Bên cạnh là sự tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm và thực tiễn với các cuộc phỏng vấn, toạ đàm… Kết quả luận văn đã tổng hợp và đưa ra tương đối đầy đủ cơ sở lý thuyết làm nền tảng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐINH HỒ NGỌC HẠNH
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH: NGHIÊN CỨU
SO SÁNH TỈNH KIÊN GIANG VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
ĐINH HỒ NGỌC HẠNH
PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH: NGHIÊN CỨU
SO SÁNH TỈNH KIÊN GIANG VÀ CÁC TỈNH LÂN CẬN NHẰM
NÂNG CAO NĂNG LỰC THU HÚT ĐẦU TƯ
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn “Phân tích năng lực cạnh tranh: nghiên cứu so sánh tỉnh Kiên Giang và các tỉnh lân cận nhằm nâng cao năng lực thu hút đầu tư” được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân tôi và kết quả nghiên cứu này là trung thực, chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Học viên
Đinh Hồ Ngọc Hạnh
Trang 4Học viên
Đinh Hồ Ngọc Hạnh
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
1.7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 5
2.1 Lý thuyết về cạnh tranh 5
2.1.1 Cạnh tranh là gì? 5
2.1.2 Đặc trưng cơ bản của cạnh tranh 6
2.1.3 Các hình thức cạnh tranh 7
2.1.4 Vai trò của cạnh tranh 11
2.2 Năng lực cạnh tranh 12
2.2.1 Khái quát năng lực cạnh tranh 12
2.2.2 Phân loại năng lực cạnh tranh 14
Trang 62.3 Lược khảo các nghiên cứu liên quan 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đo lường năng lực cạnh tranh 20
3.1.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 20
3.1.2 Đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh của Kiên Giang 21
3.2 Khung phân tích so sánh năng lực cạnh tranh 22
3.2.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh của Kiên Giang 22
3.2.2 Mô tả khung phân tích 22
3.2.3 Khung so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh 23
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Kiên Giang 26
4.1.1 Vị trí địa lý của Kiên Giang 26
4.1.2 Điều kiện tự nhiên của Kiên Giang () 27
4.1.3 Tài nguyên thiên nhiên của Kiên Giang () 28
4.1.4 Dân số, mật độ dân số của Kiên Giang 30
4.1.5 Lực lượng lao động của Kiên Giang 32
4.1.6 Cơ sở hạ tầng của Kiên Giang () 33
4.1.7 Định hướng nhân lực của Kiên Giang 34
4.1.8 Tiếp cận nguồn lực của Kiên Giang 35
4.2 PCI của Kiên Giang và một số tỉnh thành giai đoạn 2012-2016 36
4.2.1 Các chỉ số PCI thành phần giai đoạn 2012-2016 36
4.2.2 PCI Kiên Giang và một số địa phương từ 2012-2016 56
4.2.3 Kết quả và những tồn tại hạn chế 59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 62
1 KẾT LUẬN 62
2 KHUYẾN NGHỊ 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 01 KỊCH BẢN PHỎNG VẤN
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
PCI Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
SWOT Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu),
Opportunities (Cơ hội) và Threats (Thách thức)
TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh
USAID Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam WEF Diễn đàn kinh tế thế giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Phân tích SWOT cho yếu tố vị trí địa lý 27
Bảng 2 Phân tích SWOT cho yếu tố tự nhiên 27
Bảng 3 Phân tích SWOT cho yếu tố tài nguyên 30
Bảng 4 Phân tích SWOT cho yếu tố dân số 31
Bảng 5 Phân tích SWOT cho yếu tố lao động 32
Bảng 6 Phân tích SWOT cho yếu tố cơ sở hạ tầng 34
Bảng 7 Phân tích SWOT cho yếu tố định hướng nhân lực 35
Bảng 8 Phân tích SWOT cho yếu tố tiếp cận nguồn lực 36
*** Biểu đồ 1 Tài nguyên đất của Kiên Giang 28
Biểu đồ 2 Dân số Kiên Giang 30
Biểu đồ 3 Mật độ dân số Kiên Giang 31
Biểu đồ 4 Lực lượng lao động Kiên Giang 32
Biểu đồ 5 Chỉ số chi phí gia nhập thị trường của Kiên Giang 36
Biểu đồ 6 Chỉ số chi phí gia nhập thị trường của Kiên Giang và một số tỉnh 37
Biểu đồ 7 Biến động chỉ số chi phí gia nhập thị trường của KG và một số tỉnh 37
Biểu đồ 8 Biến động chỉ số chi phí gia nhập thị trường của KG và một số TP lớn 38
Biểu đồ 9 Chỉ số tiếp cận đất đai của Kiên Giang 38
Biểu đồ 10 Chỉ số tiếp cận đất đai của Kiên Giang và một số tỉnh 39
Biểu đồ 11 Biến động chỉ số tiếp cận đất đai của Kiên Giang và một số tỉnh 39
Biểu đồ 12 Biến động chỉ số tiếp cận đất đai của Kiên Giang và một số TP lớn 40
Biểu đồ 13 Chỉ số minh bạch và tiếp cận thông tin của Kiên Giang 41
Biểu đồ 14 Chỉ số minh bạch và tiếp cận thông tin của Kiên Giang và một số tỉnh 41
Biểu đồ 15 Biến động chỉ số minh bạch và tiếp cận thông tin của Kiên Giang và một số tỉnh 42
Biểu đồ 16 Biến động chỉ số minh bạch và tiếp cận thông tin của Kiên Giang và một số TP lớn 42
Biểu đồ 17 Chỉ số Chi phí thời gian của Kiên Giang 43
Biểu đồ 18 Chỉ số Chi phí thời gian của Kiên Giang và một số tỉnh 43
Trang 9Biểu đồ 19 Biến động chỉ số chi phí thời gian của Kiên Giang và một số tỉnh 44
Biểu đồ 20 Biến động chỉ số chi phí thời gian của Kiên Giang và một số TP lớn 44
Biểu đồ 21 Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang 45
Biểu đồ 22 Chỉ số Chi phí không chính thức của Kiên Giang và một số tỉnh 45
Biểu đồ 23 Biến động chỉ số chi phí không chính thức của KG và một số tỉnh 46
Biểu đồ 24 Biến động chỉ số chi phí không chính thức của KG và một số TP lớn 46
Biểu đồ 25 Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng của Kiên Giang 47
Biểu đồ 26 Chỉ số Cạnh tranh bình đẳng của Kiên Giang và một số tỉnh 47
Biểu đồ 27 Biến động chỉ số cạnh tranh bình đẳng của KG và một số tỉnh 48
Biểu đồ 28 Biến động chỉ số cạnh tranh bình đẳng của KG và một số TP lớn 48
Biểu đồ 29 Chỉ số năng động và tiên phong của lãnh đạo của Kiên Giang 49
Biểu đồ 30 Chỉ số năng động và tiên phong của lãnh đạo của KG và một số tỉnh 49
Biểu đồ 31 Biến động chỉ số tính năng động của Kiên Giang và một số tỉnh 50
Biểu đồ 32 Biến động chỉ số tính năng động của Kiên Giang và một số TP lớn 50
Biểu đồ 33 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Kiên Giang 51
Biểu đồ 34 Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp của Kiên Giang và một số tỉnh 51
Biểu đồ 35 Biến động chỉ số dịch vụ hỗ trợ DN của Kiên Giang và một số tỉnh 52
Biểu đồ 36 Biến động chỉ số dịch vụ hỗ trợ DN của Kiên Giang và một số TP lớn 52
Biểu đồ 37 Chỉ số Đào tạo lao động của Kiên Giang 53
Biểu đồ 38 Chỉ số Đào tạo lao động của Kiên Giang và một số tỉnh 53
Biểu đồ 39 Biến động chỉ số đào tạo lao động của Kiên Giang và một số tỉnh 54
Biểu đồ 40 Biến động chỉ số đào tạo lao động Kiên Giang và một số TP lớn 54
Biểu đồ 41 Chỉ số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang 55
Biểu đồ 42 Chỉ số Thiết chế pháp lý của Kiên Giang và một số tỉnh 55
Biểu đồ 43 Biến động chỉ số thiết chế pháp lý của Kiên Giang và một số tỉnh 56
Biểu đồ 44 Biến động chỉ số thiết chế pháp lý của Kiên Giang và một số TP lớn 56
Biểu đồ 45 PCI của Kiên Giang 2012-2016 57
Biểu đồ 46 PCI của Kiên Giang và một số tỉnh 2012-2016 57
Biểu đồ 47 Biến động PCI của Kiên Giang và một số tỉnh 58
Biểu đồ 48 Biến động PCI của Kiên Giang và một số TP lớn 58
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1 Thang đo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 21
Hình 2 Thang đo chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Kiên Giang 21
Hình 3 Năng lực cạnh tranh của Kiên Giang 22
Hình 4 Khung so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh của Kiên Giang và các tỉnh 23
Hình 5 Bản đồ Kiên Giang 26
Trang 11TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài nghiên cứu về “Phân tích năng lực cạnh tranh: nghiên cứu so
sánh tỉnh Kiên Giang và các tỉnh lân cận nhằm nâng cao năng lực thu hút đầu tư” được phân tích từ nguốn số liệu thứ cấp thu thập tại Tổng cục Thống kê,
Cục Thống kê Kiên Giang và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USAID) từ năm
2012 đến 2016 và nguồn thông tin, tư vấn từ các chuyên gia
Số liệu thứ cấp được trích lọc từ các niêm giám thống kê từ Tổng cục Thống kê, Cục thống kê Kiên Giang, và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa kỳ (USAID), website của VCCI http://www.pcivietnam.org/du-lieu-pci-c16.html Qua đó tổng hợp và số hoá các thông tin thành dữ liệu để phân tích, thống kê và mô tả kết quả phân tích với sự trợ giúp của một số phần mềm máy tính: Excel, SPSS Bên cạnh là sự tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm và thực tiễn với các cuộc phỏng vấn, toạ đàm…
Kết quả luận văn đã tổng hợp và đưa ra tương đối đầy đủ cơ sở lý thuyết làm nền tảng; Phân tích các thành phần cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh và
so sánh các thành phần này với các địa phương lân cận, các thành phố lớn để tìm
ra sự khác biệt giữa các địa phương với Kiên Giang Đồng thời cũng xây dựng được khung phân tích các nhân tố tác động, ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Kiên Giang và tổng hợp, phân tích các yếu tố này
Qua quá trình thực hiện đã tìm ra được các thế mạnh, hạn chế, cơ hội và nguy cơ của các yếu tố ảnh hưởn đến năng lực cạnh tranh của Kiên Giang Đồng thời so sánh, phân nhóm các chỉ số năng lực cạnh tranh thành phần: tăng, giảm giữ vị trí thứ hạng
Cuối cùng đã xây dựng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho Kiên Giang gồm có: 04 giải pháp cho các nhân tố ảnh hưởng đến
Trang 12năng lực cạnh tranh của Kiên Giang và với các chỉ số PCI thành phần đã phân nhóm:
Đối với các chỉ số thành phần tăng thứ hạng
(1) Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp 03 giải pháp
(2) Cạnh tranh bình đẳng 01 giải pháp
(3) Tính minh bạch và tiếp cận thông tin 03 giải pháp
(4) Chi phí không chính thức 04 giải pháp
Đối với chỉ số thành phần giữ thứ hạng
(1) Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất 03 giải pháp
Đối với các chỉ số thành phần giảm thứ hạng
(1) Chi phí gia nhập thị trường 03 giải pháp
(2) Chi phí thời gian để thực hiện các quy định 04 giải pháp
(3) Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 02 giải pháp
(4) Thiết chế pháp lý 02 giải pháp
(5) Đào tạo lao động 03 giải pháp
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Để thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân, vào năm 2005 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã phối hợp với Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa
kỳ (USAID) thực hiện việc nghiên cứu đánh giá Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam (PCI) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được xây dựng với mục tiêu giúp lý giải nguyên nhân một số tỉnh, thành phố phát triển năng động, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế hơn các địa phương khác Trên cơ sở đó, các tỉnh thành có thể đưa ra được các chính sách để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế tư nhân tạo động cơ thúc đẩy địa phương mình phát triển
Từ năm 2006, chỉ số PCI được công bố định kỳ hàng năm bao gồm: điểm
số chung về PCI, điểm số từng thành phần và thứ hạng trong 63 tỉnh thành của
cả nước PCI được xem là kênh thông tin hiệu quả giúp chính quyền các tỉnh, thành phố nắm bắt và hiểu rõ nhu cầu của cộng đồng doanh nghiệp PCI mang đến cho nhà đầu tư hay doanh nghiệp đang cân nhắc đầu tư hoặc mở rộng quy
mô kinh doanh tại Việt Nam, một bức tranh tương đối đầy đủ về môi trường kinh doanh địa phương từ góc nhìn của chính các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh tại đây
Trong những năm qua, Kiên Giang luôn chú trọng đến cải thiện môi trường đầu tư và kinh doanh, nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành bộ máy hành chính các cấp nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp hoạt động góp phần tăng trưởng kinh tế cho địa phương Theo đánh giá xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của VCCI cho thấy Kiên Giang là địa phương có điểm số và thứ hạng khá cao, nằm trong nhóm tốt Năm 2013, Kiên Giang đạt 63,55 điểm xếp hạng 3 trong 63 tỉnh, thành (xếp thứ I ĐBSCL), năm 2014 Kiên Giang đạt
Trang 1461,1 điểm, giảm 8 bậc xếp vị trí thứ 9 trong số 63 tỉnh, thành (đứng vị trí thứ 3 ĐBSCL), đến năm 2015 đạt 60,71 điểm giảm 2 bậc, xếp vị trí thứ 13 cả nước (1)
Như vậy, sau thời gian nghiên cứu, đánh giá, công bố các chỉ số PCI và nổ lực của Kiên Giang để cải thiện chỉ số này thì môi trường kinh doanh và đầu tư
có được cải thiện hay không? So với các địa phương khác lân cận thì như thế nào? Có phải tỉnh có chỉ số PCI cao thì khả năng thu hút đầu tư cao hơn các tỉnh khác không? Và các yếu tố khác như: vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, thị trường… có tác động như thế nào đến thu hút đầu tư vào Kiên Giang? đề tài
“Phân tích năng lực cạnh tranh: nghiên cứu so sánh tỉnh Kiên Giang và các
tỉnh lân cận nhằm nâng cao năng lực thu hút đầu tư” là cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho địa phương cụ thể là tỉnh Kiên Giang
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các thành phần đo lường năng lực cạnh tranh của Kiên Giang so với các tỉnh lân cận có gì khác biệt?
Những chính sách nào cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh cho tỉnh Kiên Giang để gia tăng khả năng thu hút đầu tư?
1
UBND tỉnh Kiên Giang (2015), Báo cáo kết quả thực hiện Chỉ số năng lực cạnh tranh năm 2015 và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Kiên Giang năm 2016
Trang 151.4 Đối tượng, Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các chỉ tiêu, các chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số PCI của tỉnh Kiên Giang và một số địa phương lân cận
Một số chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến đầu tư và thu hút đầu tư tại Kiên Giang
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu: giới hạn địa lý của Kiên Giang và một số tỉnh lân cận thuộc khu vực ĐBSCL: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau
Chính sách, pháp luật liên quan, phục vụ nghiên cứu này
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
Phỏng vấn sâu các chuyên gia liên quan đến năng lực cạnh tranh
Tổng hợp, phân tích, so sánh dữ liệu
Thống kê mô tả, Phân tích SWOT
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.6.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Vận dụng các học thuyết, mô hình, kiến thức… đã được tích lũy vào một vấn đề thực tiễn cụ thể cho một địa phương cụ thể
Tìm ra và đề xuất một số giải pháp cho một vấn đề nghiên cứu và địa phương cụ thể
1.6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Vận dụng các học thuyết, mô hình, kiến thức… đã được tích lũy vào một vấn đề thực tiễn cụ thể là chỉ số PCI cho một địa phương cụ thể là Kiên Giang
Đúc kết một số kinh nghiệm tìm ra một số giải pháp cho một vấn đề nghiên cứu cụ thể là nâng cao năng lực cạnh tranh để thu hút đầu tư cho một địa phương là Kiên Giang
Trang 16 Từ kết quả đánh giá các chỉ số thành phần cấu thành nên chỉ số PCI của tỉnh Kiên Giang so sánh với một số địa phương khác đề tài sẽ khẳng định được những nỗ lực và chỉ ra những bất cập của chính quyền tỉnh Kiên Giang trong cải thiện môi trường thu hút đầu tư, đồng thời xác định rõ trọng tâm đổi mới hoạt động của chính quyền tỉnh trong thời gian tới
Đồng thời đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo và mở ra các hướng nghiên cứu mới cho những đề tài nghiên cứu sau này
1.7 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu
Trong chương này trình bày các vấn đề: Lý do chọn đề tài; Mục tiêu nghiên cứu; Lược khảo các nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu; Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu…
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh
Trình bày tổng quan về các công trình nghiên cứu trước; Tuyển chọn lý thuyết làm cơ sở lý luận
Các thuật ngữ, khái niệm… được trình bày ở chương này để sử dụng trong các chương sau và lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trình bày, phân tích các thành phần cấu thành chỉ số PCI của Kiên Giang
và các tỉnh lân cận
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trong chương này trình bày các nội dung sau: Khái quát kinh tế xã hội Kiên Giang, Chỉ số năng lực cạnh tranh của tỉnh Kiên Giang, So sánh chỉ số PCI của tỉnh Kiên Giang với cả nước, So sánh chỉ số PCI với các tỉnh ĐBSCL, So sánh chỉ số PCI của Kiên Giang giai đoạn 2007-2015 với Đồng Tháp và TP Cần Thơ và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
Cuối cùng là phần Kết luận và Khuyến nghị
Trang 17Theo kinh tế chính trị học: “ Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành giật thị trường khách hàng cho doanh nghiệp mình” Đó là
sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những người sản xuất với người tiêu dùng (người sản xuất muốn bán đắt, người tiêu dùng muốn mua rẻ); giữa người tiêu dùng với nhau để mua được hàng rẻ hơn; giữa những người sản xuất để có những điều kiện tốt hơn trong sản xuất và tiêu thụ
Theo C.Mác “Cạnh tranh là sự ganh đua gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và trong tiêu thụ để đạt được những lợi nhuận siêu ngạch”, nghiên cứu sâu về nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật cạnh tranh cơ bản là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân giữa các ngành Theo Michael Porter (1980) thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi
Trang 18Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992) ở Anh: “Cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là sự ganh đua kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại về phía mình”
Các nhà khoa học của Việt Nam khi đề cập tới cạnh tranh thì cho rằng: cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hoá, dịch vụ (mua và bán) và
đó là phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế Nói khác đi, mục đích trực tiếp của hoạt động cạnh tranh trên thị trường của chủ thể kinh tế
là giành lợi thế để hạ thấp giá các yếu tố "đầu vào" của chu trình sản xuất - kinh doanh và nâng cao giá "đầu ra" sao cho mức chi phí thấp nhất, giành được mức lợi nhuận cao nhất
Qua đó có thể hiểu cạnh tranh là cuộc ganh đua gay gắt giữa các chủ thể đang hoạt động trên thị trường với nhau, kinh doanh cùng một loại sản phẩm hoặc những sản phẩm tương tự thay thế lẫn nhau nhằm chiếm lĩnh thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận
2.1.2 Đặc trƣng cơ bản của cạnh tranh
Cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là môi trường động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung
Cạnh tranh là quy luật tất yếu của môi trường phát triển, là cơ chế vận động của thị trường Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều,
số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả
Cạnh tranh mang bản chất của mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể kinh tế với nhau Nói đến cạnh tranh là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể Nếu chỉ có một chủ thể (độc quyền) thì không có cạnh tranh nhưng nếu
có nhiều chủ thể mà không cùng mục tiêu thì cạnh tranh, sức cạnh tranh cũng giảm xuống Do vậy, các chủ thể phải có cùng mục tiêu thì mới xảy ra cạnh tranh Các doanh nghiệp cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận tối đa, vì sự tồn tại và
Trang 19phát triển của doanh nghiệp Còn người tiêu dùng thì có mục tiêu chung là tối đa hoá mức độ thoã mãn hoặc sự tiện lợi khi tiêu thụ sản phẩm
Các chủ thể cạnh tranh phải tuân theo một ràng buộc chung được quy định thành văn hoặc bất thành văn, những ràng buộc này có thể là hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế, các thông lệ và tập quán kinh doanh trên các thị trường hoặc trên một thị trường cụ thể, đặc điểm nhu cầu và thị hiếu của khách hàng… Cạnh tranh diễn ra trong một khoảng thời gian và không gian không cố định Trong môi trường kinh doanh sôi động và biến động nhanh chóng, cạnh tranh không chỉ với mục đích giá tăng thị phần trên thị trường hiện tại mà quan trọng hơn là phát triển thị trường mới
2.1.3 Các hình thức cạnh tranh
2.1.3.1 Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh
Cạnh tranh giữa người bán và người mua
Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối
đa hoá lợi nhuận còn người mua muốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuối cùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên
Cạnh tranh giữa những người mua với nhau
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc này hàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mong muốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những người mua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếu chỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một
số nơi khi diễn ra hoạt động bán đấu giá một loại hàng hoá nào đó
Cạnh tranh giữa những người bán với nhau
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sức cầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế
Trang 20của người bán, là nhân tố có vai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế và lợi thế cho mình
2.1.3.2 Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh
Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)
Cạnh tranh hoàn hảo là một hình thức đơn giản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủ lớn để tác động đên giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thị trường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thị trường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định
Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition)
Đây là hình thức cạnh tranh phổ biến, khi đó sẽ tồn tại một hay một vài doanh nghiệp có đủ sức mạnh có thể chi phối được giá cả của sản phẩm Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnh tranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sản phẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét
về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định cao hơn rất nhiều
Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại
Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition)
Cạnh tranh độc quyền là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ thể có ảnh hưởng lớn buộc các đối tác của mình phải bán hoặc mua sản phẩm của mình với giá rất cao và những chủ thể này có thể làm thay đổi giá cả thị trường
Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là: độc quyền bán và độc quyền mua Độc quyền bán tức là chiếm ưu thế cung cấp trên thị trường (có ít người bán) có thể chi phối giá bán trên thị trường Độc quyền mua khi có nhiều nhà cung cấp, sản xuất một vài mặt hàng trên thị trường, khi đó rất có lợi cho người tiêu dùng
và nhà cung cấp, sản xuất cần thúc đẩy các kỹ năng marketing, quảng cáo, chăm sóc khách hàng… nhằm lôi kéo khách hàng về phìa mình
Trang 21Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay thế, tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất và làm tổn hại đến người tiêu dùng Vì vậy phải có một đạo luật chống độc quyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh
Độc quyền tập đoàn
Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số ngành sản xuất mà ở đó chỉ
có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽ xảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệp phải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào số lượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra những ảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác Những doanh nghiệp tham gia thị trường này là những người có tiềm lực kinh tế mạnh, vốn đầu tư lớn Do vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh thường là rất khó
2.1.3.3 Căn cứ vào phạm vi kinh tế
Cạnh tranh nội bộ ngành
Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất
và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải áp dụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanh nghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản
Cạnh tranh giữa các ngành
Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khác nhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậy giữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác khác nhau như môi trường kinh doanh, thu nhập khu
Trang 22vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chất khác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều
đó dẫn đến tình trạng nhiều người sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xu hướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả là những ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy mô sản xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xu hướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trước đây có tỷ suất lợi nhuận thấp, một số nhà đầu tư rút vốn sang lĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, cung sẽ giảm dần ngược lại giá tăng lên và sẽ làm tăng tỷ suất lợi nhuận
2.1.3.4 Căn cứ vào giới hạn địa lý và lãnh thổ
Cạnh tranh giữa các tỉnh, huyện
Cạnh tranh giữa các vùng, miền
Cạnh tranh giữa các quốc gia
Các loại cạnh tranh này xét về bản chất không giống cạnh tranh giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh Vì trong quá trình cạnh tranh này không làm cho một địa phương, một quốc gia lâm vào cảnh “phá sản”, đôi khi đi đến con đường
“giải thể” và có thể “thành lập mới” như các doanh nghiệp Mà việc cạnh tranh giữa các địa phương, vùng miền hay các quốc gia là làm cho các địa phương, vùng miền hay các quốc gia đó có sức hút, sức huy động các nguồn lực kinh tế,
xã hội, nhân lực… nói chung là “đầu vào” để tạo nên “đầu ra” cho các địa phương, vùng miền hay các quốc gia đó để ngày càng giàu mạnh hơn, thịnh vượng hơn
Cạnh tranh giữa các địa phương, vùng miền hay các quốc gia cần đứng trên gốc độ quản lý nhà nước để tiếp cận vấn đề Qua đó có thể hiểu cạnh tranh giữa các địa phương, vùng miền hay các quốc gia là sự ganh đua giữa các chủ thể là địa phương, vùng miền hay các quốc gia trong việc tạo ra điều kiện thuận lợi nhất nhằm huy động một cách có hiệu quả các nguồn lực tạo nên sự phát triển
Trang 23kinh tế xã hội cho địa phương, vùng miền hay quốc gia Cạnh tranh giữa các địa phương, vùng miền, quốc gia nó nằm trong một tổng thể chung và được định hướng bởi các nhà quản lý nhà nước
Mổi một địa phương, vùng miền hay một quốc gia đều có lợi thế đặc thù riêng như: vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thiên nhiên, đất đai, nguồn nhân lực… đây là một đặc trưng của hình thức cạnh tranh này
Bên cạnh đó, tiềm lực và kỹ năng khai thác, sử dụng các điều kiện có sẵn
có của địa phương, vùng miền hay quốc gia đó cũng thể hiện khả năng cạnh tranh của mình
Ngoài ra do các nguồn lực, thế mạnh sẵn có là có hạn và phân bổ không đồng đều giữa các địa phương, vùng miền hay các quốc gia nên cần xem xét xu hướng liên kết để tạo thế mạnh chung cho các địa phương, vùng miền hay các quốc gia
2.1.4 Vai trò của cạnh tranh
Cạnh tranh có vai trò vô cùng quan trọng trong bất kỳ nền kinh tế nào, nó được coi là động lực của sự phát triển không chỉ của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp mà cả nền kinh tế nói chung
2.1.4.1 Đối với doanh nghiệp
Cạnh tranh là công cụ hữu hiệu để chọn lựa và đào thải những tổ chức sản xuất kinh doanh
Cạnh tranh quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Cạnh tranh tạo ra động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải vận động không ngừng để phát triển khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải chọn lựa, bảo tồn và nâng dần chất lượng sản phẩm cả về mặt thẩm mỹ, hình thức
Trang 242.1.4.2 Đối với người tiêu dùng
Mang đến sự phong phú và đa dạng sản phẩm dịch vụ đáp ứng cao nhu cầu tiêu dùng
Tăng khả năng chọn lựa cho người tiêu dùng, thoải mái, dễ dàng trong việc lựa chọn các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình
Gia tăng hữu dụng cho người tiêu dùng cùng các dịch vụ kèm theo 2.1.4.3 Đối với nền kinh tế
Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường, góp phần xoá bỏ những độc quyền, bất hợp lý, bất bình đẳng trong kinh doanh
Cạnh tranh bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động xã hội ngày càng xâu sắc
Cạnh tranh thúc đẩy sự đa dạng hoá sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, kích thích nhu cầu phát triển, làm nảy sinh những nhu cầu mới, góp phần nâng cao chất lượng đời sống xã hội và phát triển nền kinh tế
Bên cạnh những tác dụng tích cực, cạnh tranh cũng làm xuất hiện những hiện tượng tiêu cực như làm hàng giả, buôn lậu trốn thuế… gây nên sự bất ổn trên thị trường, làm thiệt hại đến lợi ích của nhà nước và của người tiêu dùng
2.2 Năng lực cạnh tranh
2.2.1 Khái quát năng lực cạnh tranh
Trong những năm qua, khái niệm liên quan đến năng lực cạnh tranh ngày càng nhận được sự quan tâm, và được thảo luận trong nhiều chương trình nghị
sự của chính phủ mỗi quốc gia cũng như trên diễn đàn quốc tế
Theo Franziska Wolff, Katharina Schmitt and Christian Hochfeld (2007), khái niệm năng lực cạnh tranh là khá phức tạp, do được sử dụng ở nhiều mức độ tổng hợp khác nhau, làm cho nó có nhiều nghĩa và nhiều nhân tố kết hợp khác nhau
Trang 25Theo Từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đối thủ
Theo nghĩa rộng nhất, năng lực cạnh tranh địa hạt lãnh thổ (territorial competitiveness) là những hành động được thực hiện bởi các đại diện kinh tế ở một khu vực địa lý cụ thể để đảm bảo sự tăng lên trong tiêu chuẩn cuộc sống cho những cư dân của mỗi địa hạt lãnh thổ đó Jaques Poot (2000) đã sử dụng thuật ngữ này để nhấn mạnh sự thật rằng cạnh tranh địa hạt lãnh thổ có thể diễn
ra tại nhiều cấp độ khác nhau: cấp độ thành phố, cấp độ từng khu vực lãnh thổ trong một quốc gia, và cạnh tranh ở cấp độ quốc gia
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa năng lực cạnh tranh là “khả năng của các công ty, các ngành, các vùng, các quốc gia hoặc khu vực siêu quốc gia trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế trên cơ sở bền vững”
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (Porter, Salai-Martin, Schwab 2007), năng lực cạnh tranh là tập hợp các thể chế, chính sách và nhân tố quy định mức năng suất của một thành phố hay một vùng lãnh thổ Sử dụng năng suất là thước đo
cơ bản, khái niệm năng lực cạnh tranh vì vậy sẽ bao gồm cả mức độ tăng trưởng kinh tế và khả năng tăng trưởng bền vững
Trong báo cáo hàng kỳ lần thứ sáu về các vùng lãnh thổ, “năng lực cạnh tranh được định nghĩa như khả năng sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của thị trường quốc tế, trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu về sự gia tăng thu nhập và toàn dụng nhân lực của quốc gia mình hay nói chung hơn, đó là khả năng của các vùng lãnh thổ tạo ra mức thu nhập và việc làm tương đối cao trong bối cảnh đối mặt với sự cạnh tranh từ bên ngoài” Nói cách khác, “để một vùng lãnh thổ trở nên cạnh tranh, điều quan trọng là phải đảm bảo được chất lượng và
số lượng việc làm”
Trang 262.2.2 Phân loại năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh được chia làm 4 cấp (loại): năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh giữa các ngành, năng lực cạnh tranh giữa các quốc gia trên thị trường quốc tế và năng lực cạnh tranh giữa các địa phương trong cùng một quốc gia
2.2.2.1 Năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”
Năm 1998, Bộ thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”
Theo Trần Sửu (2005) thì: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững” Tương tự Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả
Theo tác giả Lê Đăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được
đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước”
2.2.2.2 Năng lực cạnh tranh cấp ngành kinh tế
Theo Porter và Van der Linde (1995) thì năng lực cạnh tranh tại cấp độ ngành là năng suất bình quân của ngành hoặc giá trị được tạo ra trên mỗi đơn vị lao động và trên mỗi giá trị vốn đầu tư của ngành đó
Trang 27Những nhân tố được sử dụng cho việc đo lường năng lực cạnh tranh ngành bao gồm tốc độ phát triển của ngành, tỷ suất lợi nhuận, tỷ lệ thất nghiệp và năng suất lao động Theo OECD, (2001) thì năng suất lao động phổ biến được định nghĩa như là tỷ lệ đo lường mức độ đầu ra so với một đơn vị đầu vào
2.2.2.3 Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Theo quan điểm được phát triển bởi Michael Porter, tại cấp độ quốc gia, năng lực cạnh tranh được hiểu như là những điều kiện mà quốc gia đó cung cấp đến các doanh nghiệp để thúc đẩy các doanh nghiệp này ngày càng hoạt động hiệu quả và có tiềm năng tăng trưởng Theo nghĩa này, mỗi quốc gia sẽ có những tác động quan trọng đến sức mạnh trong khả năng cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp ở cả mức độ thị trường toàn cầu và thị trường bên trong biên giới quốc gia (Porter, 1996) Những chính quyền quản lý, tại những cấp độ khác nhau, luôn cân nhắc địa hạt lãnh thổ mà họ quản lý cần phải mở rộng sự tiếp cận đến thị trường toàn cầu, đến vốn, đến tri thức và công nghệ, và đôi khi là đến nguồn nhân lực
Theo Ủy ban Châu Âu (European Commission, 1999) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng để sản xuất hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của thị trường quốc tế, trong khi vẫn phải đảm bảo yêu cầu về sự gia tăng của thu nhập và toàn dụng nhân lực của quốc gia mình Đây là biểu hiện của kết quả về năng lực cạnh tranh hay mục tiêu của năng lực cạnh tranh là phải tiếp cận được thị trường và nâng cao thu nhập
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia phản chiếu sự đánh giá đối với việc tăng lên triển vọng phúc lợi đến cư dân quốc gia đó Từ 1979, Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum – WEF) đã định kỳ xuất bản ấn phẩm Báo cáo Năng lực Cạnh tranh cấp Quốc gia Báo cáo này đã xem xét nhiều nhân tố khác nhau làm động lực cho mỗi nền kinh tế của mỗi quốc gia đạt được sự phát triển kinh tế bền vững và triển vọng tăng trưởng trong dài hạn Mục đích chính của Báo cáo là cung cấp những công cụ chu n cho những người làm chính sách cũng như các nhà lãnh đạo các doanh nghiệp nhận ra những rào cản để nâng cao năng
Trang 28lực cạnh tranh, kích thích những sự thảo luận chiến lược để vượt qua những rào cản này
2.2.2.4 Năng lực cạnh tranh cấp địa phương (tỉnh)
Theo Krugman (1994) một quốc gia cải thiện mức sống dân cư theo thời gian gần như phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng gia tăng sản lượng trên từng công nhân của nó Qua đó cho thấy năng lực cạnh tranh là cách diễn tả khác đi của “năng suất” và tỷ lệ tăng trưởng năng suất của một địa phương sẽ xác định
sự tăng trưởng về mức sống dân cư
Michael Porter (2008) cho rằng năng lực cạnh tranh của một địa phương phụ thuộc vào hiệu suất mà địa phương đó có thể tạo ra khi sử dụng nguồn nhân lực, vốn và tài nguyên thiên nhiên của mình Đây là yếu tố quyết định hàng đầu
và lâu dài đối với mức sống dân cư, vì chính nó là nguồn gốc tạo nên thu nhập bình quân theo đầu người Năng suất của người lao động xác định và đánh giá thông qua mức lương được hưởng, trong khi đó lợi nhuận thu về của doanh nghiệp được quyết định bởi năng suất hay hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn
Có hai xu hướng chính tiếp cận năng lực cạnh tranh của một địa phương
Thứ nhất là cách tiếp cận dựa trên kết quả cuối cùng là năng suất hay hiệu quả công việc theo quan điểm của Porter hay Krugman
Thứ hai là năng lực cạnh tranh của địa phương được đánh giá qua các yếu
tố cấu thành, các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh
Theo cách tiếp cận thứ hai thì các tỉnh thành sẽ cạnh tranh với nhau trong việc xúc tiến xây dựng môi trường kinh doanh có hiệu quả nhất, huy động các nguồn lực, tài nguyên, tự nhiên… sẵn có nhằm tạo ra năng suất, hiệu quả kinh doanh Trong đó khu vực công và khu vực tư đóng vai trò khác nhau nhưng có quan hệ rất mật thiết với nhau Mỗi doanh nghiệp đóng một vai trò nhất định trong việc làm tăng cường khả năng cạnh tranh và chính quyền sẽ định hướng cho nền kinh tế phát triển thông các quyết định về chính sách và các biện pháp khuyến khích Thành công của một nền kinh tế địa phương, theo Krugman
Trang 29(2003), đó là cung cấp vừa đủ những mức lương hấp dẫn và/hoặc triển vọng việc làm và lợi nhuận trên vốn để thu hút vốn và lao động từ các địa phương khác
2.3 Lƣợc khảo các nghiên cứu liên quan
Thời gian qua, có khá nhiều nghiên cứu trong đó nột bật là Luận án tiến sĩ của Phan Nhật Thanh (2010) “Nghiên cứu nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh Hải Dương” Luận án đã vận dụng lý thuyết về cạnh tranh để làm rõ các vấn đề lý thuyết cơ bản của năng lực cạnh tranh cấp tỉnh với một số nội dung chủ yếu sau: (1) Sự phân cấp ngày càng sâu rộng hơn và xu hướng phi tập trung hoá (decentralization) trong quản lý kinh tế đã mở rộng quyền hạn và nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp tỉnh Giữa các tỉnh có
sự ganh đua nhau (cạnh tranh hiểu theo nghĩa này) thu hút Đầu tư phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế- Xã hội của tỉnh Cạnh tranh cấp tỉnh ở Việt Nam là
sự ganh đua giữa các chính quyền cấp tỉnh thông qua quá trình đổi mới và sáng tạo liên tục để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi thu hút Đầu tư Phát triển bền vững trong khung khổ thúc đẩy Quan hệ liên kết (liên kết vùng, liên kết giữa các địa phương) (2) Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng của một địa phương trong thu hút Đầu tư phát triển kinh tế- xã hội theo những mục tiêu đã định Việc đánh giá năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được thực hiện trên cơ sở đánh giá của các nhà đầu tư, đặc biệt là đầu tư tư nhân, với hoạt động của chính quyền cấp tỉnh Thực chất của việc nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là việc đổi mới hoạt động của chính quyền cấp tỉnh, góp phần thúc đẩy cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh của mỗi tỉnh (3) Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số định lượng để đo lường năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Một tỉnh có PCI cao thể hiện sự hấp dẫn đầu tư, kinh doanh với các doanh nghiệp, nhà đầu
tư PCI được xác định thông qua sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá hay các chỉ
số thành phần Mỗi chỉ số thành phần lại bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành được lượng hoá (cho điểm) và xác định trọng số dựa vào kết quả điều tra để xác định PCI sử dụng để so sánh, xếp hạng năng lực cạnh tranh của các tỉnh ở Việt Nam,
là cơ sở để chính quyền tỉnh xác định trọng tâm đổi mới, cải thiện môi trường
Trang 30kinh doanh Việc xếp hạng PCI thực chất là so sánh sự hấp dẫn của môi trường Đầu tư của các tỉnh, qua đó đánh giá mức độ hiệu quả trong hoạt động của chính quyền cấp tỉnh trong việc bảo đảm các điều kiện thu hút đầu tư, từ đó tạo áp lực thúc đẩy đổi mới (ganh đua nhau đổi mới) hoạt động chính quyền cấp tỉnh trong đảm bảo điều kiện đầu tư Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu Từ xếp hạng PCI của tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 - 2010 có so sánh với một số địa phương khác, luận án đã khẳng định những nỗ lực và chỉ ra những bất cập của chính quyền tỉnh Hải Dương trong cải thiện môi trường kinh doanh, đồng thời xác định rõ trọng tâm đổi mới hoạt động của chính quyền tỉnh trong những năm tới Trọng tâm của những khuyến nghị nhằm vào những chỉ số thành phần
có thứ hạng thấp như Tính minh bạch và tiếp cận thông tin; Thiết chế pháp lý; Đào tạo lao động; Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh và những chỉ
số thành phần có xu hướng giảm, bao gồm Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong
sử dụng đất; Chi phí gia nhập thị trường
Những khuyến nghị đó là: (1) Xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh doanh tại địa phương; (2) Phát huy mạnh mẽ tính năng động và tiên phong của lãnh đạo các cấp, các ngành; (3) Tăng khả năng tiếp cận mặt bằng sản xuất kinh doanh và đảm bảo sự ổn định trong sử dụng đất cho doanh nghiệp và nhà đầu tư; (4) Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu; (5) Thực hiện cơ chế trao đổi kinh nghiệm và liên kết, hợp tác với các tỉnh trong và ngoài nước yêu cầu
Nguyễn Văn Mạnh (2015) “Nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Vĩnh Phúc”, đề tài đã chỉ ra nguyên nhân dẫn đến sự sụt giảm PCI của Vĩnh Phúc trong thời gian qua, đó là: Ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới; cơ chế, chính sách về đất đai có những thay đổi làm ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng; việc công bố tài liệu về cơ chế, chính sách, quy hoạch, kế hoạch của tỉnh, quy trình giải quyết thủ tục hành chính của các sở, ban, ngành còn chậm, chưa đầy đủ; thiếu hụt nguồn lao động trong lĩnh vực công nghệ cao, lao động có tay nghề; chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp các còn hạn chế
Trang 31Ngoài ra còn có các luận văn thạc sĩ chỉ nghiên cứu sâu từng chỉ số thành phần như, “Các giải pháp cải thiện chỉ số tính năng động và tiên phong của lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh Khánh Hòa” Đỗ Thị Nga (2013), Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Tiến Lâm (2013) “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ”…
Ngoài PCI, các nhân tố thu hút đầu tư cần nghiên cứu bao gồm: Nhóm nhân tố liên quan đến chủ doanh nghiệp: học vấn, độ tuổi, kinh nghiệm, truyền thống gia đình; Nhóm nhân tố liên quan đến vốn xã hội của doanh nghiệp như: quan hệ với các Hội đoàn, Hiệp hội, các mạng lưới kinh doanh trong và ngoài tỉnh; Nhóm nhân tố liên quan đến bản thân doanh nghiệp: ngành nghề, quy mô doanh nghiệp như số lao động, tổng số tài sản, doanh số, tốc độ tăng trưởng thị trường; Nhóm nhân tố liên quan đến cơ sở hạ tầng của địa phương: PCI và hệ thống đường, giao thông, điện thọai, internet; Nhóm nhân tố liên quan đến thị trường: PCI và tiếp cận tín dụng, liên kết kinh tế, tiêu thụ sản phẩm, thương hiệu sản phẩm; Nhóm nhân tố liên quan đến môi trường đầu tư: PCI và các hính sách hiện hành, thủ tục hành chính, các hỗ trợ doanh nghiệp từ chính quyền
Trang 32CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đo lường năng lực cạnh tranh
3.1.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2) và Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thì:
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh hay PCI (Provincial Competitiveness Index) là chỉ số dùng để đo lương, đánh giá và xếp hạng năng lực cạnh tranh của các địa phương cấp tỉnh, thành của Việt Nam
Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh thể hiện chất lượng điều hành kinh tế
và xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Chỉ số này được công bố thí điểm lần đầu tiên vào năm 2005 gồm tám chỉ
số thành phần, mỗi chỉ số thành phần lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh giá
Năm 2006 hai lĩnh vực quan trọng của môi trường kinh doanh: Thiết chế pháp lý và Đào tạo lao động được đưa vào nghiên cứu và tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa vào xếp hạng
Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp thời sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường pháp lý tại Việt Nam Sau khi loại bỏ chỉ số Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước, hiện nay, PCI còn 9 chỉ số thành phần
Năm 2013, PCI đánh dấu bước thay đổi mới khi chỉ số cạnh tranh bình đẳng được đưa vào bộ chỉ số là một thước đo đánh giá Các chỉ số đó là (3)
Trang 33Hình 1 Thang đo chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
3.1.2 Đo lường chỉ số năng lực cạnh tranh của Kiên Giang
Hình 2 Thang đo chỉ số năng lực cạnh tranh tỉnh Kiên Giang
Nguồn: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
Trang 343.2 Khung phân tích so sánh năng lực cạnh tranh
3.2.1 Khung phân tích năng lực cạnh tranh của Kiên Giang
Hình 3 Năng lực cạnh tranh của Kiên Giang
Nguồn: Tác giả luận văn
3.2.2 Mô tả khung phân tích
3.2.2.1 Vị trí địa lý
Đặc điểm vị trí địa lý của Kiên Giang thuộc khu vực, vùng miền, toạ độ…
và các địa phương tiếp giáp với Kiên Giang… sẽ mang lại cho Kiên Giang những lợi thế gì và phù hợp với định hướng phát triển, ngành nghề…
3.2.2.2 Điều kiện tự nhiên
Một số thông tin về điều kiện tự nhiên của Kiên Giang như: địa hình, khí hậu, nhiệt độ môi trường, khí hậu… những điều kiện này có những mặt thuận lợi
và hạn chế như thế nào đến năng lực cạnh tranh của địa phương
3.2.2.3 Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên du lịch… sẽ tạo cho Kiên Giang sức hút đầu tư tương ứng với tài nguyên sẵn có
3.2.2.4 Dân số
Nguồn lực dân số có ảnh hưởng đến sức lao động và sức tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ được cung cấp, nó là nguồn kích thích đầu tư sản xuất các sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhu cầu tại địa phương
Trang 353.2.2.5 Lao động
Đây là nguồn lực quan trọng, số lượng lao động, trình độ, kỹ năng lao động… vừa là nguồn lực sản xuất sản phẩm dịch vụ và đồng thời là nguồn tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ được làm ra
3.2.2.6 Cơ sở hạ tầng
Là sự đầu tư của địa phương tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong quá trình nghiên cứu, đầu tư, sản xuất, cung cấp, tiêu thụ sản phẩm dịch vụ được làm ra như hạ tầng giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, mạng lưới cung cấp điện năng, hệ thống cung cấp nước sạch sinh hoạt…
3.2.2.9 Tiếp cận nguồn lực
Thể hiện tính hiệu quả trong việc tiếp cận, khai thác, tái đầu tư vào các nguồn lực sẵn có của địa phương nhằm bảo đảm phát triển, ổn định và bền vững
3.2.3 Khung so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh
Hình 4 Khung so sánh chỉ số năng lực cạnh tranh của Kiên Giang và các tỉnh
Nguồn: Tác giả luận văn
Trang 363.2.3.1 Chi phí gia nhập thị trường (X01)
Chỉ số này được xây dựng nhằm đánh giá sự khác biệt về chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp mới thành lập giữa các tỉnh với nhau
3.2.3.2 Tiếp cận đất đai và Sự ổn định trong sử dụng đất (X02)
Đo lường về hai khía cạnh của vấn đề đất đai mà doanh nghiệp phải đối mặt: việc tiếp cận đất đai có dễ dàng không và doanh nghiệp có thấy yên tâm và được đảm bảo về sự ổn định khi có được mặt bằng kinh doanh hay không
3.2.3.3 Tính minh bạch và tiếp cận thông tin (X03)
Đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch của tỉnh và các văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, liệu doanh nghiệp có thể tiếp cận một cách công bằng các văn bản này, các chính sách và quy định mới
có được tham khảo ý kiến của doanh nghiệp và khả năng tiên liệu trong việc triển khai thực hiện các chính sách quy định đó và mức độ tiện dụng của trang web tỉnh đối với doanh nghiệp
3.2.3.4 Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của Nhà nước (X04)
Đo lường thời gian doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính cũng như mức độ thường xuyên và thời gian doanh nghiệp phải tạm dừng kinh doanh để các cơ quan Nhà nước của địa phương thực hiện việc thanh tra, kiểm tra
3.2.3.5 Chi phí không chính thức (X05)
Đo lường các khoản chi phí không chính thức mà doanh nghiệp phải trả và các trở ngại do những chi phí không chính thức này gây ra đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc trả những khoản chi phí không chính thức có đem lại kết quả hay “dịch vụ” như mong đợi và liệu các cán bộ Nhà nước có sử dụng các quy định của địa phương để trục lợi hay không
3.2.3.6 Cạnh tranh bình đẳng (X06)
Đo lường sự bình đẳng, không phân biệt giữa các doanh nghiệp ngoài quốc doanh với doanh nghiệp, tập đoàn của nhà nước trong việc tiếp cận môi trường kinh doanh, vốn, đất đai, khoáng sản…
Trang 373.2.3.7 Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh (X07)
Đo lường tính sáng tạo, sáng suốt của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi chính sách Trung ương cũng như trong việc đưa ra các sáng kiến riêng nhằm phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời đánh giá khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh nghiệp
3.2.3.8 Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp (X08)
Chỉ số này trước kia có tên gọi là Chính sách phát triển kinh tế tư nhân, dùng để đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực tư nhân như xúc tiến thương mại, cung cấp thông tin tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm công nghiệp tại địa phương
và cung cấp các dịch vụ công nghệ cho doanh nghiệp
3.2.3.9 Đào tạo lao động (X09)
Đo lường các nỗ lực của lãnh đạo tỉnh để thúc đẩy đào tạo nghề và phát triển kỹ năng nhằm hỗ trợ cho các ngành công nghiệp tại địa phương và giúp người lao động tìm kiếm việc làm
Trang 38CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của Kiên Giang
4.1.1 Vị trí địa lý của Kiên Giang
Hình 5 Bản đồ Kiên Giang
Nguồn: http://kiengiang.gov.vn
Kiên Giang là tỉnh nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long Phía Đông Bắc giáp với: An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang; phía Nam là Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây Nam là vịnh Thái Lan; phía Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 56,8 km Kiên Giang là tỉnh thành
có thể kết nối với Campuchia, Thái Lan, các nước Đông Nam Á và thế giới bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không đặt biệt là Cảng Hàng không Quốc
tế Phú Quốc được hoàn thành trong năm 2012
Trang 39Bảng 1 Phân tích SWOT cho yếu tố vị trí địa lý
- Chiều dài biên giới 56.8km
- Biển, đảo, quần đảo bao phủ phía
Tây Nam
- Đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu
- Thiên nhiên ưu đãi
- Xa các trung tâm thành phố lớn
- Địa hình, hiểm yếu, đồi núi đan xen
- Vị trí xung yếu, dễ chịu ảnh hưởng chính trị và các quốc gia láng giềng
- Vị trí cuối nguồn cạnh biển
goài - Giao thương trong và ngoài nước
- Liên kết vùng miền lân cận
- Phát triển kinh tế nông, lâm, thuỷ,
Nguồn: Tác giả luận văn
4.1.2 Điều kiện tự nhiên của Kiên Giang (4)
Bảng 2 Phân tích SWOT cho yếu tố tự nhiên
- Khí hậu ôn hoà
- Có 2 mùa rõ rệt
- Lượng mưa trung bình cao
- Nhiệt độ ổn định Biên độ nhiệt
không lớn
- Tự nhiên hoang sơ, độc đáo
- Giờ nắng 2563 (giờ)
- Thời gian giao mùa kéo dài
- Gió mạnh, bảo to thường xẩy ra
- Địa hình nghiêng dần về phía Tây Nam
goài - Phát triển kinh tế nông nghiệp
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
- Dịch vụ, du lịch dễ thích nghi và
phát triển
- Dịch hại tổng hợp rất thích nghi
- Sạt lỡ đất mùa mưa lũ
- Ngập úng khi triều cường
- Biến đổi khí hậu toàn cầu
Nguồn: Tác giả luận văn
Kiên Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ hướng Đông - Bắc xuống Tây Nam, chia thành 4 vùng tiểu vùng địa hình: vùng tứ giác Long
4 http://cucthongkekg.gov.vn/news.php?id=52
Trang 40Xuyên, vùng Tây sông Hậu, vùng U Minh Thượng và vùng đảo và hải đảo Trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, 2563 giờ nắng trong năm, nhiệt độ bình quân từ 27.5 - 27.7 độC Khí hậu chia làm 02 mùa rõ rệt, từ tháng 5 đến tháng
11 là mùa mưa và từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau là mùa khô, khá thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
4.1.3 Tài nguyên thiên nhiên của Kiên Giang (5)
Biểu đồ 1 Tài nguyên đất của Kiên Giang
Nguồn http://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=706&ItemID=13412
Tài nguyên đất - nước ngọt: Tổng diện tích đất tự nhiên là 634.8 nghìn hecta trong đó: Đất sản xuất nông nghiệp là 460.3 nghìn hecta, đất lâm nghiệp là 85.6 nghìn hecta, đất chuyên dùng là 25.8 nghìn hecta, đất ở là 12.3 nghìn hecta, đất khác chưa phân vào đâu là 50.8 nghìn hecta Bên cạnh, hệ thống sông ngòi, kênh, rạch của Kiên Giang dày đặc, với tổng chiều dài trên 2000km, phân bố đều trong địa bàn tỉnh, có 3 con sông lớn: sông Cái Lớn, sông Cái Bé và sông Giang Thành Hệ thống kênh đào cung cấp nước ngọt: kênh Cái Sắn, kênh Thốt Nốt, kênh Thị Đội… và tiêu lũ về biển Tây: kênh Vĩnh Tế, kênh T3, kênh Võ
5 http://cucthongkekg.gov.vn/news.php?id=52