Đề tài này được hình thành với mục tiêu xây dựng mô hình và đề xuất các hàm ý quản trị về các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB vốn ngân sách nhà nước trên địa bà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VŨ ĐỨC THIỆN
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
VŨ ĐỨC THIỆN
ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TẠI TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS DIỆP GIA LUẬT
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực và chưa được dùng
để bảo vệ một học vị nào khác Các thông tin, trích dẫn trong luận văn đều được ghi
rõ nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng /
Kiên Giang, ngày 12 tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Đức Thiện
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI TRONG THỰC TIỄN 5
1.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN 7
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN CỦA ĐỀ TÀI 7
2.1.1.Các định nghĩa và khái niệm quan trọng 7
2.1.2 Khái niệm chậm tiến độ 9
2.1.3 Hậu quả của chậm tiến độ 9
2.1.4 Phân loại dự án đầu tư xây dựng 9
2.1.5 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng 10
2.1.6 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng 11
2.2 CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 13
Trang 52.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 15
2.3.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài 15
2.3.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU 20
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu 20
3.1.2 Xác định kích thước mẫu nghiên cứu 21
3.1.3 Nghiên cứu định tính 21
3.1.4 Nghiên cứu định lượng 22
3.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 23
3.2.1 Chủ đầu tư và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 23
3.2.2 Phối hợp, tuyên truyền và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 24
3.2.3 Khung pháp lý và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 25
3.2.4 Người quyết định đầu tư và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 26
3.2.5 Nhà thầu thi công và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 27
3.2.6 Tư vấn và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB 29
3.2.7 Điều kiện tự nhiên và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB 30
3.3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 311
3.3.1 Nhóm yếu tố liên quan đến người quyết định đầu tư 32
3.3.2 Nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư, ban quản lý 32
3.3.3 Nhóm yếu tố liên quan đến nhà thầu thi công 33
3.3.4 Nhóm yếu tố liên quan đến nhà tư vấn 33
3.3.5 Nhóm yếu tố pháp lý của dự án 33
3.3.6 Nhóm yếu tố về phối hợp, tuyên truyền 33
3.3.7 Nhóm yếu tố tác động của điều kiện tự nhiên 33
CHƯƠNG 4 TRÌNH BÀY KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 TÓM TẮT THÔNG TIN MẪU NGHIÊN CỨU 34
Trang 64.1.1 Tóm tắt thông tin loại dự án 34
4.1.2 Tóm tắt thông tin chức vụ công tác 34
4.1.3 Tóm tắt về thâm niên làm việc 35
4.1.4 Tóm tắt các loại công trình 35
4.1.5 Tóm tắt về vị trí công tác 36
4.2 KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG CỦA THANG ĐO 37
4.2.1 Kiểm tra độ tin cậy cho các biến độc lập 37
4.2.2 Kiểm tra độ tin cậy biến phụ thuộc cho khái niệm nhóm câu hỏi liên quan đến tiến độ thực hiện dự án đầu tư XDCB 41
4.3 KIỂM ĐỊNH PHÂN TÍCH NHÂN TỐ EFA (Exploratory Factor Analysis) 41
4.3.1 Phân tích nhân tố khám phá cho khái niệm các biến độc lập 41
4.3.2 Phân tích nhân tố cho khái niệm tiến độ hoàn thành của biến phụ thuộc 44
4.4 PHÂN TÍCH TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ 44
4.5 PHÂN TÍCH HỒI QUY 45
4.5.1 Bảng kết quả hồi quy 45
4.5.2 Mô hình hồi quy 47
4.6 KIỂM ĐỊNH CÁC GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU THÔNG QUA MÔ HÌNH HỒI QUY 47
4.6.1 Kiểm định giả thuyết H1: 47
4.6.2 Kiểm định giả thuyết H2: 48
4.6.3 Kiểm định giả thuyết H3: 48
4.6.4 Kiểm định giả thuyết H4: 48
4.6.5 Kiểm định giả thuyết H5: 49
4.6.6 Kiểm định giả thuyết H6: 49
4.6.7 Kiểm định giả thuyết H7: 49
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ 51
5.1 KẾT LUẬN CHUNG 51
5.2 HÀM Ý QUẢN TRỊ 53
Trang 75.2.1 Hàm ý cho nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư, ban quản lý 53
5.2.2 Hàm ý cho nhóm yếu tố người quyết định đầu tư 54
5.2.3 Hàm ý cho nhóm yếu tố liên quan đến phối hợp, tuyên truyền 55
5.2.4 Hàm ý cho nhóm yếu tố pháp lý 55
5.2.5 Hàm ý cho nhóm yếu tố nhà tư vấn 56
5.2.6 Hàm ý cho nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên 57
5.2.7 Hàm ý cho nhóm yếu tố nhà thầu thi công 57
5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 58
5.4 GỢI Ý VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8- BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
- BTO: Hợp đồng Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
- ODA: Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
- FDI: Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Tổng chi tiêu và chi tiêu cho đầu tư phát triển của cả nước 2
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp kiểm tra độ tin cậy của thang đo 38
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.1 Tóm tắt bố cục của đề tài 6
Hình 2.1 Tóm tắt các giai đoạn của một dự án XDCB 13
Hình 2.2 Quan hệ giữa nhân tố tác động và tiêu chí thành công dự án 15
Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Al- Momani AH, 2000 16
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Chan DW, Kumaraswamy MM, 1997 16
Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Odeyinka và Yusif, 1997 17
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh, 2014 18
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Vũ Quang Lãm, 2015 18
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu của Lưu Trường Văn và cộng sự, 2015 19
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề xuất 20
Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu chính thức 32
Trang 10TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là một nhiệm vụ được Đảng và Nhà nước rất quan tâm, là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong chi tiêu ngân sách hàng năm của Nhà nước Đầu tư XDCB góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế– xã hội của mỗi Quốc gia Tuy nhiên có một thực trạng chung tại Việt Nam trong đó có tỉnh Kiên Giang, các công trình XDCB bằng nguồn ngân sách nhà nước luôn đối diện với tình trạng chậm tiến độ hoàn thành so với kế hoạch do nhiều nguyên nhân khác nhau
Đề tài này được hình thành với mục tiêu xây dựng mô hình và đề xuất các hàm ý quản trị về các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và mong muốn góp phần cải thiện tiến độ các dự án, công trình trong thời gian tới, làm giảm tổn thất cho ngân sách nhà nước và hậu quả của tình trạng chậm tiến độ các dự án đầu tư XDCB gây ra với xã hội
Dựa trên cơ sở lý thuyết nền và các nghiên cứu có liên quan của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về nguyên nhân chậm trễ tiến độ các dự án, công trình XDCB và thực tế qua quá trình công tác của tác giả cùng đồng nghiệp, nghiên cứu đã tiến hành khảo sát sơ bộ đối với các đối tượng liên quan và khảo sát chính thức đối các đối tượng tham gia 320 dự án, công trình có đặc điểm chung là chậm tiến độ, được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kết quả khảo sát qua bước phân tích nhân tố (EFA) cho thấy từ 35 biến quan sát cho khái niệm các biến độc lập và 03 biến quan sát liên quan đến khái niệm biến phụ thuộc, qua 02 lần phân tích nhân tố đã rút trích được 07 nhóm yếu tố đại diện cho 31 biến quan sát của các biến độc lập có quan hệ đồng biến với biến phụ thuộc là tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB Kết quả phân tích hồi quy bội cho ta thấy tất cả các nhóm nhân tố khi đưa vào phân tích hồi quy đều có ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB, mức độ tác động của các nhóm yếu tố từ cao xuống thấp như sau: Đứng đầu là nhóm yếu tố liên quan đến chủ đầu tư, ban quản lý dự án, kế tiếp thứ hai là nhóm yếu tố liên quan đến người
Trang 11quyết định đầu tư, đứng thứ ba là nhóm yếu tố liên quan đến phối hợp, tuyên truyền và tiếp theo là nhóm yếu tố liên quan đến pháp lý của dự án, yếu tố nhà tư vấn, yếu tố điều kiện tự nhiên và yếu tố nhà thầu thi công, các giả thuyết được ủng
hộ với mức ý nghĩa 5% Mô hình hồi quy đã đạt được 07 giả thuyết quan trọng và
có dạng sau:
Tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB = -2.547E-017 +
0.448 * Chủ đầu tư, ban quản lý + 0.318 * Phối hợp tuyên truyền + 0.249 * Pháp lý + 0.410 * Người quyết định đầu tư + 0.115 * Nhà thầu thi công + 0.222* Nhà tư vấn + 0.214 * Điều kiện tự nhiên
Với kết quả nghiên cứu, phân tích đã đưa ra những hàm ý quản trị liên quan của từng nhóm yếu tố đến các đối tượng liên quan, các nhà hoạch định chính sách
có những điều chỉnh kịp thời nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng chậm tiến
độ các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước trong thời gian tới và đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra./
Từ khóa: yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án
đầu tư xây dựng cơ bản, vốn ngân sách nhà nước
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
Chương này giới thiệu tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, các câu hỏi đặt ra cần giải quyết, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn và sau cùng là giới thiệu cấu trúc của đề tài
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Để đưa đất nước phát triển thì đầu tư xây dựng cơ bản (XDCB) là nhân tố quan trọng không thể thiếu với bất kỳ Quốc gia, lãnh thổ nào Đối với Việt Nam vừa mới thoát khỏi vị trí một một Quốc gia nghèo, cơ sở vật chất, hạ tầng còn thấp kém thì đầu tư XDCB có vai trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất, hạ tầng
và là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội
Kiên Giang là một tỉnh thuộc Đồng Bằng Sông Cửu Long, có vị trí địa lý thuận lợi và cơ hội để đầu tư phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên cơ sở vật chất, hạ tầng được nhà nước quan tâm đầu tư bước đầu chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của tỉnh Quán triệt thực hiện nhiệm vụ năm 2015 của Chính phủ, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã cụ thể hóa ban hành Chương trình số 31/CTr-UBND ngày 29/01/2015 với 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2015 và chương trình chỉ đạo, điều hành năm 2016 Trong đó có nhóm giải pháp chỉ đạo tiếp tục huy động các nguồn lực để đầu tư kết cấu hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Vì vậy Chính phủ và tỉnh đã ưu tiên dành một phần lớn trong chi tiêu ngân sách chi cho đầu tư phát triển, trong đó chiếm đa số là đầu tư XDCB Chính nhờ sự quan tâm đầu tư đó đã góp phần không nhỏ cho tăng trưởng kinh tế của nước ta nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng
Trang 13Bảng 1.1: Tổng chi tiêu và chi tiêu cho đầu tư phát triển của cả nước
Tổng chi tiêu (tỷ đồng) 905.790 1.277.710 1.339.489 1.147.100 1.273.200
Chi đầu tư phát triển
Nguồn: Lấy từ Số liệu của Bộ Tài chính, (*) lấy theo dự toán
Tuy nhiên, thực trạng hiện nay hoạt động đầu tư XDCB đang phải đối mặt với tình trạng chậm tiến độ phổ biến ở nhiều dự án, công trình do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ sự tham gia của các bên liên quan đến các yếu tố về điều kiện tự nhiên Theo báo số liệu cáo số 3114/BKHĐT-GSTĐĐT ngày 22 tháng 5 năm 2015 của Bộ Kế hoạch Đầu tư gửi Thủ tướng Chính phủ tổng hợp báo cáo từ các tỉnh, thành phố trong cả nước Trong năm 2014 cả nước có 2.869 dự án chậm tiến độ (60
dự án nhóm A, 880 dự án nhóm B và 1.893 dự án nhóm C), chiếm 7,32% số dự án thực hiện trong kỳ, năm 2013 tỷ lệ này là 9,59%, năm 2012 là 11,77% và năm 2011
là 11,55% Chính điều này đã làm giảm đi hiệu quả đầu tư các dự án XDCB, kéo theo những tổn thất cho các bên tham gia dự án Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu, khám phá các nguyên nhân và đề xuất nhiều giải pháp nhằm khắc phục hạn chế này Tại tỉnh Kiên Giang tình trạng chậm tiến độ ở các dự án XDCB sử dụng vốn
ngân sách nhà nước cũng diễn ra phổ biến Đề tài: “Đánh giá các yếu tố tác động
đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” mong muốn sau khi hoàn thành sẽ đóng
góp phần nào trong việc xác định các yếu tố gây chậm trễ tiến độ các dự án và đề xuất những giải pháp phù hợp để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư XDCB, góp phần tạo nên thành công các dự án đầu tư XDCB trong tương lai Ngoài ra đề tài có thể sử dụng cho các tổ chức, cá nhân nghiên cứu, phục vụ công tác lãnh đạo điều hành dự án và thực hiện công việc thuộc lĩnh vực có liên quan
Trang 141.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu được thực hiện đặt mục tiêu tìm ra các yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành dự án đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Kiên Giang Từ các nhân tố được tìm ra, đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố và đề xuất những giải pháp nhằm cải thiện tiến độ thực hiện các dự án đầu tư XDCB của tỉnh trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố làm chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tiến độ thực hiện các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành (yếu tố gây chậm trễ) các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Kiên Giang
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp phân tích định tính và định lượng được áp dụng để thực hiện trong nghiên cứu của đề tài này
- Phương pháp định tính: Từ mô hình nghiên cứu được đề xuất, tham khảo
các mô hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, áp
Trang 15dụng kỹ thuật thảo luận nhóm thông qua việc thảo luận với 10 chuyên gia trong ngành gồm có: Người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, Giám đốc ban quản lý dự án đầu tư xây dựng (ĐTXD), các cán bộ, chuyên gia đang công tác tại các sở ngành, các nhà thầu tư vấn thiết kế, giám sát, nhà thầu thi công Thông qua thảo luận nhóm
sẽ phát hiện những sai xót trong bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ, điều chỉnh và bổ sung các nhân tố cho phù hợp để đưa vào mô hình nghiên cứu
- Phương pháp định lượng: Thực hiện thông qua nghiên cứu chính thức bằng
việc phát bảng câu hỏi đến các đối tượng khảo sát đang hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến công tác đầu tư xây dựng cơ bản gồm: người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý dự án ĐTXD, nhà thầu tư vấn, nhà thầu thi công, cán bộ làm
công tác liên quan đến việc quản lý cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản Mục đích
của phương pháp này nhằm thu thập thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu, kiểm định mô hình lý thuyết, kiểm định thang đo, xem xét mối quan hệ của các yếu
tố làm ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư xây dựng cơ bản Nghiên cứu này sử dụng bảng câu hỏi khảo sát với thang đo Likert 5 bậc với 5 mức độ đánh giá khác nhau từ thấp đến cao, kiểm định độ tin cậy thang
đo (Cronbach’s Alpha) của từng nhóm nhân tố để loại bỏ các biến không phù hợp, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích tương quan, hồi qui tuyến tính bội, sau đó đưa ra kết luận đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành các dự
án đầu tư xây dựng cơ bản và để trả lời 02 câu hỏi nghiên cứu sau:
- Câu hỏi 1: Những yếu tố nào tác động đến tình trạng chậm tiến độ hoàn
thành dự án đầu tư XDCB, sử dụng vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Kiên Giang thời gian qua và mức độ tác động của chúng?
- Câu hỏi 2: Những giải pháp chính sách nào cần bổ sung, điều chỉnh để hạn
chế đến mức thấp nhất tình trạng chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB của tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới?
Trang 161.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI TRONG THỰC TIỄN
Từ mục tiêu là tìm ra các yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Kiên Giang Yếu tố nào là nguyên nhân chính làm trì hoãn tiến độ của các dự án ĐTXD
cơ bản, đề xuất các giải pháp cho người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, ban quản lý
dự án ĐTXD, lãnh đạo chính quyền địa phương, các cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư…có những chính sách phù hợp để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý có hiệu quả các dự án đầu tư XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới được tốt hơn
1.6 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài được chia thành 5 chương Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu, gồm các nội dung về tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đối tượng và phạm vi của nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài trong thực tiễn Chương 2: Giới thiệu tổng quan lý luận liên quan, gồm cơ sở lý thuyết có liên quan của đề tài, lý thuyết các yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến
độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB và các mô hình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu, các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu, gồm các nội dung về thông tin mẫu nghiên cứu, kết quả kiểm định chất lượng của thang đo (Cronbach’s Alpha), kiểm định phân tích nhân tố (EFA), phân tích tương quan giữa các yếu tố, phân tích hồi quy và kiểm đinh các giả thiết nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị gồm có kết luận chung kết quả nghiên cứu, hàm ý quản trị nội dung các yếu tố, hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 17Hình 1.1 Tóm tắt bố cục của đề tài
GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
- Tính cấp thiết của đề tài
- Mục tiêu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu
- Ý nghĩa khoa học của đề tài trong
- Phương pháp nghiên cứu
- Các giả thiết nghiên cứu
- Mô hình nghiên cứu
TRÌNH BÀY KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU
- Thông tin mẫu nghiên cứu
- Kiểm định chất lượng của thang đo
- Kiểm định phân tích nhân tố EFA
- Phân tích tương quan giữa các yếu tố
- Phân tích hồi quy
- Kiểm định mức độ phù hợp của
mô hình
- Kiểm định phương sai của phần
dư thay đổi
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ
Trang 18CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ LUẬN
Chương này trình bày cở sở lý thuyết gồm: Định nghĩa và khái niệm quan trọng có liên quan đến nghiên cứu của đề tài, phân loại dự án đầu tư xây dựng, đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng, các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng, các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài
2.1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN CỦA ĐỀ TÀI
2.1.1.Các định nghĩa và khái niệm quan trọng
Dự án: Có nhiều cách khác nhau để khái niệm dự án là gì Nhưng ở mỗi quốc
gia, lãnh thổ nào đó sẽ có những khái niệm khác nhau về dự án
Theo Eric Verzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất” Công việc tạm thời sẽ
có điểm bắt đầu và kết thúc Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyển sang những dự án mới Theo tiêu chuẩn của Australia (AS 1379-1991) định nghĩa: Dự án là một dự kiến công việc có thể nhận biết được, có khởi đầu, có kết thúc bao hàm một số hoạt động có liên hệ mật thiết với nhau Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: Dự
án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí
và nguồn lực
Dự án đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50 năm 2014, là tập hợp các
đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng
Trang 19Quản lý dự án: Theo từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia, là ngành khoa
học nghiên cứu về việc lập kế hoạch, tổ chức và quản lý, giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời gian, trong phạm vi ngân sách đã được duyệt, đảm bảo chất lượng, đạt được mục tiêu cụ thể của dự
án và các mục đích đề ra
Chủ đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng số 50 năm 2014, là cơ quan, tổ
chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng
Công trình xây dựng: Là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con
người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng,công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác
Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm: Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Cơ quan chuyên môn về xây dựng là cơ quan chuyên môn trực thuộc Bộ Xây
dựng, Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Sở Xây dựng, Sở quản lý công trình xây dựng chuyên ngành; Phòng có chức năng quản lý xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư là cơ quan, tổ chức
có chuyên môn phù hợp với tính chất, nội dung của dự án và được người quyết định đầu tư giao nhiệm vụ thẩm định
Nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng: Theo Luật Xây dựng 2014, là tổ
chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư xây dựng
Trang 20Tiến độ hoàn thành dự án xây dựng: Là thời gian thực tế hoàn thành một dự
án đầu tư xây dựng tính từ khi chuẩn bị dự án đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa vào
sử dụng
2.1.2 Khái niệm chậm tiến độ
Trong nghiên cứu này tình trạng chậm tiến độ của dự án được hiểu chính là
thời gian thực hiện dự án vượt quá thời gian quy định trong hợp đồng giữa chủ đầu
tư và nhà thầu thực hiện dự án
2.1.3 Hậu quả của chậm tiến độ
Hậu quả của chậm tiến độ gây ảnh hưởng khác nhau cho các bên tham gia vào
dự án Một trong các hậu quả thường gặp là mất thời gian, tiền bạc và khả năng dự
án bị thu hồi Đối với chủ đầu tư, chậm tiến độ có nghĩa là mất nguồn thu có được
từ dự án và hoặc tiếp tục phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng hiện hữu Đối với nhà thầu, chậm tiến độ sẽ dẫn đến việc mất thêm tiền để chi trả cho các trang thiết bị và người lao động Ngoài ra, vốn ứng trước của nhà thầu đã chi vào các dự án rất khó để thu hồi Đối với công chúng, các dự án xây dựng và các dự án cơ sở hạ tầng chưa được đưa vào để sử dụng đúng theo quy hoạch làm cho người dân phải tiếp tục sử dụng/ chia sẻ các cơ sở hạ tầng hiện hữu và cũ kỹ Đối với nhà nước, Chính phủ bị mất các nguồn thu do chậm đưa vào sử dụng các công trình và cơ sở hạ tầng mới Đối với bản thân dự án, chậm tiến độ khiến hầu hết các dự án phải chịu thêm gánh nặng chi phí gia tăng khi hoàn thành muộn hơn kế hoạch (Shaikh và cộng sự, 2010 trích dẫn bởi Vũ Quang Lãm, 2015)
2.1.4 Phân loại dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình chính của dự án gồm: Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B và dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu tư công
Dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm: Công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng
Trang 21Dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo loại nguồn vốn sử dụng gồm: Dự
án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách
và dự án
2.1.5 Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng
Sản phẩm của dự án mang tính chất đơn nhất, độc đáo Khác với quá trình sản
xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại Tuy nhiên, ở nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn
và dễ bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn
có thiết kế khác nhau, vị trí khác nhau, khách hàng khác… Điều ấy càng tạo nên nét
duy nhất, độc đáo, mới lạ của dự án
Tính phức tạp và đa ngành: Một dự án được tổ chức thực hiện liên quan đến
nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản
lý dự án Dự án nào càng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước… Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên càng khác nhau Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm
vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận không giống nhau Tính chất này của
dự án dẫn đến hai hậu quả nghiêm trọng: (1) không dễ các bên tham gia có cùng quyền lợi, định hướng và mục tiêu; (2) khó khăn trong việc quản lý, điều phối nguồn lực… Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, các nhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận quản lý khác
Giới hạn về quy mô và thời gian thực hiện: Một số dự án đặt ra một số yêu cầu
nghiêm ngặt về quy mô, các thông số kinh tế, kỹ thuật và thời gian thực hiện của dự
án đặt ra đòi hỏi phải thực hiện đúng theo yêu cầu của chủ đầu tư dự án Thước đo
để đánh giá sự thành công của dự án là dự án đảm bảo yêu cầu về quy mô và tiến độ thực hiện đặt ra
Trang 22Tính bất định và rủi ro cao: Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư
và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao Tuy nhiên các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộc vào: Tầm cỡ của dự án, mức độ hao mòn của dự án, công nghệ được sử dụng, mức độ đòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính không thể dự báo được của môi trường dự án…
2.1.6 Các giai đoạn thực hiện dự án đầu tư xây dựng
Theo Luật Xây dựng số 50 năm 2014, trình tự đầu tư xây dựng có 03 giai đoạn gồm chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng, trừ trường hợp xây dựng nhà ở riêng lẻ
Giai đoạn chuẩn bị dự án: Giai đoạn này chủ đầu tư dự án tiến hành lập dự án
Đối với các dự án nhóm A, trước khi lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, chủ đầu tư phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng Những
dự án khác trong trường hợp cần phải lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng do người quyết định đầu tư xem xét, quyết định Hoặc chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng trong các trường hợp công trình xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo; Công trình xây dựng quy mô nhỏ và công trình khác
do Chính phủ quy định hoặc khi xây dựng nhà ở riêng lẻ
Giai đoạn thực hiện dự án: Sau khi báo cáo đầu tư được phê duyệt chủ đầu tư
dự án tiến hành thuê đơn vị tư vấn có đầy đủ năng lực và kinh nghiệm tiến hành lập
dự án, khảo sát, thiết kế các hạng mục của dự án Tuỳ theo quy mô, tính chất công trình xây dựng, việc thiết kế có thể thực hiện theo một bước, hai bước hay ba bước Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật
Thiết kế hai bước bao gồm thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án đầu tư
Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án và có quy mô là cấp đặc
Trang 23biệt, cấp I và công trình cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Sau khi đã tiến hành lập dự án, khảo sát, thiết kế, lập dự toán các hạng mục của dự án, chủ đầu tư tiến hành thuê tư vấn thẩm tra các hồ sơ thiết kế, dự toán lập
ra hoặc có thể tự thẩm tra nếu có đủ điều kiện năng lực để làm cơ sở cho thẩm định trình người quyết định đầu tư (cơ quan nhà nước) phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán Chú ý trong giai đoạn này, năng lực của đơn vị tư vấn phải đảm bảo có kinh nghiệm nghề nghiệp, nhân lực đảm bảo (có chứng chỉ hành nghề và bằng cấp phù hợp) Khi
có quyết định phê duyệt hồ sơ thiết kế, dự toán chủ đầu tư tiến hành tổ chức thi công xây dựng công trình thông qua nhiều hình thức để lựa chọn nhà thầu như: đấu thầu hoặc chỉ định thầu thi công xây dựng Khi chọn được nhà thầu đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu tiến hành thương thảo và ký hợp đồng thi công dự án
Trong quá trình thi công các hạng mục của dự án, chủ đầu tư tự thực hiện công tác quản lý, điều hành dự án nếu có đầy đủ năng lực hoặc thuê tư vấn quản lý dự án, đồng thời thuê tư vấn để giám sát thi công, tư vấn kiểm định chất lượng các hạng mục công trình hoặc chủ đầu tư tự thực hiện giám sát đảm bảo cho công trình thi công đúng tiến độ, đảm bảo an toàn lao động và chất lượng các hạng mục công trình
Giai đoạn kết thúc dự án: Giai đoạn này được tiến hành sau khi các hạng mục
của dự án được thi công hoàn thành, đúng theo hồ sơ thiết kế được phê duyệt, đảm bảo chất lượng các hạng mục công trình, chủ đầu tư dự án và các bên liên quan tiến hành nghiệm thu các hạng mục của dự án để đưa và khai thác sử dụng và tiến hành các thủ tục thanh quyết toán hoành thành các hạng mục của dự án
Trang 242.2 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hình 2.1 Tóm tắt các giai đoạn của một dự án XDCB 2.2 TÌNH TRẠNG CHẬM TIẾN ĐỘ HOÀN THÀNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XDCB SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Arditi và cộng sự (1985), Long et al (2004), Sambasivan and Soon (2007),
sự chậm trễ là hiện tượng phổ biến trong các dự án xây dựng trên toàn thế giới nó kéo theo những hệ quả nghiêm trọng cho ngành xây dựng, Al-Khalil và Al-Ghafly (1999), làm tăng thêm chi phí phát sinh cho dự án, gây khó khăn cho các chủ đầu tư
và các bên liên quan, cản trở sự phát triển chung của ngành Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu tìm hiểu, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành (yếu tố gây chậm trễ) các dự án đầu tư XDCB liên quan như:
Stephen O Ogunlana and Krit Promkuntong (1996) trong nghiên cứu của mình đã tiến hành một cuộc khảo sát 12 dự án xây dựng tòa nhà cao tầng ở Bangkok, Thái Lan, nhận định các đối tượng và nguyên nhân gây chậm trễ các dự
án gồm: Chủ đầu tư: hay thay đổi thiết kế và ra các quyết định chậm; Nhà thiết kế: các bản vẽ không đầy đủ, phản ứng chậm; Nhà quản lý dự án và kiểm tra xây dựng: Những hạn chế trong tổ chức, những hạn chế trong phối hợp, thái độ không kiên
GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ DỰ ÁN
+ Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi (nếu có)
+ Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi (nếu có)
+ Hoặc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo kinh tế-kỹ thuật
+ Trình người quyết định đầu tư xây dựng công trình
GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN DỰ ÁN
+ Thực hiện việc giao đất hoặc thuê đất (nếu có)
+ Chuẩn bị mặt bằng xây dựng,
+ Khảo sát xây dựng công trình
+ Lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng
+ Cấp giấy phép xây dựng
+ Lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng và thi công xây dựng
+ Tạm ứng, giám sát, nghiệm thu, thanh toán giai đoạn
+ Nghiệm thu công trình xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng
GIAI ĐOẠN KẾT THÚC XÂY DỰNG
+ Quyết toán xây dựng theo hợp đồng + Bảo hành công trình xây dựng
Trang 25quyết, chậm trễ trong phê duyệt công việc; Nhà thầu: quản lý vật liệu có vấn đề, thiếu sót trong tổ chức, thiếu phối hợp, hoạch định kế hoạch có vấn đề; các vấn đề
về phân bổ thiết bị, nhà thầu gặp khó khăn về tài chính, kiểm tra hiện trường không đầy đủ; Nhà cung cấp tài nguyên: Thiếu hụt vật liệu xây dựng, phân phối hàng hóa chậm, giá cả leo thang, chất lượng vật liệu thấp, thiếu lao động địa phương, thiếu cán bộ kỹ thuật, không đủ số lượng thiết bị, thiết bị hỏng hóc thường xuyên; Nguyên nhân khác: hạn chế tại địa phương, vấn đề với láng giềng, chậm cấp phép bởi chính quyền Chính những nguyên nhân trên gây ra sự chậm trễ và ảnh hưởng chi phí của dự án
Geraldine John Kikwasi (2012) nghiên cứu những nguyên nhân làm gián đoạn trong các dự án xây dựng trên cơ sở phỏng vấn các đối tượng các chủ đầu tư, công ty tư vấn, ban quản lý dự án và các công ty xây dựng Kết quả cho thấy sự thay đổi thiết kế của chủ đầu tư, sự chậm trễ trong thanh toán cho các nhà thầu, thông tin chậm trễ, vấn đề kinh phí, quản lý dự án yếu kém, vấn đề bồi thường và bất đồng về xác định giá trị công việc thực hiện là các nguyên nhân chính gây ra chậm trễ và gián đoạn dự án
Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013
và một số văn bản liên quan khác là hệ thống các văn bản pháp lý để áp dụng thực hiện các dự án ĐTXD Muốn tổ chức thực hiện một dự án đúng quy trình, đảm bảo chất lượng, an toàn và kinh tế phải có một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định, hướng dẫn cụ thể và có sự tham gia của các bên liên quan như: Người quyết định đầu tư, cơ quan chuyên môn trực thuộc người quyết định đầu tư, chủ đầu
tư, ban quản lý dự án ĐTXD, các nhà thầu tư vấn thiết kế, giám sát, nhà thầu thi công, sự phối hợp của các bên liên quan cùng với sự hợp tác, tham gia của người dân Do đó bất kỳ những hạn chế liên quan đến hệ thống văn bản pháp lý, sự tham gia của các bên liên quan…sẽ tác động đến tiến độ hoàn thành các dự án XDCB sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Trang 262.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN
2.3.1 Một số nghiên cứu của nước ngoài
Theo Lim và Mohamed (1999, tr 244) đã đưa ra một khung khái niệm thể hiện mối quan hệ giữa các tiêu chí của một dự án thành công với một bên là tập hợp các
nhân tố tác động vào sự thành công của dự án được tóm tắt qua hình 2.2
Hình 2.2 Quan hệ giữa nhân tố tác động và tiêu chí thành công dự án
Nguồn: Lim C S and Mohamed M Z (1999)
Theo Al- Momani AH (2000, tr 9-51) nghiên cứu 130 dự án nhà ở, văn phòng, nhà công vụ, 2nhân chủ yếu gây chậm trễ liên quan đến thiết kế, thay đổi chủ sở hữu, thời tiết, điều kiện công trường, chậm chi trả, điều kiện kinh tế và vượt khối lượng
Các tiêu chí của dự án thành công
Nguyên nhân do chi trả chậm
Nguyên nhân do thiết kế
Nguyên nhân do thay đổi chủ sở hữu
Nguyên nhân do thời tiết
Nguyên nhân điều kiện công trường
Chậm trễ trong các
dự án xây dựng
Nguyên nhân do điều kiện kinh tế
Nguyên nhân do vượt khối lượng
Trang 27Hình 2.3 Mô hình nghiên cứu của Al- Momani AH (2000)
Theo Chan DW, Kumaraswamy MM (1997, tr 55-63) nghiên cứu sự chậm trễ của các dự án xây dựng ở Hồng Kông đã chỉ ra 83 yếu tố với 05 nguyên nhân chính và thường xuyên gây chậm trễ là: quản lý và giám sát công trường kém, điều kiện địa chất không lường trước, chậm trễ trong việc ra quyết định liên các dự án,
sự thay đổi từ phía chủ đầu tư, sự thay đổi trong quá trình thực hiện dự án
Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu của Chan DW, Kumaraswamy MM (1997)
Theo Odeyinka và Yusif (1997, tr 31-44) lập luận dựa trên nghiên cứu của họ
ở Nigeria nguyên nhân gây ra sự chậm trễ do hành vi tham gia bao gồm: Điều khoản hợp đồng thay đổi, chậm ra quyết định liên quan, các vấn đề tài chính, vấn đề quản lý vật liệu, lập kế hoạch và lịch trình các vấn đề, thiếu thông tin kiểm tra, thiết
bị các vấn đề quản lý và thiếu nhân lực Họ cũng xác định các yếu tố gây ra sự chậm trễ mà không được gây ra bởi những người tham gia dự án, bao gồm: thời tiết khắc nghiệt Nguyên nhân tương tự của sự chậm trễ được xác định bởi Odeyinka và Yusif (1997), Zayyana et al (2014) trong nghiên cứu của họ ở Malaysia Kaming et
al (2007) đã xác định các yếu tố tương tự như vậy ở Indonesia
Thay đổi trong thực hiện dự án
Quản lý và giám sát công trường kém
Điều kiện địa chất không lường trước
- Chậm trễ trong việc ra quyết định
Sự thay đổi từ phía chủ đầu tư
Chậm trễ trong các
dự án xây dựng
Trang 28Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu của Odeyinka và Yusif (1997)
2.3.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Theo Trịnh Thùy Anh (2014, tr 1-10) nghiên cứu các yếu tố gây chậm trễ trong các dự án giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát các cá nhân tham gia các dự án giao thông hiện đang làm việc trong các công ty xây dựng, tư vấn, các ban quản lý dự án, sở ban ngành trên địa bàn các tỉnh thành phía Nam Việt Nam Mô hình nghiên cứu cho thấy năng lực hạn chế của chủ đầu tư, ban quản lý dự án, nhà thầu, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, và các nguyên nhân khác đã gây nên sự chậm trễ trong các dự án giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước Kết quả phân tích hồi quy ta thấy được yếu tố có tác động mạnh nhất thuộc về tài chính vật tư của dự án có hệ số B1=2,009, kế tiếp là yếu tố năng lực nhà thầu thi công có B2=1,699, tiếp theo là năng lực chủ đầu tư, ban quản
lý có B3= 1,226, đứng thứ 4 là cơ chế tác động bên ngoài có B4=1,136, đứng thứ 5
Thiếu thông tin kiểm tra
Lập kế hoạch và lịch trình các vấn đề
Vấn đề về quản lý vật liệu
Các vấn đề về tài chính
Chậm ra quyết định liên quan
Điều khoản hợp đồng thay đổi
Trang 29H1(+) H2(+) H3(+)
H4(+) H5(+)
là năng lực tư vấn giám sát có B5=0,973 và cuối cùng mức tác động thấp nhất là năng lực tư vấn thiết kế có B6=0.954
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của Trịnh Thùy Anh (2014)
Theo Vũ Quang Lãm (2015, tr 24-31) đã nghiên cứu 214 mẫu đối với các
dự án đầu tư công tại Việt Nam, công trình nghiên cứu đã đưa ra 05 nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán, kết quả của công trình nghiên cứu đánh giá yếu tố tác động đến tình trạng chậm tiến độ và vượt dự toán từ mạnh đến yếu là: Yếu tố năng lực yếu kém trong quản lý dự án của chủ đầu tư, yếu tố năng lực yếu kém của nhà thầu hoặc tư vấn, yếu tố khó khăn về tài chính, yếu tố ngoại vi tác động tiêu cực, yếu tố pháp lý thiếu ổn định
Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu của Vũ Quang Lãm (2015)
dự án giao thông vốn ngân sách nhà nước
Vấn đề liên quan đến pháp lý
Vấn đề liên quan đến chủ đầu tư
Vấn đề liên quan đến nhà thầu
- Vấn đề liên quan đến nhà tư vấn
Vấn đề liên quan đến yếu tố ngoại vi
Tình trạng chậm tiến
độ và vượt dự toán các
dự án đầu tư công tại Việt Nam
Trang 30F1(-) F2(-)
F3(-)
F4(-) F5(-)
F6(-)
Theo Lưu Trường Văn và cộng sự (2015) đã xác định 28 yếu tố gây chậm trễ
và 06 nhóm chủ yếu của các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thành dự án Các kết quả của nghiên cứu cho thấy ba yếu tố có ảnh hưởng nhất của dự án hoàn thành là:
Sự chậm trễ thông tin và thiếu sự trao đổi thông tin giữa các bên, chủ đầu tư không
đủ năng lực, tư vấn giám sát không đủ năng lực Phần lớn sự chậm trễ phụ thuộc vào các nhóm các yếu tố liên quan đến nhà thầu và chủ đầu tư vì họ có tác động mạnh nhất vào việc hoàn thành dự án
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu của Lưu Trường Văn và cộng sự (2015)
Năng lực, tài chính, lực lượng sản
xuất của nhà thầu
Năng lực, tài chính, phê duyệt của
chủ đầu tư
Yếu tố bên ngoài
Yếu tố tự nhiên bên ngoài và tương
tác bên trong của dự án
Năng lực của tư vấn
Dự án hoàn thành
Điều khoản hợp đồng
Trang 31CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
Trong chương này sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu gồm cách thiết kế nghiên cứu, nội dung các bước nghiên cứu định tính, định lượng, đưa ra các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu chính thức
3.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1.1 Thiết kế nghiên cứu
Qua tham khảo một số quy trình nghiên cứu của một số đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài Dựa theo quy trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai (2002) Quy trình nghiên cứu được lựa chọn thiết kế như hình
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu đề xuất
Nghiên cứu định tính
- Bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ
- Phỏng vấn chuyên gia
Nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi khảo sát chính thức
Thang đo chính
Kiểm tra hệ số Cronbach’s Alpha (thỏa > 0.6) Kiểm tra hệ số tương quan biến tổng (thỏa > 0.3)
Phân tích hồi quy
tuyến tính bội Kiểm định các giả thiết nghiên cứu và đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố
Kiểm định tương quan từng phần các hệ số hồi quy Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (KĐ giả thuyết NC) Kiểm định hiện tượng phương sai của phần dư thay đổi
Trang 323.1.2 Xác định kích thước mẫu nghiên cứu
Theo Hair (2006) đối với mô hình phân tích nhân tố khám phá kích thước mẫu xác định dựa vào mức tối thiểu và số lượng biến đưa vào phân tích của mô hình
- Mức tối thiểu là 50 mẫu
- Nếu mô hình có m thang đo, Pi số biến quan sát của thang đo thứ i thì kích thước mẫu xác định theo công thức
Với k là tỷ lệ của số mẫu so với một biến phân tích là 5/1 hoặc 10/1
Chọn k=5/1 suy ra: n=5*(5+8+4+4+4+6+4+4) =190
Trong luận văn này đã khảo sát chính thức 320 mẫu, sau khi kiểm tra loại bỏ
08 mẫu không hợp lệ còn 312 mẫu hợp lệ, do đó đảm bảo yêu cầu của mẫu lớn hơn mức tối thiểu và lớn hơn mức tính từ công thức trên Vì vậy đảm bảo yêu cầu về số lượng mẫu khi đưa vào phân tích
Phương pháp lấy mẫu được áp dụng bằng cách lựa chọn mẫu phi xác xuất theo cách thuận tiện được gửi đến các đối tượng khảo sát do chính tác giả thực hiện và được sự trợ giúp của các bạn bè, đồng nghiệp giúp đỡ với sự hướng dẫn của chính tác giả được thực hiện sau khi hoàn thành bước khảo sát sơ bộ
3.1.3 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính trong nghiên cứu này áp dụng kỹ thuật thảo luận nhóm bằng việc thảo luận với 10 chuyên gia đang công tác ở những lĩnh vực liên quan gồm: 01 người giữ vai trò quyết định đầu tư, 01 phó trưởng phòng chuyên môn về xây dựng, 01 Giám đốc Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng, 01 cán bộ Ban quản lý
dự án, 01 phó Giám đốc Ban quản lý chuyên ngành sở, 01 nhà thầu tư vấn thiết kế,
01 cán bộ giám sát, 01 nhà thầu thi công, 01 cán bộ phòng tài chính kế hoạch, 01 cán bộ Kho bạc nhà nước, các đối tượng được khảo sát đều có kinh nghiệm về lĩnh vực XDCB và có thâm niên công tác từ 5 đến 20 năm Mục đích của phương pháp này là nhằm hiệu chỉnh nội dung bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ, hiệu chỉnh thang đo nháp, từ đó hiệu chỉnh, bổ sung vào mô hình nghiên cứu của đề tài
Trang 33Thông qua thảo luận nhóm đã có những ý kiến góp ý điều chỉnh, bổ sung một
số nội dung trong bảng khảo sát và hầu hết thống nhất các nhóm nhân tố trong bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ có ảnh hưởng đến tình trạng chậm tiến độ hoàn thành các dự
án đầu tư XDCB Tuy nhiên cũng có vài kiến nghị bổ sung các yếu tố, qua tổng hợp
có những ý kiến bổ sung có nội dung trùng lắp đã được nhắc đến trong các nhóm yếu tố khác và đặc biệt có 03 ý kiến bổ sung yếu tố liên quan đến người quyết định đầu tư chưa quyết liệt chỉ đạo xử lý tình trạng chậm tiến độ, yếu tố liên quan đến năng lực hạn chế của chủ đầu tư, ban quản lý dự án và yếu tố chủ đầu tư hay bị tác động trong lựa chọn nhà thầu
Các ý kiến đóng góp được phân tích tổng hợp, chỉnh sửa, bổ sung vào bảng khảo sát sơ bộ và có tham khảo ý kiến các chuyên gia một lần nữa, đa số đều thống nhất cao nội dusatstrong bảng khảo sát đã được chỉnh sửa sau góp ý và còn một vài góp ý nhỏ trong câu chữ cho dễ hiểu, tránh nhầm lẫn, tác giả tiếp tục chỉnh sửa hoàn thiện nội dung bảng khảo sát và ra bảng khảo sát nghiên cứu chính thức Kết quả nghiên cứu định tính được trình bày trong Phụ lục
3.1.4 Nghiên cứu định lượng
Phương pháp phân tích định lượng nhằm thu thập thông tin, kiểm định chất lượng thang đo, kiểm định mô hình lý thuyết, xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố
và giả thuyết nghiên cứu đặt ra Sau khi thực hiện xong bước khảo sát sơ bộ, các ý kiến đóng góp được chỉnh sửa, bổ sung vào bảng khảo sát, điều chỉnh mô hình nghiên cứu và ra bảng khảo sát nghiên cứu chính thức Tiến hành gửi phiếu khảo sát đến 320 đối tượng bằng cách lựa chọn mẫu phi xác xuất theo cách thuận tiện, các phiếu khảo sát được kiểm tra và loại bỏ một số phiếu không hợp lệ tổng số là 08 phiếu Như vậy tổng số phiếu hợp lệ còn lại là 312 phiếu, ta tiến hành mã hóa và nhập số liệu vào chương trình phân tích dữ liệu nghiên cứu SPSS 20 để tiến hành phân tích thông qua các bước sau:
- Bước 1: Kiểm định chất lượng thang đo (độ tin cậy thang đo): Sử dụng kiểm
định Cronbach’s Alpha để đánh giá chất lượng của thang đo và hệ số tương quan
biến tổng (Corrected Item-Total Correlation) của các biến quan sát
Trang 34- Bước 2: Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis): Sử
dụng thước đo KMO (Kaiser-Mayer-Olkin measure) để đánh giá sự thích hợp của
mô hình EFA đối với ứng dụng vào dữ liệu thực tế nghiên cứu; Sử dụng kiểm định Bartlet để đánh giá các biến quan sát có tương quan với nhau trong một thang đo và kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố; Sử dụng phương sai trích (% cumulative variance) để đánh giá mức độ giải thích của các biến quan sát với nhân tố
- Bước 3: Phân tích hồi quy bội: Thực hiện 3 kiểm định chính; Kiểm định
tương quan từng phần của các hệ số hồi quy nhằm xem xét từng biến độc lập tương quan có ý nghĩa với biến phụ thuộc không; Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nhằm xem xét có mối quan hệ tuyến tính giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc không ta sử dụng phân tích phương sai (ANOVA); Kiểm định hiện tượng phương sai của phần dư thay đổi ta sử dụng kiểm định Spearman
3.2 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
3.2.1 Chủ đầu tư và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB
Trịnh Thùy Anh (2014, tr 1-11) nghiên cứu nguyên nhân sự chậm trễ trong các
dự án giao thông sử dụng vốn ngân sách nhà nước Trong các yếu tố gây ra sự chậm trễ có các yếu do chủ đầu tư, ban quản lý dự án như: phương pháp quản lý không tốt; chậm trễ trong bàn giao mặt bằng; chậm trễ trong việc giải quyết hồ sơ và ra quyết định; thay đổi thiết kế trong quá trình thi công…
Theo Tổng hội Xây dựng Việt Nam [10] vừa công bố một thông tin gây “sốc”, hầu hết các dự án đầu tư tại Việt Nam, chủ yếu là dự án trọng điểm Quốc gia đều chậm tiến độ và tỷ lệ về đích đúng hẹn chỉ chiếm chưa tới 1% Trong đó có đi sâu phân tích nguyên nhân dẫn đến chậm trễ chủ yếu do cơ chế, chính sách về đền bù giải phóng mặt bằng, công tác chuẩn bị đầu tư kéo dài, lựa chọn nhà thầu thiếu năng lực, nguồn vốn không đảm bảo Bên cạnh đó trình độ, năng lực của các chủ thể tham gia dự án, trong đó có vai trò quản lý của chủ đầu tư còn hạn chế
Theo kết quả nghiên cứu của Geraldine John Kikwasi (2012, tr 52-59) cho thấy sự thay đổi thiết kế, sự chậm trễ trong thanh toán cho các nhà thầu, quản lý dự
Trang 35án kém… là một trong các nguyên nhân chính gây ra chậm trễ và gián đoạn dự án
Từ đó nghiên cứu kiến nghị nhiều giải pháp, trong đó có nâng cao kỹ năng quản lý
dự án của các bên liên quan trong quá trình thực hiện dự án
Chan DW, Kumaraswamy MM (1997, tr 55-63) cho rằng chủ đầu tư không đủ năng lực và chủ đầu tư hay thay đổi quyết định khởi công, quyết định thay đổi công việc là nguyên nhân dẫn đến việc chậm tiến độ hoàn thành của dự án
Qua những nghiên cứu, phân tích của các tác giả trong và ngoài nước, các bài báo phân tích của các chuyên gia trong lĩnh vực đầu tư XDCB cho chúng ta thấy rằng chủ đầu tư, ban quản lý dự án thật sự có ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành dự
án XDCB, do đó ta có thể đưa ra giả thuyết sau:
- Giả thuyết H 1: Các yếu tố hạn chế liên quan đến chủ đầu tư, ban quản lý
càng nhiều thì các dự án đầu tư XDCB càng chậm tiến độ
3.2.2 Phối hợp, tuyên truyền và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB
Trong nghiên cứu của Lưu Trường Văn và cộng sự (2015) cho thấy ba yếu tố
có ảnh hưởng lớn nhất đến tiến độ hoàn thành của dự án Trong đó có sự chậm trễ thông tin và thiếu sự trao đổi thông tin giữa các bên (chủ đầu tư, ban quản lý, nhà thầu, tư vấn) ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành của dự án
Qua thực tế công tác những năm qua trong ngành có nhiều công trình, dự án bị chậm tiến độ qua phân tích nguyên nhân tác giả nhận thấy một trong những nguyên nhân gây chậm trễ do sự phối hợp không tốt của các những bên tham gia dự án (chủ đầu tư, ban quản lý, nhà thầu thi công, tư vấn, chính quyền địa phương và nhân dân) Thực trạng phổ biến hiện nay, có nhiều nhà thầu thi công, nhà tư vấn lợi dụng
sự quen với người có địa vị, người có thẩm quyền quyết định đầu tư ở các địa phương để chạy xin công trình, dự án thực hiện Chính nhờ sự quen biết đó cộng với sự giúp đỡ, can thiệp của người có địa vị, người có thẩm quyền quyết định đầu
tư, nên trong quá trình thực hiện dự án có lúc nhà thầu “xem thường” vai trò của các bên liên quan, gây áp lực, có khi bất hợp tác…Vì thế quá trình hợp tác giữa các bên
để thực hiện công việc có lúc không tốt, gây chậm trễ cho công trình, dự án Mặt
Trang 36khác chính quyền địa phương chưa làm tốt công tác họp dân, đồng thời tuyên truyền
ý nghĩa và tầm quan trọng của các dự án để nhân dân biết, dân ủng hộ, để đến khi triển khai thực hiện bị vướng mặt bằng, chờ giải quyết tốn rất nhiều thời gian Thậm chí có nhiều công trình, dự án không thực hiện được hoặc phải điều chỉnh quy mô
Do đó ta thấy công tác phối hợp, tuyên truyền không tốt thật sự có ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án, vì thế ta có thể đưa ra giả thuyết sau:
- Giả thuyết H 2: Công tác phối hợp, tuyên truyền càng không tốt thì các dự án
đầu tư XDCB càng chậm tiến độ
3.2.3 Khung pháp lý và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB
Trong nghiên cứu của Cao Hào Thi (2006, tr 21) cho rằng yếu tố chính sách là một trong chín yếu tố thuộc nhóm yếu tố môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến sự thành công của dựa án Ở nghiên cứu này yếu tố chính sách được sắp xếp trong nội dung yếu tố pháp lý của dự án cho phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất
Từ năm 2013 đánh dấu sự thay đổi đáng kể trong hệ thống pháp lý ngành xây dựng Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật này quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng, thay thế cho Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003; Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013 Luật này quy định quản lý nhà nước về đấu thầu; trách nhiệm của các bên có liên quan và các hoạt động đấu thầu, thay thế cho Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật này quy định việc quản
lý và sử dụng vốn đầu tư công; quản lý nhà nước về đầu tư công; quyền, nghĩa vụ
và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư công; Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về Quản lý dự
án đầu tư xây dựng; Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ
về Quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng; Nghị định số
32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng; Thông tư số 18/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng quy định chi tiết về thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và thiết kế, dự toán xây dựng công trình theo quy
Trang 37định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng và một số văn bản khác liên quan
Trong một thời gian ngắn mà hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan của ngành ban hành mới nhiều rất nhiều, với những thay đổi nội dung đáng kể so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đây Đặc biệt lần tiên Luật Đầu tư công
số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014 ban hành, trong khi các văn bản hướng dẫn ban hành của các Bộ, ngành Trung ương, của tỉnh hướng dẫn thi hành còn chậm, hoạt động đầu tư XDCB còn gặp bỡ ngỡ ở địa phương Có công trình, dự án đang triển khai gặp khó khăn phải chờ đợi giải quyết, điều chỉnh cho phù hợp [9] nên tiến độ thực hiện một số dự án bị ảnh hưởng
Qua nghiên cứu của các tác giả và khung pháp lý liên quan đến hoạt động đầu
tư XDCB như hiện nay, ta thấy yếu tố pháp lý thật sự có ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hoạt động đầu tư XDCB, do đó ta có thể đưa ra giả thuyết sau:
- Giả thuyết H 3: Hạn chế trong khung pháp lý liên quan đến hoạt động đầu tư
XDCB càng nhiều thì các dự án đầu tư XDCB càng chậm tiến độ
3.2.4 Người quyết định đầu tư và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB
Trong nội dung công văn số 3114/BKHĐT-GSTĐĐT ngày 22 tháng 5 năm
2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư [1] gửi Chính phủ về việc thực hiện Nghị định số 113/NĐ-CP ngày 15 tháng 2 năm 2009 về giám sát và đánh giá đầu tư, trên cơ sở báo cáo giám sát đánh giá tổng thể đầ tư năm 2014 của các Bộ, ngành và địa phương Trong đó có nhận xét, đánh giá chung nguyên nhân của những dự án chậm tiến độ còn khá cao, mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có những chỉ đạo quyết liệt Việc chậm tiến độ các dự án tác động tiêu cực đến nền kinh tế…trong đó
có trách nhiệm của người có thẩm quyền quyết định đầu tư
Theo khoản 1 Điều 7 Luật Xây dựng số 50 năm 2014 quy định: chủ đầu tư do người quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự án hoặc khi phê duyệt dự án; Khoản 1 và 2 Điều 67 quy định: người quyết định đầu tư quyết định thời gian, tiến
độ thực hiện khi phê duyệt dự án Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn ngân
Trang 38sách nhà nước thì tiến độ thi công xây dựng không được vượt quá thời gian thi công xây dựng công trình đã được người quyết định đầu tư phê duyệt Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng công trình phải lập kế hoạch tiến độ, biện pháp thi công xây dựng và quản lý thực hiện dự án theo tiến độ thi công xây dựng được duyệt; Điểm a
và c Khoản 1 Điều 72 quy định: người quyết định đầu tư có quyền phê duyệt hoặc
ủy quyền phê duyệt dự án, thiết kế, dự toán xây dựng và quyết toán vốn đầu tư xây dựng và có quyền đình chỉ thực hiện dự án đầu tư xây dựng đã được phê duyệt hoặc đang triển khai thực hiện khi thấy cần thiết phù hợp với quy định của pháp luật…Tuy nhiên trong thực tế người quyết định đầu tư có lúc còn buông lỏng trong chỉ đạo, chưa quyết liệt xử lý các vi phạm của các bên liên quan Mặt khác do kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực XDCB còn hạn chế nên thông thường người quyết định đầu tư ủy quyền toàn bộ cho các chủ đầu tư, các ban quản lý dự án điều hành thực hiện dự án mà quên đi vai trò quan trọng của mình Nếu chủ đầu tư, ban quản
lý điều hành dự án không tốt dẫn đến các dự án bị chậm tiến độ, không có biện pháp khắc phục kịp thời thì người quyết định đầu tư có quyền “trảm tướng” là các chủ đầu tư, ban quản lý dự án, chỉ đạo cắt hợp đồng các đơn vị thi công, hoặc thu hồi các dự án vi phạm tiến độ, không cho các tổ chức, cá nhân có công trình, dự án chậm trễ về tiến độ tham gia hoạt động xây dựng ở các địa phương…Nếu làm tốt vai trò của người quyết định đầu tư thì chắc chắn tiến độ các dự án sẽ được cải thiện đáng kể Đây cũng là điểm mới của luận văn khi mạnh dạn đề xuất những yếu tố liên quan đến người quyết định đầu tư ảnh hưởng đến tiến độ các dự án và đưa ra giả thuyết nghiên cứu sau:
- Giả thuyết H 4: Các yếu tố hạn chế liên quan đến người quyết định đầu tư
càng nhiều thì các dự án đầu tư XDCB càng chậm tiến độ
3.2.5 Nhà thầu thi công và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án đầu tư XDCB
Trong Hội thảo khoa học toàn quốc “Thời gian thực hiện dự án đầu tư xây dựng ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” do Tổng hội Xây dựng Việt Nam phối hợp với Bộ Xây dựng tổ chức tại Hà Nội [8] Trong 118 dự án được triển khai trong
6 tháng đầu năm 2014 tại thành phố Hà Nội đang rơi vào tình trạng chậm tiến độ
Trang 39Theo ông Lê Thanh Hà, Phó Cục trưởng Quản lý xây dựng và chất lượng công trình giao thông phát biểu trong Hội thảo cho rằng: Các dự án trên chậm tiến độ do nhiều nguyên nhân, trong đó năng lực thực tế của nhà thầu thi công không đúng như năng lực mà nhà thầu đã kê khai trong hồ sơ dự thầu Cụ thể, nhiều nhà thầu thi công các
dự án nêu trên có năng lực tài chính yếu kém, năng lực quản lý thi công, điều hành của các nhà thầu còn hạn chế, chưa sâu sát chỉ đạo và bám sát hiện trường Bên cạnh đó còn có các nguyên nhân khách quan như: các dự án xây dựng công trình giao thông đi qua địa hình phức tạp, qua khu dân dư đô thị nên thường khâu giải phóng mặt bằng bị chậm trễ; nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong thời gian qua không đáp ứng được cho các gói thầu, dự án đang triển khai
Trong một phát biểu khác ông Trần Ngọc Hùng, Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam [8] đưa ra nhận định, rất nhiều công trình đấu thầu kéo dài xảy ra chủ yếu
ở công trình vốn nhà nước Hiện tượng cục bộ, địa phương, nể nang trong tổ chức lựa chọn nhà thầu (kể cả đấu thầu và chỉ định thầu), hiện tượng tiêu cực "quân xanh, quân đỏ" cho các công ty "sân sau" của chủ đầu tư cũng gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng thầu Trong khi đó, những công trình vốn tư nhân công tác đấu thầu cực
kỳ đơn giản và gọn nhẹ Đặc biệt Luật Đấu thầu thiên về chọn nhà thầu giá rẻ mà không tính đến đầy đủ năng lực đảm bảo tiến độ và chất lượng nhà thầu
Một số nghiên cứu của nước ngoài như: Odeh, A.M and Battaineth H (2002,
tr 67-73) đưa ra mười nguyên nhân chủ yếu của sự chậm trễ trong các dự án xây dựng với hợp đồng kiểu truyền thống tại Jordan, từ quan điểm của các nhà thầu và chuyên gia tư vấn đã nhận định rằng nhà thầu thiếu kinh nghiệm là một trong những nguyên nhân gây chậm trễ tiến độ hoàn thành dự án; Abd El-Razek, H A Bassioni,
và A M Mobarak (2008, tr 831-841) nghiên cứu các dự án xây dựng ở Ai Cập, cho thấy những nguyên nhân quan trọng nhất là: tài chính của nhà thầu trong quá trình xây dựng, sự chậm trễ trong thanh toán của nhà thầu của chủ đầu tư, thay đổi thiết
kế của chủ đầu tư hoặc đại diện của chủ đầu tư trong quá trình xây dựng, vấn đề thanh toán trong quá trình xây dựng, và việc quản lý xây dựng và hợp đồng thiếu chuyên nghiệp Từ các phát biểu của các chuyên gia đầu ngành và qua các nghiên
Trang 40cứu của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế ta thấy những hạn chế của nhà thầu thi công có tác động đến tiến độ của các dự án, do đó ta đưa giả thuyết sau:
- Giả thuyết H 5 : Các yếu tố hạn chế liên quan đến nhà thầu thi công càng nhiều thì các dự án đầu tư XDCB càng chậm tiến độ
3.2.6 Tư vấn và sự chậm trễ tiến độ hoàn thành các dự án đầu tư XDCB
Long Le Hoai và cộng sự (2008, tr 367-377) và nghiên cứu của Al Momani
AH (2000, tr 9-51) trong các nghiên cứu của mình cũng đã chỉ ra nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân quan đến tư vấn thiết kế; Kết quả nghiên cứu của Lưu Trường Văn và cộng sự (2015) đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thành dự án Nguyên nhân có sự chậm trễ của các bên liên quan, trong số đó có tư vấn giám sát không đủ năng lực
Thực tế trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng những năm qua, tác giả nhận thấy một thực trạng các công ty tư vấn thành lập mới rất nhiều theo xu hướng phát triển nóng của ngành xây dựng như hiện nay Chỉ với những điều kiện và thủ tục đơn giản là có thể thành lập được một công ty tư vấn với đầy đủ các chức năng như: lập dự án, khảo sát, thiết kế, giám sát, quản lý dự án, đấu thầu, kiểm định, thẩm định giá…Mà ít ai quan tâm đến chất lượng của tư vấn Nhà nước còn buông lỏng trong việc cấp chứng chỉ hành nghề liên quan đến từng lĩnh vực nên chất lượng đầu ra của một số tư vấn không đảm bảo yêu cầu theo quy định, hồ sơ khi chủ đầu
tư trình thẩm định phát hiện rất nhiều sai xót, phải chỉnh đi, chỉnh lại rất nhiều lần, gây khó khăn cho công tác quản lý của các chủ đầu tư, ban quản lý, mất thời gian của các cơ quan chuyên môn và đặc biệt là công tác chuẩn bị đầu tư hàng năm bị chậm lại Hồ sơ tư vấn đến khi triển khai thi công lại phát hiện thêm sai xót trong khâu thiết kế giữa hồ sơ và thực tế sai khác nhiều, không thể thi công được phải tạm dừng xin ý kiến xử lý kỹ thuật tốt rất nhiều thời gian Mặt khác một số đơn vị tư vấn
cử cán bộ làm công tác giám sát năng lực, kinh nghiệm còn hạn chế, có người có thái độ vòi vĩnh, làm khó cho nhà thầu trong thi công và kiểm tra các hồ sơ KCS, hồ
sơ thanh toán nên thường xảy ra trường hợp nhà thầu thi công hoàn thành giai đoạn hoặc toàn bộ công trình mà các thủ tục thanh toán chậm hoàn thành (do phải sửa đi ,