Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ .... Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân .... Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ .... Các
Trang 1
BÙI NGỌC DIỄM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 6 – 23 THÁNG TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC KHƠ-ME TẠI XÃ Ô LÂM, HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH YTCC
MÃ SỐ: 60.72.03.01
An Giang, tháng 3 năm 2017
Trang 2BÙI NGỌC DIỄM
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 6 – 23 THÁNG TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC KHƠ-ME TẠI XÃ Ô LÂM, HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH YTCC
MÃ SỐ: 60.72.03.01
GS.TS LÊ THỊ HỢP
An Giang, tháng 3 năm 2017
Trang 3Lời cảm ơn
Với tấm lòng thành kính, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội, Phòng Đào tạo Sau Đại học và các thầy, cô của Trường, đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Lê Thị Hợp và Ths
Đỗ Thị Hạnh Trang, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn và động viên tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp, Trung tâm Y tế huyện Tri Tôn, Trạm Y tế xã Ô Lâm và các anh, chị cộng tác viên của xã Ô Lâm đã hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như việc thu thập số liệu, điều tra thực địa để hoàn thành luận văn Trong quá trình học tập, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo và anh chị đồng nghiệp của Trung tâm Y tế dự phòng An Giang Tôi xin gửi đến tất cả mọi người lòng biết ơn sâu sắc
Học viên Bùi Ngọc Diễm
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC HÌNH vi
DANH MỤC BẢNG vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng, suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi dưỡng trẻ nhỏ 4
1.1.1 Tình trạng dinh dưỡng: 4
1.1.2 Phân loại và cách điều tra đánh giá 4
1.1.3 Các chỉ số về nuôi dưỡng trẻ nhỏ 7
1.2 Tình hình dinh dưỡng trẻ em trên Thế giới 8
1.3 Tình hình dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam 9
1.4 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng ở trẻ 12
1.4.1 Nguyên nhân trực tiếp 12
1.4.2 Nguyên nhân tiềm tàng 14
1.4.3.Nguyên nhân gốc rễ 15
1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu 16
1.5.1 Thông tin chung về huyện Tri Tôn: 16
1.5.2 Thông tin về xã Ô Lâm: 17
1.6 Khung lý thuyết 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Thiết kế nghiên cứu 19
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu: 19
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu: 19
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 19
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu: 19
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
Trang 52.3.1 Cỡ mẫu: 19
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu 20
2.4 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.4.1 Cân, đo: 20
2.4.2 Phỏng vấn: 21
2.5 Các biến số nghiên cứu (Phục lục 5) 21
2.6 Các thước đo, tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng 21
2.6.1 Tiêu chí phân loại suy dinh dưỡng 21
2.6.2 Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ (Phụ lục 2, 3) 22
2.7 Xử lý và phân tích số liệu 22
2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 23
2.9 Hạn chế của nghiên cứu 23
2.10 Sai số và biện pháp khắc phục 24
2.10.1 Sai số 24
2.10.2 Biện pháp khắc phục 24
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thông tin chung 25
3.1.1 Thông tin chung của trẻ 25
3.1.2 Thông tin chung về bà mẹ 26
3.2 Thông tin CST 29
3.3 Tình trạng dinh dưỡngcủa trẻ 30
3.4 Thực trạng kiến thức CST của bà mẹ có con từ 6-23 tháng tuổi 31
3.4.1 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ 31
3.4.2 Kiến thức về cho ăn bổ sung 34
3.4.3 Kiến thức về theo dõi cân nặng và vệ sinh cá nhân 36
3.5 Thực trạng thực hành CST của các bà mẹ có con từ 6-23 tháng tuổi 37
3.5.1 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ 37
3.5.2 Thực hành cho trẻ ăn bổ sung và nuôi dưỡng trẻ bệnh 38
3.5.3 Thực hành theo dõi tăng trưởng của trẻ 40
3.5.4 Thực hành về chăm sóc khi trẻ bệnh 41
Trang 63.6 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 42
3.6.1 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 42
3.6.2 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể thấp còi 51
Chương 4 BÀN LUẬN 59
4.1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng tuổi người dân tộc Khơ-me 59
4.1.1 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân 59
4.1.2 Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 60
4.2 Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 60
4.2.1 Các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thể nhẹ cân: 60
4.4.2 Các yếu tố liên quan suy dinh dưỡng thấp còi 66
KẾT LUẬN 73
1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng tuổi của xã Ô Lâm huyện Tri Tôn tỉnh An Giang năm 2016: 73
2 Các yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 73
2.1 Mối liên quan đến SDD nhẹ cân 73
2.2 Các yếu tố liên quan đến SDD thấp còi 73
KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Tiếng Việt 76
Phụ lục 1 PHIẾU PHỎNG VẤN BÀ MẸ CÓ CON TỪ 6 -23 THÁNG TUỔI 81
Phụ lục 2 BẢNG CHẤM ĐIỂM KIẾN THỨC 88
Phụ lục 3 BẢNG CHẤM ĐIỂM THỰC HÀNH 90
Phụ lục 4 PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 92
Phụ lục 5 CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 93
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ABS Ăn bổ sung
CC/T Chiều cao/tuổi
CN/ T Cân nặng/tuổi
CN/CC Cân nặng/chiều cao
CNVC Công nhân viên chức
TC-BP Thừa cân béo phì
THCN Trung học chuyên nghiệp
WHO Tổ chức Y tế thế giới (World Health Oganization)
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1 1 Số người SDD trên thế giới, 1969-1971 đến năm 2010 8
Hình 1 2 Tỷ lệ người SDD ở các nước đang phát triển, 1969-1971đến năm 2010 8
Hình 1 3 Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi giai đoạn 2008 -2015 9
Hình 3 1 Tình trạng dinh dưỡng của trẻ 6-23 tháng 30
Hình 3 2 T ỷ lệ SDD theo giới của trẻ 31
Hình 3 3 Kiến thức chung của bà mẹ về CST 36
Hình 3.4 Thực hành chung của bà mẹ về CST (n=313) 42
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO 6
Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo từng khu vực 11
Bảng 2.1 Phân loại SDD theo WHO 2006 22
Bảng 3.1 Bảng thông tin chung của trẻ về tuổi, giới, CNSS, nơi sinh và hình thức sinh (n=313) 25
Bảng 3.2 Bảng thông tin về bệnh tật và phòng bệnh ở trẻ (n=313) 26
Bảng 3.3 Thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ (n=313) 26
Bảng 3.4 Thông tin về hộ gia đình (n=313) 27
Bảng 3.5 Thông tin về chăm sóc khi mang thai của bà mẹ (n=313) 28
Bảng 3.6 Nguồn và kênh tiếp cận thông tin CST của bà mẹ (n=313) 29
Bảng 3.7 Tình trạng SDD của trẻ theo một số đặc điểm của trẻ (n=313) 30
Bảng 3.8 Tình trạng SDD của trẻ theo nhóm bệnh 2 tuần qua (n=313) 31
Bảng 3.9 Kiến thức về nuôi con bằng sữa mẹ (n=313) 32
Bảng 3.10 Kiến thức về cho ABS và ăn đầy đủ các nhóm thức ăn (n=313) 34
Bảng 3.11 Kiến thức của bà mẹ về theo dõi cân nặng và vệ sinh cá nhân (n=313) 36 Bảng 3.12 Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ (n=313) 37
Bảng 3.13 Thực hành cho trẻ ABS và nuôi dưỡng trẻ bệnh (n=313) 38
Bảng 3.14 Thực hành theo dõi tăng trưởng của trẻ (n=313) 40
Bảng 3.15 Thông tin về chăm sóc khi trẻ bệnh (n=313) 41
Bảng 3.16 Thực hành vệ sinh cá nhân của bà mẹ (n=313) 41
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với đặc điểm chung của trẻ 43
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ 44
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với đặc điểm hộ gia đình 45
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với đặc điểm chăm sóc trước sinh của bà mẹ 46
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với đặc điểm tiếp cận thông tin CST 47
Trang 10Bảng 3.22 Mối liên quan giữa SDD thể nhẹ cân với kiến thức, thực hành của bà mẹ
về CST 48 Bảng 3.23 Bảng phân tích đa biến Hồi qui Logistic các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng nhẹ cân 48 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa SDD thấp còi với đặc điểm của trẻ 50 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi với đặc điểm nhân khẩu học của bà
mẹ 51 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi với đặc điểm hộ gia đình 52 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi với đặc điểm chăm sóc trước sinh của bà mẹ 54 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi với đặc điểm tiếp cận thông tin CST 54 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa SDD thể thấp còi với kiến thức, thực hành của bà mẹ
về CST 55 Bảng 3.30 Bảng phân tích đa biến Hồi qui Logistic các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng thấp còi 56
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các nước đang phát triển SDD sẽ ảnh hưởng đến phát triển cả thể lực và trí lực của trẻ
và làm giảm năng suất lao động khi trưởng thành và tăng chi phí Y tế cho các bệnh
có liên quan đến dinh dưỡng Ô Lâm là xã miền núi của huyện Tri Tôn tỉnh An Giang có tỷ lệ hộ nghèo cao và chủ yếu là người dân tộc Khơ-me đang sinh sống
Tỷ lệ SDD ở trẻ dưới 5 tuổi còn cao Với mục tiêu mô tả thực trạng SDD và tìm hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng đó Nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 313 trẻ 6-23 tháng tuổi người Khơ-me và bà mẹ được tiến hành từ tháng 03 đến tháng 07 năm 2016 tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ SDD các thể ở trẻ em khá cao: SDD thể nhẹ cân (CN/T) là 21,1%, thấp còi (CC/T) 27,2%, gầy còm (CN/CC) là 13,7% Trong đó SDD thể nhẹ cân cao nhất ở nhóm tuổi từ 18 đến 23 tháng (28,6%), SDD thể thấp còi cao nhất ở nhóm tuổi từ 19 đến 24 tháng (34,7%) và SDD thể gầy còm cao nhất
ở nhóm tuổi từ 13 đến 18 tháng (19,6%) Kiến thức và thực hành CST (CST) của các bà mẹ chưa tốt: khoảng 65,2% bà mẹ có kiến CST đạt và chỉ có khoảng 43,5%
bà mẹ có thực hành CST đạt Các yếu tố liên quan cho thấy: cả hai thể SDD thấp còi và nhẹ cân liên quan đến giới tính (trẻ nam có nguy cơ SDD cao hơn trẻ nữ) và nhóm tuổi của trẻ, tỷ lệ này tăng dần theo độ tuổi của trẻ và kiến thức, thực hành CST của bà mẹ Ngoài ra, yếu tố không sử dụng nhà tiêu HVS mà đi tiêu ngoài vườn/ruộng, thói quen uống nước lã và kinh tế hộ gia đình cũng có liên quan đến SDD thể thấp còi
Từ kết quả trên cho thấy cần nâng cao kiến thức, thực hành CST cho đối tượng
bà mẹ; tổ chức các buổi tư vấn dinh dưỡng tại cộng đồng để nâng cao kiến thức CST cho các bà mẹ Cần triển khai những can thiệp đặc thù như chăm sóc dinh dưỡng sớm trước và trong thời kỳ mang thai Chính quyền địa phương cần có chính sách, vận động hỗ trợ trong công tác cung cấp nước sạch, xây dựng nhà tiêu HVS cho người dân để cải thiện TTDD của trẻ
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) trẻ em đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu ở các nước đang phát triển [46] Trên thế giới mỗi năm có hàng triệu trẻ em tử vong do các nguyên nhân liên quan đến SDD và có các biểu hiện kém phát triển về thể chất, tinh thần do bị SDD từ khi còn nhỏ [38] [52] Các bằng chứng khoa học đã cho thấy, những năm đầu tiên của cuộc đời (từ khi còn là bào thai đến 2 tuổi), nếu trẻ bị SDD có thể để lại những hậu quả về thể chất và tinh thần không phục hồi được và kéo sang thế hệ sau [38]
Trong những thập niên vừa qua Việt Nam được Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đánh giá là một trong số ít quốc gia có mức giảm SDD trẻ em gần đạt với Mục tiêu Thiên niên kỷ [15] Tuy nhiên, ở nước
ta hiện nay tỷ lệ SDD trẻ em <5 tuổi vẫn còn ở mức cao so với phân loại của WHO, đặc biệt là SDD thấp còi [1] [16] Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng năm
2014 tỷ lệ SDD ở trẻ em <5 tuổi theo chỉ số cân nặng/tuổi: 14,5%; chiều cao/tuổi: 24,9%[3] Bênh cạnh đó, tỷ lệ SDD ở các vùng nước ta phân bố không đồng đều và các yếu tố tác động thay đổi theo từng địa phương, từng khu vực và từng cộng đồng [2] [3] Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cũng là khu vực có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thấp còi cao, năm 2014 là 24% [2] Theo nghiên cứu của Nguyễn Cảnh Dũng năm 2011 về các yếu tố ảnh hưởng đến SDD trẻ em vùng sản xuất nông nghiệp ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ em ở vùng núi
và vùng dân tộc của tỉnh An Giang (22,6%) cao hơn các vùng khác trong tỉnh, thành thị 15,2%, vùng đồng bằng (19%)[11]
Ô Lâm là xã miền núi của huyện Tri Tôn tỉnh An Giang, chủ yếu là người dân tộc Khơ-me đang sinh sống (chiếm 97%) và tỷ lệ hộ nghèo là 21,47% Người dân sống chủ yếu là làm nông và làm thuê; tình trạng đất ruộng còn nhiễm phèn nặng, đời sống người dân còn nhiều khó khăn [22] Đặc điểm của đồng bào Khơ-me cư trú thành những cụm dân cư gọi là Phum, Sóc tương đối biệt lập với cộng đồng các dân tộc khác [24] Bên cạnh đó, thói quen lạc hậu như: thói quen uống nước lã vẫn còn; thói quen không làm nhà vệ sinh cố định mà đi vệ sinh tự do ngoài đồng; thói quen làm chuồng gia súc, gia cầm ngay trong nhà ở lẫn với người những thói quen
Trang 13này đã gây mất vệ sinh, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp, nghiêm trọng đến sức khoẻ con người [4] Giai đoạn trẻ từ khi sinh đến 2 tuổi là giai đoạn cửa sổ quan trọng để trẻ có thể phát triển về thể chất và hành vi Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng đây là thời điểm xuất hiện sự suy giảm về tăng trưởng, thiếu các vi chất quan trọng và tăng các bệnh nhiễm khuẩn thông thường như tiêu chảy, viêm đường
hô hấp [52] Sau khi trẻ qua 2 tuổi thì rất khó có thể chuyển biến được tình trạng thấp còi đã xảy ra trước đó [34] Giải quyết tốt vấn đề dinh dưỡng tối ưu trong thời
kỳ này sẽ làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, làm giảm nguy cơ các bệnh mãn tính
và góp phần tăng trưởng và phát triển tốt hơn cho trẻ [48] Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu khoa học nào được thực hiện tại địa phương về tình trạng dinh dưỡng (TTDD) của trẻ em 6-23 tháng tuổi và các yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt là các yếu tố đặc thù cho người dân tộc Khơ-me Nhằm đánh giá TTDD của trẻ và tìm
hiểu những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng đó Nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6-23 tháng tuổi người dân tộc Khơ-me tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn tỉnh An Giang năm 2016”
đã được thực hiện Nghiên cứu này sẽ cung cấp các bằng chứng khoa học, làm cơ sở
cho các can thiệp nhằm cải thiện TTDD của trẻ 6-23 tháng tuổi nói riêng và trẻ em nói chung ở địa phương Kết quả nghiên cứu cũng có thể áp dụng cho các địa bàn
có đặc điểm địa lý, dân số và kinh tế xã hội tương tự như địa bàn nghiên cứu
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6-23 tháng tuổi người dân tộc
Khơ-me tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2016
2 Mô tả kiến thức và thực hành nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ người dân tộc Khơ-me có con từ 6-23 tháng tuổi tại xã Ô Lâm Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2016
3 Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6-23 tháng tuổi người dân tộc Khơ-me tại xã Ô Lâm Tri Tôn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang năm 2016
Trang 15Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng, suy dinh dưỡng trẻ em, nuôi dưỡng trẻ nhỏ
1.1.1 Tình trạng dinh dưỡng:
Tình trạng dinh dưỡng (TTDD) là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và
hoá sinh phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khỏe, khi cơ thể thiếu hoặc thừa dinh dưỡng là thể hiện có vấn đề về sức khỏe hoặc vấn đề về dinh dưỡng [12] [42]
1.1.2 Phân loại và cách điều tra đánh giá
SDD là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăn của trẻ không đảm
bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, thiếu vi chất dinh dưỡng kèm theo là các bệnh nhiễm khuẩn [39] [42]
Phân loại SDD: dựa trên cân nặng, chiều cao của trẻ và so sánh với Chuẩn tăng
trưởng của WHO năm 2006, người ta chia SDD thành 3 thể:
- SDD thể nhẹ cân: cân nặng thấp hơn so với mức tiêu chuẩn của trẻ cùng tuổi
và giới (sử dụng điểm ngưỡng cân nặng theo tuổi dưới -2SD)
- SDD thể thấp còi: là giảm mức độ tăng trưởng của cơ thể, biểu hiện của SDD mạn tính, có thể bắt đầu sớm từ SDD sớm từ bào thai do mẹ bị thiếu dinh dưỡng Được xác định khi chiều cao thấp hơn với mức tiêu của trẻ cùng tuổi và giới (dưới -2SD)
- SDD thể gầy còm: là hiện tượng cơ và mỡ cơ thể bị teo đi, được coi là SDD cấp tính vì thường biểu hiện trong thời gian ngắn Được xác định khi cân nặng theo chiều cao (dưới -2SD) [12]
Một số phương pháp đánh giá TTDD: Nhân trắc học, điều tra khẩu phần và tập
quán ăn uống, khám lâm sàng, đặc biệt chú ý tới các triệu chứng dinh dưỡng kín đáo và rõ ràng, xét nghiệm sinh hóa (máu, nước tiểu…), các kiểm nghiệm chức phận để xác định các rối loạn chức phận do thiếu hụt dinh dưỡng, điều tra tình trạng bệnh tật và tử vong để tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng bệnh tật và dinh
Trang 16dưỡng, đánh giá các yếu tố sinh thái lên quan đến TTDD và sức khỏe [12] [41] Phương pháp nhân trắc học dinh dưỡng: Nhân trắc học dinh dưỡng là đo các kích thước và cấu trúc cơ thể để đánh giá TTDD Đó là kết quả tổng hợp của các yếu tố di truyền và môi trường bên ngoài, trong đó yếu tố dinh dưỡng có vai trò rất quang trọng Có thể chia ra các nhóm kích thước nhân trắc sau đây: Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng; các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều dài nằm, chiều cao đứng; cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và protein, thông qua các mô mềm bề mặt như lớp mỡ dưới da và cơ…
Ưu điểm của phương pháp nhân trắc học: đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn; các phương pháp chính xác khi áp dụng kỹ thuật chuẩn; trang thiết bị không đắt tiền, dễ mang vác vận chuyển; có thể xác định được mức độ SDD; Có thể khai thác và đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ; Có thể dùng để đánh giá sự biến đổi TTDD của nhiều thế hệ kế tiếp nhau như trên; các test sàng lọc nhằm xác định các cá thể có nguy SDD cao
Đánh giá:
Hiện nay, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị: coi thiếu dinh dưỡng khi cân nặng theo tuổi dưới 2 độ lệch chuẩn (-2SD) so với Chuẩn tăng trưởng của WHO
2006 Các chỉ số sử dụng đánh giá TTDD:
*Cân nặng theo tuổi: đây là chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất Điểm ngưỡng
là dưới -2SD được coi là SDD thể thiếu cân
-2SD đến +2SD Trên +2SD
*Chiều cao theo tuổi: chiều cao của trẻ được so sánh với trẻ cùng tuổi, cùng
giới của quần thể tham chiếu của WHO Thang phân loại dựa trên độ lệch chuẩn như sau:
Trang 17Mức độ Ngưỡng phân loại
Suy dinh dưỡng độ 1(thấp còi độ 1)
Suy dinh dưỡng độ 2 (thấp còi độ 2)
Bình Thường
Dưới -2SD đến ≥-3SD Dưới -3SD
-2SD trở lên Chỉ tiêu chiều cao/tuổi thấp (dưới -2SD) phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng kéo dài hoặc SDD trong quá khứ
*Cân nặng theo chiều cao:
Cân nặng/chiều cao thấp so với điểm ngưỡng là dưới -2SD theo quần thể tham chiếu WHO phản ánh SDD ở thời điểm hiện tại, mới xảy ra làm đứa trẻ ngừng lên cân hay tụt cân bị SDD thể gầy còm
Nếu chỉ tiêu CN/CC trên +2SD là trẻ có biểu hiện thừa cân
Khi cả hai chỉ tiêu chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao đều thấp hơn điểm ngưỡng (-2SD) đề nghị đứa trẻ đó bị SDD thể phối hợp (mạn tính và cấp tính), vừa gầy còm vừa thấp còi
WHO còn đề nghị phối hợp cả 3 chỉ số cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi
và cân nặng theo chiều cao để phân loại thiếu dinh dưỡng cấp hay quá khứ Đồng thời dùng 3 chỉ tiêu này để chia ra các thể lâm sàng biểu hiện thời gian bị bệnh Điểm ngưỡng cho các chỉ tiêu này được coi là bình thường là X± 2SD
Trong các đánh giá ở cộng đồng những chỉ số cân nặng theo tuổi thấp được gọi
là thể nhẹ cân, chiều cao theo tuổi thấp được gọi là thể thấp còi và cân nặng theo chiều cao thấp là thể gầy còm Sử dụng 3 chỉ tiêu đó WHO đã đưa ra ngưỡng phân loại (Bảng 1.1) để nhận định ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng như sau:
Bảng 1.1 Ngưỡng phân loại mức độ SDD theo WHO
Thấp Trung bình Cao Rất cao Thấp còi (Stunting) <20 20-29 30-39 ≥ 40 Nhẹ cân (Underweight) <10 10-19 20-29 ≥ 30 Gày còm (Wasting) < 5 5 -9 10 -14 ≥ 15
Trang 181.1.3 Các chỉ số về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
- Bú mẹ ngay sau sinh: trẻ được bú mẹ ngay trong một giờ đầu sau sinh;
- Nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn: là chỉ cho trẻ bú mẹ mà không cho ăn, uống bất cứ thức ăn, đồ uống nào khác kể cả nước chín, trừ các trường hợp phải uống bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc theo chỉ định của bác sỹ [12] [43]
- Ăn bổ sung (ABS): là cho ăn thêm các thức ăn khác ngoài sữa mẹ Các thức
ăn và chất lỏng thêm này được gọi là thức ABS vì chúng bổ sung cho sữa mẹ, chứ không hoàn toàn thay thế được sữa mẹ để cung cấp đủ chất dinh dưỡng Thức ABS phải là các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và đủ về mặt số lượng để trẻ có thể tiếp tục phát triển [12] [ 43]
- Thời điểm bắt đầu cho ABS: Từ khi tròn 6 tháng tuổi (180 ngày sau sinh), tốc
độ tăng trưởng của trẻ tăng lên nhiều vì vậy nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cũng tăng lên và sữa mẹ không thể đáp ứng nhu cầu này đặc biệt là một số vi chất dinh dưỡng (Fe, vitamin A…) Do đó, cần cho trẻ ABS ngoài sữa mẹ từ tháng tuổi 6 trở đi có sự thiếu hụt giữa mức tổng năng lượng cần cho trẻ và mức năng lượng do sữa mẹ cung cấp, trẻ càng lớn thì sự thiếu hụt này càng tăng Vì vậy đối với đa số trẻ, sau 6 tháng
tuổi là thời gian tốt cho bắt đầu ABS [12] [43]
- Số lượng bữa ăn tối thiểu: trẻ được bú sữa mẹ và không bú sữa mẹ từ 6 tháng tuổi trở lên được cho ăn thêm các loại thức ăn lỏng, đặc và thức ăn mềm (bao gồm
cả cho ăn sữa ngoài trong trường hợp trẻ không được bú sữa mẹ) nhiều hơn hoặc bằng số lượng bữa ăn tối thiểu Số lượng bữa ăn tối thiểu/ngày là: 2 lần với trẻ từ 6-
8 tháng tuổi được bú sữa mẹ; 3 lần đối với trẻ 9-23 tháng tuổi được bú sữa mẹ; 4 lần đối với trẻ 6-23 tháng tuổi không được bú sữa mẹ; 5-6 lần đối với trẻ 2-3 tuổi (3-4 bữa chính, 2 bữa phụ); trẻ từ 3 tuổi trở lên có thể ăn chung với gia đình
- Ăn đa dạng thực phẩm: Cần đảm bảo được ăn đủ 4 hoặc nhiều hơn 4 nhóm
thực phẩm: Nhóm chất bột, nhóm chất đạm, nhóm chất béo, nhóm vitamin và khoáng chất [12] [43]
Trang 191.2 Tình hình dinh dưỡng trẻ em trên Thế giới
Theo báo cáo về tình hình an ninh lương thực thế giới năm 2010, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy có giảm sau 15 năm (Hình 1.1) nhưng vẫn còn ở
mức cao so với “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ giảm một nửa tỷ lệ
SDD tại các nước đang phát triển từ 20% vào năm 1990-1992 xuống còn 10% vào năm 2015 (Hình 1.2) Trong đó 98% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang phát triển và chiếm đến 16% dân số thế giới [46] [47]
Hình 1 1 Số người SDD trên thế giới,
1969-1971đến năm 2010
Hình 1 2 Tỷ lệ người SDD ở các nước đang phát triển, 1969-1971đến
năm 2010 SDD thấp còi có mức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân Ở các nước đang phát triển, trẻ ở nông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần so với trẻ ở thành phố [52] [53].Theo báo cáo của UNICEF (2009), 80% trẻ bị SDD thể thấp còi sống ở các nước đang phát triển, trong đó Ấn Độ là nước có số trẻ bị SDD thể thấp còi cao nhất 60,8 triệu trẻ (chiếm 48%) sau đó là đến Trung Quốc, Việt Nam đứng thứ 13 với 2,6 triệu trẻ (chiếm 36%) Có 17 nước có tỉ lệ trẻ dưới 5 tuổi SDD thể nhẹ cân trên 30% trong đó chỉ có 4 nước là Banglades, Ấn Độ, Đông Timor, Yemen
có tỉ lệ này trên 40% Một số nước như Ai Cập, Mongoria, Irag, Anbania, Peru, có
sự chênh lệch khá lớn giữa thể SDD nhẹ cân và thấp còi, trong khi tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân dưới 6% thì tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi trên 25% Tốc độ giảm tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở khu vực châu Á cao hơn so với khu vực châu Phi Nếu như năm 1990 đến năm 2008, tỷ lệ này giảm từ 37% xuống 31% với châu Á thì ở châu Phi tỷ lệ này chỉ
Trang 20giảm từ 28% xuống 25% Các nước châu Á, châu Phi có tỷ lệ SDD thể gầy còm trên 15% bao gồm: Banglades (17%); Ấn Độ (20%); Sudan (16%) và nước có tỷ lệ này cao nhất là Đông Timor (25%) với 8% ở mức độ rất nặng Báo cáo này cũng chỉ ra
tỷ lệ cho bú sớm sau 1 giờ sau sinh ở châu Phi cao hơn châu Á (47% và 31%) tuy nhiên tỷ lệ số gia đình sử dụng muối I-ốt ở châu Á cao hơn châu Phi (73%và 60%),
tỷ lệ trẻ em được sử dụng vitamin A ở hai khu vực này là xấp xỉ bằng nhau [52].Trong năm 2013 trên toàn thế giới, ước tính có 161,5 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị còi cọc, 50,8 triệu có cân nặng thấp hơn chỉ số cân nặng theo chiều cao và 41,7 triệu trẻ thừa cân hoặc béo phì; khoảng 36% trẻ sơ sinh từ 0 đến 6 tháng tuổi được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ; có rất ít trẻ em nhận được sự cân bằng dinh dưỡng và các loại thực phẩm bổ sung an toàn; tại nhiều nước không đến một phần tư trẻ sơ sinh từ 6 đến 23 tháng tuổi đáp ứng tiêu chuẩn đa dạng chế độ ăn uống và việc cho ăn phù
hợp với lứa tuổi của chúng [45]
1.3 Tình hình dinh dưỡng trẻ em ở ViệtNam
Việt Nam trong những năm gần đây cũng đã thấy được sự cải thiện TTDD, nền kinh tế phát triển hơn và hoạt động có hiệu quả của ngành Y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng [39] Tuy nhiên, SDD vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam [44] Theo kết quả tổng điều tra của Viện Dinh dưỡng năm
2015, tỷ lệ trẻ em SDD thể nhẹ cân là 14,1% được đánh giá là mức độ cao trung bình, SDD thể thấp còi là 24,6% được xem là vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, SDD gầy còm ở mức 5-10% là mức trung bình của WHO [13] [44]
(Nguồn: Viện Dinh dưỡng)
Hình 1.3 Diễn biến SDD trẻ em dưới 5 tuổi giai đoạn 2008 -2015
Trang 21Qua hình 1.3 cho thấy trong những năm gần đây, tỷ lệ SDD trẻ dưới 5 tuổi đang
có xu hướng giảm đều qua các năm Với SDD thể nhẹ cân năm 2008 từ 19,9% đến năm 2015 tỷ lệ này chỉ còn 14,1%, trung bình mỗi năm giảm 0,73%; với SDD thể thấp còi, năm 2008 là 32,6% đến năm 2015 còn 24,6%, trung bình mỗi năm giảm 1%
Phân bố SDD theo khu vực: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái, nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng Trong khu vực đồng bằng thì tỷ lệ SDD nông thôn cũng cao hơn ở thành thị Tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nguyên (21,6% với SDD nhẹ cân và 34,2% với SDD thấp còi)
Ở vùng Đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp hơn so với các vùng khác (9,1% với SDD nhẹ cân và 19,3% với SDD thấp còi), thấp nhất trong các vùng sinh thái của cả nước Riêng tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất ở vùng Tây Nguyên (34,2%), Trung du và miền núi phía Bắc (30,3%), thấp nhất ở vùng đồng bằng Sông Hồng (21,8%) và vùng Đông Nam Bộ (19,3%) [44] SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội của người dân Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở vùng nông thôn (17,9%) cao hơn vùng thành thị (14,1%) và vùng nghèo (27%) cao hơn so với vùng bình thường (14%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn (28,9%) cao hơn vùng thành thị (19,1%) và vùng nghèo (35,7%) cao hơn so với vùng không nghèo (25,6%) [44]
Trang 22Bảng 1.2 Tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi theo từng khu vực
Toàn quốc và
khu vực N
SDD cân/tuổi (%) SDD cao/tuổi (%) SDD
cân/cao (%) Chung Độ I Độ II Độ III Chung Độ I Độ II
Toàn quốc 98.477 14,1 12,2 1,7 0,2 24,6 16,4 8,2 6,4
ĐB sông Hồng 18.100 10,8 9,5 1,2 0,1 21,8 16,8 5,0 5,5 Trung du và
miền núi phía
ĐBS Cửu Long 19.760 12,2 10,7 1,3 0,2 23,5 15,3 8,2 6,8
Nguồn: Số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2015 của Viện Dinh dưỡng
Phân bố SDD theo nhóm tuổi: Tỷ lệ SDD ở nhóm trẻ dưới 6 tháng tuổi là thấp nhất đối với cả 3 thể (nhẹ cân, thấp còi và gầy còm), sau đó SDD tăng dần Thời kỳ trẻ 6-23 tháng là thời kỳ trẻ có nguy cơ bị SDD cao nhất SDD thể nhẹ cân tăng nhanh trong năm đầu tiên, tiếp tục tăng trong năm thứ 2 và đạt tỷ lệ cao nhất lúc trẻ được 36 - 41 tháng tuổi SDD thấp còi xuất hiện sớm ngay trong 6 tháng tuổi đầu tiên, tăng nhanh từ tháng 6 đến 23 tháng và gần như đi ngang, thậm chí giảm vào độ tuổi 54-59 tháng [13] [44]
Theo báo cáo của Alive & Thrive, Điều tra tại 11 tỉnh cho thấy tỷ lệ SDD trẻ từ 6 đến 23,9 tháng tuổi theo các thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm lần lượt 8,4%, 15,3%, 3,6% Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân ở trẻ em trai cao hơn so với trẻ gái: 11,4% trẻ em trai so với 7,6% trẻ gái bị thấp còi; 6,4% trẻ em trai so với 5,1% trẻ gái bị nhẹ cân
Tỷ lệ thấp còi và nhẹ cân tăng dần theo tuổi của trẻ, trong nhóm trẻ từ 18 đến 23,9 tháng tuổi, 20,8% trẻ bị thấp còi và 10,7% trẻ bị nhẹ cân [35]
Trang 23Nghiên cứu của Trần Thành Đô tại vùng Núi Phía Bắc và Tây Nguyên Kết quả cho thấy, tỷ lệ trẻ <2 tuổi SDD nhẹ cân, thấp còi 24,8%, 41,3%, trong đó trẻ trai có
tỷ lệ thấp còi cao hơn trẻ gái khoảng 30% (p<0,05) và tỷ lệ này tăng nhanh theo nhóm tuổi từ 22% ở nhóm 0-5 tháng đến 62% ở nhóm 18-23 tháng (p<0,01) và trẻ trai có tỷ lệ SDD nhẹ cân cao hơn có ý nghĩa thống kê so với bé gái với p<0,01 (29,1% so với 19,9%) và tỷ lệ này tăng dần theo nhóm tuổi từ 15% ở nhóm 0-5 tháng đến 32% ở nhóm 18-23 tháng [9]
1.4 Nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng đến suy dinh dưỡng ở trẻ
SDD ở trẻ ngoài những hậu quả ngay lập tức như tử vong và tàn phế, nó còn ảnh hưởng đến tương lai của trẻ như tăng trưởng thể chất, khả năng sinh sản, suy nghĩ/trí thông minh và khả năng lao động của trẻ sau này Mức độ ảnh hưởng của SDD tùy thuộc vào mức độ và thời gian trẻ bị SDD Có rất nhiều nguyên nhân, yếu
tố ảnh hưởng đến tình trạng SDD ở trẻ, mô hình nguyên nhân - hậu quả của UNICEF đã giúp khái quát những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó [40]
1.4.1 Nguyên nhân trực tiếp
Theo các nghiên cứu trên lâm sàng và ngoài cộng đồng đã chứng minh nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến TTDD của trẻ dưới 5 tuổi là khẩu phần ăn của trẻ và tình trạng bệnh tật Ở trẻ có khẩu phần ăn không hợp lý thì khả năng bị SDD sẽ cao hơn và dễ bị bệnh hơn những trẻ có khẩu phần chế độ ăn hợp lý Ngoài ra việc trẻ bị bệnh như tiêu chảy kéo dài, viêm đường hô hấp mà không được điều trị và có chế
độ ABS hợp lý thường có nguy cơ bị SDD và tử vong cao và ngược lại trẻ bị SDD thường có khả năng mắc bệnh cao hơn so với trẻ bình thường [21]
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến TTDD trẻ nhỏ, nhưng yếu tố chính là hậu quả của thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (NDTN) không hợp lý [51] Đặc biệt quan trọng trong 24 tháng đầu đời vì ở độ tuổi này tình trạng thấp còi và nhẹ cân tăng nhanh Điều tra quốc gia cho thấy tại Việt Nam, NCBSM hoàn toàn vẫn còn thấp, chỉ 61,7% trẻ được bú mẹ trong vòng 1 giờ đầu sau sinh và chỉ 1/5 trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Tỷ lệ tiếp tục NCBSM đến 24 tháng tuổi vẫn chỉ đạt 22,1% [50] Đảm bảo ĂBS đúng lúc, thích hợp và an toàn cũng là một vấn đề đáng lo ngại tại Việt Nam khi 38% trẻ được ĂBS trước 6 tháng tuổi [54] Trong số trẻ từ 6 đến
Trang 2423 tháng tuổi, hơn ¼ không được ăn khẩu phần đa dạng và khoảng ½ trẻ không được ăn khẩu phần đủ bữa và đa dạng [50] Ngoài ra, ngày càng nhiều bà mẹ cho trẻ
ăn sữa bột trong năm đầu tiên, tỷ lệ này là 2% năm 2000 đến năm 2005 đã tăng lên 26% [49]
Theo báo cáo điều tra ban đầu tại Tiền Giang năm 2012 của Alive & Thrive Kết quả cho chỉ 43,7% trẻ được cho bú mẹ trong vòng 1 giờ sau sinh, bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu 1,6% và 52,7% trẻ được bú mẹ là chủ yếu Cho trẻ được cho ABS 6-8 tháng 96%, Tỷ lệ trẻ tiếp tục bú mẹ đến 1 năm tuổi khá cao (73,5%), nhưng tỷ lệ tiếp tục bú mẹ đến 2 năm tuổi giảm xuống còn 9,3% Tỷ lệ trẻ có khẩu phần ăn đa dạng và ăn đủ bữa 82% Thói quen rửa tay với xà phòng và nước vào những thời điểm quan trọng trước khi nấu ăn (28,8%) và lau rửa cho trẻ sau khi trẻ
đi vệ sinh (27%)
Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009, nguy cơ SDD nhóm trẻ có tiêu chảy tăng gấp 4,3 lần so với nhóm không tiêu chảy (p<0,05), trẻ bị nhiễm khuẩn hô hấp trong tháng qua cao hơn 2,1 lần trẻ không bệnh (p<0,05) [30] Kết quả nghiên cứu của Đặng Oanh tại một số khu tái định cư vùng di dân lòng hồ thủy điện ở khu vực Tây Nguyên năm 2012 cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân ở nhóm trẻ bị nhiễm trùng hô hấp trong 2 tuần qua là 48,4%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không mắc bệnh 27,2% (p<0.001) [27] Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Chiến năm 2011 tại huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long cho thấy nguy cơ bị SDD của trẻ bị tiêu chảy cao hơn nhóm không bệnh 2,73 lần (p<0,05), trẻ bị ho cao hơn nhóm không bệnh 2,35 lần (p<0,05)[6]
Tóm lại ba yếu tố bệnh tật, chế độ ăn/khẩu phần ăn và tình trạng SDD có sự ảnh hưởng qua lại, khi có 1 trong 3 yếu tố đó dễ dẫn đến 2 yếu tố còn lại Vì vậy để chống SDD của trẻ nhỏ phải cho trẻ ăn khẩu phần ăn phù hợp với trẻ và điều trị kịp thời khi trẻ có dấu hiệu mắc bệnh [39] [ 40]
Trang 251.4.2 Nguyên nhân tiềm tàng
Nguyên nhân dẫn đến khẩu phần ăn của trẻ không hợp lý là nguồn lương thực trong gia đình và kiến thức, thực hành CST Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng những vùng có tỷ lệ hộ nghèo hoặc những vùng không sản xuất cây lương thực hoặc kinh
tế kém phát triển thường có tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD cao, tại đây trẻ thường không được ăn đủ bữa và đủ chất cần thiết cho sự phát triển của trẻ Ngoài ra, với những bà mẹ có kiến thức và thực hành không tốt sẽ dẫn đến cho trẻ ăn những khẩu phần không hợp lý [39] [40]
Nguyên nhân dẫn đến bệnh tật của trẻ là cách chăm sóc bà mẹ/trẻ em và môi trường sống Những bà mẹ không được chăm sóc tốt khi mang thai hoặc bị bệnh thường có xu hướng sinh con bị nhẹ cân hoặc bị dị tật Những đứa trẻ không được chăm sóc đúng cách dễ mắc bệnh hơn Bên cạnh yếu tố về chăm sóc yếu tố môi trường sức khỏe cũng có tác động to lớn đến bệnh tật của trẻ Những nơi có dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẵn có thì trẻ ít bị bệnh hơn hoặc bị bệnh nhẹ hơn so với những trẻ sống ở những nơi cách xa nơi chăm sóc sức khỏe Những trẻ sống ở những nơi
có nước sạch và môi trường sạch thì ít bị mắc các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa [39] [ 40] Vòng xoắn bệnh lý giữa các bệnh nhiễm trùng ở trẻ em và SDD đã được chứng minh Bệnh nhiễm trùng dẫn đến SDD, SDD dẫn đến bệnh nhiễm trùng
và vòng xoắn bệnh lý cứ thế tiếp diễn nếu không có can thiệp hoặc xử trí phù hợp Nhiễm trùng, đặc biệt là tiêu chảy ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em Các tổn thương đường tiêu hóa làm tăng hao hụt các chất dinh dưỡng, giảm hấp thu, đặc biệt các vi chất dễ đưa đến SDD do rối loạn tiêu hoá Và ngược lại, SDD dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do sức đề kháng giảm Bên cạnh đó, các bệnh nhiễm trùng khác cũng ảnh hưởng nhiều tới dinh dưỡng như nhiễm khuẩn đường hô hấp, sởi và các bệnh kí sinh trùng đường ruột Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra SDD, thiếu máu ở trẻ em Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với cường độ cao và trong một thời gian dài có thể gây SDD như thấp còi, nhẹ cân
và ở những trường hợp nặng có thể gây tử vong [43]
Khảo sát của Bùi Xuân Minh, kết quả phân tích cho thấy đối với nhóm gia đình
sử dụng hố xí không hợp vệ sinh thì tỷ lệ trẻ SDD thấp còi cao hơn trong nhóm có
Trang 26sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) [23] Theo nghiên cứu của Phạm Thị Tâm (2009), những bà mẹ có kiến thức CST kém thì nguy trẻ bị SDD cao gấp 3,5 lần so với nhóm có kiến thức CST đúng p<0,05[30] Nghiên cứu của Lê Thị Hương cũng cho thấy tỷ lệ SDD nhẹ cân có mối liên quan đến học vấn của bà mẹ thấp p<0,05 [17]
Theo Trần Xuân Huyền, uống viên sắt khi mang thai nguy cơ SDD nhẹ cân, thấp còi ít hơn trong nhóm không uống OR=0,4 (p<0,05); có mối liên quan giữa chế
độ của bà mẹ khi mang thai và SDD của trẻ, những bà mẹ ăn nhiều hơn khi mang thai trẻ SDD nhẹ cân thấp hơn 0,6 lần, trẻ SDD thấp còi thấp hơn 0,7 lần so với nhóm có chế độ ăn bình thường [19] Theo Nguyễn Thị Vũ Thành và cộng sự (2005) tại xã Sơn Đồng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây bà mẹ có chế độ nghỉ ngơi nhiều khi mang thai thì trẻ sinh ra giảm nguy cơ SDD (p<0,05) [31]
Kết quả nghiên cứu của Đặng Oanh tại một số khu tái định cư vùng di dân lòng
hồ thủy điện ở khu vực Tây Nguyên năm 2012 cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi trong nhóm bà mẹ không có sự hỗ trợ CST từ gia đình (50%) cao hơn trong các nhóm có
sự hỗ trợ CST(45,1%), sự khác biệt này có ý nhĩa thống kê p<0,01; tỷ lệ SDD nhẹ cân trong nhóm bà mẹ có sự hỗ trợ CST (30,8%) thấp hơn trong nhóm có sự hỗ trợ CST(42,7%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05 [27]
1.4.3 Nguyên nhân gốc rễ
Đói nghèo là nguyên nhân chính dẫn đến hàng loạt các nguyên nhân kể trên Đói nghèo dẫn đến việc trẻ phải sống trong môi trường không an toàn, không đảm bảo vệ sinh, không được khám chữa bệnh kịp thời Đói nghèo dẫn tới việc không đủ
ăn hoặc ăn uống không đủ chất Ngoài ra đói nghèo dẫn đến bà mẹ không được chăm sóc đúng cách khi mang thai, sinh con, nuôi con Đói nghèo là nguyên nhân làm cho kiến thức, khả năng CST bị hạn chế Song song với đói nghèo, cấu trúc kinh tế xã hội đóng vai trò khá lớn đến tình trạng SDD trẻ nhỏ Ở các nước phát triển tình trạng SDD ở trẻ nhỏ là rất thấp không đáng kể ngược lại ở các nước đang phát triển hoặc các nước nghèo tình trạng SDD này khá cao Ngoài nguyên nhân cấu trúc kinh tế, tình trạng SDD còn chịu ảnh hưởng bởi nguyên nhân chính trị, văn hóa xã hội, khoa học công nghệ và con người [39] [40]
Trang 27Nghiên cứu của Phạm Thị Tâm năm 2009, kết quả có 52,2% trẻ SDD ở những gia đình thuộc diện nghèo của xã và 24,2% trẻ SDD ở những hộ không nghèo, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05 [30] Theo tác giả Trần Xuân Huyền tỷ lệ SDD nhẹ cân trong nhóm nghèo cao hơn trong nhóm không nghèo 1,8 lần (p<0,05);
tỷ lệ SDD thấp còi trong nhóm nghèo cao hơn 1,7 lần so nhóm không nghèo (p<0,05) [19]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng
2013, tỷ lệ SDD ở trẻ dân tộc thiểu số cao hơn dân tộc kinh ở cả 3 thể (nhẹ cân 22,8% và 8,6%, thấp còi 34,6% và 22,3%, gầy còm 3,7% và 2,8%) Ở vùng kinh tế càng khó khăn thì tỷ lệ SDD càng cao [25]
Qua đó cho thấy SDD ở nước ta vẫn còn ở mức cao đặc biệt là SDD thấp còi, các nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi cho thấy trẻ ở những vùng miền núi, người dân tộc thường có tỷ lệ SDD rất cao Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc điểm của trẻ: tuổi, giới, CNSS; các yếu tố bà mẹ, trình độ học vấn thấp, kinh tế gia đình khó khăn, đặc thù nghề nghiệp, điều kiện môi trường sống của gia đình chưa đảm bảo vệ sinh, kiến thức thực hành nuôi con chưa tốt Đa số các nghiên cứu đề cập đến SDD ở người kinh, chưa đề cập nhiều đến những đặc điểm đặc thù của người dân tộc ít người
1.5 Thông tin về địa bàn nghiên cứu
1.5.1 Thông tin chung về huyện Tri Tôn:
-Vị trí địa lý:Tri Tôn là huyện miền núi nằm về hướng Tây Nam của tỉnh An
Giang, phía Bắc và Đông Bắc Tri Tôn giáp huyện Tịnh Biên và nước bạn Campuchia, phía Đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Kiên Lương, Hòn Đất (tỉnh Kiên Giang) Về hành chính gồm 2 thị trấn Tri Tôn, Ba Chúc và 13 xã Trong đó thị trấn Tri Tôn là trung tâm huyện lỵ Tri Tôn có diện tích tự nhiên khoảng 60.039 ha và 17,2 km đường biên giới với Campuchia Trong đó đất nông nghiệp chiếm 74,48%, đất lâm nghiệp chiếm khoảng 8,89%, còn lại là đất ở và đất chuyên dùng Địa hình đa dạng, vừa có đồi núi, vừa
có đồng bằng với nhiều kênh mương lớn nhỏ ngang dọc [7]
Trang 28- Dân số - Kinh tế - Văn hóa – Xã hội: Với tổng số dân là 132.903 người (trẻ
em dưới 5 tuổi 11.810 trẻ) trong đó người dân tộc khơ-me chiếm 34,02% [5] Toàn huyện có 04 trường THPT, 15 trường THCS, 27 trường tiểu học, 19 nhà trẻ, mẫu giáo [8] Về kinh tế, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và dịch vụ.Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 là 34,250 triệu đồng/người/năm Tỷ lệ hộ nghèo 12,09%, tỷ lệ hộ sử dụng điện đạt trên 89%, tỷ lệ hộ sử dụng nước hợp vệ
sinh 91,5% [28]
- Thông tin về Y tế: Mạng lưới Y tế được đầu tư xây dựng theo chuẩn quốc gia
từ thành phố đến cơ sở Toàn huyện có 01 bệnh viện đa khoa, 01 phòng Y tế, 01 Trung tâm Y tế, 01 phòng khám khu vực, 02 nhà hộ sinh tư và 15 Trạm Y tế (TYT) [5] Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được đặc biệt quan tâm, các hoạt động y
tế ở cộng đồng được tăng cường, công tác chăm sóc sức khỏe ở cơ sở được chú trọng, 86% trạm Y tế đều đạt chuẩn quốc gia về y tế xã [8]
1.5.2 Thông tin về xã Ô Lâm:
Ô Lâm là xã miền núi của huyện Tri Tôn tỉnh An Giang với diện tích tự nhiên
là 30,01ha Có hai dân tộc cùng sinh sống là Kinh và Khơ-me, trong đó dân tộc Khơ-me chiếm 97% Toàn xã có 6 ấp, ấp cách Trạm Y tế khoảng 3 km, phương tiện
đi lại của người dân bằng xe đạp và xe máy Từ trung tâm xã đến Trung tâm huyện
là 12 km, dân số của xã là 11.483 người (3100 hộ), số trẻ dưới 5 tuổi: 1.197 trẻ trong đó khoảng 38 trẻ em người kinh, số trẻ em <2 tuổi người dân tộc Khơ-me là
432 trẻ (số trẻ 0-5 tháng là 99 trẻ, trẻ từ 6-23 tháng là 333 trẻ) Trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán một số ít còn lạc hậu, tình trạng mê tín dị đoan vẫn còn Hộ nghèo chiếm 21,47%, người dân sống chủ yếu làm nông, làm thuê Tình trạng đất ruộng còn nhiễm phèn nặng, nông dân còn thiếu kinh nghiệm nên năng suất chưa cao, đời sống người dân còn nhiều khó khăn [22]
Trang 29Thông tin tƣ vấn chăm sóc trẻ cho
Yếu tố bà mẹ:
- Tuổi sinh con quá trẻ hay quá cao
- Trình độ học vấn thấp
- Nghề nghiệp làm, ruộng, làm thuê
- Sinh nhiều con
- Kiến thức, thực hành chăm sóc nuôi dƣỡng trẻ
kém: (Chăm sóc dinh dƣỡng khi có thai chƣa tốt,
nuôi con bằng sữa mẹ, cho trẻ ăn bổ sung chƣa hợp
lý, chăm sóc khi trẻ bị bệnh, tiêm chủng cho trẻ)
Tình trạng SDD ở trẻ
tháng tuổi tại xã Ô Lâm
Trang 30Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, mô tả có phân tích
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:
2.1.1.Đối tượng nghiên cứu:
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Trẻ người dân tộc Khơ-me từ 6 đến 23 tháng tuổi tính đến thời điểm tiến hành điều tra và bà mẹ của trẻ đang sinh sống tại xã Ô Lâm huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ em bị các dị tật bẩm sinh: tim bẩm sinh, hở hàm ếch, bại não, trẻ đang bị bệnh nặng
- Những bà mẹ có vấn đề về sức khỏe không trả lời được phỏng vấn (câm, điếc, tâm thần)
2.1.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2016
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:
Xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang
2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.1 Cỡ mẫu:
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên đơn
d
q p Z
2 ).
/ 1 (
Trong đó:
n: Cỡ mẫu
Z 1-α/2 : giá trị z thu được từ bảng z ứng với giá trị α được chọn
(với mức ý nghĩa thống kê α=0,05 thì z=1,96)
p=0,247 (tỷ lệ SDD của trẻ <5 tuổi nghiên cứu tại huyện Yên Chấn, Yên Bái 2013)
d: Sai số cho phép 5% (d = 0,05)
Trang 31Thay số vào công thức: ta được n = 285,8
2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
Do số trẻ 6-23 tháng của xã là 313 trẻ nên chọn mẫu toàn bộ
Chọn tất cả các bà mẹ có con từ 6 đến 23 tháng tuổi và trẻ tính đến thời điểm điều tra, đang sinh sống tại xã Ô Lâm (313 trẻ), nếu bà mẹ có nhiều hơn một trẻ trong độ tuổi thì chọn một trẻ nhỏ nhất tham gia nghiên cứu
2.4 Phương pháp thu thập số liệu
Lập danh sách tất cả các bà mẹ người dân tộc Khơ-me có con từ 6-23 tháng tuổi
và trẻ; cộng tác viên y tế mời trẻ theo danh sách đến điểm cân đo trẻ và phỏng vấn
bà mẹ theo từng nhóm nhỏ từ 1-5 người Địa điểm phỏng vấn là Văn phòng ấp hoặc nhà của bà mẹ có vị trí thuận tiện để đặt cân thước và bà mẹ ngồi chờ; quá trình thu thập số liệu được thực hiện theo từng cặp mẹ con một, điều tra viên trao đổi với bà
mẹ về mục đích điều tra và xác nhận sự đồng ý tham gia nghiên cứu của bà mẹ sau
đó tiến hành cân đo trẻ trước và phỏng vấn bà mẹ theo phiếu, ngôn ngữ sử dụng phỏng vấn là tiếng Việt trong quá trình phỏng vấn nếu bà mẹ chưa hiểu rõ thì người chồng, hoặc cộng tác viên y tế là người hỗ trợ phiên dịch để bà mẹ hiểu và trả lời 2.4.1 Cân, đo:
Các chỉ số cân nặng và chiều cao của trẻ ghi vào phiếu phỏng vấn bà mẹ (Phụ lục 1)
*Cân nặng: Sử dụng cân lòng máng Nhơn Hòa Kết quả được ghi theo kg với
một số lẻ
- Chuẩn bị cân: Chọn mặt phẳng vững chắc để làm nơi đặt cân
- Kiểm tra cân trước và trong khi sử dụng: chỉnh cân về vị trí 00 kg, trong thời gian sử dụng 2 lần/ngày và mỗi khi chuyển đến địa điểm cân mới, thỉnh thoảng phải kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng vật chuẩn 5 kg
- Thực hành cân: Khi cân trẻ cởi bỏ khăn mũ, giày dép, áo khoác
* Đo chiều dài nằm (trẻ <24 tháng tuổi): Sử dụng bằng thước đo chuyên dụng
của chương trình phòng chống SDD Kết quả ghi theo centimet với một số lẻ
Trang 32- Chọn địa điểm đo chiều dài của trẻ: thước đo được đặt trên mặt bàn thấp khoảng 50-60 cm Bàn đặt thước phải chắc chắn để đề phòng trẻ giẫy có thể bị ngã xuống
- Thực hành đo: Đặt thước cố định trên mặt bàn với thanh trượt vuông góc với mặt thước và cần hai người để có thể đo chính xác Đọc kết quả đo với độ chính xác 0,1cm Khi đo bỏ giày dép, nơ cột tóc của trẻ và nhờ bà mẹ hỗ trợ trong quá trình cân đo để trẻ hợp tác, kết quả sẽ chính xác hơn
2.4.2 Phỏng vấn:
Thông tin chung của trẻ và bà mẹ; thông tin về yếu tố gia đình, thông tin tư vấn CST, kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ: Điều tra viên sử dụng bảng hỏi để phỏng vấn từng bà mẹ đến khi thu thập đầy đủ các thông tin cần thu thập (Phụ lục 1)
2.5 Các biến số nghiên cứu (Phục lục 5)
Các nhóm biến bao gồm: thông tin về trẻ, thông tin về nhân khẩu học cả bà mẹ,
thông tin về điều kiện sống của gia đình, thông tin về chăm sóc thai của bà mẹ, thông tin CST, kiến thức về CST và thực hành CST của bà mẹ
2.6 Các thước đo, tiêu chí đánh giá tình trạng dinh dưỡng
2.6.1 Tiêu chí phân loại suy dinh dưỡng
Phân loại SDD theo 3 chỉ tiêu: cân nặng/tuổi (CN/T), chiều cao/tuổi (CC/T) và cân nặng trên chiều cao (CN/CC) Áp dụng Chuẩn tăng trưởng của WHO 2006
Để so sánh người ta thường tính ra Z- Score theo công thức:
Trong đó : X = kích thước thực tế đo được
M = số trung bình của quần thể tham khảo
SD = độ lệch chuẩn của quần thể tham khảo
SD
M X Score
Trang 33Bảng 2.2 Phân loại SDD theo WHO 2006Chỉ số Z-score Cân nặng/tuổi Chiều cao/tuổi Cân nặng/chiều cao
SDD gầy còm nặng
2.6.2 Đánh giá kiến thức, thực hành của bà mẹ (Phụ lục 2, 3)
- Đánh giá kiến thức: kiến thức đúng về CST bao gồm 12 câu hỏi, từ câu F1 đến câu F12 Mỗi câu hỏi tương ứng với số điểm nhất định được phân loại tùy theo mức
độ quan trọng của câu hỏi và phương án trả lời Dựa vào phần trả lời các câu hỏi và theo thang điểm để tính điểm Điểm kiến thức là tổng điểm của các tiểu mục kiến thức Điểm tối đa cho phần trả lời 12 câu hỏi là 18 điểm Đánh giá “Kiến thức đạt” khi số điểm trả lời >70% tổng số điểm tương đương 13 điểm
- Đánh giá thực hành: thực hành đúng về CST bao gồm 12 câu hỏi, từ câu G1
đến câu G12 Mỗi câu hỏi tương ứng với số điểm nhất định được phân loại tùy theo mức độ quan trọng của câu hỏi và phương án trả lời Dựa vào phần trả lời các câu hỏi và theo thang điểm để tính điểm Điểm tối đa cho phần trả lời của 12 câu hỏi là
15 điểm Đánh giá “Thực hành đạt” khi số điểm trả lời >70% tổng số điểm tương đương 11 điểm
2.7 Xử lý và phân tích số liệu
- Sau khi thu thập, các phiếu điều tra đã được kiểm tra lại các thông tin thu thập
và làm sạch số liệu Số liệu cân đo trẻ được nhập và xử lý bằng phần mềm Who Anthro để tính toán các chỉ số về cân nặng theo tuổi, chiều cao theo tuổi và c6n nặng theo chiều cao theo Z-score và kết quả này được chuyển sang phần mềm SPSS
để phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo Z-score; thông tin chung của trẻ và
bà mẹ; thông tin về yếu tố gia đình, thông tin tư vấn CST, kiến thức, thực hành dinh dưỡng được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.0 và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0
Trang 34- Tỷ lệ phần trăm và phân bố tần suất được dùng để mô tả các biến định tính
- Sử dụng các thuật toán thống kê phân tích: Sử dụng hồi quy logistic đơn biến tính OR và khoảng tin cậy 95% để xác định độ mạnh của sự kết hợp Giá trị p<0,05 (Wald test) được sử dụng làm bằng chứng của mối liên quan, đối với những biến độc lập có 3 nhóm trở lên thì giá trị p chung thể hiện mối liên quan của toàn biến đối với tình trạng dinh dưỡng Sau đó chọn những biến có giá trị p<0,05, các biến được ghi nhận có mối liên quan đến TTDD của trẻ trong các y văn đưa vào phân tích hồi quy logistic đa biến để kiểm soát yếu tố nhiễu và xác định mối liên quan của từng biến độc lập với thể SDD nhẹ cân, thấp còi
2.8 Vấn đề đạo đức nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng đạo đức trường Đại học Y
tế Công cộng và cho phép tiến hành nghiên cứu theo quyết định số 171/2016/YTCC-HD3 ngày 03/3/2016;
- Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giải thích rõ ràng, cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu Đối tượng tự nguyện tham gia vào nghiên cứu và được quyền dừng ở bất kỳ ở thời điểm nào trong quá trình phỏng vấn;
- Tất cả các thông tin thu được chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho mục đích khác;
- Đảm bảo hoàn toàn giữ bí mật các thông tin thu được;
- Cán bộ nghiên cứu tôn trọng sự lựa chọn trả lời và quan điểm của họ;
- Kết quả thu được của nghiên cứu được phản hồi tới các cơ sở tham gia nghiên cứu và cùng tìm biện pháp khắc phục trong thời gian tới
2.9 Hạn chế của nghiên cứu
- Nghiên cứu tìm hiểu tình trạng SDD của trẻ 6 -23 tháng tuổi ở 3 thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm nhưng chỉ phân tích số yếu tố liên quan đến tình trạng SDD nhẹ cân, thấp còi của trẻ không đề cập đến thể gầy còm và béo phì
- Phần thực hành CST của bà mẹ chỉ phỏng vấn kiến thức thực hành của bà mẹ không được quan sát các thực hành trên thực tế
Trang 352.10 Sai số và biện pháp khắc phục
2.10.1 Sai số
- Sai số khi cân đo: Khi cân mà trẻ cầm đồ chơi, tay bà mẹ chạm vào trẻ, trẻ
mặc nhiều quần áo và chưa bỏ nón, dép; cân để nơi không bằng phẳng; khi đo trẻ
chưa nằm, mắt chưa nhìn thẳng
- Sai số do câu từ khó hiểu;
- Sai số nhớ lại của bà mẹ, hay trả lời qua loa;
- Sai số do điều tra viên: Ghi chép thông tin không cẩn thận, ghi số khó nhìn,
gợi ý trả lời cho bà mẹ hay tạo không khí căng thẳng cho bà mẹ;
- Sai số khi nhập số liệu
2.10.2 Biện pháp khắc phục
- Tập huấn kỹ cho điều tra viên trước khi phỏng vấn, cân đo;
- Nhắc nhở bà mẹ tháo giày dép, mũ nón, áo khoác khi cân đo và nhờ bà mẹ hỗ
trợ, không thực hiện cân đo khi trẻ quấy khóc;
- Kiểm tra cân thước trước khi cân đo;
- Tạo không khí vui vẻ để đối tượng khi bị áp lực kiểm tra khi trả lời phỏng vấn
và đối tượng hồi tưởng với các mốc thời gian hoặc sự kiện quan trọng hoặc một sự
kiện ấn tượng trong quá khứ;
- Phỏng vấn thử 05 bà mẹ để rút kinh nghiệm, xem xét những vấn đề cần chỉnh
sửa cho phù hợp;
- Nhập lại ngẫu nhiên 10% số phiếu để kiểm tra tính chính xác của số liệu
Trang 36Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung
3.1.1 Thông tin chung của trẻ
Nghiên cứu được thực hiện trên 313 trẻ người dân tộc Khơ-me tại địa bàn nghiên cứu nằm trong độ tuổi từ 6 -23 tháng và 313 bà mẹ của trẻ Đặc điểm chung của trẻ như tuổi, giới, CNSS và hình thức sinh trẻ được trình bầy trong Bảng 3.1
Bảng 3.1. Bảng thông tin chung của trẻ về tuổi, giới, CNSS, nơi sinh và hình thức sinh (n=313)
≥2500 g là 92,3% và trẻ được sinh chủ yếu tại bệnh viện (96,2%)
Trang 37Thông tin về bệnh tật và tiêm chủng được trình bầy trong Bảng 3.2 cho thấy đa
số trẻ được tiêm chủng đúng lịch (95,2%) và tỷ lệ trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn thường gặp (tiêu chảy, viêm đường hô hấp, sốt phát ban) trong hai tuần qua là 38,7%
3.1.2 Thông tin chung về bà mẹ
Thông tin chung về các bà mẹ được trình bầy trong Bảng 3.3
Bảng 3.3.Thông tin chung về đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ (n=313)
Trang 38Kết quả điều tra (Bảng 3.3) cho thấy các bà mẹ chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 35 tuổi trở xuống (84%), nhóm bà mẹ trên 35 tuổi chiếm 16%; trình độ học vấn của các
bà mẹ ở cả hai nhóm không biết chữ và ở bậc tiểu học tương đương nhau chiếm 32,9%, nhóm học ở bậc THCS là 22%, nhóm học THPT là 7,7% và THCN trở lên rất thấp (4,5%); nghề nghiệp của các bà mẹ đa số là lao động tự do (42,2%), nông dân 23,6%, buôn bán 8,3%, công nhân viên 4,5 và nội trợ là 21,4%
Bảng 3.4 Thông tin về hộ gia đình (n=313)
về nguồn nước sử dụng cho thấy đa số các hộ tham gia nghiên cứu sử dụng nước giếng (80,2%), nước máy (19,2%) và khác (nước suối, nước mưa) chiếm 0,6% Kết quả cũng cho thấy tỷ lệ hộ gia đình uống nước lã (nước chưa được nấu chín) còn cao chiếm 28,2%, uống nước chín là 59,7%, nước đóng chai hoặc bình là 12,1%
Trang 39Kết quả nghiên cứu về nhà tiêu gia đình sử dụng cho thấy hơn phân nữa không có nhà tiêu hợp vệ sinh và đi tiêu ngoài vườn hay ruộng (57,5%), tỷ lệ gia đình có sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh là 42,5% Kết quả nghiên cứu về hộ gia đình có nuôi gia súc trong nhà cho thấy tỷ lệ này là 19,8%
Bảng 3.5 Thông tin về chăm sóc khi mang thai của bà mẹ (n=313)
nặng nhọc hơn
Ăn khi mang thai
Ăn ít hơn lúc chưa mang thai 128 40,9
Ăn như lúc chưa mang thai 168 53,7
Ăn nhiều hơn lúc chưa mang thai 17 5,4 Kiêng (thực phẩm)
khi mang thai
độ làm việc nặng nhọc khi mang thai (41,2%), chế độ làm việc nhẹ nhàng khi mang thai chiếm 58,5% Kết quả nghiên cứu về chế độ ăn khi mang thai của các bà mẹ cho thấy rất ít bà mẹ thực hiện chế độ ăn nhiều hơn khi chưa mang thai (5,4%), gần
Trang 40phân nữa số bà mẹ có chế độ ăn ít hơn lúc chưa mang thai (40,9%) và chế độ ăn bình thường như lúc chưa mang thai là 53,7% Kết quả nghiên cứu về việc ăn kiêng một số loại thực phẩm so với lúc chưa mang thai cho thấy rất ít bà mẹ có kiêng không ăn các loại rau quả như quả khóm, đu đủ xanh, rau ngót (2,9%)
3.2 Thông tin chăm sóc trẻ
Nghiên cứu được thực hiện trên 313 trẻ người dân tộc Khơ-me trong độ tuổi từ 6-23 tháng và bà mẹ tại địa bàn nghiên cứu Phần này mô tả các đặc điểm tiếp cận thông tin CST của bà mẹ
Bảng 3.6.Nguồn và kênh tiếp cận thông tin CST của bà mẹ (n=313)
ấp (59,8%), từ báo đài 30,7% và một số ít được biết tại phòng tư vấn dinh dưỡng (0,8%), từ nguồn khác (người thân và bạn bè) là 17,2% Kết quả về đặc điểm được
tư vấn cách CST cho thấy có 73,2% đối tượng tham gia nghiên cứu được hướng dẫn cách CST