1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

K là chủ kiêm lái xe thường xuyên được Công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho Hợp tác xã M Bài tập học kỳ Luật Hình sự 2

12 306 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 122,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý kiến “K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, sai vì: Theo Khoản 1 Điều 140 BLHS quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: “Người nào có một trong những hành v

Trang 1

MỤC LỤC

TÌNH HUỐNG SỐ 4 0

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1

1 Bác bỏ các ý kiến sai; xác định ý kiến đúng và giải thích 1

a Ý kiến “K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, sai vì: 1

b Ý kiến “K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là sai vì: 2

c Ý kiến “K phạm tội trộm cắp tài sản” đúng vì: 3

2 Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn xác định được ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên, K còn rút bớt mỗi chuyến một số hàng hóa của Hợp tác xã M tổng giá trị là 10 triệu đồng Hãy định tội cho hành vi này. .4

3 Toàn bộ số tài sản chiếm đoạt được K đã bán lại cho N Theo anh (chị) N có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 0

Trang 2

TÌNH HUỐNG SỐ 4

K là chủ kiêm lái xe thường xuyên được Công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho Hợp tác xã M Trong một lần chở hàng, do đã quen nhau nên thủ kho của công ty X thỏa thuận và cho K vào kho tự bốc và xếp hàng lên xe, mỗi chuyến là 30 bao hàng ra cổng thủ kho mới kiểm tra số hàng vận chuyển và ký vào phiếu xuất hàng

Hôm đó K đã chở được 4 chuyến, mỗi chuyến đúng 30 bao hàng, đến chuyến thứ 5 K xếp thêm 2 bao hàng lên xe (vượt 2 bao so với thỏa thuận với thủ kho) Khi ra cổng kho, K có thái độ điềm nhiên và đưa phiếu xuất hàng cho thủ kho

ký Tin rằng K chở đủ số bao hàng như đã thoả thuận và đã giữa trưa nên thủ kho không đếm lại số bao hàng K vận chuyển mà ký xác nhận ngay vào phiếu xuất hàng như các chuyến trước Bằng thủ đoạn trên K đã chiếm đoạt được 2 bao hàng của Công ty X trị giá là 15 triệu đồng

Về hành vi chiếm đoạt tài sản của K có các ý kiến sau về tội danh:

a K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

b K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

c K phạm tội trộm cắp tài sản

Hỏi:

1 Anh (chị) hãy bác bỏ các ý kiến sai; Xác định ý kiến đúng và giải thích rõ tại sao (4 điểm)

2 Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn xác định được ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên, K còn rút bớt mỗi chuyến một số hàng hóa của Hợp tác xã M tổng giá trị là 10 triệu đồng Hãy định tội cho hành vi này (2 điểm)

3 Toàn bộ số tài sản chiếm đoạt được K đã bán lại cho N Theo anh (chị) N có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao? (1 điểm)

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

Trang 3

1 Bác bỏ các ý kiến sai; xác định ý kiến đúng và giải thích

a Ý kiến “K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, sai vì:

Theo Khoản 1 Điều 140 BLHS quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài

sản: “Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Ngoài những điều kiện về độ tuổi và phải có năng lực TNHS, tội này đòi hỏi chủ thể phải là những người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định Cơ sở giao tài sản là hợp đồng Việc giao nhận tài sản là hoàn toàn ngay thằng, và hành vi phạm tội là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản

đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành

vi chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết

Do vậy, hàng vi của K không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản do: Về mặt khách quan, tài sản K chiếm đoạt là bao hàng không được chủ sở hữu, người quản lý (thủ kho công ty X) giao cho K dựa trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê, Việc K vào kho tự lấy hàng trên cơ sở thoả thuận về việc bốc xếp hàng với thủ kho X, nhưng không thể coi đó là một hợp đồng giao tài sản là bao hàng bị chiếm dụng, vì hàng hoá được giao cho K là đối tượng của thoả thuận (30 bao hàng

có trong kho), chứ không bao gồm bao hàng đã bị K chiếm đoạt trái phép Hơn nữa,

K lợi dụng tín nhiệm của công ty X giao cho K việc bốc hàng và xếp hàng lên xe,

Trang 4

chứ không tín nhiệm giao cho K quản lý số tài sản đó Việc giao và nhận tài sản đã bị chiếm đoạt thực tế không diễn ra

Như vậy, K không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều

140 BLHS

b Ý kiến “K phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là sai vì:

Theo Khoản 1 Điều 139 BLHS quy định: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai

hành vi là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt Hành vi lừa dối là điều kiện để

hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối => Giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin giả Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó là sự thật Thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai dấu hiệu là:

Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc

Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản

lý tài sản cho người phạm tội Thỏa mãn hai yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS)

Như vậy, ta có thể nhận thấy K không hề cung cấp những thông tin hay giấy tờ, hoặc đưa ra lời nói nào sai với sự thật K chỉ tự mình xếp thêm 2 bao hàng lên xe, nhưng

Trang 5

vẫn qua kiểm tra và xuất trình giấy tờ đúng theo quy định cho nhân viên thủ kho kí Hành vi của K đã không thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất đã phân tích ở trên

Vì vậy, K không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS

c Ý kiến “K phạm tội trộm cắp tài sản” đúng vì:

Theo Khoản 1 Điều 138 BLHS quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành

vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng trở lên hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Dấu hiệu pháp lý của tội này:

Mặt khách quan

Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản thể hiện ở hành vi lén lút chiếm đoạt tài

sản đang có chủ Rõ rằng, hành vi của K là tự xếp thêm 2 bao hàng lên xe, điềm nhiên, không hề thấy hành vi lén lút, bí mật hơn nữa người phạm tội sử dụng thủ

đoạn làm cho người khác tin tưởng hành vi của họ là hợp pháp để họ dễ dàng chiếm đoạt thì hành vi của họ vẫn được định tội là trộm cắp tài sản bởi thủ đoạn đó cũng

được coi là hành vi lén lút K đã tạo lòng tin với thủ kho khi 4 chuyến hàng trước

mỗi chuyến chở đúng 30 bao hàng và đến chuyến thứ 5 thì K đã xếp thêm 2 bao hàng

lên xe với mục đích chiếm 2 bao hàng đó Hành vi này của K vẫn được coi là “lén lút, bí mật”.

Tội trộm cắp tài sản coi là hoàn thành khi người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản Để đánh giá người phạm tội (K) đã chiếm đoạt được hay chưa, đã làm chủ được tài sản hay chưa phải dựa vào đặc điểm, vị trí tài sản bị chiếm đoạt Khi tài sản đã bị

Trang 6

K chuyển dịch tới một nơi khác, nó không còn nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu hay người có trách nhiệm bảo vệ và K có khả năng thực tế để sử dụng, định đoạt tài sản đó K đã mang được bao hàng ra khỏi đó một cách an toàn mà người thủ kho không hề biết gì

Mặt chủ quan của tội phạm: K thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý trực

tiếp và động cơ vụ lợi

Chủ thể của tội phạm: K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi

chịu trách nhiệm hình sự theo luật định

Khách thể của tội phạm: Tội trộm cắp tài sản xâm phạm đến chế độ sở hữu về tài

sản

Do vậy, hành vi của K đã cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm 2009) và K phải chịu trách nhiệm về tội này

2 Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra còn xác định được ngoài hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên, K còn rút bớt mỗi chuyến một số hàng hóa của Hợp tác xã M tổng giá trị là 10 triệu đồng Hãy định tội cho hành vi này.

Trả Lời:

K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự (BLHS).

Áp dụng khoản 1 Điều 140 BLHS (đã nêu ở phần trên).

Ta thấy rằng, các hành vi của K đã thỏa mãn những dấu hiệu cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Khoản 1 Điều 140 BLHS:

Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội phạm trong tình huống trên là chế độ sở hữu về tài sản

Đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt trong tội này là những tài sản được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng Trong trường hợp này, đối tượng tác động chính là số bao hàng mà công ty X thuê K chở đến hợp tác xã M

Trang 7

Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi của K đã có đầy đủ các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm Cụ thể như sau:

Thứ nhất, Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội: Công ty X đã tín nhiệm

giao số hàng này cho K vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển K đã có hành vi chiếm đoạt một phần số hàng đã được công ty X giao trên cơ sở hợp đồng giữa K và công ty X Ở đây, K không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết và chuyển hàng đến cho hợp tác xã Hành vi chiếm đoạt ở đây là hành vi không thực hiện cam kết, không trả lại tài sản bằng thủ đoạn gian dối là rút bớt mỗi lần vận chuyển một số hàng nhất định

Thứ hai, Hậu quả nguy hiểm cho xã hội: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm cấu thành vật chất Hậu quả mà hành vi của K gây ra khi mỗi lần

rút bớt mỗi chuyến một số hàng của hợp tác xã M là số thiệt hại tổng giá trị là 10 triệu đồng Hậu quả này cũng là yếu tố quan trọng trong việc định tội danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cho K, vì tội danh này có dấu hiệu pháp lí là số tài sản

bị chiếm đoạt phải có giá trị từ 4 triệu trở lên còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Thứ ba, Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả: Mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc của CTTP Nguyên nhân là do K rút bớt tài sản trong mỗi chuyến hàng nên đã gây ra thiệt hại cho hợp tác xã M số tiền là 10 triệu đồng Hành vi trái pháp luật của K có mối quan

hệ nhân quả với hậu quả thiệt hại trên

Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội: K đã lựa chọn cho mình một cách xử sự trái pháp luật Vì vậy, hành vi của K được coi là có lỗi Hành động của K là hành vi có ý thức và có ý chí

Trang 8

Về mặt ý thức (lý trí): K đã nhận thức rõ tính chất hành vi của mình sẽ gây thiệt hại về tài sản cho công ty và cố tình thực hiện, điều này thể hiện trong tính toán

của K “đã chở được 4 chuyến, mỗi chuyến đúng 30 bao hàng, đến chuyến thứ 5 K xếp thêm 2 bao hàng lên xe (vượt 2 bao so với thỏa thuận với thủ kho) Khi ra cổng kho, K có thái độ điềm nhiên và đưa phiếu xuất hàng cho thủ kho ký” K đã sử dụng

thủ đoạn gian dối lợi dụng sự tin tưởng của thủ kho X và những yếu tố ngoại cảnh khác (thời điểm thực hiện hành vi phạm tội vào buổi trưa), đến chuyến thứ 5 K tự ý xếp các bao hàng lên xe mà không vận chuyển theo đúng thỏa thuận

Về mặt ý chí: Có thể thấy lỗi của K là lỗi cố ý trực tiếp K mong muốn hậu quả xảy ra để được lợi số tài sản trị giá 10 triệu đồng

Chủ thể của tội phạm:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đòi hỏi chủ thể phải là những người

đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định Cơ sở giao tài sản là hợp đồng Việc giao và nhận tài sản là hoàn toàn ngay thẳng Chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản để người được giao: sử dụng, bảo quản, vận chuyển, gia công hoặc sửa chữa,…tài sản

Trong tình huống trên, vì K ký hợp đồng thuê vận chuyển hàng hóa cho công ty X nên K chắc chắn đã có bằng lái ô tô bởi vậy có thể khẳng định rằng K có đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự Xét trong trường hợp trên công ty X thuê K lái xe trên cơ sở hợp đồng thuê vận chuyển Cơ sở giao hàng là hợp đồng công ty X thuê K vận chuyển hàng của công ty giao cho Hợp tác xã M Việc công ty

X giao hàng và việc K nhận chở số hàng đó là hoàn toàn ngay thẳng Mà trong tình

huống cũng nêu rõ “K là lái xe tải được công ty X thuê chở hàng từ kho của công ty giao cho hợp tác xã M theo hợp đồng.”, như vậy K đã được công ty X tín nhiệm,

giao cho việc vận chuyển hàng hóa dựa trên hợp đồng vận chuyển (bằng lời nói hoặc bằng văn bản giữa K với công ty X)

Từ những căn cứ pháp lý đã phân tích ở trên ta thấy K phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Khoản 1 Điều 140 BLHS 1999 (Sửa đổi, bổ sung năm

2009)

Trang 9

3 Toàn bộ số tài sản chiếm đoạt được K đã bán lại cho N Theo anh (chị) N có phải chịu TNHS về hành vi của mình không? Tại sao?

Với đề bài đã cho, Nếu như K mang toàn bộ số tài sản mà K đã chiếm đoạt

được đem bán cho N mà N đã mua lại thì N có thể phải chịu TNHS đối với hành vi

mua bán đó Chúng ta chia thành hai trường hợp cụ thể như sau:

chiếm đoạt mà có

Lúc này, khẳng định N sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi vì N trong nhận thức của mình, N không biết đó là tài sản phi pháp và việc mua bán chỉ diễn ra như một giao dịch dân sự bình thường, không hề vi phạm pháp luật nên N không thể

bị truy cứu TNHS đối với việc mua lại tài sản mà mình không thể biết được đó là tài sản do người khác phạm tội mà có Bởi vì trong trường hợp này, N không có lỗi, mà không có lỗi thì không có trách nhiệm hình sự

Trong trường hợp này, Công ty X và Hợp tác xã M có quyền yêu cầu hoàn trả lại tài sản của mình, N có nghĩa vụ hoàn trả tài sản đó và N có quyền yêu cầu K bồi thường thiệt hại (Quy định tại Điều 582 BLDS 2015)

Trường hợp thứ hai : Nếu như N biết số tài sản đó là tài sản do K chiếm đoạt mà

vẫn mua thì N sẽ phải chịu TNHS

Tuy nhiên, trong trường hợp này, để định tội danh cho N, cần xem xét đến dấu hiệu N biết từ trước K sẽ có hành vi chiếm đoạt tài sản rồi mang bán cho mình hay chỉ biết sau khi K mang số tài sản đó đến bán cho mình

Nếu N biết từ trước rằng K chiếm đoạt tài sản rồi sau đó đem bán cho mình thì lúc này tội danh của N sẽ là đồng phạm với K Vai trò của N trong trường hợp này sẽ

là người giúp sức, mà cụ thể là giúp sức về tinh thần Theo quy định tại khoản 2 điều

20 BLHS: “Người giúp sức là người tạo ra điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội phạm” Người giúp sức về tinh thần là người bằng lời hứa hẹn trước sẽ

che giấu người phạm tội, che giấu các tang chứng, vật chứng hoặc sẽ tiêu thụ các vật

do phạm tội mà có sau khi tội phạm đã thực hiện xong Lời hứa hẹn này tuy không trực tiếp tạo ra điều kiện thuận lợi cụ thể nhưng lại có những tác động tích cực củng

cố ý định phạm tội và quyết tâm phạm tội đến cùng của tội phạm Như vậy, nếu như

N biết trước ý định phạm tội của K và ngay sau đó N đã mua lại những tài sản do K

Trang 10

chiếm đoạt được thì rõ ràng giữa N và K đã có một mối liên hệ từ trước đó và N đóng vai trò là người giúp sức, hứa hẹn giúp K tiêu thụ tài sản N là người biết rõ hành vi của K trong trường hợp này cũng có nghĩa là N biết rõ mục đích của K là muốn chiếm đoạt tài sản và N chấp nhận mục đích đó, biết rõ mục đích và chấp nhận mục đích – đó chính là những dấu hiệu cơ bản của đồng phạm Chính sự hứa hẹn đó của N đã tạo điều kiện củng cố thêm ý định phạm tội cho K khi trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản vì K tin rằng sẽ có N tiêu thụ số tài sản do hành vi phạm tội của mình có được

Nếu tại thời điểm K mang tài sản đến bán, N mới biết số tài sản đó là tài sản

do chiếm đoạt mà N vẫn mua số tài sản đó thì lúc này N vẫn sẽ bị truy cứu TNHS nhưng không phải với vai trò đồng phạm với K mà lúc này, N sẽ bị truy cứu TNHS

về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại điều 250 BLHS 1999 Hành vi khách quan của tội này là khi người nào đó không hứa hẹn trước mà tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, cụ thể là chuyển đổi tài sản, mua lại tài sản và bán hộ tài sản do người phạm tội chiếm đoạt được Người có hành vi này chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó được thực hiện mà không

có thỏa thuận, hứa hẹn từ trước và mặc khác, người đó biết rõ tài sản mà mình tiêu thụ là tài sản do phạm tội mà có Như vậy đối với hành vi mua tài sản của N từ K trong trường hợp tại thời điểm K mang tài sản đến bán, N mới biết đó là tài sản do K

phạm tội mà có nhưng N vẫn mua thì N sẽ phải chịu TNHS đối với tội tiêu thụ sản phẩm do người khác phạm tội mà có được quy định tại điều 250 BLHS 1999 (Sửa

đổi, bổ sung năm 2009)

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật hình sự Việt Nam (tập I và tập II),

Nxb CAND, Hà Nội, 2009;

2 Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội, Giáo trình luật hình sự (phần các tội phạm),

Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2007;

3 Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an và Bộ tư pháp số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 về các tội xâm phạm sở hữu

Ngày đăng: 03/04/2018, 22:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w