1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của mô hình cánh đồng mẫu lớn với sản xuất tự do trên địa bàn huyện vĩnh thuận, tỉnh kiên giang

79 164 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả chọn mẫu 120 hộ nông dân sản xuất lúa, trong đó có 20 hộ tham gia sản xuất theo mô hình CĐML và 100 hộ tham gia sản xuất tự do SXTD bằng phương pháp thuận tiện, để thu thập các t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ THƠM

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA THEO MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN VỚI SẢN XUẤT TỰ DO TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN THỊ THƠM

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ SẢN XUẤT LÚA THEO MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN VỚI SẢN XUẤT TỰ DO

TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS TRẦN TIẾN KHAI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập đảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này

TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 7 năm 2017

Học viên thực hiện

Nguyễn Thị Thơm

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 4

CHƯƠNG 2 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 5

2.1.1 Khái niệm nông hộ 5

2.1.2 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân 6

2.1.3 Khái niệm hiệu quả kinh tế 7

2.1.4 Khái niệm hiệu quả sản xuất 7

2.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT 7

2.2.1.Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất 7

2.2.2.Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất 8

2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí 9

2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận 11

Trang 5

NGHIỆP 12

2.3.1 Các yếu tố đầu vào 12

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên 12

2.3.1.2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội 13

2.3.1.3 Điều kiện kỹ thuật 14

2.3.2 Các yếu tố tác động đến năng suất sản xuất trong nông nghiệp 15

2.4 MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN 17

2.4.1 Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu lớn (mô hình) 17

2.4.2 Yêu cầu mô hình Cánh đồng mẫu lớn 18

2.5 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 18

2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước 18

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước 20

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 25

CHƯƠNG 3 26

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 26

3.1.1 Dữ liệu thứ cấp 26

3.1.2 Dữ liệu sơ cấp 26

3.1.2.1 Chọn đối tượng điều tra và điểm nghiên cứu 26

3.1.2.2 Phương pháp chọn mẫu 26

3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 28

3.2.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 28

3.2.2 Phân tích thống kê mô tả 28

3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 28

3.2.4 Phân tích định lượng 29

3.2.4.1 Thực hiện các kiểm định so sánh giữa tham gia mô hình CĐML và sản xuất tự do 29

3.2.4.2 Đánh giá tác động của việc tham gia sản xuất trong và ngoài mô hình cánh đồng mẫu theo phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) 30

Trang 6

CHƯƠNG 4 32

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN VĨNH THUẬN 32

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 32

4.1.2 Các mô hình sản xuất nông nghiệp 34

4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 34

4.2.1 Đặc điểm chủ hộ 34

4.2.2 Đặc điểm hộ gia đình 37

4.3 SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ GIỮA MÔ HÌNH CĐML VÀ SXTD 39

4.3.1 Kiểm tra sự tương đồng giữa hai nhóm 39

4.3.2 Hiệu quả kinh tế của các mô hình 40

4.3.2.1 Các khoản mục chi phí 40

4.3.2.2 Hiệu quả kinh tế của từng mô hình 42

4.3.2.3 So sánh hiệu quả kinh tế 43

4.3.4 Phân tích điểm xu hướng PSM so sánh hiệu quả sản xuất mô hình cánh đồng mẫu lớn và sản xuất tự do 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 46

CHƯƠNG 5 47

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 47

5.1 KẾT LUẬN 47

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 48

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG CÂU HỎI

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 7

CBA Phương pháp phân tích chi phí

NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 8

Bảng 3.1: Tổng hợp số hộ trồng lúa 26

Bảng 4.7: So sánh hiệu quả sản xuất lúa của mô hình CĐML và SXTD 44

Trang 9

Xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn (CĐML) là một giải pháp quan trọng, lâu dài, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng

và phát triển bền vững trong sản xuất lúa gạo nói riêng và các loại cây trồng khác trong những năm tới đây Lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp giúp hộ gia đình giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng xuất cây trồng, cải thiện thu nhập, ổn định cuốc sống Vĩnh Thuận hiện tại có nhiều mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã,

mô hình CĐML là một hình thức hợp tác xã trong nông nghiệp trên địa bàn huyện

Tác giả chọn mẫu 120 hộ nông dân sản xuất lúa, trong đó có 20 hộ tham gia sản xuất theo mô hình CĐML và 100 hộ tham gia sản xuất tự do (SXTD) bằng phương pháp thuận tiện, để thu thập các thông tin phục vụ cho việc so sánh hiệu quả kinh tế của 2 mô hình Thống kê mô tả đặc điểm chủ hộ và đặc điểm hộ gia đình gồm giới tính chủ hộ, dân tộc chủ hộ, tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ, tham gia hội nông dân, qui mô hộ gia đình, thu nhập bình quân đầu người trong năm, chi tiêu bình quân đầu người trong năm, diện tích sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, số lần tập huấn trong năm Thực hiện kiểm định trung bình các đặc điểm nêu trên, kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm hộ với mức ý nghĩa 1%

Mô tả các khoản chi phí sản xuất của hộ ở hai mô hình gồm chi phí giống, chí phí phân bón, chi phí thuốc, chi phí làm đất, chi phí nhiên liệu, chi phí dặm lúa, chi phí chăm sóc, chi phí thu hoạch và chi phí khác Phân tích các khoản chi phí cho thấy, chi phí sản xuất theo mô hình CĐML thấp hơn so với tham gia SXTD

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất như tổng chi phí sản xuất, năng suất, giá bán, doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận cũng được mô tả theo từng

mô hình So sánh hiệu quả sản xuất cho thấy tổng chi phí sản xuất theo mô hình CĐML thấp hơn so với SXTD, tuy nhiên các tiêu chí còn lại đều cao hơn SXTD Kiểm định trung bình sự chênh lệch của các tiêu chí đánh giá hiệu quả

Trang 10

chênh lệch đều có ý nghĩa thống kê Điều này càng chứng tỏ, sản xuất theo mô hình CĐML hiệu quả hơn so với SXTD Đây là bằng chứng quan trọng để có cơ

sở đề xuất các chính sách giúp hộ nông dân thấy được lợi ích của việc tham gia CĐML

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Xây dựng Cánh đồng mẫu lớn (CĐML) là một trong những giải pháp quan trọng, lâu dài góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp nước ta Sản xuất theo mô hình này bước đầu đã đem lại những kết quả khả quan, ruộng lúa giảm được sâu bệnh, chi phí sản xuất giảm, chất lượng sản phẩm đồng đều phù hợp thị hiếu thị trường tiêu thụ, đầu ra sản phẩm được đảm bảo, thu nhập của người dân được nâng cao, cải thiện đời sống hộ gia đình

Huyện Vĩnh Thuận tiến hành thực hiện chủ trương mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” với tổng diện tích 679 ha, với 304 hộ tham gia Sản lượng lúa hàng

năm đều tăng đã mang lại kết quả tích cực trong sản xuất nông nghiệp Việc

người dân tham gia sản xuất lúa theo mô hình “Cánh đồng mẫu lớn” giúp người dân giảm được chi phí sản xuất từ các yếu tố đầu vào như phân bón, giống, thuốc trừ sâu,… Mặt khác, sản phẩm của mô hình “cánh đồng mẫu lớn” khá đồng đều, chất lượng ngày càng cao, góp phần tăng thu nhập của các hộ dân

Từ những chính sách hỗ trợ của Nhà nước đặc biệt là sự quan tâm của chính quyền địa phương, của cán bộ chuyên môn hướng dẫn các biện pháp khoa học kỹ thuật và sự hưởng ứng của người dân trong bước đầu thành lập và thực hiện mô hình đã giúp các hộ dân giảm rất nhiều chi phí sản xuất, hiệu quả sản xuất tương đối cao, tăng thu nhập, tạo được tính ổn định, tạo được mối liên kết

"bốn nhà" (nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nước)

Tuy nhiên, các hộ dân luôn băn khoăn việc thực hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn thời gian qua, sản xuất ra nông sản với sản lượng lớn nhưng người dân phải tự tìm đầu ra; đội ngũ cán bộ chuyên môn hướng dẫn các biện pháp về khoa học kỹ thuật cho nông dân trong mô hình chưa cụ thể, rõ ràng; bên cạnh đó, trình độ người nông dân không đồng đều nên việc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật còn hạn chế, việc ghi chép cập nhật các loại chi phí sản xuất chưa được nông dân quan tâm thực hiện một cách chi tiết và đầy đủ, còn mang tính truyền thống tính

Trang 12

phỏng ; ý thức trách nhiệm của từng hộ dân không tương đồng nên trong quá trình sản xuất có những hộ dân thiếu nhiệt tình, đùn đẩy trách nhiệm cho tập thể Ngoài ra, nông dân chưa nhận biết đầy đủ lợi ích của việc tham gia cánh đồng mẫu lớn, vẫn còn quan niệm đây là mô hình nhà nước phải đầu tư, hỗ trợ và phải thu mua lúa với giá cao Mặt khác, người dân chưa rõ về các tiêu chí nông sản, việc sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp chưa phổ biến Quy mô diện tích đất sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân nhỏ, manh mún, dẫn đến số hộ nông dân khi tham gia trong một mô hình lớn gây khó khăn cho công tác chỉ đạo, điều hành và hướng dẫn

Với những nội dung trên, một số hộ dân thích tham gia sản xuất lúa theo

mô hình cánh đồng mẫu lớn vì nhận thức sâu về lợi nhuận kinh tế và giảm thiểu chi phí sản xuất nhằm đem lại thu nhập cao và ổn định Tuy nhiên, cũng có những hộ không thích tham gia sản xuất mô hình này vì những khó khăn, vướng mắc, bất cập chưa có biện pháp tháo gở hợp lý theo nhu cầu đầu tư và tiêu thụ

Cho nên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của

mô hình cánh đồng mẫu lớn với sản xuất tự do trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

So sánh hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của nông hộ tham gia mô hình CĐML so với nông hộ sản xuất lúa tự do ở huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang, thông qua đó giúp hộ nông dân định hướng lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp

Trang 13

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

- Sản xuất theo mô hình nào sẽ đem lại hiệu quả kinh tế sản xuất cao cho

hộ nông dân trên địa bàn huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang?

- Những yếu tố nào gây ra sự khác biệt về hiệu quả kinh tế sản xuất giữa hai mô hình sản xuất cánh đồng mẫu lớn và mô hình sản xuất tự do?

- Những giải pháp nào giúp hộ nông dân nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ nông dân sản xuất lúa theo mô hình CĐML và theo mô hình sản xuất tự do

- Thời gian: thực hiện điều tra các hộ nông dân trồng lúa trong tháng 11/2016

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Số liệu thứ cấp: được thu thập từ các nguồn: Số liệu thống kê của PNo &

PTNT huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang,

Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp và qua điện thoại các nông hộ trồng

lúa tại huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang Tổng số mẫu chính thức được lấy là

120 mẫu (20 hộ CĐML; 100 hộ SXTD)

Sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh, nhằm đánh giá hiệu quả sản suất của các mô hình

Trang 14

Phân tích tương quan để xác định các nhân tố ảnh hưởng đầu vào và các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của hai mô hình sản xuất

Kiểm định giả thuyết về sự khác biệt giữa giới tính, trình độ học vấn, tham gia tập huấn đến thu nhập của hộ nông dân

Sử dụng phần Microsoft Excel 2003 và STATA 12.0

1.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Bài luận văn gồm có 5 chương:

Chương 1 Giới thiệu nghiên cứu Trình bày tóm lược đặt vấn đề, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết cấu của bài luận văn

Chương 2 Cơ sở lý thuyết Trình bày các cơ sở lý thuyết của bài luận văn

và tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày các vấn đề về phương pháp để thực hiện nghiên cứu, nguồn dữ liệu xây dựng mô hình nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Phân tích và so sánh hiệu quả sản xuất lúa giữa nhóm hộ tham gia sản xuất theo mô hình CĐML và nhóm hộ tham gia sản xuất tự do bằng phương pháp kiểm định t-test và phương pháp PSM

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Trình bày những kết quả đạt được của đề tài, gợi ý các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

2.1.1 Khái niệm nông hộ

Trên thế giới nhiều khái niệm về hộ nông dân:

Ellis (1988) (trích từ Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015) định nghĩa "Hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ

không hoàn hảo cao"

Nhà nông học Nga - Traianốp (1925) cho rằng "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định, là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển nông nghiệp" Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển (trích bởi Vương Quốc Duy và Đặng Hoàng Trung, 2015)

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân Theo nhà khoa học Lê Đình Thắng (1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn" Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn”

Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc (2001), trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông nghiệp"

Trang 16

Tuy có nhiều quan niệm về nông hộ nhưng nhìn chung nông hộ là hình thức tổ chức cơ sở của nông nghiệp ở nông thôn đã tồn tại từ lâu đời ở các nước nông nghiệp Nông hộ bao gồm chủ yếu cha mẹ và con cái, có hộ còn có ông bà

và cháu chắt Hộ nông dân có thể chuyên trồng trọt, làm nghề rừng, chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản

Trong cấu trúc nội tại của nông hộ, các thành viên cùng huyết tộc là chủ thể đích thực của hộ nên ở nông hộ có sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý, sử dụng các yếu tố sản xuất, có sự thống nhất giữa quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng và tiêu dùng trong một đơn vị kinh tế Do đó, nông

hộ có thể thực hiện cùng một lúc nhiều chức năng mà các đơn vị khác không thể

có được Bản thân mỗi nông dân là một tế bào xã hội, là một đơn vị sản xuất và tiêu dùng, đơn vị tiêu dùng xét cả khía cạnh cho tiêu dùng cho sản xuất và tiêu

dùng cho sinh hoạt

2.1.2 Khái niệm về kinh tế hộ nông dân

Theo Ellis (1988), kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình

có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo và hoạt động thị trường

Từ khái niệm trên, có thể thấy kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Mức độ phát triển của kinh tế hộ nông dân bao gồm kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hóa Trong sản xuất nông nghiệp của nông dân, đất là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân, đời sống của họ chủ yếu dựa vào đất sản xuất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ Mặt khác, trong sản xuất người dân sử dụng lao động gia đình là chính, thuê mướn thêm nhân công chỉ là nhu cầu tạm thời Kinh tế hộ nông dân có quan hệ với thị trường, tuy nhiên mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường thì họ vẫn tồn tại

Trang 17

2.1.3 Khái niệm hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra với đầu vào được sử dụng đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007)

Hoàng Hùng (2007) cho rằng hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh

2.1.4 Khái niệm hiệu quả sản xuất

Hiệu quả sản xuất là việc xem xét và lựa chọn thứ tự ưu tiên các nguồn lực sao cho đạt được kết quả tốt nhất Để đạt được hiệu quả sản xuất thì người nông dân phải chú ý đến ba yếu tố: (1) không sử dụng nguồn lực lãng phí; (2)

sản xuất với chi phí thấp nhất; (3) sản xuất để đáp ứng nhu cầu con người

2.2 LÝ THUYẾT VỀ KINH TẾ HỌC SẢN XUẤT

2.2.1 Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất

Cũng như mọi ngành kinh tế khác, kinh tế học trong sản xuất nông nghiệp cũng quan tâm đến việc phân phối nguồn lực khan hiếm cho nhiều phương hướng sản xuất Trong lý thuyết về sản xuất, người ta tìm mọi cách chọn lựa: Sản xuất cái gì? Sản xuất bao nhiêu và sản xuất như thế nào? Quyết định việc này bởi chính người sản xuất - được xác định là “một tác nhân cụ thể chuyên trách việc chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các loại hàng hoá mong muốn,

đó là các yếu tố đầu ra” (Hirshlefer – 1976)

Một học thuyết bắt nguồn từ lập luận người nông dân là một cá nhân quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào… Học thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp

Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về sản xuất nông nghiệp Ba mối quan hệ đó là:

Trang 18

(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố - sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output)

(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sản xuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo các cơ cấu khác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau)

(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp các nguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu được trên cùng một đơn vị diện tích) Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm - sản phẩm

Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu dùng của gia đình nông dân Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối

đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn Chỉ có nông dân là người duy nhất được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân Những giả định khác bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và vấn đề mua vật tư phục vụ sản xuất

2.2.2.Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất

Hàm sản xuất là mối quan hệ kỷ thuật biểu thị lượng hàng hóa tối đa có thể thu được từ các kết hợp khác nhau của các yếu tố đầu vào với một trình độ công nghệ nhất định (Hirshlefer – 1976)

Hàm sản xuất có dạng tổng quát:

n

x x x f

Y 1, 2, , (2.1) Trong đó: Y: Sản lượng đầu ra

n

x x

x1, 2, , Các yếu tố đầu vào được sử dụng trong quá trình sản xuất Đặc biệt, điều liên quan là chỉ với một hoặc nhiều biến số nguồn lực (đầu

vào), còn các đầu tư khác và tình trạng công nghệ là bất biến, được viết như sau:

m n

m x x x x f

Trang 19

Với x1,x2, ,x m là các biến số nguồn lực (đầu vào) Phương trình chính xác của hàm sản xuất phụ thuộc vào sự phản ứng của sản lượng đối với nguồn lực dưới dạng nghiên cứu và mức độ trừu tượng qua thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, tất cả các hàm sản xuất phải thỏa mãn hai điều kiện để đảm bảo ý nghĩa kinh tế: sản phẩm hiện vật cận biên phải là dương và phải giảm dần Để thỏa mãn được các điều kiện này thì đạo hàm thứ nhất phải là dương và

0

/ dX

dY và đạo hàm cấp hai phải là âm dy2/dX2 0 có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với các mức độ gia tăng chi phí các nguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng phải giảm dần

2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí

Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối quan hệ giữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm Mức độ kinh tế tối ưu của việc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của nguồn lực bằng giá của nguồn lực đó (trích theo Trần Thị Mộng Thúy, 2016)

Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể được biểu thị bằng một vài phương pháp khác nhau:

PX = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC)

PY = giá của từng đơn vị sản lượng Y

MVP: sản phẩm giá trị cận biên (Marginal Value Product )

MPP: sản phẩm hiện vật cận biên (Marginal Physical Product)

Vậy MVPx = MPPX * PY có nghĩa là sản phẩm giá trị cận biên của nguồn lực bằng sản phẩm hiện vật cận biên nhân với giá sản phẩm Vì vậy, có 3 cách

để xác định điểm tối ưu:

- Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí tăng thêm MVPX = PX Nếu MVPX > PX thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực

và nếu Nếu MVPX < PX thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực

- Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVPX/ PX = 1 là tỷ lệ của sản phẩm giá trị cận biên đối với giá vật tư bằng 1 Các dạng biểu thị điều kiện tối

ưu này thường được dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả

Trang 20

kinh tế của người nông dân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số khác 1 được không và nếu vậy thì theo hướng nào Trả lời cho vấn đề này là nếu

tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVPX/PX > 1 thì không đạt tối ưu người nông dân sử dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVPX/PX < 1 cũng không được vì tỷ lệ này biểu thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực

- Vì MVPX = MPX*PY nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị bằng MPPX = PX/PY sản phẩm giá trị cận biên bằng tỷ lệ nghịch đảo của giá cả (yếu

tố - sản phẩm)

Sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực trong khía cạnh kinh tế được xác định bởi tỷ giá của chúng Các mức giá của các nguồn lực khác nhau xác địnhkhối lượng mỗi loại nguồn lực cần mua với tổng chi phí nhất định cho sản xuất Cách phối hợp hiệu quả nhất các nguồn lực là sử dụng nguồn lực ít nhất với các mức giá khác nhau cho một sản phẩm xác định Nói cách khác, ở đây vấn đề tối

ưu hóa được xem như vấn đề tối thiểu hóa chi phí chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận

Đối với mỗi sản lượng nhất định, sự kết hợp chi phí ít nhất của các vật tư xảy ra tại điểm tiếp tuyến giữa đường đồng mức sản lượng và đường đồng mức chi phí để tạo thành một đường tiếp tuyến Bất kỳ một điểm khác nào nằm ở bên trái hoặc bên phải của điểm đó trên đường đồng mức sản lượng sẽ nằm trên đường đồng mức chi phí tiếp tuyến với các đường đồng mức sản lượng này Tại bất kỳ điểm nào của đường tiếp tuyến, độ nghiêng của hai đường cong là bằng nhau Tỷ lệ thay thế tới hạn bằng tỷ lệ nghịch của giá các nguồn lực

Như trong trường hợp điểm tối ưu của hàm sản xuất, một số công thức toán học đơn giản đã giúp chúng ta tìm hiểu hàm ý của kết luận này Trước hết,

ở đây chúng ta xem xét một hàm sản xuất có hai biến nguồn lực có công thức chung:

Y = f(X1/ X2)

Từng vật tư trong hàm sản xuất được gắn với sản phẩm vật chất riêng của

nó Vì vậy chúng ta có:

MPP1 = dY/dX1 và MPP2 = dY/dX2

Trang 21

Công thức trên tạo ra tỷ lệ nghịch của các sản phẩm hiện vật cận biên bằng với tỷ lệ thay thế cận biên:

MPP1/ MPP2 = P1/P2, hoặc bằng cách nhân chéo MPP1/P1 = MPP2/P2 Nói cách khác, tối ưu, chi phí ít nhất, sự kết hợp của các nguồn lực xảy ra khi các tỷ lệ của sản phẩm hiện vật cận biên đối với chi phí của từng đơn vị nguồn lực đều giống nhau đối với tất cả các loại nguồn lực Điều này cũng có nghĩa là khi nói rằng MPP trên một đô la chi phí bằng tổng tất cả các nguồn lực,

và nếu có sự thay đổi trong công nghệ sản xuất (thay đổi vị trí và hình dạng các đường đồng mức sản lượng) hoặc nếu có sự thay đổi tỷ lệ giá của các yếu tố thì

sự kết hợp chi phí ít nhất của các nguồn lực cũng thay đổi

2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận

Giả thuyết người nông dân hiệu quả thường gắn với việc nông hộ đẩy mạnh tối đa hóa lợi nhuận Hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận là hai mặt của một vấn đề: ở cấp một đơn vị sản xuất cá thể, người ta không thể chỉ có cái này mà không có cái kia Một định nghĩa chính xác về hiệu quả kinh tế cũng cần phải kể đến một thị trường cạnh tranh, vì vậy cũng không có một đơn vị (hoặc một ngành sản xuất) cá thể nào có thể đạt được hiệu quả nếu như những người sản xuất phải đương đầu với các giá cả khác nhau hoặc nếu một số tác nhân kinh tế này có thể làm ảnh hưởng giá cả và thu nhập của các tác nhân kinh tế khác (trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy, 2016)

Giả thuyết tối đa hóa lợi nhuận không yêu cầu phải có lợi nhuận bằng một khoản tiền Điều mà giả thuyết yêu cầu là phải điều chỉnh đầu vào hoặc đầu ra của sản xuất sao cho các nông hộ đạt một khoản thu nhập ròng cao hơn dù bằng tiền mặt hay bằng hiện vật và điều này được áp dụng như nhau đối với các hộ gia đình nghèo cũng như khá giả Đối với việc điều tra thực tế thì nguồn lực và sản phẩm phải được ấn định theo giá thị trường và các giá ấn định này là đặc trưng cho các điều kiện của thị trường cạnh tranh

Theo quan điểm tân cổ điển đúng đắn, thậm chí nếu bản chất của nền kinh

tế nông dân hạn chế việc đạt hiệu quả thì điều đó không có nghĩa là trong điều kiện có nhiều mục tiêu và hạn chế đối với hộ gia đình nông dân lại không có

Trang 22

được một tính toán kinh tế Thực sự, sự tính toán như vậy thực sự là tiền đề của hầu hết các chính sách nông nghiệp ở các nước chậm phát triển Vì thế, tối đa hóa lợi nhuận từng phần hay tối đa hóa có giới hạn vẫn có thể xảy ra cả khi nền kinh tế thực sự không có hiệu quả

Giả thuyết về người nông dân hiệu quả theo nghĩa tân cổ điển về tối đa hóa lợi nhuận không đơn thuần được chứng minh là các giả thuyết chung, cũng không phải là các giả thuyết sâu sắc về sự khác nhau và các nguyên nhân gây ra trong nền kinh tế nông dân Cần phải có các giả định đúng đắn về tính đồng nhất của các điều kiện sản xuất và các nguồn lực mà tất cả mọi nông dân trong mô hình mẫu phải chịu, cũng như về tính cạnh tranh của các thị trường có các nông trại hoạt động Nhưng điều này dường như ít khi gắn với dân số nông dân trong vùng chọn làm điểm mô hình mẫu Do có sự khác nhau không rõ ràng về các nguyên nhân giữa các nông trại nên cũng gây khó khăn cho việc phân tích kinh

tế người nông dân: nếu người nông dân trung bình là nông dân hiệu quả thì các vấn đề của các nông hộ xuất phát từ mức bình quân đã được xem xét Cuối cùng,

sự theo đuổi mục đích người nông dân trung bình đạt hiệu quả là bất hòa với khái niệm về nền kinh tế nông dân liên quan đến các dạng phức tạp của mối quan hệ qua lại giữa các hộ gia đình của các tình trạng kinh tế khác nhau trong các thị trường không hoàn thiện

2.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

2.3.1 Các yếu tố đầu vào

2.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Trích theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), cho thấy ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên trong sản xuất nông nghiệp bao gồm đất đai, khí hậu, nguồn nước

Đất đai: giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Đất đai là cơ

sở tự nhiên, là tiền đề đầu tiên của mọi quá trình sản xuất Đất đai tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội nhưng tùy thuộc vào từng ngành, lĩnh vực cụ thể, từng vị trí tọa lạc mà vai trò của đất đai có sự chênh lệch lớn về giá

Trang 23

trị kinh tế cũng như điều kiện sản xuất kinh doanh Nếu trong công nghiệp, thương mại, giao thông, đất đai là cơ sở, nền móng để xây dựng nhà xưởng, cửa hàng, mạng lưới đường giao thông… thì ngược lại trong nông nghiệp, đất đai tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất và là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được

Điểm cơ bản cần đánh giá mức độ thuận lợi hay khó khăn của đất đai là phải gắn với từng loại cây trồng cụ thể Rất có thể một đặc điểm nào đó của đất đai là không phù hợp cho loại cây trồng này nhưng lại là thuận lợi cho loại cây trồng khác phát triển Đồng thời cũng cần xem xét trong từng thời vụ cụ thể trong năm về ảnh hưởng của đất đai đối với sản xuất một loại cây trồng cụ thể

Khí hậu: nhiệt độ bình quân hàng năm, hàng tháng; nhiệt độ cao nhất,

thấp nhất hàng năm, hàng tháng; lượng mưa hàng năm, hàng tháng, lượng mưa bình quân cao nhất, thấp nhất trong thời kỳ quan trắc; thời gian chiếu sáng, cường độ chiếu sáng; chế độ gió; những hiện tượng đặc biệt của khí hậu như biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, sương muối, mưa đá, mưa trái mùa, tuyết rơi, sương mù v.v…đều phải được phân tích, đánh giá về mức độ ảnh hưởng của từng loại cây trồng cụ thể

Nguồn nước: trong lĩnh vực nông nghiệp, nước tưới được xem là yếu tố

quan trọng Việc tưới đúng phương pháp, kỹ thuật có tác dụng nâng cao năng suất cây trồng (Lê Ngọc Báu, 1999) Để xây dựng một chế độ nước tưới hợp lý cần tính toán đến yêu cầu sinh lý của cây, điều kiện khí hậu thời tiết, lượng mưa từng vùng, đặc điểm của đất (phèn, séc, đất cao, đất thấp)

2.3.1.2 Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế - xã hội

Mật độ dân cư, lao động ảnh hưởng rất lớn đến cơ cấu, sự phân bố, phát triển cây trồng, vật nuôi (là lực lượng lao động, tiêu thụ, quan trọng để phát triển nông nghiệp)

Sở hữu ruộng đất: nhiều, ít, lớn nhỏ ảnh hưởng đến đường lối phát triển,

các hình thức tổ chức lãnh thổ để phát triển nông nghiệp

Tiến bộ khoa học kĩ thuật: ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng, sản

lượng

Trang 24

Thị trường tiêu thụ: ảnh hưởng đến giá cả, điều tiết sản xuất, hướng

chuyên môn hóa

2.3.1.3 Điều kiện kỹ thuật

Cũng theo nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015), các điều kiện kỹ thuật ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp bao gồm giống cây trồng, vật nuôi,

kỹ thuật canh tác, công nghệ, vốn, lao động và phân bón

Giống cây trồng, vật nuôi: các loại giống cây, con có năng suất cao, chất

lượng sản phẩm tốt cho phép tăng qui mô sản lượng hàng hoá Các loại giống mới có sức kháng chịu dịch bệnh cao giúp ổn định năng suất cây trồng, vật nuôi;

ổn định sản lượng sản phẩm hàng hoá

Kỹ thuật canh tác: trình độ ứng dụng quy trình kỹ thuật tiên tiến cũng

góp phần làm tăng năng suất cây trồng Hiện nước ta đã và đang đầu tư cho đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư các trung tâm nghiên cứu, hệ thống khuyến nông nên đã rút ngắn được thời gian chuyển tải kỹ thuật mới từ nơi nghiên cứu đến người nông dân

Công nghệ: nghiên cứu, tham khảo các công trình ứng dụng khoa học

công nghệ đi trước rút kinh nghiệm áp dụng phù hợp điều kiện kinh tế xã hội và

tư nhiên của địa phương để sản xuất; công nghệ sau thu hoạch, bảo quản và chế biến sản phẩm được xem là đầu vào quan trọng làm thay đổi phương pháp sản xuất, tăng năng suất lao động Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất sẽ nâng cao quy mô sản lượng, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm lao động, chi phí sản xuất thấp do đó sẽ gia tăng lợi nhuận và hiệu quả sản xuất

Vốn: vốn trong sản xuất nông nghiệp, vốn là nguồn lực hạn chế đối với

các ngành kinh tế nói chung, nông nghiệp nói riêng Vốn trong nông nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tư liệu lao động và đối tượng lao động được sử dụng đưa vào sản xuất nông nghiệp Để phát triển một nền nông nghiệp bền vững, nhằm bảo đảm an toàn, an ninh lương thực quốc gia, đa dạng hóa nông nghiệp thì vấn

đề đầu tiên, mang tính quyết định là vốn Vốn có vai trò quyết định đến việc hộ gia đình có khả năng tiếp tục đầu tư vào sản xuất cũng như các trang thiết bị

Trang 25

phương tiện kỹ thuật hiện đại hỗ trợ cho sản xuất (Randrianarisoa và Minten, 2005)

Lao động: nguồn lao động trong nông nghiệp bao gồm toàn bộ những

người tham gia vào sản xuất nông nghiệp Nguồn lao động trong nông nghiệp là yếu tố sản xuất đặc biệt tham gia vào quá trình sản xuất không chỉ về số lượng người lao động mà còn cả chất lượng nguồn lao động Đặc biệt là yếu tố phi vật chất của lao động như trình độ, kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm lao động được xem như yếu tố ảnh hưởng đến gia tăng sản lượng Do đó, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn lao động chính là đầu tư làm gia tăng giá trị yếu tố đầu vào đặc biệt này

Phân bón: theo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên

(1999), lượng phân bón và kỹ thuật bón phân đã trở thành một biện pháp quyết định đến năng suất cây công nông nghiệp Bón phân sẽ nâng cao được năng suất, phẩm chất, hiệu quả kinh tế đồng thời giúp cây lúa khỏe, cứng cây, chống

đổ ngã, tạo điều kiện cho máy gặt làm việc thuận lợi, có năng suất cao, giảm thất thoát trong và sau thu hoạch

2.3.2 Các yếu tố tác động đến năng suất sản xuất trong nông nghiệp

Theo Nguyễn Thị Cành (2004), các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trong sản xuất nông nghiệp gồm:

Cơ giới hóa: sử dụng các máy móc, thiết bị trong sản xuất

Kết hợp sinh học: sử dụng các yếu tố như giống, nước, lượng mưa, phân

bón, thuốc trừ sâu v.v…có thể cho phép nâng cao và tạo khả năng nâng cao sản lượng nông nghiệp

Đất đai: đất canh tác, quyền sử dụng đất trong nông nghiệp có tác động

đến quyền lợi của nông dân Nông dân thường làm việc có năng suất cao hơn khi họ có quyền lợi trực tiếp trên đất canh tác Bởi vì họ biết rằng làm gia tăng sản lượng sẽ làm gia tăng thu nhập cho họ

Lao động nông nghiệp: một trong những khó khăn khi muốn nâng cao

thu nhập là việc phân chia lao động theo giới tính, thường thì người phụ nữ là tăng một nữa sản lượng nông nghiệp ở các nước đang phát triển, trong khi đó

Trang 26

nam giới là người có quyền quyết định các nguồn lực sản xuất nông nghiệp Lao động nông nghiệp thường không có chuyên môn, họ có thể trồng trọt, chăm sóc con cái, nhà cửa và làm những công việc khác khi mùa vụ đã qua

Vốn: rất cần thiết để đầu tư phát triển nhằm nâng cao năng suất Việc

thiếu vốn hoặc chi phí cao khiến nông dân ngại không dám đầu tư, ứng dụng kỹ thuật mới vì sợ rủi ro

Khuyến nông: trình độ chuyển giao các kỹ thuật mới, áp dụng các loại

giống mới và các phương pháp sản xuất mới cho năng suất cao có ảnh hưởng quan trọng đối với người dân Thông thường các kinh nghiệm sản xuất người dân học hỏi lẫn nhau (tuy nhiên cần chú ý điều kiện hai người có giống nhau không) Lúc này vai trò của cán bộ khuyến nông, các Trung tâm khuyến nông, các chương trình khuyến nông hỗ trợ người nông dân rất nhiều

Bùi Hải An (2007) cho rằng các yếu tố hạn chế năng suất trong sản xuất nông nghiệp có thể phân làm hai nhóm chính là các yếu tố xã hội (con người) và các yếu tố tự nhiên

Các yếu tố xã hội: bao gồm trình độ kỹ thuật của nông dân, tổ chức sản

xuất, cơ cấu xã hội, đặc điểm văn hóa, sắc tộc v.v…Đây là những yếu tố quan trọng tác động lớn đến năng suất cây trồng Trình độ của nông dân (trình độ thâm canh của nông dân, trình độ tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, kinh nghiệm trong sản xuất)

Các yếu tố tự nhiên: bao gồm yếu tố giống (mỗi giống khác nhau sẽ cho

năng suất khác nhau), sinh vật, thời tiết (mưa, nắng thuận mùa hoặc trái mùa), khí hậu, biến đổi khí hậu (nước, ánh sáng, nhiệt độ, không khí là những yếu tố sinh thái ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi), địa hình, vị trí đất, loại đất (đất là một nhân tố sinh thái đặc biệt quan trọng với các sinh vật trên cạn Các đặc trưng được quan tâm của đất như cấu trúc, nước trong đất, độ chua, thành phần cơ giới, độ phì nhiêu Chế độ ẩm, độ thoáng khí, nhiệt

độ và cấu trúc lớp đất mặt ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài), yếu tố phân bón

Trang 27

2.4 MÔ HÌNH CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN

Cụm từ “Cánh đồng mẫu lớn” lần đầu tiên xuất hiện tại tỉnh An Giang, là tên gọi của cánh đồng lúa được nông dân trồng cùng một loại giống lúa xác nhận theo hợp đồng với doanh nghiệp Nông dân được cung cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật canh tác Doanh nghiệp chịu trách nhiệm vận chuyền sản phẩm đến nhà máy, sấy khô và bao tiêu Quy trình sản xuất này đã cho năng suất và lợi nhuận cao hơn so với canh tác trên cánh đồng nhỏ (Tăng Minh Lộc, 2012) Từ mô hình

ở An Giang, “cánh đồng lớn” đã được nhân rộng ra ở hàng chục tỉnh thành trong

cả nước, từ cây lúa, phong trào này đã được nhân rộng sang các cây trồng khác

Theo Đỗ Kim Chung (2012), cánh đồng lớn là những cánh đồng trồng một hay vài loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường

2.4.1 Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu lớn (mô hình)

Theo Cục Trồng trọt (2011), cánh đồng mẫu lớn: phải nằm trong quy hoạch tổng thể nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương, nghị quyết, chương trình hành động của địa phương, có điều kiện tự nhiên (đất đai, thời tiết, khí tượng thủy văn…) phù hợp, hạ tầng kinh tế xã hội (hệ thống thủy lợi, đội ngũ cán bộ kỹ thuật, trình độ, tập quán canh tác của nông dân) tương đối tốt Tiêu chí xây dựng cánh đồng mẫu lớn như sau:

Mô hình CĐML với qui mô đảm bảo diện tích sản xuất nằm trong khoảng

từ 300-500 ha Việc mở rộng quy mô diện tích từ 300-500 ha cho mô hình cánh đồng lớn nhằm mục đích: (i) Quy mô vừa để có vùng điển hình cho các doanh nghiệp đầu tư đầu vào, thu mua lúa, gạo; (ii) Tổ chức sản xuất với quy mô vừa, rút kinh nghiệm để tiến tới xây dựng vùng nguyên liệu với quy mô lớn có thể đến 10.000 hoặc 20.000 ha; iii) Quy mô vừa điều kiện canh tác của địa phương,

tổ chức ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật đồng loạt; iv) Định hướng cho việc xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội trước mắt và lâu dài (trích theo Trần Thị Mỹ Dung, 2015)

Trang 28

2.4.2 Yêu cầu mô hình Cánh đồng mẫu lớn

Điều kiện tự nhiên: để thực hiện mô hình CĐML ngoài diện tích lớn, cần phải có hệ thống đê bao khép kín, có hệ thống cống bọng hoàn chỉnh đảm bảo cho việc lấy nước và thoát nước một cách nhanh chóng, an toàn và hiệu quả Ngoài ra, khi xây dựng mô hình CĐML cần chú trọng đến vị trí địa lý để thuận tiện cho việc tiệu thụ sản phẩm

Điều kiện kinh tế - xã hội: để tham gia mô hình này, hộ gia đình nông dân cần phải tự nguyện, phải có diện tích sản xuất phù hợp và nằm trong vùng được qui hoạch phát triển mô hình Mặt khác, cần phải đảm bảo hạ tầng giao thông để thuận tiện cho việc tổ chức sản xuất Ngoài ra, điều kiện tiên quyết để tham gia

mô hình này phải thành lập theo kiểu tổ hợp tác, hợp tác xã để đảm bảo tư cách pháp nhân

Kỹ thuật canh tác: để người dân tham gia mô hình có hiệu quả, đòi hỏi chính quyền địa phương, ngành nông nghiệp phải tổ chức tập huấn kỹ thuật sản xuất Đảm bảo việc thực hiện nghiêm quy trình canh tác như đồng loạt xuống giống, bón phân, sử dụng chung loại giống…Đồng thời, phải đảm bảo các điều kiện như phơi sấy, tồn trữ, bảo quan sản phẩm

2.5 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

2.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Cai và các cộng sự (2008) thực hiện một nghiên cứu về sản xuất lúa theo hợp đồng ở Campuchia, sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) dựa trên phương pháp so sánh cận gần nhất kết hợp với so sánh mô hình hồi quy Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sản xuất theo hợp đồng đã mang lại những lợi ích cho người nông dân sản xuất nhỏ tại Campuchia: nông dân khi tham gia sản xuất theo hợp đồng có thu nhập và lợi nhuận trung bình cao hơn, được các công ty trong hợp đồng hỗ trợ vốn, giống đặc biệt là có điều kiện tiếp cận hình thức sản xuất lúa hữu cơ để tăng lợi nhuận tiến tới sản xuất bền vững so với nông dân sản xuất tự do Quan trọng hơn, người nông dân nghèo ở vùng sâu vùng xa (nơi mà có năng lực sản xuất yếu nhất) có được thị trường đảm bảo cho việc tiêu thụ các sản phẩm của mình làm ra và từ đó họ yên tâm sản xuất Bên

Trang 29

cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy nhóm nông dân được hưởng lợi nhiều theo

mô hình này hầu hết đều có quy mô canh tác và quy mô gia đình lớn hơn, tuổi chủ hộ trẻ hơn, và có trình độ học vấn cao hơn

Trong một nghiên cứu về sản xuất lúa gạo theo hợp đồng ở Lào,

Setboonsarng và các cộng sự (2008) đã dùng mô hình hồi quy và phương pháp

so sánh điểm xu hướng, phân tích và so sánh lợi nhuận giữa những người nông dân sản xuất theo hợp đồng và những người nông dân sản xuất không theo hợp đồng Mô hình sản xuất theo hợp đồng này được thực hiện bởi một công ty tư nhân của Lào liên kết với nhà đầu tư của Nhật Qua phân tích đối chứng cho thấy cả những người nông dân sản xuất theo hợp đồng và những người nông dân sản xuất không theo hợp đồng có xu hướng tăng lợi nhuận của họ bằng cách tham gia sản xuất theo hợp đồng Lợi nhuận trung bình của người nông dân có hợp đồng cao hơn người nông dân không có hợp đồng Khi tham gia hợp đồng, lợi nhuận của người nông dân ước tính đã tăng lên 4,63 triệu kip trong khi đó lợi nhuận của những người nông dân không có hợp đồng chỉ là 3,21 triệu kip Bên cạnh đó, những người nông dân trong hợp đồng còn được hỗ trợ đầu vào, vốn và

có thị trường đầu ra chắc chắn cho hàng hóa của họ và do đó họ sẽ có lợi nhuận cao hơn Từ đó, nông dân trong hợp đồng sẽ có khả năng đa dạng hóa sản xuất các cây trồng hoặc chăn nuôi, dẫn đến tăng thu nhập và sinh kế an toàn hơn Do vậy, sản xuất theo hợp đồng sẽ thúc đẩy quá trình chuyển đổi của nông dân nhỏ

từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa

Một nghiên cứu khác về sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan do Sriboonchitta và Wiboonpoongse (2008) đã đánh giá bài học kinh nghiệm từ sản xuất theo hợp đồng trên nhiều địa điểm và loại hình sản xuất khác nhau từ đó lý giải cho sự thành công của mô hình sản xuất theo hợp đồng ở Thái Lan Trong

đó nguyên nhân để người nông dân nước này tham gia vào sản xuất theo hợp đồng là do họ có được lợi nhuận cao hơn Bên cạnh đó họ còn được cung ứng vốn thông qua tín dụng và được hỗ trợ kỹ thuật sản xuất Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra những bài học kinh nghiệm, nhưng đáng chú ý là 1) sự minh bạch trong hợp ðồng; 2) tính công bằng trong hợp ðồng; 3) rủi ro phải được chia sẻ

Trang 30

hợp lý; 4) có sự tham gia tích cực của chính quyền địa phương; 5) có sự hỗ trợ của các cơ quan cung cấp dịch vụ công về khoa học công nghệ; 6) phù hợp với

các sản phẩm nông nghiệp cần chế biến

Okoruwa và các cộng sự (2009) đã thực hiện một nghiên cứu về sản xuất

lúa gạo ở miền Bắc Nigeria Nghiên cứu được thực hiện qua khảo sát 143 nông

dân trồng lúa ở Nigeria dựa trên những dữ liệu có liên quan về đầu vào và đầu

ra, các yếu tố sản xuất và đặc điểm kinh tế - xã hội Bằng phương pháp thống kê

mô tả kết hợp với phân tích hồi quy tương quan, nghiên cứu đã cho thấy rằng lợi nhuận trồng lúa sẽ tăng đáng kể nếu sử dụng các giống lúa hiện đại vào sản xuất

và có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả kinh tế giữa những hộ nông dân quy mô nhỏ và hộ nông dân quy mô lớn Còn các yếu tố như giống, phân bón, vốn và giới tính không có ý nghĩa thống kê, tức là không có tác động đến hàm lợi nhuận

2.5.2 Các nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung (2012) có bài viết về

“Cánh đồng mẫu lớn trong nông nghiệp: một số vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển” đã nêu lên khái niệm “Cánh đồng mẫu lớn là tên gọi của nông dân Nam Bộ, thể hiện rằng đó là một cánh đồng trồng một hay vài loại giống cây trồng với diện tích lớn, có cùng thời vụ và quy trình sản xuất, gắn sản xuất với đảm bảo cung ứng về số lượng và chất lượng sản phẩm theo yêu cầu của thị trường” Những đặc trưng cơ bản cũng như tính tất yếu và vai trò của cánh đồng mẫu lớn được trình bày cụ thể từ đó tác giả đánh giá thực trạng phát triển và những khó khăn còn tồn tại để đề xuất một số giải pháp và chính sách nhằm phát triển cánh đồng mẫu lớn cho nông nghiệp Việt Nam

Nghiên cứu của tác giả Trần Văn Hiếu (2012) nghiên cứu đề tài “ Cánh đồng mẫu lớn - Mô hình liên kết (bốn nhà) bước đầu có hiệu quả ở đồng bằng sông Cửu Long” Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến sự cạnh tranh gây gắt từ các nước khác trong khu vực đối với xuất khẩu gạo của nước ta trên thị trường thế giới Qua đó tác giả nêu lên vai trò cần thiết của mô hình cánh đồng mẫu lớn và những kết quả tích cực từ mô hình mang lại ở ĐBSCL Tuy vậy,

Trang 31

việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn ở ĐBSCL vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi cả Nhà nước, hộ nông dân cũng như các doanh nghiệp tham gia vào

mô hình phải cùng nhau giải quyết để hoàn thành mục tiêu mà chương trình đã

từ đó nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu Với quy mô

120 mẫu quan sát được điều tra các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn tác giả

đã sử dụng phương pháp phân tích chi phí (CBA) và dùng hàm lợi nhuận để phân tích biến phụ thuộc lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào thông qua công cụ hồi qui tương quan Bài nghiên cứu cho thấy các nông hộ trong mô hình cánh đồng mẫu lớn có hiệu quả sản xuất cao và ổn định hơn so với các nông hộ ngoài mô hình, làm tăng thu nhập, lợi nhuận và giảm rủi ro sản xuất cho nông hộ Các yếu tố như diện tích, trình độ học vấn, chi phí phân, chi phí thuốc, giá bán là những nhân tố đã tác động đến lợi nhuận và chi phí lao động, kinh nghiệm, chi phí giống là yếu tố không có ý nghĩa trong mô hình Từ kết quả trên, tác giả đã đề ra những giải pháp về phía nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân nhằm định hướng phát triển mô hình trong tương lai ở nông thôn Do vị trí địa bàn nghiên cứu là nơi có nhiều kênh đào tuy nhiên đa số là kênh nhỏ chưa được nạo vét, điều này có tác động như thế nào đến lợi nhuận của nông hộ trong quá trình canh tác nên tác giả đã bổ sung thêm yếu tố chi phí bơm tưới vào mô hình nhằm tìm hiểu thêm, cũng như làm rõ mối quan hệ giữa các biến

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Bình (2013) về phân tích hiệu quả sản xuất của hộ trồng lúa trong mô hình cánh đồng mẫu lớn tại Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Nghiên cứu hiệu quả sản xuất của hộ nông dân trồng lúa trong

mô hình “cánh đồng mẫu lớn” trên cơ sở so sánh với nông hộ trồng lúa ngoài

mô hình cánh đồng mẫu lớn ở huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang trong vụ

Trang 32

Đông Xuân năm 2012 – 2013 dựa vào bộ số liệu phỏng vấn trực tiếp từ 80 nông

hộ tại huyện Châu Thành A Hiệu quả sản xuất trong bài nghiên cứu này được ước lượng bằng hàm sản xuất và lợi nhuận biên ngẫu nhiên Cobb –Douglas bằng phần mềm Frontier 4.1 của Coelli

Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất trung bình của nông hộ cánh đồng mẫu lớn đạt 7,9 tấn/ha, cao hơn năng suất trung bình của nông hộ ngoài cánh đồng mẫu lớn khoảng 720 kg lúa/ha Lợi nhuận của nông hộ cánh đồng mẫu lớn khoảng 22 triệu đồng/ha, cao hơn ngoài cánh đồng mẫu lớn khoảng 916 ngàn đồng/ha Mức hiệu quả lợi nhuận trung bình trong và ngoài mô hình cánh đồng mẫu lớn lần lượt là 87% và 67% Với nguồn lực hiện có và các kỹ thuật sản xuất phù hợp thì lợi nhuận của nông hộ trồng lúa trong cánh đồng mẫu lớn có khả năng tăng thêm 13% Các yếu tố đầu vào như diện tích, chi phí thuốc nông dược

và việc điều chỉnh giảm lượng phân lân, tăng cường lượng giống gieo sạ đã góp phần nâng cao năng suất lúa trong cánh đồng mẫu lớn

Nghiên cứu của Trang Tú Ngoan (2013) về phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của cây lúa ở Hậu Giang Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của cây lúa từ đó đề ra các biện pháp cải thiện Đề tài này sử dụng phương pháp ước lượng hàm sản xuất và hàm hiệu quả kỹ thuật được ước lượng theo phương pháp một bước (one-stage estimation) bằng frontier 4.1 của Tim Coelli (2007) Qua kết quả điều tra cho thấy sản lượng trung bình mà hộ đạt được là 9.306 kg/ha, lợi nhuận trung bình của các hộ là 21.026 nghìn đồng/ha Hiệu quả kỹ thuật trung bình của các

hộ sản xuất lúa của toàn bộ mẫu khảo sát là 91,35% so với sản lượng tối đa, hầu hết các hộ đều đạt hiệu quả kỹ thuật từ 70% trở lên Các yếu tố về phân đạm, phân lân, chi phí thuốc BVTV, loại giống có ý nghĩa trong mô hình đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng của các hộ trong năm 2012 yếu tố tuổi chủ

hộ, trình độ học vấn, kinh nghiệm, lao động gia đình, khoảng cách xa, gần từ nhà đến mảnh ruộng, tham gia tập huấn, tham gia hội, tín dụng, chương trình 1 phải 5 giảm có ý nghĩa trong mô hình Còn lại các biến chương trình 3 giảm 3

Trang 33

tăng, mô hình IPM, phương pháp sạ hàng, luân canh, tỷ lệ đất thuê, nguồn gốc đất, quy mô đất, lao động thuê, giới tính không có ý nghĩa trong mô hình

Nghiên cứu của Trần Thị Mộng Thúy (2016) về “So sánh hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng lúa giữa phương thức hợp đồng và phương thức sản xuất tự

do tại huyện Long Mỹ tỉnh Hậu Giang” Về hiệu quả kỹ thuật, khi tham gia mô hình cánh đồng lớn, dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của các cán bộ “3 cùng”, người dân

đã thay đổi tập quán sản xuất: sử dụng giống xác nhận để gieo trồng, giảm lượng giống gieo sạ từ 42,5-36 kg/ha, gieo sạ đồng loạt theo lịch thời vụ; thay đổi tập quán bón nhiều phân đạm, ít phân kali làm cho cây lúa dễ bị đổ ngã dẫn đến giảm năng suất, thay đổi cách phun thuốc từ phun thuốc theo định kỳ và kinh nghiệm sang phun thuốc theo sự hướng dẫn của các cán bộ kỹ thuật Về hiệu

quả kinh tế, khi tham gia mô hình cánh đồng lớn giúp cho nông dân giảm được

chi phí giống từ 276.224 đồng/ha - 271.298 đồng/ha, giảm chi phí phân bón từ 412.778 đồng/ha - 388.830 đồng/ha, giảm chi phí thuốc BVTV từ 443.811 đồng/ha - 325.314 đồng/ha, chi phí bơm nước giảm từ 138.954 đồng/ha - 127.700 đồng/ha, chi phí lao động từ 466.875 đồng/ha - 450.000 đồng/ha từ đó tổng chi phí giảm từ 1.772.346 đồng/ha - 1.547.256 đồng/ha dẫn đến giá thành 1

kg lúa của các hộ trong mô hình cũng giảm từ 459 đồng/kg - 398 đồng/kg Điều này nói lên rằng khi hộ nông dân trong mô hình đầu tư 1 đồng chi phí sẽ thu được 0,89 đồng lợi nhuận, trong khi đó các hộ bên ngoài mô hình đầu tư chỉ thu được 0,56 đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận/ doanh thu của các hộ trong mô hình là 0,89 lần, cao hơn tỷ suất lợi nhuận /tổng chi phí của các hộ bên ngoài mô hình 0,33 lần Điều này nói lên rằng khi hộ nông dân trong mô hình đầu tư 1 đồng chi phí sẽ thu được 0,89 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ bên ngoài mô hình đầu tư chỉ thu được 0,56 đồng lợi nhuận

Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Dung (2015) về “Hiệu quả kinh tế sản xuất

lúa trong mô hình Cánh đồng lớn tại tỉnh Bến Tre” Qua thực hiện kiểm định

bằng phương pháp t-test và PSM, cho thấy mô hình cánh đồng lớn do Công ty Lương thực Bến Tre phối hợp cùng với các công ty cung ứng đầu vào đã đem lại hiệu quả tài chính cao hơn cho nông hộ trong mô hình, giúp giảm chi phí, tăng

Trang 34

năng suất, tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho bà con nông dân Kết quả về hiệu quả kỹ thuật: khi tham gia mô hình cánh đồng lớn, dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của các công ty cung ứng phân bón và thuốc BVTV, nông dân đã thay đổi tập quán sản xuất: sử dụng giống xác nhận để gieo trồng, giảm lượng giống gieo sạ từ 40 -30 kg/ha/vụ, gieo sạ đồng loạt theo lịch thời vụ; bón phân cân đối và hợp lý (giảm lượng phân đạm), thay đổi cách phun thuốc từ phun thuốc theo định kỳ và kinh nghiệm sang phun thuốc theo sự hướng dẫn của các cán bộ kỹ thuật; sử dụng nước tiết kiệm, đúng thời điểm hạn chế được sự đổ ngã của cây lúa v.v Về hiệu quả kinh tế, khi tham gia mô hình cánh đồng lớn giúp cho nông dân giảm được chi phí phân bón từ 247.970 đồng/ha/vụ - 233.618 đồng/ha/vụ, giảm chi phí thuốc BVTV từ 861.085 đồng/ha/vụ - 726.974 đồng/ha/vụ, chi phí bơm nước giảm từ 336.375 đồng/ha/vụ - 264.977 đồng/ha/vụ Tỷ suất lợi nhuận/ tổng chi phí của các hộ trong mô hình là 0,48 lần, cao hơn tỷ suất lợi nhuận/tổng chi phí của các hộ bên ngoài mô hình 0,19 lần Điều này nói lên rằng khi hộ nông dân trong mô hình đầu tư 1 đồng chi phí sẽ thu được 0,48 đồng lợi nhuận trong khi đó các hộ bên ngoài mô hình đầu tư chỉ thu được 0,29 đồng lợi nhuận Qua kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa và mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận từ sản xuất lúa cho thấy khi tham gia mô hình cánh đồng lớn sẽ làm tăng năng suất và lợi nhuận cho nông dân trong mô hình

Tóm lại, các nghiên cứu trên của các tác giả chỉ ra cơ sở lý luận cho việc phát triển sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình cánh đồng mẫu lớn; đồng thời cũng tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của mô hình này Các nghiên cứu chưa so sánh hiệu quả mô hình sản xuất này so với các mô hình trồng lúa khác Việc so sánh hiệu quả sản xuất trồng lúa giữa các mô hình giúp tìm ra giải pháp giúp hộ trồng lúa lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của hộ gia đình

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài Tác giả trình bày các khái niệm về nông hộ, khái niệm về kinh tế hộ nông dân, hiệu quả kinh tế, hiệu quả sản xuất Tổng hợp các lý thuyết về kinh tế học sản xuất gồm hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất, hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất, hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí, hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của nông hộ,

mô hình CĐML và tổng hợp các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đề tài

Từ cơ sở lý thuyết này, tác giả đưa ra phương pháp phân tích ở chương tiếp theo

Trang 36

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1.2 Dữ liệu sơ cấp

3.1.2.1 Chọn đối tượng điều tra và điểm nghiên cứu

Đề tài chọn hộ trồng lúa tham gia sản xuất theo mô hình CĐML từ năm

2014 đến 2016 làm nhóm tham gia Chọn hộ trồng lúa theo phương thức tự do từ năm 2014 đến 2016 làm nhóm đối chứng Với điều kiện cả hai nhóm có đặc điểm kinh tế, xã hội (thu nhập đầu người, học vấn, tỷ lệ người phụ thuộc, diện tích đất canh tác,…) tương đồng nhau

Điểm nghiên cứu của đề tài gồm 4 xã Tân Thuận, Bình Minh, Vĩnh Bình Nam và Vĩnh Bình Bắc thuộc huyện Vĩnh Thuận vì các xã này có tỷ lệ hộ tham gia CĐML cao và tồn tại đồng thời những hộ tham gia phương thức sản xuất tự

Trong đó,

Trang 37

p: là tỷ lệ số hộ nông dân có thuộc tính cho trước (trong đề tài này là số hộ nông dân tham gia mô hình sản xuất CĐML)

q: là tỷ lệ số hộ nông dân không có thuộc tính cho trước (trong đề này là

là số hộ nông dân tham gia mô hình sản xuất tự do)

Tỷ lệ số hộ CĐML xã so với tổng số hộ CĐML

Nguồn: Báo cáo Phòng NN&PTNT huyện Vĩnh Thuận

Áp dụng công thức trên chọn sai số chuẩn là 8%, ta được:

16 0 1912

304

p

84 0

1 p

q

001666

0 96 1

08

2

p

81 01666 0

84 0

* 16 0

n

Để đảm bảo tính đại diện cho tổng thể, tác giả đề tài chọn cỡ mẫu là 120

hộ nông dân Tính số hộ trong mô hình CĐML 120*0,16=19,2 nên chọn 20 hộ

và còn lại 100 hộ tham gia sản xuất theo mô hình tự do Cụ thể theo tỷ lệ các xã như sau:

Trang 38

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Phương pháp lấy mẫu: lấy mẫu theo phương pháp thuận tiện

3.2 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

3.2.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu

Quy trình sàng lọc và xử lý số liệu được thực hiện bằng tay, tác giả tiến hành phân loại các bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình, những trả lời nào không đáng tin cậy sẽ bị loại bỏ, không đưa vào nghiên cứu Mã hóa, nhập liệu thông tin mẫu khảo sát trên phần mềm Excel Chuyển dữ liệu sang Stata 12

để xử lý Thực hiện thống kê mô tả, so sánh sự khác biệt về chi phí và hiệu quả sản xuất lúa theo mô hình CĐML và SXTD

3.2.2 Phân tích thống kê mô tả

Sử dụng phần mềm Stata 12.0 để phân tích thống kê mô tả các đặc điểm

về hộ, đặc điểm đánh giá hiệu quả sản xuất Thông qua đó, kiểm tra tính đại diện của mẫu cho tổng thể có tốt không Phân tích số lượng, tần số của từng biến thông qua việc lập bảng hoặc lập biểu đồ mô tả cho từng biến Khảo sát mối liên

hệ giữa các nhân tố đối với lợi nhuận của người trồng lúa Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất theo mô hình CĐML

3.2.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Áp dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM) để so sánh hiệu quả giữa hộ nông dân sản xuất theo mô hình CĐML và hộ sản xuất tự do dựa trên các số liệu thống kê đã khảo sát thực tế

Trang 39

Phương pháp so sánh điểm xu hướng là phương pháp xây dựng nhóm so sánh thống kê dựa trên mô hình xác suất tham gia can thiệp bằng các số liệu thống kê được quan sát Đối tượng tham gia sau đó được so sánh dựa trên các xác suất này hay còn gọi là điểm xu hướng với đối tượng không tham gia Hiệu quả can thiệp bình quân của chương trình sau đó được tính toán bằng sai biệt trung vị trong kết quả giữa hai nhóm (trích theo Trần Thị Mỹ Dung, 2015)

Nhiều cách thức được sử dụng để so sánh giữa đối tượng tham gia và không tham gia dựa trên điểm xu hướng Trong đó có các phương pháp như phương pháp so sánh cận gần nhất (nearest-neighbor matching - NN), phương pháp so sánh trong phạm vi và bán kính (caliper and radius matching), phương pháp so sánh phân tầng và giãn cách (stratification and interval matching), phương pháp so sánh hạt nhân (kernel matching) và phương pháp so sánh tuyến tính tại chỗ (local linear matching - LLM) Các phương pháp hồi quy dựa trên mẫu đối tượng tham gia và không tham gia, cho phép tính toán hiệu quả hơn

Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn phương pháp so sánh cận gần nhất (NN), đây là một trong những kỹ thuật so sánh được sử dụng thường xuyên nhất, trong đó mỗi đơn vị can thiệp được so sánh với một đơn vị đối chiếu có điểm xu hướng gần nhất

3.2.4 Phân tích định lượng

3.2.4.1 Thực hiện các kiểm định so sánh giữa tham gia mô hình CĐML

và sản xuất tự do

Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập (t-test):

Sử dụng phương pháp kiểm định t-test trong Stata12 để kiểm định trung bình của một biến ở hai mẫu độc lập có bằng nhau hay không

Giả thiết H0: Trung bình hai biến như nhau

Giả thiết H1: Trung bình hai biến khác nhau

Dựa vào kết quả kiểm định sự bằng nhau của hai phương sai tổng thể đã tính được, ta sẽ xem xét kết quả:

+ Nếu giá trị p-value < α nên bác bỏ giả thiết H0: Trung bình hai biến là như nhau Như vậy, trung bình của hai biến của hai nhóm là khác nhau

Ngày đăng: 03/04/2018, 22:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm