1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng uống rượu của nam giới từ 15 60 tuổi và một số yếu tố liên quan tại xã an ninh, huyện châu thành, tỉnh sóc trăng

95 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CI: Khoảng tin cậy DSM-IV: Hướng dẫn thống kê và chẩn đoán về rối loạn tâm thần ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu ĐTV: Điều tra viên PVĐT: Phỏng vấn điều tra PVS: Phỏng vấn sâu SDRB: Sử dụng rư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRỊNH VŨ

TẠI XÃ AN NINH, HUYỆN CHÂU THÀNH, SÓC TRĂNG NĂM

2016

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

Hà Nội, 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRỊNH VŨ

TẠI XÃ AN NINH, HUYỆN CHÂU THÀNH, SÓC TRĂNG

Trang 3

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm chung 4

1.1.1 Khái niệm rượu và phân loại 4

1.1.2 Những định nghĩa chung về rượu 4

1.1.3 Một số quy định sản xuất rượu thủ công (rượu tự nấu) và 5

1.1.4 Đơn vị rượu 7

1.2 Tình hình sử dụng rượu, bia Thế giới và Việt Nam 8

1.3 Tác hại của sử dụng rượu, bia không hợp lý (lạm dụng) 14

1.3.1 Khái niệm lạm dụng rượu 14

1.3.2 Khái niệm nghiện rượu 14

1.4 Tác hại của rượu, bia và một số nghiên cứu về sử dụng rượu bia trên Thế giới và Việt Nam 14

1.4.1 Tác hại của rượu, bia 14

1.4.2 Một số nghiên cứu về sử dụng rượu bia trên Thế giới và Việt Nam 17

1.5 Thông tin khái quát chung về xã An Ninh 21

1.6 Khung lý thuyết 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.1.2 Thời gian nghiên cứu 23

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 23

2.2 Thiết kế nghiên cứu 23

2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 23

2.4 Điều tra viên, giám sát viên 25

2.5 Qui trình thu thập số liệu 25

2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin 25

2.5.2 Công cụ thu thập thông tin 25

2.5.3 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu 26

Trang 4

2.6 Một số qui ước, thước đo dùng trong nghiên cứu 27

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28

2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 28

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 29

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Thông tin chung 30

3.2 Thực trạng sử dụng rượucủa đối tượng nghiên cứu 32

3.3 Thông tin về một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu 39

3.4 Thông tin về thái độ của ĐTNC về việc sử dụng rượu 43

3.5 Thông tin về cá nhân, gia đình, bạn bè, xã hội và hoạt động truyền thông 43

3.6 Mối liên quan đến việc sử dụng rượu trong tuần qua 46

3.7 Mối liên quan đến việc say do uống rượu trong tháng qua 49

Chương 4: BÀN LUẬN 54

4.1 Các đặc trưng cơ bản của ĐTNC 54

4.2 Thực trạng sử dụng rượu của ĐTNC 54

4.3 Một số yếu tố liên quan: 57

Chương 5: KẾT LUẬN 62

5.1 Tình hình sử dụng rượu của nam giới từ 15-60 tuổi tại xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng năm 2016: 62

5.2 Một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu 62

KHUYẾN NGHỊ 63

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Phụ lục 1: Các biến số thông tin đối tượng nghiên cứu: 66

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn 73

Phụ lục 3: Hình ảnh minh họa các loại ly thường dùng để sử dụng rượu 82

DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 “Đơn vị rượu” của một số quốc gia 7

Bảng 1.2 Tỷ lệ sử dụng rượu theo thế giới của các khu vực 8

Bảng 1.3 Các loại rượu bia được sử dụng theo khu vực 10

Bảng 3.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 30

Trang 5

Bảng 3.2 Tình hình kinh tế gia đình và số người trong gia đình của đối tượng

nghiên cứu 31

Bảng 3.3 Tình trạng sayrượu của đối tượng nghiên cứu trong 1 tháng qua 32

Bảng 3.4 Mức độ sử dụng rượu của đối tượng nghiên cứu trong tuần qua 33

Bảng 3.5 Việc uống rượu nhiều vào cuối tuần 35

Bảng 3.6 Yếu tố gia đình, bạn bè của ĐTNC 38

Bảng 3.7 Loại rượu nào được cho là an toàn nhất và có nghe vụ ngộ độc do uống rượu nào không 40

Bảng 3.8 Việc sử dụng thuốc lá, thuốc kích thích khi uống rượu 41

Bảng 3.9 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về việc sử dụng rượu 43

Bảng 3.10 Vấn đề rắc rối với bạn bè/ người thân hay trong công việc/học tập của ĐTNC trong tuần qua 43

Bảng 3.11 Nguồn thông tin tuyên truyền yêu thích của ĐTNC 45

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học, thực trạng sử dụng rượu, bạn bè với việc sử dụng rượu trong tuần qua 46

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thái độ với việc sử dụng rượu trong tuần qua 48

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, thực trạng sử dụng rượu với việc say do uống rượu trong tháng qua 50

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa một số yếu tố bạn bè, gia đình tới việc say do uống rượu trong tháng qua 52

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thái độ với việc say do uống rượu trong tháng qua 53

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1.1 Lượng bia tiêu thụtrong năm 2011 10

Biểu đồ 1.2 Tần suất uống bia theo độ tuổi 12

Biểu đồ 1.3 Tần suất uống bia theo địa phương 12

Biểu đồ 3.1 Thực trạng sử dụng rượu của ĐTNC 32

Biểu đồ 3.2 Lượng rượu trong ngày của ĐTNC 34

Bảng 3.3 Lượng rượu trong 1 buổi tiệc của ĐTNC 34

Biểu đồ 3.4 Thời điểm uống rượu 35

Biểu đồ 3.5 Người uống rượu cùng ĐTNC 36

Trang 6

Biểu đồ 3.6 Giá của các loại rượu hiện nay 36

Biểu đồ 3.7 Địa điểm uống rượu của ĐTNC 37

Biểu đồ 3.8 Cảm giác sau mỗi lần uống rượu của ĐTNC 37

Biểu đồ 3.9 Công việc làm sao khi uống rượu 38

Biểu đồ 3.10 Lợi ích của rượu bia 39

Biểu đồ 3.11 Tác hại của rượu bia 39

Biểu đồ 3.12 Các bệnh do lạm dụng rượu bia đem lại 40

Biểu đồ 3.13 Lượng rượu uống có hại trong 1 ngày 41

Biểu đồ 3.14 Uống rượu ảnh hưởng như thế nào tới việc điều khiển phương tiện giao thông/máy móc 42

Biểu đồ 3.15 Thông tin về gia đình của ĐTNC 44

Biểu đồ 3.16 Thông tin về bạn bè của ĐTNC 44

Biểu đồ 3.17 Thông tin truyền thông 45

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASEAN: Hiệp hội quốc gia Đông Nam Á ATGT: An toàn giao thông

AUDIT: Bộ câu hỏi đánh giá mức độ sử dụng rượu

CI: Khoảng tin cậy DSM-IV: Hướng dẫn thống kê và chẩn đoán về rối loạn tâm thần ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu

ĐTV: Điều tra viên PVĐT: Phỏng vấn điều tra PVS: Phỏng vấn sâu SDRB: Sử dụng rượu bia SDRTC: Sử dụng rượu thủ công SXTC Sản xuất thủ công TNGT: Tai nạn giao thông TNTT Tai nạn thương tích WHO: Tổ chức Y tế Thế giới (World the Health Orgenization)

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Sử dụng rượu sản xuất thủ công là một nét văn hóa truyền thống lâu đời của người Việt Nam Tuy nhiên rượu lại là chất kích thích nên có thể gây nghiện và đem lại những tác hại nghiêm trọng về mặt sức khỏe con người, cũng như những hậu quả tiêu cực về mặt xã hội

Nghiên cứu này được tiến hành từ tháng 1/2016 đến tháng 6/2016 tại xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng với mục tiêu mô tả thực trạng sử dụng rượu SXTC và xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu SXTC của nam giới 15-60 Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, với cỡ mẫu 279 người là nam giới trong độ tuổi 15-60, được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống Số liệu được thu thập theo bộ câu hỏi được thiết kế từ trước Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đã từng sử dụng rượu SXTC trong nhóm nam giới 15-60 trên địa bàn xã là 91,8% Tỷ lệ sử dụng rượu SXTC trong tuần qua

là 60,2% và say rượu SXTC trong tháng là 46,6% Loại rượu được cho an toàn nhất: rượu SXTC/tự nấu (41,2%) Phần lớn những người sử dụng rượu SXTC thường uống ngay tại nhà 51,3%.Và thường uống với bạn bè/đồng nghiệp là 55,2% Cảm giác sau mỗi lần uống rượu SXTC: Nhức đầu, mệt mỏi là 49,8%; Ngủ hay nghỉ ngơi sau khi uống rượu SXTC là 71,3%

Nghiên cứu chỉ ra rằng có mối liên quan giữa một số yếu tố nhân khẩu học (dân tộc, tình hình kinh tế), thực trạng sử dụng (lợi ích của việc uống rượu, bia, thời điểm uống, giá cả, ý định về giảm bớt/ từ bỏ rượu SXTC) với thái độ (đồng ý với quan điểm của cộng đồng, áp lực nhóm, ảnh hưởng của bạn thân), yếu tố xã hội (người thân/bạn bè) Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan giữa: một số yếu tố cá nhân (gặp rắc rối với người thân/bạn bè/công việc/học tập, có người thân/ bạn bè bị mất/ốm/TNTT nặng), một số yếu tố nhân khẩu học (tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân) với một số yếu tố quan điểm về chính sách kiểm soát rượu bia Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị: Cần tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn nhằm góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện các chương trình truyền thông

về sử dụng rượu SXTC an toàn, hợp lý, phòng chống tác hại của rượu SXTC trong nhóm nam giới ở độ tuổi lao động ở địa bàn xã An Ninh và ở các địa phương khác

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rượu được con người sản xuất và từ lâu đã trở thành đồ uống được sử dụng phổ biến ở Việt Nam và nhiều quốc gia trên thế giới Các nghiên cứu khoa học đã cho thấy rượu giúp kích thích tiêu hóa, ăn uống ngon miệng, bồi bổ cơ thể, tạo cảm xúc hưng phấn, không khí vui vẻ cho người sử dụng Tuy nhiên rượu cũng mang lại những tác hại nghiêm trọng nếu người sử dụng rượu quá mức (lạm dụng) hay dẫn đến tình trạng nghiện rượu Nhiều nghiên cứu đã kết luận có mối liên quan giữa sử dụng rượu quá mức với hơn 60 bệnh khác nhau[23, 28]

Theo WHO thì tử vong và bệnh tật liên quan đến sử dụng rượu, bia chiếm 4% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu Rượu không những tàn phá cơ thể mà còn

có cả tinh thần Say rượu dẫn đến những biến đổi về cảm xúc rối loạn về tư duy, rối loạn về hành vi Rất nhiều căn bệnh liên quan đến tim mạch, gan, đều xuất phát từ thói quen sử dụng rượu Tại Việt Nam có tới 6,7% vụ TTGT đường bộ liên quan đến rượu và trong tổng số TNTT liên quan đến rượu bia, 28% người điều khiển phương tiện giao thông bị thương tích có sử dụng rượu; 33,8% nạn nhân tử vong do TTGT được xét nghiệm có nồng độ cồn trong máu, trong đó 71% nạn nhân lái môtô, xe máy[11]

Năm 2012, Việt Nam đã tiêu thụ 3 tỉ lít bia, lượng bia sử dụng trung bình/người/năm là hơn 30 lít đứng số 1 trong khu vực ASEAN và đứng thứ 3 Châu Á (sau Trung Quốc, Nhật Bản), trong khi thu nhập bình quân của người Việt Nam chỉ đứng thứ 8 trong số 11 nước trong khu vực ASEAN Như vậy so với thế giới, xu hướng sử dụng rượu của người Việt Nam đang ngày càng cao hơn với tình hình chung của thế giới Thói quen sử dụng rượu của người Việt Nam đang trên đà tiến lên theo mặt tiêu cực[11] Năm 2014, theo báo cáo của

Bộ Công Thương thì Việt Nam tiêu thụ khoảng 3,14 tỷ lít bia, 67 triệu lít rượu sản xuất tại nhà máy và một lượng rất lớn rượu sản xuất thủ công Con số này

có thể lên tới 200 triệu lít tuy nhiên không có một thống kê chính thức nào xác nhận được điều này

Trang 10

Rượu sản xuất thủ công trong các hộ gia đình ở Việt Nam tương đối phổ biến đặc biệt là ở vùng nông thôn Rượu SXTC được sản xuất và tiêu thụ thường không được kiểm soát chặt chẽ Có rất nhiều hệ lụy đến sức khoẻ của người sử dụng như ngộ độc, tử vong, do sử dụng rượu SXTC Sóc Trăng cũng như nhiều địa phương khác trên cả nước, sử dụng rượu SXTC là một thói quen của nam giới trong độ tuổi lao động Rượu SXTC có độ mạnh ưa thích, giá thành rẻ và đôi khi còn được “cho” là có chất lượng tốt Nhằm tìm hiểu tình hình sử dụng rượu SXTC của nam giới cũng như các vấn đề liên quan và để có thể giúp ngành Y tế địa phương có kế hoạch bảo vệ sức khỏe người dân, nhằm giúp người dân (nhất là nam giới) có được một sức khỏe tốt và có lối sống lành

mạnh, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Thực trạng uống rượu của nam giới 15-60 tuổi và một số yếu tố liên quan tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng năm 2016”

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng sử dụng rƣợu của nam giới 15-60 tuổi tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, năm 2016

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rƣợu của nam giới 15

-60 tuổi tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, năm

2016

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm rượu và phân loại

Từ “rượu” có nguồn gốc từ tiếng Á Rập “al-kuhul” và được dùng gọi chung cho nhiều loại rượu khác nhau Một trong những chất tìm thấy trong rượu, bia được gọi là ethanol hoặc rượu ethyl Hình thức đơn giản nhất của rượu

là methanol (methy alcohol), đôi khi còn được gọi là “rượu gỗ” bởi vì nó có thể được sản xuất bởi quá trình lên men của gỗ Các chất khác thuộc nhóm rượu bao gồm glycol, propanol hoặc propyl acohol (cồn) và cholesterol -một phần tử phức tạp quan trọng đối với nhiều chức năng cơ thể[18]

Rượu mà con người hay sử dụng để uống là một hợp chất đặc biệt có tên gọi hóa học là ethylic alcohol (ethanol) được tạo ra chủ yếu nhờ quá trình lên men tinh bột và đường có trong nhiều loại hoa quả và ngũ cốc

Theo Tổ chức Y tế thế giới, các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến qua quá trình lên men và chưng cất được chia làm 3 loại:

 Bia: thường có độ cồn 5%

 Rượu nhẹ: thường có độ cồn từ 12-15%

 Rượu mạnh: thường có độ cồn khoảng 30-40%

1.1.2 Những khái niệm chung về rượu

Rượu: là đồ uống chứa cồn, được sản xuất từ quá trình lên men, có hoặc

không chưng cất từ tinh bột của các loại ngũ cốc, dịch đường của các loại cây

và hoa quả

Rượu sản xuất thủ công: còn gọi là rượu tự nấu, là sản xuất rượu bằng

thiết bị đơn giản,dụng cụ truyền thống như nồi (kháp) đồng, ống dẫn hơi rượu, bồn lạnh… quy mô nhỏ và do hộ kinh doanh, hộ gia đình hoặc cá nhân thực hiện Sản xuất rượu thủ công bao gồm: Sản xuất rượu thủ công vì mục đích kinh doanh và sản xuất rượu thủ công vì mục đích tự tiêu dùng

Rượu vang: được sản xuất bằng phương pháp lên men không chưng cất

với nguyên liệu chính là hoa quả

Trang 13

Rượu được chế biến từ ngũ cốc: là các loại rượu được sản xuất bằng

quá trình đường hóa, lên men, có hoặc không chưng cất với nguyên liệu chính

là ngũ cốc

Rượu được chế biến không có nguồn gốc từ ngũ cốc: là các loại rượu

khác với rượu được chế biến từ ngũ cốc

Rượu chưng cất: là rượu được sản xuất bằng quá trình đường hoá hoặc

không đường hoá, lên men, chưng cất với nguyên liệu là hoa quả, tinh bột, ngũ cốc hay cây có đường

Cồn rượu: là cồn để sản xuất, pha chế rượu, có tên khoa học là Etanol,

công thức hoá học là C2H5OH Rượu và cồn rượu theo Nghị định số 94/2012/ NĐ-CP của Chính phủ được gọi chung là rượu

Ngộ độc rượu: là tình trạng bệnh lý xảy ra do uống rượu quá liều hoặc

uống rượu có chứa độc tố [8]

1.1.3 Quy định sản xuất rượu SXTC (rượu tự nấu) và một số điều kiện cấp giấy phép sản xuất rượu thủ công mục đích kinh doanh tại Việt Nam

Gạo  Cơm  Làm nguội cơm  Trộn men rượu  Lên men rượu 

Lên men:

Lên men rượu là một quá trình lên men yếm khí (không có mặt của oxy) diễn ra rất phức tạp, bao gồm các quá trình sinh hóa và các quá trình vi sinh vật

Chưng cất:

Trang 14

Khi quá trình lên men kết thúc, tiến hành chưng cất để thu được rượu thành phẩm Quá trình chưng cất rượu nhằm tách hỗn hợp rượu và nước có nhiệt độ sôi khác nhau Ở áp suất thường, rượu sôi và bốc hơi ở 780C, còn nước sôi ở 1000C[13] Khi chưng cất, rượu được tách ra khỏi nước do nhiệt độ bay hơi của rượu thấp hơn của nước Quá trình chưng cất được tiến hành bằng cách đun sôi hỗn hợp lên men, hơi bay lên được dẫn qua ống dẫn và được làm lạnh bằng cách cho qua bồn nước để ngưng tụ rượu Dung dịch rượu thu được trong suốt có mùi thơm đặc trưng và nồng độ rượu sẽ giảm dần theo thời gian chưng cất Tùy theo yêu cầu của khách hàng mà họ có thể tiến hành pha trộn các loại rượu thu được ở các khoảng thời gian chưng cất khác nhau hoặc pha trộn với nước để tạo ra rượu có nồng độ cao/ thấp khác nhau

Điều kiện cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh:

 Có đăng ký kinh doanh ngành, nghề sản xuất rượu thủ công;

 Đảm bảo các điều kiện về bảo vệ môi trường, chất lượng, an toàn thực phẩm, nhãn hàng hoá sản phẩm rượu theo quy định của pháp luật hiện hành Thẩm quyền cấp Giấy phép: Phòng Kinh tế hoặc Phòng Công Thương (sau đây gọi chung là Phòng Công Thương) thuộc Ủy ban nhân dân Quận/ Huyện, nơi có tổ chức/cá nhân đặt cơ sở sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh, là cơ quan cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh

Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh có thời hạn

05 năm Trước thời điểm hết hiệu lực của giấy phép 30 ngày, tổ chức/cá nhân sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh phải có văn bản đề nghị cấp lại giấy phép gửi cơ quan có thẩm quyền cấp giấy để xem xét cấp lại Giấy phép

Bộ Công Thương hướng dẫn cụ thể hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh; trình tự, thủ tục, hồ sơ cấp lại, cấp sửa đổi bổ sung Giấy phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh Ngoài các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật, tổ chức/cá nhân sản xuất rượu thủ công có các quyền và nghĩa vụ sau:

Trang 15

 Được tham gia Hiệp hội, Làng nghề sản xuất rượu nếu thuộc địa phận có Làng nghề

 Được tổ chức phân phối, bán buôn rượu do tổ chức, cá nhân sản xuất, chỉ được phép bán lẻ sản phẩm rượu trực tiếp tại hệ thống cửa hàng trực thuộc của tổ chức, cá nhân theo đúng quy định mà không phải đề nghị cấp giấy phép kinh doanh phân phối, bán buôn, bán lẻ sản phẩm rượu

 Được phân phối rượu do tổ chức, cá nhân sản xuất ra để bán cho các doanh nghiệp có Giấy phép kinh doanh phân phối, bán buôn sản phẩm rượu

 Tổ chức, cá nhân sản xuất rượu thủ công không được nhập khẩu sản phẩm rượu, rượu bán thành phẩm, cồn thực phẩm và phụ liệu rượu để pha chế thành rượu thành phẩm

 Nộp phí và lệ phí cấp Giấp phép sản xuất rượu thủ công nhằm mục đích kinh doanh theo quy định của Bộ Tài chính[8]

1.1.4 Đơn vị rượu:

“Đơn vị rượu” là một đơn vị đo lường dùng để quy đổi các loại rượu với nhiều nồng độ khác nhau Hiện chưa có một quy ước hay thỏa thuận nào về việc xác định một “đơn vị rượu chuẩn” chung cho mọi quốc gia, tuy nhiên gần đây trên thế giới đã áp dụng tiêu chuẩn: “đơn vị rượu” thường có từ 8-14 gram rượu nguyên chất (Pure Ethanol) chứa trong dung dịch đó[22]

Bảng 1.1 Qui chuẩn “Đơn vị rượu” của một số quốc gia:

Trang 16

Đơn vị rượu theo tiêu chuẩn của WHO quy định và hay được áp dụng nhất là: một đơn vị rượu tương đương với 10gam rượu nguyên chất chứa trong dung dịch uống Việt Nam cũng sử dụng đơn vị này

Một đơn vị rượu tương đương: 330ml bia 4%, 125ml vang nồng độ 11% (rượu nhẹ), 75ml vang mạnh nồng độ 20%, 40ml rượu mạnh nồng độ 40%[20]

1.2 Tình hình sử dụng rượu, bia Thế giới và Việt Nam

1.2.1 Tình hình tiêu thụ rượu bia trên Thế giới

Tiêu thụ trên toàn thế giới trong năm 2005 là tương đương với 6,13 lít cồn nguyên chất/người/năm Trong đó có tới 28,6% là sử dụng rượu/bia tự sản xuất, không có đăng ký, nói cách khác là không ghi nhận Việc sử dụng rượu tự sản xuất, không có đăng ký có thể dẫn đến tăng nguy cơ bị tổn hại vì có khả năng chứa các tạp chất nguy hiểm hoặc các chất ô nhiễm trong các đồ uống[29]

Bảng 1.2 Tỷ lệ sử dụng rượu theo thế giới của các khu vực [29]:

Khu vực của WHO Giới Tỷ lệ sử dụng rượu, bia (%)

Trang 17

Tây Thái Bình Dương Nữ 55,5

Dựa trên các cuộc điều tra được tiến hành trong khoảng thời gian từ năm

1993 đến năm 2009 cho thấy: Ở khu vực châu Âu thì có 87,4% nam giới và 75,4% nữ giới từ 15 tuổi trở lên sử dụng rượu bia, đây là khu vực có tỷ lệ sử dụng rượu bia cao nhất Thế giới Khu vực châu Mỹ: tỷ lệ này là 84,8% và 72,6% Ở khu vực Đông Địa Trung Hải và Đông Nam Á: tỷ lệ nữ giới sử dụng rượu bia rất thấp (6,6% và 7,2%) [29]

1.2.2 Các loại rượu bia thường được sử dụng trên Thế giới

Sự khác biệt về địa lý dẫn đến sự khác nhau về sử dụng các loại rượu bia Rượu nặng được tiêu thụ nhiều nhất ở các nước châu Á và Đông Âu Rượu nhẹ được tiêu thụ nhiều ở một số nước châu Âu và một số nước ở Nam Mỹ như: Argentina và Chile Sự khác biệt trong truyền thống của người châu Âu, ở phía Bắc châu Âu người ta thích uống bia trong khi người ở phía Nam châu Âu lại thích uống rượu nhiều hơn Ở Tây Ban Nha đồ uống có cồn phần lớn mọi người thường sử dụng là bia, trong khi ở Thụy Điển lại là rượu nhẹ Các nước ở Tây Bán Cầu, Bắc Âu, nhiều nước châu Phi và Australia đồ uống có cồn được tiêu thụ nhiều nhất là bia[23], [29]

Trên toàn cầu hơn 45% tổng số rượu bia sử dụng được ghi nhận là ở dạng rượu mạnh, chủ yếu là ở Đông Nam Á (ASEAN) và Tây Thái Bình Dương (WPR) Khoảng 36% tổng số rượu bia sử dụng được ghi nhận là bia, tiêu thụ cao nhất ở khu vực châu Mỹ (AMR) Khoảng 8,6% là rượu nhẹ, chủ yếu ở khu vực châu Âu và khu vực Nam Mỹ Các loại rượu bia khác (như rượu gạo, đồ uống lên men khác làm từ lúa mỳ, kê, ngô) được ghi nhận nhiều nhất ở khu vực châu Phi (AFR) và Đông Địa Trung Hải (EMR) [29]

Trang 18

Bảng 1.3 Các loại rượu bia được sử dụng theo khu vực [29]

Khu vực của WHO Rượu

nặng (%) Bia (%) Rượu nhẹ (%) Khác (%)

Đông Địa Trung Hải (EMR) 25,2 37,8 5,7 31,3

Tây Thái Bình Dương (WPR) 54,0 35,5 3,6 6,9

Biểu đồ 1.1: Lượng bia tiêu thụ trong năm 2011 [16].

Trang 19

Tỷ lệ sử dụng rượu bia ở Việt Nam ngày càng gia tăng nhanh và đang ở mức báo động Tổng kết năm 2015, ngành rượu bia đạt sản lượng 3,17 tỷ lít bia

và khoảng 360 triệu lít rượu Trong 10 năm qua, tốc độ tiêu thụ bia của người Việt Nam đã tăng hơn 200%, có đến 90% nam giới của Việt Nam uống rượu, bia; trong đó, 1/4 trong số này sử dụng rượu bia ở mức độ có hại Theo thông kê tại Việt Nam, các rối loạn do lạm dụng rượu (14%) là nguyên nhân hàng đầu của gánh nặng bệnh tật ở nam giới, tiếp đến là trầm cảm (11%) và TNGT (8%) Khoảng 60% các vụ bạo lực gia đình, gần 30% số vụ gây rối trật tự xã hội và gần 70% vụ TNGT là do sử dụng rượu, bia; 15% số giường ở bệnh viện tâm thần là dành cho người nghiện rượu, đây là những con số đáng báo động Năm

2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chính sách Quốc gia phòng, chống tác hại của lạm dụng rượu, bia Trong đó, có các biện pháp hiệu quả như tăng thuế, hạn chế tính sẵn có của rượu, bia (cấm bán tại một số địa điểm và thời gian nhất định, đăng ký, cấp phép…), cấm và hạn chế quảng cáo, khuyến mãi, tài trợ, cấm

sử dụng rượu, bia trong thời gian làm việc, cấm lái xe có sử dụng rượu, bia[4] Những năm gần đây, rượu SXTC không bảo đảm chất lượng hoặc các loại rượu được sản xuất/chế biến không hợp pháp đang là vấn đề rất đáng lo ngại ở Việt Nam Theo thông lệ phân loại quốc tế, những đồ uống có cồn không chính thống này chiếm tỷ trọng rất cao, ước tính có thể chiếm tới khoảng 70% mức tiêu thụ bình quân/người/năm ở Việt Nam (WHO, 2012) Tình trạng gian dối trong kinh doanh rượu hoặc rượu tự pha chế, chủ yếu là pha Methanol gây hậu quả chết người vẫn còn ghi nhận tại một số địa phương

Việt Nam còn đang phải đối mặt với tình trạng gia tăng nhanh tỷ lệ vị thành niên và thanh niên sử dụng rượu bia Tỷ lệ sử dụng rượu bia trong vị thành niên và thanh niên đã tăng gần 10% sau 5 năm (từ 51% năm 2003 lên 60% năm 2008) Năm 2008, tỷ lệ có sử dụng rượu bia là 79,9% đối với nam giới và 36,5% với nữ giới, trong đó có 60,5% nam giới và 22% nữ giới cho biết

đã từng say rượu bia Tỷ lệ có sử dụng rượu bia trong nhóm tuổi không được pháp luật cho phép (14-17 tuổi) đã tăng từ 34,9% lên 47,5% và trong độ tuổi 18-21 cũng đã tăng từ 55,9 lên 67%[6]

Trang 20

1.2.3.2 Tuổi bắt đầu sử dụng rượu

Độ tuổi từ 25-34 có tỷ lệ uống nhiều nhất (48,6%), kế đến là tuổi từ 20-24 (34,9%), từ 35 tuổi trở lên (11,6%), uống ít bia là độ tuổi 18-19 (4,8%) Người

Hà Nội thường xuyên uống bia nhất, với hơn 50% người tham gia khảo sát uống bia 2-3 lần/tuần và tỷ lệ uống bia cũng cao hơn các tỉnh thành khác Tại thành phố Hồ Chí Minh, tần suất uống bia thấp hơn nhưng có hơn 50% trả lời thường xuyên uống 3-4 lần/tháng Tuy vậy, không có sự khác biệt rõ về mức độ thường xuyên uống bia ở các địa phương khác nhau Tần suất uống bia phân theo nhóm tuổi và khu vực được thể hiện trong bảng sau [16]:

Biểu đồ 1.2: Tần suất uống bia

theo độ tuổi [16]

Biểu đồ 1.3: Tần suất uống bia

theo địa phương [16]

Trang 21

Ngoài ra cùng với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi khu vực; lượng rượu bia tiêu thụ cũng gia tăng do sự gia tăng về mức sống Có sự tương quan chặt chẽ giữa mức độ sử dụng rượu bia với điều kiện kinh tế của mỗi cá nhân, mỗi gia đình và từng cộng đồng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Quá trình toàn cầu hoá và tự do hoá thương mại đang diễn ra nhanh chóng cùng với quy luật thị trường; các công ty sản xuất và kinh doanh rượu bia lớn trên thế giới đang hướng tới thị trường giàu tiềm năng tiêu thụ đó là các quốc gia đang phát triển, nhất là các nước ở châu Á Vì vậy, đây cũng là một nhân tố làm gia tăng tình trạng sử dụng rượu bia tại nhiều nước đang phát triển [28].Không chỉ thế, truyền thống văn hoá, phong tục tập quán và chuẩn mực hành vi cũng là những nhân tố quan trọng chi phối trực tiếp tới mức độ sử dụng rượu bia của mỗi cá nhân cũng như từng khu vực Định kiến, quan niệm của cộng đồng về hành vi sử dụng rượu bia có sự khác biệt rất rõ theo mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi tôn giáo… Tuy nhiên, nhìn chung uống rượu bia là một hành động được nhiều xã hội chấp nhận và được coi là một nét văn hoá truyền thống của nhiều quốc gia Rượu bia thường hay được sử dụng trong các dịp lễ, hội, các cuộc vui chơi giải trí, các sự kiện văn hoá, thể thao lớn [21], [28] Những

cá nhân sinh ra trong gia đình có truyền thống sử dụng rượu bia và nghiện rượu cũng rất dễ trở thành người nghiện rượu Áp lực nhóm cũng là nguyên nhân làm gia tăng việc sử dụng rượu, đặc biệt là đối với nhóm người trẻ tuổi Không chỉ thế, tại các điểm bán rượu như quán bar, quán rượu… người uống rượu nhiều khi bị bắt buộc phải sử dụng không chỉ vì áp lực trong nhóm mà còn vì những quy định mang tính ép buộc của chủ quán….[28]

Tại Việt Nam, điều tra Y tế Quốc gia 2001-2002 cho thấy: 45,7% nam giới và 1,9% nữ giới từ 15 tuổi trở lên có uống rượu bia từ 1 lần trở lên trong một tuần và mỗi lần uống từ 100ml rượu hoặc 1 lon/chai bia trở lên [2] Điều tra SAVY 1- năm 2005 cho thấy: tỷ lệ thanh thiếu niên nam (14-25 tuổi) sử dụng bia là 69% và ở nữ thanh niên là 28,1% [7]

Về sự khác biệt trong sử dụng rượu bia giữa các nhóm tuổi, các nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ nam giới uống rượu bia tăng mạnh trong nhóm tuổi dưới 25

và đạt đỉnh cao ở nhóm tuổi 35-45 [2], [3]

Trang 22

1.3 Tác hại của sử dụng rượu, bia không hợp lý (lạm dụng)

1.3.1 Khái niệm lạm dụng rượu

Một người uống rượu tuy chưa nghiện, nhưng vẫn có thể làm hại cho sức khỏe Do vậy dù vô tình hay chỉ là để tuân thủ những tập tục mà sử dụng rượu với mức độ không thích hợp dẫn đến sự biến đổi về chức năng hoặc xuất hiện một số dấu hiệu về lâm sàng thì được coi là lạm dụng [14]

1.3.2 Khái niệm nghiện rượu

Nghiện rượu theo ý niệm xã hội là sự thèm muốn mãnh liệt dẫn đến đòi hỏi thường xuyên phải uống rượu gây lên rối loạn tư cách, thói quen, khả năng lao động và giao tiếp xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe và hao tổn về kinh tế Còn theo Y học thì nghiện rượu là một loại bệnh nằm trong nhóm bệnh lý nghiện chất Toxicomanie được mã hóa F10-F19 Theo tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10 thì một người được coi là nghiện rượu khi có 3 trong 6 triệu trứng sau:

- Thèm muốn lãm liệt hoặc cảm thấy bắt buộc phải sử dụng rượu

- Khó khăn trong việc kiểm tra tập tính sử dụng: thời gian, mức độ uống hàng ngày

- Xuất hiện hội chứng cai khi ngừng sử dụng rượu, bia hoặc giảm liều, cụ thể là: lo âu, vã mồ hôi, nôn múa, co rút, trầm cảm, đau mỏi, rối loạn nhịp tim, thô bạo…, và có ý định uống rượu lại để né tránh hoặc giảm nhẹ hội trứng cai

- Tăng mức độ dung nạp

- Dần dần sao nhãn những thú vui hoặc sở thích trước đây

- Vẫn tiêp tục uống mặc dù đã hiểu rõ tác hại của rượu đối với cơ thể và tâm thần

Chẩn đoán hội chứng nghiện rượu bia khi có từ 3 biểu hiện trên trong

vòng 1 năm sẽ được chẩn đoán là nghiện rượu [14]

1.4 Tác hại của rượu, bia và một số nghiên cứu về sử dụng rượu bia trên Thế giới và Việt Nam

1.4.1 Tác hại của rượu, bia

1.4.1.1 Hậu quả đối với sức khỏe

Việc sử dụng có hại của rượu là một trong những nguy cơ sức khỏe hàng đầu thế giới Nó là một yếu tố nguyên nhân trong hơn 60 loại chính của bệnh tật

Trang 23

và thương tích và kết quả trong khoảng 2,5 triệu ca tử vong mỗi năm Tác hại này cho nhiều người chết hơn gây ra bởi HIV/AIDS hoặc bệnh lao Như vậy, 4% của tất cả các trường hợp tử vong trên toàn thế giới là do rượu Có hại sử dụng rượu là đặc biệt nghiêm trọng đối với nhóm tuổi trẻ và rượu là hàng đầu thế giới yếu tố nguy cơ tử vong ở nam giới tuổi từ 15-59 Khoảng 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu và chấn thương là do rượu Sử dụng rượu được ước tính gây ra từ 20% đến 50% bệnh xơ gan, động kinh, ngộ độc, tai nạn giao thông đường bộ, bạo lực và một số dạng ung thư[29]

Rối loạn tâm thần cấp (say rượu): là hậu quả của nhiễm độc rượu nhất thời, thường xảy ra ở những người uống quá ngưỡng dung nạp Nghiện rượu: có khoảng 10% người nghiện rượu sẽ rối loạn tâm thần ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời Người bệnh trở nên thô bạo, bê tha, giảm sút tình cảm đạo đức, khả năng phê phán giảm rõ rệt, phẩm chất xã hội thoái hóa dần, khả năng làm việc giảm sút… Trí tuệ, trí nhớ, khả năng sáng tạo đều giảm, tư duy trở nên thủ cựu, người bệnh đi vào trạng thái sa sút tâm thần Từ từ sẽ dẫn đến loạn thần do rượu: là nhóm các biểu hiện rối loạn tâm thần, phát sinh và phát triển liên quan trực tiếp đến nghiện rượu Loạn thần do rượu biểu hiện bằng các rối loạn cảm xúc, hành vi, hoang tưởng, ảo giác…

Ảo giác do rượu: Thường gặp ở người nghiện rượu lâu ngày, nổi bật là các loại ảo giác, thường là những ảo giác thật Ảo giác do rượu có thể khởi phát cấp tính hay từ từ và thường nặng lên về chiều tối

Hoang tưởng do rượu: Là một dạng loạn thần do rượu Hoang tưởng do rượu là một hội chứng hay là một thể bệnh của loạn thần do rượu Hoang tưởng ghen tuông và hoang tưởng bị hại là những biểu hiện lâm sàng chủ yếu của hoang tưởng do rượu

Bệnh loạn thần Korsakov: Đây là một trong các thể bệnh não thực tổn mạn tính do rượu Hội chứng mất trí nhớ và viêm đa dây thần kinh là dấu hiệu chủ yếu của bệnh[9]

Xét trên phương diện các tác động trực tiếp và gián tiếp của đồ uống có cồn đến hàng loạt các cơ quan trong cơ thể thì rượu bia là chất độc Mức độ tác hại đối với sức khỏe do sử dụng rượu bia với từng cá nhân là khác nhau, tùy

Trang 24

thuộc vào các yếu tố như: tuổi; giới tính; đặc điểm sinh học; mức dung nạp bình quân; địa điểm, bối cảnh và cách thức uống của người sử dụng,

1.4.1.2 Gánh nặng về kinh tế

Chi phí để khắc phục các hậu quả của chứng nghiện rượu là rất lớn, vì bên cạnh gánh nặng của hệ thống y tế là các phí tổn gián tiếp như mất năng suất kinh tế quốc dân vì mất khả năng lao động và về hưu non; các phí tổn do tai nạn giao thông có nguyên nhân là rượu; tội phạm và tỷ lệ ly dị cao của những người nghiện rượu; chi phí y tế mà xã hội phải trợ cấp để chữa những bệnh có nguyên nhân bởi bia rượu; hay đó là những tổn thất tinh thần mà vợ con người nghiện phải chịu đựng… Những chi phí này khó được tính đến trong đo lường thiệt hại

về mặt kinh tế của vấn đề sử dụng rượu bia [25] Ước tính các quốc gia chi tiêu khoảng 2-5% GDP cho rượu bia Một số quốc gia đã phải chi tiêu xã hội cho rượu bia tới 6 tỷ USD (Nhật Bản), hoặc lên tới 190 tỷ USD (Mỹ), trong đó 20% cho các chi phí trực tiếp như chi cho các dịch vụ y tế, xã hội và pháp luật; 10% chi phí cho thiệt hại về vật chất, 70% chi phí cho thiệt hại do chết sớm, mất việc làm và giảm năng suất lao động [27]

1.4.1.3 Ảnh hưởng của rượu bia tại Việt Nam

Việc sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông cũng là một trong những nguyên nhân gây nên các vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng Nghiên cứu rượu bia với TNGT ở Việt Nam do Hoàng Thị Phương, Vũ Thị Minh Hạnh, Đàm Viết Cương thuộc Viên Chiến lược và Chính sách Y tế cho biết 6,7% TNGT liên quan đến rượu bia và trong tổng số tai nạn thương tích liên quan đến rượu bia thì 28% người điều khiển phương tiện giao thông bị thương tích có sử dụng rượu bia, 33,8% nạn nhân tử vong do TNGT được xét nghiệm có nồng độ cồn trong máu, trong đó 71% nạn nhân lái mô tô, xe máy[11]

Rượu cũng là một nguyên nhân gây mất an toàn giao thông Theo một thống kê của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia: có đến 40% các vụ TNGT

có liên quan đến rượu bia và kết quả một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy: trong số nạn nhân tử vong do TNGT thì có tới 34% trường hợp có nồng độ cồn trong máu cao hơn mức cho phép[9]

1.4.1.4 Tác hại của rượu bia đến gia đình và xã hội

Trang 25

Bản thân việc uống rượu không phải hoàn toàn là xấu, nhưng trong một số hoàn cảnh nhất định rượu có thể gây hại đối với một số vấn đề của gia đình và

xã hội Rượu đóng một vai trò khá lớn đối với vấn đề xung đột, bạo lực gia đình dẫn đến tình trạng li hôn Theo kết quả một nghiên cứu tại Việt Nam: 60% bạo lực gia đình xuất phát từ việc say rượu Một nghiên cứu khác về vấn đề bạo lực gia đình cho thấy rằng những tình huống dẫn tới bạo lực theo nhận thức của phụ

nữ từng bị bạo lực thể xác do chồng gây ra khi say rượu chiếm tỷ lệ 33.7%[9]

1.4.1.5 Hậu quả khác

Sử dụng rượu bia có liên quan đến vấn đề phạm tội như cướp giật, hành hung, cãi vã, gây rối trật tự công cộng… Tại Bỉ có 20% tội phạm hình sự, 40% các trường hợp bạo lực có liên quan đến sử dụng rượu bia[24]

Rượu làm gia tăng tỉ lệ phạm tội như: gây rối trật tự công cộng, gây ra rất nhiều các vụ án hiếp dâm, cướp của, giết người thương tâm…

Rượu cũng làm gia tăng tỉ lệ tự sát, kết quả một điều tra cho thấy: có tới 67% các vụ tự sát có liên quan đến sau khi dùng rượu[9]

1.4.2 Một số nghiên cứu về sử dụng rượu bia trên Thế giới và Việt Nam

Điều tra Y tế quốc gia Scotland năm 2009 cho thấy: lượng rượu nguyên chất bán ở Scotland tương đương với 1190 đơn vị/người/năm (16 tuổi trở lên),

Trang 26

điều tra này tương đương với mức trung bình 22,9 đơn vị/tuần Số lượng trung bình các đơn vị rượu tiêu thụ hàng tuần của cà nam giới và nữ giới đều giảm từ năm 2003 Đối với nam giới, mức tiêu thụ trung bình hàng tuần năm 2003 là 20,3 đơn vị so với 17,5 đơn vị năm 2009 Đối với nữ giới, con số này giảm từ 9,1 đơn vị năm 2003 xuống còn 7,8 đơn vị năm 2009 Nam giới trong độ tuổi từ 16-24 tuổi có mức tiêu thụ hàng tuần cao nhất ở mức 22,7 đơn vị/tuần, sau đó là

độ tuổi 45-54 tuổi với mức 20,2 đơn vị/tuần[30]

1.4.2.2 Tại Việt Nam:

Nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi sử dụng rượu bia của vị thành niên và thanh niên trên địa bàn Chililab, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cho kết quả: tỷ lệ đã từng SDRB của vị thành niên và thanh niên trong toàn mẫu là 43,8%; độ tuổi 15-24 tuổi là 55,6%; nam 57,4%; nữ 30,7%[12]

Nghiên cứu thực trạng SDRB và một số yếu tố liên quan của nam giới từ 15-60 tuổi tại xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, Hà Nội năm 2014 cho kết quả: tỷ

lệ uống hết 1 đơn vị rượu trong nhóm nam giới 15-60 tuổi là 90,8%, tỷ lệ SDRB trong vòng 1 năm trở lại đây là 87,1% và 1 tuần là 66,9%; tỷ lệ phụ thuộc rượu bia là 3,0% Nhóm có nghề nghiệp: Công chức/Viên chức Nhà nước có tỷ lệ SDRB là 84,6%; người làm công viêc khác (xe ôm, nghề tự do) là 81,8% Nam giới uống rượu bia với tần suất hàng ngày là 26,4%; loại rượu bia thường uống:

Trang 27

rượu tự nấu/bia sản xuất thủ công 67,3% Chỉ có 36,4% số người trả lời được nghe thông tin hoặc quảng cáo về rượu bia, kênh truyền thông tivi là kênh cung cấp thông tin về rượu bia phổ biến nhất 91,9%; hơn 80% số người trả lời thỉnh thoảng có nghe thông tin về rượu bia[17] Trong nghiên cứu này co ta thấy loại rượu, bia mà ĐTNC thường uống là rượu tự nấu/bia sản xuất thủ công 67,3% Trong 10 năm trở lại đây đã có một số nghiên cứu về việc SDRB, về lạm dụng rượu và nghiện rượu được tiến hành tại nước ta và đã cung cấp một số thông tin chung về tình hình SDRB của người dân Tuy vậy những nghiên cứu

đi sâu vào từng nhóm đối tượng cụ thể và chưa có đầy đủ thông tin về việc sử dụng rượu thủ công của từng nhóm đối tượng

1.4.2.2.2 Một số yếu tố liên quan:

Sự khác nhau giữa các nhóm nghề nghiệp, học vấn và kinh tế chưa được thể hiện rõ ràng ở các nghiên cứu sẵn có Theo trình độ học vấn, kết quả Điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002 cho thấy: tỷ lệ uống rượu bia ở nhóm nam giới có trình độ trên cấp III là khoảng 60% so với tỷ lệ uống rượu bia của nam giới từ cấp III trở xuống chỉ tập trung ở mức khoảng 40% [2] Theo kết quả nghiên cứu về tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt Nam của Viện Chiến lược

và Chính sách y tế năm 2006: tỷ lệ người không biết chữ SDRB ít nhất 1 lần 1 tuần là 30%, trong khi người có trình độ trên đại học là 77% [10] Vậy trong những nghiên cứu này cho thấy những ĐTNC có trình độ học vấn càng cao thì

tỉ lệ uống rượu bia của ĐTNC càng cao Theo nhóm nghề, nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế cũng cho thấy: nhóm cán bộ nhà nước SDRB nhiều hơn nhóm nông dân và nghề khác (49% so với 35% và 20%) [10] Nghiên cứu tại một huyện đồng bằng sông Hồng cũng cho thấy: nhóm cán bộ công nhân viên chức có xu hướng uống bia rượu nhiều hơn nhóm nông dân và nghề khác (91% so với 85-87%) [26] Các báo cáo này cho thấy tỉ lệ nhóm cán bộ nhà nước sử dụng rượu bia cao hơn rất nhiều so với những ngành nghề khác, tuy nhiên các báo cáo hiện nay chưa thấy có sự khác biệt rõ ràng về tỷ lệ SDRB

ở các nhóm kinh tế khác nhau, tỷ lệ người thuộc nhóm nghèo ở vùng nông thôn

và thành thị

Trang 28

Theo Điều tra Y tế Quốc gia (2002): 53% hộ gia đình có ít nhất 1 người uống rượu bia trong tuần qua (45% nam, 2% nữ); nam giới uống rượu là những người làm công tác quản lý, lãnh đạo là 69%, nhân viên văn phòng là 67%, người dân tộc thiếu số uống rượu nhiều hơn dân tộc Kinh là 90%, người uống rượu do có ảnh hưởng từ gia đình và bạn bè[2] Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rõ những người làm công tác, lãnh đạo, nhân viên văn phòng có xu hướng

sử dụng rượu bia nhiều hơn các ngành nghề khác và những người dân tộc thiểu

số uống rượu nhiều hơn dân tộc kinh tới 90%

Khu vực thị trấn cao hơn khu vực thị xã (47,7% so 40,2%) Tỷ lệ SDRB tăng tỷ lệ thuận với sự tăng lên của độ tuổi, trình độ học vấn, mức độ giàu có của điều kiện kinh tế gia đình, những nghề tự do, không ổn định hay thất nghiệp thì có tỷ lệ nhiều hơn Nghiên cứu này khác những nghiên cứu [2],[10],[26] là

đã tìm thấy được có mối liên quan giữa điều kiện kinh tế tỷ lệ thuận với việc sử dụng rượu bia Có 40,7% ĐTNC có người thân trong gia đình thường xuyên uống rượu hàng ngày hoặc nghiện rượu (bố 33,3%) Nam vị thành niên và thanh niên có nguy cơ SDRB hơn nữ 3,5 lần, nguy cơ say cao hơn 4,9 lần Nhưng với 30,7% nữ đã từng SDRB và 10,1% đã từng say theo nghiên cứu của Hoàng Văn Huỳnh[12]

Những người cho rằng: uống rượu bia có lợi có khả năng sử dụng rượu bia cao gấp 2,2 lần so với những người cho rằng uống rượu bia không có lợi ích gì (95%CI =1,3-3,7) theo nghiên cứu của Nguyễn Hiền Vương[17]

Những người có bạn thân thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ SDRB cao hơn so với những người có bạn thân không thường xuyên SDRB: theo nghiên cứu của Nguyễn Hiền Vương là 5,9 lần (95%CI =2,7-13,1)[17], theo nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh là 7,14 lần (95%CI =2,53-20,16)[1], theo nghiên cứu của Hoàng Văn Huỳnh là 2,7 lần (p<0,001)[12] Nông dân SDRB là 73,7%, cán bộ công chức/viên chức Nhà nước là 68,4%, những người không nghề nghiệp 66,7% Nhóm có trình độ học vấn cấp 1 là 73% và trên cấp 3 là 69,2% Chủ yếu đối tượng lạm dụng rượu bia là ở độ tuổi 45-54 tuổi (42,4%),

có trình độ học vấn cấp 2 hoặc cấp 3 (78,8%) và nông dân là (45,5%)[1] Mối

Trang 29

liên quan giữa bạn thân thường xuyên sử dụng rượu bia với tỷ lệ sử dụng rượu bia của ĐTNC thì kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh là cao nhất 7,14 lần

so với các nghiên cứu khác Tuy nhiên nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh còn cho

ta thấy là độ tuổi lạm dụng rượu bia nhiều nhất ở độ tuổi 45-54

Những người có thái độ đồng ý với quan điểm cho rằng: áp lực nhóm (bạn bè) có ảnh hưởng đến việc uống rượu bia có nguy cơ uống rượu bia cao hơn so với nhóm không đồng ý quan điểm này theo nghiên cứu của Vũ Thị Mai Anh là 2,43 lần (95%CI = 1,04-5,67)[1], theo nghiên cứu của Nguyễn Hiền Vương là 1,8 lần (95% CI = 1,0-3,2)[17] Quan điểm áp lực nhóm rất quan trọng với việc

sử dụng rượu bia của ĐTNC, hầu hết tất cả các nghiên cứu điều tìm thấy được mối liên quan giữa áp lực nhóm với việc sử dụng rượu bia của ĐTNC

Những người có cán bộ lãnh đạo và quản lý tại nơi làm việc hoặc ở địa phương thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ uống rượu bia cao hơn so với những người có lãnh đạo và quản lý tại nơi làm việc hoặc ở địa phương không thường xuyên uống rượu bia là 3,03 lần (95% CI =1,4-6,6)[17] Kết quả này cho thấy các cán bộ lãnh đạo, quản lý có ảnh hưởng rất lớn với việc uống rượu bia của ĐTNC, các nghiêu cứu trước đây thì không tìm ra được mối liên quan này

1.5 Thông tin khái quát chung về xã An Ninh

Tháng 11 năm 1983, xã An Ninh còn rộng bằng địa dư 2 xã: An Ninh và

An Hiệp hiện nay Phía Bắc giáp với xã Hồ Đắc Kiện, phía Tây giáp với xã Mỹ Hương, phía Nam giáp với xã Phú Mỹ thuộc huyện Mỹ Tú, phía Đông tiếp giáp với thị xã Sóc Trăng (nay là TP Sóc Trăng)

Diện tích tự nhiên lúc đó rộng 7.400 ha, diện tích canh tác 6.300 ha; dân

số 26.327 người, gồm 5.200 hộ; nam chiếm 12.117 và nữ 14.210, và có 11 ấp Đến tháng 5/1985 sau khi An Ninh và An Hiệp được tách ra thì diện tích

tự nhiên của xã An Ninh còn lại là 3.954 ha và có dân số là 14.995 người

Hiện nay, xã An Ninh thuộc huyện Châu Thành, Sóc Trăng (được tách ra

từ huyện Mỹ Tú vào ngày 6/01/2009) có 3.417 hộ, dân số 13.953 người và diện tích tự nhiên 3.333ha Là xã nông thôn, phát triển kinh tế chính là nông nghiệp

Trang 30

lúa nước, kết hợp với vườn cây ăn quả và chăn nuôi nhỏ, kinh doanh mua bán

nhỏ, điều kiện kinh tế còn khó khăn và có 3 dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer) cùng

sinh sống trên địa bàn xã An Ninh có 9 ấp, gồm: Châu Thành, Kinh Mới, Phú

Ninh A, Phú Ninh, Hòa Quới, Xà Lan, Chông Nô, Hòa Long, Hòa Long A

1.6 Khung lý thuyết:

Trang 31

 

2 2

1

d

p p

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Nam giới từ 15-60 tuổi sống tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng

Lý do chọn cả đối tượng dưới 18 tuổi là: Một trong những đối tượng ưu tiên của Chính phủ -thể hiện rất rõ trong chính sách quốc gia mới ban hành 02/2014 –Là nhóm trẻ vị thành niên, trong đó lứa tuổi 15 -17 tuổi là nhóm có nguy cơ cao với việc tiếp xúc và sử dụng rượu bia Đây cũng là nhóm khá đặc biệt để nghiên cứu về sử dụng rượu cho người chưa trưởng thành

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Nam giới có tuổi nằm trong khoảng 15 đến 60

- Nếu ĐTNC dưới 18 tuổi, khi lấy số liệu phải có sự đồng ý của phụ huynh

- Đang sống tại địa bàn nghiên cứu có thời gian tạm trú trên 1 năm

- Có khả năng trả lời phỏng vấn và đồng ý cho PVĐT, trả lời phỏng vấn

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người từ chối phỏng vấn

- Người trong trạng thái không tỉnh táo/say rượu

- Những đối tượng không đáp ứng được tiêu chuẩn lựa chọn của nghiên cứu

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian: từ tháng 01/2016 đến tháng 8/2016

- Địa điểm: tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng

2.2 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, phương pháp định lượng, có phân tích

Phương pháp: PVĐT trực tiếp ĐTNC theo Bộ công cụ đã được hiệu chỉnh

2.3 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.3.1 Cỡ mẫu

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:

Trang 32

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra

Z: là độ tin cậy, lấy ở ngưỡng xác suất α = 0.05 Z 1-α/2 = 1.96

p: tỷ lệ nam giới sử dụng rượu bia là 44% (p= 0,44), tham khảo từ kết quả nghiên cứu “Nghiên cứu về sử dụng rượu bia tại Việt Nam”[17]

d: sai số chấp nhận, chọn d = 0,06

Thay vào công thức, tính cỡ mẫu tối thiểu là 262 người Lấy thêm dự phòng 15% do từ chối tham gia hoặc không gặp, bỏ cuộc Cỡ mẫu nghiên cứu làm tròn là 300 Trên thực tế, nhóm nghiên cứu đã phỏng vấn được 279 người

2.3.2 Phương pháp chọn mẫu

Các đối tượng được chọn tại hộ gia đình Mỗi gia đình chọn 01 đối tượng

đủ tiêu chuẩn để tham gia nghiên cứu

Chọn hộ gia đình theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống với trình tự sau:

Bước 1: Lập danh sách hộ gia đình theo từng ấp Đánh số thứ tự từ 1 đến

N (3147) vào danh sách tất cả các ấp

Bước 2: Xác định khoảng cách mẫu: k = N/n (N là tổng số hộ của ấp, n là

số hộ chọn vào mẫu); k=3417/300 ≈ 11

Bước 3: Bắt thăm ngẫu nhiên từ các số đếm trong khoảng cách (1-k) để

xác định số thứ tự của hộ đầu tiên trong danh sách hộ của ấp là j và số thứ tự

các hộ tiếp theo = số thứ tự hộ đứng trước là (j + k), hộ tiếp theo là (j + 2k)

Với khoảng cách k và cỡ mẫu thì dự kiến số hộ chọn theo từng ấp sẽ là:

Tên địa bàn ấp Số hộ Số mẫu

Trang 33

Ấp Hòa Long 347 30

Bước 4: Chọn đối tượng PVĐT: tại mỗi hộ gia đình, chọn người phỏng

vấn theo tiêu chuẩn chọn mẫu đưa vào nghiên cứu, nếu có nhiều người đáp ứng được tiêu chuẩn chọn mẫu thì sẽ bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra một người

2.4 Điều tra viên, giám sát viên

2.4.1 Điều tra viên

Điều tra viên (ĐTV) là học viên Cao học trường đại học Y tế công cộng và một số cộng tác viên của xã, đây là những người có kinh nghiệm trong các cuộc điều tra cộng đồng mà tuyến xã (Ủy ban nhân dân, Trạm y tế) thực hiện

2.4.2 Giám sát viên

Giám sát viên (GSV) là học viên thực hiện đề tài nghiên cứu, trong quá trình phỏng vấn thực địa, GSV giám sát qui trình thu thập số liệu và chất lượng cuộc phỏng vấn thu thập số liệu thực địa của các ĐTV, GSV cũng đã góp ý ĐTV để có được chất lượng tối ưu của cuộc phỏng vấn

GSV kiểm tra phiếu do ĐTV phỏng vấn nhằm đảm bảo thông tin thu được không bỏ sót, có chất lượng GSV tổng hợp phiếu hàng ngày và cập nhật tiến độ thu thập số liệu, hỗ trợ điều tra viên, giải quyết các vấn đề phát sinh ở thực địa

2.4.3 Người dẫn đường

Là cộng tác viên y tế ấp của mỗi ấp và sự tham gia của Ban nhân dân ấp, cộng tác viên dân số và sự hỗ trợ của cán bộ Trạm y tế xã

2.5 Qui trình thu thập số liệu

2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin

Tiến hành PVĐT các ĐTNC trong danh sách theo Bộ công cụ có cấu trúc được thiết kế sẵn và đã được hiệu chỉnh qua phỏng vấn điều tra thử tại thực địa

Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn gồm 3 phần: thông tin chung về ĐTNC, thông tin

về thực trạng SDR, thông tin về một số yếu tố liên quan đến SDR (kiến thức về lợi ích, tác hại của việc uống rượu, thái độ với hành vi uống rượu trong một số tình huống gợi ý, thông tin về gia đình, bạn bè, xã hội…)

Trang 34

2.5.2 Công cụ thu thập thông tin

Phiếu phỏng vấn cấu trúc với đối tượng là nam giới tại địa bàn nghiên cứu Bộ câu hỏi điều tra đã được thiết kế sẵn

2.5.3 Tổ chức thực hiện thu thập số liệu

Qui trình tiếp cận tuyển chọn đối tượng phỏng vấn và thu thập thông tin được tiến hành quatừng bước sau:

2.5.4 Biến số nghiên cứu

Nhóm biến số phục vụ cho mục tiêu 1:

Trang 35

Xác định tỷ lệ sử dụng rượu của nam giới tại địa bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng gồm:

- Các biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn…)

- Các biến số về thực trạng sử dụng rượu của đối tượng nghiên cứu (đã từng uống rượu, loại rượu, lần đầu uống rượu, mức độ sử dụng, thời điểm sử dụng…)

Nhóm biến số phục vụ cho mục tiêu 2:

Mô tả một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng rượu của nam giới tại địa

bàn xã An Ninh, huyện Châu Thành, Sóc Trăng gồm:

- Các biến số về kiến thức của đối tượng nghiên cứu (lợi ích của việc uống

rượu, lượng rượu có lợi, có hại…)

- Các biến số về thái độ của đối tượng nghiên cứu (thái độ với quan điểm

của cộng đồng về việc sử dụng rượu, thái độ với áp lực nhóm

- Các biến số về gia đình, bạn bè, truyền thông và chính sách kiểm soát (gặp rắc rối với gia đình/bạn bè, việc uống rượu của người thân, của người lãnh

đạo, quản lý…)

2.6 Một số qui ước, thước đo dùng trong nghiên cứu

Thái độ của ĐTNC về một số quan điểm cho trước liên quan đến việc sử dụng rượu Mỗi một quan điểm có 5 mức độ đánh giá, các quan điểm được cho điểm như sau: phần E

Hoàn toàn đồng ý: 1 điểm Đồng ý: 2 điểm Không biết: 3 điểm Không đồng ý: 4 điểm Hoàn toàn không đồng ý: 5 điểm

Có 12 câu hỏi về thái độ được đề cập đến trong bộ câu hỏi bao gồm: thái

độ về một số quan niệm ảnh hưởng của cộng đồng đối với việc uống rượu quan niệm về áp lực nhóm, quan niệm về những chính sách kiểm soát rượu và những quan niệm về tác động của rượu

Trang 36

 Nhóm 1: gồm 4 câu hỏi về quan niệm cộng đồng đối với việc uống rượu (D1-D4) Tổng điểm nhóm từ 4-20 điểm Những ĐTNC nào có tổng số điểm  12 điểm là thái độ tích cực và có lợi cho việc phòng ngừa tác hại của rượu những ĐTNC còn lại có thái độ tiêu cực với việc phòng ngừa tác hại rượu

 Nhóm 2: gồm 2 câu hỏi về áp lực nhóm đối với việc uống rượu D6) Tổng điểm từ 2-10 điểm Những ĐTNC nào có tổng số điểm  6 là có thái

(D5-độ tích cực còn lại có thái (D5-độ tiêu cực

 Nhóm 3: gồm 2 câu hỏi về những chính sách kiểm soát rượu (D7-D8) Tổng điểm từ 2-10 điểm Những ĐTNC nào có tổng số điểm  6 là có thái độ tích cực còn lại có thái độ tiêu cực

 Nhóm 4: gồm 4 câu hỏi về quan niệm tác động của rượu (D9-D12) Tổng điểm từ 4-20 điểm Những ĐTNC nào có tổng số điểm  12 là có thái độ tích cực còn lại có thái độ tiêu cực

2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Toàn bộ phiếu phỏng vấn đều được kiểm tra trước khi tiến hành nhập liệu

Số liệu thu thập được rà soát và được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1, xử lý

và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 19.0

Áp dụng các phương pháp phân tích: thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ %) và thống kê phân tích kiểm định 2 để tìm hiểu mối liên quan giữa các biến số

2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành sau khi có Quyết định số 160/2016/YTCC –HD3, ngày 29/02/2016 của Chủ Tịch Hội đồng Đạo đức, Trường Đại học Y tế công cộng về việc chấp hành (cho phép) các vấn đề đạo đức nghiên cứu Y sinh học

Nghiên cứu này được sự đồng ý của Lãnh đạo địa phương

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện nghiên cứu và cung cấp các thông tin chính xác Các đối tượng nghiên cứu ký vào phiếu đồng

ý tham gia nghiên cứu Mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận

Trang 37

Các số liệu của các cuộc phỏng vấn bằng bộ câu hỏi điều tra và của các cuộc phỏng vấn được giữ kín, đảm bảo tính riêng tư của các ĐTNC

Đảm bảo tính chính xác và trung thực đối với những thông tin thu được từ kết quả nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả và hoàn toàn không có hoạt động can thiệp trên ĐTNC

Kết quả điều tra được phản hồi lại cho nơi tiến hành nghiên cứu

2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu

Do nguồn lực và thời gian có hạn, nghiên cứu chỉ tiến hành trong phạm vi

1 xã nên không thể khái quát cho quần thể lớn hơn, như toàn huyện, tỉnh Tuy vậy nghiên cứu này có thể là tiền đề khai phá cho các nghiên cứu tiếp theo

Đo lường mức độ sử dụng rượu sản xuất thủ công hàng ngày có thể thiếu chính xác do phụ thuộc vào sự ước đoán của người trả lời

Sử dụng rượu sản xuất thủ công là hành vi cá nhân có độ nhạy cảm cao, nên các đối tượng nghiên cứu có thái độ dè chừng trong cung cấp thông tin

Có thể có sai số nhớ lại trong một số biến số

2.9.2 Biện pháp khắc phục

Giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu và tính chính xác của kết quả nghiên cứu Khẳng định sự tham gia tự nguyện của đối tượng nghiên cứu bằng phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu

Xây dựng bộ công cụ với những câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu Các câu hỏi về thực trạng sử dụng rượu được hỏi kỹ để khẳng định việc sử dụng rượu của ĐTNC Có câu hỏi lặp lại để hạn chế tối đa các sai số nhớ lại

Sử dụng những vật dụng quen thuộc của địa trương (hình ảnh) để đo lường mức sử dụng rượu Tiến hành phỏng vấn thử và điều chỉnh bộ câu hỏi phù hợp với đối tượng và địa bàn nghiên cứu

Tập huấn kỹ cho ĐTV, ĐTV hướng dẫn kỹ cho ĐTNC về cách thức trả lời

bộ câu hỏi phỏng vấn cũng như nói rõ mục đích, ý nghĩa của cuộc PVĐT này Lựa chọn cán bộ trong xã tham gia nghiên cứu

Trang 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua phỏng vấn trực tiếp 279 ĐTNC độ tuổi từ 15-60 tại địa bàn xã An

Ninh, huyện Châu, tỉnh Sóc Trăng, chúng tôi thu được một số kết quả như sau: 3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n=279)

Đặc điểm thông tin chung của ĐTNC Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Không việc/thất nghiệp/Nghỉ hưu 18 6,5

Trang 39

Bảng 3.1 trình bày thông tin chung của nam giới tham gia nghiên cứu Kết quả cho thấy: tỷ lệ ĐTNC có độ tuổi 35-44 chiếm nhiều nhất 33,0%, kế đến từ 45-54 tuổi chiếm 24,0%, từ 25-34 tuổi chiếm 20,8%, từ 55-60 tuổi là 15,1% và

độ tuổi 15-24 chiếm tỷ lệ ít nhất 7,2% Độ tuổi nhỏ nhất tham gia nghiên cứu là

16 tuổi và lớn nhất là 60 tuổi

Phần lớn là dân tộc Khmer 53,8%, dân tộc Kinh 44,8%

Hơn ¾ số người tham gia nghiên cứu đang có vợ (83,5%), người độc thân chiếm 13,6%, ly thân/ly dị chiếm 1,8% và tỷ lệ thấp nhất là góa vợ 1,1%

Trình độ học vấn là THCS chiếm cao nhất 41,2%, tiểu học và THPT tương ứng là 29,0% và 16,8%, học vấn trên THPT chiếm tỷ lệ thấp nhất 5,0%

và có 7,9% ĐTNC là không biết chữ

Gần ½ số ĐTNC là nông dân/làm nghề nông (44,4%), làm công nhân/lao động thủ công/nghề tự do chiếm khá cao 34,1%, buôn bán/kinh doanh chiếm 8,2%, ĐTNC không có việc làm/thất nghiệp/nghỉ hưu chiếm 6,5%, còn lại 4,7%

là công nhân/viên chức/làm việc văn phòng và 2,2% là học sinh/sinh viên

Bảng 3.2 Tình hình kinh tế gia đình và số người trong gia đình của ĐTNC

Đặc điểm thông tin chung của ĐTNC Tần số (n) Tỷ lệ (%) Kinh tế gia đình

Bảng 3.2 trình bày thông tin về tình hình kinh tế của gia đình và số người

ở chung hộ gia đình của ĐTNC trong nghiên cứu Kết quả cho thấy: Kinh tế gia

đình của ĐTNC ở mức độ trung bình chiếm tỷ lệ cao nhất 52,0%, ở mức độ nghèo chiếm tỷ lệ còn khá cao là 33,3% và cận nghèo chiếm 14,7% Có 53,8% người tham gia nghiên cứu sống trong gia đình có quy mô nhỏ (1-4 người) và

số còn lại là những người sống trong hộ gia đình có quy mô từ 5 người trở lên

Trang 40

3.2 Thực trạng sử dụng rƣợu của đối tƣợng nghiên cứu:

Biểu đồ 3.1 Thực trạng sử dụng rượu của ĐTNC (n=279)

Biểu đồ 3.1 trình bày thực trạng sử dụng rƣợu của ĐTNC Kết quả cho thấy: Có 256 ĐTNC trả lời là đã từng sử dụng rƣợu (91,8%) và có 23 ĐTNC trả lời là chƣa từng (không) sử dụng rƣợu (chiếm 8,2%)

Bảng 3.3 Tình trạng say rượu của ĐTNC trong 1 tháng qua

(n=279) Tỷ lệ (%) Say rƣợu trong

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w