1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị methadone tại trung tâm phòng, chống HIV AIDS nghệ an năm 2016

105 485 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chất dạng thuốc phiện Chất lượng cuộc sống Dịch vụ y tế Đối tượng nghiên cứu Vi rút viêm gan C Hepatitis C virus Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Human Immunodefic

Trang 1

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS NGHỆ AN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

NGUYỄN THỊ HỒNG DUYÊN

NGHIÊN CỨU CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TRUNG TÂM PHÒNG CHỐNG HIV/AIDS NGHỆ AN NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01

TS Trần Khánh Toàn

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

rất nhiều sự dạy dỗ, giúp đỡ và động viên của quý Thầy Cô, đồng nghiệp,bạn bè, và gia đình Với tấm lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn:

Ban giám hiệu, Thầy Cô giáo Trường Đại học Y tế công cộng những người

đã truyền thụ: kiến thức cho tôi hoàn thành chương trình học tập

TS.Trần Khánh Toàn và Ths.Lê Thị Vui đầy tâm huyết, tận tình chỉ bảo, truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập, đồng thời trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi từ suốt quá trình xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng

đề cương và hoàn thành luận văn

Đồng nghiệp của tôi tại Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Nghệ An, nơi tôi đang công tác, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt hơn 2 năm qua

Và cảm ơn các bạn bè khóa 18 thạc sĩ Y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng đã luôn chia sẻ kinh nghiệm học tập, động viên tôi những lúc khó khăn

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những người thân trong gia đình những người luôn bên cạnh, động viên, ủng hộ trên bước đường đi của tôi Và cuối cùng lời cảm ơn chân thành, đặc biệt nhất tôi xin được gửi tới: bố mẹ, chồng,

và con trai, những người đã ủng hộ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập vừa qua

Xin trân trọng!

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Dịch tễ học về sử dụng chất gây nghiện 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 4

1.2 Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone 5

1.2.1 Nghiện chất dạng thuốc phiện và điều trị thay thế bằng methadone 5

1.2.2 Tình hình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng methadone 7

1.2.3 Hiệu quả của chương trình điều trị methadone ở Việt Nam 9

1.3 Chất lượng cuộc sống 10

1.3.1 Khái niệm 10

1.3.2 Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống 10

1.4 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone 13

1.4.1 Trên thế giới 13

1.4.2 Tại Việt Nam 15

1.5 Các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân điều trị methadone 16

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 18

1.6 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu 18

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.2 Đối tượng nghiên cứu 20

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 20

Tiêu chuẩn loại trừ 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 21

Trang 5

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 21

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 21

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin 22

2.5.2 Quy trình thu thập thông tin 23

2.6 Biến số nghiên cứu 24

2.7 Xử lý và phân tích số liệu 24

2.7.1 Nhập và làm sạch số liệu 24

2.7.2 Phân tích số liệu 25

2.8 Sai số và cách khắc phục 25

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone 32

3.3 Một số yếu tố liên quan tới CLCS của bệnh nhân điều trị methadone 33

3.3.1 CLCS về thể chất 33

3.3.2 CLCS về tâm lý 38

3.3.3 CLCS về mặt xã hội 43

3.3.4 CLCS về mặt môi trường 47

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 53

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 53

4.2 Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone 55

4.3 Một số yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân điều trị methadone 59

4.3.1 Các yếu tố nhân khẩu và kinh tế xã hội của cá nhân và gia đình 59

4.3.2 Các yếu tố hành vi liên quan đến sử dụng ma tuý và điều trị cai nghiện62 4.3.3 Các yếu tố về sử dụng các dịch vụ y tế, xã hội 63

4.3 Nhận xét về độ tin cậy của công cụ và hạn chế của nghiên cứu 55

KẾT LUẬN 65

1 Thực trạng chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone 65

2 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân 65

KHUYẾN NGHỊ 66

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn bệnh nhân điều trị methadone 73 Phụ lục 2: Các thông tin từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân 81 Phụ lục 3 Bảng chuyển đổi điểm các lĩnh vực của CLCS đo bằng công cụ WHOQOL-BREF 87

Trang 7

Chất dạng thuốc phiện Chất lượng cuộc sống Dịch vụ y tế

Đối tượng nghiên cứu

Vi rút viêm gan C (Hepatitis C virus) Virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (Human Immunodeficiency Virus infection)

Liệu pháp điều trị thay thế bằng methadone (Methadone Maintenance Therapy)

Tiêm chích ma túy

Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc

Tổ chức Y tế thế giới Bản tóm tắt bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống do WHO đề xuất

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt nội dung các biến số nghiên cứu 24

Bảng 2.2: Sai số và cách khắc phục sai số trong nghiên cứu 25

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân (n=338) 30

Bảng 3.2: Một số thông tin về gia đình của bệnh nhân 28

Bảng 3.3: Đặc điểm sử dụng ma tuý và nhiễm HIV của bệnh nhân 29

Bảng 3.4: Thông tin về điều trị cai nghiện của bệnh nhân 30

Bảng 3.5: Tiếp cận các dịch vụ y tế, xã hội của bệnh nhân 31

Bảng 3.6: Tự đánh giá tình trạng sức khỏe và CLCS tổng thể của bệnh nhân 32

Bảng 3.7: Điểm trung bình chất lượng cuộc sống trong 4 lĩnh vực 32

Bảng 3.8: Liên quan đặc điểm cá nhân, gia đình với điểm số lĩnh vực thể chất 34

Bảng 3.9: Liên quan giữa sử dụng ma túy, cai nghiện và điểm số về thể chất 35

Bảng 3.10: Liên quan giữa sử dụng dịch vụ và điểm số về thể chất 37

Bảng 3.11: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan với CLCS về thể chất 37

Bảng 3.12: Liên quan giữa đặc điểm cá nhân, gia đình với điểm số về tâm lý 38

Bảng 3.13: Liên quan giữa sử dụng ma túy, cai nghiện và điểm số tâm lý 40

Bảng 3.14: Liên quan giữa sử dụng dịch vụ và điểm số về tâm lý 41

Bảng 3.15: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan với CLCS về tâm lý 42

Bảng 3.16: Liên quan giữa đặc điểm cá nhân và gia đình với điểm số về xã hội 43

Bảng 3.17: Liên quan giữa sử dụng ma túy, cai nghiện và điểm số về xã hội 44

Bảng 3.18: Liên quan giữa sử dụng dịch vụ và điểm số về xã hội 46

Bảng 3.19: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan với CLCS về xã hội 46

Bảng 3.20: Liên quan đặc điểm cá nhân, gia đình và điểm CLCS về môi trường 47

Bảng 3.21: Liên quan giữa sử dụng ma túy, cai nghiện và điểm số về môi trường 47 Bảng 3.22: Liên quan giữa sử dụng dịch vụ và điểm số CLCS về môi trường 48

Bảng 3.23: Phân tích đa biến một số yếu tố liên quan với CLCS về môi trường 48

Bảng 3.24: Đánh giá mức độ tin cậy của bộ công cụ 49

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1 Số lƣợng bệnh nhân điều trị methadone tại Việt Nam qua các năm 8 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ gặp một số tác dụng phụ ở bệnh nhân 31 Biểu đồ 3.2 Thay đổi điểm 4 cấu phần CLCS theo thời gian điều trị methadone 33

Trang 10

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Chất lượng cuộc sống (CLCS) là một chỉ số đánh giá hiệu quả điều trị thay thế bằng methadone cho bệnh nhân nghiện chất dạng thuốc phiện Tuy nhiên, chủ đề này chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng CLCS và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân đang được điều trị methadone tại cơ sở điều trị thuộc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Nghệ

An năm 2016

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích thực hiện trên toàn bộ 338 bệnh nhân đang điều trị methadone giai đoạn ổn định liều trong khoảng thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 6/2016 Bệnh nhân được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cấu trúc, với bộ công cụ đánh giá CLCS của WHO, bản tóm tắt (WHOQOL-BREF) đã được Việt hoá và kết hợp với thu thập một số thông tin sẵn có trong hồ sơ bệnh án của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm trung bình CLCS của bệnh nhân cao nhất là

về lĩnh vực tâm lý với 61,2 điểm và thấp nhất về lĩnh vực xã hội với 50,3 điểm; điểm về thể chất và môi trường lần lượt là 58,8 và 60,6 điểm Vẫn còn 11,2% bệnh nhân không hài lòng với tình trạng sức khoẻ và 5,3% bệnh nhân đánh giá chất lượng cuộc sống ở mức xấu và rất xấu Điểm CLCS cao hơn có ý nghĩa thống kê (hệ số hồi quy coefficients >0, p<0,05) từ một đến bốn lĩnh vực (thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường) ở những bệnh nhân có: nghề nghiệp ổn định, sống chung với vợ con; rất hài lòng với người sống chung; sống ở nông thôn; chưa từng cai nghiện trước đây và có được tư vấn xét nghiệm HIV Điểm CLCS về xã hội và môi trường thấp hơn ở những bệnh nhân bỏ liều methadone từ 5 lần trở lên trong 3 tháng (coefficients <0, p<0,05)

Nghiên cứu đặt ra yêu cầu với cơ sở điều trị cần tăng cường công tác tư vấn cho bệnh nhân về việc tuân thủ chế độ điều trị; tư vấn và khuyến khích người nhà tham gia hỗ trợ bệnh nhân trong điều trị và tham gia hỗ trợ bệnh nhân tìm việc làm

Trang 11

tái hoà nhập cộng đồng Bệnh nhân cần nâng cao nhận thức và vai trò của bản thân trong việc tuân thủ điều trị, hạn chế bỏ liều nhằm góp phần nâng cao CLCS

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sử dụng ma túy đang là một trong những vấn đề mang tính toàn cầu Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) ước tính có khoảng 5% người trưởng thành, tương đương với 247 triệu người từ 15 đến 64 tuổi trên toàn thế giới đang sử dụng ma túy trong năm 2014; trong đó, Đông Nam Á là một trong những khu vực trọng điểm [50] Sử dụng ma túy theo đường tiêm chích không chỉ làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu như nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV), vi rút viêm gan C (HCV), , làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người nghiện mà còn gây ra gánh nặng to lớn về kinh tế và xã hội cho gia đình và cộng đồng [50] Do vậy, cần phải có các biện pháp cấp bách có hiệu quả cao để điều trị, phục hồi và hòa nhập cộng đồng cho người sử dụng ma tuý nhằm giảm thiểu hậu quả của sử dụng ma tuý [50]

Điều trị thay thế bằng methadone (MMT) là một trong những giải pháp có hiệu quả, được coi là phương pháp điều trị “tiêu chuẩn vàng” giúp người nghiện ma túy dạng thuốc phiện giảm liều và từ bỏ ma túy một cách bền vững [49] Khi được lồng ghép cùng với tư vấn và các dịch vụ hỗ trợ khác, điều trị thay thế bằng methadone giúp làm giảm tỷ lệ sử dụng ma túy, giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và nguy cơ tội phạm do ma tuý gây ra Mặt khác, khi giảm lệ thuộc vào ma túy, bệnh nhân sẽ phục hồi sức khỏe, ổn định tâm lý, ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng làm tăng chất lượng cuộc sống (CLCS) và góp phần tăng tuân thủ và tăng hiệu quả điều trị methadone [49]

Tại Việt Nam, chương trình điều trị methadone đã được triển khai thí điểm từ tháng 4/2008 Tính đến cuối năm 2016 đã có 50.800 bệnh nhân được điều trị methadone tại 275 cơ sở ở tất cả 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc [4] Nghệ An là một tỉnh trọng điểm của cả nước về dịch HIV/AIDS, tuy nhiên đến tháng 8/2016 mới chỉ có 12 cơ sở điều trị methadone, với hơn 1.900 bệnh nhân được điều trị, chỉ đạt 55,9% chỉ tiêu Chính phủ giao Mặc dù vậy, kết quả đánh giá sơ bộ cho thấy chương trình điều trị methadone đã giúp bệnh nhân giảm rõ rệt các hành vi nguy cơ

và cải thiện được tình trạng sức khỏe [12] Do đó, việc mở rộng dịch vụ điều trị

Trang 13

methadone là một trong những biện pháp quan trọng, cấp thiết góp phần đạt mục tiêu 90-90-90 trong phòng chống HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh

CLCS của bệnh nhân là một trong các chỉ số đầu ra phản ánh rõ nhất chất lượng dịch vụ và tác động của chương trình điều trị methadone [38],[47] Đo lường CLCS của bệnh nhân giúp đánh giá một phần chất lượng và hiệu quả công tác điều trị methadone trên cơ sở đó cung cấp các bằng chứng để cải thiện và mở rộng mô hình điều trị trên địa bàn tỉnh Nghệ An Câu hỏi đặt ra là “Thực trạng CLCS của bệnh nhân đang điều trị methadone ở Nghệ An hiện nay ra sao? có những yếu tố nào ảnh hưởng đến CLCS của bệnh nhân đang điều trị?”

Để trả lời câu hỏi trên, nghiên cứu "Nghiên cứu chất lượng cuộc sống và một

số yếu tố liên quan ở bệnh nhân điều trị methadone tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Nghệ An năm 2016" được thực hiện Kết quả của nghiên cứu sẽ cung cấp các bằng chứng để cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ điều trị cho bệnh

nhân đang điều trị và mở rộng chương trình tại Nghệ An

Trang 14

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mô tả thực trạng chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An, năm 2016

Xác định một số yếu tố liên quan tới chất lƣợng cuộc sống của bệnh nhân đang điều trị methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An, năm 2016

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Dịch tễ học về sử dụng chất gây nghiện

Sử dụng ma tuý qua đường tiêm chích được ghi nhận ở 148 quốc gia, tập trung chủ yếu tại các nước vùng Đông và Đông Nam Á, Đông và Đông Nam Âu Ba nước

có số lượng người TCMT lớn nhất là Trung Quốc, Liên Bang Nga và Hoa Kỳ chiếm khoảng 46% tổng số người TCMT trên thế giới[50]

1.1.2 Ở Việt Nam

Tại Việt Nam, người nghiện ma tuý đã được ghi nhận ở 60% số xã, phường thuộc 90% số quận, huyện ở tất cả các tỉnh, thành phố trên toàn quốc Phân bố người nghiện ma túy theo vùng miền đã có sự thay đổi đáng kể theo thời gian, từ chỗ tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã phát triển mạnh cả ra vùng đồng bằng sông Hồng và khu vực miền Đông Nam Bộ Trong giai đoạn từ 1994-

2009, tỷ lệ người nghiện ma túy sống ở vùng đồng bằng sông Hồng tăng từ 18,2%

lên 31%, và ở các tỉnh Đông Nam Bộ tăng từ 10,2% lên 23% [1]

Tính đến 30/09/2014, cả nước có 204.337 người nghiện ma túy đã được lập hồ

sơ quản lý; tuy nhiên, số người nghiện trên thực tế có thể cao hơn nhiều [1] Số liệu

Trang 16

thống kê đến cuối năm 2014 cho thấy, 96% người nghiện ma túy ở Việt Nam là nam giới, trong đó, 50% ở độ tuổi 16-30 Độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có

xu hướng trẻ hóa.Tỷ lệ người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới 30 chiếm khoảng 42%

năm 1995 đã tăng lên gần 70% vào cuối năm 2010 [1] Người nghiện ma tuý cũng

đã xuất hiện ở mọi thành phần trong xã hội, từ học sinh, sinh viên, cán bộ công chức, viên chức đến người lao động phổ thông; tuy nhiên, đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hoá thấp, khoảng 10% không biết chữ, 59% có trình độ văn hóa

từ tiểu học tới trung học cơ sở Phần lớn người nghiện ma túy không có nghề nghiệp

ổn định, chi tiêu chủ yếu từ nguồn hỗ trợ của gia đình, trong khi thu nhập hợp pháp chỉ bằng 1/3 số tiền chi cho ma túy[1]

Mô hình sử dụng ma tuý cũng đã thay đổi Tỷ lệ người nghiện sử dụng heroin vẫn chiếm đa số nhưng đã giảm dần trong thời gian qua trong khi tỷ lệ sử dụng các loại ma tuý tổng hợp đang có xu hướng gia tăng, nhất là trong đối tượng trẻ tuổi [2]

Tỷ lệ sử dụng ma tuý qua đường tiêm chích tăng từ 8% năm 1995 lên đến hơn 3/4 tổng số người nghiện vào cuối năm 2009 Nhóm người tiêm chích ma túy có tỷ lệ lây nhiễm HIV cao (17,2%) [21], tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT ở Việt Nam gần đây đang có xu hướng giảm trên phạm vi toàn quốc (còn 10,3% năm 2013) [4]

1.2 Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone

1.2.1 Nghiện chất dạng thuốc phiện và điều trị thay thế bằng methadone

Các chất dạng thuốc phiện (CDTP) như thuốc phiện, morphin, heroin là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh) có thời gian bán hủy ngắn do

đó thường phải sử dụng nhiều lần trong ngày và nhanh chóng xuất hiện triệu chứng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương Vì vậy, người nghiện ma túy (đặc biệt heroin) luôn dao động giữa tình trạng nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và tình trạng thiếu thuốc (hội chứng cai) nhiều lần trong ngày, là nguồn gốc dẫn họ đến với những hành vi nguy hại cho bản thân và những người xung quang [3]

Methadone là một chất gây nghiện có nguồn gốc tổng hợp, có khả năng tranh chấp trong quá trình gắn kết thụ thể của các CDTP, với giá thành rẻ, có thời gian bán huỷ dài (trên 24 giờ) và sử dụng theo đường uống nên được sử dụng để điều trị

Trang 17

thay thế nghiện CDTP Đây là một chươngtrình điều trị lâu dài, có kiểm soát nhằm giúp người nghiện giảm tần suất tiến tới ngừng sử dụng ma tuý, dự phòng các bệnh lây truyền qua đường tiêm chích như HIV, viêm gan B, C Khi không còn lệ thuộc vào ma túy, bệnh nhân dần phục hồi sức khỏe, ổn định tâm lý, tham gia vào các hoạt động lành mạnh, tái hòa nhập cộng đồng và cải thiện chất lượng cuộc sống [3] Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng methadone nhằm 3 mục đích chủ yếu sau [3]:

 Giảm tác hại do nghiện chích CDTP gây ra như: lây nhiễm HIV, viêm gan B,

C do sử dụng chung dụng cụ tiêm chích, tử vong do sử dụng quá liều CDTP

 Giảm sử dụng CDTP bất hợp pháp và các hoạt động tội phạm có liên quan

 Cải thiện sức khoẻ và giúp người nghiện duy trì việc làm, ổn định cuộc sống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội

Điều trị methadone là một liệu trình điều trị liên tục, lâu dài trải qua nhiều giai đoạn khác nhau [3], bao gồm:

Giai đoạn dò liều: Thường là 2 tuần đầu điều trị với liều khởi đầu từ 15-30mg tùy thuộc vào kết quả đánh giá độ dung nạp CDTP của người bệnh (liều trung bình

là 20mg)

Giai đoạn điều chỉnh liều: từ tuần thứ 3 của quá trình điều trị và có thể kéo dài

từ 1 đến 3 tháng Liều điều trị sẽ được tiếp tục điều chỉnh đến khi người bệnh đạt được liều có hiệu quả (là liều làm hết hội chứng cai, giảm thèm nhớ, ngăn tác dụng của việc sử dụng heroin và không gây ngộ độc)

Giai đoạn duy trì, ổn định liều: được xác định khi người bệnh được sử dụng liều có hiệu quả tối ưu duy trì trong ít nhất 4 tuần liên tục Người bệnh không tái sử dụng CDTP trong ít nhất 4 tuần liên tục Liều duy trì hay liều có hiệu quả tối ưu, là liều có hiệu quả và phong tỏa được tác dụng gây khoái cảm của heroin hết thèm nhớ heroin Liều hiệu quả tối ưu khác nhau ở từng người bệnh, tuỳ thuộc một số bệnh lý đồng diễn, tình trạng đặc biệt (có thai, đa nghiện) và sử dụng các thuốc có tương tác với methadone Tiêu chuẩn đánh giá liều duy trì là phù hợp khi người bệnh hết hội

Trang 18

chứng cai; giảm đáng kể sự thèm nhớ CDTP; không tái sử dụng hoặc không còn khoái cảm (phê) khi sử dụng lại CDTP, đôi khi còn có thể gây khó chịu cho người bệnh, và không có dấu hiệu nhiễm độc [3]

1.2.2 Tình hình điều trị thay thế nghiện CDTP bằng methadone

1.2.2.1 Điều trị methadone trên thế giới

Trên thế giới, điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone (gọi tắt là điều trị thay thế bằng methadone) không phải là một trong những giải pháp mới trong hoạt động can thiệp giảm tác hại dự phòng lây nhiễm HIV Ở Hồng Kông, chương trình methadone đã được triển khai từ những năm 1970, ở Hà Lan được triển khai từ những năm 1980 và Trung Quốc cũng đã thực hiện chương trình này vào năm 2003 [51]

Hiện nay, trên thế giới có ít nhất 70 quốc gia đang sử dụng phương pháp này với quy mô khoảng 580.000 người thuộc khu vực châu Âu và 200.000 người ở châu

Á Quy mô áp dụng chương trình điều trị methadone tại một số nước khá lớn, tại

Mỹ có hơn 900.000 người nghiện heroin, trong đó có hơn 200.000 bệnh nhân đang được điều trị bằng methadone Đến năm 2008, Thụy Sỹ có 3.000 cơ sở điều trị, Tây Ban Nha có 5.000 cơ sở, Đức có 4.000 cơ sở, Trung Quốc có 500 cơ sở Tại khu vực Đông Nam Á, có nhiều nước đã áp dụng chương trình này như: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Myanma….[51]

1.2.3.2 Điều trị methadone tại Việt Nam

Tháng 4/2008, Việt Nam đã triển khai thí điểm chương trình MMT tại Thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian thí điểm 2 năm Kết quả đánh giá bước đầu Đề án triển khai thí điểm điều trị methadone tại hai địa phương này đã ghi nhận những kết quả hết sức tích cực, mang lại nhiều lợi ích cho bản thân bệnh nhân, gia đình và xã hội [9]

Kết quả thí điểm đã chứng minh chương trình điều trị thay thế bằng methadone là phương pháp điều trị hiệu quả đối với nghiện heroin, và đã được mở rộng trên toàn quốc Qua 7 năm, chương trình điều trị methadone đã phát triển nhanh chóng, từ 1.735 người bệnh tại 6 cơ sở điều trị vào năm 2009 đã lên đến

Trang 19

23.160 người bệnh với 127 cơ sở điều trị tại 38 tỉnh/thành phố tính đến hết tháng 11/2014 Mục tiêu trong năm 2015 là tăng số người bệnh được điều trị methadone lên 80.000 với 245 cơ sở điều trị ở khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước Số liệu báo cáo thống kê cho thấytính đến cuối năm 2016, cả nước đã có 275 cơ sở điều trị

ở tất cả 63 tỉnh, thành phố Tuy nhiên, số lượng bệnh nhân được điều trị là 50.800, chi mới đạt khoảng 63,5% chỉ tiêu đề ra cho đến năm 2015[4]

Biểu đồ 1.1 Số lượng bệnh nhân điều trị methadone tại Việt Nam qua các năm

Việc triển khai mở rộng chương trình MMT là một chiến lược quan trọng nhằm giảm lây lan HIV ở nhóm tiêm chích ma túy Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT ở Việt Nam có xu hướng giảm dần qua các năm (năm 2008: 45,3%, năm 2009: 45,0%, năm 2010: 43,9%, năm 2011: 41,8%, năm 2012: 37,7%, năm 2013: 39,2%, tháng 6 năm 2014: 35,4%)[2]

Điều trị thay thế bằng methadone đã triển khai có ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, giúp người nghiện CDTP dự phòng lây nhiễm HIV, giảm tần suất sử dụng các CDTP, giảm các hành vi tội phạm, cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống bệnh nhân Để mở rộng các cơ sở điều trị phục vụ người nghiện CDTP cần có các đánh giá sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị methadone Trên cơ sở đó cải thiện chất lượng điều trị để phục vụ cho bệnh nhân

Trang 20

1.2.3 Hiệu quả của chương trình điều trị methadone ở Việt Nam

1.2.3.1 Giảm hành vi nguy cơ đối với sức khỏe của bệnh nhân

Kết quả nghiên cứu của Bộ Y tế trên 1000 bệnh nhân ở 6 cơ sở điều trị methadone ở Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 4/2008 cho thấy một

số kết quả tích cực trong việc giảm hành vi nguy cơ sức khoẻ của bệnh nhân:

- Về tình trạng sử dụng các chất ma túy: việc sử dụng heroin trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị đã giảm đáng kể cả về tần suất và liều sử dụng Tỷ lệ bệnh nhân có sử dụng heroin trước điều trị là 100% giảm xuống còn 14,05% sau 6 tháng; 9,05% sau 12 tháng và 8,41% sau 24 tháng Lúc đầu, hầu hết bệnh nhân đều sử dụng heroin với tần suất rất cao: 48,5% bệnh nhân sử dụng trên 5 lần/ngày, 41,5%

sử dụng từ 3-4 lần/ngày và chỉ có 6,3% sử dụng 1-2 lần/ngày Tuy nhiên, sau 12 tháng điều trị, trong số bệnh nhân còn sử dụng ma túy, không có bệnh nhân nào sử dụng từ 2 lần/ngày trở lên với tần suất sử dụng chủ yếu 2-3 lần/tháng [9]

- Về hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV: Cùng với việc dừng hoặc giảm mức độ

sử dụng ma túy, các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân tham gia điều trị cũng đã có sự cải thiện đáng kể Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi TCMT giảm từ 86,9% trước điều trị xuống còn 53,9% sau 6 tháng và 42,4% sau 24 tháng điều trị, tính trong số bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng ma tuý Tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm nhóm bệnh nhân TCMT giảm rõ rệt chỉ còn 2% sau 24 tháng điều trị so với 21% trước khi điều trị [9]

Tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su thường xuyên trong quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm cũng như với bạn tình thường xuyên trước khi điều trị lần lượt là 36,3% và 92,9% đã tăng lên tương ứng là 37,5% và 95,8% sau 12 tháng; 43,9% và 96,8% sau 24 tháng điều trị Những thay đổi tích cực này sẽ góp phần dự phòng lây nhiễm HIV từ nhóm những người TCMT sang bạn tình của họ và cộng đồng [9]

1.2.3.2 Cải thiện sức khỏe thể chất và tâm thần

Đa số bệnh nhân có cải thiện về sức khỏe, chuyển biến tích cực về thái độ cũng như cuộc sống sau một thời gian điều trị Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ trầm

Trang 21

cảm giảm từ 80% xuống còn 15% sau 12 tháng điều trị Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân theo thang đo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng được cải thiện rõ rệt sau 12 tháng đặc biệt về sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần [9]

1.2.3.3 Tăng khả năng tìm việc làm và tái hoà nhập xã hội

Nghiên cứu của UNAIDS và FHI năm 2011 trên bệnh nhân điều trị methadone

ở Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bệnh nhân tìm được công việc toàn thời gian tăng từ 42% tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu lên 54% sau 12 tháng [5] Kết quả nghiên cứu mới đây của Lê Văn Quân và cộng sự về bệnh nhân điều trị methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Bình Thuận cũng cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có việc làm ổn định tăng lên đáng kể, từ 46,4% tăng lên 76% [8]

1.3 Chất lượng cuộc sống

1.3.1 Khái niệm

CLCS thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả của các chương trình sức khỏe và chăm sóc xã hội Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam các nghiên cứu về CLCS chủ yếu sử dụng định nghĩa của WHO “Chất lượng cuộc sống là cảm nhận của cá nhân về vị trí của họ trong bối cảnh văn hóa và hệ thống các giá trị họ đang sống và liên quan đến mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm” [52] Đây cũng là khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này

CLCS là một thuật ngữ mang ý nghĩa tổng thể, bao gồm các khía cạnh của hạnh phúc và hài lòng với tất cả mọi mặt của cuộc sống Khái niệm CLCS được chấp nhận bao gồm những đo lường cá nhân về sự hài lòng trước các yếu tố đa dạng của cuộc sống Sự đánh giá này bao gồm những phản ứng của cảm xúc trước các sự kiện của đời sống, cảm giác hài lòng với công việc cũng như những mối quan hệ cá nhân [25] CLCS mang tính chủ quan cao và bị tác động bởi nhiều yếu tố: thể chất, tâm lý, mức độ độc lập, mối quan hệ xã hội Việc đo lường CLCS cần lưu ý đến những đặc trưng của CLCS về tính toàn diện, đa khía cạnh [52]

1.3.2 Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống

Là một khái niệm mang tính chủ quan nên CLCS có thể được đo lường dưới các góc độ khác nhau với những phương pháp, công cụ, thang đo và tiêu chí khác

Trang 22

nhau Đo lường CLCS được ứng dụng trong quá trình đưa ra các quyết định lâm sàng và quá trình hoạch định chính sách Đo lường CLCS có thể giúp các nhà lâm sàng xác định vấn đề ưu tiên, sàng lọc các nguy cơ, xác định và lựa chọn các phương án điều trị, theo dõi đáp ứng của bệnh nhân với điều trị [25] Từ đó, giúp các thầy thuốc lâm sàng điều trị theo hướng không chỉ điều trị bệnh mà điều trị cá thể hoá cho từng người bệnh cụ thể Các thông tin liên quan đến CLCS của người bệnh cũng rất cần thiết đối với các nhà hoạch định chính sách CLCS được coi là một yếu tố đầu ra để đánh giá hiệu quả của các can thiệp Khi đó, chỉ số CLCS và chi phí của các can thiệp là hai cấu phần quan trọng giúp nhà hoạch định chính sách cân cân nhắc và quyết định phân bổ nguồn lực cho các can thiệp khác nhau một cách hợp lý [14]

Các phương pháp đo lường CLCS liên quan đến sức khỏe được chia thành hai nhóm chính: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp

1.3.2.1 Phương pháp trực tiếp

Phương pháp này sử dụng các kỹ thuật đo lường CLCS một cách trực tiếp và tổng thể thông qua chỉ số thỏa dụng về một điều kiện sức khỏe nhất định Hiện nay,

có 3 phương pháp được sử dụng khá phổ biến là phương pháp trao đổi thời gian,

phương pháp thang điểm trực giác và phương pháp may rủi chuẩn mực

Các phương pháp đo lường CLCS trực tiếp có ưu điểm là ngắn gọn, cho kết quả nhanh chóng và không làm mất nhiều công sức và thời gian của người được phỏng vấn Tuy nhiên, với việc chỉ sử dụng hệ số thỏa dụng để đánh giá CLCS, phương pháp này chỉ dựa vào chủ quan của cá nhân một cách chung nhất nên độ chính xác không cao và khó có thể đánh giá chuyên sâu cho từng bệnh lý

1.3.2.2 Phương pháp gián tiếp

Hiện nay có hàng trăm công cụ đã được triển khai và sử dụng để đánh giá CLCS, trong đó có khoảng 50 công cụ được sử dụng khá thường xuyên Các bộ công cụ được dùng để đo lường CLCS gián tiếp được chia làm hai loại: bộ công cụ

đo lường CLCS chuyên biệt và bộ công cụ đo lường CLCS tổng hợp

Trang 23

* Bộ công cụ đo lường CLCS chuyên biệt: được thiết kế nhằm đo lường

CLCS cho người bệnh mắc một bệnh hoặc tình trạng sức khỏe cụ thể, tập trung vào các khía cạnh được cho là có tầm quan trọng trong cuộc sống của

bệnh nhân như:

- Công cụ KDQOL (Kidney Disease Quality of Life) sử dụng cho người mắc

bệnh thận;

- QoL-AD (Quality of Life Alzheimer Disease) cho bệnh nhân Alzheimer;

- AQLQ (Asthma Quality of Life Questionnaire) cho bệnh nhân hen suyễn;

- EORTC QLQ - C30 (European Organization for Research and Treatment of

Cancer – EORTC) cho bệnh nhân ung thư,…

* Bộ công cụ đo lường CLCS tổng hợp: là bộ công cụ giúp đo lường CLCS

một cách tổng quát, áp dụng được một cách rộng rãi cho nhiều nhóm đối tượng

khác nhau, không gắn với một tình trạng bệnh lý hay vấn đề sức khoẻ cụ thể Một

số bộ công cụ đo lường CLCS phổ biến thuộc nhóm này có thể kể đến:

- Bộ công cụ SF-36 được sử dụng để đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe

bao gồm 36 mục kết hợp trong 8 khía cạnh thuộc 2 nhóm thể chất và tinh thần[18];

- Bộ công cụ EQ-5D do EuroQol group phát triển, đã được dịch ra nhiều thứ

tiếng, trong đó có tiếng Việt và được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước khác nhau Bộ

công cụ này đánh giá CLCS liên quan đến sức khoẻ trên 5 khía cạnh: vận động, tự

chăm sóc, các hoạt động thường ngày, tình trạng đau/khó chịu và lo âu/trầm cảm

Bản tiếng Việt của EQ-5D đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu trên bệnh nhân

HIV/AIDS ở Việt Nam [40]

- Bộ công cụ WHOQOL (World Health Organization Quality of Life

Questionnaire) do WHO đề xuất, đánh giá CLCS tổng hợp về các vấn đề sức khỏe

WHOQOL có độ tin cậy cao, tính đến năm 2008, đã được dịch ra 20 thứ tiếng và áp

dụng tại 15 vùng khác nhau với hai phiên bản đầy đủ và tóm tắt

Trang 24

Phiên bản gốc (WHOQOL-100) gồm 100 câu hỏi với 5 mức trả lời ở mỗi câu

và bao gồm 6 lĩnh vực: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, mức độ độc lập, các mối quan hệ xã hội, môi trường và tâm linh/tôn giáo/tín ngưỡng[52],[36] Phiên bản này mặc dù được đánh giá là đề cập đến các khía cạnh của CLCS một cách toàn diện nhưng tương đối dài khi có tới 100 câu hỏi nên ít được áp dụng rộng rãi

Phiên bản tóm tắt (WHOQOL-BREF) gồm 26 câu hỏi thể hiện tính đa chiều của CLCS với 4 lĩnh vực chính: sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm lý, xã hội và môi trường Phiên bản này ngắn gọn và mang tính ứng dụng cao hơn, được sử dụng để

đo lường CLCS của nhiều nhóm đối tượng khác nhau như bệnh nhân HIV/AIDS, trầm cảm, tim mạch và một số bệnh không lây nhiễm khác [32], [33] Đây là công

cụ hữu hiệu để: (1) Đánh giá tổng thể CLCS; (2) Mức độ hài lòng về sức khỏe của bệnh nhân; và (3) Điểm trung bình sức khoẻ thể chất, tâm lý, xã hội và môi trường

Bộ câu hỏi WHOQOF-BREF được WHO khuyến cáo sử dụng để đo lường CLCS của nhóm bệnh nhân TCMT và nhiễm HIV/AIDS [29] Bộ câu hỏi này cũng

đã được sử dụng cho các nghiên cứu đánh giá CLCS của người TCMT tại một số quốc gia trên thế giới như Malaysia, Kyrgyz Republic, Việt Nam , [6], [7], [35] Các nghiên cứu cho thấy, với đối tượng là người TCMT khó khả năng tập trung trong thời gian dài, những bộ công cụ nhiều thang đo hay nhiều câu hỏi không thực

sự phù hợp [29] Bởi vậy, chúng tôi quyết định sử dụng bộ câu hỏi BREF trong nghiên cứu này

WHOQOL-1.4 Nghiên cứu về chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone

1.4.1 Trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân điều trị methadone ở các nước với nhiều bộ công cụ khác nhau như: SF-36, WHOQOL-BREF, trong đó công cụ WHOQOL-BREF được nhiều tác giả sử dụng

Tại Malaysia, một nghiên cứu cắt ngang năm 2007 sử dụng bộ công cụ WHOQOL-BREF cho thấy điểm CLCS của bệnh nhân ở cả 4 lĩnh vực đều tăng rõ rệt sau khi điều trị methadone (p<0,05) Trong đó, lĩnh vực thể chất và tâm lý thay

Trang 25

đổi nhiều nhất với mức chênh lệch 2,26 điểm (18,9%) và 2,28 điểm (20,0%); lĩnh vực xã hội và môi trường tăng lần lượt 1,85 điểm và 1,54 điểm [53]

Cũng tại Malaysia, nghiên cứu của Baharom (2012) với bộ công cụ WHOQOL-BREF cũng cho thấy có sự cải thiện đáng kể trong tất cả bốn lĩnh vực CLCS của bệnh nhân sau 6 tháng điều trị methadone [16] Một nghiên cứu khác của Musa cho thấy sau 2 năm điều trị methadone, CLCS của bệnh nhân đã được cải thiện đáng kể, nhất là khía cạnh tâm lý [31]

Tại Đài Loan, nghiên cứu theo dõi dọc của Ying Chou tại Đài Loan (2009), sử dụng bộ công cụ WHOQOL-BREF cho thấy sau 6 tháng điều trị, CLCS của bệnh nhân được cải thiện đáng kể về khía cạnh tâm thần và môi trường; sau 12 tháng CLCS về khía cạnh tâm thần và xã hội được cải thiện [18] Một nghiên cứu khác của Yen (2015) đã chỉ ra rằng hỗ trợ xã hội là yếu tố thúc đẩy tất cả các khía cạnh khác của CLCS, trong khi việc làm không ổn định có tác dụng cản trở CLCS Nghiên cứu cũng cho thấy tiền sử sử dụng ma túy quá liều và bị nhiễm HIV có liên quan tới giảm CLCS về thể chất và tâm lý còn tiền sử bị bắt nhiều lần ở nam giới lại làm giảm CLCS về môi trường và xã hội [54]

Kết quả nghiên cứu trên 516 bệnh nhân điều trị methadone tại Giang Đông, Trung Quốc (2011) cho thấy CLCS cũng tăng lên nhanh chóng theo thời gian điều trị; ở ngày thứ 30 cao hơn rõ rệt so với ngày thứ nhất (p<0,05) Điểm về thể chất và tinh thần được cải thiện đáng kể nhất, sau đó là điểm CLCS mặt xã hội [24]

Tại Kyrgyzstan, năm 2008, Lars Moller nghiên cứu so sánh CLCS của 701 bệnh nhân trước và sau điều trị methadone Kết quả cho thấy, tỷ lệ bệnh nhân đánh giá CLCS tốt và rất tốt trước điều trị là 7,3% đã tăng lên 74,6% sau điều trị (p=0,005); sự hài lòng về sức khỏe bản thân thay đổi tương ứng từ 0 lên 78,2% (p<0,0001) Các chính sách về sức khỏe tác động đến hiệu quả của chương trình điều trị, trong khi kinh tế và đặc trưng văn hóa không tác động nhiều [45]

Năm 2012, Lashkaripour Kobra nghiên cứu trên 100 bệnh nhân điều trị methadone tại Iran Bệnh nhân được đánh giá CLCS trong các giai đoạn: trước điều

Trang 26

trị, 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng bằng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF CLCS chung và ở

4 lĩnh vực thay đổi rõ rệt sau từng tháng điều trị Tổng điểm CLCS tăng từ 258,43 trước điều trị lên 279,4 ngay sau 1 tháng và tăng đến 287,6 sau 3 tháng (p<0,001) Trong đó, CLCS mặt thể chất và môi trường tăng nhanh nhất sau 1 tháng điều trị và tăng nhanh hơn 2 khía cạnh còn lại Các khía cạnh tâm lý và xã hội cũng có sự thay đổi tích cực tuy nhiên không rõ rệt [28]

1.4.2 Tại Việt Nam

Nghiên cứu về CLCS của bệnh nhân điều trị methadone tại Việt Nam hiện nay còn hạn chế về số lượng nghiên cứu cũng như đối tượng nghiên cứu và thời gian theo dõi Các nghiên cứu này đều được tiến hành ở các địa phương có đông người nghiện ma tuý và đã triển khai chương trình MMT trong một thời gian dài như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng Hai bộ công cụ được sử dụng chủ yếu trong các nghiên cứu này là WHOQOL-BREF và EQ-5D

Năm 2011, Trần Xuân Bách và cộng sự đã sử dụng bộ công cụ BREF để đánh giá CLCS của bệnh nhân nhiễm HIV đang điều trị methadone tại Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh được theo dõi dọc trong 9 tháng Kết quả cho thấy có sự tăng lên đáng kể về CLCS của người bệnh theo thời gian điều trị, đặc biệt về khía cạnh tâm lý Bệnh nhân đang sử dụng heroin có CLCS thấp hơn nhiều so với những người không còn sử dụng [39]

WHOQOL-Nghiên cứu của Bộ Y tế phối hợp với tổ chức UNAIDS và FHI trên 965 bệnh nhân điều trị methadone trong thời gian 24 tháng tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân có chất lượng cuộc sống ở mức tốt hoặc rất tốt tăng từ xấp xỉ 16% tại thời điểm bắt đầu điều trị lên 55% sau 3 tháng điều trị Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng hoặc rất hài lòng với tình trạng sức khỏe cũng tăng từ 31,5% tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu lên khoảng 50-55% sau 24 tháng điều trị [5]

Năm 2014, Lê Thị Hương và Phạm Đức Mạnh thực hiện nghiên cứu cắt ngang trên tại 301 bệnh nhân bắt đầu điều trị trong vòng 3 tháng tại 3 tỉnh miền núi phía Bắc: Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, sử dụng bộ câu hỏi WHOQOL-BREF Đa số bệnh nhân hài lòng về sức khỏe bản thân với 97,3% tự đánh giá từ mức trung bình

Trang 27

trở lên Tỷ lệ bệnh nhân tự đánh giá CLCS tốt và rất tốt là 20,6% và 2,3 Điểm CLCS chung của là 76,1/100, trong đó điểm khía cạnh môi trường cao nhất là 69,1

và thấp nhất ở mặt tinh thần là 59,8 [7]

Như vậy, các nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân điều trị methadone ở trong và ngoài nước bằng bộ công cụ WHOQOL-BREF cho thấy điểm CLCS của bệnh nhân đều từ 50 điểm trở lên, đa số CLCS bệnh nhân cải thiện đáng

kể, ở cả khía cạnh xã hội và môi trường

Một nghiên cứu khác của tác giả Trần Xuân Bách sử dụng bộ công cụ EQ-5D trên 1003 bệnh nhân điều trị methadone tại 5 cơ sở điều trị với các mô hình lồng ghép khác nhau ở Hà Nội và Nam Định năm 2013 cho thấy tính chung có 95,4% bệnh nhân cải thiện về CLCS sau tháng điều trị Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân có cải thiện CLCS cao nhất (97,6%) ở các cơ sở điều trị methadone có lồng ghép tư vấn xét nghiệm HIV và điều trị kháng vi rút (ARV) ở khu vực thành thị [37]

1.5 Các yếu tố liên quan đến CLCS của bệnh nhân điều trị methadone

Giới Có mối liên quan giữa điểm CLSCS và giới tính CLCS của nam giới tốt

hơn nữ giới ở tất cả các khía cạnh và ở thời điểm điều trị khác nhau [28] Điểm CLCS thể chất và tinh thần của nam cao hơn nữ lần lượt là 1,7 và 4,3 điểm (p<0,001)[23] Sự khác biệt là do phụ nữ bị suy giảm sức khỏe và thể chất nhiều hơn nam giới[41]

Tuổi: Tuổi càng cao có điểm chất lượng thể chất càng thấp Bệnh nhân trên 45

tuổi phải chịu đựng những cơn đau về thể chất cao gấp 2 lần các nhóm tuổi khác và

dễ gặp phải những rối loạn tâm thần hơn nhóm trẻ tuổi [48] Tuổi không phải là yếu

tố liên quan đến CLCS tinh thần [23]

Trình độ học vấn: Trình độ học vấn càng cao, điểm CLCS mặt tâm lý và xã

hội càng cao Bệnh nhân có trình độ đại học có điểm chất lượng tâm lý và xã hội cao hơn các bệnh nhân ở nhóm khác [16],[46] Một số nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy bệnh nhân có trình độ văn hóa từ trung học cơ sở trở lên có điểm CLCS cao hơn so với nhóm còn lại [7]

Trang 28

Tình trạng hôn nhân: Người đã kết hôn có điểm CLCS cao hơn độc thân

Nhóm đã kết hôn có điểm CLCS cao nhất, đến nhóm độc thân và thấp nhất ở nhóm

ly thân/ly hôn/góa [46] Điểm CLCS nhóm có gia đình cao hơn 1,6 đến 3,1 điểm so với nhóm chưa kết hôn, cao nhất ở mặt môi trường, thấp nhất ở mặt tâm lý [26]

Chỉ số BMI: Bệnh nhân có BMI thấp có CLCS về mặt thể chất và tinh thần

thấp Bnh nhân có BMI thấp <18,5 có CLCS thể chất và tinh thần đều thấp [54]

Việc làm và thu nhập: CLCS ở cả 4 khía cạnh đều thấp nếu bệnh nhân không

có việc làm hay thu nhập Công việc là nguồn thu nhập giúp bệnh nhân có thể cải thiện cuộc sống [18],[48] Công việc sẽ giúp họ có thu nhập hỗ trợ cho bản thân và gia đình, từ đó cải thiện CLCS CLCS ở cả 4 khía cạnh đều bị ảnh hưởng nếu bệnh nhân không có thu nhập hay không có công việc ổn định [54] Điểm CLCS của nhóm bệnh nhân có việc làm và thu nhập cao hơn nhóm không có việc làm, không thu nhập, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 [7],[46]

Thời gian sử dụng ma túy: Sử dụng ma túy càng lâu, CLCS càng thấp Bệnh

nhân sử dụng ma túy trong thời gian dài hơn có CLCS thấp hơn trong nhóm sử dụng ngắn hơn [19],[20],[24]

Thời gian điều trị methadone: Thời gian điều trị methadone càng lâu CLCS

càng tăng Bệnh nhân điều trị methadone lâu hơn có thay đổi và cải thiện đáng kể về CLCS trong tất cả các lĩnh vực theo thời gian [24],[28]; trong đó CLCS về mặt thể chất thay đổi rõ rệt nhất [30] Bên cạnh đó, CLCS của bệnh nhân cũng cho thấy có mối liên quan với các loại mô hình lồng ghép điều trị methadone [37]

Nhiễm HIV: Những bệnh nhân đang sống chung với virus HIV có điểm CLCS

chung [27] cũng như điểm CLCS mặt tâm lý và môi trường thấp hơn so với ở bệnh nhân có xét nghiệm HIV âm tính[16],[38]

Bệnh mạn tính: Bệnh nhân mắc bệnh mạn tính có điểm CLCS về thể chất và

tinh thần môi trường đều thấp hơn so với bệnh nhân không mắc bệnh [23],[26] Kết quả tương tự cũng được ghi nhận với bệnh nhân có dấu hiệu trầm cảm, lo lắng [37]

Trang 29

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

1.6 Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

Nghệ An là tỉnh nằm ở khu vực Bắc miền Trung, có diện tích tự nhiên rộng 16.489 km2; phía Bắc giáp Thanh Hoá, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông với bờ biển dài 82 km, phía tây giáp Lào với 419 km đường biên giới; dân số hơn 3 triệu người, phân bố thành 21 đơn vị hành chính (17 huyện, 01 thành phố, 03 thị xã) với 480 xã, phường, thị trấn Do địa bàn rộng và tiếp giáp khu vực biên giới nên tình hình mua bán ma túy khá phức tạp và khó kiểm soát

- Mối quan hệ xã hội

Môi trường an ninh, kinh tế, y

tế, xã hội, gia đình (tiếp cận

và chất lượng)

Khía cạnh vềxã hội

Quan hệ của cá nhân, các hỗ trợ xã hội,…

Khía cạnhvề tâm lý

Sự tự tin, cảm xúc tiêu cực, tích cực, trí nhớ và sự tập trung

Khía cạnh về thể chất

Giấc ngủ, sự vận động, khả năng làm việc,

Trang 30

Số người nghiện ma túy tại Nghệ An đứng thứ 6 trong cả nước, ước tính 7.300 người, trong đó 5.522 người nghiện chất dạng thuốc phiện [9]; đây là nhóm dân số nguy cơ chính và có tác động lớn đến dịch HIV/AIDS tại Nghệ An Theo báo cáo tình hình dịch HIV/AIDS tại Nghệ An đến nay đã phát hiện được 7.871 trường hợp nhiễm HIV/AIDS,trong đó tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng nghiện chích ma túy chiếm 83,1% tổng số người nhiễm[11] Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm TCMT thời gian qua

có xu hướng giảm nhưng vẫn khá cao so với trung bình cả nước

Trước tình hình ma túy và HIV/AIDS gia tăng trên địa bàn, năm 2012 tỉnh Nghệ An đã triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng methadone Tính đến 31/12/2016, toàn tỉnh Nghệ An đã đưa vào hoạt động 12 cơ sở điều trị methadone, với số bệnh nhân đang điều trị là 734 đạt 21,6% chỉ tiêu Chính phủ giao tại Quyết định số 1008/QĐ-TTg ngày 20/6/2014 [12]

Cơ sở điều trị methadone đặt tại trụ sở Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An tại Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An là cơ sở điều trị đầu tiên đi vào hoạt động từ tháng 7/2012, chính thức điều trị khởi liều cho những bệnh nhân đầu tiên vào tháng 9/2012 Tính đến 31/10/2016 cơ sở điều trị methadone ở đây có 395 bệnh nhân đang được điều trị [13]

Trang 31

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từtháng 11/2015 đến tháng 6/2016 tại Cơ sở điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng methadone thuộc Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Nghệ An

2.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là những bệnh nhân (BN) đang điều trị methadone tại Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Nghệ An, nơi bắt đầu điều trị methadone từ tháng 9/2012 Việc chọn BN trong giai đoạn ổn định liều dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đó đều cho thấy giai đoạn khởi liều và dò liều, bệnh nhân thường chưa ổn định về mặt sức khoẻ, dao động về tâm lý và tinh thần, chưa chắc chắn việc tham gia điều trị nên điểm CLCS cũng rất thay đổi [5]

- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đang được lưu giữ tại cơ sở điều trị

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân đăng ký điều trị tại cơ sở methadone ở Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS Nghệ An ngay từ đầu và tại thời điểm nghiên cứu đang được điều trị ở giai đoạn ổn định liều

- Bệnh nhân đủ tỉnh táo minh mẫn để tham gia hết thời gian phỏng vấn

- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân từ CSĐT khác đến uống nhờ/uống tạm thời tại cơ sở

- Bệnh nhân đang trong giai đoạn khởi liều, dò liều

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia

-

Trang 32

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa phỏng vấn bệnh nhân

và hồi cứu các thông tin từ bệnh án của bệnh nhân, sổ sách báo cáo

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Tính theo công thức tính cỡ mẫu cho tính giá trị trung bình của quần thể:

Trong đó:

n: là cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu

Với mức ý nghĩa thống kê α=0,05; Z(1-α/2)= 1,96

δ: Độ lệch chuẩn điểm chất lượng cuộc sống Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương và cộng sự ở Hải Phòng năm 2014, độ lệch chuẩn điểm CLCS lĩnh vực thể chất của bệnh nhân là 13,4 [7]

 d: sai số mong muốn, chọn d=1,5

Thay vào công thức trên ta có n=307 Vào thời điểm triển khai nghiên cứu, tại

cơ sở điều trị methadone của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Nghệ An có 395 bệnh nhân đang điều trị; trong đó có 358 bệnh nhân đạt đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu Bởi vậy, chúng tôi quyết định mời toàn bộ số bệnh nhân này tham gia nghiên cứu, kết quả cuối cùng có 338 bệnh nhân đồng ý tham gia

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin

Việc thu thập thông tin được thực hiện qua hình thức phỏng vấn trực tiếp BN bằng bộ câu hỏi cấu trúc và thu thập các thông tin sẵn có từ hồ sơ bệnh án của BN

Trang 33

2.5.1 Công cụ thu thập thông tin

2.5.1.1 Bộ câu hỏi cấu trúc (Phụ lục 1)

Sử dụng bộ câu hỏi cấu trúc được thiết kế sẵn, bao gồm hai phần chính: (i) các thông tin chung có liên quan đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và (ii) bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống WHOQOL-BREF

Phần hỏi về các thông tin chung của đối tượng nghiên cứu bao gồm: (1) thông tin về nhân khẩu và kinh tế xã hội; (2) hành vi sử dụng ma túy; (3) tình trạng nhiễm HIV và các bệnh liên quan; và (4) thông tin về sử dụng các dịch vụ y tế và xã hội Phần Thông tin về CLCS của bệnh nhân, chúng tôi chọn sử dụng bộ công cụ WHOQOL-BREF là một phiên bản rút gọn của phiên bản đầy đủ WHOQOL-100

do WHO đề xuất Bộ công cụ WHOQOL-BREF được chọn vì các lý do: Bộ công

cụ này bao phủ được các khía cạnh chính về CLCS như trong khung lý thuyết, đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới với độ tin cậy cao [18], [22]; phù hợp với các nghiên cứu trên bệnh nhân tiêm chích ma tuý và nhiễm HIV [29] Bộ công cụ cũng đã được Việt hóa và sử dụng trong một số nghiên cứu ở Việt Nam [5], [39] cho phép so sánh kết quả và góp phần cung cấp thông tin cho cho nghiên cứu hiệu chuẩn công cụ sau này

Bộ công cụ WHOQOL-BREF gồm 26 câu, bao gồm 2 câu đo lường sức khỏe tổng quát và 24 câu đo lường CLCS theo 4 lĩnh vực: thể chất, tinh thần, xã hội và môi trường [5],[15],[39]

- Lĩnh vực sức khỏe thể chất, với 7 câu hỏi về các vấn đề hoạt động sinh hoạt hàng ngày, tình trạng phụ thuộc vào thuốc chữa bệnh và hỗ trợ y tế, sức lực và mệt mỏi, sự vận động, đau đớn khó chịu, khả năng làm việc, giấc ngủ và nghỉ ngơi

- Lĩnh vực tâm lý, với 6 câu hỏi về sự tự tin về bản thân, cảm xúc tiêu cực,tích cực; lòng tự trọng; tâm linh/tôn giáo/tín ngưỡng cá nhân; suy nghĩ, học tập, trí nhớ

và sự tập trung

- Lĩnh vực xã hội, với 3 câu hỏi về các mối quan hệ cá nhân, các hỗ trợ xã hội

và hoạt động tình dục

Trang 34

- Lĩnh vực môi trường, với 8 câu hỏi bao gồm các nội dung: nguồn lực tài chính, tự do, an toàn về thể chất và an ninh, chăm sóc y tế và chăm sóc xã hội (khả năng tiếp cận và chất lượng), môi trường gia đình, cơ hội để có được thông tin và kỹ năng mới, tham gia vào và có cơ hội cho các hoạt động vui chơi giải trí, giải trí, môi trường vật lý (ô nhiễm/tiếng ồn/khí hậu), giao thông vận tải [5], [15], [39]

Mỗi câu hỏi có 5 ý trả lời theo thang điểm Likert, tương ứng với điểm số từ

1-5 Điểm thô cho từng lĩnh vực của CLCS là tổng điểm của các câu trong lĩnh vực

đó, không tính điểm của 2 câu hỏi về sức khoẻ tổng quát Như vậy, tổng điểm tối đa cho cả 4 lĩnh vực CLCS là 120; điểm số càng cao tương ứng với CLCS càng cao Điểm thô của từng lĩnh vực sau đó được quy đổi bằng phần mềm thống kê hoặc sử dụng bảng chuyển đổi thủ công về thang điểm 0-20 hoặc 0-100 (Phụ lục 3) nhằm so sánh trực tiếp với điểm CLCS khi sử dụng bản công cụ đầy đủ (WHOQOL-100) [15] Phương pháp thứ nhất thường được áp dụng cho những nơi đã áp dụng rộng rãi bộ công cụ WHOQOL-100 Phương pháp thứ hai cho phép dễ dàng ước tính mức độ đạt điểm tối đa trong mỗi lĩnh vực nên thường được sử dụng nhiều hơn, đặc biệt cho những nơi bộ công cụ WHOQOL-100 chưa được sử dụng rộng rãi như ở Việt Nam, chủ yếu nhằm đánh giá độ tin cậy của công cụ WHOQOL-BREF [15]

2.5.1.2 Phiếu thu thập thông tin từ hồ sơ bệnh án (Phụ lục 2)

Sử dụng mẫu phiếu được thiết kế để thu thập một số thông tin sẵn có trong hồ

sơ bệnh án của bệnh nhân về tình hình tiền sử sử dụng ma tuý, thông tin về kết quả xét nghiệm HIV, tình trạng mắc và điều trị các bệnh đồng nhiễm, quá trình điều trị methadone, các tác dụng phụ ghi nhận được trong quá trình điều trị methadone

2.5.2 Quy trình thu thập thông tin

- Tập huấn cho điều tra viên là 03 cán bộ tư vấn của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Nghệ An có nhiều kinh nghiệm làm việc với các đối tượng TCMT và nhiễm HIV

- Thử nghiệm bộ công cụ trên 10 đối tượng nhằm chuẩn hóa công cụ nghiên cứu về sự phù hợp của câu hỏi, ngôn ngữ…trong bộ công cụ

Trang 35

- Tiến hành thu thập thông tin cho nghiên cứu theo các bước sau:

Bước 1: Mời bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào phòng kín để đảm bảo sự riêng tư

bí mật Điều tra viên giới thiệu mục đích, nội dung nghiên cứu và các quyền lợi, sự tự nguyện của đối tượng khi tham gia vào nghiên cứu

Bước 2: Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu ký vào bản đồng thuận nghiên cứu

Bước 3: Điều tra viên tiến hành hỏi đối tượng theo bộ công cụ có sẵn

Bước 4: Điều tra viên cảm ơn đối tượng tham gia nghiên cứu

- Học viên giám sát, phỏng vấn lại 5% số BN vào thời điểm thích hợp

2.6 Biến số nghiên cứu: Gồm 6 nhóm biến (Phụ lục 3)

2.6.1.Nhóm biến về Thông tin nhân khẩu học và kinh tế xã hội, bao gồm: Tuổi, Trình độ học vấn, Nghề nghiệp, Thu nhập bình quân

2.6.2.Nhóm biến về đặc điểm gia đình gồm: Tình trạng hôn nhân, Người sống cùng, Hài lòng với những người sống cùng

2.6.3 Đặc điểm sử dụng ma túy gồm: Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy, Các loại ma túy

từng sử dụng, Tình trạng sử dụng ma túy trong 1 tháng qua

2.6.4 Tình trạng nhiễm HIV và điều trị methadone gồm: Tình trạng nhiễm trùng cơ

hội, Tình trạng nhiễm HIV, Tình trạng mắc Lao, Thời gian bắt đầu điều trị methadone, Tình trạng bỏ liều methadone, Các tác dụng phụ của methadone

2.6.5 Thực trạng sử dụng dịch vụ y tế gồm: Dự phòng HIV, Dự phòng tái nghiện,

Tái hòa nhập, Điều trị ARV-Lao

2.6.6.Chất lượng cuộc sống trong 4 tuần qua (theo thang điểm likert): gồm nhóm biến về Thể chất (7 biến), nhóm biến về Tâm lý (6 biến), nhóm biến về Xã hội (3 biến), nhóm biến về Môi trường (8 biến) và 2 biến đánh giá về CLCS chung

2.7 Xử lý và phân tích số liệu

2.7.1 Nhập và làm sạch số liệu

Các bảng hỏi thu về được học viên kiểm tra lại để bổ sung thông tin nếu thiếu trước khi nhập vào máy tính trên phần mềm EpiData 3.1 Sau đó, toàn bộ số liệu

Trang 36

được chuyển sang phần mềm Stata 14.0 để kiểm tra, làm sạch trước khi tiến hành phân tích theo hướng dẫn

2.8 Sai số và cách khắc phục

Bảng 2.2: Sai số và cách khắc phục sai số trong nghiên cứu

Sai số nhớ

lại

Bệnh nhân có thể quên dẫn đến khai báo không chính xác các sự kiện xảy ra trong quá khứ

- Sử dụng Bộ công cụ WHOQOL-BREF với khoảng thời gian nhớ lại là 4 tuần

- Sử dụng thêm một số thông tin

từ bệnh án để đối chiếu, bổ sung Sai số hệ

Trang 37

Loại sai số Tình huống Cách khắc phục

không hiểu rõ về bộ câu hỏi

- Từ phía người trả lời: Không hiểu rõ nội dung câu hỏi

- Do chủ đề và công cụ thu thập thông tin: có một số thông tin nhạy cảm, ngôn ngữ không phù hợp

điều tra

- Thử nghiệm và chỉnh sửa câu từ trong công cụ trước khi điều tra

- Phỏng vấn BN trong phòng kín bảo đảm riêng tư

- Giám sát phỏng vấn lại 5% số

BN

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu tuân thủ các quy trình xét duyệt và thông qua đề cương nghiên cứu của Hội đồng đạo đức – Trường Đại học Y tế cộng cộng Hà Nội Nghiên cứu được Ban lãnh đạo Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS Nghệ An, Trưởng cơ sở và các cán bộ cơ sở điều trị methadone quan tâm, ủng hộ và cho phép triển khai

Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý hợp tác của đối tượng.Các thông tin cá nhân được mã hoá và giữ bí mật hoàn toàn Người nghiên cứu chỉ sử dụng các số liệu, thông tin thu thập được phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không

sử dụng cho mục đích nào khác

Kết quả nghiên cứu được cung cấp cho lãnh đạo Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Nghệ An sau khi kết thúc nghiên cứu nhằm sử dụng vào mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân điều trị methadone trên địa bàn tỉnh

Trang 38

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của bệnh nhân

(n=338)

Tỷ lệ (%) Tuổi

Thu nhập trung bình/tháng của cá nhân

Thu nhập trung bình/tháng, triệu đồng (SD) 3,33 ± 5,22

Toàn bộ 338 BN tham gia nghiên cứu đều là nam giới với tuổi trung bình là 36,8 tuổi; nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 30-39 tuổi (50,8%) Đa số BN có trình

độ phổ thông trung học (56,2%) và trung học cơ sở (27,5%) Tỷ lệ thất nghiệp thấp

Trang 39

chiếm 12,1%; đa số 67,5% BN là lao động tự do, chỉ có 20,4% có công việc ổn định Có 68,3% BN có thu nhập, với mức trung bình 3,33 triệu đồng

Bảng 3.2: Một số thông tin về gia đình của bệnh nhân

Mối quan hệ với người sống cùng

Mức thu nhập bình quân/tháng của gia đình

Hơn một nửa (59,5%) bệnh nhân sống ở thành phố Có 62,4% BN đã kết hôn/tái hôn; 9,5% BN gặp các vấn đề về hôn nhân (ly hôn, ly thân, góa vợ) BN chủ yếu sống cùng vợ con(64,5%)hoặc bố mẹ (30,5%) Đa số BN hài lòng (62,7%) hoặc

Trang 40

rất hài lòng (25,1%) với người sống cùng Phần lớn BN sống trong hộ gia đình có thu nhập trung bình của cả hộ trong một tháng từ 5-10 triệu (chiếm 58,6%)

Bảng 3.3: Đặc điểm sử dụng ma tuý và nhiễm HIV của bệnh nhân

Tuổi trung bình khi sử dụng ma tuý lần đầu (SD) 24,5 (7,4)

Loại ma tuý sử dụng lần đầu

Ngày đăng: 03/04/2018, 23:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w