1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Ưu điểm của chính sách tiền tệ gián tiếp so vs chính sách trực tiếp

9 673 4

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 97,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công cụ trực tiếp – Hạn mức tín dụng Công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi Ngân hàng Trung ương nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượ

Trang 1

Ưu điểm của chính sách tiền tệ gián tiếp so vs chính sách trực tiếp

1 Công cụ trực tiếp – Hạn mức tín dụng

Công cụ của chính sách tiền tệ là các hoạt động được thực hiện trực tiếp bởi Ngân hàng Trung ương nhằm tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến khối lượng tiền trong lưu thông và lãi suất Hạn mức tín dụng là một loại công cụ trực tiếp đó là lãi suất

dư nợ tối đa mà Ngân hàng Trung ương bắt buộc các tổ chư chính sách tín dụng phải tôn trọng khi cấp tín dụng cho nền kinh tế đây là công cụ tác động trực tiếp vào khối lượng tiền trong lưu thông với công cụ này Ngân hàng Trung ương có thể kiểm soát được khối lượng tiền trong thời kỳ hoạt động tài chính được điều tiết chặt chẽ, khi đó các công cụ gián tiếp chưa có điều kiện để áp dụng Trong trường hợp khẩn cấp với sức ép lạm phát tăng cao, lượng tiền cung ứng cần được khống chế trực tiếp và ngay lập tức, Ngân hàng Trung ương kiểm soát tất cả các khoản cho vay lớn của các ngân hàng trung gian, hạn chế cho vay tiêu dùng, cho vay trả chậm, cho vay cầm cố Tuy nhiên, hạn mức tín dụng chỉ là một giải pháp mang tính chất đối phó tình thế trước những biến động trước mắt Hiệu quả điều tiết của công cụ này không cao bởi tính chất hành chính và thiếu linh hoạt của nó Bên cạnh đó việc qui định hạn mức tín dụng đối với từng loại Ngân hàng trung gian là không giống nhau, điều này tuỳ thuộc vào định hướng phát triển và mục tiêu điều hành của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ vì vậy đôi khi tác dụng của nó lại đi ngược lại với chiếu hướng của thị trường tín dụng làm cho mức lãi suất biến động bất lợi cho hoạt động kinh tế, giảm khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trung gian và các tổ chức tín dụng trong thị trường

Với những hạn chế như vậy, Hạn mức tín dụng chỉ được các Ngân hàng Trung ương sử dụng khi chưa có điều kiện để sử dụng các công cụ khác như các công cụ gián tiếp ở Việt Nam hệ thống thị trường tài chính tiền tệ chưa phát triển vai trò của các Ngân hàng Trung ương vẫn còn bị hạn chế, mặt khác việc tự do hoá tài chính tiền tệ luôn luôn vấp phải sự can thiệp và điều tiết của Chỉnh phủ Vì vậy hạn mức tín dụng đã từng là công cụ điều tiết có hiệu quả của Ngân hàng Trung ương trong thời kỳ lạm phát Trong điều kiện phát triển hiện nay, công cụ này ngày càng tỏ rõ những mặt yếu kém do mức tín dụng được Ngân hàng Trung ương đưa ra là không có căn cứ và sự lỏng lẻo trong công tác quản lý hạn mức này Do

đó, công cụ trực tiếp sẽ dần dần được thay thế bằng các công cụ gián tiếp để chính sách tiền tệ được thực thi một cách có hiệu quả

2 Công cụ gián tiếp

a Dự trữ bắt buộc

Như chúng ta đã biết, hoạt động tài chính ngân hàng là một hoạt động vô cùng cần thiết và quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển như ngày nay An toàn trong kinh doanh tiền tệ sẽ bảo đảm cho hoạt động này được thông suốt Để đảm bảo cho khả năng thanh khoản bảo đảm cho những rủi

ro bất thường trong hoạt động của hệ thống ngân hàng Ngân hàng Trung ương đã qui định bắt buộc với toàn bộ ngân hàng trung gian một khoản dự trữ gọi là dự trữ bắt buộc dưới dạng tiền gửi hoặc tiền mặt ở Ngân hàng Trung ương Mỗi ngân hàng trung gian sẽ mở một tài khoản ở Ngân hàng Trung ương, điều này có thể giúp cho việc thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau giữa ngân hàng trung gian và Ngân hàng Trung ương, việc chi trả các khoản phí giao dịch Dự trữ bắt buộc bị tác động trực tiếp bởi tỷ lệ dự trữ bắt buộc, đây là tỷ lệ phần trăm tính trên tổng sodư^' tiền các loại tại một thời gian nào đó Dự trữ bắt buộc được sử dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào năm 1913, sau những cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài vào những năm 30, nó dần dần được sử dụng phổ biến ở những nước khác và lúc này Ngân hàng Trung ương đã nhận ra rằng dự trữ bắt buộc không chỉ có thể đảm bảo khả năng thanh toán và an toàn cho các ngân hàng trung gian mà nó

Trang 2

còn có thể là công cụ để điều tiết trong nền kinh tế Thông qua việc thay đổi tỷ lệ

dự trữ bắt buộc Ngân hàng Trung ương có thể tác động vào nguồn dự trữ, vốn khả dụng của các ngân hàng và do vậy nó sẽ làm tăng hay giảm lượng tiền cung ứng trong lưu thông

Mặc dù lịch sử ra đời của dự trữ bắt buộc là từ những năm đầu của thế kỷ 20, nhưng ở nhiệm vụ mới chỉ bắt đầu làm quen với khái niệm này vào năm 1990 Tháng 51990/, sau khi hai Pháp lệnh ngân hàng được ban hành thì các ngân hàng bắt đầu thực hiện qui chế dự trữ bắt buộc Theo Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước Việt Nam, tỷ lệ dự trữ bắt buộc được tính trên số dư tiền gửi của các tổ chức, các

cá nhân ở các ngân hàng, tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau mà tỷ lệ này sẽ được qui định khác nhau trong phạm vi từ 10 – 35% Trong giới hạn này dự trữ bắt buộc không được trả lãi, còn nếu vì một lý do nào đó và nhằm một mục đích nhất định, thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể ra quyết định nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên cao hơn 35%, phần chênh lệch lớn hơn 35% sẽ được ngân hàng nhà nước trả lãi Trên thực tế tỷ lệ này thường là 10%, tuy nhiên việc áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc cũng khác nhau trong từng thời kỳ và với từng loại tiền gửi khác nhau Ví dụ như

từ tháng 51990/ đến tháng 31994/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% cho tất cả các loại tiền gửi nhưng theo Quyết định 261 – QĐNH1/ ngày 1909/1995/, tỷ lệ 10% chỉ áp dụng cho loại tiền gửi 12 tháng trở xuống Giữa 2 thời kỳ này từ tháng 51994/ đến tháng 91995/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc có sự phân biệt cho 2 loại tiền gửi có kỳ hạn từ

1 năm trở xuống và tiền gửi không kỳ hạn (1) Hay giả như năm 1999 là năm vô cùng khó khăn đối với nền kinh tế nước ta, mặc dù sau 1cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á ( từ năm 1997) các nước này đã có những dấu hiệu hồi phục nhanh chóng, nhưng Việt Nam lại rơi vào tình trạng kinh tế suy thoái Để thực hiện mục tiêu nới lỏng tiền tệ nhằm kích cầu tạo đà phát triển kinh tế, ngân hàng nhà nước đã thực hiện việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng

Ý nghĩa của ROE

ROE = 100% x

Lợi nhuận ròng sau thuế Tổng giá trị vốn chủ sở hữu

Ví dụ:

Doanh nghiệp X dựa vào bảng cân đối kế toán cuối kỳ (tháng,quý,năm):

Lợi nhuận ròng sau thuế là:10.000.000đ

Tổng giá trị vốn chủ sở hữu là: 100.000.000đ

ROE=10.000.000/100.000.000=0,1 hay 10%

Điều này có nghĩa là 0,1 đồng lợi nhuận ròng đạt được từ 1 đồng vốn kinh doanh bỏ ra.Doanh nghiệp thường dùng chỉ số này để so sánh mức sinh lời từng tháng của một doanh nghiệp hoặc của các doanh nghiệp khác nhau.Chẳng hạn như kinh doanh ăn uống

có ROE cao hơn kinh doanh xe gắn máy bởi vì ta chỉ bỏ ít vốn mà đạt được lợi nhuận cao

Ý nghĩa của chỉ số ROE

Về mặt lý thuyết, ROE càng cao thì sử dụng vốn càng có hiệu quả Các loại cổ phiếu có ROE cao thường được các nhà đầu tư ưa chuộng ROE là thước đo tốt nhất về năng lực

Trang 3

của một công ty trong việc tối đa hóa lợi nhuận từ mỗi đồng vốn đầu tư Công ty đạt được ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh càng mạnh

Khi công ty chỉ đạt tỷ lệ ROE tương đương với lãi vay ngân hàng thì ở mức độ đánh giá tương đối, nhà đầu tư hãy xem lại khả năng sinh lời của công ty, vì nếu công ty nào cũng chỉ sinh lời ở mức này thì sẽ không có công ty nào đi vay ngân hàng, bởi lợi nhuận từ vốn vay chỉ đủ để trả lãi vay ngân hàng Tất nhiên, ở đây chỉ đặt trường hợp công ty chưa vay ngân hàng

Khi công ty đạt tỷ lệ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì nhà đầu tư nên tìm hiểu xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty có tiềm năng tăng tỷ lệ này hay không Nếu mở rộng được thị phần thì cần thêm vốn, vốn này có thể vay và công ty có khả năng thu được thêm lợi nhuận sau khi trả lãi vay Tuy nhiên, khi vay vốn, ngoài việc trả lãi còn phải trả gốc, nên ảnh hưởng nhiều đến yếu tố thanh khoản của công ty Vì vậy, cân đối vốn vay và vốn cổ đông cũng là bài toán quản lý của công ty

Ngoài ra, ROE cũng giúp nhà đầu tư đánh giá các công ty trong cùng ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư Phương thức lựa chọn tất nhiên vẫn là công ty có tỷ lệ ROE cao, vì công ty đó có khả năng tăng lợi thế cạnh tranh (lợi thế cạnh tranh của các công ty khác sẽ giảm)

Có thể nói, bên cạnh các chỉ số tài chính khác thì ROE là thước đo chính xác nhất để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy được tạo ra bao nhiêu đồng lời Đây cũng là chỉ số đáng tin cậy về khả năng sinh lời của công ty trong tương lai ROE thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào Thông thường, tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty

sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên, khi ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư Theo Warren Buffett ROE > 20% được coi là hợp lý

Khi xem xét chỉ số ROE, nhà đầu tư cần lưu ý đến một vài yếu tố như tuổi đời của công ty hay loại hình kinh doanh của công ty đó Các công ty mới thành lập thường có ROE cao, bởi quyết định phân bổ vốn của công ty này thường đơn giản hơn Còn với các công ty lâu đời, đặc biệt là công ty hoạt động trong ngành có mức độ tập trung vốn cao như truyền thông, công nghệ thì tỷ lệ ROE thường thấp hơn, bởi họ tốn nhiều chi phí để tạo ra được một đồng doanh thu hay lợi nhuận Mặt khác, ROE của các ngành thường rất khác nhau,

vì thế nên so sánh giữa các doanh nghiệp tương đối giống nhau (về quy mô, cơ cấu sản phẩm ) hoặc so sánh với mức bình quân ngành

Tại sao dùng đòn bẩy tài chính?? Giới hạn của đòn bẩy tài chính

Đòn bảy tài chính là khái niệm dùng để chỉ sự kết hợp giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong việc điều hành chính sách tài chính của doanh nghiệp Đòn bảy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ trọng nợ phải trả cao hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu Ngược lại, đòn bảy tài chính sẽ thấp khi tỷ trọng nợ phải trả nhỏ hơn tỷ trọng của vốn chủ sở hữu

Đòn bẩy tài chính vừa là một công cụ thúc đẩy lợi nhuận sau thuế trên một đồng vốn chủ sở hữu, vừa là một công cụ kìm hãm sự gia tăng đó Sự thành công hay thất bại này tuỳ thuộc vào sự khôn ngoan hay khờ dại khi lựa chọn cơ cấu tài chính Khả năng gia tăng lợi nhuận cao là điều mong ước của các chủ sở hữu, trong đó đòn bẩy tài chính là một công cụ được các nhà quản lý ưa dùng

Vì lãi vay phải trả không đổi khi sản lượng thay đổi, do đó đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ cao, và ngược lại đòn bẩy tài chính sẽ rất nhỏ trong các doanh nghiệp có tỷ số nợ thấp Những doanh nghiệp không mắc nợ (tỷ số bằng không) sẽ không có đòn bẩy tài chính Như vậy, đòn bẩy tài chính đặt trọng tâm vào tỷ số nợ Khi đòn bảy tài chính cao, chỉ cần một sự thay đổi nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay cũng làm thay đổi lớn tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu nghĩa là tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu sẽ rất nhạy cảm với lợi nhuận trước thuế và lãi vay Về thực chất, đòn bảy tài chính phản ánh sự thay đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ trước sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Trang 4

Như vậy, độ lớn của đòn bẩy tài chính được xem như là tỷ lệ thay đổi của tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu phát sinh do sự thay đổi của lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Độ lớn đòn bảy

tài chính (DFL) =

Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Trong đó:

Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất

lợi nhuận sau thuế trên

vốn chủ sở hữu =

Chênh lệch giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu kỳ phân tích so với kỳ gốc

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu kỳ gốc

Tỷ lệ thay đổi lợi

nhuận trước thuế và

Chênh lệch giữa lợi nhuận trước thuế và lãi vay kỳ phân tích so với kỳ gốc

Lợi nhuận trước thuế và lãi vay kỳ gốc

Cũng như sử dụng đòn bẩy kinh doanh, sử dụng đòn bẩy tài chính như sử dụng "con dao hai lưỡi" Nếu tổng tài sản không có khả năng sinh ra một tỉ lệ lợi nhuận đủ lớn để bù đắp các chi phí tiền lãi vay phải trả thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút Vì phần lợi nhuận do vốn chủ sở hữu làm ra phải dùng để bù đắp sự thiếu hụt của lãi vay phải trả Do vậy, thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu sẽ còn lại rất ít so với tiền đáng lẽ chúng được hưởng Đòn bẩy tài chính được các nhà quản lý sử dụng để gia tăng tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu công thức xác định sự tác động của đòn bảy tài chính đến tỷ suất suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu như sau:

Tỷ lệ thay đổi về tỷ suất lợi

nhuận sau thuế trên vốn chủ sở

hữu

= Độ lớn đòn bảy tài chính (DFL) x

Tỷ lệ thay đổi lợi nhuận trước thuế và lãi vay

Khái niệm đòn bảy tài chính cung cấp cho các nhà phân tích một công cụ quan trọng để dự kiến tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu Cần lưu ý là khi lợi nhuận trước thuế và lãi vay không đủ lớn đẻ trang trải lãi vay thì tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu bị giảm sút Nhưng khi lợi nhuận trước thuế

và lãi vay đủ lớn thì chỉ cần sự gia tăng nhỏ về lợi nhuận trước thuế và lãi vay đã có sự gia tăng lớn về tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu

Tại sao lãi suất là giá cả đặc biệt

Lãi suất hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng, vì nó là giá của quyền được sử dụng vốn vay trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay; là tỷ lệ của tổng số tiền phải trả so với tổng số tiền vay trong một khoảng thời gian nhất định Lãi suất là giá

mà người vay phải trả để được sử dụng tiền không thuộc sở hữu của họ và là lợi tức người cho vay

có được đối với việc trì hoãn chi tiêu

Xu hướng sử dụng công cụ phái sinh nhàm mục đích gì

1 Giá trong một thị trường phái sinh có tổ chức không chỉ tái tạo sự phân biệt của những người tham gia thị trường về tương lai mà còn dẫn dắt giá của tài sản cơ bản đến mức tương lai công khai Khi hết hạn hợp đồng phái sinh , giá của các phái sinh hội tụ với giá của tài sản cơ bản Vì vậy, các phái sinh là công cụ cần thiết để xác định giá của cả hiện tại và tương lai.

2 Các thị trường phái sinh định chuyển rủi ro từ những người ác cảm rủi ro sang những người có thể chấp nhận rủi ro.

3 Bản chất nội tại của thị trường phái sinh liên kết chúng với thị trường giao ngay của tài sản cơ bản Do các phái sinh có một sự gia tăng đáng kể trong khối lượng trao đổi của thị trường giao ngay tài sản cơ bản Yếu tố chi phối này sau đó như sự nâng cao tham gia tăng lên của những người chơi bổ sung, những người có thể sẽ không tham gia nếu thiếu vắng mặt một thủ tục nào

đó để chuyển giao rủi ro.

Trang 5

4 Vì sự giám sát, trinh sát các hoạt động của người tham gia khác nhau trở nên rất khó khăn trong các thị trường nhiều loại; việc thiết lập một hình thức thị trường được tổ chức trở thành cấp bách hơn tất cả Do đó, trong sự hiện diện của một thị trường phái sinh có tổ chức, suy đoán có thể được kiểm soát, dẫn đến một môi trường tỉ mỉ hơn.

5 Các bên thứ ba có thể sử dụng giá phái sinh công bố công khai như các dự đoán được sáng tỏ của kết quả không chắc chắn trong tương lai, ví dụ, khả năng một công ty sẽ vỡ nợ các khoản nợ của nó [29]

Mức nợ công của VN hiện nay

Lúc 15h00 (giờ Việt Nam) hôm nay (15/4), đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The Economist.com, báo chỉ số nợ công của Việt Nam hiện đang chiếm 49,2% GDP toàn quốc.

Theo đó, với tổng mức nợ công hiện là 72,523 tỷ USD, tính theo mức dân số Việt Nam mà Global debt clock cung cấp là 89.740.893 người, mỗi người dân đang “gánh” 808,1 USD nợ công.

Phân biệt cổ phiếu với trái phiếu

Giống nhau:

- Được phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ

- Đều có mệnh giá được ghi trên bề mặt cổ phiếu/trái phiếu

- Lợi tức được trả theo một mức cố định

Khác nhau:

1.Cổ phiếu:

- Là một chứng thư xác nhận quyền sở hữu trong công ty và cho phép người sở hữu nó được hưởng các quyền lợi thông thường trong công ty cổ phần

Đặc điểm:

- là một loại chứng khoán vốn, việc phát hành cổ phiếu làm tăng vốn chủ sở hữu.

- Cổ phiếu là một loại chứng khoán không có kỳ hạn thanh toán

- Cổ tức sẽ được trả vào cuối niên để quyết toán

- Quyền lợi và trách nhiệm của cổ đông:

+ Phần vốn góp là vĩnh viễn không được rút vốn lại nhưng có thể chuyển nhượng quyền sở hữu bằng cách bán cổ phiếu Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạnh trong phần vốn góp.

+ Quyền được hưởng cổ tức: đươc chia lời khi công ty có lãi tuy

nhiên cổ tức này không cố định phụ thuộc vào lợi nhuận và chính sách chia lời hàng năm của công ty.

+ Quyền được tham gia quản lý công ty và phải gánh chịu những rủi

ro của công ty

+ Quyền lợi đối với các đợt chứng khoán phát hành trong tương lai của công ty

+ Được hưởng phúc lợi dành cho cổ đông

2.Trái phiếu:

- Là một lọai chứng thư vay vốn do DN phát hành thể hiện nghĩa vụ

Trang 6

và sự cam kết của DN thanh toán số lợi tức và tiền vay vào những thời điểm nhất định cho người nắm giữ trái phiếu

Đặc điểm:

- Là một lọai chứng khoán nợ, việc phát hành trái phiếu để huy động vốn vay trung và dài hạn.

- Trái phiếu có thời hạn: là thời hạn đi vay của tổ chức phát hành đối với trái chủ và được ghi rõ trên bề mặt trái phiếu

- Trái phiếu có quy định lợi suất và thời hạn trả: Khác với cổ phiếu không quy định cụ thể tỷ suất cổ tức và thời hạn trả lãi Mỗi trái phiếu có ghi cam kết của tổ chức phát hành thanh toán cho người sở hữu trái phiếu một số tiền lãi cố định vào một ngày xác định.

- Trái chủ là người cho vay tiền nên có quyền lợi và nghĩa vụ nhất định đối với khoản vay này:

+ Lợi tức của trái phiếu không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của công ty

+ Được hoàn vốn đúng hạn hoặc trước hạn tùy thỏa thuận 2 bên + Được quyền bán, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố

+ Được thanh toán trước các cổ phiếu khi công ty thanh lý giải thể

Vai trò của thuế

* Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước:

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh

tế quốc dân.Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước đều được đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế, phí và các hình thức thu khác như: vay mượn, viện trợ nước ngoài, bán tài nguyên quốc gia, thu khác vv Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế, bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện Do đó thuế được coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì

khoản thu này càng tăng ở nước ta, Thuế thực sự trở thành nguồn thu chủ yếu của Ngân

sách Nhà nước từ năm 1990 Điều này được thể hiện qua tỷ trọng số thuế trong tổng thu ngân sách

Thuế, một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nước:

Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách

mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân.

Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ Sự thành công hay thất bại của việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo đuổi Bốn mục tiêu đó là:

- Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý

Trang 7

- Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.

- ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.

-Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.

Lãi suất thả nổi

Lãi suất thả nổi là lãi suất có thể thay đổi theo lãi suất tham chiếu hoặc theo chỉ số lạm phát, nó không cố định trong suốt thời hạn vay.

Tiện ích của sản phẩm:

- Khách hàng được lựa chọn lãi suất tiền gửi và hòa nhập vào sự biến động lãi suất của thị trường

- Tần suất xác định lãi suất đa dạng, tùy thuộc vào kỳ hạn tiền gửi của khách hàng

- Tỷ lệ khuyến khích cao

- Lãi được nhập gốc khi hết kỳ điều chỉnh lãi suất hoặc tự động thanh toán qua tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng

- Khách hàng được cấp Chứng nhận tiền gửi có kỳ hạn dành cho tổ chức và được sử dụng để cầm

cố vay vốn

- Khách hàng được tất toán tài khoản tiền gửi trước hạn

- Đến hạn tất toán tài khoản khách hàng không đến rút gốc và lãi thì toàn bộ số tiền lãi được nhập gốc và tự động chuyển sang tiền gửi có kỳ hạn thông thường

* Sự giống nhau: là khoản tiền phải nộp do Nhà nước quy định Thuế, lệ phí là nguồn thu của ngân sách nhà nước, tuy nhiên trong khoản phí có loại do nhà nước thu có loại do các tổ chức cá nhân thu

* Sự khác nhau:

- Thuế là công cụ phân phối thu nhập quốc dân, không chỉđể có nguồn thu,

màđiều chỉnh, can thiệp vào nền kinh tế, thực hiện việc điều tiết kinh tế vĩ mô, là công cụ bảo vệ kinh tế trong nước và cạnh tranh với nước ngoài Thuế tồn tại qua các hình thái xã hội có Nhà nước, là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách nhà nước (chiếm trên 80% tổng số thu ngân sách nhà nước và cơ bản trang trải nhu cầu chi tiêu trong ngân sách nhà nước)

- Phí và lệ phí là khoản mà các cá nhân và tổ chức phải nộp khi nhận được sự phục

vụ của các cá nhân tổ chức khác hoặc sự phục vụ công việc quản lý nhà nước Như vậy thuếđánh vào đối tượng có thu được một khoản tiền nhất định thông qua kinh doanh hoặc một khoản thu nhập cao nào đó Còn phí và lệ phí là khoản phải nộp khi nhận được sự phục vụ của tổ chức cá nhân hay nhà nước

3 * Xét về tên gọi và mục đích

4 Mục đích của từng loại lệ phí rất rõ ràng, thường phù hợp với tên gọi của nó Nói một cách chính xác hơn, tên gọi của loại lệ phí nào phản ánh khá đầy đủ mục đích sử dụng loại lệ phí đó

5 Mỗi một Luật thuế đều có mục đích riêng Tuy nhiên, đa số các sắc thuế có tên gọi không phản ánh đúng mục đích sử dụng, mà thường phản ánh đối tượng tính thuế

6 Nói chung mục đích của việc sử dụng của các loại thuế thường là tạo nguồn qũy ngân sách Nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi ngân sách Nhà nước, thực hiện chức năng quản lý xã hội của Nhà nước./

SS QĐT đóng – mở

Trang 8

+ Quỹ đóng

Đây là hình thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động

+ Quỹ mở

Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch

do tính chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lý quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán Do việc đòi hỏi tính thanh khoản cao, hình thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế

và thị trường chứng khoán phát triển như châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam

Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) hiểu là việc chứng khoán hay các khoản nợ, khoản phải thu có khả năng đổi thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện cho việc thanh toán hay chi tiêu Ta có thể lấy một

ví dụ, trong kế toán tài sản lưu động chia làm năm loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản từ cao đến thấp như sau: tiền mặt, đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, ứng trước ngắn hạn, và hàng tồn kho Như vậy rõ ràng tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn luôn dùng được trực tiếp để thanh toán, lưu thông, tích trữ; còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.

Chứng khoán có tính thanh khoản là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư nguyên thủy của ngân hàng Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng dứt khoát phải xem xét đến khả năng bán lại trước khi

chúng đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là khó tìm được người mua hoặc phải bán mất giá, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn Và điều này gọi là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán

muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán với các nhà đầu tư Tính lỏng cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả

khoán, nhìn vào bảng thống kê tính thanh khoản của cổ phiếu, nhà đầu tư dễ dàng nhận ra những cổ phiếu giao dịch sôi động nhất cũng là những cổ phiếu có P/E cao hơn mức trung bình của thị trường (được đánh giá cao hơn các cổ phiếu có cùng lợi tức) Đây là những chứng khoán có tốc độ tăng giá cao và mang lại giá trị thặng dư cao cho cổ đông thông qua việc chia tách cổ phiếu hay phát hành cổ phiếu mới

Trang 9

Thặng dư vốn cổ phần = (giá phát hành - mệnh giá) x số

lượng cổ phần phát hành.

Thặng dư vốn cổ phần được hình thành từ việc phát hành thêm cổ phần và trong tương lai thì khoản thặng dư vốn cổ phần này sẽ được chuyển đổi thành cổ phần và được kết chuyển vào vốn đầu tư của chủ sở hữu Do đó khoản thặng dư vốn cổ phần này sẽ không được xem là vốn cổ phần cho đến khi chúng được chuyển đổi thành cổ phần và kết chuyển vào vốn đầu tư chủ sở hữu.

Ngày đăng: 03/04/2018, 22:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w