Tôi cam đoan đề tài nghiên cứu “Phân tích hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên cứu của chính b
Trang 1TRẦN HOÀNG THÀNH
PHÂN TÍCH HÀNH VI VI PHẠM VỀ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP QUA CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI CỤC THUẾ
TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2TRẦN HOÀNG THÀNH
PHÂN TÍCH HÀNH VI VI PHẠM VỀ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP QUA CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA TẠI CỤC THUẾ
TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS PHẠM KHÁNH NAM
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3Tôi cam đoan đề tài nghiên cứu “Phân tích hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên cứu của chính bản thân tôi
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 20 tháng 07 năm 2017
Tác giả
Trang 4TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
Chương 1 GIỚI THIỆU 1
1.1.SỰCẦNTHIẾTCỦAVẤNĐỀNGHIÊNCỨU 1
1.2.MỤCTIÊUNGHIÊNCỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3.CÂUHỎINGHIÊNCỨU 3
1.4.ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 3
1.6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 5
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1.1 Các khái niệm 5
2.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế 6
2.1.3 Khái niệm và mục tiêu của kiểm tra thuế 8
2.1.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế 9
2.1.5 Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế 10
2.1.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra thuế 11
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 13
Trang 52.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 17
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 19
3.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH 20
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 20
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 20
3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG 22
3.3.1 Mô hình nghiên cứu định lượng 22
3.3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 23
3.3.3 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu 24
3.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 26
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 GIỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ KIÊN GIANG 27
4.1.1 Cơ cấu tổ chức 27
4.1.2 Kết quả hoạt động giai đoạn 2013 - 2015 28
4.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 28
4.2.1 Công tác tổ chức trong hoạt động thanh tra, kiểm tra 28
4.2.2 Việc áp dụng quy trình thanh tra, kiểm tra 31
4.2.3 Kết quả thanh tra, kiểm tra thuế 2013 - 2015 34
4.2.4 Công tác phối kết hợp với các ban ngành 41
4.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG MỨC ĐỘ VI PHẠM THUẾ CỦA DOANH NGHIỆP TẠI CỤC THUẾ TỈNH KIÊN GIANG 42
4.3.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 42
4.3.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế 44
4.3.3 Thảo luận kết quả phân tích hồi quy 49
4.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 4 51
Trang 65.1.1 Thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra thuế doanh nghiệp 53
5.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế của doanh nghiệp 54
5.2 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 55
5.2.1 Về cải cách công tác kiểm tra, thanh tra thuế 55
5.2.2 Về đào tạo lực lượng cán bộ kiểm tra, thanh tra thuế 57
5.2.3 Về nâng cao trình độ cho người quản lý của doanh nghiệp 58
5.2.4 Về ứng dụng các phần mềm hỗ trợ cho công tác kiểm tra, thanh tra thuế 58
5.2.5 Về tăng cường giám sát, đôn đốc xử lý sau kiểm tra, thanh tra thuế 59
5.2.6 Về tuyền truyền, phổ biến luật thuế đến doanh nghiệp 60
5.2.7 Về phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế 61
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1: DÀN BÀI THẢO LUẬN - NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
Trang 7ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
OLS Phương pháp ước lượng bình phương bé nhất
VIF Độ phóng đại phương sai
Trang 8Bảng 3.1: Các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu 21
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện dự toán thu năm 2015 28
Bảng 4.2: Số lượng, cơ cấu lực lượng thanh tra, kiểm tra thuế giai đoạn 2013 - 2015 30 Bảng 4.3: Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2013 - 2015 34
Bảng 4.4: Số tiền truy thu và phạt qua thanh tra, kiểm tra thuế giai đoạn 2013-2015 36
Bảng 4.5: Tỷ lệ số thuế truy thu và phạt/ tổng thu NSNN 38
Bảng 4.6: Tỷ lệ nợ đọng sau thanh tra/số thuế truy thu và phạt 39
Bảng 4.7: Chi phí/một cuộc thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2013 - 2015 40
Bảng 4.8: Thời gian một cuộc qua thanh tra, kiểm tra giai đoạn 2013 - 2015 41
Bảng 4.9: Ngành nghề và loại hình doanh nghiệp 42
Bảng 4.10: Lịch sử vi phạm thuế và hành vi vi phạm thuế của doanh nghiệp 43
Bảng 4.11: Thống kê về thời gian hoạt động và số tiền vi phạm về thuế 44
Bảng 4.12: Kết quả phân tích hồi quy yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vi phạm thuế 45
Bảng 4.13: Kết quả phân tích hồi quy yếu tố ảnh hưởng đến số tiền vi phạm thuế 47 Bảng 4.12: Kết quả kiểm định hiện tượng phương sai phần dư thay đổi 47
Bảng 4.13: Kết quả phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến số tiền vi phạm thuế với vòng lặp Robustness 48
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1: Các bước tiến hành thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế Kiên Giang 10
Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài 19
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức Cục Thuế Tỉnh Kiên Giang 27
Hình 4.2: Các bước tiến hành thanh tra, kiểm tra thuế 31
Hình 4.3: Cơ cấu mẫu theo quy mô và học vấn chủ doanh nghiệp 43
Trang 9TÓM TẮT
Đề tài “Phân tích hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang” được thực hiện nhằm mục tiêu chính là đánh giá thực trạng vi phạm về thuế và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang để từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần hạn chế vi phạm thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Trên cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu có liên quan, đề tài xác định được mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp gồm có 6 biến độc lập: Ngành nghề kinh doanh (X1); Loại hình doanh nghiệp (X2); Quy mô doanh nghiệp (X3); Trình độ học vấn chủ doanh nghiệp/Người quản lý (X4); Thời gian hoạt động (X5); Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6)
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với kỹ thuật hồi quy đa biến, theo đó kích thước mẫu được xác định là 300, mẫu được chọn ngẫu nhiên Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Một là, tỷ lệ bình quân truy thu và phạt qua thanh tra, kiểm tra trên tổng số thu NSNN cho thấy khả năng thất thu thuế của Cục Thuế tỉnh Kiên Giang là rất thấp, dưới 1% trên tổng thu NSNN Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch về số lượng doanh nghiệp được thanh tra, kiểm tra do
số lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra còn thiếu hụt Tình hình nợ đọng thuế sau thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế Kiên Giang là rất lớn, từ năm 2013 đến năm 2015 là 60.771 triệu đồng, tương ứng với 46,71% số thuế truy thu và phạt theo quyết định xử lý về thuế
Hai là, mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp đưa ra là phù hợp với dữ liệu nghiên cứu, khả năng giải thích của mô hình khá tốt Ở mức ý nghĩa 5%, khả năng vi phạm về doanh thu (Y1) chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: Quy mô doanh nghiệp (X3); Học vấn người quản lý doanh nghiệp (X4);
Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6)
Trang 10Khả năng vi phạm về hóa đơn (Y2) chịu ảnh hưởng bởi 3 yếu tố: Ngành nghề kinh doanh (X1); Học vấn người quản lý doanh nghiệp (X4); Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6)
Khả năng vi phạm về khấu trừ chi phí (Y3) chịu ảnh hưởng bởi 2: Học vấn người quản lý doanh nghiệp (X4); Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6)
Số tiền vi phạm về thuế chịu ảnh hưởng bởi 4 yếu tố xếp theo mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp gồm: (1) Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6), có hệ số hồi quy là -17,00; (2) Quy mô doanh nghiệp (X3), có hệ số hồi quy là +9,99; (3) Trình
độ học vấn của chủ doanh nghiệp/Người quản lý (X4), có hệ số hồi quy là -8,92; (4) Ngành nghề hoạt động của doanh nghiệp (X1), có hệ số hồi quy là -7,62
Các yếu tố: Loại hình doanh nghiệp (X2) và thời gian hoạt động (X5) ảnh hưởng không có ý nghĩa thống kê đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp Cuối cùng, tác giả trình bày khuyến nghị chính sách, những hạn chế trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 11Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Thuế là một công cụ có hiệu lực của Nhà nước để quản lý, kiểm soát đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế trong xã hội, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, kinh doanh đúng hướng, tăng cường quản lý giá cả thị trường, động viên đóng góp công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, các thành phần kinh tế bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN)
Yêu cầu của việc thực hiện luật thuế là phải thu đúng, thu đủ, thu kịp thời vào NSNN Nguồn thu phải sát thực tế hoạt động kinh doanh, mức thu phải sát giá cả thị trường, đúng doanh thu, phù hợp với chi phí kinh doanh Phải quản lý thu thuế tại gốc thông qua việc kiểm soát thường xuyên, có như vậy mới điều tiết đúng mức thu nhập, bảo đảm công bằng xã hội, chống các hành vi kinh doanh trái pháp luật, đầu
cơ, buôn lậu, trốn thuế của các đối tượng kinh doanh góp phần vào công tác thu thuế đạt kết quả cao Như vậy, để đáp ứng yêu cầu trên, đòi hỏi phải tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra
Thanh tra, kiểm tra là yêu cầu tất yếu trong quản lý nhà nước nói chung, mà còn có vài trò đặc biệt quan trọng trong quản lý thuế nói riêng, họat động thanh tra, kiểm tra có nghĩa là tiến hành việc nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá hoạt động quản lý và mục đích cuối cùng là tìm hiểu được kết quả tác động của chủ thể quản
lý tới đối tượng quản lý, hoạt động thanh tra, kiểm tra không phải là họat động trực tiếp chỉ huy, điều hành quản lý, không chỉ là họat động chuyên môn trong bộ máy quản lý, mà nó chính là họat động đảm bảo thực hiện chính sách pháp luật, giữ vững kỷ cương trong quản lý tài chính
Qua kiểm tra giúp nâng cao công tác quản lý của các cơ quan có chức năng, ngòai ra họat động thanh tra, kiểm tra còn là một phương thức để đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân Thanh tra, kiểm tra thuế nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm trong lĩnh vực thuế; ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật thuế; chống thất thu NSNN Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập
Trang 12quốc tế nước ta đang thực hiện cải cách công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai,
tự nộp thuế thì công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế ngày càng được coi trọng
Kiên Giang là tỉnh nằm ở khu vực ĐBSCL, nguồn thu từ thuế giai đoạn 2011 – 2015 đạt 13.579,0 tỷ đồng, trong đó thu thuế từ doanh nghiệp chiếm 57,9% tổng
số thu thuế toàn tỉnh (Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, 2016)
Trong những năm qua, ý thức chấp hành thuế của các doanh nghiệp có chiều hướng cải thiện, tuy nhiên, tình hình vi phạm thuế của doanh nghiệp vẫn còn khá phổ biến (Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, 2016) Để tăng thu NSNN thì việc tăng cường chống thất thu thuế đi liền với việc phát hiện và xử lý vi phạm về thuế được Cục Thuế tỉnh Kiên Giang xem là nhiệm vụ trọng tâm của ngành thuế tỉnh (Cục Thuế tỉnh Kiên Giang, 2016)
Để kịp thời ngăn chặn, giảm thiểu lận thuế, trốn thuế thực hiện mục tiêu thu đúng, thu đủ cho NSNN thì công tác thanh tra, kiểm tra thuế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trước đòi hỏi cấp thiết đó, là người làm việc trong lĩnh vực thuế, tác
chọn đề tài: “Phân tích hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp qua công
tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang” làm luận văn thạc sỹ
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích hành vi vi phạm về thuế của các doanh nghiệp qua công tác thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang Từ đó, đề xuất những giải pháp hợp lý nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế, hạn chế các vi phạm về thuế của các thành phần kinh tế, góp phần nâng cao kết quả thu thuế trên địa bàn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Mục tiêu 2: Phân tích mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Trang 13Mục tiêu 3: Hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần hạn chế vi phạm thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang?
Cần phải làm gì để hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế nhằm hạn chế
vi phạm vế thuế của các doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hành vi vi phạm về thuế và các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp là đối tượng nghiên cứu của đề tài
1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng có kết hợp với nghiên cứu định tính Cụ thể là:
Phương pháp nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung 5 chuyên gia đang công tác tại ngành thuế tỉnh Kiên Giang Nghiên cứu định tính nhằm điều chỉnh, bổ sung các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp và thang đo mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng mô hình hồi quy đa biến và kỹ thuật kiểm định mô hình hồi quy để đảm bảo độ tin cậy của mô hình nhằm xác định mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng và mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp
Trang 141.6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu Chương này giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày các khái niệm về thuế và vi phạm thuế; Các yếu tố ảnh hưởng đến các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp và tình hình các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Bao gồm khung nghiên cứu, mô tả dữ liệu, kỹ thuật phân tích dữ liệu được sử dụng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày thực trạng
về thu thuế và các vi phạm thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang Thống kê mô tả về mẫu dữ liệu nghiên cứu và kết quả phân tích tác động của các yếu tố thành phần ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp
Chương 5: Kết luận và các khuyến nghị chính sách Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đã thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã đặt ra; đề xuất một
số chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần hạn chế vi phạm thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang; Đồng thời, chỉ ra những hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1.1 Các khái niệm
2.1.1.1 Thuế
Theo Từ điển tiếng Việt (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào NSNN, theo đó các thể nhân, pháp nhân phải chuyển giao bắt buộc một phần của cải của mình cho nhà nước mà không gắn bất kỳ sự ràng buộc nào về sự hoàn trả lợi ích tương quan với
số thuế đã nộp nhằm trang trải các chi phí duy trì sự tồn tại, hoạt động của bộ máy nhà nước và chi phí công công, đem lại lợi ích chung cho cộng đồng (Tổng Cục Thuế, Tài liệu nội bộ, 2009)
Quản lý thuế là quá trình thực thi các chức năng đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế, quản lý hoàn thuế, giảm thuế, miễn thuế; quản lý xóa nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế thi hành các quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế và giải quyết khiếu nại tố cáo về thuế (Luật quản lý thuế Việt Nam, 2006)
Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đã chuyển đổi cơ chế quản lý thuế
là tự khai - tự nộp Đặc điểm của cơ chế này là người nộp thuế tự xác nhận số tiền thuế phải nộp và tự nộp số tiền đó Người nộp thuế phải chịu trách nhiệm về việc kê khai và nộp thuế của mình Cơ quan thuế có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra công việc kê khai của người nộp thuế
2.1.1.2 Vi phạm về thuế
Để hiểu vi phạm thuế, trước hết, cần bắt đầu từ khái niệm tuân thủ thuế Tuân thủ thuế được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Jackson & Milliron (1986), Alm (1991) lại cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp
Trang 16lệnh, hoặc phán quyết của tòa án Theo James & Alley (1999), tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế
Như vậy, tuân thủ thuế được đo lường qua việc đánh giá sự sẵn lòng của người nộp thuế để tuân theo luật thuế, khai báo chính xác thu nhập, xác nhận chính xác các khoản khấu trừ, giảm thuế và thanh toán các khoản thuế đúng hạn
Trái với tuân thủ thuế là vi phạm thuế hoặc không tuân thủ thuế Boidman (1983) định nghĩa 3 hình thức không tuân thủ thuế khác nhau: (1) không nộp tờ khai thuế thuộc bất kỳ loại nào; (2) không kê khai thu nhập nhận được trên tờ khai thuế;
và (3) giảm thu nhập chịu thuế bằng cách kê khai không đúng các khoản miễn giảm, hay khấu trừ
Theo Jackson & Milliron (1986); Kesselman (1994); Kasipillai & Jabbar (2003), vi phạm thuế được xác định là việc không sẵn lòng tuân theo luật thuế và/hoặc khai báo không chính xác, thực hiện kê khai sai các khoản giảm trừ, miễn giảm thuế và/hoặc không thanh toán chính xác nghĩa vụ thuế, ngoài thời gian nộp thuế đã được quy định
2.1.2 Vai trò của thuế trong nền kinh tế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo Tổng Cục Thuế (2009), vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
2.1.2.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN
Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng
Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN Đây là nguồn thu ổn định nhất được dựa trên cơ sở dự báo
Trang 17kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội
có trách nhiệm phải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp
2.1.2.2 Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội
Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước là thành quả của
sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân
cư và gây ra bất ổn xã hội Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này
2.1.2.3 Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh
Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội
Trang 182.1.2.4 Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển
Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước
mà Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn
2.1.3 Khái niệm và mục tiêu của kiểm tra thuế
2.1.3.1 Khái niệm
Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch phát sinh đến nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế xã hội (Tổng Cục Thuế, 2008) Kiểm tra thuế là một trong những chức năng cơ bản của cơ quan quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn ngừa và xử lý kịp thời các trường hợp phát hiện vi phạm pháp luật thuế, bảo đảm tính công bằng trong thực thi pháp luật thuế; đồng thời làm cho NNT luôn ý thức rằng có một hệ thống luôn giám sát hiệu quả tồn tại, từ đó thúc đẩy họ tự giác tuân thủ pháp luật thuế (Tổng Cục Thuế, 2008)
2.1.3.2 Mục tiêu kiểm tra thuế
Theo Tổng Cục Thuế (2008) thì kiểm tra thuế nhằm các mục tiêu sau:
Thứ nhất, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với NNT và cơ quan, tổ chức
cá nhân liên quan
Thứ hai, phát hiện những bất hợp lý, những kẽ hở trong các văn bản pháp luật thuế để kịp thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung và xác lập các căn cứ hoàn thiện chính sách thuế cũng như cơ chế quản lý thuế
Trang 19Thứ ba, điều tra, xác minh để làm sáng tỏ khiếu nại về thuế, làm căn cứ cho việc xử lý kịp thời những khiếu nại về thuế
2.1.4 Nguyên tắc kiểm tra thuế
Một là, họat động kiểm tra thuế phải tuân thủ theo pháp luật Nguyên tắc họat động kiểm tra phải tuân thủ theo pháp luật đòi hỏi từ việc ra quyết định kiểm tra, tiến hành kiểm tra, ra kết luận thanh tra đến việc xử lý kết luận kiểm tra… đều phải thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp luật qui định, không được tùy tiện, không được xuất phát từ ý kiến chủ quan của cơ quan và chức danh quản lý Khi xem xét, phân tích đánh giá, kết luận các hành vi của đối tượng kiểm tra, không dựa vào những thiên kiến chủ quan, tùy tiện của các cá nhân người làm công tác kiểm tra
Hai là, họat động kiểm tra thuế phải chính xác, khách quan, trung thực Nguyên tắc chính xác, khách quan, trung thực này đòi hỏi trong họat động kiểm tra thuế phải tôn trọng sự thật, đánh giá sự vật hiện tượng theo đúng như vốn có, không suy diễn tùy tiện, chủ quan, không gán cho nó những chi tiết, những hậu qủa mà bản thân nó không có Muốn vậy người cán bộ kiểm tra phải tiếp cận với sự việc, phải trực tiếp quan sát, tìm hiểu sự việc cần kiểm tra Tính khách quan, trung thực trong kiểm tra đòi hỏi một thái độ vô tư, một cách làm thận trọng, nó đối lập với tư tưởng chủ quan, áp đặt dẫn đến kết luận tùy tiện, thiếu chính xác
Ba là, hoạt động kiểm tra thuế phải bảo đảm dân chủ, công khai, kịp thời Thực hiện nguyên tắc dân chủ thực chất là nguyên tắc lấy dân làm gốc, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trong một nhà nước pháp quyền vì dân do dân Công khai là một nguyên tắc quan trọng trong họat động kiểm tra Bởi lẽ, có công khai mới thu hút và tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng tham gia họat động kiểm tra, theo phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Thông qua công khai mà công tác kiểm tra bảo đảm tính khách quan, chính xác hơn vì nó cho phép kịp thời điều chính, bổ sung, hoàn thiện kết qủa kiểm tra, làm cho kết luận kiểm tra đúng đắn hơn, trung thực hơn Tuy nhiên công khai phải đúng theo qui định của pháp luật Kịp thời là một nguyên tắc quan trọng trong họat động kiểm tra, làm cho
Trang 20kiểm tra có hiệu quả, tạo lòng tin với nhân dân
Bốn là, họat động kiểm tra thuế không làm cản trở đến họat động bình thường của đối tượng nộp thuế Xét trên phương diện tổng quát, mục đích cuối cùng của họat động kiểm tra là bảo đảm sự phát triển ổn định và lành mạnh xã hội Họat động bình thường ở đây là họat động trong khuôn khổ của pháp luật, do đó mọi hành vi họat động không bình thường phải được ngăn cản và xử lý kịp thời tạo môi trường bình đẳng giữa các đối tượng nộp thuế với nhau, bảo đảm lợi ích của nhà nước, của nhân dân và của đối tượng nộp thuế
2.1.5 Quy trình kiểm tra, thanh tra thuế
Quy trình kiểm tra thuế là các trình tự và các bước công việc cụ thể bắt buộc phải tuân thủ khi thực hiện một quyết định kiểm tra, thanh tra thuế (hình 2.1)
Hình 2.1: Các bước tiến hành thanh tra, kiểm tra tại Cục Thuế Kiên Giang
Giao hồ sơ cho cán bộ kiểm tra Rà soát hồ sơ tại bàn
Công việc kiểm tra:
- Áp dụng những kỹ thuật kiểm tra
- Quy mô cuộc kiểm tra
Báo cáo kiểm tra, kết luận và quyết định
Trang 21Nguồn: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang (2013)
2.1.6 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra thuế
2.1.6.1 Hiệu quả hoạt động kiểm tra thuế
Hiệu quả là đạt được kết quả mong muốn nhưng sử dụng thời gian, công sức
và nguồn lực một cách hợp lý nhất
Hiệu quả hoạt động kiểm tra thuế phải được xem xét trên các góc độ hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả chính trị (Tổng Cục Thuế, 2008) Cụ thể: (1) Hiệu quả kinh tế: Khai thác đầy đủ kịp thời các khoản thu theo Luật định về thuế vào NSNN; (2) Hiệu quả xã hội: Công tác kiểm tra góp phần thực hiện bình đẳng, công bằng xã hội; (3) Hiệu quả chính trị: Là hiệu quả thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước
2.1.6.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra thuế
Để xác định được kiểm tra thuế có hiệu quả hay không thì cần phải áp dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả về mặt định lượng và định tính Các tiêu chí đánh giá hiệu quả là thước đo, là chuẩn mực để đánh giá tác dụng, hiệu quả kiểm tra thuế Thực tế trong thời gian qua, việc chưa áp dụng các tiêu chí hiệu quả vào đánh giá hoạt động kiểm tra đã phần nào chưa làm rõ được những ưu điểm và hạn chế của kiểm tra thuế; do đó, cần thiết phải chọn lọc và áp dụng các tiêu chí đánh giá hiệu quả (cả định lượng và định tính) trong đánh giá hoạt động kiểm tra của cơ quan thuế các cấp trong từng thời kỳ và theo yêu cầu của công tác quản lý thuế
Hiện tại, vẫn chưa có hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm tra được công nhận Tuy nhiên, có thể ứng dụng hệ thống 16 tiêu chí của tác giả Nguyễn Xuân Thành, Viện chính sách công, trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và
04 tiêu chí hiệu quả mà ngành thuế xây dựng theo chương trình cải cách và hiện đại hóa ngành thuế đến năm 2020 để tham khảo, bao gồm:
Một là, các tiêu chí định lượng Các tiêu chí định lượng thể hiện ở kết quả thực
tế của nghiệp vụ kiểm tra thuế đã được tiến hành Đó là kết quả cụ thể của việc thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc kết quả đem lại của các nghiệp vụ kiểm tra thuế Các tiêu chí này thường gồm:
Trang 22Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch về số đối tượng kiểm tra so với kế hoạch năm: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hoàn thành về số lượng kiểm tra ĐTNT trong năm
Số thuế truy thu bình quân một doanh nghiệp: Chỉ tiêu này phản ánh hiệu của cuộc kiểm tra Số thuế truy thu cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng của từng cuộc kiểm tra
Tỷ lệ số thuế truy thu trên tổng số thu NSNN: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ thất thu NSNN trong quá trình quản lý thuế của cơ quan thuế
Tỷ lệ nợ đọng sau kiểm tra: Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ số tiền thuế, tiền phạt được thu hồi so với số tiền thuế tiền phạt theo quyết định xử lý sau kiểm tra
Số tiền giảm lỗ sau kiểm tra: Qua kiểm tra, phát hiện các chi phí hợp lý và không hợp lý để loại trừ từ đó làm giảm số lỗ của doanh nghiệp
Số thuế được miễn giảm bị loại qua kiểm tra: Tổng số thuế qua kiểm tra cơ quan thuế không chấp nhận miễn giảm thuế cho doanh nghiệp do doanh nghiệp kê khai ưu đãi về thuế TNDN không đúng qui định
Chi phí kiểm tra bình quân: Hiệu quả công tác kiểm tra thuế còn được thể hiện
ở số tiền bỏ ra để hoàn thành cuộc kiểm tra Chi phí này thường là tiền lưu trú, tiền trợ cấp và tiền tàu xe công tác
Tỷ lệ chi phí trên số thuế truy thu: chỉ tiêu này phản ánh khi nhà nước bỏ ra 1 đồng chi phí thì thu được bao nhiêu đồng tiền thuế
Chỉ tiêu về thời gian kiểm tra bình quân một cuộc và tỷ lệ hoàn thành kế hoạch
về thời gian kiểm tra: Thời gian kiểm tra hoàn thành càng ngắn thì hiệu quả càng cao
Tình hình vi phạm pháp luật thuế đã phát hiện qua kiểm tra: Đánh giá tiêu chí này thường dựa vào các chỉ tiêu tỷ lệ vi phạm pháp luật thuế/tổng số đối tượng được thanh tra, kiểm tra
Số đơn thư khiếu nại về thuế sau kiểm tra
Hai là, các chỉ tiêu định tính Các chỉ tiêu định tính thường là hệ quả của hoạt động kiểm tra mà không thể hoặc khó tính toán, đo đếm được Đó thường là những hiệu quả có tính xã hội, chính trị như:
Trang 23Sự chuyển biến về ý thức tuân thủ pháp luật Tiêu chí này có thể đo lường được thông qua so sánh tỷ lệ tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng kiểm tra thuế qua các năm, đặc biệt là những đối tượng đã được kiểm tra (mức độ tái phạm) Các hành vi vi phạm được phát hiện sau kiểm tra: qua kiểm tra đã thống kê được những hành vi vi phạm chủ yếu của ĐTNT từ đó đúc kết các kinh nghiệm để thực hiện kiểm tra được tốt hơn
Các xu hướng thay đổi (tăng, giảm) các hành vi vi phạm sau kiểm tra
Tác dụng ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật thuế; tạo sự công bằng cho ĐTNT; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho ĐTNT Đánh giá tiêu chí này dựa vào việc xem xét tỷ lệ ĐTNT bị truy thu thuế và xử lý vi phạm hành chính
Tác dụng phòng chống tham nhũng trong nội bộ cơ quan thuế và tạo lòng tin của NNT vào hoạt động kiểm tra Đánh giá lĩnh vực này dựa vào tiêu chí tỷ lệ cán
bộ thuế vi phạm pháp luật trong kiểm tra thuế; những vụ việc vi phạm được phát hiện xử lý
Hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm tra được đánh giá theo quý, năm và được chia theo sắc thuế; hình thức kiểm tra; theo ĐTNT và theo nội dung kiểm tra
2.2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
2.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Alm J và cộng sự (2004) về tuân thủ thuế cá nhân đã chứng minh được mối quan hệ giữa tuân thủ thuế với thu nhập, tài sản sở hữu, kiểm toán
và thông tin Đây là nghiên cứu dựa vào cơ sở dữ liệu đã được thống kê và kiểm toán chặt chẽ nên mức độ tin cậy rất cao Tuy nhiên, với điều kiện thống kê và công
bố thông tin hiện tại của Việt Nam thì rất khó cho các nhà nghiên cứu để có thể tiếp cận được đầy đủ thông tin và phân tích
Nghiên cứu của Mahmoud Moeinadin và cộng sự (2014) xây dựng mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế tại Iran gồm có 4 nhân tố: luật pháp, xã hội, cấu trúc hệ thống thuế, nhóm nhân tố riêng của doanh nghiệp Nhóm nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy đa biến để
Trang 24phân tích số liệu khảo sát 239 doanh nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 4 nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Kirchler E và cộng sự (2010) đã xác định được 3 yếu tố chính ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế của doanh nghiệp nhỏ dựa trên nền tảng tâm lý, gồm: Nhận diện
cơ hội, yêu cầu kiến thức và khuôn khổ ra quyết định về thuế
Nhận diện cơ hội: Do đặc điểm của việc tự kê khai tự nộp thuế đã làm phát sinh những cơ hội ảnh hưởng đến hành vi không tuân thủ thuế bao gồm cả hành vi
cố ý và vô ý Thứ nhất, nếu doanh nghiệp không cố ý tận dụng cơ hội để không tuân thủ thuế thì cơ hội vẫn có thể vô tình dẫn họ đến hành vi không tuân thủ thuế thông qua việc mắc các lỗi về kê khai, xác định các khoản chi phí (được trừ hay không được trừ) hay lỗi tính toán Thứ hai, nếu doanh nghiệp có ý định không tuân thủ thuế, họ có thể tận dụng cơ hội phát sinh trong cơ chế tự kê khai như việc tính toán, kiểm soát dòng tiền, kiểm soát thu nhập, thông qua đó có thể kiểm soát các khoản thuế mà họ phải nộp
Yêu cầu kiến thức: Sự không tuân thủ thuế của các doanh nghiệp nhỏ còn phát sinh từ sự thiếu hụt các kiến thức do sự phức tạp của các báo cáo tài chính cũng như quy định của từng hệ thống thuế riêng biệt Luật thuế có xu hướng thay đồi thường xuyên, phức tạp hơn và mập mờ hơn Để tuân thủ thuế đòi hỏi doanh nghiệp phải có kiến thức về thuế và những biện pháp tuân thủ thuế Tuy nhiên, việc tiếp thu các kiến thức về thuế lại rất tốn kém về thời gian (ví dụ như tím hiểu thông tin, lưu giữ các hồ sơ, điền các biểu mẫu,…) và tiền bạc (ví dụ như tài liệu về thuế, chi phí thuê những chuyên gia, những người hành nghề thuế) và đối với các chủ doanh nghiệp nhỏ chi phí tuân thủ lại rất cao trong bối cảnh thu nhập của họ vẫn còn thấp Như vậy, việc không tuân thủ thuế có thể là bắt nguồn từ sự phức tạp của hệ thống thuế Kiến thức bao gồm kiến thức giáo dục chung và kiến thức cụ thể về thuế Kiến thức chung dường như được sử dụng để thực hiện trốn thuế hơn là tuân thủ Ngược lại, kiến thức cụ thể về thuế có xu hướng dẫn đến việc gia tăng tính tuân thủ, bởi vì việc tìm hiểu kiến thức cụ thể về thuế cũng có nghĩa là tìm hiểu về sự cần thiết, tầm quan trọng của luật thuế trong xã hội cũng như biết cách làm thế nào để không vi phạm
Trang 25Khuôn khổ quyết định: Ngoài việc nhận thức được cơ hội cũng như sự thiếu hụt kiến thức về thuế, khi xem xét tính tuân thủ của người nộp thuế, cần phải hiểu
rõ những khuôn khổ ra quyết định trong việc trốn thuế hay không Tùy thuộc vào từng khuôn khổ áp dụng mà người nộp thuế sẽ có những phản ứng khác nhau trong hành vi tuân thủ thuế của mình Khi chủ doanh nghiệp nhỏ ra quyết định về việc nộp các khoản thuế thì một sự mất mát hay việc làm giảm thu nhập cũng như sự giới hạn tự do tài chính sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự tuân thủ hay không của họ
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Hồ Hoàng Trường (2012) sử dụng mô hình hồi quy với biến phụ thuộc là công tác thanh, kiểm tra với ba biến độc lập gồm biến mối quan hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp, biến cơ quan thuế và biến doanh nghiệp, sử dụng chương trình SPSS kết quả cho thấy công tác thanh, kiểm tra thuế có mối quan hệ tuyến tính với ba biến độc lập trên Do đó để nâng cao chất lượng công tác thuế tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, tác giả đề xuất là phải tìm cách cải thiện các hệ số các hệ số trong mô hình mà cục thể là phải tác động vào các yếu tố Cục Thuế, doanh nghiệp, mối liên
hệ giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp
Nguyễn Diệu Thủy (2013) sử dụng số liệu thứ cấp với các phương pháp như phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích dựa trên các tiêu chí như: Quy mô của doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp, mức độ tuân thủ nộp thuế, hiệu quả sản xuất kinh doanh, tình hình kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, các năm đã thực hiện thanh tra, kiểm tra, doanh nghiệp Ngoài kết quả đạt
số thu hàng năm, công tác thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua đã góp phần nâng cao dần tính tuân thủ tự giác trong việc chấp hành các chính sách thuế của NNT; tạo lập công bằng về nghĩa vụ thuế, thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh Nguyễn Chí Dũng (2009) phân tích người nộp thuế dưới giác độ tuân thủ, đã nêu được vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế đối với tính tuân thủ của NNT Tác giả
đã đưa ra nhóm giải pháp xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thanh tra, kiểm tra thuế như: Tỷ lệ (%) số cuộc thanh tra, kiểm tra/ số doanh nghiệp trong vòng 1 năm;
Trang 26tỷ lệ (%) độ chính xác trong việc phân tích hồ sơ so với kết quả thanh tra kiểm tra
Lê Thị Phương Thảo (2009) phân tích thực trang kiểm tra, thanh tra thuế qua
ba nội dung: Đăng ký thuế; chấp hành chế độ kế toán sổ sách chứng từ, hóa đơn; kê khai, tính thuế và nộp thuế Trên cơ cở đó, luận văn phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của việc xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế từ 2005-2008 Phần giải pháp đề xuất để đổi mới cần tập trung vào một số vấn đề như: Xây dựng bộ tiêu chí, đánh giá, lựa chọn xếp loại doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra thuế cho phù hợp; phân cấp quản lý doanh nghiệp cho các cấp để chủ động trong việc thực hiện nhiệm vụ ngân sách
Ngô Thị Thu Hương (2011) đã kế thừa và đưa ra những tiêu chí định lượng và đính tính về hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế, nêu lên được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế như điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí,
mô hình quản lý thuế, cơ chế quản lý thuế
Phan Thị Minh Hiền (2012) trình bày lý luận hiệu quả kiểm tra, thanh tra thuế với các nội dung: khái niệm và các tiêu chí xác định hiệu quả kiểm tra, thanh tra tuế Hiệu quả của kiểm tra, thanh tra thuế được xác định qua các tiêu chí: số thu tăng, chi phí thấp, mức độ thực thi pháp luật, công bằng xã hội
Lê Tự Cư (2012) vận dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, mô tả, thống kê trong quá trình nghiên cứu Đặc biệt luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu, khảo sát kinh nghiệm thực tế để đề ra giải pháp phù hợp Kết quả cho thấy kiểm soát thuế GTGT tại Chi Cục Thuế quận Hải Châu thực
sự chưa đạt hiệu quả như yêu cầu, chưa bao quát hết các hoạt động của DN Môi trường kiểm soát không thuận lợi còn bị hạn chế nhiều măt, các thủ tục kiểm soát được quy định thông qua quy trình, chưa có hướng dẫn cụ thể về mặt nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thuế phục vụ công tác kiểm tra tại DN Do vậy, từ những thực trạng đã nêu cần được nghiên cứu kỹ để đưa ra các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát nguồn thuế GTGT tại Chi Cục Thuế quận Hải Châu trong thời gian tới
Nghiên cứu của Võ Đức Chín (2011) đã xây dựng mô hình nghiên cứu các
Trang 27yếu tố tác động đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp tại tỉnh Bình Dương gồm có 6 nhóm nhân tố: (1) Đặc điểm về doanh nghiệp; (2) Các yếu tố về ngành kinh doanh; (3) Các yếu tố về xã hội; (4) Các yếu tố kinh tế; (5) Các yếu tố về hệ thống thuế; (6) Các yếu tố tâm lý doanh nghiệp Kết quả phân tích số liệu khảo sát 200 doanh nghiệp bằng kỹ thuật phân tích nhân tố khám phá EFA và hồi quy đa biến cho thấy
cả 6 nhóm nhân tố đều ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Trong đó, các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến tuân thủ thuế là Yếu tố kinh tế; Hệ thống thuế và đặc điểm doanh nghiệp
Trên cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu trong, ngoài nước, tác giả rút
Thứ ba, các nhân tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế cũng như mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp gồm có nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố có phạm vi ảnh hưởng lớn là: (1) Đặc điểm của doanh nghiệp (Võ Đức Chín, 2011; Nguyễn Diệu Thủy, 2013; Mahmoud Moeinadin và cộng sự, 2014); (2) Đặc điểm của người quản
lý, điều hành doanh nghiệp (B.Kamleitner, C.Korunka and E.Kirchler, 2010); (3) Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế (Phan Thị Minh Hiền, 2012; Nguyễn Chí Dũng, 2009; Hồ Hoàng Trường, 2012)
Đến nay chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế đối với doanh nghiệp, đặc biệt là chưa có nghiên cứu định lượng nào
về các yếu tố ảnh hưởng đến vi phạm thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang Đây chính là điểm mới của đề tài
2.3 TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết về thanh tra, kiểm tra thuế và các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra thuế Đồng thời, lược khảo các
Trang 28nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc hình thành mô hình nghiên cứu ở chương 3
Trang 29Chương 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 KHUNG PHÂN TÍCH
Dựa vào lý thuyết về thuế và lược khảo các nghiên cứu có liên quan, khung phân tích được sử dụng trong luận văn được trình bày tại hình 3.1
Hình 3.1: Khung phân tích của đề tài
Khung phân tích của đề tài gồm các nội dung chủ yếu:
(1) Phân tích thực trạng vi phạm về thuế trên cơ sở các dữ liệu thứ cấp từ các cuộc kiểm tra, thanh tra của Cục thuế tỉnh Kiên Giang;
(2) Phân tích định lượng các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế trên cơ sở các dữ liệu về đặc điểm doanh nghiệp, đặc điểm chủ doanh nghiệp, lịch
sử kiểm tra thuế;
(3) Đề xuất các chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế
Thực trạng vi phạm về thuế của doanh nghiệp qua công tác thanh tra,
kiểm tra tại tỉnh Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ
vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
• Ngành nghề kinh doanh
• Loại hình doanh nghiệp
• Quy mô, năm hoạt động
Đặc điểm doanh nghiệp
• Giới tính
• Hiểu biết về thuế
Đặc điểm chủ doanh nghiệp
• Số lần kiểm tra thuế
Lịch sử kiểm tra thuế
Hàm ý chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần hạn chế vi phạm thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Trang 303.2 NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung nhằm bổ sung, điều chỉnh các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế được kế thừa từ nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp chuyên gia, thảo luận nhóm 5 chuyên gia đang công tác tại ngành thuế tỉnh Kiên Giang, danh sách chuyên gia được trình bày ở phụ lục 1
Phương pháp thảo luận nhóm được thiết kế với các câu hỏi và đề nghị người tham gia thảo luận, cho ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế và hiệu chỉnh các biến quan sát đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế
Tác giả thực hiện nghiên cứu định tính bằng cách gửi trước cho nhóm nghiên cứu cơ sở lý thuyết Sau đó, tác giả tiến hành gặp mặt để thảo luận nhóm Trong buổi thảo luận, lần lượt các câu hỏi được đưa ra cho những người tham gia thảo luận và khi thống nhất được ý kiến trên 70% thì kết quả đó sẽ được ghi nhận Nếu các ý kiến chưa đạt thống nhất trên 70% sẽ thảo luận lại cho đến khi đạt được kết quả mong muốn
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính
3.2.2.1 Đối với thang đo các biến phụ thuộc
Kết quả thảo luận nhóm cho thấy các biến phụ thuộc sử dụng để đo lường mức độ vi phạm về thuế được nhóm nghiên cứu nhất trí cao và được giữ nguyên gồm 4 biến:
Vi phạm kê khai thiếu doanh thu (Y1): Biến giả, Y1 = 1 nếu trong kỳ kiểm tra
có vi phạm về kê khai thiếu doanh thu; Ngược lại Y1 = 0;
Vi phạm hóa đơn (Y2): Biến giả, Y2 = 1 nếu trong kỳ kiểm tra có vi phạm về hóa đơn; Ngược lại Y2 = 0
Vi phạm khấu trừ chi phí (Y3): Biến giả, Y3 = 1 nếu trong kỳ kiểm tra có vi
Trang 31phạm về khấu trừ chi phí; Ngược lại Y3 = 0
Số tiền vi phạm về thuế (Y4): Đo lường bằng số tiền được xác định vi phạm (triệu đồng) qua thanh tra, kiểm tra thuế
3.2.2.2 Đối với thang đo các biến độc lập
Nhóm thảo luận nhất trí với các biến độc lập do tác giả đề xuất Tuy nhiên, nhóm thảo luận đã thống nhất điều chỉnh biến quan sát “Số lần kiểm tra trong quá khứ - X6” thành “Đã bị xử phạt vi phạm thuế” Lý do:
Số lần kiểm tra trong quá khứ không phản ánh hết được mức độ vi phạm của doanh nghiệp trong kỳ kiểm tra Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đã bị xử phạt về thuế thì có khuynh hướng không vi phạm hoặc nếu có vi phạm thì mức độ nhỏ hơn do họ
đã ý thức được hậu quả của việc vi phạm thuế
Trên cơ sở kết quả thảo luận nhóm, tác giả điều chỉnh biến quan sát X6 thành
“Đã bị xử phạt vi phạm về thuế” X6 là biến giả, nhận giá trị 1 nếu trong quá khứ doanh nghiệp đã bị xử phạt vi phạm về thuế; Ngược lại nhận giá trị 0 Kỳ vọng dấu của X6 mang dấu âm (-) do thông thường, doanh nghiệp đã bị xử phạt vi phạm thuế thì họ đã có ý thức được hậu quả của hành vi vi phạm thuế, có khuynh hướng ngăn ngừa không để xảy ra vi phạm thuế trong tương lai
Trên cơ sở kết quả thảo luận nhóm, các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu được xác định tại bảng 3.1
Bảng 3.1: Các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Stt Biến giải thích
Ký hiệu biến
Mô tả
Kỳ vọng dấu
Cơ sở lý thuyết
I Biến phụ thuộc
1 Vi phạm kê khai
thiếu doanh thu Y1
Biến giả, Y1 = 1 nếu trong kỳ kiểm tra có vi phạm về kê khai thiếu doanh thu Ngược lại Y1 = 0
Phan Thị Minh Hiền (2012); Nguyễn Chí Dũng (2009) và thảo luận nhóm chuyên gia (2017)
2 Vi phạm hóa đơn Y2
Biến giả, Y2 = 1 nếu trong kỳ kiểm tra có vi phạm về hóa đơn
Ngược lại Y2 = 0
3 Vi phạm khấu trừ Y3 Biến giả, Y3 = 1 nếu
Trang 32chi phí trong kỳ kiểm tra có vi
phạm về khấu trừ chi phí Ngược lại Y3 = 0
= 0
-
Võ Đức Chín (2011), Nguyễn
+
Võ Đức Chín (2011), Nguyễn Diệu Thủy (2013)
3 Quy mô doanh
X3=1 nếu là doanh nghiệp có quy mô lớn;
X3=0 nếu doanh nghiệp có quy mô vừa
và nhỏ
+
Võ Đức Chín (2011), Nguyễn Diệu Thủy (2013)
-
B.Kamleitner, C.Korunka and
Ngược lại X6 = 0
- Thảo luận nhóm chuyên gia (2017)
Nguồn: Tổng hợp lý thuyết có liên quan và thảo luận nhóm chuyên gia (2017)
3.3 NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG
3.3.1 Mô hình nghiên cứu định lượng
Để phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp,
đề tài sử dụng các mô hình hồi quy đa biến được đề cập bởi Greene (2003):
Thứ nhất, sử dụng mô hình hồi quy nhị phân (Binary Logistic Regresstion) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng xảy ra vi phạm về thuế Phương trình hồi quy có dạng:
Loge (Yi = 1/Yi = 0) = β0i + β1iX1 + β2iX2+ β3iX3 + β4iX4 + β5iX5 + β6iX6 + ɛi (3.1)
Trong đó:
Trang 33Y4 = 0 + 1X1 + 2X2 + 3X3 + 4X4 + 5X5 + 6X6 + (3.2)
Trong đó: Y4 là số tiền được xác định vi phạm (triệu đồng)
0: hằng số; 1, 2, …, 6: các hệ số hồi quy riêng; ɛ: sai số của mô hình
3.3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng được sử dụng để đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp
Theo Green W.H (1991), số mẫu tối thiểu cho một nghiên cứu n = 50 + 5 lần
số biến độc lập Trong nghiên cứu này, có tất cả 10 biến quan sát, cỡ mẫu tối thiểu
là n = 50 + 5 x 10 = 100
Theo Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Kiên Giang (2016), số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tính đến hết năm 2015 là 5.212 doanh nghiệp Theo Cục Thuế tỉnh Kiên Giang (2016), số lượng doanh nghiệp đã được kiểm tra, thanh tra thuế trong giai đoạn 2013 - 2015 là 2.467 doanh nghiệp
Trong nghiên cứu này, số lượng quan sát trong nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện có hạn mức (quota), với số lượng là 300, chiếm 5,8% số lượng doanh nghiệp trên địa bàn và chiếm 12,2% số lượng doanh nghiệp đã được kiểm tra
Danh sách doanh nghiệp được đưa vào mẫu nghiên cứu được lấy từ hồ sơ của các doanh nghiệp đã được kiểm tra, thanh tra trong giai đoạn 2013 - 2015 lưu trữ tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
3.3.3 Dữ liệu nghiên cứu
Đề tài chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp, bao gồm kết quả các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài; Số liệu thống kê của tỉnh Kiên Giang; Kết quả hoạt động thu thuế
Trang 34và công tác kiểm tra, thanh tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Dữ liệu thứ cấp được thu thập qua qua sách báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước; Niên giám thống kê, hồ sơ kiểm tra thuế của doanh nghiệp được lưu trữ tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang và các báo cáo tổng kết hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế của Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
3.3.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
Tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp phân tích số liệu như sau:
Đối với mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng vi phạm về thuế của doanh nghiệp qua công tác thanh tra, kiểm tra tại tỉnh Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Sử dụng phương phương pháp thống kê mô tả, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, tổng hợp để phân tích các số liệu thu thập được
Đối với mục tiêu 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Thứ nhất, sử dụng mô hình hàm hồi quy nhị phân Logit để phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến đến khả năng xảy ra vi phạm về thuế Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), đối với mô hình hồi quy nhị phân Logit, cần thực hiện một số kiểm định sau:
Kiểm định độ phù hợp tổng quát: Dùng kiểm định Chi-square để kiểm định giả thuyết H0: 1 = 2 = … = k = 0 Căn cứ vào mức ý nghĩa thống kê để quyết định bác bỏ hay chấp nhận giả thuyết H0
Kiểm định ý nghĩa của các hệ số hồi quy: Để kiểm định ý nghĩa thống kê của
hệ số hồi quy tổng thể, đại lượng Wald Chi Square được sử dụng
Độ phù hợp của mô hình: được đo lường dựa trên chỉ tiêu -2LL (-2 Log Likehood), chỉ tiêu này có giá trị càng nhỏ càng tốt, nghĩa là giá trị -2LL càng nhỏ càng thể hiện độ phù hợp cao Giá trị nhỏ nhất của -2LL là 0 (tức là không có sai số) khi đó mô hình có độ phù hợp hoàn hảo
Có thể xác định được mô hình dự toán tốt đến đâu qua tỷ lệ dự đoán đúng của toàn bộ mô hình (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008)
Trang 35Hệ số tác động biên: cho biết mức độ ảnh hưởng lớn hay nhỏ của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc
Thứ hai, sử dụng mô hình hồi quy OLS để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm về thuế của doanh nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang Đối với
dữ liệu chéo, theo Đinh Phi Hổ (2014) để mô hình hồi quy đảm bảo khả năng tin cậy và hiệu quả, cần thực hiện các kiểm định sau:
Thứ nhất, kiểm định tương quan từng phần của hệ số hồi quy Khi mức ý nghĩa của hệ số hồi quy từng phần có độ tin cậy ít nhất 95% (Prob <0,05), kết luận tương quan có ý nghĩa thống kê giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
Thứ hai, mức độ giải thích và phù hợp của mô hình Nếu R2 hiệu chỉnh càng lớn thì mức độ giải thích của mô hình càng cao
Thứ ba, hiện tượng đa cộng tuyến, là hiện tượng các biến độc lập có quan hệ gần như tuyến tính Việc bỏ qua hiện tượng đa cộng tuyến làm các sai số chuẩn thường cao hơn, giá trị thống kê thấp hơn và có thể không có ý nghĩa Để kiểm tra hiện tượng này, ta sử dụng thước đo độ phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor - VIF), điều kiện là VIF < 10 để không có hiện tượng đa cộng tuyến
Thứ tư, hiện tượng phương sai phần dư thay đổi Theo Đinh Phi Hổ (2014), sử dụng kiểm định White với phương trình hồi quy phụ để kiểm tra hiện tượng phương sai phần dư thay đổi Tiêu chuẩn đánh giá: so sánh giá trị Prob > Chi2 với mức ý nghĩa 5%, nếu (Pro > Chi2) > 5% thì kết luận không có hiện tượng phương sai phần
dư thay đổi; ngược lại nếu (Pro > Chi2) ≤ 5% thì kết luận có hiện tượng phương sai phần dư thay đổi Khi xảy ra hiện tượng phương sai thay đổi, sử dụng vòng lặp robustness trong phần mềm thống kê Stata để khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi (Trần Thị Tuấn Anh, 2014)
Đối với mục tiêu 3: Khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra thuế góp phần hạn chế vi phạm thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang
Sử dụng phương pháp diễn dịch, tổng hợp các kết quả thu được từ mục tiêu 1
và mục tiêu 2 để khuyến nghị chính sách
Trang 36Phần mềm Stata phiên bản 12.0 được sử dụng để hỗ trợ cho việc xử lý dữ liệu
3.4 TÓM TẮT CHƯƠNG 3
Chương 3 trình bày khung phân tích và phương pháp nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu có liên quan, đề tài xác định được
mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ vi phạm thuế của doanh nghiệp gồm có
6 biến độc lập: Ngành nghề kinh doanh (X1); Loại hình doanh nghiệp (X2); Quy mô doanh nghiệp (X3); Trình độ học vấn chủ doanh nghiệp/Người quản lý (X4); Thời gian hoạt động (X5); Bị xử phạt về thuế trong quá khứ (X6)
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mẫu nghiên cứu được xác định theo yêu cầu của kỹ thuật kiểm định và phân tích hồi quy đa biến, theo đó kích thước mẫu được xác định là 300 và mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện có hạn mức (quota)
Trang 37Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 GIỚI THIỆU VỀ CỤC THUẾ KIÊN GIANG
Hình 4.1: Sơ đồ tổ chức Cục Thuế Tỉnh Kiên Giang
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang (2016)
Cục thuế tỉnh Kiên Giang
Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ Phòng Tổ chức cán bộ
Phòng Kê Khai và kế toán thuế Phòng Kiểm tra nội bộ
Trang 38Có 12 phòng chức năng thuộc Cục Thuế Kiên Giang được bố trí như sau: Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ; Phòng Kê khai và kế toán thuế; Phòng Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế; Phòng Kiểm tra thuế; Phòng Thanh tra thuế; Phòng Tổng hợp - Nghiệp vụ - Dự toán; Phòng Quản lý thuế Thu nhập cá nhân; Phòng Kiểm tra nội bộ; Phòng Quản lý các khoản thu từ đất; Phòng Tổ chức cán bộ; Phòng Hành chính
- Quản trị - Tài vụ ; Phòng Tin học
Có 15 Chi Cục Thuế trực thuộc Cục Thuế Kiên Giang được bố trí ở các huyện, thị xã và thành phố theo địa bàn hành chính cấp huyện
4.1.2 Kết quả hoạt động giai đoạn 2013 - 2015
Thu NSNN của Cục Thuế tỉnh Kiên Giang bao gồm: (1) Thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; (2) Các khoản thu khác: Thuế thu nhập cá nhân, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, phí xăng dầu, thuế bảo vệ môi trường, thu từ bán tài sản nhà nước…; (3) Các khoản phí, lệ phí Tổng thu năm 2015 là 5.253,1 tỷ đồng, đạt 106% dự toán
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang (2016)
4.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ
4.2.1 Công tác tổ chức trong hoạt động thanh tra, kiểm tra
Theo mô hình quản lý thuế hiện nay, ĐTNT tự căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ kê khai của mình và căn cứ vào các quy định pháp luật thuế tự
kê khai, tự tính toán số thuế phải nộp, chủ động nộp thuế cho nhà nước theo đúng
Trang 39thời hạn quy định của pháp luật Cơ quan thuế không can thiệp vào quá trình kê khai nộp thuế của ĐTNT trừ khi phát hiện sai sót, vi phạm hoặc các dấu hiệu không chấp hành luật thuế Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn
để ĐTNT hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của ĐTNT và thông qua công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời những hành vi trốn thuế của ĐTNT
Trong cơ chế quản lý thuế mới, chức năng thanh tra, kiểm tra thuế là một trong những chức năng trọng tâm của Cục Thuế Kiên Giang Lực lượng thanh tra, kiểm tra thuế đòi hỏi phải tăng cả về số lượng và chất lượng Số lượng cán bộ thuế tham gia công tác thanh tra, kiểm tra sẽ tăng lên đáng kể, tổ chức các Phòng, Đội kiểm tra, thanh tra tại Cục Thuế, Chi Cục Thuế sẽ tăng lên, được quy định rộng hơn
về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Hoạt động thanh tra, kiểm tra ĐTNT đã phân định rõ nhiệm vụ của cơ quan thanh tra thuế các cấp theo hướng: Thanh tra Tổng Cục Thuế tập trung nghiên cứu hoàn thiện cơ chế, quy trình thanh tra, kiểm tra, hỗ trợ thanh tra ĐTNT tại các Cục Thuế có số lượng ĐTNT lớn và trực tiếp thanh tra các ĐTNT lớn, hoạt động kinh doanh phức tạp, có chi nhánh trên toàn quốc hoặc có các hoạt động giao dịch quốc
tế Kiểm tra, thanh tra Cục Thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra ĐTNT theo địa bàn quản lý và hướng dẫn, chỉ đạo và hỗ trợ kiểm tra Chi Cục Thuế tổ chức hoạt động kiểm tra trên địa bàn Cuối cùng, kiểm tra Chi Cục Thuế thực hiện kiểm tra ĐTNT theo địa bàn quản lý Hoạt động thanh tra, kiểm tra ĐTNT được tổ chức tập trung,
thống nhất từ trung ương đến địa phương
Trong nhiều năm qua Cục Thuế Kiên Giang luôn xác định công tác thanh tra, kiểm tra là hết sức quan trọng không chỉ góp phần chống thất thu ngân sách, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật thuế mà còn góp phần giáo dục ý thức chấp hành chính sách pháp luật về thuế cho nhân dân Vì vậy việc củng cố và tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế luôn được Ban lãnh đạo Cục Thuế quan tâm đúng mức Hiện tại hệ thống thanh tra, kiểm tra thuế tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang gồm có 01 phòng Thanh tra, 01 phòng Kiểm tra thuộc văn phòng
Trang 40Cục Thuế và 15 đội kiểm tra thuế thuộc 15 Chi Cục Thuế huyện, thị xã, thành phố Bảng 4.2: Số lượng, cơ cấu lực lượng thanh tra, kiểm tra thuế giai đoạn 2013 - 2015
Cao đẳng, trung cấp
Đại học
Trên đại học
Cao đẳng, trung cấp
Đại học
Trên đại học
Cao đẳng, trung cấp
Đại học
Trên đại học
Nguồn: Cục Thuế tỉnh Kiên Giang (2016)
Bảng 4.2 cho thấy lực lượng làm công tác thanh tra, kiểm tra hàng năm tại Cục Thuế tỉnh Kiên Giang có tăng về số lượng cũng như chất lượng đào tạo, cụ thể là: Năm 2013, tổng số cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra là 146 người, trong
đó có 37 người trình độ cao đẳng, trung cấp (chiếm tỷ lệ 25,3%), có 108 người trình
độ đại học (chiếm tỷ lệ 74%) và 1 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 0,7%) Năm 2014, tổng số cán bộ tăng lên là 149 người, trong đó có 31 người trình độ cao đẳng, trung cấp (chiếm tỷ lệ 20,8%), có 116 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ 77,9%) và 2 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 1,3%)
Năm 2015, tổng số cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra tăng lên là 156 người, trong đó chỉ còn 27 người trình độ cao đẳng, trung cấp (chiếm tỷ lệ 17,3%),
có 126 người trình độ đại học (chiếm tỷ lệ 80,8%) và 3 người có trình độ trên đại học (chiếm tỷ lệ 1,9%)
Cục Thuế tỉnh Kiên Giang luôn xác định chất lượng cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế là một yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến cuộc thanh tra, kiểm tra Nếu cuộc thanh tra, kiểm tra có hiệu quả, chất lượng cao đòi hỏi cán bộ thanh tra, kiểm tra phải hiểu biết chính sách pháp luật của nhà nước nói chung và chính sách pháp luật thuế nói riêng Bởi vì đây là lực lượng giúp nhà quản lý hay thủ trưởng cơ quan thuế ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm về thuế, phát hiện những kẽ hở của chính sách pháp luật về thuế để kiến nghị với cơ quan có