai phạm không tỏ ra thành lhẩn hối lỗi và quyết tâm sửa chữa, thậm chí còn phạm thêm nhiều khuyết điểm sai phạm khác thì Hội đồng kỉ luật nhà trường sẽ đề nghị Hiệu trưởng quyết định đuổi học 1 năm

- Gia đình học sinh có trách nhiệm quản lí v à giáo dục con cái trong thời gian học sinh bị đuổi học

* Đuổi học 1 năm

- Những học sinh mắc 1 trong các khuyết điểm sai phạm sau đây sẽ bị Hội đồng kỉ luật của nhà trường đề nghị Hiệu trưởng quyết định thi hành kỉ luật đuổi học 1 năm, có ghi học bạ và thông báo cho gia đình, đồng thời giao cho gia đình, đoàn đội và chính quyền địa phương tiếp tục giáo dục

- Mắc khuyết điểm sai phạm đã bị Hội đồng kỉ luật nhà trường thông qua Hiệu trưởng đuổi học 1 tuần lễ mà không chịu sửa chữa, vẫn còn tái phạm, thậm chí còn phạm thêm những khuyết điểm sai phạm khác

- Mắc khuyết điểm sai phạm rất nghiêm trọng, tuy chỉ là lần đầu, song hành động sai phạm này là có ý thức và chủ động (không phải bị lôi kéo, a tòng), gây nên những tác hại rất lớn, rất nguy hiểm đến tài sản của xã hội và tính mạng của con người như: tham gia các tổ chức trộm cắp, trấn lột, trụy lạc, phản động,… dùng vũ khí (dao găn, lưỡi lê, súng lục, lựu đạn, …) đánh nhau có tổ chức, gây thương tích cho người khác, can án ngoài nhà trường bị công an bắt giữ hoặc mắc những khuyết điểm sai phạm khác mà tính chất và mức độ tác hại tương đương

- Sau khi thi hành kỉ luật đuổi học 1 năm, nhà trường phải lập đầy đủ hồ sơ, báo cáo ngay lên cơ quan giáo dục cấp trên trực tiếp quản lí là Phòng giáo dục (đối với học sinh cấp 2) và Sở Giáo dục (đối với học sinh THPT) để biết và theo dõi

- Những học sinh sau 1 năm bị đuổi học, nếu có đủ điều kiện về tuổi v à muốn học lại thì phải làm đơn xin trường cũ xét cho học lại và phải có giấy xác nhận của chính quyền địa phương (phường, xã, thị xã, thị trần, …) về sự tiến bộ của bản thân, giấy cam kết của gia đình về việc giáo dục con mình

Trang 30

- Ngoài hình thức thi hành kỉ luật trên đây, để đảm bảo tính sư phạm và tính nghiêm túc của việc giảng dạy và học tập trong giờ lên lớp, giáo viên bộ môn có thể tạm thời đình chỉ việc học tập và đưa lên để Hiệu trưởng giáo dục những học sinh mắc phải một trong các sai phạm như: nói năng hoặc có thái độ vô lễ đối với thầy

cô giáo; gây gỗ đánh nhau với bạn bè trong lớp; gây mất trật tự làm ảnh hưởng đến việc học tập của tập thể lớp, mặc dù đã được thầy cô giáo khuyên răn, nhắc nhở, … Các học sinh này được vào lớp tiếp tục học trong tiết học sau

1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu:

Trường THPT Chương Mỹ A nằm trên địa bàn thị trấn Chúc Sơn, là một trong 4 trường THPT công lập của huyện Chương Mỹ và được đánh giá là trường THPT có chất lượng dạy và học tốt trong huyện Trường THPT Chương Mỹ A là

trường hạng 1 đạt chuẩn quốc gia Trong nhiều năm qua, trường luôn có nhiều học sinh và thầy cô đạt giải cao trong các cuộc thi của thành phố và quốc gia Tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 99,6% và đỗ đại học, cao đẳng đạt là 70%

Trong năm học 2015-2016, toàn trường có 113 giáo viên, 45 lớp học với

1829 học sinh cả 3 khối lớp,cụ thể:

Bảng 1.1: Số lượng học sinh của Trường THPT Chương Mỹ A năm học 2015-2016

Nguồn: Báo cáo sơ kết học kỳ I năm học 2015-2016 trường THPT Chương Mỹ A

Kề kết quả học tập và xếp loại hành kiểm học kỳ I năm học 2015-2016: Trong tổng số 1829 học sinh có 18,37% học sinh xếp loại học lực giỏi (336 học sinh), 77,07% học sinh có học lực khá (1.410 học sinh), chỉ có 4,29% học sinh có học lực trung bình (78 học sinh) và 0,27% có học lực yếu (5 học sinh)

Về xếp loại hạnh kiểm: hầu hết học sinh xếp loại tốt chiếm 96,58%, chỉ có 3,4% học sinh xếp loại khá và 0,38% học sinh xếp loại trung bình

Bên cạnh công tác giảng dạy, nhà trường đã tổ chức một số hoạt động ngoại

khóa như cuộc thi Khát vọng CMA lần thứ 2 (được phỏng theo chương trình Đường

lên đỉnh OLYMPIA của VTV), thành lập các câu lạc bộ như: công lạc bộ toán học,

Trang 31

tiếng anh nhằm tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích và đa dạng hoá các hình thức giáo dục Về công tác an ninh, phòng chống bạo lực học đường: Tổ bảo vệ và đội an ninh phối hợp với an ninh thị trấn làm tốt công tác an ninh trong và ngoài trường, không để xảy ra hiện tượng đánh nhau, gây thương tích Tuy nhiên trong năm học Hội đồng kỷ luật vẫn phải xử lý kỷ luật 15 học sinh từ khiển trách v à đình chỉ học 1 tuần

Trang 33

MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG CHƯƠNG MỸ A, HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chơi các loại game có

nội dung bạo lực

-

Yếu tố nhà trường/thầy cô

- Các quy định, nội quy của nhà trường

- Trình độ học vấn của bố mẹ

- Mối quan hệ với bố

mẹ

- Sự quan tâm của bố

mẹ

- Tình trạng bạo lực gia đình

Môi trường xã hội

- Tình trạng an ninh, trật tự nơi sống

- Tiếp xúc với các phương tiện thông tin đại chúng có nội dung bạo lực

- Chứng kiến các vụ bạo lực tại nơi sinh sống

Yếu tố bạn bè

- Nhóm bạn

- Bạn thân

- Bạo lực ở bạn thân

YẾU TỐ GIA ĐÌNH

YẾU TỐ GIA ĐÌNH

YẾU TỐ NHÀ TRƯỜNG/THẦY CÔ

MÔI TRƯỜNG

XÃ HỘI

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu:

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa

- Học sinh các khóa đang theo học tại trường THPT Chương Mỹ A năm học 2015-2016

- Đồng ý và tình nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.2 Đối tượng loại trừ

- Học sinh các khóa không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Những học sinh vắng mặt trong toàn thời gian tiến hành thu thập số liệu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 6 năm 2016

- Địa điểm nghiên cứu: Trường Trung học phổ thông Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Hà Nội

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính, trong đó định tính nhằm giải thích cho một số kết quả của định lượng Số liệu định lượng sẽ được thu thập trước và phân tích sơ bộ Sau đó dựa trên kết quả định lượng, thu thập

Z

2 ) 1 (

2 ) 2 1

- d = 0,07 (sai số tối đa cho phép)

Thay các chỉ số vào công thức trên ta có cỡ mẫu tối thiểu là 195

Trang 35

Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm, đơn vị cụm là một lớp học Để đảm bảo tính đại diện của nghiên cứu, cỡ mẫu được nhân với hiệu lực thiết kế DE=2 Cỡ mẫu hiệu chỉnh là: n=2x195=390

Để dự phòng các trường hợp từ chối tham gia nghiên cứu học các em nghỉ học tại thời điểm điều tra th ì cỡ mẫu nghiên cứu cộng thêm 10% bỏ cuộc = 390 x 0,1=39 học sinh

Như vậy cỡ mẫu cuối cùng của nghiên cứu là: n=390+39=429 học sinh Trên thực tế số phiếu tác giả phát ra là 441 học sinh (toàn bộ học sinh của các lớp đã được chọn) Tuy nhiên số phiếu thu về và hợp lệ là 406 phiếu do tại thời điểm nghiên cứu có tổng số 5 học sinh nghỉ học và 30 học sinh từ chối tham gia nghiên cứu (là những học sinh để phiếu trắng không điền thông tin)

2.4.2 Cỡ mẫu định tính

Nội dung: Thực trạng bạo lực học đường và các giải pháp hạn chế và ngăn ngừa tình trạng bạo lực học đường đối với học sinh trường THPT Chương Mỹ A

Phỏng vấn sâu 3 nhóm đối tượng, bao gồm 10 cuộc phỏng vấn:

- Nhóm 1: Bí thư đoàn thanh niên

- Nhóm 2: Giáo viên chủ nhiệm các lớp (03 cuộc)

- Nhóm 3 Học sinh các khối: 02 học sinh/mỗi khối lớp (06 cuộc)

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng

Sử dụng số liệu thứ cấp báo cáo về tình hình học đường và các trường hợp xảy ra xung đột và bạo lực giữa học sinh trong năm học 2015 – 2016:

Mẫu được chọn nghiên cứu là 429 học sinh ở cả 3 khối lớp 10, khối lớp 11

và khối lớp 12 tại trường THPT Chương Mỹ A, huyện Chương Mỹ, Hà Nội Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm – mỗi cụm là 1 lớp như sau:

- Bước 1: Lập danh sách các lớp của 3 khối: mỗi khối 15 lớp lần lượt từ khối

10 đến khối 12, mỗi khối lần lượt từ A1 đến A15, riêng đối với khối 11 loại trừ lớp A5 do đã lựa chọn để thử nghiệm bộ câu hỏi

- Bước 2: Số cụm cần chọn là 429/40=11 cụm

- Bước 2: Chọn ngẫu nhiên các cụm như sau:

Trang 36

Lấy tổng số lớp chia cho tổng số cụm được bước nhảy là k=4

Ghi 4 số (1, 2, 3, 4) vào 4 mảnh giấy, bốc thăm ngẫu nhiên được số 02, như vậy lớp đầu tiên được chọn là lớp 10A2, lần lượt cộng với bước nhảy là 4, tác giả chọn được các lớp lần lượt như sau: 10A2, 10A6, 10A10, 10A14, 11A3, 11A8, 11A12, 12A1, 12A5, 12A9, 12A13 Tổng cộng có 4 lớp 10, 3 lớp 11 và 4 lớp 12 được chọn vào mẫu nghiên cứu

Chọn toàn bộ học sinh của các lớp trên vào mẫu nghiên cứu, được tổng cộng

441 học sinh, loại trừ số lượng học sinh nghỉ học và từ chối tham gia nghiên cứu, mẫu nghiên cứu cuối cùng là 406 học sinh

+ Đối với giáo viên chủ nhiệm: Lựa chọn giáo viên chủ nhiệm của lớp học thường xuyên xảy ra vấn đề bạo lực học đường (được lựa chọn thông qua sự giới thiệu của Ban Giám hiệu)

+ Bí thư Đoàn thanh niên: Là người tổng hợp và nắm bắt được các vấn đề liên quan đến tình hình bạo lực ở học sinh và thông báo đến Ban giám hiệu nhà trường để có những biện pháp xử lý thích hợp

- Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu: 10 cuộc

Giáo viên chủ nhiệm

Trang 37

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Bước 1: Liên hệ địa điểm thu thập số liệu

Nghiên cứu viên liên hệ trước với ban giám hiệu, giáo viên chủ nhiệm các lớp tiến hành điều tra, nêu rõ mục đích của nghiên cứu, hẹn thời gian tiến hành điều tra Sau khi được sự thống nhất của Ban giám hiệu, nghiên cứu viên bắt đầu thực hiện nghiên cứu

Bước 2: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu:

- Xây dựng bộ câu hỏi: bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên các nghiên cứu

mà nghiên cứu viên tham khảo từ các tài liệu trong nước và nước ngoài có mục đích nghiên cứu tương tự như đề tài

- Khi bộ câu hỏi được xây dựng xong, học viên đã tiến hành điều tra thử trên

20 đối tượng nghiên cứu (gồm giáo viên chủ nhiệm và học sinh lớp 10A5) với bộ câu hỏi này, chỉnh sửa nội dung của bộ câu hỏi cho phù hợp với ngôn ngữ địa phương, sau đó in 450 bộ phục vụ điều tra và tập huấn

Bước 3: Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)

- Người tập huấn: Nghiên cứu viên

- Đối tượng tập huấn: 3 học viên cao học Y tế công cộng khóa 18

- Nội dung tập huấn:

+ Mục đích nghiên cứu

+ Kế hoạch nghiên cứu

+ Hướng dẫn điều tra viên sử dụng bộ công cụ thu thập số liệu Các điều tra được tập huấn và giải đáp các thắc mắc liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu và bộ câu hỏi Đặt ra các tình huống có thể phát sinh

từ phía các đối tượng nghiên cứu trong quá trình thu thập và thảo luận tìm cách giải đáp Tiến hành phỏng vấn chéo để kiểm tra tính tuần tự và hợp lý của bộ câu hỏi

Bước 4: Điều tra

Tổ chức thu thập số liệu: Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập thông tin li ên quan đến tình trạng bạo lực học đường ở học sinh

Trang 38

Các số liệu thứ cấp được thu thập tại văn phòng đoàn trường: Báo cáo sơ kết, tổng kết năm học của trường, một số văn bản liên quan đến bạo lực học đường như quy định về việc xử lý bạo lực học đường, biên bản các cuộc họp hội đồng kỷ luật của nhà trường liên quan đến bạo lực học đường

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính

Sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu 03 nhóm đối tượng, nội dung các cuộc phỏng vấn sâu được ghi chép, ghi âm để đảm bảo không bỏ sót thông tin Thời gian mỗi cuộc PVS kéo dài từ 20 đến 60 phút

Điều tra viên cùng cán bộ đầu mối tại trường THPT Chương Mỹ A sắp xếp thời gian phỏng vấn sâu các đối tượng phù hợp với tình hình thực tế tại văn phòng đoàn trường trong thời gian tháng 4 năm 2016

Các cuộc phỏng vấn sâu ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm các lớp, học viên liên hệ trước bằng cách gửi thư mời đến các đối tượng được chọn, trong thư mời nêu rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc phỏng vấn, các nội dung của buổi phỏng vấn và dự kiến thời gian, địa điểm Người được mời gửi thư đồng ý tham gia phỏng vấn thống nhất thời gian, địa điểm

Nội dung phỏng vấn sâu Bí thư đoàn thanh niên và giáo viên chủ nhiệm các lớp bao gồm thực trạng bạo lực học đường tại trường trong năm học 2015 – 2016, những nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trên, các giải pháp nhằm hạn chế và ngăn ngừa tình trạng bạo lực ở học sinh…

2.7 Công cụ và biến số nghiên cứu

2.7.1 Công cụ nghiên cứu

- Nghiên cứu định lượng: Bộ câu hỏi phát vấn

- Nghiên cứu định tính: Bộ câu hỏi phỏng vấn sâu các nhóm đối tượng: Bí thư đoàn thanh niên, giáo viên chủ nhiệm và học sinh

2.7.2 Biến số nghiên cứu

2.7.2.1 Biến số nghiên cứu định lượng

Thông tin cá nhân Tuổi, giới tính, tôn giáo, khối lớp, học

Trang 39

lực, hạnh kiểm Thông tin về gia đình - Sống cùng bố mẹ

- Trình độ học vấn của bố mẹ

- Nghề nghiệp của bố mẹ

- Lý do không sống cùng bố mẹ

- Sự quan tâm của bố mẹ

- Mối quan hệ với bố mẹ

- Tần suất xô xát/cãi vã giữa các trong gia đình,

- Gia đình có người nghiện rượu, nghiện

ma túy hoặc chơi cờ bạc

- Loại tệ nạn xã hội mà người trong gia đình tham gia

- Tình trạng chấn thương do người trong gia đình gây ra

Thông tin về bạn bè - Có chơi với nhóm bạn không

- Mối quan hệ với thầy cô

- Các nội quy, quy định của nhà trường về bạo lực học đường

- Nhà trường/thầy cô biết các vụ bạo lực/học đường

- Học sinh bị kỷ luật khi tham gia bạo lực học đường

- Các hình thức kỷ luật liên quan đến bạo lực học đường

Trang 40

Yếu tố môi trường xã

hội

- Tình hình an ninh trật tự tại nơi sinh sống

- Tiếp xúc các phương tiện thông tin đại chúng/ấn phẩm có nội dung bạo lực

- Loại ấn phẩm Các hành vi nguy cơ - Từng hút thuốc lá

- Hiện tại hút thuốc lá

- Loại game yêu thích

- Thời gian chơi game/ngày

- Tự gây thương tích Các hành vi bạo lực - Loại hành vi bạo lực từng thực hiện trong

6 tháng qua

- Đối tượng bị bạo lực

- Người hỗ trợ học sinh

- Lý do thực hiện hành vi bạo lực Từng bị bạo lực - Loại hình bị bạo lực học sinh từng bị

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w