DANH MỤC CÁC CH VIẾT TẮT CBYT Cán bộ y tế CSNB Chăm sóc người bệnh ĐD Điều dưỡng ĐDCĐ Điều dưỡng cao đẳng ĐDĐH Điều dưỡng đại học ĐDTC Điều dưỡng trung cấp ĐTLT Đào tạo liên tục ĐTNC Đối
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-000 -
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC
CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG, GIAI ĐOẠN 2015 - 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
HÀ NỘI - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
-000 -
NGUYỄN THỊ HOÀI THU
ĐÁNH GIÁ NHU CẦU ĐÀO TẠO LIÊN TỤC
CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG TẠI BỆNH VIỆN PHỔI TRUNG ƯƠNG, GIAI ĐOẠN 2015 - 2017
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
1 PGS.TS Nguyễn Thanh Hương 2 TS Hoàng Thanh Vân
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp đỡ
dù nhiều hay ít, trực tiếp, gián tiếp của những người xung quanh chúng ta Trong suốt thời gian 2 năm học tại trường đến nay, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ các quý thầy, cô, anh/ chị đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thanh Hương, người giáo viên mẫu mực, tận tình giúp đỡ, dạy dỗ từ khi bắt đầu lựa chọn vấn đề nghiên cứu đến khi tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Thanh Vân, giáo viên hướng dẫn, người lãnh đạo, người chị cùng với sự nhiệt tình, quan tâm đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn những người thân trong gia đình, các anh/chị, em đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập vừa qua Xin trân trọng cảm ơn!
Nguyễn Thị Hoài Thu
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Phân loại điều dưỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dưỡng tại Việt Nam 5
1.2.1 Phân loại và nhiệm vụ ĐD 5
1.2.1.1 Điều dưỡng trung cấp 5
1.2.1.2 Điều dưỡng cao đẳng 6
1.2.1.3 Điều dưỡng (Đại học) 6
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn 9
1.2.3 Chức năng của người Điều dưỡng 9
1.2.3.1 Chức năng chủ động (độc lập) 9
1.2.3.2 Chức năng phối hợp 9
1.3 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế 9
1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên Thế giới 9
1.3.2 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế ở Việt Nam 10
1.3.2.1 Tầm quan trọng và một số định hướng ĐTLT CBYT ở Việt Nam 10
1.3.2.2 Hệ thống cơ sở ĐTLT cán bộ y tế 12
1.4 Đánh giá nhu cầu đào tạo 13
1.4.1 Nhu cầu đào tạo của CBYT 13
1.4.2 Xác định nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế 14
1.5 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng 15
1.5.1 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng trên Thế giới 15
1.5.2 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng tại Việt Nam 18
1.6 Giới thiệu về Bệnh viện Phổi Trung ương 21
Trang 51.6.1 Chức năng 21
1.6.2 Nhiệm vụ 22
1.6.3 Hệ thống tổ chức 22
1.6.4 Công tác ĐTLT cho Điều dưỡng năm 2014 22
Chương 2 26
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu 26
2.1.1 Nghiên cứu định lượng 26
2.1.2 Nghiên cứu định tính 26
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 26
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 26
2.3 Thiết kế nghiên cứu 26
2.4 Cỡ mẫu 26
2.4.1 Cỡ mẫu cho phương pháp định lượng 26
2.4.2 Cỡ mẫu cho phương pháp định tính 26
2.5 Phương pháp chọn mẫu 27
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng 27
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 27
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng 27
2.6.1.1.Công cụ thu thập số liệu 27
2.6.1.2 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.6.2 Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu định tính 28
2.6.2.1 Phỏng vấn sâu 28
2.6.2.2 Thảo luận nhóm 29
2.7 Các biến số nghiên cứu 29
Trang 62.8 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 29
2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 30
2.10 Hạn chế của nghiên cứu và các biện pháp khắc phục 30
2.10.1 Hạn chế 30
2.10.2 Cách khắc phục 30
Chương 3 31
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 31
3.3 Thực trạng công tác đào tạo liên tục của điều dưỡng 41
3.4 Nhu cầu ĐTLT từ phản hồi của điều dưỡng giai đoạn 2015 - 2017 48
3.4.1 Các lĩnh vực ưu tiên đào tạo của điều dưỡng giai đoạn 2015 - 2017 48
3.4.2 Nhu cầu về tổ chức khóa đào tạo liên tục của điều dưỡng 53
Chương 4 55
BÀN LUẬN 55
4.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 55
4.2 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng 55
4.2.1 Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh 55
4.2.2 Thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 57
4.2.4 Nhiệm vụ thực hiện các công việc khác 60
4.3 Nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng giai đoạn 2015 - 2017 61
4.3.1 Các lĩnh vực ưu tiên đào tạo của ĐD giai đoạn 2015 - 2017 61
4.3.2 Nhu cầu về tổ chức khóa đào tạo liên tục 64
KẾT LUẬN 66
5 1 Thực trạng thực hiện nhiệm vụ của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng 66
5.2 Nhu cầu đào tạo liên tục 66
KHUYẾN NGHỊ 67
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 72
Phụ lục 1 : Các biến số nghiên cứu 72
Phụ lục 2 : Phiếu điều tra nhu cầu đào tạo 80
Phụ lục 3 : Hướng dẫn phỏng vấn sâu 88
Phụ lục 4 : Hướng dẫn thảo luận nhóm 90
Phụ lục 5 : Các bảng số liệu giá trị thực và tỷ lệ % trong mục 3.2 (Kết quả nghiên cứu) 91
Trang 8DANH MỤC CÁC CH VIẾT TẮT
CBYT Cán bộ y tế
CSNB Chăm sóc người bệnh
ĐD Điều dưỡng
ĐDCĐ Điều dưỡng cao đẳng
ĐDĐH Điều dưỡng đại học
ĐDTC Điều dưỡng trung cấp
ĐTLT Đào tạo liên tục
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
GDSK Giáo dục sức khỏe
NB Người bệnh
NCĐT Nhu cầu đào tạo
NCKH Nghiên cứu khoa học
PHCN Phục hồi chức năng
PVS Phỏng vấn sâu
TLN Thảo luận nhóm
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin chung về điều dưỡng đang làm việc tại các khoa Lâm sàng 31
Bảng 3.2: Mức độ thực hiện nhiệm vụ thực hiện chăm sóc người bệnh 32
Bảng 3.3: Mức độ tự tin về nhiệm vụ thực hiện chăm sóc người bệnh 33
Bảng 3.4: Mức độ thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 34
Bảng 3.5: Mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 35
Bảng 3.6: Mức độ thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng phức tạp 36
Bảng 3.7: Mức độ tự tin khi thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng phức tạp 38
Bảng 3.8: Mức độ thực hiện các công việc khác 39
Bảng 3.9: Mức độ tự tin khi thực hiện các công việc khác 40
Bảng 3.10: Thời gian, địa điểm tham gia các khóa ĐTLT trong 3 năm gần đây (năm 2012 đến năm 2014) 41
Bảng 3.11: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về nội dung thực hiện chăm sóc người bệnh (n = 224) 43
Bảng 3.12: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 44
Bảng 3.13: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về nội dung thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng phức tạp 45
Bảng 3.14: Mức độ điều dưỡng đã được đào tạo về nội dung thực hiện các công việc khác 47
Bảng 3.15: Các lĩnh vực ĐD mong muốn được ĐTLT 48
Bảng 3.16: Mong muốn được ĐTLT của điều dưỡng về lĩnh vực thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng phức tạp 51
Bảng 3.17: Mong muốn được đào tạo liên tục của điều dưỡng về lĩnh vực thực hiện các nhiệm vụ khác 52
Bảng 3.18: Các mong muốn về công tác tổ chức đào tạo liên tục 53
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: Lĩnh vực điều dưỡng đã tham gia học trong 3 năm gần đây 42 Biểu đồ 2: Mong muốn được ĐTLT của điều dưỡng về lĩnh vực thực hiện chăm sóc người bệnh 49 Biểu đồ 3: Mong muốn được ĐTLT của điều dưỡng về lĩnh vực thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản 50
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nhân lực điều dưỡng (ĐD) nói riêng tại bệnh viện là vấn đề rất quan trọng Để nâng cao chất lượng đào tạo cho ĐD thì việc xác định nhu cầu đào tạo là rất cần thiết Nghiên cứu này được tiến hành tại Bệnh viện Phổi Trung ương từ tháng 3-8/2015 nhằm mô tả việc thực hiện nhiệm vụ và xác định nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) của ĐD giai đoạn 2015 - 2017 Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp thu thập số liệu định lượng và định tính Số liệu được thu thập bằng phiếu phát vấn tự điền với toàn bộ 224 ĐD trình độ đại học, cao đẳng và trung cấp ở các khoa lâm sàng, nhập số liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1, xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS16.0 Kết hợp phỏng vấn sâu (PVS)
lãnh đạo bệnh viện (03 người) và thảo luận nhóm (TLN) lãnh đạo khoa (01 cuộc)
Kết quả cho thấy, 2/6 nhiệm vụ chăm sóc người bệnh (CSNB) được ĐD nhận định mức độ thực hiện thường xuyên và tự tin dưới 50%, mong muốn đào tạo trên 60%-80%, đó là Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN) và Tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK); Nhóm thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản, 2/13 nhiệm vụ được nhận định mức độ thực hiện và tự tin trên, dưới 60%, mong muốn đào tạo trên 70%, đó là
kỹ thuật Cấp cứu ban đầu và Bóp bóng Ambu, ép tim ngoài lồng ngực Thực hiện các kỹ thuật ĐD phức tạp, 4/10 nhiệm vụ thuộc nhóm kỹ thuật phụ giúp bác sĩ: Đặt ống nội khí quản, Rửa màng phổi, Chọc dò màng tim, Mở khí quản chỉ đạt mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin dưới 50%; mong muốn đào tạo chiếm tỷ lệ trên 60%-80% Tham gia nghiên cứu khoa học (NCKH) của ĐD được nhận định mức độ thường xuyên thực hiện và tự tin chiếm tỷ lệ thấp, dưới 10,2%; mong muốn được đào tạo chiếm tỷ lệ khá cao trên 70%
Các nội dung cần đào tạo giai đoạn 2015 - 2017 dựa trên việc thực hiện nhiệm
vụ và đề xuất nhu cầu của ĐD như sau: (1) Chăm sóc PHCN; (2) Tư vấn GDSK đào tạo sớm từ cuối 2015 cho cả 2 nhóm trình độ; (3) Kỹ thuật Cấp cứu ban đầu; (4) Kỹ thuật Bóp bóng Ambu, ép tim ngoài lồng ngực: đào tạo vào cuối 2015 và đầu năm
2016 cho toàn bộ ĐD; (5) Kỹ thuật phụ giúp bác sĩ Chọc dò màng tim; (6) Phụ giúp bác sĩ Đặt ống nội khí quản; (7) Phụ giúp bác sĩ Mở khí quản: Ưu tiên các khoa lâm
Trang 12sàng có buồng cấp cứu người bệnh nặng, khoảng giữa năm 2016; (8) Kỹ thuật phụ giúp bác sĩ Rửa màng phổi: Ưu tiên khoa Phẫu thuật lồng ngực; Phẫu thuật Gây mê, Nội tổng hợp, cuối năm 2016; (9) NCKH trong lĩnh vực ĐD: ưu tiên đào tạo ĐD đại học (ĐDĐH), ĐD cao đẳng (ĐDCĐ) trước, bố trí vào năm 2017 Thời gian cho mỗi khóa học từ 2 - 5 ngày và địa điểm tổ chức phù hợp nhất là tại bệnh viện
Các kết quả nghiên cứu là bằng chứng hữu ích để phòng ĐD và bệnh viện có kế hoạch triển khai công tác ĐTLT phù hợp cho ĐD theo lộ trình đào tạo từng lĩnh vực
ưu tiên trong giai đoạn 2015 - 2017
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Nghị quyết số 46/NQ-TƯ của Bộ chính trị đã chỉ rõ: “Nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được đào tạo, tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” Nguồn nhân lực quyết định chất lượng dịch vụ y tế Ngành Y tế là một ngành đặc biệt, cán bộ y tế (CBYT) phải học tập suốt đời mới đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân [22] Tại điều 33 và 37 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh qui định quyền lợi và nghĩa vụ học tập liên tục của người hành nghề khám chữa bệnh [7] Triển khai chủ trương học tập suốt đời cho CBYT, Thông tư 22/2013/TT-BYT của Bộ Y tế qui định các CBYT hàng năm phải có nghĩa vụ học tập nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, giao trách nhiệm cho các đơn vị sử dụng nhân lực y tế tạo điều kiện để CBYT của đơn vị thực hiện nghĩa vụ học tập [22]
Xác định được nhu cầu đào tạo (NCĐT) của CBYT là rất cần thiết bởi không phải chỉ có nhu cầu của bản thân người CBYT mà còn là nhu cầu, trách nhiệm của các nhà quản lý đang sử dụng nguồn nhân lực y tế [6] Xác định NCĐT nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng cần đào tạo và hình thức đào tạo cho phù hợp [22] Nghiên cứu của Nguyễn Việt Cường về “Đánh giá nhu cầu đào tạo liên tục cán bộ điều dưỡng tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình Hà Nội, năm 2010” cho thấy sự cần thiết phải xác định nhu cầu ĐTLT của CBYT làm cơ sở cho việc thực hiện ĐTLT phù hợp nhằm nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ này Điều này càng đặc biệt cần thiết với đội ngũ ĐD vì đây là nhân lực chiếm tỷ lệ lớn và đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe của hệ thống y tế [14] Đội ngũ ĐD tại các cơ sở y tế là nguồn nhân lực quan trọng, góp vai trò rất lớn vào việc nâng cao chất lượng CSNB, do đó chất lượng của đội ngũ ĐD là vấn đề đang được quan tâm chú trọng Việt Nam, ĐD đã được xem là một nghề độc lập trong hệ thống y tế, cấp bậc, trình độ đã được quy định cụ thể theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/4/2005 [5] Tuy nhiên trong thực tế tại các cơ sở y tế, người ĐD thường có đặc thù riêng về công việc mà họ được đảm nhận [14] Bên cạnh đó trong Chương trình hành động quốc gia về tăng cường dịch vụ ĐD giai đoạn 2012 - 2020, đang là vấn đề thách thức đối với các nhà quản lý Do chưa có phân cấp cụ thể phạm vi hành nghề của ĐD theo trình độ đào tạo dẫn đến dù có
Trang 14trình độ đào tạo khác nhau nhưng tại các cơ sở y tế vẫn còn tình trạng ĐDĐH, ĐDCĐ thực hiện nhiệm vụ như điều dưỡng trung cấp (ĐDTC) [9]
Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện chống Lao, thành lập theo Nghị định số 273/TTg ngày 24 tháng 6 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ Năm 2011 được đổi tên thành Bệnh viện Phổi Trung ương, là bệnh viện chuyên khoa cao nhất
về Lao và Bệnh phổi với tổng số công chức, viên chức, người lao động trong toàn bệnh viện tính đến thời điểm tháng 12/2014 là 650 người; trong đó có 128 bác sĩ và
252 điều dưỡng [2] Trong những năm qua, mặc dù bệnh viện luôn chú trọng, quan tâm đến việc duy trì, đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo cho cán bộ viên chức nhưng công tác đào tạo của ĐD tại bệnh viện vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: chưa đồng bộ từ mục tiêu, chương trình đào tạo, chưa phân định được các đối tượng ĐD ở trình độ khác nhau thì cần học những nội dung nào cho phù hợp, chưa nắm rõ được nhu cầu các loại hình ĐD của bệnh viện nên việc đào tạo chưa đạt kết quả cao và chưa đáp ứng đúng yêu cầu thực tế Ngoài ra, đội ngũ giáo viên, phương pháp đào tạo, điều kiện
cơ sở vật chất còn bất cập, hạn chế nên chất lượng đào tạo chưa cao [3]
Từ trước tới nay tại Bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đề cập tới mức độ thực hiện nhiệm vụ của ĐD và khảo sát xem nhu cầu thực sự của họ cần đào tạo về những lĩnh vực gì và tổ chức đào tạo như thế nào trong thời gian tới để có kế hoạch ĐTLT phù hợp?
Để trả lời các câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
nhu cầu đào tạo liên tục của Điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện Phổi Trung ương, giai đoạn 2015 - 2017”
Kết quả nghiên cứu sẽ giúp Lãnh đạo bệnh viện có bằng chứng khoa học để xây dựng nguồn nhân lực ĐD, sử dụng nhân lực hiệu quả, xây dựng kế hoạch đào tạo cụ thể, thiết thực, đúng nhu cầu để nâng cao chất lượng chăm sóc, đảm bảo an toàn và mang lại sự hài lòng cho người bệnh
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả việc thực hiện các nhiệm vụ của Điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Trung ương, năm 2015
2 Xác định nhu cầu đào tạo liên tục của Điều dưỡng lâm sàng tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2015 - 2017
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
Điều dưỡng: là một nghề có lịch sử lâu đời gắn với sự phát triển xã hội loài
người, là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe và các khả năng phòng bệnh, xoa dịu nỗi đau qua dự phòng, chẩn đoán và điều trị đáp ứng nhu cầu của con người; tăng cường chăm sóc các cá nhân, gia đình, cộng đồng
và xã hội Ngày nay, ĐD đã được công nhận là một nghề nghiệp độc lập, cùng cộng tác với các bác sĩ, dược sĩ, kỹ thuật viên và các loại hình nhân lực khác trong hệ thống y tế để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cá nhân, gia đình, cộng đồng
và xã hội Người làm nghề ĐD được gọi là Điều dưỡng viên [16]
Theo quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội
Vụ, ĐD là viên chức chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, thực hiện, tổ chức thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và kỹ thuật ĐD chuyên khoa tại các cơ sở y tế [5]
Đào tạo liên tục: Là các khoá đào tạo ngắn hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để
cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độ thuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụ chỉ đạo tuyến, đào tạo chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân [11]
Cơ sở đào tạo liên tục của ngành Y tế: Là các bệnh viện, viện có giường bệnh;
viện nghiên cứu; các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp/dạy nghề y tế; các cơ sở giáo dục khác có đào tạo mã ngành thuộc khối ngành khoa học sức khỏe; các trung tâm
có đào tạo nhân lực y tế, được Bộ Y tế thẩm định và công nhận theo quy định [22]
Nhu cầu đào tạo: Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là hai định
nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở để đánh giá nhu cầu đào tạo (NCĐT):
- Nhu cầu được định nghĩa là sự chênh lệch giữa các mong muốn, các yêu cầu hay các tiêu chuẩn đặt ra và những thực tế đạt được [29]
- NCĐT của một người là những gì người đó cần học để có thể đạt được một mục tiêu nhất định trong cuộc sống hay công việc của họ Thông thường, nhu cầu học thường xuất phát từ những mong muốn hay nguyện vọng của chính người
Trang 17học Đôi khi, người học không tự mình thấy ngay được những nhu cầu đó mà cần phải có sự hỗ trợ, tư vấn của người làm công tác đào tạo để có thể thấy rõ NCĐT chính là những kiến thức, kỹ năng, phương pháp và quan điểm mà học viên cần học để đáp ứng những nguyện vọng, yêu cầu trong công việc và cuộc sống của họ [17]
Đánh giá nhu cầu đào tạo: Có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng sau đây là
hai định nghĩa thường được sử dụng để làm cơ sở cho thực hiện đánh giá NCĐT: Đánh giá NCĐT là một quá trình mà bạn cố gắng hiểu rõ về người tham gia và năng lực của họ trước khi đào tạo Đánh giá NCĐT quan tâm đến nhu cầu cần phải học, không phải quan tâm đến việc thích hay không thích của người học Đánh giá NCĐT giúp xác định sự chênh lệch giữa kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học đang có với kỹ năng, kiến thức và thái độ mà người học cần phải có [17]
1.2 Phân loại điều dƣỡng, nhiệm vụ và chức năng của điều dƣỡng tại Việt Nam
1.2.1 Phân loại và nhiệm vụ ĐD
Tại Việt Nam, theo Quyết định số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm
2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định nhiệm vụ của các trình độ ĐD như sau:
1.2.1.1 Điều dưỡng trung cấp
- Trực tiếp thực hiện chăm sóc toàn diện cho người bệnh (NB);
- Thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản theo từng lĩnh vực chuyên khoa và phụ giúp
ĐD ở ngạch cao hơn thực hiện các kỹ thuật phức tạp theo y lệnh của bác sĩ điều trị và sự phân công của ĐD phụ trách;
- Theo dõi, ghi chép diễn biến hàng ngày của NB, chú ý NB nặng và cấp cứu;
- Thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu;
- Tiếp đón NB đến khám bệnh, vào viện, ra viện, chuyển khoa, chuyển viện;
- Chuẩn bị đủ, đúng và kịp thời các phương tiện, dụng cụ, thuốc, hồ sơ bệnh án;
- Bảo quản thuốc và tài sản (dụng cụ y tế máy móc, trang thiết bị, )
- Chịu trách nhiệm cá nhân về số thuốc và tài sản được quản lý;
- Thực hiện GDSK, đôn đốc, nhắc nhở NB, người nhà NB thực hiện nội quy của khoa và bệnh viện;
- Tham gia hướng dẫn thực hành kỹ thuật ĐD cơ bản cho học sinh ĐD;
Trang 18- Thực hiện các quy định về y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD
1.2.1.2 Điều dưỡng cao đẳng
- Lập kế hoạch CSNB toàn diện và trực tiếp thực hiện kế hoạch CSNB theo đúng quy chế chuyên môn
- Thực hiện các kỹ thuật ĐD cơ bản và một số kỹ thuật ĐD phức tạp của chuyên khoa theo y lệnh của bác sĩ điều trị và sự phân công của ĐD phụ trách
- Theo dõi, đánh giá toàn trạng và ghi chép những diễn biến hàng ngày của NB, chú trọng NB nặng và các trường hợp cấp cứu để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc; phát hiện và báo cáo kịp thời các diễn biến bất thường của NB để bác sĩ điều trị xử lý
- Thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp bệnh nặng
- Tiếp đón NB đến khám bệnh, vào viện, ra viện, chuyển khoa, chuyển viện, đi khám cận lâm sàng;
- Dự trù và chuẩn bị đủ, đúng, kịp thời các trang thiết bị dụng cụ y tế, thuốc, hồ sơ bệnh án cho công tác cấp cứu, khám, điều trị và CSNB
- Vận hành, bảo quản, bảo dưỡng phương tiện máy móc, trang thiết bị được phân công; phát hiện những hỏng hóc và đề xuất phương án xử lý kịp thời
- Chịu trách nhiệm cá nhân về số thuốc và tài sản được quản lý
- Thực hiện tư vấn, GDSK cho NB, gia đình NB và cộng đồng; đôn đốc, nhắc nhở
NB, gia đình NB giữ gìn trật tự vệ sinh
- Hướng dẫn thực hành các kỹ thuật ĐD cho điều dưỡng ở ngạch thấp hơn và tham gia NCKH về lĩnh vực CSNB
- Thực hiện các quy định về y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD
1.2.1.3 Điều dưỡng (Đại học)
- Lập kế hoạch chăm sóc và phối hợp với bác sĩ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch CSNB toàn diện theo đúng các quy chế chuyên môn
- Tổ chức thực hiện và theo dõi, giám sát các ĐD ở ngạch thấp hơn trong việc
thực hiện các y lệnh của bác sĩ và thực hiện kế hoạch CSNB
Trang 19- Thực hiện thành thạo những kỹ thuật ĐD cơ bản và các kỹ thuật ĐD phức tạp của lĩnh vực chuyên khoa
- Tổ chức thực hiện các quy trình tiếp đón NB đến khám, điều trị, làm các xét nghiệm, chuyển khoa, chuyển viện, ra viện và tổ chức thực hiện các thủ tục chăm sóc khi NB tử vong theo đúng quy định
- Tổ chức việc theo dõi, đánh giá toàn trạng và ghi chép những diễn biến hàng ngày của NB, chú trọng NB nặng và cấp cứu để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, báo cáo bác sĩ kịp thời xử lý các diễn biến bất thường của NB
- Tổ chức thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, điều trị cho NB nặng
- Dự trù và tổ chức việc chuẩn bị đủ, đúng, kịp thời dụng cụ, phương tiện, thuốc
và hồ sơ bệnh án phục vụ cho công tác khám bệnh, cấp cứu, điều trị và CSNB
- Tổ chức thực hiện vận hành, bảo quản, bảo dưỡng, phương tiện máy móc trang thiết bị thuộc chuyên khoa Phát hiện những hỏng hóc và đề xuất phương án xử lý
- Chịu trách nhiệm cá nhân về thuốc và tài sản được quản lý
- Tổ chức thực hiện công tác tư vấn, GDSK và công tác giữ gìn trật tự, vệ sinh, phòng dịch bệnh
- Hướng dẫn kỹ thuật ĐD cho học sinh, sinh viên ĐD, ĐD ở ngạch thấp hơn; thực hiện chỉ đạo tuyến và tham gia các đề tài NCKH trong lĩnh vực ĐD
- Tổ chức thực hiện các quy định y đức, các quy chế chuyên môn và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD [5]
Nhƣ vậy, qua nội dung mô tả nhiệm vụ của ĐD theo văn bằng đào tạo ở phần
trên cho thấy có những điểm khác biệt về nhiệm vụ của ba đối tượng ĐDTC, ĐDCĐ và ĐDĐH như sau:
- Về lập kế hoạch chăm sóc: chỉ có ở ĐDCĐ và đại học, riêng ĐDĐH có thêm nhiệm vụ phối hợp với bác sĩ để tổ chức thực hiện kế hoạch
- Về thực hiện thủ thuật ĐD: ĐDTC chỉ được thực hiện các thủ thuật ĐD cơ bản
và phụ giúp ĐD ngạch cao hơn thực hiện kỹ thuật phức tạp ĐDCĐ ngoài việc thực hiện thủ thuật ĐD cơ bản còn được thực hiện 1 số kỹ thuật phức tạp ĐDĐH phải thực hiện thành thạo các kỹ thuật ĐD cơ bản và phức tạp
- Về giám sát thực hiện kế hoạch chăm sóc: chỉ có ở ĐDĐH
Trang 20- Về theo dõi NB: ĐDTC chỉ có nhiệm vụ theo dõi, ghi chép diễn biến để phát hiện và báo cáo kịp thời ĐDCĐ thêm nhiệm vụ: đánh giá toàn trạng NB để điều chỉnh kế hoạch chăm sóc; ĐDĐH có nhiệm vụ cao hơn: Tổ chức thực hiện việc theo dõi đánh giá toàn trạng NB
- Về sơ cứu, cấp cứu ban đầu: Tất cả các đối tượng ĐD đều có nhiệm vụ này; riêng ĐDĐH có thêm nhiệm vụ tổ chức thực hiện
- Về tiếp đón NB: Tất cả các đối tượng ĐD đều có nhiệm vụ này; riêng ĐDĐH có thêm nhiệm vụ tổ chức thực hiện các quy trình tiếp đón
- Về chuẩn bị, bảo quản thuốc, tài sản, dụng cụ và phương tiện:
+ Chuẩn bị đúng, đủ và kịp thời các phương tiện, dụng cụ, thuốc, hồ sơ bệnh án phục vụ cho công tác CSNB: các đối tượng ĐD đều có nhiệm vụ này, ĐDCĐ thêm nhiệm vụ dự trù phương tiện, dụng cụ, thuốc; ĐDĐH ngoài dự trù còn phải
tổ chức thực hiện việc chuẩn bị phương tiện, dụng cụ, thuốc
+ ĐDTC có nhiệm vụ bảo quản thuốc và tài sản, ĐDCĐ có nhiệm vụ vận hành, bảo quản, bảo dưỡng các phương tiện ĐDĐH có trách nhiệm tổ chức vận hành, bảo quản, bảo dưỡng
+ ĐDTC có nhiệm vụ phát hiện kịp thời các hỏng hóc của dụng cụ, trang thiết bị…để đề nghị sửa chữa ĐDCĐ và đại học ngoài nhiệm vụ như ĐDTC còn có nhiệm vụ đề xuất phương án xử lý kịp thời
+ Cả ba đối tượng đều có nhiệm vụ chịu trách nhiệm cá nhân về số thuốc và tài sản được phân công quản lý
- Về giáo dục sức khỏe: Nhiệm vụ này chỉ có ở ĐDTC và ĐDCĐ bao gồm: Đôn đốc, nhắc nhở NB, người nhà NB giữ gìn vệ sinh, trật tự và thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu cũng như vệ sinh phòng chống dịch bệnh
- Về huấn luyện, đào tạo: Có sự khác biệt rõ nét giữa các đối tượng ĐD như
ĐDTC chỉ tham gia hướng dẫn thực hành kỹ thuật ĐD cơ bản; còn ĐDCĐ có nhiệm vụ hướng dẫn thực hành kỹ thuật ĐD cho ĐD ở ngạch thấp hơn; trong khi ĐDĐH có nhiệm vụ hướng dẫn kỹ thuật ĐD cho học sinh, sinh viên ĐD và cho
ĐD ở ngạch thấp hơn
- Về chỉ đạo tuyến: Nhiệm vụ này chỉ có ở ĐDĐH
Trang 21- Về thực hiện quy chế, quy định: Nhiệm vụ này bao gồm thực hiện các quy định
về y đức, các quy chế chuyên môn, các quy trình kỹ thuật của ngành y tế và các quy định của pháp luật liên quan đến lĩnh vực ĐD; cả ba đối tượng ĐD đều có nhiệm vụ này, riêng ĐDĐH có thêm nhiệm vụ đó là tổ chức thực hiện các quy chế liên quan [19]
1.2.2 Nhiệm vụ chuyên môn
Tại chương II của thông tư số 07 “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện” ngày 20/01/2011 Bộ Y tế quy định về nhiệm vụ của
ĐD viên gồm có 12 nhiệm vụ như sau: (1) Tư vấn, hướng dẫn GDSK; (2) Chăm sóc
về tinh thần; (3) Chăm sóc vệ sinh cá nhân; (4) Chăm sóc dinh dưỡng; (5) Chăm sóc phục hồi chức năng (PHCN); (6) Chăm sóc NB có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật; (7) Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho NB; (8) Chăm sóc NB giai đoạn hấp hối
và NB tử vong; (9) Thực hiện các kỹ thuật ĐD; (10) Theo dõi, đánh giá NB; (11) Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc NB; (12) Ghi chép hồ sơ bệnh án [8]
1.2.3 Chức năng của người Điều dưỡng
- Chức năng phối hợp: là cộng tác với bác sĩ, phối hợp với bạn bè, đồng nghiệp
- Khi thực hiện chức năng này người ĐD cần phát huy tính chủ động sáng tạo,
thực hiện nhiệm vụ theo qui định để thể hiện vai trò của mình [25]
1.3 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế
1.3.1 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế trên Thế giới
ĐTLT là hình thức học tập rất phát triển trên thế giới đặc biệt trong ngành Y tế,
để hành nghề một cách hiệu quả trong suốt cuộc đời, người CBYT phải được cập nhật những thông tin mới nhất về kỹ năng lâm sàng, kiến thức lý thuyết và tổ chức triển khai công việc, về đạo đức y học, giảng dạy, nghiên cứu và quản lý [14] Công
Trang 22tác ĐTLT và việc người thầy thuốc cần phải học tập suốt đời ngày càng trở nên quan trọng nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng của hệ thống chăm sóc y tế
Vì vậy, liên đoàn Giáo dục Y học Thế giới (World Federation for Medical Education - WFME) với tư cách là tổ chức quốc tế đại diện cho tất cả các cơ sở đào tạo y học đã khởi xướng các phương pháp học tập mới, các công cụ hướng dẫn mới
và đổi mới quản lý giáo dục y học Năm 1998, với sự phối hợp của Tổ chức y tế giới (WHO) WFME đã xây dựng các tiêu chuẩn quốc tế trong giáo dục y học Mục tiêu là cung cấp được một số chính sách cho việc nâng cao chất lượng trong giáo dục y học, trong phạm vi toàn cầu để áp dụng ở các nước trên thế giới Bộ tiêu chuẩn quốc tế của WHO và WFME gồm có ba tập bao gồm cả ba giai đoạn của quá trình đào tạo y học là: Giáo dục y học cơ bản; Giáo dục y học sau đại học; và ĐTLT/phát triển nghề nghiệp liên tục Bộ tiêu chuẩn quốc tế này đã được đưa ra tại Hội nghị toàn cầu về Giáo dục y học tại Cophenhaghen (2003) và đã được chính thức thông qua, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng để áp dụng [22]
1.3.2 Công tác đào tạo liên tục cán bộ y tế ở Việt Nam
1.3.2.1 Tầm quan trọng và một số định hướng ĐTLT CBYT ở Việt Nam
Việc cập nhật liên tục những kiến thức, kỹ thuật mới, hạn chế tối thiểu những sai sót chuyên môn là một nhiệm vụ bắt buộc với mọi ngành nghề, với nghề Y lại càng quan trọng do đây là nghề đặc thù gắn liền với tính mạng và sức khỏe của con người nước ta, ĐTLT nhân lực y tế đã được triển khai thông qua các hình thức như tập huấn chuyên môn, chỉ đạo tuyến, hội thảo, hội nghị, giao ban chuyên môn bệnh viện [22] Nghị quyết số 46/NQ-TƯ của Bộ chính trị đã chỉ rõ “Nghề Y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt” đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, nêu bật tính đặc thù trong đào tạo, sử dụng nhân lực
y tế [4] Trong 10 năm qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến đào tạo, sử dụng, đãi ngộ CBYT như: quyết định số 243/2005/QĐ-TTg về “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 46/NQ-TW” [24] Luật Khám bệnh, chữa bệnh đã qui định, nghĩa vụ học tập của Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và qui định những người không tham gia cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong 2 năm sẽ bị thu hồi chứng chỉ hành nghề [7]
Trang 23Năm 2008, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 07/2008/TT-BYT hướng dẫn công tác ĐTLT đối với CBYT Thông tư này quy định tất cả CBYT đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của mình [22] Tuy nhiên, việc triển khai ĐTLT nhân lực y tế theo Luật khám bệnh, chữa bệnh và Thông tư về ĐTLT còn khá chậm, nhiều đơn vị y tế vẫn còn thụ động, trông chờ ở Bộ Y tế và sự hỗ trợ từ các dự án, vì vậy việc đào tạo liên tục CBYT còn chưa đáp ứng được như mong muốn Đến nay, Việt Nam tuy bước đầu đã hình thành hệ thống ĐTLT nhưng chưa hoàn chỉnh Để phù hợp với Luật khám bệnh, chữa bệnh và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, năm 2013 Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT về hướng dẫn ĐTLT cho CBYT Bộ Y tế cũng xây dựng và ban hành Chiến lược về ĐTLT trong lĩnh vực y tế giai đoạn 2012 - 2020 và định hướng đến năm 2030, hướng dẫn các Sở Y tế, các cơ sở y tế từ Trung ương đến địa phương trong việc tổ chức triển khai công tác ĐTLT có chất lượng [22] ĐTLT là nhằm cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới cho CBYT, đảm bảo để họ không bị tụt hậu so với những tiến bộ của y học và cũng đồng thời đảm bảo các kiến thức, kỹ năng đã học trước đây không bị rơi rụng, từ đó đảm bảo có được một đội ngũ CBYT có chất lượng
Trước đây việc ĐTLT được giao cho các trường Y - Dược đảm nhận, hiện nay
do quá tải về số lượng tuyển sinh mới nên việc ĐTLT ở các trường Y - Dược có bị hạn chế Mọi CBYT đều cần được ĐTLT thường xuyên để nâng cao trình độ chuyên môn nên số lượng người tham gia học tập là rất lớn; Với số lượng trên 500.000 CBYT đang làm việc trong hệ thống y tế thì các trường Y - Dược không có khả năng đảm nhận Thực tế cho thấy CBYT được đào tạo tại chỗ sát với nhu cầu công việc hàng ngày hiệu quả hơn là họ về các trường để học tập, đến nay Bộ Y tế chủ trương giao cho các Sở Y tế, các đơn vị Trung ương cùng với các trường phải tham gia công tác tổ chức ĐTLT [22] Do vậy cơ sở ĐTLT hiện nay gồm: (1) Các trường Y - Dược tổ chức các khóa ĐTLT theo các chương trình chính quy mà trường đang triển khai để đào tạo cập nhật, đào tạo kỹ thuật, công nghệ mới, mã số ĐTLT để quản lý là mã A; (2) Các bệnh viện, các Viện nghiên cứu, các cơ sở y tế được Bộ Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến và các Trung tâm đào tạo nhân lực y tế
Trang 24phải tổ chức đào tạo theo hệ thống, theo nhiệm vụ, mã số ĐTLT là mã B; (3) Các
Sở Y tế và đơn vị trực thuộc phải tổ chức đào tạo cho đội ngũ CBYT mà Sở đang quản lý và hành nghề trên địa bàn, mã số ĐTLT là mã C [22]
1.3.2.2 Hệ thống cơ sở ĐTLT cán bộ y tế
Theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT và các văn bản hướng dẫn khác, hệ thống cơ sở ĐTLT hiện có đã bao gồm: các trường Y Dược, các Viện, Bệnh viện Trung ương có nhiệm vụ đào tạo, chỉ đạo tuyến và các cơ sở y tế thuộc tỉnh (bệnh viện, trung tâm) có đơn vị ĐTLT dưới sự quản lý của Sở Y tế
Các trường Y Dược: bao gồm các trường đại học, cao đẳng, trung cấp y tế, là các
cơ sở đào tạo chuyên nghiệp đã được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định thành lập (Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và đào tạo, UBND các tỉnh), được Bộ Y tế
và Bộ Giáo dục và đào tạo giao tuyển sinh, đào tạo chính quy các loại hình nhân lực y
tế Tất cả các trường đã được Bộ Y tế giao nhiệm vụ ĐTLT cán bộ y tế phù hợp với chương trình, trình độ đào tạo chính quy Đến nay, Bộ Y tế đã công nhận trên 100 cơ
sở ĐTLT cho các trường đại học, cao đẳng, trung cấp Y Dược trong cả nước [22]
Các Viện nghiên cứu và bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế: Các đơn vị này tuy không
phải là đơn vị đào tạo chính quy nhưng đều là đơn vị phối hợp đào tạo, là cơ sở thực hành của các trường Y Dược Đây là môi trường đào tạo khá tốt, với đội ngũ CBYT, cán bộ nghiên cứu nhiều kinh nghiệm và trang thiết bị hiện đại lại gắn bó mật thiết với nhiệm vụ thực tiễn của ngành Trên cơ sở nhiệm vụ được giao cho từng đơn vị, Bộ Y tế đã rà soát và cho phép củng cố các Trung tâm đào tạo/Phòng đào tạo ở các đơn vị này để đẩy mạnh hơn nữa công tác ĐTLT, đáp ứng nhu cầu học tập Đến nay đã có trên 50 viện, bệnh viện trung ương thành lập các đơn vị ĐTLT, được cấp mã số đào tạo [22]
Sở Y tế: Các cơ sở đào tạo ở đây thường đặt tại các bệnh viện đa khoa, chuyên
khoa tỉnh, các trung tâm y tế như: dân số, sức khỏe sinh sản, y tế dự phòng Đến nay, đã có hơn 50% số Sở Y tế được Bộ Y tế công nhận là cơ sở ĐTLT và được cấp
mã số đào tạo [22] Hình dưới đây mô tả tóm tắt Sơ đồ hệ thống tổ chức các cơ sở ĐTLT CBYT hiện nay tại Việt Nam:
BỘ Y TẾ
Trang 25Hình 1: Sơ đồ Hệ thống tổ chức các cơ sở đào tạo liên tục cán bộ y tế
1.4 Đánh giá nhu cầu đào tạo
1.4.1 Nhu cầu đào tạo của CBYT
CBYT, những người làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, hầu hết đã được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ tại các trường hoặc các cơ sở đào tạo trong
hệ thống giáo dục quốc dân Họ đã tốt nghiệp các khóa đào tạo và được xác định trình độ chuyên môn theo các bậc đào tạo (dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, đại học) [14] Tuy đã được đào tạo, nhưng trong quá trình làm việc họ luôn có nhu cầu, cần thiết phải được tiếp tục đào tạo để có thể đảm trách được các nhiệm vụ được giao, thăng tiến trong nghề nghiệp và hoàn thiện quá trình phát triển của bản thân
Có những nhiệm vụ hoặc kỹ thuật mới được áp dụng vào công việc của người CBYT, điều này thường xuyên xảy ra trong thời đại phát triển khoa học công nghệ
Trang 26như hiện nay Nếu người CBYT không được đào tạo hoặc không tự cập nhật kiến thức cho bản thân thì sẽ khó có thể đáp ứng được nhiệm vụ của mình
NCĐT không phải chỉ đơn thuần là nhu cầu của bản thân người CBYT mà nó còn là nhu cầu, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hay cá nhân sử dụng nguồn nhân lực Nếu một đơn vị chỉ trông chờ vào trình độ chuyên môn hiện có của đội ngũ nhân viên mà không có kế hoạch và biện pháp đào tạo, bồi dưỡng liên tục nguồn nhân lực của mình thì khó có thể phát triển được đơn vị, nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân [14]
1.4.2 Xác định nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế
Đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ được xác định là tất cả các hoạt động nhằm bù đắp những thiếu hụt và bổ sung, nâng cao kỹ năng, kiến thức của mình Các hình thức đào tạo lại, bồi dưỡng cho CBYT rất phong phú, có thể là những lớp, khóa đào tạo lại, các cuộc tập huấn, hội thảo về một hay nhiều chủ đề chuyên môn, nghiệp vụ, cũng có thể chỉ là những buổi học, giờ học ngay trong các cuộc giám sát, giao ban, sinh hoạt chuyên đề Xác định NCĐT nhằm phát hiện chính xác những vấn đề cần đào tạo, đối tượng CBYT cần được đào tạo và đưa ra được chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu cũng như hoàn cảnh thực tế của công việc Xác định NCĐT là bước đầu tiên trong quy trình đào tạo, nó được tiến hành trước khi lập kế hoạch đào tạo [28]
Có các phương pháp và cách tiếp cận khác nhau để xác định NCĐT Tuy nhiên các phương pháp đều có một mục đích chung là nhằm đưa ra được những chênh lệch giữa những gì hiện có và những gì cần có cho hiện tại và tương lai Có thể tổng hợp quy trình đánh giá NCĐT theo các bước chính sau đây: (1) Bước 1: Thu thập các thông tin về nhu cầu (ý kiến của các chuyên gia tư vấn, thông qua điều tra bằng
bộ câu hỏi, PVS, TLN…); (2) Bước 2: Phân tích số liệu (phân tích những khác biệt, chênh lệch giữa những kiến thức, kỹ năng mong muốn và những kiến thức, kỹ năng
mà những cán bộ thực hành đang có); (3) Bước 3: Chỉ ra những vấn đề trong triển khai/thực hiện; (4) Bước 4: Đưa ra những định hướng và giải pháp khắc phục (những cải tiến trong nội dung, phương pháp đào tạo); (5) Bước 5: Xác định cách tốt nhất để giải quyết vấn đề, trong đó cân nhắc đến cả các yếu tố về chi phí hiệu
Trang 27quả [36]
Hiện nay, cán bộ ĐD đang làm việc tại các bệnh viện là nguồn nhân lực rất lớn, đóng vai trò quan trọng trong công tác CSNB Việc xem xét trình độ chuyên môn nghiệp vụ và sự thiếu hụt các kỹ năng để từng bước đào tạo, nâng cao trình độ cho nguồn nhân lực này là việc làm thường xuyên và cần thiết Vì vậy, xác định được NCĐT, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ của người ĐD với mục đích mỗi vị trí công việc cần đào tạo nội dung nào cho phù hợp, tránh lãng phí nguồn nhân lực Việc xác định NCĐT của người ĐD tốt nhất là được tiến hành bởi chính người ĐD
và các cán bộ quản lý nguồn nhân lực ĐD, như thế NCĐT được xác định thiết thực hơn, có giá trị thực tế hơn so với những kế hoạch đào tạo chỉ do các nhà quản lý lập
kế hoạch đào tạo
1.5 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dƣỡng
1.5.1 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng trên Thế giới
Hiện nay ngành ĐD trên Thế giới được xếp vào một ngành nghề riêng biệt, ngang bằng các ngành nghề khác Có nhiều trường đào tạo ĐD với các trình độ khác nhau: trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học một số nước phát triển như Mỹ, Anh, Pháp, Úc và một số nước tiên tiến trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Hàn Quốc, việc đào tạo ĐD đã đi vào nề nếp, có hệ thống, ổn định về quy mô đào tạo, đội ngũ cán bộ giảng dạy đạt chuẩn chất lượng [18] Xây dựng chương trình đào tạo ĐD theo tín chỉ và dựa trên hình thành năng lực Đây là cách xây dựng bền vững cho một hệ thống đào tạo lâu dài Tuy nhiên các nước này đang gặp phải vấn đề, đó là thiếu sinh viên theo học tức là sẽ thiếu những ĐD viên tương lai Trong khi tình trạng dân số già
đi nhanh chóng, những bệnh mạn tính, ung thư tăng cao đòi hỏi phải có lực lượng CBYT chăm sóc thường xuyên Chính vì thế việc nhập khẩu các ĐD viên là vấn đề bắt buộc để giải quyết tình trạng thiếu hụt này [30] Nhiều nước như Mỹ, Canada, Anh, Nhật Bản khi mở ra các cơ sở y tế không có ĐD để tuyển, vì vậy các nước này đưa ra chính sách thu hút về lương và gia hạn thị thực để tuyển ĐD viên có trình độ tại các quốc gia đang phát triển Do vậy việc ĐTLT càng được các nước phát triển nhập khẩu ĐD chú ý dựa trên xác định nhu cầu của họ để đảm bảo chất lượng chăm sóc ĐD theo chuẩn của các quốc gia này [18]
Trang 28Trung tâm đào tạo Điều dưỡng Excellence tại Mỹ, đảm bảo các nguyên tắc giáo dục người trưởng thành, thực hành dựa trên bằng chứng, nghiên cứu và phát triển chuyên nghiệp được tích hợp vào chương trình giáo dục thường xuyên và các chương trình này đáp ứng các tiêu chuẩn hiện hành ĐTLT điều dưỡng bao gồm các
kế hoạch, kinh nghiệm học tập có tổ chức được thiết kế để tăng cường kiến thức, thái độ và kỹ năng/năng lực nhằm tăng cường hiệu quả của thực hành ĐD và cuối cùng để giúp cải thiện chất lượng CSNB và phát triển cá nhân chuyên nghiệp Tại đây, người có nhu cầu học sẽ liên hệ với các đơn vị cung cấp chương trình đào tạo ít nhất 4 - 6 tuần trước khi lên kế hoạch học tập của bản thân Đơn vị cung cấp chương trình đào tạo sẽ làm việc với người học để hoàn thành đánh giá NCĐT của
cá nhân trước khi nộp đơn cùng với hồ sơ hoàn chỉnh; phân bổ lại ít nhất 2 - 4 tuần trong việc lập kế hoạch chương trình của người học cho quá trình ứng dụng [32] Nghiên cứu đánh giá nhu cầu ĐTLT của các ĐD tại bộ phận chăm sóc bệnh cấp tính của hai bệnh viện ở khu vực thành thị ở New Zealand của tác giả Lyn Dyson và cộng sự đã được thực hiện vào năm 2009 với 563 ĐD viên và 101 ĐD viên chính/cao cấp Thông tin được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh Kết quả nghiên cứu đã tìm thấy sự đồng nhất về một số nhu cầu học tập qua phản hồi của 2 nhóm ĐD đó là các ĐD đều thể hiện NCĐT cao hơn về các hoạt động chăm sóc bệnh nhân trực tiếp so với nội dung về làm việc nhóm và các vấn đề liên quan đến nghề nghiệp khác như thiết lập mối quan hệ với bệnh nhân, kỹ năng đánh giá về các yếu tố liên quan đến lối sống và sức khỏe gia đình…Tuy nhiên nghiên cứu cũng ghi nhận một số sự khác biệt về NCĐT của các nhóm ĐD khác nhau qua phản hồi của các ĐD viên và ĐD viên chính Nghiên cứu đưa ra kết luận là bên cạnh việc đáp ứng các NCĐT cao về một số lĩnh vực của ĐD nói chung, những người làm quản lý
và đào tạo cũng cần chú ý để xây dựng chương trình và tổ chức đào tạo đáp ứng nhu cầu học tập liên tục đặc thù của các nhóm ĐD khác nhau [34]
Với mục tiêu đánh giá quan niệm và nhu cầu về ĐTLT và các yếu tố tạo động lực với ĐTLT cũng như xác định các rào cản mà các ĐD phải đối mặt trong việc hoàn thành chương trình ĐTLT nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của họ, Chunping Ni và cộng sự (năm 2010) đã tiến hành một nghiên cứu cắt ngang trên
Trang 292.727 ĐD tại 10 bệnh viện ở Trung Quốc, nghiên cứu cho thấy đa số các ĐD (97,3%) đã tham dự các chương trình ĐTLT trong 12 tháng gần đây; trên 92,2%
ĐD đã biết về ý nghĩa của ĐTLT Các ĐD mong muốn tham gia các hoạt động ĐTLT diễn ra trong thời gian 05 ngày và mỗi hoạt động chỉ diễn ra trong khoảng 02 giờ Các yếu tố chính thúc đẩy ĐD tham gia ĐTLT là mong muốn đạt được và cập nhật kiến thức ĐD mới nhất, nâng cao kỹ năng thực hành của họ cũng như chất lượng công việc để duy trì chuyên môn nghiệp vụ và có được các chứng chỉ đào tạo Các yếu tố cản trở sự tham gia của ĐD trong ĐTLT bao gồm: thời gian, cam kết công việc, thiếu cơ hội, chi phí của các khóa học và sự thiếu hụt kinh nghiệm trước
đó ĐD Trung Quốc coi ĐTLT là một biện pháp cực kỳ quan trọng để phát triển hơn nữa năng lực chuyên môn của họ Kỳ vọng cho ĐTLT, các động lực và các rào cản đối với việc tham gia vào ĐTLT, cá nhân ĐD, gia đình và triển vọng phát triển của bệnh viện cần được đưa vào cân nhắc trong thiết kế và thực hiện chương trình ĐTLT hiệu quả hơn [35]
Để đánh giá sự tham gia của các ĐD vào thực hành chăm sóc bệnh nhân có vấn
đề về sức khỏe tâm thần và các NCĐT về sức khỏe tâm thần của ĐD, năm 2011 Prince và Nelson đã thực hiện một nghiên cứu với phương pháp điều tra qua thư với các ĐD hành nghề trong vùng Hawkes Bay và Tairawhiti ở New Zealand Kết quả
từ phiếu trả lời của 52 ĐD (tỷ lệ trả lời là 36%) cho thấy: các ĐD đang hàng ngày chăm sóc cho người bệnh với một loạt các vấn đề sức khỏe tâm thần (trong đó nhiều nhất là trầm cảm và lo âu) Các ĐD thực hiện một loạt các can thiệp sức khỏe tâm thần như tư vấn, cung cấp lời khuyên về thuốc, tuy nhiên ĐD chỉ có sự tự tin ở mức tối thiểu về các kỹ năng của họ Các ĐD có nhu cầu được đào tạo và hỗ trợ chương trình được thiết kế đặc biệt để đáp ứng nhu cầu của họ về sức khỏe tâm thần để giúp
họ cải thiện việc chăm sóc cho NB Điều này đòi hỏi sự hợp tác giữa các trung tâm dịch vụ y tế, trường đào tạo ĐD về sức khỏe tâm thần và các trường đại học để có thể đào tạo các ĐD trở nên tự tin và có đủ năng lực hơn trong thực hành chăm sóc các NB có vấn đề về sức khỏe tâm thần [34]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Mei Chan Chong và cộng sự (năm 2013) nhằm
mô tả thực hành của ĐD tại thời điểm điều tra và nhu cầu ĐTLT nói chung trong
Trang 30tương lai được tiến hành trên 792 ĐD ở các bệnh viện công và các phòng khám của Malaysia qua phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn Bảng hỏi tự điền đã được sử dụng để thu thập số liệu Kết quả nghiên cứu chỉ rõ có 80% (562) ĐD đã tham gia vào hoạt động ĐTLT trong 12 tháng qua; hội thảo là hoạt động ĐTLT phổ biến nhất chiếm 43,6% ĐD trong nghiên cứu đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động ĐTLT đối với sự phát triển nghề nghiệp của họ ĐTLT bắt buộc là giải pháp để đảm bảo rằng các ĐD nâng cao kiến thức và kỹ năng của họ Tuy nhiên, nghiên cứu cũng khuyến cáo rằng, những người hoạch định chính sách và những nhà quản lý ĐD trong lĩnh vực ĐTLT của các cơ sở chăm sóc sức khỏe nên lập kế hoạch để các hoạt động ĐTLT đáp ứng được nhu cầu của ĐD chứ không đơn giản chỉ dựa trên yêu cầu đào tạo của tổ chức [33]
1.5.2 Đánh giá nhu cầu cho ĐTLT đối với điều dưỡng tại Việt Nam
ĐTLT là yếu tố thiết yếu để người ĐD tăng thêm kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của họ Đặc biệt trong ngành ĐD, ĐTLT còn hữu ích hơn cho người ĐD để nâng cao và duy trì nhận thức của họ vì họ phải đối mặt với sự phát triển không ngừng của kiến thức và công nghệ trong dịch vụ chăm sóc sức khỏe [31] Bộ Y tế rất quan tâm đến vấn đề đào tạo cập nhật kiến thức cho tất cả các cán
bộ đang hoạt động trong lĩnh vực y tế, trong đó có ĐD và coi đây là nhiệm vụ bắt buộc Tất cả CBYT đang hoạt động trong lĩnh vực y tế ở Việt Nam phải được đào tạo cập nhật về kiến thức, kỹ năng, thái độ trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ của mình, trong đó có ĐD [14]
Đã có một số nghiên cứu đánh giá năng lực thực hành nhiệm vụ của ĐD sau đào tạo tại một số tỉnh và cơ sở Tác giả Phan Quốc Hội, Nguyễn Thị Xuân và cộng sự nghiên cứu năng lực thực hành của sinh viên tốt nghiệp làm việc tại các cơ sở y tế của tỉnh Nghệ An, cho thấy: thực trạng về năng lực thực hành do ĐD, hộ sinh tự đánh giá mức độ tốt và khá là 90,3% và 92,7%; Cán bộ quản lý đánh giá mức độ tốt, khá là 81,1%; số ĐD, hộ sinh thực hiện tư vấn, GDSK thường xuyên chiếm tỷ lệ thấp (tương ứng là 18,3% và 25,3%); 45,7% số cán bộ quản lý cho rằng ĐD, hộ sinh chưa thực hiện công việc này hoặc có làm nhưng còn nhiều hạn chế [27]
Tác giả Phạm Thị Hiếu đã thực hiện đề tài “Đánh giá của cựu sinh viên về
Trang 31chương trình đào tạo cử nhân ĐD hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định” vào năm 2010 Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng; chọn mẫu toàn bộ, 240 người được chọn trả lời theo bộ câu hỏi tự điền Một số kết luận đã được tác giả đưa ra là: (1) Trong nhóm kỹ năng ĐD cơ bản: kỹ năng thường xuyên sử dụng nhất (80,0%) đồng thời cũng là kỹ năng mà cựu sinh viên cảm thấy tự tin cao khi sử dụng (90,6%) là kỹ năng theo dõi mạch, nhiệt độ, huyết áp; kỹ năng tiêm truyền có mức
độ thường xuyên sử dụng là 76,8% và mức độ tự tin cao nhất là 94,4%; kỹ năng chăm sóc vệ sinh, thực hiện chế độ ăn bệnh lý cho NB, đưa chất dinh dưỡng vào cơ thể, thay băng rửa vết thương có mức độ thường xuyên sử dụng thấp nhất, lần lượt
là 48,8%, 32,8%, 42,4%, 40,8% và mức độ tự tin đối với việc thực hiện các kỹ năng này không cao (lần lượt là 78,4%, 68,0%, 80,8%, 74,4%); (2) Trong nhóm kỹ năng
ĐD phức tạp của lĩnh vực chuyên khoa thì mức độ sử dụng và mức độ tự tin đều giảm (dưới 50%); như kỹ năng trợ giúp bác sĩ chọc dò màng phổi, màng tim, não tủy và kỹ năng trợ giúp bác sĩ đặt ống nội khí quản, mở khí quản lần lượt là 21,6%, 45,6% và 17,6%, 38,4% [18]
Năm 2010, tác giả Nguyễn Việt Cường cũng tiến hành đánh giá nhu cầu ĐTLT
cán bộ ĐD tại 14 trạm y tế phường quận Ba Đình Hà Nội Nghiên cứu này đã áp
dụng phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng thông qua bộ câu hỏi bán cấu trúc và các cuộc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm trên toàn bộ 56 cán bộ ĐD, trạm trưởng 14 người Trong 19 nhiệm vụ thuộc lĩnh vực chuyên môn được nghiên cứu có 05 nhiệm vụ ĐD nhận định thường xuyên thực hiện (trên 80%) là các nhiệm vụ thông thường, đó là: Đón tiếp NB; Tiêm bắp; Đo dấu hiệu sinh tồn (mạch, nhiệt độ, huyết áp, nhịp thở); Thực hiện khử khuẩn, tiệt khuẩn khoa phòng, dụng cụ; Rửa tay thường quy Một số nhiệm vụ kỹ thuật ĐD chuyên sâu được đào tạo tại trường nhưng không thực hiện thường xuyên tại trạm Y
tế gồm: Đặt vòng tránh thai; cho NB ăn qua ống thông; thông tiểu; thụt tháo Có những nhiệm vụ như: Tiêm tĩnh mạch; thay băng rửa vết thương, cắt chỉ được các
ĐD tham gia nghiên cứu tự nhận định là tự tin (trên 70%) nhưng họ lại không thường xuyên thực hiện Hầu hết ĐD nhận định thường xuyên thực hiện truyền
Trang 32thông GDSK và họ cũng tự tin khi thực hiện nhiệm vụ này, đều đạt trên 70% Nghiên cứu này cũng có một số hạn chế đó là cỡ mẫu nhỏ nên chưa đại diện được cho hệ thống y tế cơ sở (Tổng số 56 ĐD trong đó: 01 ĐD cao đẳng, tỉ lệ 1,8%; 52
ĐD trung cấp chiếm tỉ lệ 92,9%; 03 ĐD sơ cấp, tỉ lệ 5,3%) [14]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính (năm 2010) của Bùi Diệu tiến hành trên toàn bộ 65 cán bộ bao gồm tất cả các bác sĩ, kỹ
sư vật lý, kỹ thuật viên xạ trị, ĐD hiện đang công tác tại 5 khoa xạ trị của bệnh viện
K Thu thập thông tin bằng bảng câu hỏi lập sẵn để phỏng vấn; PVS được tiến hành với các lãnh đạo khoa và ĐD trưởng để đánh giá NCĐT cho khối cán bộ xạ trị trong
đó có ĐD Nghiên cứu cho thấy: Khối cán bộ xạ trị của bệnh viện K được đào tạo, đào tạo lại tương đối tốt nhưng chưa đầy đủ và đồng bộ; đa số cán bộ đều gặp khó khăn trong công tác do thiếu hụt về kiến thức và kỹ năng, tình trạng quá tải và thiếu
cơ sở, trang thiết bị; 96,3% ĐD viên có NCĐT thêm về CSNB [15]
Năm 2014, nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Nguyễn Văn Tuấn trên 261 ĐD viên, Lãnh đạo bệnh viện, Lãnh đạo khoa,
ĐD trưởng khoa tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh để đánh giá năng lực thực hành chăm sóc của ĐD Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Tỷ lệ đạt chung về năng lực thực hành chăm sóc ở mức khá cao (86,2%); tỷ lệ đạt của từng nhóm đối tượng nghiên cứu là ĐDĐH 90,2%, ĐDCĐ là 78,9% và ĐDTC là 86,6%; tỷ lệ đạt theo các tiêu chuẩn của năng lực thực hành chăm sóc: (1) Dùng thuốc đảm bảo an toàn hiệu quả (89,7%); (2) Tiến hành các kỹ thuật chăm sóc đúng quy trình (87,4%); (3) Giao tiếp hiệu quả với NB và người nhà NB (68,2%); (4) Xác định nhu cầu và tổ chức hướng dẫn, GDSK cho NB và người nhà NB đạt 65,9%; Nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa năng lực thực hành chăm sóc của ĐD với yếu tố được ĐTLT và hiệu quả của các khóa đào tạo đó (p < 0,01); và có mối liên quan giữa năng lực thực hành chăm sóc với thâm niên công tác, bản chất công việc, sự hài lòng của ĐD với công việc (p < 0,05) [26]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Nguyễn Quang Vinh (năm 2014) nhằm đánh giá năng lực thực hành của 292 ĐDTC đang công tác tại các khoa lâm sàng bệnh viện tuyến huyện tỉnh Đồng Tháp Kết
Trang 33quả cho thấy: Năng lực thực hành cấp cứu ban đầu và năng lực dùng thuốc an toàn cho NB của ĐD đều đạt trên 80%; tuy nhiên, năng lực nhận định tình trạng sức khỏe, hướng dẫn GDSK cho NB chỉ đạt 30%; nghiên cứu cũng cho thấy có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa năng lực chung của ĐDTC với yếu tố đào tạo lại [23] Đánh giá nhu cầu là rất cần thiết trong đào tạo nói chung và ĐTLT cho ĐD nói riêng Mặc dù lĩnh vực ĐD đã tiến hành nhiều nghiên cứu nhưng về NCĐT lại chưa
có nhiều và chỉ dừng ở tuyến y tế xã phường như nghiên cứu ở trên Đặc biệt đến nay tôi chưa tìm thấy nghiên cứu đã công bố về NCĐT của ĐD tại các bệnh viện nói chung và bệnh viện tuyến Trung ương nói riêng Việc đánh giá NCĐT của người ĐD là việc làm cần thiết giúp các nhà quản lý lập kế hoạch đào tạo được xác định thiết thực hơn, có giá trị thực tế hơn do đó tôi thực hiện nghiên cứu này
1.6 Giới thiệu về Bệnh viện Phổi Trung ƣơng
Bệnh viện Phổi Trung ương tiền thân là Viện chống Lao được thành lập theo Nghị định số 273/TTg ngày 24 tháng 6 năm 1957 của Thủ tướng Chính phủ; là Bệnh viện đầu ngành về chuyên khoa Lao và Bệnh phổi của Việt Nam Địa chỉ: số
463 Hoàng Hoa Thám quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
Trong suốt giai đoạn lịch sử hơn 55 năm xây dựng và phát triển, bệnh viện đã khám và chữa bệnh cho hàng triệu lượt người bệnh, chỉ đạo hoạt động phòng chống lao cũng như các bệnh phổi khác trên toàn quốc Thành công của Chương trình chống lao trong thời gian qua đã góp phần nâng cao sức khoẻ cho nhân dân và được
Tổ chức Y tế Thế giới đánh giá là hình mẫu của nhóm các nước có gánh nặng bệnh lao cao nhất [1] Năm 2011, bệnh viện được đổi tên: Bệnh viện Phổi Trung ương, là bệnh viện chuyên khoa cao nhất của cả nước về Lao và Bệnh phổi
Theo Quyết định số 1816/QĐ-BYT ngày 23 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng
Bộ Y tế ban hành Quy chế Tổ chức và hoạt động của bệnh viện Phổi Trung ương chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của bệnh viện được tóm tắt như sau [12]:
1.6.1 Chức năng
Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng, tham mưu, đề xuất các chiến lược và chính sách phát triển hệ thống chuyên khoa, chỉ đạo tuyến; đào tạo, đào tạo lại và ĐTLT; phòng, chống dịch bệnh; hợp tác quốc tế; nghiên cứu khoa
Trang 34học và công nghệ; quản lý, điều hành các dự án quốc gia và quốc tế về lĩnh vực bệnh phổi và lao
1.6.2 Nhiệm vụ Gồm 9 nhóm nhiệm vụ chính, đó là:
(1) Khám cấp cứu, chữa bệnh và phục hồi chức năng; (2) Tham mưu và đề xuất chiến lược, chính sách; (3) Đào tạo cán bộ; (4) Nghiên cứu khoa học; (5) Chỉ đạo tuyến; (6) Hợp tác quốc tế; (7) Phòng, chống dịch bệnh; (8) Tổ chức hoạt động liên doanh, liên kết, dịch vụ; (9) Quản lý đơn vị
1.6.3 Hệ thống tổ chức
Bệnh viện Phổi Trung ương là Bệnh viện chuyên khoa hạng I trực thuộc Bộ Y
tế Cơ cấu, tổ chức các phòng, khoa và Trung tâm, gồm có: 11 phòng chức năng; 06 Trung tâm; 18 khoa Lâm sàng và 07 khoa cận lâm sàng
1.6.4 Công tác ĐTLT cho Điều dưỡng năm 2014
Một trong những nhiệm vụ của bệnh viện là ĐTLT cho CBYT Trong những năm gần đây công tác ĐTLT được lãnh đạo bệnh viện rất quan tâm Năm 2014, Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến đã phối hợp cùng các khoa, phòng chức năng
tổ chức được 29 lớp ĐTLT cho cán bộ viên chức thuộc các đối tượng khác nhau trong bệnh viện với 2.339 lượt người học, phần lớn các lớp học dành cho đối tượng
ĐD Trong năm 2014, ngoài kế hoạch đào tạo hàng năm, bệnh viện còn triển khai đào tạo đột xuất 03 lớp cho đối tượng ĐD tham gia công tác CSNB nặng tại 5 khoa, với số lượng 10 học viên/lớp; đào tạo định hướng chuyên khoa Lao và bệnh phổi cho ĐD, số lượng học viên là 65 người/lớp [3] Tuy nhiên hiệu quả của các lớp đào tạo cho ĐD chưa cao thể hiện: Nội dung đào tạo của các lớp chưa phong phú, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực, lặp đi lặp lại trong nhiều năm; hình thức đào tạo mang nặng tính truyền thống, số học viên trong một lớp quá đông, ngồi học tập trung nghe giảng viên giảng lý thuyết là chính; chưa chú trọng đến giảng dạy thực hành lâm sàng và chất lượng đào tạo…gây tâm lý nhàm chán, đối phó điểm danh là chính Chương trình đào tạo chủ yếu là triển khai đào tạo các nội dung theo yêu cầu được chỉ đạo từ trên xuống chứ chưa quan tâm đến nguyện vọng và nhu cầu của học viên Từ thực tế trên, công tác ĐTLT tại bệnh viện nói chung và cho đối tượng ĐD nói riêng cần được nghiên cứu, khảo sát xem nhu cầu thực sự của họ cần đào tạo về
Trang 35những lĩnh vực gì để có kế hoạch ĐTLT cho phù hợp, hiệu quả
Dựa trên tổng quan các tài liệu, chúng tôi tiến hành xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này như sau:
Trang 36- Kỳ vọng
Thực tế:
- Mức độ thực hiện các nhiệm vụ:
+ ĐD đại học + ĐD cao đẳng + ĐD trung cấp
- Khó khăn và thuận lợi
- Thời gian đào tạo:
+ Ngắn hạn + Dài hạn
- Địa điểm đào tạo: + Tại bệnh viện + Ngoài bệnh viện
Trang 37Khung lý thuyết trên đây mô tả quá trình đánh giá NCĐT của ĐD dựa trên việc thu thập thông tin từ các bên: lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa/phòng liên quan và quan trọng nhất là bản thân các ĐD tự đánh giá để phân tích và xác định khoảng cách hoặc sự khác biệt giữa định hướng phát triển, các quy định về nhiệm
vụ của ĐD phải thực hiện và đối chiếu xem thực tế nhiệm vụ nào người ĐD chưa thực hiện được/thực hiện chưa hiệu quả trong công tác CSNB tại bệnh viện Ngoài
ra còn dựa trên những mong muốn thực sự của họ về việc học tập liên tục để đáp ứng đúng nhu cầu cần phải học Từ đó sẽ xác định được NCĐT và đưa ra được những định hướng quan trọng cho công tác ĐTLT, bao gồm: đối tượng đào tạo theo trình độ, nội dung đào tạo theo các nhóm đối tượng, các lĩnh vực cần ưu tiên đào tạo, các hình thức đào tạo, cách thức tổ chức đào tạo và đội ngũ giảng viên phù hợp với đối tượng là ĐD của bệnh viện
Trang 38Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng
- Điều dưỡng trưởng;
- Điều dưỡng viên của 15 khoa lâm sàng (cả biên chế và hợp đồng 1 năm trở lên): Cấp cứu, Hồi sức tích cực, Bệnh phổi mạn tính, Hô hấp, Lao hô hấp, Nội tổng hợp, Nhi, Khám bệnh, Phẫu thuật lồng ngực, Gây mê hồi sức, Phẫu thuật chỉnh hình xương khớp, Ung bướu, Nội soi chẩn đoán và can thiệp, Thăm dò và Phục hồi chức năng, Dinh dưỡng và tiết chế
2.1.2 Nghiên cứu định tính
- Lãnh đạo Bệnh viện;
- Lãnh đạo Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến;
- Lãnh đạo phòng ĐD;
- Lãnh đạo các khoa lâm sàng;
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng đi học, nghỉ thai sản, đi công tác, nghỉ ốm trong thời gian nghiên cứu
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ tháng 3 đến tháng 8 năm 2015
- Địa điểm nghiên cứu: 15 khoa lâm sàng, bệnh viện Phổi Trung ương
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho phương pháp định lượng
Cỡ mẫu gồm tất cả 13 ĐD trưởng khoa lâm sàng (do khoa Dinh dưỡng chưa có
ĐD trưởng khoa và khoa Thăm dò & Phục hồi chức năng là Kĩ thuật viên trưởng khoa) và toàn bộ ĐD viên của 15 khoa lâm sàng: tổng số 224 người
2.4.2 Cỡ mẫu cho phương pháp định tính
- 03 cán bộ quản lý, gồm:
Trang 39+ Phó Giám đốc Bệnh viện - Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến; + Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến;
+ Trưởng phòng ĐD;
- 05 lãnh đạo khoa lâm sàng cho 01 cuộc thảo luận nhóm;
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn mẫu nghiên cứu định lượng
Chọn mẫu toàn bộ: 13 ĐD trưởng khoa lâm sàng và ĐD viên 15 khoa lâm sàng (224 người)
2.5.2 Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- Phỏng vấn sâu: Chọn chủ đích Phó Giám đốc Bệnh viện - Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến; Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến và Trưởng phòng ĐD (03 người)
- Thảo luận nhóm: Chọn ngẫu nhiên 05 lãnh đạo khoa của 15 khoa lâm sàng gồm: Lãnh đạo các khoa Cấp cứu, Hô hấp, Lao hô hấp, Khám bệnh và Ung bướu
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng
2.6.1.1.Công cụ thu thập số liệu
- Bộ công cụ phát vấn được xây dựng để thu thập thông tin từ ĐD viên và ĐD trưởng khoa lâm sàng (Phụ lục 2) Bộ câu hỏi phát vấn được xây dựng trên cơ sở
tham khảo tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế ĐD (số
41/2005/QĐ-BNV, ngày 22 tháng 4 năm 2005); Quyết định số 41/2005/QĐ-41/2005/QĐ-BNV, ngày 22
tháng 4 năm 2005 của Bộ Nội Vụ đã quy định về phân cấp nhiệm vụ của từng ngạch viên chức ĐD theo trình độ đào tạo Theo quyết định này, nhiệm vụ của
ĐD theo văn bằng đào tạo có những điểm khác nhau của ba đối tượng ĐDTC, ĐDCĐ và ĐDĐH như đã phân tích ở phần tổng quan Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay tại bệnh viện Phổi Trung ương, các đối tượng ĐD thực hiện nhiệm vụ của mình không có sự phân biệt rõ ràng như theo quyết định số 41/2005 đã quy định Qua phỏng vấn nhanh các nhà quản lý bệnh viện cũng cho biết trong điều kiện hiện tại, thời gian tới bệnh viện cũng chưa có định hướng cho việc thực hiện mô tả nhiệm vụ và áp dụng nhiệm vụ khác nhau cho từng nhóm đối tượng này Khi xây dựng bộ công cụ, chúng tôi đã lấy ý kiến của các cán bộ trong
Trang 40phòng ĐD và bộ phận quản lý nhân lực của phòng Tổ chức cán bộ để đảm bảo là bệnh viện không phân biệt các nhiệm vụ của các đối tượng ĐD và Bản mô tả công việc cho từng vị trí ĐD cũng đã thể hiện rõ điều này Chính vì thế, chúng tôi tiến hành xây dựng bộ công cụ thu thập thông tin dùng chung cho tất cả các đối tượng ĐD không phân biệt trình độ đại học, cao đẳng hay trung cấp với các nội dung là nhiệm vụ chính mà hiện tại và trong mấy năm tới các ĐD cần làm Ngoài ra, chúng tôi tham khảo thêm Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác ĐD về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện;
- Bộ công cụ được xây dựng và thử nghiệm tại bệnh viện với 03 ĐD viên và 03
ĐD trưởng và chỉnh sửa để sử dụng cho thu thập thông tin
2.6.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Nghiên cứu viên lập danh sách ĐD trưởng và ĐD viên tham gia nghiên cứu Nghiên cứu viên trực tiếp liên hệ với ĐD trưởng các khoa lên lịch cụ thể và tiến hành thu thập số liệu tại đơn vị được chọn nghiên cứu (15 khoa lâm sàng) sau khi được sự đồng ý của các khoa ĐD trưởng các khoa tập trung các ĐD về phòng giao ban của khoa vào thời điểm đầu giờ làm việc buổi chiều trước khi các ĐD đi thực hiện CSNB Nghiên cứu viên mời các ĐD tham gia phát vấn bằng cách điền vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Nghiên cứu viên thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát theo quy định, phát phiếu để ĐD tự điền và nhắc nhở người tham gia nghiên cứu không trao đổi thông tin trong quá trình điền phiếu Ngay sau khi phiếu tự điền được đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) điền xong, nghiên cứu viên rà soát phiếu và hỏi lại những thông tin chưa hợp lý và giải thích để chính ĐTNC bổ sung/điều chỉnh
- Sau mỗi ngày nghiên cứu viên tập hợp phiếu phát vấn tự điền, kiểm tra phiếu về
số lượng, chất lượng bộ câu hỏi và kiểm tra xác suất một số đối tượng, không có phiếu không đạt yêu cầu
2.6.2 Công cụ thu thập và phương pháp thu thập số liệu định tính
2.6.2.1 Phỏng vấn sâu
- Bộ công cụ thu thập số liệu: Phiếu hướng dẫn PVS để phỏng vấn Phó Giám đốc Bệnh viện - Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến; Phó Giám đốc Trung tâm đào tạo và Chỉ đạo tuyến và Trưởng phòng ĐD (Phụ lục 3)