1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Kiến thức, thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại bệnh viện đa khoa tỉnh bình định

99 469 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG NGUYỄN PHAN THẠCH KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BỆNH VIỆN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN PHAN THẠCH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH, NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

BUÔN MA THUỘT – 2015

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN PHAN THẠCH

KIẾN THỨC, THỰC HÀNH PHÒNG BIẾN CHỨNG TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG ĐƯỢC QUẢN LÝ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH ĐỊNH, NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.72.03.01

TS.BS BÙI THỊ TÚ QUYÊN

BUÔN MA THUỘT – 2015

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 4

1.2 Nguyên nhân của tăng huyết áp 4

1.3 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 6

1.4 Biến chứng của bệnh tăng huyết áp 8

1.5 Các biện pháp phòng biến chứng tăng huyết áp 9

1.6 Nghiên cứu kiến thức và thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp 11

1.7 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 14

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1 Đối tượng nghiên cứu 17

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17

2.3 Thiết kế nghiên cứu 17

2.4 Mẫu nghiên cứu 17

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 18

2.6 Các bước thu thập số liệu 18

2.7 Thử nghiệm bộ công cụ 19

2.8 Điều tra viên và giám sát viên 19

2.8 Các biến số nghiên cứu chính 20

2.9 Một số cách tính dùng trong nghiên cứu 24

2.10 Quản lý và phân tích số liệu 24

2.11 Đạo đức nghiên cứu 24

Trang 4

2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 25

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26

3.2 Kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp và phòng biến chứng tăng huyết áp 30

3.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về phòng biến chứng tăng huyết áp 40

3.4 Một số yếu tố liên quan đến thực hành về phòng biến chứng tăng huyết áp 42

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 45

4.1 Một số đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 45

4.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp và phòng biến chứng do tăng huyết áp 47

4.3 Thực hành của đối tượng nghiên cứu về phòng biến chứng do tăng huyết áp 51

4.4 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp 54

4.5 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp 56

4.6 Một số hạn chế cũng như điểm mạnh và tính ứng dụng của nghiên cứu 57

KẾT LUẬN 59

KHUYẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 64

Phụ lục 1: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 64

Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn 65

Phụ lục 3: Tiêu chí đánh giá kiến thức và thực hành phòng biến chứng THA 76

Phụ lục 4: Phân loại tăng huyết áp 83

Phụ lục 5: Cách chọn cỡ mẫu nghiên cứu 84

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BVĐKBĐ Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

COPD Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính

ĐVPCTHA Đơn vị phòng chống tăng huyết áp

HATTr Huyết áp tâm trương

TBMMN Tai biến mạch máu não

WHO Tổ chức y tế thế giới

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 26

Bảng 3.2 Thông tin về hiện trạng và tiền sử bệnh tăng huyết áp của đối tượng nghiên cứu 27

Bảng 3.3 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về điều trị tăng huyết áp 30

Bảng 3.4 Các biến chứng tăng huyết áp đối tượng nghiên cứu biết 31

Bảng 3.5 Các dấu hiệu biến chứng đối tượng nghiên cứu biết 32

Bảng 3.6 Kiến thức của ĐTNC về cơn tăng huyết áp kịch phát 34

Bảng 3.7 Thực hành của ĐTNC về đo huyết áp 36

Bảng 3.8 Thực hành của ĐTNC về điều trị bệnh tăng huyết áp 37

Bảng 3.9 Thực hành của ĐTNC về xử trí cơn tăng huyết áp kịch phát 38

Bảng 3.10 Thực hành phòng ngừa cơn THA kịch phát của ĐTNC 38

Bảng 3.11 Một số yếu tố cá nhân liên quan đến kiến thức phòng biến chứng tăng huyết áp 40

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa CLB THA với kiến thức phòng biến chứng THA 41

Bảng 3.13 Một số yếu tố cá nhân liên quan đến thực hành về phòng biến chứng tăng huyết áp 42

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa CLB THA với thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp 43

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành về phòng biến chứng do tăng huyết áp của ĐTNC 44

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Thông tin về dịch vụ y tế 29

Biểu đồ 3.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về thời gian đo huyết áp 30

Biểu đồ 3.3 Kiến thức của ĐTNC về cách xử trí khi gặp biến chứng 33

Biểu đồ 3.4 Kiến thức của ĐTNC về các biện pháp phòng biến chứng 34

Biểu đồ 3.5 Trình bày số liệu về đánh giá chung kiến thức của ĐTNC về phòng biến chứng của THA 35

Biểu đồ 3.6 Tần suất đo huyết áp của ĐTNC 36

Biểu đồ 3.7 Thực hành của ĐTNC về tái khám định kỳ 37

Biểu đồ 3.8 Trình bày số liệu về đánh giá chung thực hành của ĐTNC phòng biến chứng của THA 39

Trang 8

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình về mọi

mặt của các thầy cô giáo đặc biệt là cô giáo hướng dẫn, quý cơ quan và đơn vị chủ

quản cùng các anh chị em đồng nghiệp, gia đình và bạn bè

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học và các

quý thầy cô giáo của Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo điều kiện cũng như

truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, lãnh

đạo cũng như các anh chị em trong khoa Nội tim mạch cùng toàn thể các bệnh nhân

tham gia nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện tốt nhất và hợp tác trong quá trình thu

thập số liệu và thực hiện luận văn này

Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đặc biệt đến cô giáo hướng dẫn

trực tiếp TS.BS Bùi Thị Tú Quyên, người đã luôn theo sát, hướng dẫn và giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên tôi

hoàn thành tốt luận văn này

Quy Nhơn, ngày 25 tháng 10 năm 2015

Học viên

Nguyễn Phan Thạch

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh không truyền nhiễm nguy hiểm bởi các biến chứng của nó nếu không gây chết người thì cũng thường để lại di chứng nặng nề (tai biến mạch máu não, suy tim, ) ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và là gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất cho gia đình và

xã hội Tỷ lệ THA tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển Đơn vị phòng chống THA (ĐVPCTHA) trực thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định là tuyến cuối cùng của tỉnh tiếp nhận và điều trị các bệnh nhân THA trong chương trình phòng chống THA quốc gia kể từ năm 2011 Hiện tại chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA được thực hiện tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định do vậy nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu về kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA ở những người bị THA và một

số yếu tố liên quan tại ĐVPCTHA Nghiên cứu theo phương pháp mô tả cắt ngang

có phân tích từ tháng 2 đến tháng 6 năm 2015 được tiến hành trên 320 đối tượng bị THA đang được quản lý tại đơn vị Thu thập số liệu thông qua phiếu phỏng vấn có cấu trúc, xử lý bằng phần mềm Epidata 3.1 và SPSS 16.0

Kết quả là tỷ lệ người có kiến thức phòng biến chứng của THA không đạt là 51,6%; tỷ lệ người có thực hành phòng biến chứng của THA không đạt là 58% Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức là: nghề nghiệp và việc tham gia CLB THA Các yếu tố liên quan tới thực hành là: trình độ học vấn; tiền sử gia đình

có người bị THA và các biến chứng của nó cũng như các đối tượng có tiền sử bị biến chứng cũng có mối liên quan đến thực hành đúng về phòng biến chứng THA Kết quả cũng cho thấy kiến thức đạt về phòng biến chứng THA có liên quan chặt chẽ với thực hành đạt của đối tượng nghiên cứu

Từ những kết quả trên khuyến nghị chính của nghiên cứu được đưa ra là: khuyến khích tất cả các bệnh nhân THA đều tham gia CLB để từ đó nâng cao được kiến thức cũng như thực hành cho mình nhằm phòng chống các biến chứng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào do THA

Trang 10

Các biến chứng của THA là rất nặng nề như: tai biến mạch máu não, nhồi máu

cơ tim, suy tim, suy thận, mù lòa, bệnh động mạch ngoại vi… Những biến chứng này có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người bệnh, gây tàn phế thậm chí là tử vong và trở thành gánh nặng về tinh thần cũng như vật chất cho gia đình bệnh nhân cũng như toàn xã hội Bệnh THA là nguyên nhân chính (chiếm 59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não[4] Như vậy, hằng năm chúng ta phải chi một khoản kinh phí rất lớn, tới cả ngàn tỷ đồng để trực tiếp điều trị bệnh và phục vụ những người bị liệt, tàn phế, mất sức lao động do TBMMN, nhồi máu cơ tim, suy tim… Trong vòng khoảng 30 năm qua, việc điều trị bệnh THA đã có nhiều tiến bộ Tuy nhiên để giảm tỷ lệ tử vong và gánh nặng bệnh tật trên thế giới, cần phải có các chiến lược quản lý THA và các yếu tố nguy cơ trong cộng đồng Ở nước ta, tỷ lệ bệnh nhân THA không biết bị bệnh, hoặc biết bị bệnh nhưng chưa được điều trị hoặc điều trị chưa đúng chiếm gần 90%[18] Hầu hết các bệnh nhân THA chỉ điều trị khi thấy khó chịu và thường khi thấy con số huyết áp về bình thường là tự ý bỏ thuốc, hoặc chỉ điều trị một đợt, không khám lại, hoặc không loại bỏ hoàn toàn các yếu tố nguy cơ THA…Do vậy những biến chứng do bệnh THA gây ra ngày càng tăng Để góp phần hạn chế các biến chứng của THA, thì việc giáo dục sức khoẻ thường xuyên cho người bị THA nói riêng và cho cộng đồng nói chung có lối sống tích cực là một vấn đề hết sức quan trọng

Trang 11

Bình Định là tỉnh có dân số đông, di biến động thường xuyên, có tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh, chất lượng cuộc sống của người dân ngày càng cao và đang trong quá trình đô thị hóa Tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh không truyền nhiễm ngày càng gia tăng do chế độ dinh dưỡng, nghỉ ngơi, sinh hoạt thiếu khoa học trong đó điển hình là bệnh THA Tỉnh đã và đang triển khai các hoạt động của Chương trình quốc gia phòng chống tăng huyết áp và bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ Toàn tỉnh hiện có 20 Đơn vị phòng chống THA (ĐVPCTHA) được đặt tại các trạm y tế tuyến xã, trung tâm y tế của thành phố và tuyến sau cùng là bệnh viện

đa khoa tỉnh Bình Định ĐVPCTHA của BVĐKBĐ được chính thức thành lập vào 12/2010 theo quyết định số 1996/QĐ-TCBV trên cơ sở của dự án phòng chống THA quốc gia do Bộ y tế triển khai [1] Đơn vị được đặt tại phòng khám của bệnh viện và trực thuộc khoa Nội tim mạch gồm có 03 bác sỹ, 06 điều dưỡng Đơn vị có nhiệm vụ khám, điều trị và quản lý các BN THA trên địa bàn toàn tỉnh, hiện tại chỉ điều trị ngoại trú còn tất cả các trường hợp nhập viện đều được thu dung vào khoa Nội tim mạch Số lượng BN bị THA trung bình hàng ngày đến khám khoảng 30 –

40 BN Đặc biệt theo báo cáo cuối năm 2014 của đơn vị thì có 144 BN bị biến chứng THA phải nhập viện trong tổng số 632 BN được quản lý chiếm tỷ lệ xấp xỉ 23% [2], đây quả là con số đáng để các thầy thuốc quan tâm và tìm hiểu nguyên nhân nhằm phòng chống sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân bị biến chứng Bên cạnh đó, cuộc khảo sát nhanh 05 bệnh nhân bị THA đến khám thì chỉ có 02 người hiểu đúng

về bệnh THA, các yếu tố nguy cơ và mức độ nguy hiểm của bệnh Ngay cả khi có những hiểu biết nhất định về bệnh THA thì việc phòng biến chứng của người bị THA cũng chưa tốt Chính vì vậy để góp phần vào công tác quản lý bệnh nhân THA thật tốt và phòng ngừa các biến chứng do THA cho người dân toàn tỉnh đạt hiệu quả cao hơn tôi tiến hành thực hiện đề tài:

“Kiến thức, thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015”

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1/ Mô tả kiến thức và thực hành phòng biến chứng do tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015 2/ Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng

do tăng huyết áp của bệnh nhân tăng huyết áp đang được quản lý tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định, năm 2015

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp

1.1.1 Định nghĩa tăng huyết áp

Theo WHO, một người lớn bị THA thực sự khi huyết áp tâm thu (HA tối đa) ≥

140 mmHg và/ hoặc huyết áp tâm trương (HA tối thiểu) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2 lần được bác sĩ chẩn đoán là THA Định nghĩa này đơn giản nhưng có nhược điểm là trị số huyết áp không hoàn toàn ổn định

và huyết áp thay đổi theo tuổi, giới, sắc tộc …[32]

1.1.2 Phân loại tăng huyết áp

Trong những năm gần đây, phân loại THA cũng có nhiều thay đổi Theo Liên

ủy quốc gia về dự phòng, phát hiện, đánh giá và điều trị THA (JNC – Join National Committee) lần thứ VII năm 2003 thì THA được chia làm 3 độ:

- Tiền THA (HATT 130 - 139mmHg và/hoặc HATTr 85 - 89mmHg)

- THA độ I (140 – 159/ 90 – 99 mmHg)

- THA độ II (HATT ≥160mmHg và/hoặc HATTr ≥100mmHg)

Xuất phát từ cách phân loại THA của WHO/ ISH và JNC, Bộ Y tế đã đưa ra cách phân loại THA áp dụng tại Việt Nam trong “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp” năm 2010 [3] như sau (Phụ lục 4):

- Tiền THA (HATT 130 - 139mmHg và/hoặc HATTr 85 - 89mmHg)

- THA độ I (140 – 159/ 90 – 99 mmHg)

- THA độ II (HATT 160 - 179mmHg và/hoặc HATTr 100 - 109mmHg)

- THA độ III (HATT ≥180mmHg và/hoặc HATTr ≥110mmHg)

Ngoài ra còn có xếp loại THA tâm thu đơn độc khi HATT ≥140mmHg và HATTr <90mmHg

(Nếu HATT và HATTr không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của HATT)

1.2 Nguyên nhân của tăng huyết áp

Đại đa số bệnh nhân THA (trên 90%) thường không có các dấu hiệu cảnh báo nào trước Quan điểm trước đây cho rằng cứ THA là phải có các dấu hiệu như đau đầu, mặt đỏ bừng, người béo,…là hết sức sai lầm Ở nhiều trường hợp, sự xuất hiện

Trang 14

triệu chứng đau đầu đã có thể là sự kết thúc của người bệnh THA do đã bị TBMMN Do vậy, việc kiểm tra huyết áp thường xuyên, đặc biệt đối với những người có nguy cơ cao là việc làm hết sức cần thiết và quan trọng

THA ở người lớn chủ yếu là không có căn nguyên, chỉ có một số nhỏ dưới 5%

là THA có căn nguyên (tức là người bệnh bị THA do hậu quả của những bệnh lý khác) Người ta chia nguyên nhân của THA thành hai loại là THA nguyên phát và THA thứ phát

THA nguyên phát: là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, chiếm

90 - 95% các trường hợp THA, cơ chế bệnh sinh đến nay chưa được rõ ràng Yếu tố nguy cơ của THA nguyên phát có thể kể đến như: chế độ ăn nhiều muối, nhiều mỡ động vật, hút thuốc lá/ thuốc lào, uống rượu/ bia, lối sống tĩnh tại, lười vận động… Ngoài ra THA nguyên phát có thể xảy ra do các yếu tố di truyền, bệnh mang tính chất gia đình hoặc do các yếu tố tâm lý xã hội, tình trạng căng thẳng stress thường xuyên[8] Các yếu tố này có thể phối hợp với nhau trên cùng một bệnh nhân và càng nhiều yếu tố nguy cơ kết hợp với nhau thì tiến triển của bệnh và nguy cơ bị biến chứng do THA càng nhiều, tiên lượng của bệnh nhân càng xấu

THA thứ phát: là những trường hợp bị THA do hậu quả của một bệnh lý khác

Một số bệnh có thể là nguyên nhân gây ra THA như: các bệnh về thận (viêm cầu thận, bệnh thận đa nang, suy thận,…), bệnh về nội tiết (u tủy thượng thận,…), bệnh tim mạch (hẹp eo động mạch chủ, hở van động mạch chủ,…), do thuốc (sử dụng các hormone ngừa thai, cam thảo, corticoid,…), hoặc do một số nguyên nhân khác như ngộ độc thai nghén, bệnh cường giáp, bệnh đa hồng cầu,…[8]

Đa số bệnh nhân bị THA không có triệu chứng gì cho tới khi phát hiện ra bệnh, dấu hiệu thể hiện bệnh THA của họ không có gì khác biệt so với người bình thường Rất nhiều trường hợp người bệnh đến khi bị biến chứng của THA, thậm chí

tử vong mới biết mình bị THA hoặc mới hiểu rõ tầm quan trọng của việc kiểm soát tốt THA Một số biểu hiện có thể có ở bệnh nhân THA như: đau đầu vùng chẩm và hai bên thái dương, ngoài ra người bệnh có thể cảm thấy hồi hộp, mệt, khó thở, mờ mắt,… nhưng không đặc hiệu Một số triệu chứng khác của THA tùy thuộc vào nguyên nhân THA hoặc biến chứng của THA THA nếu không được điều trị đúng

Trang 15

và đầy đủ sẽ dẫn đến nhiều biến chứng rất nặng nề, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại những di chứng ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe, sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng bệnh tật và kinh tế cho gia đình và xã hội [8]

1.3 Tình hình tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1.Tình hình tăng huyết áp trên thế giới

Bệnh THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện tại đang ở mức cao, đặc biệt các nước phát triển Tại các nước phát triển, chuyển dịch mô hình bệnh tật

từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm trùng là chính, trong

đó có bệnh THA Số người bị THA trên thế giới năm 2000 ước tính vào khoảng 972 triệu người trong đó 333 triệu người THA ở các nước phát triển và 639 triệu người

ở các nước đang phát triển và dự tính đến năm 2025 số người bị THA sẽ tăng khoảng 60% lên tới 1,56 tỷ người[25] Theo báo cáo của WHO (2002), THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7,1 triệu người trẻ tuổi và chiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu (64 triệu người sống trong tàn phế)[29] Đến năm 2009, trong báo cáo về các yếu tố nguy cơ sức khỏe toàn cầu của WHO, THA là một trong những yếu tố nguy cơ hàng đầu gây ra tử vong toàn cầu (13%) cao hơn cả hút thuốc

lá (9%)[30] Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1% Nhưng tỷ lệ THA ở nam chỉ cao hơn ở nữ lứa tuổi trước tuổi 45 Ở độ tuổi 45 - 54,

tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuổi lớn hơn tỷ lệ THA ở

nữ cao hơn nam[15],[27] Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng không có sự khác biệt giữa tỷ lệ THA giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển Những năm gần đây,

tỷ lệ THA của các nước đang phát triển đang tiến gần hơn so với các nước phát triển[20]

Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về bệnh THA ở người trưởng thành Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy có hơn 65 triệu người Mỹ bị THA chiếm 31,3%, còn theo thống kê năm

2007 của Hội Tim mạch học Hoa Kỳ có khoảng 72 triệu người bị THA[22] Tỷ lệ THA tại Canada năm 1992 là 22%[24] Năm 2007, một nghiên cứu về thực trạng THA và các yếu tố nguy cơ của THA tại môi trường làm việc tại châu Phi đã cho thấy tỷ lệ THA là 21,3%[23] Một nghiên cứu ở Brazil, tỷ lệ THA trong nhóm tuổi

Trang 16

từ 20 – 69 là 23,6%[21] Nghiên cứu này cũng cho thấy tỷ lệ THA tăng nhanh, đặc biệt trong nhóm những người trẻ tuổi Theo một nghiên cứu khác tại Ấn Độ, tỷ lệ THA ở người dân thành thị là 20%, chiếm 1/5 dân số miền Nam Ấn Độ Trong số những người bị THA chỉ có 32,8% quan tâm đến tình trạng THA của họ và trong số 70,8% người bệnh THA được điều trị chỉ có 45,9% người bệnh kiểm soát được huyết áp của họ[26]

1.3.2.Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam

Ở Việt Nam, tỷ lệ phần trăm người bị THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển Theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam năm

1992 của GS Trần Đỗ Trinh trên 39,3 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc 20 tỉnh thành thì tỷ lệ THA chung là 11,7% trong đó tỷ lệ mắc ở nam giới cao hơn so với nữ giới và tỷ lệ THA ở vùng 3 (Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, Huế) cao hơn hẳn các vùng khác và các tỉnh đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ THA thấp nhất trong các vùng[15] Nhưng đến năm 2002, theo kết quả điều tra tần suất mắc THA ở người trưởng thành (từ 25 tuổi trở lên) ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam của GS Phạm Gia Khải, tần suất THA ở miền Bắc Việt Nam là 16,32%, tần suất THA ở các địa phương có sự khác biệt đáng kể trong đó cao nhất ở vùng thành thị (23,2%), sau đó tới vùng duyên hải (16,6%) và cuối cùng là hai vùng đồng bằng và trung du (12,4% và 13,9%) Tần suất THA cộng gộp của khu vực thành thị miền Bắc Việt Nam là 22,72% cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn và tỷ lệ THA ở nam giới cao hơn nữ giới (19% và 14,6%)[14] Kết quả khảo sát năm 2005 trên những người dân sống tại Thành phố Cần Thơ trong độ tuổi từ 25 đến 64, tỷ lệ THA của người dân Thành phố Cần Thơ

là 21,5% trong đó tỷ lệ nam bị THA cao hơn nhiều so với nữ giới (27,3% và 16,2%)[28] Và đến năm 2008, theo kết quả điều tra dịch tễ THA ở những người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên tại 8 tỉnh và thành phố của Việt Nam của GS Nguyễn Lân Việt cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn Việt Nam ≥ 25 tuổi là 25,1%, cao nhất ở khu vực các thành phố (34,7%) và thấp nhất ở vùng duyên hải ven biển (20,5%) và tỷ lệ THA vùng thành thị gần gấp đôi ở vùng nông thôn[18] Kết quả này cho thấy tần suất THA tăng nhanh ở Việt Nam trong một vài thập niên qua và

tỷ lệ THA ở khu vực thành thị cao hơn rất nhiều ở khu vực nông thôn và tỷ lệ THA

Trang 17

ở nam giới có xu hướng cao hơn nữ giới Như vậy, với dân số Việt Nam hiện nay khoảng 88 triệu dân thì ước tính sẽ có khoảng 11 triệu người bị THA

Để quản lý và giám sát bệnh THA hiệu quả ở cộng đồng, cần phối hợp việc điều trị thuốc hạ áp với những biện pháp can thiệp các yếu tố nguy cơ THA nhằm thay đổi các hành vi lối sống theo chiều hướng có lợi cho người THA Điều kiện quyết định là phải nâng cao nhận thức, tìm hiểu các rào cản trong suy nghĩ và thực hành của người dân để có thể xây dựng, thay đổi và điều chỉnh các biện pháp giáo dục sức khoẻ phù hợp và có hiệu quả với từng địa phương Vậy cần phải có nhiều nghiên cứu về bệnh tăng huyết áp và các yếu tố liên quan ở nhiều địa phương khác nhau để có thể đưa ra những kế hoạch chiến lược, cũng như kế hoạch chi tiết cho chương trình phòng chống bệnh tăng huyết áp tại các địa phương

1.4 Biến chứng của bệnh tăng huyết áp

Các biến chứng của THA rất đa dạng, phong phú nhưng lại thường diễn biến

âm thầm, ngày một nặng dần và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận cơ thể của người bệnh bằng nhiều cách Biểu hiện lâm sàng của các biến chứng này thường kín đáo làm cho người bệnh chủ quan tưởng mình vẫn bình thường Các biến chứng có thể xảy ra của bệnh THA[8],[9],[10],[19]:

- Biến chứng tim mạch: nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim, … trong

đó suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân gây tử vong cao nhất của THA THA làm tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch Tim người bệnh phải làm việc nặng hơn trong một thời gian dài, nên nó có xu hướng to ra Dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái để đối phó với sức cản ngoại vi nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra Dần dần suy tim trái với các triệu chứng khó thở khi gắng sức và về sau với gắng sức vừa cũng khó thở và đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi đi ngủ, hen tim và phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ với các triệu chứng: phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, X -quang và điện tim thấy có dấu hiệu dày thất phải Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình, loạn nhịp tim

- Biến chứng về não: là những biến chứng rất thường gặp và thường là nặng nề với các bệnh nhân THA Tai biến mạch máu não bao gồm cả xuất huyết não và nhồi

Trang 18

máu não với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm theo co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội Đây là biến chứng có thể xảy ra đột ngột vào bất cứ thời gian nào trong ngày nhưng chủ yếu là vào ban đêm hoặc khi thời tiết thay đổi, mùa đông kéo dài Chính vì vậy việc kiểm soát tốt huyết áp nhằm tránh các cơn THA kịch phát là ưu tiên hàng đầu của các nhà lâm sàng để giảm thiểu biến chứng này

- Biến chứng về thận: vữa xơ động mạch sớm và nhanh; xơ thận gây suy thận dần dần; hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và angiotensin II trong máu gây cường aldosteron thứ phát Khi bệnh nhân đã bị bệnh thận mạn do THA đến giai đoạn không thể điều chỉnh bằng thuốc sẽ dẫn đến chi phí điều trị tăng lên rất nhiều do phải chạy thận nhân tạo định kỳ dẫn đến nhiều bệnh nhân nghèo không có khả năng chi trả phải ngưng điều trị ảnh hưởng đến tính mạng

- Biến chứng về mắt tiến triển theo giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa Khi soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt Biến chứng này tuy ít gặp nhưng dễ nhầm với các bệnh về mắt hoặc biến chứng mắt do đái tháo đường

- Biến chứng về mạch ngoại vi, trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách thành động mạch chủ có thể dẫn đến tử vong THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ Các biến chứng về mạch máu ngày càng gặp nhiều hơn trong thời gian gần đây và hiện nay chưa có phương pháp điều trị thành công và ảnh hương nhiều đến chất lượng cuộc sống

Các nghiên cứu cho thấy người bị THA không được kiểm soát thì có các nguy

cơ sau: bệnh động mạch vành tăng gấp 3 lần; suy tim tăng 6 lần; đột quỵ tăng 7 lần

… Các biến chứng gây ra THA có thể cấp tính, có thể âm thầm và do vậy không những nguy hiểm đe dọa tính mạng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống của người bệnh [8]

1.5 Các biện pháp phòng biến chứng tăng huyết áp

Vậy làm thế nào để có được huyết áp bình thường như mong muốn nhằm phòng các biến chứng của THA? Vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào bản thân người bệnh Trong đó việc thay đổi lối sống đóng vai trò quyết định Theo khuyến

Trang 19

cáo của Bộ y tế, thực hiện các biện pháp tích cực thay đổi lối sống có được áp dụng cho mọi bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số đo của huyết áp qua đó góp phần giảm số thuốc cần dùng và sẽ góp phần giảm đáng kể các nguy cơ mắc biến chứng về THA[3],[8],[19]

- Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng:

+ Giảm mặn (<6 gam muối hay thìa cà phê muối mỗi ngày) Vấn đề muối ăn ngày càng được nhấn mạnh trong việc điều trị và kiểm soát THA Muối hiện được coi là một trong những nguy cơ quan trọng của THA Hiện nay, xu hướng ăn nhiều muối hơn nhu cầu đang gia tăng ở các nước được các hãng thức ăn nhanh và hàng quán lợi dụng, vì đồ ăn mặn làm cho người ta thèm ăn hơn và nhớ món ăn hơn Điều này có thể được khắc phục bằng cách thêm thảo dược và gia vị như là phụ gia, bữa ăn của bạn vẫn đủ hấp dẫn Cần chú ý đọc kỹ hàm lượng muối trên các loại thức ăn và chú ý hạn chế muối khi chế biến thức ăn

+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi, các loại ngũ cốc và gạo chế biến thô, thực phẩm nhiều chất xơ

+ Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và acid béo no,nên ăn thịt gia cầm không da, thịt nạc, ăn cá (nhất là các loại cá có nhiều Omega 3 như cá hồi, cá trích, ) ít nhất 2 lần/tuần

+ Hạn chế ăn thêm đường ngọt

- Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI) dao động từ 18,5 đến 22,9 kg/m2 Rất nhiều người THA bị thừa cân và thường thì khi giảm cân, huyết áp của người bệnh sẽ có thể giảm xuống một cách đáng kể Bên cạnh đó, thừa cân còn là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch

- Hạn chế uống rượu, bia: vì rượu rất ít dinh dưỡng và giàu năng lượng nên có thể làm tăng nguy cơ béo phì, khó kiểm soát THA và làm tăng nguy cơ TBMMN Số lượng rượu/bia được khuyến cáo là nên uống ít hơn 3 cốc/ngày(nam), ít hơn 2 cốc/ngày(nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc/tuần(nam),ít hơn 9 cốc/tuần(nữ): cốc tiêu chuẩn tương đương với 330ml bia hoặc 140ml rượu vang, hoặc 40ml rượu mạnh

- Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá, thuốc lào: các bằng chứng nghiên cứu cho thấy

rõ nguy cơ của hút thuốc lá với THA và các biến cố tim mạch, người THA mà hút

Trang 20

thuốc lá sẽ làm nguy cơ tim mạch tăng gấp nhiều lần Việc bỏ hút thuốc lá cũng làm giảm đáng kể các nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân THA

- Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: tập thể dục, đi bộ hoặc vận động ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30-60 phút mỗi ngày Tập luyện thể lực là một phần không thể thiếu được của chương trình điều trị hàng ngày Tập thể dục giúp giảm huyết áp và giảm cân nặng hoặc giữ cho cơ thể ở mức cân nặng lý tưởng

- Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh; cần có chế độ thư giãn, nghỉ ngơi hợp lý

- Tránh bị lạnh hoặc thay đổi tư thế đột ngột

Ngoài ra, người bị THA phải dùng thuốc đúng, đầy đủ và liên tục theo chỉ định của thầy thuốc Nếu chúng ta thực hiện nghiêm túc các khuyến cáo thì những biện pháp

dù đơn giản cũng mang lại hiệu quả đáng kể Với những bệnh nhân THA, khi có chỉ định dùng thuốc điều trị cần tuân thủ chặt chẽ theo đúng các chỉ dẫn của bác sĩ Nhiều nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng đúng chỉ dẫn thuốc hạ áp không chỉ làm giảm huyết áp như mong muốn mà còn giúp giảm đáng kể những tổn thương của cơ quan đích hay các biến chứng của THA Hiện nay, ngày càng có nhiều loại thuốc có hiệu quả cao trong điều trị THA và ít tác dụng phụ Tuy nhiên, một vấn đề khá nan giải là sự tuân thủ điều trị của người bị THA còn kém, làm cho số bệnh nhân đạt được huyết áp mục tiêu còn khá khiêm tốn Điều này là do kiến thức của bản thân người bệnh về THA và các biến chứng của THA còn nhiều hạn chế, hoặc có nhiều người có thể có nhận thức tốt về vấn đề này nhưng việc thực hiện các biện pháp để phòng các biến chứng của bệnh vẫn còn chưa thực sự tốt

1.6 Nghiên cứu kiến thức và thực hành phòng biến chứng tăng huyết áp

Phần lớn các nghiên cứu về tăng huyết áp từ trước tới nay đều chỉ ra nhận thức của người dân trong cộng đồng về THA vẫn còn rất nhiều hạn chế và thái độ của họ với việc điều trị THA nói chung và điều trị để đạt được số huyết áp mục tiêu còn khá thờ ơ Ngay cả hiểu biết của họ về các biến chứng của bệnh THA cũng còn khá

sơ sài Mọi người chủ yếu biết đột quỵ (≈ 90%) và nhồi máu cơ tim (≈ 80%) là hai biến chứng phổ biến của THA, chỉ có hơn 50% ĐTNC biết đến các biến chứng khác của bệnh như suy tim, suy thận hay giảm thị lực[17]

Trang 21

Ngoài ra, theo nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm 2011 về tuân thủ điều trị bệnh THA trên 250 bệnh nhân bị THA, tuổi từ 25 – 60 đang điều trị THA ở

4 phường của Thành phố Hà Nội cho thấy có tới 83,2% ĐTNC tình cờ phát hiện bị bệnh THA, trong đó 44,8% ĐTNC phát hiện được bệnh do khám sàng lọc phát hiện THA Sô ĐTNC mới được phát hiện THA (dưới 1 năm) chiếm tỷ lệ cao 42,4% Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng 48,4% người bị THA có kiến thức không đạt và 55,2% BN có thực hành không đạt về tuân thủ điều trị bệnh THA[12] Điều này cho thấy còn rất nhiều người trong cộng đồng không biết được tầm quan trọng của việc phát hiện sớm bệnh THA cũng như việc tuân thủ điều trị tốt sẽ giúp cho thầy thuốc kiểm soát sớm huyết ápmục tiêu góp phần giảm đáng kể nguy cơ bị biến chứng do THA Theo nghiên cứu của Đinh Văn Sơn thực hiện năm 2012 tại Vĩnh Phúc cho thấy tỷ lệ người có kiến thức về phòng biến chứng THA đạt là 38%, tỷ lệ này ở nam

là 48,5% và ở nữ là 27,5%, tỷ lệ người có thực hành đúng về phòng biến chứng là 61,5%, tỷ lệ này ở nam chiếm 61,2% và nữ là 61,8%[13] Nghiên cứu khác của Bùi Thị Thanh Hòa thực hiện tại bệnh viện E Hà Nội năm 2012 cũng cho kết quả tỷ lệ người có kiến thức về phòng biến chứng THA đạt là 51,7%, tỷ lệ này ở nam là 50,9% còn nữ là 53,1%, tỷ lệ người có thực hành đúng về phòng biến chứng là 60%,

tỷ lệ này ở nam chiếm 48,4% và nữ là 66,9%[7] Trong khi nghiên cứu của Ngô Thị Hương Giang đối với các bệnh nhân của huyện Thanh Trì lại có kết quả tỷ lệ người

có kiến thức phòng biến chứng THA đạt là 41,2%, tỷ lệ người có thực hành phòng biến chứng đạt là 34%[6], điều này cho thấy không phải bệnh nhân ở các thành phố lớn sẽ có kiến thức và thực hành tốt về phòng biến chứng do THA

Một số các yếu tố liên quan được đề cập trong các nghiên cứu như sau:

- Giới: các nghiên cứu đều cho thấy giới tính có liên quan đến kiến thức và thực hành phòng biến chứng THA, cụ thể là nam có kiến thức không đạt chỉ bằng 0,4 lần

so với nữ[13] tuy nhiên nữ lại có thực hành đạt cao hơn nam 2,1 lần[7]

- Trình độ học vấn: kết quả các nghiên cứu đều phù hợp với giả thiết khi cho rằng trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ bệnh nhân có kiến thức và thực hành đúng càng cao, đặc biệt là với các bệnh nhân có trình độ trên cấp 3 sẽ có kiến thức đạt gấp 2,8 lần so với trình độ học vấn dưới cấp 3[7]

Trang 22

- Cơ cấu gia đình: việc các bệnh nhân sống một mình có tỷ lệ thực hành phòng biến chứng không đạt cao hơn 6 lần so với những người sống cùng những người khác trong gia đình[6] và đặc biệt khi sống với người trẻ (dưới 60 tuổi) thì kiến thức phòng biến chứng không đạt thấp hơn 1,3 lần so với khi sống với người già (trên 60 tuổi) và các bệnh nhân không sống cùng ai có tỷ lệ kiến thức không đạt cao nhất là 89%[13]

- Thời gian phát hiện tăng huyết áp: các nghiên cứu đều cho ra kết quả là những bệnh nhân có thời gian phát hiện THA càng lâu thì kiến thức và thực hành phòng biến chứng THA càng tốt (bệnh nhân có thời gian phát hiện bị THA trên 5 năm có kiến thức đạt gấp 5,5 lần so với bệnh nhân bị phát hiện THA dưới 5 năm[7])

- Tiền sử từng gặp biến chứng THA: đây là yếu tố liên quan được các nghiên cứu khảo sát có ý nghĩa nhiều nhất Ngô Thị Hương Giang thì kết luận những đối tượng

có tiền sử từng gặp biến chứng THA thì có kiến thức phòng tránh biến chứng đạt cao gấp 1,9 lần so với nhóm đối tượng chưa từng gặp biến chứng[6] trong khi đó tác giả Bùi Thị Thanh Hòa lại cho thấy tỷ lệ này cao hơn gấp 3,2 lần và đặc biệt là tỷ lệ thực hành đạt ở nhóm đã từng gặp biến chứng cao hơn nhóm chưa gặp biến chứng đến 28,2 lần[7]

Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng cho thấy một số hạn chế nhất định là chỉ xem xét các yếu tố liên quan ở góc độ các yếu tố cá nhân và môi trường, kinh tế xã hội chứ chưa chỉ ra được sự liên quan của các yếu tố về dịch vụ y tế mà trong thời điểm hiện nay cũng là một vấn đề nóng hổi làm đau đầu các nhà quản lý y tế do các tác động không nhỏ của yếu tố này đến kiến thức và thực hành của bệnh nhân THA Kết quả các nghiên cứu trên đây chỉ ra rằng còn một tỷ lệ rất lớn những người

bị THA chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và thực hành về phòng các biến chứng của THA thông qua việc tuân thủ điều trị và thay đổi lối sống THA và các yếu tố nguy cơ (nhất là các yếu tố lối sống, vốn có thể thay đổi được) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều trị kiểm soát huyết áp, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức khoẻ nhằm vào các yếu tố nguy cơ đặc biệt là các yếu tố nguy cơ về lối sống có khả năng thay đổi theo chiều hướng tích cực có lợi cho bệnh nhân bị THA Tình trạng quản lý bệnh nhân THA ở Việt Nam,

Trang 23

cho đến nay chưa có hệ thống quản lý và dự phòng đối với bệnh THA Các hoạt động y tế mới chỉ tập trung vào công tác điều trị bệnh nhân tại các bệnh viện, chưa

có mô hình dự phòng, ghi nhận và quản lý bệnh THA tại cộng đồng Công tác tuyên truyền bệnh THA tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ cho công tác phòng chống THA tại các cơ sở còn nhiều hạn chế nên việc nghiên cứu thực trạng kiến thức và thực hành của người bệnh THA về phòng các biến chứng của THA và các yếu tố liên quan ở các địa phương là rất cần thiết cho công tác phòng và chống bệnh THA cũng như những biến chứng của THA ở cộng

đồng

1.7 Thông tin về địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc tỉnh,

là tuyến khám chữa bệnh sau cùng của tỉnh Bệnh viện có 1050 giường kế hoạch với

40 khoa, phòng Trong nhiều năm qua bệnh viện đã phát triển nhiều kỹ thuật chẩn đoán và điều trị mới như mổ tim hở, tim mạch can thiệp,đặt máy tạo nhịp, phẫu thuật nội soi, CT Scanner, MRI, xạ trị…đáp ứng phần lớn nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh Riêng khoa Nội tim mạch có chỉ tiêu giường bệnh theo kế hoạch là 50 với 7 bác sỹ, 21 điều dưỡng và 4 hộ lý nhưng hầu như vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh về tim mạch nói chung và bệnh tăng huyết áp nói riêng với công suất sử dụng giường bệnh luôn đạt trung bình trên 110% Khoa đã thu dung và điều trị hiệu quả cho phần lớn các bệnh tim mạch đặc biệt đã áp dụng được các kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị như điện tim và siêu âm tim gắng sức, đặt máy tạo nhịp tạm thời và vĩnh viễn, can thiệp mạch vành qua da trong 3 năm qua với nhiều thành công to lớn, đem lại niềm tin tưởng lớn lao không những cho nhân dân trong tỉnh mà còn cả trong khu vực miền Trung – Tây nguyên Mặc

dù nguồn nhân lực hạn chế và chi phối bởi nhiều dịch vụ kỹ thuật cao khoa vẫn phải đảm nhận trọng trách thành lập đơn vị phòng chống tăng huyết áp (ĐVPCTHA) trong chương trình phòng chống tăng huyết áp quốc gia do Bộ Y tế triển khai

Chương trình Phòng chống bệnh THA là một trong các chương trình y tế quốc gia đã và đang được triển khai tại tỉnh Bình Định từ tuyến xã cho tới tuyến tỉnh Từ năm 2011, đơn vị đã hoạt động phòng chống bệnh THA theo chỉ đạo của Sở Y tế

Trang 24

Bình Định và là tuyến sau cùng trong hệ thống y tế tuyến tỉnh có trách nhiệm khám sàng lọc, quản lý, điều trị các bệnh nhân THA trong địa bàn toàn tỉnh

Hiện tại ĐVPCTHA chỉ có 03 bác sĩ (01 bác sĩ là phó trưởng khoa) và 03 điều dưỡng vừa làm công tác điều trị bệnh nhân trong khoa tim mạch vừa phải thường xuyên túc trực tại đơn vị, mặc dù nguồn nhân lực còn yếu và thiếu nhưng tính đến tháng 12/2014, đơn vị đã tiến hành khám sàng lọc phát hiện khoảng hơn 1.000 bệnh nhân THA và đưa vào quản lý điều trị cho các bệnh nhân bị THA tại ĐVPCTHA Đến hết tháng 2/2015, đơn vị đang quản lý 862 bệnh nhân THA Đơn vị đã thành lập được câu lạc bộ (CLB) THA tuy nhiên sinh hoạt không thường xuyên và số bệnh nhân tham dự không nhiều do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan Quy trình quản lý bệnh nhân của đơn vị như sau: các bệnh nhân sau khi được khám sàng lọc và chẩn đoán xác định đều được lập sổ khám bệnh và theo dõi riêng có ghi chép đầy đủ các thông tin về khám chữa bệnh, địa chỉ cũng như mã số của bệnh nhân cũng được lưu lại tại sổ cái của đơn vị Bệnh nhân được khuyến khích tham gia CLB THA và phát các tờ rơi tuyên truyền về bệnh đồng thời bệnh nhân được hẹn tái khám sau mỗi tháng dùng thuốc hoặc khi có bất kỳ triệu chứng bất thường nào và tỷ lệ tái khám đúng hẹn của các bệnh nhân là rất cao (trên 80%) do có sự tin tưởng vào kết quả điều trị và vì đơn vị là tuyến cuối trong khám và điều trị bệnh nhân trong tỉnh[2] Trong 4 năm qua, đơn vị luôn đảm bảo công tác quản lý tốt bệnh nhân và mới đây đơn vị đã vinh dự được Viện tim mạch chọn làm đơn vị duy nhất trên toàn quốc để thực hiện “Xây dựng mô hình điểm Đơn vị quản lý và tư vấn tăng huyết áp tuyến tỉnh”[16] Tuy nhiên trên thực tế qua khảo sát nhanh có thể nhận thấy kiến thức của bản thân những người bị THA về phòng các biến chứng do THA gây nên lại chưa tốt Ngay cả khi có kiến thức về THA nhưng việc thực hành phòng các biến chứng của THA vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn tại

Trang 25

KHUNG LÝ THUYẾT Yếu tố cá nhân

- Tuổi

- Giới

- Trình độ học vấn

- Nghề nghiệp

- Cơ cấu gia đình

- Thời gian phát hiện

- Nguồn cung cấp thuốc

- Chương trình quốc gia

phòng chống THA

- Câu lạc bộ THA

Kiến thức về THA và phòng biến chứng THA

- Kiến thức về bệnh THA

và cách điều trị

- Kiến thức về cách phòng biến chứng THA

- Tự nhận biết các dấu hiệu của biến chứng

- Biết cách xử trí khi phát hiện có huyết ápcao

- Tầm quan trọng của khám định kỳ

Thực hành phòng biến chứng THA

- Tự đo huyết ápđúng quy trình và biết cách xử trí khi huyết ápcao đột ngột

- Tuân thủ điều trị: thuốc, tái khám đúng hẹn và thay đổi lối sống

- Khám sức khỏe định kỳ

Trang 26

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Người bệnh bị tăng huyết áp hiện đang được quản lý và điều trị tại Đơn vị phòng chống THA của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

- Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Bệnh nhân bị tăng huyết áp và trên 18 tuổi

+ Tự nguyện tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Không gặp đối tượng sau 3 lần hẹn tái khám

+ Không có khả năng trả lời phỏng vấn (người khuyết tật, câm điếc, người bị bệnh tâm thần,…)

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015 Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 02/2015 đến tháng 04/2015

- Địa điểm: Đơn vị Phòng chống tăng huyết áp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích

2.4 Mẫu nghiên cứu

2 2 2

1 1

1 2

/ 1

) (

) 1

.(

) 1

.(

)

1 ( 2

P P

P P

P P

Z P P

Z n

Trang 27

 P: (P1 + P2)/2 = 57,7% (ước lượng tỷ lệ chung của mẫu nghiên cứu)

Số ĐTNC trong một nhóm là n = 147 tính thêm khoảng 10% dự phòng vì không thu thập số liệu được do các điều kiện khác nhau của ĐTNC, vậy cỡ mẫu làm tròn là n=165 đối tượng cho một nhóm

Tổng mẫu nghiên cứu là 330 đối tượng Trên thực tế nghiên cứu đã thu thập thông tin được 320 đối tượng và có 10 đối tượng không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

Dựa trên danh sách 862 bênh nhân đang được quản lý tại ĐVPCTHA (danh sách lập trên bảng excel), sử dụng câu lệnh RAND() để lấy ngẫu nhiên 330 bệnh nhân Vì bệnh nhân THA đến tái khám 1 tháng/ lần, trong khoảng thời gian từ tháng 2-4/2015 chúng tôi đã phỏng vấn các bệnh nhân có trong danh sách được chọn khi

họ tái khám và mỗi bệnh nhân được phỏng vấn một lần duy nhất

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn trực tiếp người bị THA đang được quản lý trong danh sách các bệnh nhân được chọn tại Đơn vị phòng chống tăng huyết áp BVĐKBĐ, sử dụng phiếu phỏng vấn có cấu trúc

2.6 Các bước thu thập số liệu

- Bước 1: Danh sách bệnh nhân được cung cấp cho cán bộ chịu trách nhiệm tiếp

nhận bệnh nhân Cán bộ tiếp nhận đối chiếu bệnh nhân đến khám với danh sách mẫu và giới thiệu bệnh nhân gặp điều tra viên (sau khi bệnh nhân đã khám xong) tại một phòng riêng của ĐVPCTHA Cán bộ tiếp nhận đánh dấu các bệnh nhân đã giới thiệu phỏng vấn để loại trừ cho những lần tái khám sau

- Bước 2: ĐTV tiếp cận bệnh nhân sau khi bệnh nhân đã khám xong, thông báo về

nghiên cứu, giải thích cho bệnh nhân về tính bảo mật của thông tin mà đối tượng cung cấp

- Bước 3: ĐTV đưa đối tượng điều tra ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu (Phụ

lục 1) và hướng dẫn ĐTNC trả lời để hoàn thành phiếu điều tra

- Bước 4: ĐTV đọc từng câu hỏi trong phiếu phỏng vấn cho đối tượng phỏng vấn

nghe và trả lời, ĐTV điền các nội dung trả lời phù hợp vào phiếu phỏng vấn

Trang 28

- Bước 5: ĐTV hỏi lại đối tượng phỏng vấn có cần bổ sung hoặc sửa đổi thông tin

trong vấn đề vừa hỏi hay có câu hỏi nào liên quan đến bệnh THA không, nếu có ĐTV giải đáp các thắc mắc hoặc ghi lại câu hỏi và hẹn giải đáp sau

- Bước 6: ĐTV cám ơn đối tượng đã tham gia

2.7 Thử nghiệm bộ công cụ

Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết, tham khảo tài liệu và tham khảo các nghiên cứu tương tự Bộ câu hỏi (Phụ lục 2) được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức Nghiên cứu viên đã phỏng vấn thử

10 người bị THA, chỉnh sửa từ ngữ, nội dung phù hợp trước khi thu thập số liệu chính thức

2.8 Điều tra viên và giám sát viên

- Điều tra viên là cán bộ của Khoa Nội tim mạch (không phải thành viên Đơn vị phòng chống THA) BVĐKBĐ (7 người gồm 2 bác sĩ và 5 điều dưỡng), mỗi ngày có một người tiến hành phỏng vấn và học viên giám sát trong suốt quá trình điều tra

- Tập huấn điều tra viên: các ĐTV đã được nghiên cứu viên (học viên) tập huấn 1 ngày về mục đích của điều tra, kỹ năng phỏng vấn thu thập số liệu, kỹ năng tiếp xúc

và làm việc dưới cộng đồng Buổi tập huấn cũng đã có phần thực hành nhằm giúp ĐTV làm quen với mẫu phiếu và cách phỏng vấn đối tượng trước khi thu thập số liệu chính thức

- Giám sát viên: là học viên có nhiệm vụ trực tiếp phỏng vấn cùng ĐTV, hỗ trợ ĐTV trong quá trình phỏng vấn Giám sát viên cũng là người thu phiếu và rà soát phiếu, kiểm tra chất lượng của phiếu phỏng vấn

Trang 29

2.8 Các biến số nghiên cứu chính

2.8.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Biến số Định nghĩa biến số Loại biến số pháp thu Phương

thập

Tuổi (năm) Tuổi tính theo dương lịch của

ĐTNC, lấy 2015 trừ đi Rời rạc Phỏng vấn

Trình độ học vấn Bậc học cao nhất mà đối tượng đạt

Tiền sử gia đình Người trong gia đình bị THA, các

biến chứng của THA Nhị phân Phỏng vấn Người nhắc nhở

Trang 30

2.8.2 Kiến thức về phòng biến chứng của tăng huyết áp

Biến số Định nghĩa biến số Phân loại biến

Phương pháp thu thập

Cách theo dõi huyết áp Thời gian theo dõi và tự đo huyết

áp để quản lý huyết áp của ĐTNC Thứ bậc Phỏng vấn

Cách sử dụng thuốc hạ

huyết áp

Kiến thức của ĐTNC về cách thức

sử dụng thuốc hạ áp Phân loại Phỏng vấn

Biến chứng của THA Các biến chứng của THA thường

Phân loại Phỏng vấn

Dấu hiệu của suy tim

Hiểu biết của ĐTNC về các biểu hiện thường gặp của bệnh suy tim

Phân loại Phỏng vấn

Trang 31

Phân loại Phỏng vấn

Xử trí khi có cơn THA

kịch phát

Hiểu biết của ĐTNC về xử trí cơn

Các biện pháp phòng

biến chứng THA

Hiểu biết của ĐTNC về các biện pháp giúp phòng biến chứng THA Phân loại Phỏng vấn

Chuẩn bị đo huyết áp Các ĐTNC đã chuẩn bị gì trước

khi đo huyết áp Phân loại Phỏng vấn

Người đo huyết áp Người thường xuyên đo và theo

dõi huyết áp cho ĐTNC Phân loại Phỏng vấn

Tần suất đo huyết áp

của ĐTNC Thời gian đo huyết áp của ĐTNC Thứ bậc Phỏng vấn

Trang 32

2.8.3 Thực hành về phòng biến chứng của tăng huyết áp

biến

Phương pháp thu thập

Chuẩn bị đo huyết áp Các ĐTNC đã chuẩn bị gì trước

khi đo huyết áp Phân loại Phỏng vấn

Người đo huyết áp Người thường xuyên đo và theo

dõi huyết áp cho ĐTNC Phân loại Phỏng vấn

Tần suất đo huyết áp

Phân loại Phỏng vấn

ĐTNC sử dụng thuốc

điều trị THA

Cách thức ĐTNC sử dụng thuốc điều trị THA Phân loại Phỏng vấn

Xử trí khi bị THA

kịch phát

Những việc ĐTNC làm khi huyết

áp tăng kịch phát ( > 200/100 mmHg)

Phân loại Phỏng vấn

Phòng cơn THA kịch

phát

Các biện pháp ĐTNC đã thực hiện để phòng THA kịch phát Phân loại Phỏng vấn

Trang 33

2.9 Một số cách tính dùng trong nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, để đánh giá ĐTNC có kiến thức và thực hành đạt về phòng tránh biến chứng do THA thì ĐTNC phải trả lời đúng trên 50% các câu hỏi

về kiến thức và trên 50% các câu hỏi về thực hành theo nội dung trong phiếu phỏng vấn

- Tiêu chuẩn đánh giá đạt yêu cầu về kiến thức phòng tránh biến chứng do

THA là đạt từ 17 điểm trở lên (tổng điểm kiến thức là 34 điểm)

- Tiêu chuẩn đánh giá đạt yêu cầu về thực hành phòng tránh biến chứng do

THA là đạt từ 13 điểm trở lên (tổng điểm thực hành là 26 điểm)

2.10 Quản lý và phân tích số liệu

- Quản lý số liệu: Sau khi thu thập, phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ của thông tin Sau đó phiếu được đưa lại cho nghiên cứu viên để làm sạch, mã hóa và nhập số liệu bằng phần mềm EpiData 3.1 Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

- Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:

+ Phân tích mô tả với các giá trị tỷ lệ, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn phù hợp với bản chất biến số đo lường

+ Kiểm định khi bình phương được dùng để xem xét một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành về phòng biến chứng THA ở những người bị THA

2.11 Đạo đức nghiên cứu

Đối tượng đã được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn, chỉ tiến hành khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng nghiên cứu ĐTNC có thể ngừng tham gia nghiên cứu bất kỳ giai đoạn nào Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu, số liệu của cuộc điều tra được nghiên cứu viên lưu trữ đảm bảo tính riêng tư của đối tượng nghiên cứu

Các số liệu, thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho mục đích học tập và nghiên cứu khoa học, không dùng vào mục đích nào khác

Nghiên cứu được hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng cũng như Hội đồng khoa học, Ban giám đốc bệnh viện thông qua trước khi triển khai

Trang 34

Kết quả nghiên cứu được phản hồi cho ĐVPCTHA sau khi hội đồng chấm luận văn phê duyệt

2.12 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

- Nghiên cứu chỉ đề cập đến một số các yếu tố liên quan chứ chưa thể bao hàm hết như: kinh tế hộ gia đình, mạng thông tin truyền thông, chi phí khám…và phần thực hành thay đổi lối sống để phòng biến chứng cũng không được đưa vào nghiên cứu

do có nhiều yếu tố nhiễu cũng như khó đo lường chính xác

- Nghiên cứu là điều tra cắt ngang tại một thời điểm, có thu thập các thông tin hồi cứu trong quá khứ nên không tránh khỏi sai số nhớ lại Khắc phục bằng cách chỉ hỏi các thông tin trong thời gian khoảng một tháng trước khi điều tra

- Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn nên có thể gặp sai

số do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên Khắc phục bằng cách tập huấn ĐTV kỹ lưỡng về phương pháp điều tra trước khi tiến hành thu thập số liệu tại thực địa

- Giám sát chặt chẽ suốt quá trình thu thập số liệu, những phiếu điều tra ban đầu được học viên giám sát và hỗ trợ Các phiếu điều tra được học viên kiểm tra cuối ngày khi nộp phiếu, với những phiếu thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý yêu cầu ĐTV bổ sung

Trang 35

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua phỏng vấn 320 người tăng huyết áp đang được quản lý và điều trị tại đơn

vị phòng chống THA Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định về kiến thức, thực hành phòng biến chứng THA chúng tôi thu được một số kết quả sau:

3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Trang 36

(42,2%) Có tới 81,4% ĐTNC là cán bộ hưu trí, còn lại là các nghề khác

Bảng 3.2 Thông tin về hiện trạng và tiền sử bệnh tăng huyết áp của ĐTNC

Trang 37

Phân độ THA của

ĐTNC (tại thời điểm

Tỷ lệ ĐTNC bị THA từ 1 đến 5 năm là 57,8% và có 42,2% ĐTNC bị THA từ

5 năm trở lên Chủ yếu các ĐTNC được phát hiện THA khi đến bệnh viện khám vì một bệnh khác (74,7%) còn lại thì do khám sức khỏe định kỳ (22,8%) và các nguyên nhân khác chiếm hơn 2% Có 12,9% ĐTNC được người thân nhắc nhở/ hỗ trợ điều trị THA Nhóm ĐTNC có người thân trực hệ bị THA hoặc các biến chứng của THA chiếm 45,9%, nhóm không có người thân bị THA chiếm 47,8% Có

Trang 38

51,2% ĐTNC bị mắc các bệnh mạn tính kèm theo như hen phế quản, COPD, đái tháo đường, suy tim, … Trong 320 ĐTNC thì 76,6% bị THA độ 1, 20,9% là độ 2 còn lại là độ 3; và chỉ có 02 ĐTNC không có chỉ số huyết áp cao tại thời điểm phỏng vấn Trong số 320 ĐTNC thì có 23,1% đối tượng đã từng bị biến chứng do THA với hơn 10% là TBMMN

Biểu đồ 3.1 Thông tin về dịch vụ y tế

Có 99,4% ĐTNC cho rằng thuốc điều trị THA được cung cấp đầy đủ và đúng lịch, có 96,9% bệnh nhân có thẻ BHYT đang còn trong thời gian sử dụng, ngoài ra các ĐTNC có tham gia CLB THA chiếm tổng cộng 40% còn lại 35% không tham gia và 25% không biết có CLB THA

Trang 39

3.2 Kiến thức, thực hành của đối tượng nghiên cứu về tăng huyết áp và phòng biến chứng tăng huyết áp

3.2.1 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về phòng biến chứng tăng huyết áp

Biểu đồ 3.2 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về thời gian đo huyết áp

Khoảng một nửa ĐTNC cho rằng chỉ đo huyết áp khi đau đầu chóng mặt, tỷ lệ ĐTNC cho rằng cần đo huyết áp hàng ngày là 42,1% còn lại khoảng 6,3% thì cho rằng chỉ đo khi vào khám bệnh hoặc đo hàng tuần và không cần đo hoặc không biết

Bảng 3.3 Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về điều trị tăng huyết áp

Uống theo từng đợt khi huyết áp

Trang 40

Biết được thế nào là tái khám định kỳ 313 97,8 Biết tầm quan trọng của tái khám định kỳ 309 96,6

Có 86% số người trả lời đúng về nguyên tắc điều trị THA là dùng thuốc kết hợp với thay đổi lối sống; chỉ có 01 ĐTNC trả lời sai hoặc không biết về nguyên tắc điều trị THA Có 98,2% người trả lời đúng về nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là uống liên tục và lâu dài; còn lại 2% người trả lời sai khi cho rằng chỉ cần uống thuốc

hạ áp khi huyết áp cao; uống thuốc hạ áp theo từng đợt khi thấy huyết áp cao; hoặc

là không biết Hầu hết các ĐTNC đều hiểu biết rõ thế nào là tái khám định kỳ

(97,8%) và tầm quan trọng của việc tái khám định kỳ trong điều trị bệnh THA

(96,6%)

Bảng 3.4 Các biến chứng tăng huyết áp đối tượng nghiên cứu biết

Biến chứng tim (NMCT, suy tim, dày thất trái) 70 21,9

Có 82% ĐTNC biết đến biến chứng TBMMN tiếp đến 22% ĐTNC biết các biến chứng về tim còn lại các biến chứng khác chỉ có 13,5% số người được hỏi là biết Tổng hợp số biến chứng mà các ĐTNC biết được thì 59% biết được 1 biến

chứng, 24% biết 2 biến chứng và cũng còn 14% số ĐTNC không biết biến chứng nào

Ngày đăng: 03/04/2018, 22:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w