Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 02 đến tháng 07 năm 2016 tại Nhà máy xi măng An Giang nhằm xác định mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại tất cả vị trí làm việc của người lao độ
Trang 1VÕ TẤN KHOA
THỰC TRẠNG PHƠI NHIỄM TIẾNG ỒN NƠI LÀM VIỆC
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÕNG CHỐNG ĐIẾC NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NHÀ
MÁY XI MĂNG AN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội, 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
VÕ TẤN KHOA
THỰC TRẠNG PHƠI NHIỄM TIẾNG ỒN NƠI LÀM VIỆC
VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÕNG CHỐNG ĐIẾC NGHỀ NGHIỆP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI NHÀ
MÁY XI MĂNG AN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
Hà Nội, 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn, em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học – Trường Đại học Y tế công cộng, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, Ban Giám đốc Sở Y tế An Giang, Ban Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh An Giang đã tạo điều kiện cho em tham dự khóa học này
Em xin chân thành cám ơn đến Quý Thầy/Cô các Phòng, Bộ môn Trường Đại học Y tế công cộng và các cán bộ Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đã nhiệt tình giảng dạy, trang bị kiến thức, tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Giáo viên hướng dẫn và Giáo viên hỗ trợ đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, định hướng cho em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo, điều tra viên Khoa Sức khỏe nghề nghiệp – Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh An Giang đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu Luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Phòng/Bộ phận sản xuất của Nhà máy Xi măng An Giang đã nhiệt tình hỗ trợ, hợp tác, giúp đỡ trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu hoàn thành Luận văn đã nhận được sự động viên, chia sẻ, giúp đỡ của gia đình, anh em, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân Em xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Xin trân trọng cảm ơn./
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC SƠ ĐỒ vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tiếng ồn 4
1.1.1 Những khái niệm về âm thanh và tiếng ồn 4
1.1.2 Phân loại tiếng ồn 5
1.1.3 Ngưỡng nghe và ngưỡng đau 7
1.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá tiếng ồn trong môi trường lao động 7
1.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe người lao động 10
1.3 Biện pháp phòng chống tiếng ồn 13
1.4 Các nghiên cứu tiếng ồn trong một số ngành có liên quan và trong ngành sản xuất xi măng 14
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 14
1.4.2 Tại Việt Nam 16
1.4.3 Tình hình nghiên cứu tại tỉnh An Giang 19
1.5 Giới thiệu sơ bộ về Nhà máy Xi măng An Giang 20
CÂY VẤN ĐỀ 22
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu 23
2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu 23
Trang 52.4.1 Mẫu nghiên cứu về tiếng ồn 23
2.4.2 Mẫu nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành 24
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.5.1 Số liệu về tiếng ồn 25
2.5.2 Thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp 25
2.5.3 Quá trình thu thập số liệu 26
2.6 Các biến số nghiên cứu 26
2.6.1 Biến số về cường độ tiếng ồn 26
2.6.2 Biến thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp 26
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số biến nghiên cứu 27
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 28
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 28
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 29
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1 Thông tin chung về người lao động tại Nhà máy 30
3.2 Thực trạng ô nhiễm tiếng ồn tại Nhà máy 32
3.2.1 Trong phân xưởng sản xuất 32
3.2.2 Khu vực hành chính 36
3.3 Kết quả kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan của người lao động trong việc phòng chống điếc nghề nghiệp 36
3.3.1 Kết quả kiến thức của người lao động 36
3.3.2 Kết quả thái độ của người lao động về phòng chống điếc nghề nghiệp 40 3.3.3 Kết quả thực hành của người lao động về phòng chống điếc nghề nghiệp 43
3.3.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của người lao động với công tác phòng chống điếc nghề nghiệp 47
Chương 4 BÀN LUẬN 52
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 52
Trang 64.2 Kết quả khảo sát thực trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc của người lao
động 53
4.2.1 Nguồn gây tiếng ồn 53
4.2.2 Thực trạng tiếng ồn 54
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan của người lao động trong việc phòng chống điếc nghề nghiệp 55
4.3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành của người lao động về phòng chống điếc nghề nghiệp 55
4.3.2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp của người lao động 59
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
Phụ lục 1 70
Phụ lục 2 78
Phụ lục 3 81
Phụ lục 4 83
Phụ lục 5 86
Phụ lục 6 87
Phụ lục 7 88
Trang 7ILO Tổ chức lao động thế giới
KAP Kiến thức, thái độ, thực hành
PTBVCN Phương tiện bảo vệ cá nhân
TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
TTYTDP Trung tâm Y tế dự phòng
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mức áp âm của một số nguồn ồn trong sản xuất công nghiệp 6
Bảng 1.2 Mức độ ồn đặc trưng một số ngành nghề 7
Bảng 1.3 Mức áp suất âm tại các vị trí làm việc 9
Bảng 1.4 Mức âm tương đương được quy định tại một số quốc gia trên thế giới 10
Bảng 3.1 Một số đặc điểm về nhân khẩu học của người lao động 30
Bảng 3.2 Đặc tính về tuổi nghề theo bộ phận công tác 31
Bảng 3.3 Kết quả đo tiếng ồn chung theo từng vị trí làm việc trong phân xưởng 32
Bảng 3.4 Kết quả phân tích tiếng ồn theo dải tần trong phân xưởng sản xuất 34
Bảng 3.5 Cường độ tiếng ồn theo từng dải tần số 35
Bảng 3.6 Phân tích cường độ tiếng ồn theo từng dải tần số 35
Bảng 3.7 Kết quả đo tiếng ồn chung tại khu vực hành chính 36
Bảng 3.8 Kiến thức về phương tiện bảo vệ cá nhân 36
Bảng 3.9 Kiến thức của người lao động về ảnh hưởng của tiếng ồn 38
Bảng 3.10 Kiến thức về điều trị và phòng ngừa bệnh do phơi nhiễm tiếng ồn 39
Bảng 3.11 Thái độ của người lao động tiếp nhận thông tin về mức độ ồn tại Nhà máy 40
Bảng 3.12 Thái độ về sự lo sợ khi làm việc trong môi trường tiếng ồn 40
Bảng 3.13 Thái độ muốn thay đổi môi trường làm việc của người lao động 41
Bảng 3.14 Thái độ về sự cần thiết phải học kiến thức vệ sinh lao động trước khi đảm nhận công việc 41
Bảng 3.15 Thái độ của người lao động đối với điều kiện làm việc trong môi trường tiếng ồn 42
Bảng 3.16 Thái độ của người lao động đối với việc khám sức khỏe định kỳ, khám bệnh nghề nghiệp 43
Bảng 3.17 Thực hành về trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân (n = 76) 43
Bảng 3.18 Mức độ sử dụng và thực hành mang phương tiện bảo vệ cá nhân khi làm việc (n = 76) 44
Bảng 3.19 Thời gian làm việc của người lao động (n = 76) 45
Trang 9Bảng 3.20 Thời gian và địa điểm nghỉ giữa ca làm việc của người lao động (n = 76)
45
Bảng 3.21 Đặc điểm người lao động tham gia khám sức khỏe định kỳ và khám phát hiện bệnh điếc nghề nghiệp 46
Bảng 3.22 Kết quả tổng thể kiến thức, thái độ và thực hành tại Nhà máy 47
Bảng 3.23 Liên quan giữa tuổi đời với kiến thức của người lao động 47
Bảng 3.24 Liên quan giữa tuổi nghề với kiến thức của người lao động 48
Bảng 3.25 Liên quan giữa trình độ văn hóa với kiến thức của người lao động 48
Bảng 3.26 Liên quan giữa tuổi đời với thái độ của người lao động 49
Bảng 3.27 Liên quan giữa tuổi nghề với thái độ của người lao động 49
Bảng 3.28 Liên quan giữa trình độ văn hóa với thái độ của người lao động 50
Bảng 3.29 Liên quan giữa tuổi đời với thực hành của người lao động 50
Bảng 3.30 Liên quan giữa tuổi nghề với thực hành của người lao động 51
Bảng 3.31 Liên quan giữa trình độ văn hóa với thực hành của người lao động 51
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Dây chuyền công nghệ sản xuất của Nhà máy 21
Trang 10TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tiếng ồn là một trong những yếu tố tác hại gây ô nhiễm phổ biến cho môi trường và trong sản xuất, đưa đến bệnh điếc nghề nghiệp luôn đứng đầu về tỷ lệ người mắc
Nghiên cứu mô tả cắt ngang được tiến hành từ tháng 02 đến tháng 07 năm
2016 tại Nhà máy xi măng An Giang nhằm xác định mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại tất
cả vị trí làm việc của người lao động vượt Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ)
và kiến thức, thái độ, thực hành của người lao động trong phòng chống tác hại do tiếng ồn, cũng như đưa ra những khuyến nghị phù hợp để hỗ trợ giảm thiểu các tác hại của tiếng ồn Đối tượng nghiên cứu là môi trường lao động và người lao động tại Nhà máy bao gồm những người làm việc trực tiếp sản xuất và người làm công việc hành chính Số liệu được thu thập phục vụ nghiên cứu bằng cách đo xác định mức độ tiếng ồn tại các vị trí làm việc và phỏng vấn toàn bộ 134 người lao động bằng bộ câu hỏi Thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp của người lao động được quan sát bằng bảng kiểm, thực hiện trên toàn bộ 76 người lao động trực tiếp sản xuất
Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ tiếng ồn tại khu vực sản xuất trực tiếp dao động từ 69,5 – 105,3 dBA, số mẫu vượt TCVSLĐ là 36/72 mẫu (50%) và tỷ lệ mẫu phân tích theo dải tần vượt TCVSLĐ là 56,94%, tập trung tại Khu vực máy nghiền, khu vực đóng bao, khu vực thành phẩm (Xuất hàng dây chuyền 2, dây chuyền 3 và dây chuyền 4) và vị trí đầu phân xưởng Cơ khí Người lao động có kiến thức, thái độ đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ khá cao (75,37% và 71,64%), tuy nhiên chỉ có 25% người lao động đạt yêu cầu về thực hành đúng Lĩnh vực yếu được xác định trong phần kiến thức là bông gòn hiệu quả nhất phòng chống ảnh hưởng tiếng ồn (51%) Đối với thái độ vấn đề tồn tại kém nhất là phần lớn người lao động không lo
sợ mắc bệnh điếc nghề nghiệp (61,94%) Đối với thực hành, 100% người lao động được trang bị chưa đúng chủng loại phương tiện bảo vệ cá nhân (PTBVCN), không thường xuyên sử dụng PTBVCN (84,2%) và 71,1% chưa được khám phát hiện bệnh điếc nghề nghiệp
Trang 11Qua nghiên cứu cho thấy vấn đề trình độ văn hóa ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ, thực hành và yếu tố tuổi đời có liên quan đến thái độ và thực hành của người lao động Từ kết quả nghiên cứu, khuyến nghị đặt ra đối với Nhà máy là cần
có kế hoạch nâng cao nhận thức, cải thiện thái độ và thực hành trong công tác phòng chống ô nhiễm tiếng ồn cho người lao động
Trang 12
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế, xã hội nhờ thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa Tuy vậy, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức về an toàn và vệ sinh lao động Cùng với quá trình phát triển công nghiệp các thiết bị công suất lớn, năng suất cao được sử dụng nhiều hơn, tiếng ồn là một trong những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất, đưa đến bệnh điếc nghề nghiệp (ĐNN) luôn đứng đầu về tỷ lệ người mắc bệnh nghề nghiệp (BNN)[4] Theo nhận định của Hiệp hội chống tiếng ồn quốc tế số người lao động (NLĐ) làm việc trong các ngành nghề, cơ sở sản xuất có cường độ tiếng ồn cao, chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 1/4 đến 1/3 trong tổng số NLĐ[49] Tại Việt Nam, theo số liệu báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế, tính đến cuối năm 2014 bệnh ĐNN do tiếng ồn là 4.834/28.274 chiếm 17,097% tổng số các trường hợp bị BNN[29]
Thời gian qua, công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe của NLĐ đã đạt được một số thành tựu nhất định Sức khỏe NLĐ từng bước được nâng cao thông qua việc giám sát môi trường lao động (MTLĐ), giám sát sức khỏe, cải thiện điều kiện lao động và huấn luyện cho NLĐ để bảo vệ sức khỏe góp phần phòng chống các tác hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình lao động Tuy nhiên chỉ với số lượng nhỏ cơ sở lao động thực hiện và thực hiện không đồng bộ, MTLĐ tại các cơ
sở sản xuất vẫn còn ô nhiễm và nhận thức của người sử dụng lao động, NLĐ về an toàn vệ sinh lao động và phòng chống BNN còn hạn chế[1] Việc phòng chống tác hại của tiếng ồn mặc dù ít tốn kém, có nhiều hiệu quả nhưng không đơn giản và trong nhiều trường hợp rất khó khăn, một phần do trình độ, kỹ năng quản lý người
sử dụng lao động còn thấp[20], chưa thấy được những thiệt hại kinh tế do ô nhiễm MTLĐ trong doanh nghiệp phải gánh chịu như giảm sản lượng, tuyển dụng NLĐ mới, các chi phí cho y tế trong trường hợp bị tai nạn lao động, BNN, bồi thường thiệt hại cho NLĐ, làm mất đi uy tín, hình ảnh của doanh nghiệp[11] và do NLĐ ít quan tâm đến những rủi ro có thể xảy ra trong lao động, đánh giá thấp hiệu quả bảo
vệ của các phương tiện bảo vệ cá nhân, còn thiếu hiểu biết về an toàn lao động,
Trang 13chưa quan tâm đúng mức đến sự an toàn cho chính mình khi làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm, nên chưa có nhu cầu về sử dụng các phương tiện an toàn, hoặc sử dụng một cách miễn cưỡng để đối phó với những qui định của cơ quan, pháp luật [14], cần phải có sự nỗ lực trong thay đổi nhận thức, thái độ, thực hành của NLĐ và người sử dụng lao động cùng với sự tham gia tích cực của y tế cơ
sở mới có thể phòng chống có hiệu quả các yếu tố nguy cơ và tác hại nghề nghiệp
do tiếng ồn gây ra nói chung và phòng chống giảm thính lực nghề nghiệp nói riêng
Nhà máy Xi măng An Giang đóng trên địa bàn Thành phố Long Xuyên, tỉnh
An Giang, là đơn vị sản xuất xi măng duy nhất trên địa bàn tỉnh và có đóng góp rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội trong tỉnh Đặc thù sản xuất của Nhà máy dẫn đến vấn đề ô nhiễm tiếng ồn, bụi trong môi trường lao động (MTLĐ) ở mức cao Theo số liệu báo cáo kết quả giám sát MTLĐ định kỳ từ năm 2011 – 2014 tần suất tiếng ồn vượt Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) cho phép luôn đứng đầu trong các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của NLĐ, mức độ ồn trong phân xưởng sản xuất dao động từ 81 – 104 dBA[6],[7],[8],[9]
Để trả lời các câu hỏi: Mức độ ô nhiễm tiếng ồn tại tất cả vị trí làm việc của người lao động vượt TCVSLĐ cho phép như thế nào? Ý thức của NLĐ trong công tác phòng chống tác hại do tiếng ồn gây ra ra sao? Khuyến nghị nào là phù hợp thực
tế để hỗ trợ Nhà máy giảm thiểu các tác hại của tiếng ồn Nghiên cứu đề tài “Thực
trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc và kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp của người lao động tại Nhà máy Xi măng An Giang năm 2016” được thiết kế để tiến hành tại Nhà máy Xi măng An Giang trong năm 2016
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng phơi nhiễm tiếng ồn nơi làm việc của người lao động tại
Nhà máy Xi măng An Giang năm 2016
2 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành và các yếu tố liên quan của người lao
động trong việc phòng chống điếc nghề nghiệp tại Nhà máy Xi măng An Giang năm
2016
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số vấn đề cơ bản về tiếng ồn
1.1.1 Những khái niệm về âm thanh và tiếng ồn
1.1.1.1 Định nghĩa tiếng ồn
Theo Công ước số 148 về bảo vệ NLĐ phòng chống các rủi ro nghề nghiệp
do ô nhiễm không khí, ồn và rung ở nơi làm việc: Ồn là chỉ mọi âm thanh có thể dẫn đến một sự tổn hại thính giác, hoặc gây tác hại đối với sức khỏe hoặc nguy hiểm về nhiều mặt khác[45]
Tiếng ồn là tập hợp những âm thanh có cường độ và tần số khác nhau, được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, gây cảm giác khó chịu cho người nghe, cản trở con người làm việc và nghỉ ngơi hay là những âm thanh mà người ta không mong muốn[12],[27],[41],[46]
1.1.1.2 Các đặc tính của âm thanh
Âm thanh là những dao động cơ học được lan truyền dưới hình thức sóng trong môi trường đàn hồi như khí, lỏng, rắn và được cơ quan cảm thụ thính giác hấp thu[22],[27],[46],[4]
Tần số: Mỗi âm thanh được đặc trưng bởi một tần số dao động nhất định, đủ trong 1 giây Đơn vị đo là herts (Hz) 1Hz là một dao động đầy đủ trong 1 giây Thính giác người cảm thụ được tần số âm thanh từ 16 – 20.000Hz Đặc điểm sinh lý của cơ quan thính giác là phản ứng với sự tương đối của các tần số âm Khi tần số
âm thanh tăng lên hai lần thì độ cao của âm tăng lên 1 ton hay là 1 octave Trong VSLĐ thường đo âm thanh ở 8 octave là 63, 125, 250, 500, 1000, 2000, 4000, 8000 Hz.[27],[41]
Biên độ: Mỗi âm thanh đều có một năng lượng âm nhất định, năng lượng này phụ thuộc vào biên độ dao động của sóng trên đường truyền âm Về mặt vật lý thì cường độ âm thanh có đơn vị đo là erg/cm2sec hoặc w/cm2 Tai người cảm thụ với
âm thanh từ 10-9
- 104 w/cm2, vậy ngưỡng nghe của người tương đương với 10-9w/cm2 và ngưỡng đau tương đương với 104 w/cm2
Trang 16Về mặt tiếp nhận cảm giác âm thanh: Cường độ tiếng ồn được đo bằng decibel (dB) và tỷ lệ thuận với logarit thập phân của năng lượng âm
dB I
I L
0
lg 10
Trong đó: + L là cường độ âm thanh
+ I là năng lượng của âm thanh (w/cm2) + I0 là năng lượng của âm thanh ở ngưỡng nghe (10-9 w/cm2) Như vậy mức cảm thụ về thính giác phụ thuộc vào hai yếu tố đó là tần số và biên độ của dao động âm, vậy đơn vị đo lường chủ quan cảm giác âm thanh là tổng hợp cả hai yếu tố trên gọi là phone (đơn vị độ vang): 1 phone tương đương với 1 decibel ở 1000 Hz Âm thanh ở 1000 Hz là âm thanh chuẩn về độ vang, cường độ
âm thanh tại đây sẽ được đo bằng dBA[22],[27]
Tại tần số dBA giúp đánh giá sơ bộ tiếng ồn về phương diện vệ sinh so với tiêu chuẩn tối đa cho phép[27]
1.1.2 Phân loại tiếng ồn
Tiếng ồn là một trong số những loại hình gây ô nhiễm ngày càng phổ biến cho môi trường và trong sản xuất Tiếng ồn rất đa dạng và có nhiều nguồn gốc khác nhau Có nhiều cách phân loại nguồn ồn như:
1.1.2.2 Theo năng lƣợng âm
Tiếng ồn dải rộng: Khi năng lượng âm thanh phân bố đều ở tất cả các dải tần
số Còn gọi là tiếng ồn trắng
Trang 17Tiếng ồn dải hẹp: Khi năng lượng âm thanh phân bố không đều ở tất cả các dải tần số, mức chênh lệch trên 6dB Còn gọi là tiếng ồn âm sắc, gây kich thích mạnh hơn tiếng ồn dải rộng[22],[27]
Bảng 1.1 Mức áp âm của một số nguồn ồn trong sản xuất công nghiệp
(dBA)
(Nguồn: Giáo trình Tiếng ồn, rung động trong sản xuất và kỹ thuật xử lý)[4]
Theo KG Rampal, I Noorhassim (1996), tiếng ồn cũng được chia làm 4 loại
là liên tục hoặc trạng thái ổn định, dao động bất thường, không liên tục và tiếng ồn xung Tuy nhiên lại có sự khác biệt giữa tiếng ồn ổn định, không ổn định với mức chênh lệch theo thời gian chỉ là 3 dB và tiếng ồn xung thời gian tăng đột ngột không quá 0,5 giây
Trang 18Bảng 1.2 Mức độ ồn đặc trƣng một số ngành nghề
(dBA)
(Nguồn: KG Rampal, I Noorhassim, 1996)[46]
1.1.3 Ngưỡng nghe và ngưỡng đau
Âm thanh nghe được có tần số từ 15 – 20.000Hz Ở tần số 18.000 – 20.000Hz chỉ trẻ em nghe được Tần số nghe được giảm dần ở người lớn tuổi Về già còn nghe được 13.000 – 15.000Hz
Theo J Duhamel (1962), súc vật nghe được ở tần số cao hơn mèo, chuột 40.000Hz, chó 80.000Hz, dơi 90.000Hz
Ở người bình thường, tần số nói chuyện vào khoảng 500 – 2.000Hz Âm lực quá thấp không nghe được, quá cao gây đau tai[27]
1.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá tiếng ồn trong môi trường lao động
Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với mục đích cuối cùng
là đưa ra tiêu chuẩn khuyến cáo về sự nguy hại của người tiếp xúc với tiếng ồn Để định mức tiêu chuẩn tiếng ồn trước hết phải xuất phát từ đặc điểm cảm thụ âm thanh
Trang 19của tai người và các đặc điểm bức xạ của tiếng ồn như mức âm, tần số, thời gian tiếp xúc
Định mức vệ sinh của tiếng ồn trong sản xuất là giới hạn cho phép về tiếng
ồn, mà trong giới hạn đó người lao động có thể làm việc trong nhiều năm không bị bệnh nghề nghiệp do tiếng ồn
Mỗi nước trên thế giới đều có tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành hoặc các quy định bắt buộc thi hành hay khuyến khích thi hành[4]
Tại Việt Nam, hiện nay đang sử dụng Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ), được ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành 21 TCVSLĐ, 05 nguyên tắc và
07 thông số vệ sinh lao động (VSLĐ) Trong đó quy định cụ thể mức tiếng ồn cho phép tại các vị trí làm việc trong môi trường lao động (MTLĐ) của các xí nghiệp,
cơ sở sản xuất, cơ quan chịu ảnh hưởng của tiếng ồn, các mức cho phép trong TCVSLĐ này tương đương với Tiêu chuẩn 3985:1999 quy định mức ồn tối đa cho phép tại các vị trí làm việc do Ban Kỹ thuật TCVN/TC43 “Âm học” biên soạn[25]
- Mức ồn cho phép tại vị trí làm việc được đánh giá bằng mức áp suất âm tương đương tại mọi vị trí làm việc, đo theo đặc tính thang A, thang A được lập ra
để nhấn mạnh vào những tần số mà tai người nhạy cảm nhất, cũng để giảm thiểu tác động của những âm thanh có tần số rất thấp hoặc rất cao Trong thời gian lao động 8 giờ, mức âm liên tục tại nơi làm việc không được vượt quá 85 dBA
- Thời gian tiếp xúc với tiếng ồn giảm 1/2, mức ồn cho phép tăng thêm 5 dBA
+ Tiếp xúc 4 giờ tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 90 dBA;
+ Tiếp xúc 2 giờ tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 95 dBA;
+ Tiếp xúc 1 giờ tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 100 dBA;
+ Tiếp xúc 30 phút tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 105 dBA;
+ Tiếp xúc 15 phút tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 110 dBA;
+ <15 phút tăng thêm 5 dBA mức cho phép là 115 dBA
Mức cực đại không được vượt 115 dBA
Trang 20Thời gian lao động còn lại trong ngày làm việc chỉ được tiếp xúc với tiếng ồn dưới 80 dBA
- Mức áp suất âm cho phép đối với tiếng ồn xung thấp hơn 5 dBA so với các giá trị tương ứng nêu trên
- Để đạt được năng suất làm việc tại các vị trí lao động khác nhau cần đảm bảo mức áp suất âm theo tần số cho phép tại các vị trí làm việc, cụ thể như sau:
Bảng 1.3 Mức áp suất âm tại các vị trí làm việc
Vị trí lao động Mức âm
dBA
Mức âm dB ở các dải ốc ta với tần số trung bình
nhân (Hz) không vƣợt quá (dB)
Trang 21Bảng 1.4 Mức âm tương đương được quy định tại một số quốc gia trên thế giới
1.2 Ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe người lao động
Các yếu tố quyết định tác hại của tiếng ồn:
Tiếng ồn là một trong các yếu tố của môi trường tác động xấu lên người lao động khi làm việc Tác hại của tiếng ồn phụ thuộc vào bản chất vật lý, vào các yếu
tố nguy cơ tác nhân phối hợp trong quá trình làm việc như nhiệt độ cao, hơi khí độc, rung Ngoài ra thời gian tiếp xúc càng kéo dài, càng có hại, thời gian tối thiểu để tiếng ồn gây ra bệnh điếc nghề nghiệp phải là 3 tháng, nếu dưới 3 tháng mà tiếng ồn
đã gây hại thì được coi là tai nạn lao động do tiếng ồn và một phần vào tính cảm thụ của từng cá nhân trong từng thời điểm khác nhau mà tiếng ồn gây hại nhiều hay ít [22],[27]
Các ảnh hưởng của tiếng ồn:
Trang 22Ảnh hưởng đặc trưng: Tiếng ồn được hấp thụ qua tai, một số âm thanh tần số thấp và siêu tần được hấp thụ trực tiếp vào cơ thể[23] Tiếp xúc liên tục với tiếng ồn cao đầu tiên sẽ bị mệt mỏi thính giác rồi đến giảm thính lực dần dần và cuối cùng là giảm toàn phần thính lực hay gọi là “Điếc nghề nghiệp”[26],[39]
Bệnh điếc nghề nghiệp do tiếng ồn là bệnh nghe kém không hồi phục do tiếp xúc với tiếng ồn có cường độ cao trong quá trình lao động[28] Điếc nghề nghiệp diễn ra rất chậm, nhưng không có quy luật nhất định về thời gian Diễn biến theo lâm sàng chia ra 04 giai đoạn tiến triển[27]:
- Giai đoạn đầu mệt mỏi thính giác: Đây là giai đoạn thích ứng, xảy ra từ vài
tuần đến vài tháng sau khi tiếp xúc với tiếng ồn Bệnh nhân cảm thấy ù tai, cảm giác tức ở tai như bị nút tai, có cảm giác nghe kém vào cuối hay sau giờ lao động, ít chú
ý đến Toàn thân suy nhược, mệt mỏi, nhức đầu, mất ngủ Đo thính lực sau ngày làm việc giảm rất giới hạn ở tần số 4000 Hz Khi nghỉ ngơi, thính lực hồi phục hoàn toàn Tần số 4000 Hz hồi phục chậm nhất
- Giai đoạn tiềm tàng: Giai đoạn này kéo dài hằng năm, đến 5-7 năm Người
bệnh không biết vì các triệu chứng chủ quan và toàn thân qua đi Tiếng nói to ở nơi
ồn ào lại nghe được rõ hết, chỉ cảm thấy trở ngại khi nghe âm nhạc, vì nghe kém ở tần số cao Khuyết chữ V rõ rệt, đỉnh có thể tới 50 - 60 dB ở 4000 Hz và có thể lan rộng tới các tần số 3000 và 6000 Hz Ở thời kỳ này, đo thính lực âm là cách phát hiện hàng loạt tốt và sớm Có thể cho nghe tiếng tích tắc đồng hồ, tiếng này có cường độ 30-40 dB, có tần số 3000-4000 Hz
- Giai đoạn tiềm tàng gần hoàn toàn: Đường biểu diễn thính lực âm có
khuyết hình chữ V nhưng các nhánh đã mở rộng ra tới các tần số 2000, 1000 Hz, vùng nói chuyện bị ảnh hưởng (500-2000 Hz) có thể mất 70dBA ở 4000 Hz Tần số
8000 Hz cũng có thể bị ảnh hưởng Người bệnh khó chịu khi nghe và không nghe được tiếng nói thầm Giai đoạn này kéo dài 10 - 15 năm
- Giai đoạn điếc rõ rệt: Ở giai đoạn này tiếng nói to cũng khó nghe Bệnh
nhân thường ù tai thường xuyên, nói chuyện khó khăn Đo thính lực khuyết chữ V lan rộng tới cả tần số 1000, 500 và 250 Hz Thính trường thu hẹp, không những ngưỡng nghe tăng cao mà ngưỡng đau còn hạ thấp xuống
Trang 23Ngoài ảnh hưởng đến thính giác tiếng ồn còn gây ảnh hưởng chung đến cơ thể (tác hại không đặc trưng) như ảnh hưởng lên hệ thần kinh trung ương, sau khi tiếp xúc với tiếng ồn thường xuất hiện các dấu hiệu ban đầu như ù tai, chóng mặt đau đầu, mệt mỏi, giảm trí nhớ, giảm độ tập trung, ngủ không ngon và không sâu giấc, dễ đưa đến suy nhược thần kinh[12],[37], ngoài ra khi làm việc trong điều kiện
ồn ào có thể bị ức chế tiêu hoá, rối loạn chức năng hệ tim mạch Tiếng ồn cao là một trong những nguyên nhân là giảm năng suất lao động và tăng tỷ lệ tai nạn lao động[26],[39],[47]
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tiếng ồn ảnh hưởng đến sức của của con người Các tác giả Burns.W, Robinson.D.W (1973); Satalop.N.N (1976); Roger.P, Hamernik (1988)[36], Melamed S, Luz J, Green ms (1992)[52]; M.Nathaniel Mead (2007)[48] đã cho thấy tiếng ồn gây ảnh hưởng xấu đến hệ tiêu hóa, thần kinh, tim mạch và tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn sẽ giảm thính lực
Schacht & Hawkins (2006) đã chỉ ra ảnh hưởng của streptomycin và các kháng sinh khác có thể ảnh hưởng đến cấu trúc và/hoặc chức năng của tai trong và các liên kết con đường truyền tín hiệu trong hệ thần kinh gây khiếm thính[40]
Tại Việt Nam, theo các tác giả Nguyễn Thị Toán, Lê Trung (1992); Nguyễn Quang Khanh (2002)[21]; Nguyễn Đăng Quốc Chấn (2003)[2], (2006)[3]; Hà Lan Phương (2007)[24] tiến hành các nghiên cứu đều cho thấy rằng ảnh hưởng của tiếng
ồn đến sức khỏe của người lao động gây ra giảm thính lực và bệnh điếc nghề nghiệp (ĐNN) Năm 2009 tác giả Hoàng Minh Thúy đã cho thấy rằng ngoài việc gây bệnh ĐNN, tiếng ồn gây ảnh hưởng đến một số triệu chứng toàn thân như căng thẳng thần kinh, hay đau đầu, thường xuyên mất ngủ, tăng huyết áp, hội chứng dạ dày tá tràng[32]
Theo nghiên cứu của Hoàng Thị Minh Hiền từ năm 2007 – 2009 tại Công ty than Hà Lầm: Kết quả khám bệnh nghề nghiệp cho thấy, tỷ lệ điếc nghề nghiệp (ĐNN) là 11,0%, trong đó nhóm tiếp xúc với tiếng ồn là 8,8% và tiếp xúc với ồn & rung là 11,5% Bên cạnh đó, người lao động có biểu hiện tăng ngưỡng cảm nhận rung và cảm nhận đau, có biểu hiện rối loạn trương lực mạch ngoại vi và bị tổn thương xương – khớp[13]
Trang 24Vấn đề ảnh hưởng của tiếng ồn trong ngành sản xuất xi măng cũng có một số tác giả đề cập đến Năm 2000, Hernández-Gaytán SI và cộng sự đã tiến hành kiểm tra thính lực của 85 công nhân và đo cường độ ồn trong một nhà máy xi măng Kết quả cho thấy 55% công nhân có vấn đề về sức nghe do tiếp xúc với tiếng ồn và công nhân làm việc tại khu vực nung có tỷ lệ cao nhất, mức độ ồn cao xuất hiện tại khu vực nghiền, xay thô và đóng bao [44] Theo tác giả Phạm Thúy Hoa, Nguyễn Xuân Tâm và cộng sự (2006) nghiên cứu MTLĐ và bệnh tật của công nhân một số ngành nghề ở Tây Nguyên cho thấy, tiếng ồn gây tác hại đến sức nghe của người lao động, tỷ lệ công nhân sản xuất xi măng giảm sức nghe đường khí tai phải là 15,38% và giảm sức nghe đường khí 2 tai là 7,69% [15] Trong năm 2006 tác giả Nguyễn Thị Thoại, Trịnh Hồng Lân và cộng sự chỉ ra rằng 12,31% người lao động
bị điếc nghề nghiệp do tiếp xúc với tiếng ồn tại Nhà máy Xi măng Hòn Chông [30]
1.3 Biện pháp phòng chống tiếng ồn
Biện pháp giảm tiếng ồn có hiệu quả và tích cực là khi phân xưởng sản xuất
sử dụng các thiết bị, máy móc ít gây ồn hoặc công nhân sử dụng các máy móc tự động, nhưng lại phụ thuộc vào điều kiện kinh phí của đơn vị Do đó các vấn đề đặt
ra nhằm khắc phục nguồn ồn từ các thiết bị, máy móc lạc hậu và nếu cần thiết phải trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân phòng chống ảnh hưởng của tiếng ồn trong môi trường sản xuất cho người lao động
- Biện pháp giảm tiếng ồn ngay nguồn phát sinh là một biện pháp chủ động
và tích cực, giảm tận gốc nguồn phát sinh tiếng ồn Các biện pháp công nghệ có thể
áp dụng như thay vật liệu, giảm tốc độ, bôi trơn, đệm cao su…, giảm nguồn ồn bằng cách cách ly nguồn phát sinh tiếng ồn, làm hệ thống hai cửa, tường dày, vật liệu xốp hoặc bọc kín máy gây ồn nhiều và tổ chức bố trí máy móc, sắp xếp trang thiết bị hợp lý [27],[26] Ngoài ra có thể tính toán, áp dụng các biện pháp giảm tiếng ồn trên đường truyền như sử dụng các vật liệu hấp thu bề mặt và phản xạ tại chỗ, loại bỏ các bề mặt phản xạ thay bằng các vật liệu hấp thu tiếng ồn như len, thủy tinh…[4]
- Biện pháp dự phòng cá nhân: Theo tác giả Hoàng Minh Thúy (2011)[31]
một trong những biện pháp phòng chống tác hại tiếng ồn có hiệu quả nhất là đeo nút tai chống ồn Nút tai có thể bằng sáp, bằng bông, cao su xốp, chất dẻo Tuy nhiên có
Trang 25loại nút tai cũng gây khó chịu, dị ứng và người công nhân chưa có thói quen sử dụng Ngoài ra có thể sử dụng các loại tai chụp hay mũ chụp và kết hợp với tổ chức lao động hợp lý, có thể sắp xếp nghỉ ngắn xen kẽ lao động: lao động một giờ nghỉ
15 phút, hay hai giờ nghỉ nửa giờ Tại nơi lao động, cần bố trí các phòng yên tĩnh để công nhân nghỉ ngơi Đối với những mệt mỏi thính lực hay phải lao động ở nơi có tiếng ồn cường độ quá cao, có thể điều trị bằng bố trí nghỉ ngơi trong một số ngày hoặc vài tuần lễ[27],[26]
- Biện pháp y tế: dự phòng hiệu quả nhất là khám sức khỏe định kỳ, phát hiện
sớm hiện tượng giảm thính lực của công nhân để có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi tuyển dụng người lao động (NLĐ) vào làm việc cần thiết phải khám tuyển nhằm loại trừ những cá nhân có bệnh về tai, quản lý sức nghe của NLĐ Khi làm việc trong môi trường ồn, ít nhất là từ 6 tháng đến 1 năm NLĐ phải được đo sức nghe để
so sánh với biểu đồ sức nghe của lần trước và không giảm quá 10dB, người nào giảm thính lực trên 50 – 60 dBA ở tần số 4000 Hz cần được đo thính lực hoàn chỉnh
để phát hiện ĐNN Để tăng hiệu quả phòng chống, định kỳ tổ chức tuyên truyền, học tập để người lao động tự hiểu được tác hại của tiếng ồn và họ sẽ tự giác làm tốt công tác phòng hộ lao động cá nhân và an toàn vệ sinh lao động[27],[26]
1.4 Các nghiên cứu tiếng ồn trong một số ngành có liên quan và trong ngành sản xuất xi măng
1.4.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Vấn đề nghiên cứu về điều kiện lao động và ảnh hưởng độc hại của một số yếu tố lao động đến sức khỏe người lao động (NLĐ) đã xuất hiện từ lâu, khởi nguồn
từ thời Hypocrate (446 – 377 trước công nguyên)
Đầu thế kỉ XIX đã thấy điếc ở công nhân tán rive, người làm nồi chảo Đến năm 1831 gặp ở thợ rèn Giữa thế kỉ XIX bệnh điếc được phát hiện ở công nhân đường sắt, thợ dệt
Ngày càng có nhiều nghiên cứu trên thế giới về những vấn đề có liên quan đến các yếu tố nguy cơ nghề nghiệp trong các doanh nghiệp cho chúng ta thấy được thực trạng sức khoẻ bệnh tật và điều kiện lao động của NLĐ trong các cơ sở sản xuất Theo MA Cook (1996), tỷ lệ mắc bệnh của công nhân ngành sản xuất ô tô là
Trang 2611,4% Nghiên cứu của KG Rampal và I.Noorhassim (1996) thì có 19% biểu hiện bệnh do tiếp xúc với tiếng ồn Theo Coenraads tỷ lệ bệnh ngoài da ở công nhân cơ khí là 6,7% (1985); tỷ lệ mắc bệnh của công nhân ngành xây dựng theo Gog và cộng sự là 16,9% (1986); công nhân sản xuất đồ gỗ là 6,8% (Gan và cộng sự, 1987), công nhân sản xuất đồ điện tử 14,7%[46]
Năm 2001 tại hội thảo ở Việt Nam, trong nghiên cứu “các dịch vụ Y tế lao động“ các thị trấn công nghiệp của 30 địa phương tại Trung Quốc, bệnh ĐNN do tiếng ồn có 633/6453 người bị tổn thương sức nghe ở tần số thấp chiếm 9,81% và số nghi ngờ có bệnh là 1531 chiếm 13,73%[35]
Ribeiro FS, Oliveira S (2002) tiến hành đánh giá quá trình làm việc và các rủi do sức khỏe của công nhân trong nhà máy sản xuất xi măng ở Bang Rio de Janeiro Kết quả hàm lượng sillic tự do là 2.0 mg/m3 Nồng độ bụi hô hấp dao động
từ 3,59 – 52,44 mg/m3 Tiếng ồn dao động từ 83 – 110 dBA Phần lớn các giá trị cao hơn so với giới hạn tối đa cho phép Những kết quả này cho thấy môi trường làm việc có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe[50]
Năm 2005, theo thông tin khoa học thống kê tại Trung Quốc, số liệu điều tra
ở 2.593 xí nghiệp làng nghề, bệnh ĐNN chiếm 22,2%[5]
Ngoài các nghiên cứu về tiếng ồn và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe NLĐ, cũng có các nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về phòng chống ô nhiễm tiếng ồn và giảm sức thính lực ở nhiều đối tượng khác nhau
Theo Foluwasayo E Ologe, Tanimola M Akande and Toye G Olajide (2005) nghiên cứu ở 116 công nhân Nhà máy cán thép tại Nigeria cho thấy tỷ lệ kiến thức liên quan khá cao, 93% nhận thức được tính nguy hiểm của tiếng ồn, 92% nhận thức được tầm quan trọng của các phương pháp phòng chống ô nhiễm tiếng
ồn, tuy nhiên chỉ có 27% sử dụng bảo hộ và 28% trong số này sử dụng thường xuyên[42]
Rus RM, Daud A, Musa KI, Naing L (2008) tiến hành xác định KAP của 83 người lao động tại 03 Nhà máy ở Kelantan về ảnh hưởng của tiếng ồn đến thính lực, cho thấy điểm trung bình chung về kiến thức (68,72%), thái độ (60,60%), thực hành (19,36%) Về phần kiến thức, khía cạnh điều trị bệnh bằng thuốc đạt 15,5%, các dấu
Trang 27hiệu và triệu chứng của giảm thính lực do tiếng ồn là 20,2% và các yếu tố nguy cơ
là 31% Đối với thái độ, các khía cạnh dự phòng là thấp nhất 25,3%, tiếp theo là chấp nhận rủi ro 26,2%, và nguyên nhân gây mất thính giác 42,1% Về thực hành chỉ có 3,6% công nhân được đo thính lực thực hiện và 11,9% công nhân thực hành đeo nút tai khi làm việc[51]
Gabrielle H Saunders và cộng sự (2014) nghiên cứu trên 235 đối tượng về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống giảm thính lực, cho thấy số điểm kiến thức dao động từ 15,6% đến 93,8% Về điểm thái độ của đối tượng có sự khác biệt giữa những người sử dụng và không sử dụng phương tiện bảo hộ Hơn 95% đối tượng không mang bảo hộ bảo vệ thính giác khi tiếp xúc với môi trường tiếng ồn[43]
1.4.2 Tại Việt Nam
Vấn đề nghiên cứu về an toàn vệ sinh lao động luôn được quan tâm, đặc biệt
là các nghiên cứu về thực trạng tiếng ồn trong các lĩnh vực công nghiệp, giao thông
và hàng không đã được công bố Những năm 80, số người điếc nghề nghiệp (ĐNN) được xác định và hưởng chế độ bảo hiểm chiếm 4,63% trong tổng số các BNN được bảo hiểm Đến những năm 90, Viện Y học lao động và Vệ sinh môi trường đã nghiên cứu ở 11 nhà máy có tiếng ồn lớn hơn 90 dBA, với xấp xỉ 4.000 công nhân,
có tỷ lệ hiện mắc là 10,94%[27]
Từ năm 1990 – 1992, Nguyễn Thị Toán và Lê Trung đã nghiên cứu ảnh hưởng của tiếng ồn đến công nhân sản xuất giấy, nhà máy giấy Bãi Bằng cho thấy tiếng ồn dao động từ 76 – 106 dBA; tỷ lệ ĐNN chiếm 3,68%[21]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Quang Khanh và công sự (2002) tại Tổng Công ty Hàng không Việt Nam cho thấy công nhân sửa chữa máy bay và thiết bị chuyên dụng thuộc Tổng Công ty Hàng không Việt Nam phải tiếp xúc với tiếng ồn cao Nhiều vị trí khảo sát, tiếng ồn vượt mức giới hạn cho phép từ 4 – 27dBA ở các dải tần số, tiếng ồn đều cao ở tần số 1000 – 8000Hz Đây là loại rất dễ gây giảm thính lực, dẫn đến bệnh ĐNN Tác động của tiếng ồn cao và thời gian tiếp xúc lâu dài đã ảnh hưởng rõ rệt đến sức khoẻ của NLĐ Trong 132 đối tượng được đo kiểm tra, có 18 đối tượng bị giảm sức nghe chiếm 13,6%[21]
Trang 28Theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Quốc Chấn và cộng sự cho biết qua khảo sát môi trường lao động (MTLĐ) cho 628 cơ sở sản xuất và kết quả khám bệnh ĐNN cho 9240 NLĐ làm việc trong các cơ sở sản xuất, thời gian thực hiện từ tháng 12/2002 đến 12/2003, cho kết quả như sau: tiếng ồn vượt mức cho phép (>85dB):
cơ sở quốc doanh: 31,08%, nước ngoài: 23,71%, liên doanh: 34,05%, cổ phần: 44,32%, tư nhân: 31,94% Về kết quả ĐNN của công nhân làm việc trong môi trường có tiếng ồn cao, phát hiện 370 công nhân có dấu hiệu giảm thính lực 66 công nhân được chẩn đoán xác định bị bệnh ĐNN, Bệnh ĐNN chiếm tỷ lệ cao theo các ngành nghề sau: Dệt may: 34,4%, Nhà máy Thép: 22,6%, Xí nghiệp in: 16,1%[2]
Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Đăng Quốc Chấn và Bùi Đại Lịch (2006)
về kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống ô nhiễm tiếng ồn và ĐNN của một
số công nhân ở nhà máy, xí nghiệp có tiếng ồn cao (>85dBA) tại Tp Hồ Chí Minh, cho kết quả như sau: tỷ lệ NLĐ được học về vệ sinh lao động 3,61% Số người được trang bị bảo hộ phòng chống tiếng ồn và ĐNN 23,88% Tỷ lệ sử dụng trang bị bảo hộ thường xuyên là 23,97%, thỉnh thoảng 13,47% Không hài lòng với môi trường làm việc 88,61% Tiếng ồn vượt mức có tỷ lệ cao 95,63% Không sợ mắc BNN chiếm 73,69% Muốn thay đổi môi trường làm việc chiếm 80,63%[3]
Kết quả khảo sát tiếng ồn của Nguyễn Thế Huệ (2005) tại Nhà máy xi măng
Hà Tu, Quảng Ninh cho thấy ở khâu đập đá hộc, máy nghiền bột liệu, máy nghiền
xi măng, tiếng ồn từ 91,1 – 100,5 dBA, vượt TCVSLĐ[18]
Trong năm 2006, tại tỉnh Kiên Giang, tác giả Nguyễn Thị Thoại, Trịnh Hồng Lân và cộng sự, đã tiến hành nghiên cứu thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh ĐNN tại Nhà máy xi măng Hòn Chông, huyện Kiên Lương, kết quả cho thấy 34,07% mẫu tiếng ồn tại nhiều khu vực sản xuất vượt TCVSLĐ cho phép từ 1 – 23dBA Tỷ lệ công nhân có kiến thức đúng về ĐNN là khá cao, 76,4% biết rõ về nguyên nhân mắc bệnh, 82,1% biết rõ không thể điều trị bệnh ĐNN, 94,87% biết các biện pháp phòng chống bệnh ĐNN, nhưng tỷ lệ công nhân thực hành sử dụng thường xuyên nút tai/chụp tai chống ồn là thấp, chỉ có 40,51%[30]
Theo tác giả Hà Lan Phương (2007), tiến hành nghiên cứu điều tra thực trạng
và yếu tố nguy cơ bệnh ĐNN do tiếng ồn trong một số ngành công nghiệp đóng tàu,
Trang 29dệt may, tuyển than, xi măng và hàng không, cho thấy cường độ tiếng ồn trong MTLĐ của cả 5 cơ sở nghiên cứu vượt TCVSLĐ từ 1 – 40dBA chiếm tỷ lệ 24,1 – 85,6% Phân tích theo 8 dải tần số từ 63 – 80000Hz cũng cho thấy nhiều vị trí lao động tiếng ồn vượt trị số giới hạn ngưỡng đặc biệt ở tần số 4000Hz Tỷ lệ công nhân tiếp xúc với tiếng ồn tại các cơ sở từ 79,9 – 97%; tỷ lệ công nhân sử dụng nút tai/chụp tai chống ồn là 70%; trong đó 38% sử dụng liên tục trong ca lao động, 62% thỉnh thoảng mới sử dụng Tỷ lệ hiện mắc bệnh ĐNN do tiếng ồn là 7,15%, trong đó: đóng tàu là 15,01%; tuyển than là 7,19%; xi măng là 6,76%; dệt là 4,59% và hàng không là 2,93%[24]
Kết quả nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của công nhân một số ngành nghề tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn tại Công ty xi măng Hoàng Thạch, Công ty đóng tàu Bạch Đằng, mỏ than Hà Lầm của tác giả Hoàng Minh Thúy và cộng sự năm 2009, cho thấy: Công nhân cả 3 cơ sở nghiên cứu làm việc trong môi trường có tiếng ồn cao chiếm 68,62% Căng thẳng thần kinh là 55,4%, hay đau đầu 54,4%, thường xuyên mất ngủ 56,4%, tăng huyết áp 18,1%, hội chứng dạ dày tá tràng 29,4 – 32,1% Tỷ lệ bệnh ĐNN của công nhân là 24,58%, chủ yếu ĐNN ở mức độ nhẹ 77,97% và ở nhóm công nhân > 20 năm tuổi nghề là 67,23%[32]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Hương và cộng sự (2011) tại 04
cơ sở sản xuất xi măng và gạch, kết quả cho thấy: Tiếng ồn tại 02 Nhà máy xi măng
là khá cao, có một số vị trí lao động vượt TCVSLĐ cho phép hơn 18 dBA Tại 02
cơ sở gạch tiếng ồn xấp xỉ TCVSLĐ cho phép Kết quả dự báo: đề tài đã dự tính được số % công nhân của 04 cơ sở bị suy giảm ngưỡng nghe 25 dBA sau 40 năm tiếp xúc với tiếng ồn Nhóm công nhân có số % dự tính cao là tại các vị trí nghiền xi măng, phòng lò (Xi măng Chinton), phân xưởng nghiền liệu, nghiền – đóng bao (Xi măng Hải Phòng); Tổ nguyên liệu, tổ tạo hình (Công ty gạch Hồng Hà, Công ty gạch Thạch Bàn)[19]
Hồ Xuân Vũ (2009) nghiên cứu tình hình ô nhiễm tiếng ồn và giảm thính lực tại Công ty TNHH xi măng Luks Việt Nam – Thừa Thiên Huế Kết quả cho thấy số mẫu tiếng ồn vượt TCVSLĐ chiếm tỷ lệ 57,6% Cường độ tiếng ồn vượt từ 1,5 – 15
Trang 30dBA so với tiêu chuẩn 85 dBA hiện hành của Bộ Y tế Tình trạng giảm thính lực ở NLĐ trong các khu vực sản xuất trực tiếp chiếm tỷ lệ 12,8%[34]
Qua các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, vấn đề nghiên cứu về lĩnh vực KAP của NLĐ trong công tác phòng chống do phơi nhiễm tiếng ồn tại ngành sản xuất xi măng rất ít Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra mức độ tiếng ồn, ảnh hưởng của tiếng ồn đến sức khỏe NLĐ, đặc biệt là tỷ lệ giảm thính lực và bệnh ĐNN trong nhóm đối tượng nghiên cứu Một số nghiên cứu về KAP của NLĐ nhưng chỉ lồng ghép vào các yếu tố liên quan để xác định nên không đánh giá đúng KAP của NLĐ trong việc phòng chống bệnh ĐNN
1.4.3 Tình hình nghiên cứu tại tỉnh An Giang
Tại An Giang công tác chăm sóc sức khỏe (CSSK) NLĐ ngày càng được sự quan tâm của các cấp chính quyền và cơ sở lao động Do đặc thù, các cơ sở sản xuất trên địa bàn rất đa dạng, một bộ phận lớn chỉ quan tâm đến hoạt động kinh doanh, nhận thức của người sử dụng lao động và NLĐ về an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng chống bệnh nghề nghiệp còn hạn chế, đặc biệt ở các cơ sở vừa và nhỏ
Theo số liệu báo cáo hoạt động y tế lao động năm 2015 của TTYTDP An Giang, tiến hành giám sát MTLĐ tại 528 cơ sở, kết quả các yếu tố tác hại có thể ảnh hưởng đến sức khỏe NLĐ, trong đó tổng số mẫu đo tiếng ồn vượt TCVSLĐ cho phép chiếm 14,086%, đứng thứ 2 sau yếu tố ánh sáng[10]
Trên địa bàn tỉnh hiện nay có nhiều loại hình sản xuất, vấn đề sức khỏe an toàn nghề nghiệp rất cấp bách can thiệp để đảm bảo sức khỏe cho NLĐ, trong quá trình lao động luôn tìm ẩn các yếu tố tác hại do tiếng ồn như các phân xưởng cơ khí, các Phòng máy vận hành của Nhà máy chế biến thủy sản, các đơn vị xay xát, sản xuất xi măng và các yếu tố nguy hiểm trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của NLĐ như khai thác, chế biến đá, các công nhân xây dựng công trường Tuy nhiên để tiến hành tiếp xúc với các đơn vị có phơi nhiễm gặp nhiều khó khăn
do đây là những vấn đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh tế của đơn vị
Hiện tại trên địa bàn tỉnh chỉ có 01 nghiên cứu về vấn đề tình hình bệnh tật của công nhân lao động tại nhà máy thủy sản và chưa có nghiên cứu về yếu tố tác
Trang 31hại do tiếng ồn, ý thức của NLĐ trong việc phòng chống tác hại do phơi nhiễm tiếng ồn
1.5 Giới thiệu sơ bộ về Nhà máy Xi măng An Giang
Nhà máy xi măng An Giang (ACIFA) là doanh nghiệp nhà nước, được thành lập, xây dựng và sản xuất kinh doanh từ năm 1978 đến nay Năm 1995 Nhà máy trực thuộc Công ty xây lắp An Giang và chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Tổng Giám đốc Công ty Từ năm 2010 Công ty xây lắp An Giang đổi tên thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên xây lắp An Giang
Tổng sản lượng sản phẩm xi măng tiêu thụ của Nhà máy không ngừng tăng nhanh qua các năm và sắp đạt mức tối đa của dây chuyền công nghệ là 300.000 tấn/năm, thị phần của Nhà máy ngày càng mở rộng từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và thị trường Campuchia
Hiện nay, Nhà máy có tổng số NLĐ là 138 người, bao gồm 61 người làm việc tại khu vực hành chính và 77 người làm việc tại phân xưởng trực tiếp sản xuất Khu vực hành chính được bố trí cách dây chuyền 01 của phân xưởng sản xuất khoảng 40m và cách khu vực cơ khí 01m, được xây tường ngăn cách nguồn ồn
Nhà máy rất quan tâm đến công tác CSSK NLĐ, định kỳ hằng năm Nhà máy đều thực hiện giám sát MTLĐ, tổ chức kiểm tra sức khỏe tổng quát cho toàn thể NLĐ trong đơn vị và sàng lọc các đối tượng tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ khám BNN nhằm phát hiện sớm các BNN nếu có Bên cạnh đó Nhà máy cũng chú trọng việc cải thiện điều kiện làm việc cho NLĐ như tập huấn về an toàn lao động, trang
bị bảo hộ lao động và sử dụng các biện pháp giảm thiểu tác hại như xây tường cách
âm tại các vị trí trực vận hành, che chắn bụi, giảm tối đa thời gian bốc linker khi có gió, lắp đặt hệ thống lọc bụi tích điện nhằm giảm lượng bụi phát tán vào không khí Tình đến thời điểm hiện tại Nhà máy chưa phát hiện trường hợp nào mắc BNN phải điều trị và chưa xảy ra vụ tai nạn lao động đáng tiếc nào
Trang 32Sơ đồ 1.1 Dây chuyền công nghệ sản xuất của Nhà máy
Bộ phận trực tiếp trong dây chuyền sản xuất
Bộ phận phụ trợ trong dây chuyền sản xuất Trong quá trình sản xuất, ngoài các vị trí trực tiếp có nguồn ồn phát sinh cao tại 04 dây chuyền sản xuất: khu vực máy nghiền và các khu vực lân cận chịu ảnh hưởng như đóng bao và thành phẩm, nguồn ồn còn phát sinh tại khu vực cơ khí do thực hiện các công đoạn mày, cắt, sửa chữa các trang thiết bị
- Clinker - Đá bu
- Thạch cao - Phụ gia
NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
Phân xưởng cơ khí, cơ điện
Trang 33CÂY VẤN ĐỀ PHƠI NHIỄM VỚI TIẾNG ỒN
CAO TẠI NHÀ MÁY XI MĂNG AN GIANG
Chấp hành không tốt nội quy công tác ATVSLĐ:
- Không tuân thủ đúng quy trình ATVSLĐ
- Không sử dụng đúng trang bị BHLĐ
Ý thức chấp hành kém, chủ quan
- Không hướng dẫn sử dụng
Không kiểm tra nhắc nhở
Công tác đào tạo, huấn luyện kém:
- Không tổ chức huấn luyện ATVSLĐ
- Huấn luyện không đảm bảo chất lượng, còn
mang tính hình thức
Mức độ phơi
nhiễm tiếng ồn tại các vị trí làm việc
BHLĐ: Gây khó chịu; giao tiếp khó khăn; Chất lượng không đảm bảo và không sẳn có
Thiếu hệ thống cảnh báo khu vực có tiếng ồn cao
Các biện pháp giảm
ồn không có/Không hiệu quả
Trang 34Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Môi trường lao động của Nhà máy xi măng An Giang
- Người lao động ở Nhà máy Xi măng An Giang bao gồm cả công nhân sản xuất trực tiếp và người làm công việc hành chính
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 02 đến tháng 07 năm 2016
- Địa điểm nghiên cứu: Nhà máy xi măng An Giang có trụ sở đặt tại quốc lộ
91, Phường Mỹ Thạnh, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4 Cỡ mẫu và chọn mẫu
2.4.1 Mẫu nghiên cứu về tiếng ồn
Lấy mẫu tại tất cả các phân xưởng sản xuất và khu vực hành chính Tại khu vực sản xuất tiến hành lấy mẫu tiếng ồn chung và tiếng ồn phân tích theo dải tần số
- Phân xưởng sản xuất có 04 dây chuyền, được chia thành 05 khu vực là máy nghiền, đóng bao, thành phẩm, trực vận hành máy và cơ khí – cơ điện
+ Khu vực máy nghiền, đóng bao, thành phẩm: Lấy mẫu theo từng dây chuyền, tại các vị trí làm việc (04 dây chuyền x 03 khu vực x 02 thời điểm đo x 02 giá trị ghi nhận = 48 mẫu)
+ Khu vực Phòng trực Vận hành (dây chuyền 1, dây chuyền 2 và dây chuyền 3-4): Lấy mẫu tại vị trí làm việc, do vị trí trực vận hành người lao động làm việc gần như xuyên suốt tại vị trí bàn điều khiển, sẽ tiến hành lấy mẫu tại 01 vị trí (03 phòng trực x 02 thời điểm đo x 02 giá trị ghi nhận = 12 mẫu)
+ Khu vực Cơ khí – Cơ điện: Làm việc không theo dây chuyền, lấy mẫu ở 03
vị trí khác nhau trong phân xưởng, tương ứng với các vị trí tại khu vực đầu phân xưởng, vị trí giữa phân xưởng và vị trí cuối phân xưởng (03 vị trí đo x 02 thời điểm
đo x 02 giá trị ghi nhận = 12 mẫu)
Trang 35- Khu vực hành chính: do đặc điểm các phòng có diện tích nhỏ, hẹp mỗi phòng lấy 01 vị trí (08 vị trí đo x 02 thời điểm đo x 02 giá trị ghi nhận = 32 mẫu)
Mẫu nghiên cứu về tiếng ồn là 176 mẫu, cụ thể như sau:
2.4.2 Mẫu nghiên cứu về kiến thức, thái độ, thực hành
- Chọn mẫu toàn bộ người lao động tại Nhà máy gồm 134 người, trong đó lao động trực tiếp là 76 người; lao động gián tiếp là 58 người
Trang 362.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Số liệu về tiếng ồn
2.5.1.1 Mẫu tiếng ồn
- Khu vực sản xuất trực tiếp: Lấy mẫu tại 05 khu vực làm việc của người lao động (NLĐ) trong phân xưởng sản xuất (Khu vực Máy nghiền, Khu vực Đóng bao, Khu vực Thành phẩm, Khu vực Trực vận hành máy, Khu vực Cơ khí – Cơ điện)
- Khu vực hành chính (gián tiếp): lấy mẫu tại 08 phòng ban khu vực hành chính (Phòng Giám đốc, Phòng Phó Giám đốc Sản xuất, Phòng Phó Giám đốc Kinh doanh, Phòng Kinh doanh, Phòng Vật tư, Phòng Kế toán, Phòng Kỹ Thuật – KCS, Phòng Tổ chức)
2.5.1.2 Kỹ thuật đo và tiêu chuẩn đánh giá
- Phương pháp lấy mẫu tiếng ồn theo Thường quy Kỹ thuật Y học lao động
& Vệ sinh môi trường
+ Thời điểm lấy mẫu: lấy mẫu trong khoảng thời gian làm việc của người lao động, 02 lần/ngày (giữa ca sáng và giữa ca trưa)
+ Kết quả ghi nhận: mỗi lần đo ghi nhận 02 giá trị là lớn nhất và nhỏ nhất + Cách lấy mẫu: Đo tại chỗ làm việc của người tiếp xúc Micro của máy đo
ồn để ngang tầm tai người lao động (tuỳ thuộc vào người lao động đứng hay ngồi), hướng về phía nguồn ồn Máy đo ồn để cách cán bộ kỹ thuật đo 0,5m[33]
+ Đơn vị đo tiếng ồn: dBA
- Thiết bị đo tiếng ồn: bằng máy NL-21 (RION - Nhật) và bộ phân tích dải
tần NX-21 SA (Phụ lục 6)
- Người đo tiếng ồn: Kỹ thuật viên của Trung tâm Y tế dự phòng (TTYTDP) tỉnh An Giang thực hiện
- Đánh giá: Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động, theo quy định của Bộ Y tế về vệ
sinh ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 (Phụ
lục 4)
2.5.2 Thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp
- Đối với các thông tin về kiến thức, thái độ:
Trang 37+ Phương tiện thu thập thông tin: Sử dụng bảng câu hỏi soạn sẳn để phỏng vấn toàn bộ NLĐ của Nhà máy về KAP trong công tác phòng chống tác hại do phơi nhiễm của tiếng ồn
+ Thời điểm phỏng vấn: Được thực hiện trong giờ nghỉ giải lao và khoảng thời gian cho phép của NLĐ
- Đối với các thông tin về thực hành:
+ Phương tiện thu thập thông tin: Sử dụng bảng kiểm quan sát thực hành tất
cả NLĐ trong phân xưởng sản xuất có phơi nhiễm với tiếng ồn
+ Thời điểm quan sát: Quan sát trực tiếp khi NLĐ đang làm việc bình thường, mỗi NLĐ 01 quan sát (01 quan sát x 76 người = 76 quan sát)
2.5.3 Quá trình thu thập số liệu
- Được sự đồng thuận của lãnh đạo và NLĐ tại Nhà máy đồng ý tham gia nghiên cứu
- Thu thập thông tin, phỏng vấn, điều tra kiến thức, thái độ, thực hành: Điều tra viên là tác giả trực tiếp phỏng vấn và điều tra Ngoài ra mời thêm 01 điều tra viên đang công tác tại TTYTDP tỉnh, có kinh nghiệm trong lĩnh vực sức khỏe nghề nghiệp (sẽ được tập huấn trước) tham gia hỗ trợ phỏng vấn và điều tra
Sau khi thông tin được thu thập đầy đủ theo yêu cầu đặt ra, tác giả nghiên
cứu sẽ trực tiếp thu hồi, kiểm tra và mã hóa phiếu
2.6 Các biến số nghiên cứu
2.6.1 Biến số về cường độ tiếng ồn
Đánh giá cường độ tiếng ồn dựa vào các biến đạt Tiêu chuẩn vệ sinh lao động (TCVSLĐ) và biến không đạt TCVSLĐ
- Đo tiếng ồn tại khu vực phân xưởng sản xuất, vị trí có thiết bị phát sinh tiếng ồn (72 mẫu ồn chung và 72 mẫu ồn phân tích dải tần)
- Đo tiếng ồn ở khu vực hành chính, không có thiết bị sản xuất phát sinh ra tiếng ồn (32 mẫu ồn chung)
2.6.2 Biến thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp
2.6.2.1 Đặc điểm của đối tƣợng nghiên cứu
Trang 38+ Đại học và sau đại học
- Vị trí làm việc: được xác định tại thời điểm tiến hành thu thập số liệu: Khu vực hành chính và phân xưởng sản xuất gồm: Khu vực máy nghiền; Khu vực Đóng bao; Khu vực Thành phẩm, Khu vực trực vận hành máy; Khu vực Cơ khi, cơ điện
2.6.2.2 Nhóm biến thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống điếc nghề nghiệp
Các nhóm biến đánh giá (Phụ lục 1) bao gồm kiến thức, thái độ, thực hành của người lao động
2.6.3 Tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số biến nghiên cứu
2.6.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá biến về cường độ tiếng ồn
Trang 39Theo Tiêu chuẩn Vệ sinh lao động (TCVSLĐ), quy định của Bộ Y tế về vệ sinh ban hành kèm theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 Tiến hành đánh giá như sau:
- Phân xưởng sản xuất trực tiếp:
+ Đạt TCVSLĐ: Mức âm tại các vị trí sản xuất 85 dBA và thấp hơn giới hạn cho phép của 8 dải octave
+ Không đạt TCVSLĐ: Mức âm tại các vị trí sản xuất > 85 dBA và cao hơn giới hạn cho phép của một trong 8 dải octave
- Khu vực Hành chính:
+ Đạt TCVSLĐ: Mức âm tại các vị trí sản xuất 65 dBA
+ Không đạt TCVSLĐ: Mức âm tại các vị trí sản xuất > 65 dBA
2.6.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá biến về kiến thức, thái độ, thực hành
Về bố cục, tổng số câu hỏi phỏng vấn là 20 câu, tương ứng mỗi phần là 10 câu về kiến thức (biến K), thái độ (biến A) Riêng phần thực hành (biến P) sử dụng bảng kiểm gồm 9 câu
- Kiến thức: gồm 10 câu, từ K1 K10, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trả lời sai hoặc không đầy đủ được tính 0 điểm Điểm đạt là 7/10
- Thái độ: gồm 10 câu, từ A1 A10, mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, trả lời sai hoặc không đầy đủ được tính 0 điểm Điểm đạt là 7/10
- Thực hành: gồm 9 quan sát, từ P1 P9, mỗi quan sát đúng được tính 1 điểm, trả lời sai hoặc không đầy đủ được tính 0 điểm Điểm đạt là 7/9
2.7 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu được mã hóa và làm sạch trước khi nhập vào máy vi tính
- Số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm thống kê y học Epidata và phần mềm SPSS 20.0, theo phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn; Phân tích đơn biến để tìm mối liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
2.8 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận tại Quyết định số 172/2016/YTCC-HD3
Trang 40ngày 03 tháng 03 năm 2016 Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, các quy định về khía cạnh đạo đức đã được tuân thủ đầy đủ
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu này có những hạn chế chung của thiết kế mô tả cắt ngang Mặt khác, nghiên cứu chỉ được tiến hành trên phạm vi một Nhà máy và chỉ xác định được mức độ ô nhiễm tiếng ồn và kiến thức, thái độ, thực hành của người lao động
về phòng chống tác hại do phơi nhiễm tiếng ồn, không xác định được mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động và các biện pháp phòng chống
Trong nghiên cứu này, sai số có thể xảy ra do sai sót của điều tra viên và việc các đối tượng nhớ lại những việc làm đã qua và tâm lý e ngại người sử dụng lao động không trả lời thật Để khắc phục những khả năng sai số này, các điều tra viên được lựa chọn là những người có kinh nghiệm, kỹ năng giao tiếp tốt, được tập huấn
và thống nhất với kỹ thuật viên đo mẫu tiếng ồn về cách lấy mẫu, chuẩn hóa máy Trong quá trình phỏng vấn nghiên cứu viên đã giải thích rõ ràng cho đối tượng nghiên cứu về mục đích của nghiên cứu, tạo được sự thân thiện, thoải mái trước và trong quá trình phỏng vấn Qua thực tế, tất cả đối tượng nghiên cứu đều sẵn sàng, tự nguyện tham gia trả lời phỏng vấn