Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Điều dƣỡng đại học Thăng Long năm 2015 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu chính... tình trạng stre
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG i
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1.Một số khái niệm 4
1.1.1Khái niệm stress 4
1.1.2.Khái niệm sinh viên 5
1.1.3.Sức khoẻ tâm thần (mental health) 6
1.1.4.Cơ chế sinh học của stress 6
1.1.5.Biểu hiện của stress 8
1.1.6.Mức độ stress 9
1.1.7.Nguyên nhân gây stress của sinh viên 10
1.1.8.Một số thang đo Stress 12
1.2.Một số yếu tố nguy cơ, liên quan tới stress của sinh viên 14
1.2.1Tình hình kinh tế, tài chính 14
1.2.2Giới tính 14
1.2.3.Các mối quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội 15
1.2.4.Hỗ trợ xã hội 16
1.3 Một số nghiên cứu về stress trong sinh viên 17
1.3.1 Một số nghiên cứu thực trạng stress trong sinh viên 17
1.3.2Một số nghiên cứu về yếu tố liên quan tới stress của sinh viên Y khoa trong và ngoài nước 20
1.4.Mô hình lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu 22
1.5.Đại học Thăng Long, ngành Điều dưỡng – Đại học Thăng Long 25
1.5.1Đại học Thăng Long 25
1.5.2.Ngành Điều dưỡng – đại học Thăng Long 25
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1.Đối tượng nghiên cứu 27
2.2.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
Trang 42.3.Thiết kế nghiên cứu 27
2.4.Cỡ mẫu nghiên cứu 28
2.5.Phương pháp chọn mẫu 28
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.6.1.Nghiên cứu định lượng 28
2.6.2.Nghiên cứu định tính 29
2.7 Giới thiệu bộ câu hỏi 29
2.8 Các biến số nghiên cứu 31
2.9 Các chủ đề chính trong thảo luận nhóm 31
2.10 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 32
2.11 Phương pháp phân tích số liệu 34
2.11.1 Nghiên cứu định lượng 34
1.11.2 Nghiên cứu định tính 34
2.12 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 34
2.13 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 35
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Kết quả nghiên cứu mô tả 50
3.1.1Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 50
3.1.2 Đặc điểm các mối quan hệ của sinh viên 50
3.1.3.Áp lực học tập 50
3.1.4.Hỗ trợ xã hội đối với sinh viên 50
3.1.5.Mức độ stress 50
3.2 Mối liên quan đơn biến 50
3.2.1.Mối liên quan stress và các yếu tố cá nhân 50
3.2.2.Mối liên quan stress và tình hình tài chính và việc làm thêm 52
3.2.3.Mối liên quan giữa stress và kết quả học tập 53
3.2.4 Mối liên quan giữa stress với thói quen giải trí, tập thể dục 54
3.2.5 Mối liên quan giữa stress và tình trạng mối quan hệ bạn bè, người thân56 3.2.6 Mối liên quan thực trạng stress và các yếu tố áp lực trong học tập 58
3.2.7 Mối liên quan thực trạng stress và các yếu tỗ hỗ trợ 58
3.3 Mối liên quan đa biến giữa stress và các yếu tố liên quan 59
Chương 4: BÀN LUẬN 62
4.1.Thực trạng các yếu tố gây áp lực trong học tập đối với sinh viên 66
Trang 54.2 Thực trạng hỗ trợ xã hội đối với sinh viên 66
4.3.Thực trạng stress của sinh viên 67
4.4 Một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên 68
4.4.1Mối liên quan stress mức độ cao với một số đặc điểm cá nhân của sinh viên 68
4.4.2.Mối liên quan giữa stress mức độ cao với tình hình tài chính của sinh viên 69
4.4.3.Mối liên quan stress và kết quả học tập của sinh viên 70
4.4.4.Mối liên quan giữa stress và thói quen giải trí, tập thể dục 71
4.4.5.Mối liên quan giữa stress và mối quan hệ với bạn bè, người thân 72
4.4.6.Mối quan hệ giữa stress và áp lực học tập 73
4.4.7.Mối liên quan giữa stress và hỗ trợ xã hội 73
4.5 Những hạn chế của đề tài 74
KẾT LUẬN 74
KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Phụ lục 01: Bảng biến số 83
Phụ lục 02: Bộ công cụ 92
Phụ lục 03: Bộ câu hỏi thảo luận nhóm 99
Trang 6LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đươc
sự hướng dẫn, giúp đỡ quý báu các thầy cô, đồng nghiệp và các anh chị học viên Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học trường Đại học Y Tế Công Cộng
đã chỉ bảo cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và hoàn thiện và bảo vệ luận văn này
Ban Giám hiệu trường Đại học Thăng Long, Bộ môn Điều Dưỡng trường Đại học Thăng Long – nơi tôi công tác và thu thập số liệu đã tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn
PGS.TS Trần Thị Thanh Hương – ĐH Y Hà Nội đã hướng dẫn và chỉ bảo tôi rất nhiều để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong hội đồng chấm luận văn đã cho tôi những ý kiến đống góp quý báu giúp luận văn của tôi thêm hoàn thiện
Xin chân thành cảm ơn tới các bạn sinh viên Điều dưỡng – ĐH Thăng Long
đã đồng ý tham gia vào nghiên cứu này của tôi
Xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè trong lớp CH YTCC 17, gia đình, đồng nghiệp! Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Vũ Dũng
Trang 7
DANH MỤC VIẾT TẮT
DASS Depression Anxiety Stress Scale
Thang đánh giá lo âu – trầm cảm – căng thẳng ESSA Educational stress scale for Adolescents PSS-10 Perceived stress scale
Tỷ số chênh VTN & TN Vị thành niên và thanh niên
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu đối tượng nghiên cứu 36 Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến tôn giáo của đối tượng nghiên cứu 37 Bảng 3.3 Tình hình tài chính của đối tượng nghiên cứu 37 Bảng 3.4 Kết quả học tập của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.5 Hoạt động giải trí và tập thể dục của đối tượng nghiên cứu 39 Bảng 3.6 Mối quan hệ với bạn bè của sinh viên điều dưỡng 41 Bảng 3.7 Mối quan hệ với người yêu của sinh viên điều dưỡng 41 Bảng 3.8 Mối quan hệ gia đình của đối tượng nghiên cứu 42 Bảng 3.9 Mức độ áp lực trong học tập đối với sinh viên 43 Bảng 3.10 Hỗ trợ xã hội đối với sinh viên điều dưỡng 45
Bảng 3.12 Tình trạng stress theo một số đặc điểm của đối tượng nghiên
cứu
48
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa stress và các yếu tố cá nhân 50
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa stress và tình hình tài chính và việc làm
thêm
51
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa stress và kết quả học tập 53
Trang 9Bảng 3.16 Mối liên quan stress và thói quen giải trí, tập thể dục 54
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa stress và tình trạng mối quan hệ bạn bè,
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.01 Mức độ áp lực học tập đối với sinh viên 44 Biểu đồ 3.02 Mức độ hỗ trợ xã hội dành cho sinh viên 46
Trang 11Chúng tôi tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên toàn bộ
303 sinh viên Điều dưỡng chính quy tại thời điểm cuối học kỳ 2 năm học
2014-2015 Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ PSS-10 để đánh giá mức độ tự cảm nhận về stress của sinh viên Số liệu được thu thập dưới dạng phát vấn
Kết quả phân tích mô tả cho thấy điểm trung bình mức độ stress của sinh viên là 19,49 (±4,50) điểm Tỷ lệ sinh viên có stress ở mức độ cao là 22,8% Kết quả mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố liên quan cho thấy Sinh viên năm thứ ba, thứ tư có nguy cơ stress mức độ cao cao hơn sinh viên năm thứ nhất, thứ hai (OR = 3,22, CI 95% OR: 1,6 – 6,4) Sinh viên không đủ tiền đóng học phí có nguy
cơ stress mức độ cao hơn sinh viên có tình hình tài chính ở mức thoải mái (OR = 10,22; CI 95% OR2,08-50,03) Nguy cơ stress ở sinh viên dự kiến ra trường muộn cao hơn nhóm sinh viên ra trường đúng 4 năm (OR = 2,3; CI 95% OR: 1,18-4,76) Nhóm có áp lực học tập ở mức cao có nguy cơ stress cao hơn nhóm có áp lực học tập bình thường (OR = 2,17; CI 95% OR: 1,11-4,23) Thỉnh thoảng tập thể dục cũng như tập thường xuyên đều đặn giúp giảm nguy cơ stress mức độ cao so với nhóm sinh viên không bao giờ tập thể dục (OR = 0,33; CI 95% OR= 0,13 – 0,79) (OR = 0,33; CI 95% OR= 0,12 – 0,92) Hỗ trợ của bạn bè chưa tốt có nguy cơ stress mức
độ cao cao hơn nhóm sinh viện nhận được hỗ trợ tốt từ bạn bè, (OR = 2,41; CI 95% OR: 1,21-4,78) Không hài lòng về mối quan hệ gia đình có liên quan đến strees mức độ cao của sinh viên (OR = 6,31; CI 95% OR: 1,26-31,5)
Để giảm tình trạng stress mức độ cao của sinh viên cần tăng cường khuyến khích sinh viên tập thể dục thể thao, phát triển mối quan hệ bạn bè, giảm gánh nặng
Trang 12tài chính cho sinh viên (tăng cường quỹ học bổng, khuyến khích làm thêm phù hợp) Tăng cường sự hỗ trợ từ bạn bè, gia đình và nhà trường đối với sinh viên đặc biệt là những sinh viên năm thứ ba, thứ tư
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Stress (căng thẳng tâm lý) là một phần tất yếu, không thể tránh khỏi trong cuộc sống của mỗi người Tình trạng stress ban đầu có thể giúp cá nhân chủ động ứng phó với các tác nhân từ môi trường sống đồng thời sẽ là động cơ thúc đẩy sự phát triển cá nhân, đó là những stress có lợi [35] Tuy nhiên nếu stress với cường độ cao hoặc kéo dài hay lặp đi lặp lại nhiều lần có thể phá vỡ sự cân bằng sinh học của
cơ thể, làm nảy sinh nhiều vấn đề sức khoẻ thể chất và tinh thần như trầm cảm, lo
âu, các bệnh lý tim mạch, hô hấp, tiêu hóa , đó là những căng thẳng có hại hay bệnh lý [34]
Sinh viên là nhóm đối tượng có độ tuổi từ 18 – 25 Đây là một trong những nhóm đối tượng được đánh giá là có nguy cơ gặp các vấn đề căng thẳng tâm lý ở mức cao Các nguyên nhân gây tình trạng stress của nhóm đối tượng này như: Áp lực học tập, thi cử; đổ vỡ các mối quan hệ tình yêu, bạn bè, gia đình; điều kiện kinh
tế khó khăn Bên cạnh đó đây còn là nhóm có nhiều sang chấn, biến đổi về tâm lý trong giai đoạn cuối của tuổi dậy thì Tại Mỹ, một nghiên cứu công bố năm 2008 cho thấy có hơn một nửa đối tượng từ 19 – 25 tuổi mắc ít nhất một rối loạn tâm thần liên quan đến stress [27] Tại Việt Nam trực trạng stress của thanh niên nói chung
và sinh viên nói riêng cũng đang ở mức cao và đáng được quan tâm Theo báo cáo kết quả điều tra quốc gia về vị thành niên lần thứ hai năm 2009 (SAVY II) có tới 73,1% thanh niên (tuổi từ 14 – 25) từng có cảm giác buồn chán do căng thẳng, 27,6% thanh niên từng có cảm giác rất buồn chán [5] Tại trường Đại học Sư phạm
Đà Nẵng có tới 96% sinh viên có những biểu hiện của stress [2] Do đặc thù khối lượng học tập lớn cộng với việc phải học tại lâm sàng nên so với sinh viên các ngành học khác thì sinh viên ngành Khoa học sức khoẻ trên thế giới cũng như tại Việt Nam có tỷ lệ gặp các vấn đề về stress tương đối cao Tại Mỹ, có tới 86% sinh viên trường đại học Y Washington có các biểu hiện của stress Trong khi đó tỷ lệ stress của sinh viên một số ngành Y của Đại học Y Nam Carolina lần lượt là: Đa khoa 54%, Răng hàm mặt 56% [40] Trong khi đó tại Việt Nam, tỷ lệ sinh viên Đại học Y Hà Nội gặp vấn đề áp lực học tập chiếm tới 45% và sinh viên năm thứ nhất
Trang 14gặp các vấn đề sức khoẻ liên quan tới stress lên đến 20,5% [16] Tỷ lệ stress của
sinh viên Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 71,4% [21]
Ngành Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long là một trong 13 chuyên ngành của trường Dựa vào đánh giá sơ bộ về chương trình học chúng tôi nhận thấy: so với các ngành khác, sinh viên Điều có khối lượng kiến thức lớn hơn, môi trường học tập thay đổi tại nhiều nơi khác nhau như giảng đường, phòng thực hành, bệnh viện, trực đêm, tiền học phí cao hơn và ít thời gian cho hoạt động giải trí, Trước tình trạng đó các câu hỏi được đặt ra là thực trạng stress của sinh viên Điều dưỡng đại học Thăng Long như thế nào? Các yếu tố nào liên quan đến thực trạng đó? Các yếu tố hỗ trợ xã hội, gia đình, bạn bè có giúp giảm tình trạng stress của
sinh viên không? Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Thực trạng stress của sinh viên Điều dƣỡng đại học Thăng Long năm 2015 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu chính
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng stress của sinh viên Điều dưỡng Đại học Thăng
Long năm 2015 theo thang đo PSS-10
Mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long năm 2015
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm stress
“Stress“ là thuật ngữ được tiến sĩ sinh lý học người Mỹ Walter Bradford Cannon nhắc đến lần đầu tiên trong cuốn sách nói về những thay đổi của cơ thể khi đau đớn, đói, sợ hãi và giận dữ của mình năm 1915 [35] Tuy nhiên người có công lớn trong việc chính thức đưa ra khái niệm stress một cách khoa học và được coi là cha đẻ của định nghĩa stress đó là nhà sinh lý học người Hung-ga-ri Hans Selye Năm 1936, ông đã sử dụng thuật ngữ stress để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật [4] Theo định nghĩa của ông „„stress là một phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng Về sau trong các nghiên cứu của mình Hans Selye nhấn mạnh: stress có tính chất tổng hợp chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý Stress là phản ứng của cơ thể sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ tác động nào Cũng theo ông, stress có mặt lợi đó là kích thích tính tích cực, huy động sức mạnh để con người vượt qua khó khăn, nhưng cũng có mặt hại nếu vượt qua khả năng đáp ứng của cơ thể, gây ra tình trạng ốm đau, bệnh tật [27] Như vậy, H Selye đã nêu được bản chất sinh học của stress, tuy nhiên ông chưa đề cập đến khía cạnh tâm lý – xã hội của vấn đề này
Sau phát hiện của H Selye, có rất nhiều nhà khoa học đã đi sâu nghiên cứu
về stress Năm 1966, Nhà tâm lý học Richard S.Lazarus đưa ra định nghĩa stress là
sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những nguồn lực Theo ông đó là trạng thái hay cảm xúc mà chủ thể trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu và đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt qua nguồn lực cá nhân và
xã hội mà họ có thể huy động được [43]
Ngoài ra cũng có một số định nghĩa đơn giản về stress như: “Stress nghề nghiệp là sự mất cân bằng giữa yêu cầu và khả năng lao động”[23] Trong tâm thần học, “stress được xem là tất cả những sự việc, hoàn cảnh trong các sinh hoạt xã hội,
Trang 17trong mối liên quan phức tạp giữa người với người, tác động vào tâm thần gây nên những cảm xúc mạnh”[17]
Như vậy, có thể thấy stress từ các góc độ khác nhau sẽ được hiểu dưới định nghĩa khác nhau Stress vừa được xem là nguyên nhân , vừa được xem là hậu quả hoặc có thể là đáp ứng của chủ thể trước những yêu cầu nảy sinh trong cuộc sống, lao động Trên cơ sở đó góp phần tìm ra các tác nhân cũng như hậu quả và các biện pháp ứng phó với stress Chúng tôi tiếp nhận những khái niệm khác nhau về stress
và sử dụng khái niệm về stress của Han Selye làm định hướng nghiên cứu chính cho đề tài này
Stress trong sinh viên là phản ứng của cơ thể với các sự kiện, hoàn cảnh,
tình huống mà sinh viên trải nghiệm khi họ nhận ra rằng các yêu cầu đòi hỏi từ bên ngoài và bên trong có tính chất đe dọa, có hại, vượt quá nguồn lực cá nhân và xã
hội mà họ có thể huy động được.[16]
1.1.2 Khái niệm sinh viên
Thuậ ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng La-tinh “student”có nghĩa là người học tập, người đi tìm kiếm, khai thác tri thức “Sinh viên” là để chỉ những người theo học ở bậc đại học và phân biệt với học sinh đang theo học ở bậc phổ thông
Theo từ điển ngôn ngữ Hán Việt, từ “sinh viên” được diễn nghĩa ra là người bước vào cuộc sống, cuộc đời Còn theo Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê, khái niệm “sinh viên” được dùng để chỉ người học ở bậc đại học [15] Theo quy chế công tác Học sinh sinh viên trong các trường đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì: Sinh viên là người đang theo học hệ đại học và cao đẳng
Từ đó ta có thể hiểu khái niệm “sinh viên” là những người đang học tập tại các trường đại học, cao đẳng – nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu xã hội
Sinh viên Điều dưỡng là danh từ chỉ đối tượng sinh viên đang theo học ngành Điều dưỡng tại các trường, Cao đẳng, Đại học đào tạo Điều dưỡng tại Việt
Trang 18Nam Trong nghiên cứu này chúng tôi đề cập đến đối tượng Sinh viên Điều dưỡng bậc Đại học Sau khi tốt nghiệp đối tượng này sẽ được gọi là Cử nhân Điều dưỡng
1.1.3 Sức khoẻ tâm thần (mental health)
Trong định nghĩa nổi tiếng về sức khoẻ của tổ chức Y tế Thế giới “Sức khỏe
là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không phải tình trạng không bệnh tật hay đau yếu” Trong định nghĩa này đã nhắc đến Sức khoẻ tâm thần Từ đó chúng ta thấy rằng: sức khoẻ tâm thần là một phần không thể tách rời của sức khoẻ nói chung; chúng có liên quan mật thiết với sức khoẻ thể chất cũng như hành vi và sức khoẻ tâm thần không đơn thuần chỉ là không có bệnh tâm thần [9]
Khái niệm sức khoẻ tâm thần đã được Tổ chức Y tế Thế giới đưa ra vào năm
2003 : “Sức khoẻ tâm thần là trạng thái khỏe mạnh của mỗi cá nhân để họ nhận biết được các khả năng của bản thân, có thể đương đầu với những stress thông thường trong cuộc sống, có thể học tập và làm việc một cách hiệu quả và có thể tham gia, góp phần vào các hoạt động của cộng đồng” [48] Như vậy định nghĩa này có nhấn mạnh tới những stress trong cuộc sống, học tập, làm việc
1.1.4 Cơ chế sinh học của stress
Đáp ứng sinh lý đối với stress được điều hoà thông qua hệ thần kinh, nội tiết
và thể dịch Các đáp ứng sinh lý tức thì được điều hoà bởi hệ thần kinh thực vật Các đáp ứng trung gian được điều hoà bởi tuyến tuỷ thượng thận Các đáp ứng dài hạn được điều hoà bởi hệ nội tiết và hệ miễn dịch Các đáp ứng này lại được kiểm soát bởi vùng hạ đồi Hạ đồi cùng với hệ limbic kiểm soát những chức năng cơ bản của cơ thể như ăn, uống, sinh hoạt tình dục, cảm xúc, sự vui thích Hệ limbic và hạ đồi lại chịu ảnh hưởng của vỏ não [6],[12]
Hệ thần kinh thực vật bao gồm hệ giao cảm và phó giao cảm Khi có tác nhân gây stress hệ giao cảm sẽ được hoạt hoá giúp cơ thể chuẩn bị ứng phó với các tác nhân đó Tăng nhịp tim, tăng sức co bóp của cơ tim từ đó tăng cung lượng tim đồng thời sẽ tăng cung cấp oxy và năng lượng cho các cơ Các mạch máu đến cơ
Trang 19vân giãn ra, tăng sự cấp máu cần thiết cho hoạt động của cơ Các mạch máu đến ruột co lại, làm chậm quá trình hấp thu thức ăn Huyết áp tâm thu và tâm trương đều tăng Tăng nhịp thở và giãn phế quản giúp tăng trao đổi khí, đáp ứng nhu cầu hoạt động mạnh Thoát mồ hôi nhằm thải bớt thân nhiệt gia tăng quá mức Đáp ứng giao cảm được khơi dậy nhanh chóng để đáp ứng với stress Đó là những đáp ứng tương đối tự động và đã được lập trình về mặt sinh học để đáp ứng với những stress về thể chất và tâm lý Tất cả chúng ta đều trải qua những biến đổi này khi bị ai đó đe doạ, khi thình lình gặp một con rắn hay khi suýt bị tai nạn Những thay đổi này cũng xảy
ra trong những đáp ứng với những mối de doạ cho sức khỏe tâm lý của chúng ta như khi dự thi, cảm giác tức giận một ai đó, hoặc khi phải nói trước đám đông [12], [17]
Tác động của hệ thần kinh thực vật chỉ ngắn hạn Các đáp ứng của cơ thể trước stress được duy trì bởi một cơ chế trung gian: sự phóng thích hai hooc môn Epinephrine và Norepinephrine của tuỷ thượng thận Do sự kích hoạt thần kinh giao cảm hai hooc môn này sẽ được phóng thích vào máu Tác động của chúng lên các
cơ quan đích cũng giống như sự kích hoạt giao cảm Hệ quả sau cùng của tác động này là tăng nhịp tim, huyết áp, hô hấp, đường huyết và giảm hoạt động hệ tiêu hoá Cần khoảng 20-30 phút để tác động của tác dụng sinh lý của các hooc môn Epinephrine và Norepinephrine Nhưng những tác dụng này kéo dài khoảng một giờ
và gấp khoảng 10 lần so vơi đáp ứng giao cảm [6], [12], [17]
Hệ nội tiết và hệ miễn dịch điều hoà giai đoạn 3 của các biến đổi sinh lý trong đáp ứng với stress Bốn tuyến nội tiết (Tuyến yên, tuyến giáp, vỏ thượng thận
và tuỵ nội tiết) Các tuyến này tiết hooc môn vào hệ tuần hoàn gây tác dụng trên các
cơ quan đích Quá trình này cần nhiều thời gian hơn cơ chế kích thích giao cảm hay tác dụng của Epinephrine và Norepinephrine Trong stress gây tăng tiết hooc môn
GH từ tuyến yên gây tăng tiêu dùng năng lượng và làm tăng đường huyết Đồng thời ADH cũng tăng gây tăng hấp thu nước và khối lượng dịch trong cơ thể Việc này giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự mất máu và sốc do chấn thương và làm tăng thể tích máu, tăng huyết áp Hooc môn thyroxin của tuyến giáp tăng tiết trong stress
Trang 20giúp tăng sự huy động các nguồn năng lượng sẵn có giúp cơ thể chuẩn bị các hoạt động ứng phó với stress Insulin được tuyến tuỵ tăng tiết khi có phản ứng stress giúp tăng đường huyết để chuẩn bị sẵn năng lượng cần thiết cho phản ứng của cơ thể với stress Những thay đổi nội tiết kèm theo stress sẽ dẫn đến thay đổi chức năng miễn dịch Cả hai tình trạng tăng và giảm miễn dịch đều đi kèm với stress, tuỳ theo điều kiện xảy ra stress và tuỳ theo ta quan sát khía cạnh nào của chức năng miễn dịch [6], [12]
Tóm lại, một hệ thống các đáp ứng phức tạp được quan sát thấy trong stress; kính hoạt giao cảm trong thời gian ngắn, phản ứng trung gian tiết Epinephrine và Norepinephrine từ tuỷ thượng thận và các biến đổi kéo dài của hệ nội tiết cũng như
hệ miễn dịch Những đáp ứng này có tính bổ sung cho nhau Chúng chuẩn bị về sinh học giúp cơ thể thực hiện những phản ứng mạnh mẽ và liên tục để ứng phó với các tác nhân gây stress cả về thể chất lẫn tâm lý Hệ quả sinh lý của stress là tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng đường huyết, tăng đông máu, tăng chuyển hoá và tăng
hô hấp, giảm các quá trình tiêu hoá, bài tiết và viêm Trong những điều kiện nhất định, stress cũng có thể ức chế miễn dịch Vì thế, stress có những tác động mạnh mẽ
và rộng rãi
1.1.5 Biểu hiện của stress
Nhìn chung, khi bị stress con người có những thay đổi cả về thể chất và tâm
lý (nhận thức, xúc cảm, hành vi)
Biểu hiện về thể chất
Bằng các phương tiện kỹ thuật, người ta có thể thu thập được những dữ kiện
về sự thay đổi sinh lý, sinh hoá khi có trạng thái stress xảy ra Đó là những thay đổi
ở hệ thần kinh, tim mạch, tiêu hoá, hô hấp, tiết niệu,… cụ thể như là: tim đập nhanh,
vã mồ hôi nhiều, chóng mặt, nhức đầu, rối loạn giấc ngủ vì căng thẳng hệ thần kinh, chán ăn hoặc ăn không ngon miệng, căng mỏi cơ bắp, đau nhức xương khớp, đau vùng dạ dầy, buồn nôn,…[12], [17]
Biểu hiện về m t tâm l
Trang 21Những biểu hiện stress về mặt tâm lý, thể hiện sự thay đổi hoạt động của các quá trình nhận thức, xúc cảm và hành vi Điều này có thể khác nhau ở từng người, tuỳ theo cường độ, thời gian diễn ra các tác nhân gây stress và sự đánh giá chủ quan của con người về tác nhân đó Những thay đổi về nhận thức, cảm xúc thường thấy ở những người bị stress như: giảm sự tập trung, lơ đãng, hay quên, suy nghĩ kém linh hoạt, mệt mỏi về tinh thần và trí lực giảm sút, cảm giác về công việc bị áp lực đè nặng, tinh thần hoang mang, buồn chán, không hứng thú với công việc hay nói cách khác là sợ khi phải làm việc Không những thế khi bị stress thì những biểu hiện tâm
lý của con người còn biểu hiện qua hành động, cử chỉ hành vi hay qua kết quả thực hiện công việc rất rõ như làm việc uể oải chần trừ né tránh, thiếu linh hoạt giải quyết vấn đề, sai sót nhiều trong công việc, vì vậy dễ cáu gắt hay nổi khùng với người xung quanh Có người khi bị stress lại biểu hiện gia tăng những hành vi có hại như: hút thuốc lá, uống rượu, ma tuý…[12], [17]
1.1.6 Mức độ stress
Thực tế có rất nhiều cách phân loại mức độ stress khác nhau:
Theo H Selye, stress có hai mức độ Mức độ eustress: là mức độ bình
thường, là phản ứng thích nghi của cơ thể trước những tác nhân, đây là stress tích cực nó huy động khả năng tích cực của cơ thể để vượt qua tác nhân gây stress lấy lại sự cân bằng [27] Mức độ distress: là stress ở mức độ cao, biểu hiện sự phản ứng thích nghi của cơ thể bị thất bại, con người không vượt qua được các tác nhân xấu
gây ra tình trạng stress (biểu hiện ốm đau, bệnh tật…) [27] Cách phân loại stress
của H.Selye đã chỉ ra mức độ có lợi và có hại cho cơ thể nhưng chưa chỉ rõ những dấu hiệu tâm lý của từng mức độ stress
Theo Đặng Phương Kiệt phân chia stress làm ba mức độ như sau: Stress mức
độ nh là mức độ chủ thể, có thể cảm nhận như một thách thức làm tăng thành tích trong công việc Stress mức độ vừa là mức độ phá vỡ những nguyên lý cơ bản của con người dẫn đến những biểu hiện không tốt lặp đi lặp lại nhiều lần Stress mức độ nặng là mức độ dẫn đến ngăn chặn ứng xử gây ra những phản ứng lệch lạc gây tổn
Trang 22hại bản thân và người xung quanh Cách phân loại này đã chỉ ra được dấu hiệu tâm
lý của các mức độ stress [12]
Theo phân loại của Nguyễn Thành Khải, stress được phân làm ba mức độ: Mức độ 1 là mức độ rất căng thẳng, chủ thể cảm nhận rất căng thẳng về tâm lý, đây
là trạng thái khó chịu của con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi
nó Mức độ 2: căng thẳng, con người cảm nhận thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập chung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhậy hơn, các chỉ số về về sinh lý tăng mạnh Nếu trạng thái này kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang mức độ rất căng thẳng
Sự bền vững của mức độ này tuỳ thuộc vào mức độ, tính chất công việc hay tâm lý của từng người Mức độ 3: ít căng thẳng Ở mức độ này, con người cảm nhận thấy bình thường hoặc căng thẳng nh , mọi hoạt động tâm sinh lý diễn ra bình thường,
sự thay đổi không đáng kể, cơ thể huy động năng lượng ở mức vừa phải
1.1.7 Nguyên nhân gây stress của sinh viên
Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng stress của sinh viên tuy nhiên có thể tổng hợp các nguyên nhân này thành bốn nhóm nguyên nhân chính
đó là: Nguyên nhân gây stress xuất phát từ bản thân sinh viên; nguyên nhân gây stress do học tập; do yếu tố gia đình và do xã hội – cuộc sống, định hướng tương lai
Nguyên nhân gây Stress từ bản thân: Lý do chính gây stress là do xa gia
đình, đặc biệt là những sinh viên năm thứ nhất do đang sống chung cùng gia đình đồng thời được sự chăm sóc, lo lắng của phụ huynh nay phải tự lập từ đó phát sinh những căng thẳng lo lắng Ngoài ra lối sống vô tổ chức cũng là một trong những nguyên nhân gây stress Mặt khác, nhiều sinh viên chưa xây dựng cho bản thân kế hoạch học tập hợp lý cũng có thể dẫn đến những vấn đề stress [33]
Nguyên nhân gây stress do học tập: Tân sinh viên dễ bị sốc với sự thay đổi
đột ngột về yêu cầu và phương pháp học tập ở bậc đại học so với phổ thông dẫn đến căng thẳng khi tiếp xúc với môi trường học tập mới Trong quá trình học sinh viên luôn luôn trải qua các kỳ kiểm tra, đánh giá Các yêu cầu của kiểm tra đánh giá sẽ là tác nhân gây stress cho sinh viên Tuy nhiên có thể sẽ hào hứng đối với những sinh
Trang 23viên chuẩn bị kỹ càng cho kỳ thi cũng như tự tin về kiến thức của mình Một
nguyên nhân nữa gây tình trạng stress trong học tập của sinh viên đó là kết quả học tập của sinh viên thường không đạt được như kỳ vọng [8]
Áp lực học tập là một trong những nguyên nhân chính của sự căng thẳng của thanh thiếu niên, đặc biệt là đối với sinh viên đại học Các môn học có thể rất khắt khe và có sự cạnh tranh cao để có được điểm số cao nhất Sinh viên muốn có điểm
số tốt nhất để tìm cho mình những cơ hội việc làm tốt nhất sau khi tốt nghiệp Điều này cũng đúng đối với những người đang tìm kiếm nguồn học bổng hoặc những
sinh viên phải duy trì điểm số của họ để giữ học bổng hiện có [47]
Nguyên nhân do căng thẳng tài chính: Nhiều sinh viên đại học bị stress do
gặp phải các vấn đề về tài chính Điều này có thể liên quan đến việc không lo đủ tiền đóng học phí cũng như để đảm bảo các khoản tiền cần thiết để trang trải các chi phí sinh hoạt khi đi học Đôi khi những căng thẳng cũng có thể đến từ việc sinh viên
lo lắng khi phải đối mặt với khoản vay nợ học tập sau khi tốt nghiệp [47]
Nguyên nhân stress do gia đình: Gia đình thường đặt kỳ vọng cao vào con
cái đặc biệt là kết quả học tập, khi đó sinh viên sẽ lao vào học mong đạt được kết quả cao thỏa mãn sự kỳ vọng của gia đình tuy nhiên khi kết quả học tập không cao
sẽ dẫn đến sự thất vọng và gây tình trạng stress [8]
Nguyên nhân do xã hội – cuộc sống, định hướng tương lai: Quan hệ xã hội,
tình bạn, tình yêu gặp khó khăn, khó khăn trong cuộc sống liên quan chi phí sinh hoạt có thể là nguyên nhân gây tình trạng stress Nhà cửa chật chội, gò bó, điều kiện
ở trọ khó khăn gò bó, tiếng ồn đám đông ô nhiễm có thể gây trình trạng stress Ngoài ra thì rối loạn giấc ngủ do yêu cầu học tập và thiếu hỗ trợ tài chính cũng là
yếu tố liên quan nguyên nhân gây strss của sinh viên [33]
Do đặc thù của sinh viên Điều dưỡng cũng như sinh viên các ngành Y khác trong chương trình học có học phần thực hành lâm sàng Chính vì vậy so với sinh viên nói chung các đối tượng này sẽ chịu thêm áp lực từ công việc thực tập, sợ những hậu quả do sai lầm khi thực tập gây ra cho bệnh nhân Theo nghiên cứu của Pryjmachuk và Richards năm 2007 đã xác định ba nhóm nguyên nhân chính gây
Trang 24tình trạng stress của sinh viên điều dưỡng đó là: stress do áp lực học tập (áp lực do các bài kiểm tra, đánh giá, sợ trượt trong các kỳ thi hay không hoàn thành khóa học…) stress do áp lực thực tập lâm sàng (áp lực công việc thực tập, sợ những hậu quả do sai lầm khi thực tập gây ra cho bệnh nhân, các mối quan hệ với các thành viên trong nhóm thực tập, điều dưỡng, nhân viên cơ sở y tế thực tập…), những stress do yếu tố cá nhân hoặcxã hội (các vấn đề kinh tế, mất cân bằng học tập và gia đình, tình cảm …) [41]
1.1.8 Một số thang đo Stress
Thang đo stress SRQ – 20 (self Reporting Questionnaire – 20) Thang đo này gồm 20 câu hỏi dành cho cá nhân tự đánh giá về các triệu chứng của stress về thể chất và tinh thần Nếu trong 30 ngày qua cá nhân có biểu hiện của 7/20 triệu chứng thì được chẩn đoán là có stress Bộ câu hỏi Tiếng Việt đã được chuẩn hoá năm 2004
để phù hợp với đối tượng nghiên cứu là người Việt Nam, đồng thời đã được áp dụng vào một số nghiên cứu trước đó như nghiên cứu của Phạm Huyền Trang trên sinh viên Y Hà Nội năm 2013 Nghiên cứu của Stratton KJ, Tran TL, Trung LT trên đối tượng người lớn trưởng thành Việt Nam năm 2013 [46], [38], [20]
Thang đo stress trích từ Thang đo Stress, lo âu, trầm cảm DASS 42 Thang DASS 42 là thang đo trắc nghiệp tâm lý đánh giá cả 3 yếu tố stress, lo âu và trầm cảm Mỗi yếu tố gồm 14 câu Mỗi câu có 4 giá trị trả lời và cho điểm từ 0-3 tương ứng với các mức không đúng chút nào, đúng một phần, đúng phần nhiều và hoàn toàn đúng Kết quả điểm cuối cùng giúp phân loại các mức độ stress: bình thường, stress mức độ nh , mức độ vừa, nặng và rất nặng Tại Việt Nam thang đo DASS 42 được áp dụng khá phổ biến trong các nghiên cứu về tâm lý như Nghiên cứu của Lê Minh Thuận trên đối tượng sinh viên Y Dược Hồ Chí Minh năm 2011 [19] Nghiên cứu vể stress, lo âu, trầm cảm của Trần Kim Trang trên đối tượng sinh viên năm 2 Đai học Y Dược Hồ Chí Minh năm 2011 [22] Thang DASS 42 có ưu điểm giúp đánh giá toàn diện sức khoẻ tinh thần trên cả ba yếu tố stress, lo âu và trầm cảm Tuy nhiên, số câu hỏi khá dài và chúng tôi chưa tìm được những đánh giá cụ thể về tính giá trị khi chỉ áp dụng đánh giá stress, lo âu hay trầm cảm nói riêng
Trang 25Thang đánh giá SPIELBERGER Thang đo này gồm 2 phần chính, phần 1 gồm 20 câu hỏi tự đánh giá về stress tại thời điểm hiện tại Phần 2 gồm 20 câu hỏi
tự đánh giá về tình trạng stress thường xuyên của đối tượng nghiên cứu Mỗi câu hỏi gồm 4 phương án trả lời tương ứng các mức điểm từ 1 đến 4 Mức độ stress được phân chia các mức thấp, vừa, cao và có xu hướng bệnh lý Tác giả Nguyễn Thị Hiền đã sử dụng thang đo này để đánh giá mức độ căng thẳng của sinh viên Y Thái Bình ở trạng thái tĩnh và sau khi thi năm 2013 [8] Ưu điểm của thang đo này giúp đánh giá stress tại một thời điểm nhất định và cả trong một quá trình cũng như đưa
ra điểm cắt cho các mức độ khác nhau của stress của đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên số câu hỏi lại quá nhiều cũng như cách thức tính toán điểm là khá phức tạp
Các thang đánh giá stress của Sheldon Cohen Nhóm nghiên cứu của Sheldon Cohen đã phát triển hệ thống thang đo stress PSS (Perceived stress scale) gồm 3 thang đo đó là PSS-4, PSS-10, PSS-14 Đây đều là các thang tự đánh giá stress và cho điểm nếu điểm số càng cao thì mức độ stress càng lớn Thang PSS đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được sử dụng ở nhiều quốc gia trên nhiều đối tượng khác nhau Trong các thang PSS thì PSS-10 được sử dụng rộng rãi nhất Tại Hoa
Kỳ, trong nghiên cứu đánh giá mức độ căng thẳng trong cuộc điều tra quốc gia các năm 2006 và 2009 đều sử dụng thang PSS-10 [29] Thang PSS-10 cũng đã được một số tác giả tại Việt Nam sử dụng trong nghiên cứu stress của sinh viên như nghiên cứu của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh trên đối tượng sinh viên Y tế công cộng – đại học Y Dược Hồ Chí Minh [11]
Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng thang PSS-10 để đánh giá mức độ stress của sinh viên Sở dĩ chúng tôi chọn thang đánh giá stress của Sheldon Cohen trong rất nhiều các thang đánh giá khác cho nghiên cứu của mình vì một số lý do chính sau Sự căng thẳng đã được đánh giá bằng thang đánh giá nhận thức về căng thẳng (PSS-10, Cohen, 1983) Bộ công cụ này là một trong những bộ công cụ phổ biến nhất trong các phép đo của sự căng thẳng trên cơ sở tự đánh giá và nhận thức chủ quan Nó được thiết kế cho đối tượng cộng đồng nơi người được hỏi có trình độ giáo dục tối thiểu là trung học cơ sở Bộ công cụ được sử dụng miễn phí và phù hợp
Trang 26khi sử dụng trên đối tượng là sinh viên Bộ công cụ có giá trị Cronbach α = 0,78,
“Điểm số của PSS-10 vừa đánh giá, thẩm định được stress cũng như đánh giá được các nguồn tiềm năng gây căng thẳng cũng như những biện pháp giảm stress theo tần
số của sự kiện.”[30] PSS-10 không phải là một công cụ để chấn đoán stress Nó không phù hợp để chẩn đoán stress của một cá nhân, tuy nhiên việc so sánh giữa các mẫu nghiên cứu cho phép phân biệt được mức độ căng thẳng của các mẫu đó [31]
1.2 Một số yếu tố nguy cơ, liên quan tới stress của sinh viên
để tham gia vào các hoạt động tương tự như bạn học gấp 5,708 lần nhóm có đủ tiền tham gia vào các hoạt động tương tự như bạn học Những sinh viên chi thường xuyên vượt mức tài chính của họ có nguy cơ stress cao gấp 2,201 lần những sinh viên không thường xuyên chi vượt mức tài chính Nhóm sinh viên không có khả năng trả các hóa đơn của họ đúng thời gian có nguy cơ stress gấp 1,698 lần nhóm trả tiền hóa đơn đúng thời hạn Những sinh viên có nợ có nguy cơ stress cao gấp 1,811 lần những sinh viên không có bất kỳ khoản nợ nào So với những sinh viên không có khoản nợ cho vay học tập, nhóm sinh viên có nợ ở mức trung bình, trên mức trung bình có khả năng stress gấp 2,023 và 3,024 lần [44]
1.2.2 Giới tính
Có khá nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã chỉ ra rằng giới tính cũng là một trong những yếu tố liên quan đến tình trạng stress của sinh viên
Trong nghiên cứu tổng quan Sự khác nhau ảnh hưởng của stress trên nam và
nữ sinh viên của Masoumeh Pourrai và Mohtaram Rabbani (Malaysia) năm 2014 đã cho thấy mức độ khác biệt rõ rệt về sự căng thẳng giữa sinh viên nam và nữ
Trang 27Nghiên cứu của Amr, El Gilany và El-Hawaary năm 2008 trên 6808 sinh viên y tại Ai cập cho thấy mức độ căng thẳng có sự khác nhau giữa sinh viên nam
và sinh viên nữ Cụ thể nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ và các loại căng thẳng giữa sinh viên nữ nhiều hơn sinh viên nam do sự nhạy cảm hơn của họ trong các mối quan hệ tình cảm cũng như với môi trường sống Nguyên nhân chính dẫn đến căng thẳng của nữ sinh viên là thất bại trong kỳ thi, áp lực của kỳ thi, bị từ chối bởi một ai đó cũng như sự đổ vỡ trong mối quan hệ của họ Trong khi đó nguyên nhân chính dẫn đến stress ở nam giới là vấn đề gia đình, các khoản vay nợ và sự căng thẳng trong các lớp học nâng cao [28]
Nghiên cứu của Harajyoti Mazumdar trên 250 sinh viên tại Ấn Độ năm 2012 cho thấy các triệu chứng khác nhau của căng thẳng chủ yếu thấy ở nữ giới hơn so với nam giới 60% học sinh nữ dễ bị các triệu chứng của căng thẳng còn tỷ lệ ở nam giới là 40% [26] Tại Đại học Đà Nẵng, nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Anh đã cho thấy yếu tố giới tính có liên quan đến stress trên sinh viên Cụ thể nghiên cứu đã tìm thấy có sự khác biệt giữa nam và nữ về mức độ stress nhưng không đáng kể Tỷ lệ nam stress nhiều hơn nữ ở mức độ rất căng thẳng và căng thẳng [1]
Nghiên cứu trên 142 sinh viên tại trường Đại học Twente, Hà Lan cho thấy điểm trung bình của căng thẳng ở sinh viên nam là 13,77, sinh viên nữ là 18,32 Kiểm định T-test cho thấy sinh viên nữ cảm nhận căng thẳng nhiều hơn sinh viên nam, t = 3,783, p<0.05 [49]
1.2.3 Các mối quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội
Tình trạng các mối quan hệ trong gia đình như (mối quan hệ với bố m , với anh chị em, hay mối quan hệ giữa bố m với nhau), các mối quan hệ với bạn cùng học, bạn thân nếu không được tốt cũng có thể là một trong những yếu tố gây lên tình trạng stress của sinh viên Điều này đã được khẳng định trong một số nghiên cứu trong và ngoài nước
Nghiên cứu của Đỗ Thị Lệ Hằng trên 516 học sinh sinh viên tại Hà Nội cho thấy sau các tác nhân là học tập và các tình huống bất thường thì mối quan hệ gia đình và mối quan hệ bạn bè là những tác nhân gây lên tình trạng stress của vị thành niên với điểm trung bình lần lượt là (các tình huống bất thường 1,6; học tập 1,5,
Trang 28mối quan hệ gia đình 1,3 và mối quan hệ bạn bè 1,2) [7] Tại Ấn Độ,nghiên cứu năm 2012 trên 250 sinh viên cho thấy 24% đang cảm thấy stress hơn nhiều khi suy nghĩ về tương lai, 22% stress do các mối quan hệ bạn bè và xã hội, 20% stress do vấn đề học tập, 18% do mối quan hệ gia đình còn lại 16% là do các vấn đề khác Điều này cho thấy tại đây nguyên nhân gây stress do đổ vỡ các mối quan hệ với bạn bè, xã hội còn lớn hơn cả nguyên nhân do học tập và tiếp theo là stress do mối quan hệ với gia đình [26]
1.2.4 Hỗ trợ xã hội
Hỗ trợ xã hội là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của sinh viên Hỗ trợ
xã hội là cách một cá nhân nhận thức chất lượng hỗ trợ từ bên ngoài Hỗ trợ xã hội
có tác động có lợi cả cho sức khỏe thể chất và tinh thần Hỗ trợ xã hội có liên quan chặt chẽ đến các mối quan hệ với gia đình, bạn bè, hàng xóm, và những người khác
có sự đồng cảm, sự quan tâm, chăm sóc, yêu thương và tin tưởng Sự hỗ trợ từ gia đình và bạn bè đã được chứng minh là một trong những yếu tố có thể ảnh hưởng đến thành tích học tập của sinh viên Nếu thiếu hỗ trợ xã hội sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Ngược lại, sự hiện diện của hỗ trợ xã hội sẽ giúp cá nhân có khả năng đối phó với stress [24]
Nghiên cứu của Talwar P và cộng sự trên 480 sinh viên tại Malaysia năm
2013 sử dụng bộ công cụ đánh giá hỗ trợ xã hội (MSPSS) nhằm tìm hiểu mối quan
hệ giữa hỗ trợ xã hội với stress đã chỉ ra rằng 5% sinh viên nhận được hỗ trợ xã hội
ở mức thấp, 45% sinh viên nhận hỗ trợ xã hội ở mức trung bình và 50% sinh viên
có sự hỗ trợ xã hội ở mức cao Có mối tương quan nghịch ở mức thấp giữa hỗ trợ
xã hội và stress của sinh viên (R= -0,43; p<0.01) Sinh viên nữ có sự hỗ trợ từ phía gia đình cao hơn nam sinh viên, không có sự khác biệt đáng kể giữa hỗ trợ xã hội ở nam và nữ sinh viên Các kết quả của nghiên cứu cho thấy khi tăng mức hộ trợ xã hội sẽ giúp giảm căng thẳng cho sinh viên điều đó đồng nghĩa với hỗ trợ xã hội là yếu tố giúp giảm stress của sinh viên [45]
Tại Hy Lạp, nghiên cứu do Hanem F Mohamed tiến hành trên 85 sinh viên điều dưỡng về mối liên quan giữa hỗ trợ xã hội với stress cho thấy có mối tương quan thuận giữa stress với độ tuổi, trình độ học vấn, nơi cư trú, kết quả học tập Hỗ
Trang 29trợ xã hội ảnh hưởng đáng kể tới mối liên quan giữa căng thẳng nhận thức, stress trong học tập và thành tích học tập khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu [36]
1.3 Một số nghiên cứu về stress trong sinh viên
1.3.1 Một số nghiên cứu thực trạng stress trong sinh viên
1.3.1.1 Thực trạng stress trong sinh viên trên thế giới
Trên thế giới, hàng năm số lượng người mắc rối loạn tâm thần không nhỏ và
số lượng người được chẩn đoán, điều trị kịp thời còn hạn chế Tháng 12 năm 2008, một nghiên cứu công bố trong tạp chí Archives of General Psychiatry cho biết trong số thanh niên ở độ tuổi từ 19 đến 25 tại Mỹ có tới hơn 50% mắc ít nhất một rối loạn tâm thần có liên quan tới stress, cho dù một số rối loạn được báo cáo là khá
nh Một trong số đồng tác giả nghiên cứu – tiến sỹ Mark Olfson, tin rằng nhiều bạn trẻ thường không có được sự giúp đỡ mà họ cần, ít hơn 25% người trẻ được điều trị Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Hiệp hội Y khoa Mỹ năm 2010, mặc dù
tỷ lệ thanh niên tự tử và có hành vi tự tử đã giảm sút đáng kể từ năm 1996, năm
2004 tỷ lệ đã tăng lên đến 18% Trong năm 1997, tự tử là nguyên nhân thứ 3 trong
số những nguyên nhân hàng đầu ở lứa tuổi từ 15 tới 24 Khoảng 19.100.000 (13,3%) người Mỹ trưởng thành từ 18 tới 54 có chứng rối loại lo âu Rối loạn lo âu thường xuyên diễn ra với rối loạn trầm cảm rối loạn trầm cảm, ăn uống, lạm dụng thuốc Nhiều người có nhiều hơn một triệu chứng rối loạn lo âu [ ]
1.3.1.2 Thực trạng stress trong sinh viên ngành Y trên thế giới
Một số nghiên cứu về stress trên thế giới đều cho thấy tỷ lệ stress của sinh viên ngành Y đều cao hơn so với các ngành học khác
Trong sinh viên, tỷ lệ mắc các triệu chứng rối loạn tâm thần ngày càng cao, đặc biệt là sinh viên Y khoa Một nghiên cứu tại Anh trên 1112 sinh viên năm thứ nhất và 542 sinh viên năm thứ tư của tường Khoa học Hạt nhân (Core Science) cho thấy tỷ lệ hiện mắc trầm cảm của sinh viên ở đây từ 5,7% tăng lên 10,6 % trong giai đoạn 2007 đến năm 2010 và tỷ lệ này ở khoa Y Đa khoa là từ 2,7% lên đến 8,2%,
Trang 30có 18,2% sinh viên khoa Khoa học hạt nhân và 10,6% sinh viên Y Đa khoa trải qua tình trạng trầm cảm ở mức thỉnh thoảng xảy ra một lần [32]
Theo bài tổng quan hệ thống về các rối loạn tâm thần có liên quan tới stress trong sinh viên Y khoa tại Mỹ và Canada cho thấy: Tại trường đại học Y Calgary Faculty, tỷ lệ sinh viên Y mắc các biểu hiện của stress cao hơn so với các sinh viên khác không cùng ngành Y Trong nghiên cứu của trường đại học Y Washington trên
703 sinh viên năm thứ nhất và thứ hai đã công bố có tới 86% sinh viên có các biểu hiện của stress Nghiên cứu do Loyd thực hiện tại Trường đại học Y Texas – Houston cho thấy có tới 16,13% sinh viên năm thứ nhất đã trải qua tình trạng stress trong năm học đầu tiên Hendryx cũng đã công bố kết quả nghiên cứu của ông khi thực hiện đề tài về stress tại trường đại học Y Nam California là có tới 75% sinh viên trong trường trải qua tình trạng trầm cảm – một loại rối loạn tâm thần có liên quan tới stress [39]
Theo nghiên cứu về các rối loạn tâm thần thường gặp của sinh viên Y trường Đại học Federal de Pernambuco – Brazil năm 2001, trong 433 sinh viên có tới 31,4% sinh viên mắc các bệnh rối loạn tâm thần, tỷ lệ này cao hơn 2,67 lần so với tỷ
lệ tương ứng trên toàn sinh viên Brazil [42]
Về tình trạng stress dẫn tới lo âu trong sinh viên, đã có ba nghiên cứu thăm
dò được thực hiện tại một số trường đại hoc Y của Mỹ và Canada Vào năm 1978, Vontver đã công bố kết quả nghiên cứu của mình và xác nhận có 93% sinh viên có các biểu hiện của lo âu, tỷ lệ này cao hơn so với nhóm thanh niên cùng độ tuổi không nhưng không theo học ngành Y Theo nghiên cứu can thiệp của Rosenzweig thực hiện năm 2003, tỷ lệ sinh viênY không được kiểm soát, can thiệp có biểu hiện của stress tăng 38% và tỷ lệ này trong nhóm được hỗ trợ, can thiệp là 18% [60]
1.3.1.3 Thực trạng stress trong sinh viên tại Việt Nam
Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây bắt đầu đã có những nghiên cứu về stress trên đối tượng học sinh, sinh viên nói riêng cũng như đối tượng vị thành niên nói chung
Trang 31Đặc biệt Báo cáo chuyên đề Sức khoẻ tâm thần của vị thành niên và thanh niên (VTN & TN) Việt Nam trong chương trình Điều tra Quốc gia về Vị Thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2 năm 2009 đã cho chúng ta một cái nhìn tin cậy và rõ ràng nhất về thực trạng stress trong thanh thiếu niên Việt Nam Báo cáo cho thấy có trên 73% VTN&TN từng có cảm giác buồn chán Trên một phần tư VTN&TN (27,6%) đã trải qua cảm giác rất buồn hoặc thấy mình là người không có ích đến nỗi không thể hoạt động như bình thường So sánh kết quả giữa SAVY1 và SAVY2 cho thấy tỷ lệ thanh thiếu niên trải qua cảm giác buồn chán hiện nay so với trước đây có sự tăng lên đặc biệt là trải nghiệm cảm giác nghĩ đến chuyện tự tử (tăng khoảng 30%) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chương trình học quá tải, đôi khi giáo viên đánh, mắng học sinh là những yếu tố nguy cơ đến tâm lý tiêu cực và áp lực trong cuộc sống [10]
Dưới góc độ tâm lý, đã có khá nhiều nghiên cứu của các nhà tâm lý học đánh giá thực trạng stress trên đối tượng sinh viên của một số ngành riêng biệt tại Việt Nam
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thụ trên 829 sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2009 cho thấy có khoảng 79% sinh viên bị stress ở mức độ nh trong khi
đó 3,2% sinh viên bị stress ở mức độ vừa còn lại là sinh viên không bị stress và không có sinh viên nào bị stress ở mức độ nặng [18] Tại Đà Nẵng, nghiên cứu trên
200 sinh viên Đại học Sư phạm cho thấy tỷ lệ sinh viên có những biểu hiện của stress tại thời điểm chuẩn bị thi giữa kỳ là rất cao, lên tới 96% [3]
Cũng tại Đà Nẵng nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Anh trên 290 sinh viên Đại học Đà Nẵng năm 2009 cho thấy mức độ sinh viên tự đánh giá không có stress chiếm 23,1%, 7,6% stress mức độ cao còn lạ là stress ở mức độ nh Stress mức độ cao ở sinh viên Bách khoa lớn hơn sinh viên Sư phạm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Stress ở sinh viên nam nhiều hơn nữ và không tìm thấy sự khác biệt về stress ở sinh viên năm đầu so với năm cuối [1]
1.3.1.4 Thực trạng stress trong sinh viên ngành Y tại Việt Nam
Trang 32Chưa có nghiên cứu tổng quát nào về stress đại diện cho sinh viên Y tại Việt Nam nói chung Tuy nhiên một số nghiên cứu nhỏ lẻ tại một số trường Y trên toàn quốc cho thấy mức độ stress của sinh viên Y là cao hơn so với các ngành khác Đặc biệt là những căng thẳng ở mức độ vừa, nặng đặc biệt là rất nặng
Tại trường Đại học Y Thái Bình, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hiền trên 600 sinh viên cho thấy tỷ lệ sinh viên có trạng thái căng thẳng cảm xúc thường xuyên là 58,8% Trong đó căng thẳng cảm xúc ở mức cao là 37,5% [8]
Kết quả nghiên cứu trên 483 sinh viên tại trường Đại học Y Dược Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ stress mức độ vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 28%, 9,5% và 5,6% Và đặc biệt trong nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ sinh viên có rối loạn kết hợp giữa stress, lo âu và trầm cảm lên tới 52,8% [22] Cũng tại trường Đại học Y Dược
Hồ Chí Minh, nghiên cứu của tác giả Lê Thu Huyền trên 182 sinh viên Y tế công cộng cho thấy tỷ lệ stress bệnh lý của sinh viên là 24,2% trong đó có 2,8% là mức
độ nặng có thể có biểu hiện của bệnh lý tâm thần [11]
Tại trường Đại học Y Hà Nội, nghiên cứu của Phạm Huyền Trang cho thấy
tỷ lệ stress nói chung của sinh viên ở đây năm 2013 là 63,6% Trong đó tỷ lệ stress của sinh viên ngành Điều dưỡng đứng thứ 3(72,5%) [20]
1.3.2 Một số nghiên cứu về yếu tố liên quan tới stress của sinh viên Y khoa
trong và ngoài nước
1.3.2.1 Một số nghiên cứu về yếu tố liên quan stress của sinh viên Y khoa ngoài
nước
Nghiên cứu trên 892 sinh viên Y tại Saudi Arabia do Hamza M Abdulghani
và cộng sự tiến hành năm 2011 sử dụng bộ câu hỏi Kessler 10 psychological distres (K10) Kết quả cho thấy, tỷ lệ stress nói chung là 63%, stress ở mức nghiêm trọng là 25% Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa stress cao hơn ở nữ so với nam giới
Tỷ lệ stresss giảm đáng kể đần trong các năm học 1,2,3 tuy nhiên lại tăng ở năm cuối [25]
Trang 33Tại Malaysia, theo nghiên cứu của Jobari và Hashim năm 2008 trên 450 sinh viên của các trường đại học Kebangsaan Malaysia (UKM) và Malaysia Sabah (UMS) và Đại học Hoàng Gia Y Dược Perak (RCMP) Kết quả cho thấy tỷ lệ stress nói chung là 44,1% và lần lượt của các trường là 46,9%, 42,3% và 43% Một số yếu
tố liên quan đến stress là vấn đề tài chính, mối quan hệ với bố m , đồng nghiệp, anh chị em ruột, bạn thân và thầy cô giáo Các bài kiểm tra là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng stress của sinh viên [37]
Nghiên cứu về mối liên quan của hỗ trợ xã hội với căng thẳng và căng thẳng học tập của sinh viên điều dưỡng do Hanem F Mohamed và Reem Khletet thực hiện trên 85 sinh viên điều dưỡng tại trường đại học King Saud Bin Abdu Aziz tại
Hy lạp Nghiên cứu sử dụng bộ công cụ Percrived Stress Scale để đánh giá mức độ stress của sinh viên và Perceived Social Support Scale để đánh giá sự hỗ trợ xã hội dành cho sinh viên Đồng thời tìm mối liên quan giữa các yếu tố stress, hỗ trợ xã hội và các yếu tố áp lực học tập, tuổi, điểm trung bình học tập Kết quả cho thấy tuổi trung bình của sinh viên là 21.7 ± 1.3, trung bình kết quả học tập là 3.1 ± 0.6
Đa số sinh viên sống với gia đình họ, có cha tốt nghiệp trung học và sống tại thành phố Có mối tương quan thuận giữa căng thẳng và độ tuổi (r=0.40), trình độ học vấn (r=0,42), nơi cư trú (r=0.82, kết quả học tập (r=0,60) Hỗ trợ xã hội ảnh hưởng đáng
kể tới mối liên quan giữa căng thẳng nhận thức, căng thẳng học tập và thành tích học tập khi kiểm soát các yếu tố gây nhiễu [36]
1.3.2.2 Một số nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến stress của sinh viên Y khoa
tại Việt Nam
Nghiên cứu về “Stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên Y khoa” do Trần Kim Trang tiến hành trên 483 sinh viên Y đa khoa và Răng hàm mặt năm thứ hai năm
2012 tại Đại học Y Dược Hồ Chí Minh Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích,
sử dụng thang DASS 21 để xác định tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm Kết quả đánh giá stress cho thấy tỷ lệ stress ở các mức độ rối loạn là 71,4% Trong đó các mức độ rối loạn nh , vừa, nặng, rất nặng lần lượt là 28%, 28,4%, 9,5% và 5,6% Kết quả cũng chỉ ra rằng sinh viên Y đa khoa có nguy cơ stress cao hơn sinh viên ngành
Trang 34khác và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ stress với giới tính, giữa các nguồn cư trú [22]
Nghiên cứu về Thực trạng stress trong sinh viên trường Đại học Y Hà Nội của Phạm Thị Huyền Trang tiến hành năm 2013 Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên
440 sinh viên thuộc tất cả các ngành và tất cả các năm học dựa trên bộ câu hỏi đánh giá stress qua các triệu chứng thể chất và tinh thần Kết quả cho thấy có tới 63,6% sinh viên bị stress trong đó tỷ lệ mắc các triệu chứng nhóm thể chất là 62,2%, nhóm triệu chứng tinh thần là 92,4% Các yếu tố liên quan đến stress là yếu tố mối quan
bộ câu hỏi một số yếu tố liên quan đến stress trong môi trường học tập Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh viên bị stress mức độ cao là 24,2% Trong đó stress bệnh lý chiếm 2,8% Các yếu tố liên quan đến stress là ở nhà trọ, hoặc nhà người thân, tính cách hướng nội so với hướng ngoại …Nghiên cứu đã xác định được thực trạng stress của sinh viên ở đây và một số yếu tố liên quan tuy nhiên nghiên cứu chưa tìm ra được mối liên quan giữa stress và các yếu tố trong môi trường học tập [11]
1.4 Mô hình lý thuyết sử dụng trong nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng Mô hình sinh thái kết hợp (Ecologically interactive model) và Khung lý thuyết yếu tố nguy cơ, yếu tố bảo vệ (Risk Protective factor) để tìm hiểu về stress của sinh viên Điều dưỡng Đại học Thăng Long qua 4 nhóm yếu tố chính là: yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, môi trường học tập, môi trường xã hội
Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới, dân tộc, tôn giáo, tình trạng kinh tế, thói quen tập thể dục, thói quen khi rảnh rỗi, thói quen khi gặp khó khăn
Trang 35Yếu tố gia đình: Nơi sinh sống, tinh trạng mối quan hệ bố m , mối quan hệ anh chị em, hỗ trợ từ bố m , hỗ trợ tai chính từ gia đính
Môi trường học tập: Áp lực học tập, áp lực thi cử, kết quả học tập, dự kiến thời gian tốt nghiệp, áp lực học phí
Môi trường xã hội: Hỗ trợ từ bạn bè, hỗ trợ từ xã hội, mối quan hệ với người yêu, tham gia các hoạt động ngoại khóa, câu lạc bộ
Trang 36CÁ NHÂN GIA ĐÌNH MÔI TRƯỜNG
HỌC TẬP
MÔI TRƯỜNG
XÃ HỘI
-Nhân khẩu học (giới,
tuổi, dân tộc, tôn
giáo, )
-Tình trạng kinh tế: học
phí, sinh hoạt phí
-Thói quen tập thể dục
-Thói quen khi rảnh rỗi
-Thói quen khi gặp khó
Trang 371.5 Đại học Thăng Long, ngành Điều dƣỡng – Đại học Thăng Long
1.5.1 Đại học Thăng Long
Đại học Thăng Long là trường ngoài công lập đào tạo bậc đại học đầu tiên tại Việt Nam, với tên gọi ban đầu là trung tâm Đại học dân lập Thăng long được thành lập năm 1988, đến năm 1994 theo quyêt định của Thủ tướng Chính phủ trường trở thành Trường Đại học dân lập Thăng long Năm 2007 trường chuyển đổi sang loại hình trường đại học tư thục với tên gọi Trường Đại học Thăng Long.Sau 25 năm phát triển không ngừng đến nay trường phát triển thành một trường đa ngành với quy mô khoảng 2000 sinh viên tốt nghiệp mỗi năm.Trong đó gồm 5 nhóm ngành,
15 ngành đào tạo bậc đại học và 7 ngành đào tạo cao học
1.5.2 Ngành Điều dưỡng – đại học Thăng Long
Ngành Điều dưỡng thuộc nhóm ngành Khoa học sức khỏe chính thức bắt đầu tuyển sinh từ kỳ thi tuyển sinh năm 2006 Đến nay đã có tám khóa cử nhân điều dưỡng chính quy nhập học, năm khóa ra trường, bẩy khóa cử nhân điều dưỡng hệ vừa làm vừa học nhập học, bốn khóa ra trường Tính tại thời điểm tháng 11 năm
2014 số lượng sinh viên điều dưỡng chính quy là 337 trong đó số lượng sinh viên năm thứ nhất, hai, ba, bốn lần lượt là: 79 sinh viên, 110 sinh viên, 60 sinh viên và
88 sinh viên
Do đặc thù là một ngành khoa học sức khoẻ trong một trường đa ngành nên chương trình học ngành điều dưỡng có một số điểm khác so với tất cả các ngành học khác như:Chương trình đào tạo kết hợp cả tín chỉ và niên chế Cụ thể các môn
cơ sở và cơ sở khối ngành sinh viên sẽ được học theo hệ tín chỉ Còn các môn cơ sở ngành và các môn chuyên ngành sinh viên học theo hệ niên chế
Số tín chỉ cũng như số giờ trong toàn bộ chương trình học 4 năm hơn hẳn các ngành khác Cụ thể cả chương trình học ngành Điều dưỡng gồm 170 tín chỉ (3370 giờ) trong khi đó các ngành khác như Quản lý bệnh viện, Toán ứng dụng hay Y tế công cộng chỉ khoảng 150 tín chỉ và 2500 giờ [14]
Trang 38Địa điểm học của sinh viên đa dạng như: Môn lý thuyết sinh viên học tại phòng học của trường như các sinh viên các ngành khác Nhóm môn thực hành tại phòng thực hành tại trường Nhóm môn thực hành lâm sàng sinh viên sẽ thực hành tại các khoa lâm sàng tại các bệnh viên như: Bạch Mai, Việt Đức, Bệnh Nhiệt đới Trung ương, Nhi trung ương, Phụ Sản Trung Uơng, Tâm thần quốc gia, Xanh-Pôn, Đống đa… Năm thứ nhất và thứ hai sinh viên hoàn toàn học ở trường Năm thứ ba
và thứ tư sinh viên buổi sáng học ở bệnh viện, buổi chiều học ở trường, buổi tối sinh viên phải trực ở bệnh viện một buổi trên mỗi tuần [13]
Trang 39Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là sinh viên cử nhân Điều dưỡng hệ chính quy đang học tại Khoa Khoa học sức khoẻ - đại học Thăng Long năm học 2014 – 2015
Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các sinh viên Điều dưỡng đang học tại các khoá SN24, SN25, SN26, SN27
- Các sinh viên tự nguyện tham gia vào nghiên cứu sau khi được đề nghị cũng như giải thích rõ mục đích của nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
- Sinh viên không đồng ý tham gia vào nghiên cứu vì bất kỳ lý do gì
- Những sinh viên đang nghỉ ốm, bảo lưu (không có mặt tại thời điểm thu thập
số liệu)
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 năm 2015 đến tháng 12 năm 2015
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Thăng Long
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, Sử dụng phương pháp định lượng kết hợp định tính
Nghiên cứu định lượng nhằm giải quyết mục tiêu 1 và 2 của nghiên cứu đó là: Mô tả thực trạng stress của sinh viên Điều dưỡng trường Đại học Thăng Long năm 2015 và xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng này
Nghiên cứu định tính nhằm bổ sung cho mục tiêu 2 của nghiên cứu (xác định một số yếu tố liên quan đến thực trạng stress của sinh viên Điều dưỡng Đại học Thăng Long năm 2015)
Trang 402.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu định lượng trên toàn bộ sinh viên Điều dưỡng hệ chính quy trường Đại học Thăng Long tại thời điểm nghiên cứu (303 sinh viên)
Nghiên cứu định tính: Mỗi khoá tiến hành một cuộc thảo luận nhóm sinh viên nam (5 sinh viên), một cuộc thảo luận nhóm sinh viên nữ (5 sinh viên) Như vậy có 40 sinh viên (20 nam, 20 nữ) tham gia nghiên cứu định tính Tổng số có 8 cuộc thảo luận nhóm
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu định lượng: Tiến hành chọn dựa theo tiêu chuẩn chọn mẫu của nghiên cứu trên toàn bộ sinh viên Điều dưỡng hệ chính quy đang học năm học 2014-2015 tại Đại học Thăng Long
Nghiên cứu định tính: Chọn ngẫu nhiên từ các khoá
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Nghiên cứu định lượng
Số liệu được thu thập vào cuối của học kỳ 2 năm học 2014-2015
Nhóm nghiên cứu gồm 3 điều tra viên và 1 giám sát viên là chủ nhiệm đề tài Tất cả các điều tra viên đều là giảng viên Bộ môn Điều dưỡng và đã từng có kinh nghiệm tham gia điều tra cộng đồng Các điều tra viên đều được tập huấn về quy trình điều tra và bộ câu hỏi trước khi tiến hành thu thập số liệu Những đợt thu thập
số liệu đầu tiên đều được giám sát viên hỗ trợ Sau mỗi buổi phát vấn, toàn bộ phiếu trả lời được nghiên cứu viên tập hợp lại và kiểm tra thông tin Nếu có thiếu sót sẽ được yêu cầu bổ sung, xử lý kịp thời
Thử nghiệm bộ công cụ thu thập số liệu: Bộ câu hỏi được nhóm nghiên cứu điều tra thử trên 10 sinh viên sau đó nhận đánh giá của sinh viên về bộ câu hỏi rồi chỉnh sửa cho phù hợp
Trong quá trình thu thập số liệu được sự giám sát của giảng viên trường Đại học Y Tế Công Cộng