TÓM TẮT Luận văn nghiên cứu về giá trị du lịch của Phú Quốc thông qua phương pháp chi phí du hành theo vùng, xây dựng đường cầu giải trí và tính toán thặng dư tiêu dùng của du khách; từ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN KHÁNH NAM
TP Hồ Chí Minh – Năm 2017
Trang 3Tôi cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu thu thập trong nghiên cứu đảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng,
trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 5 năm 2017
Người thực hiện
Trần Minh Nguyệt
Trang 4TÓM TẮT
Luận văn nghiên cứu về giá trị du lịch của Phú Quốc thông qua phương pháp chi phí du hành theo vùng, xây dựng đường cầu giải trí và tính toán thặng dư tiêu dùng của du khách; từ đó nhận thấy chi phí du hành tác động như thế nào lên cầu giải trí của du khách cũng như ước lượng được giá trị giải trí của Phú Quốc trong năm, đánh giá kết quả ước lượng và đưa ra một số kiến nghị trong thời gian tới Sử dụng phương pháp phân tích định lượng kết hợp thống kê mô tả, phỏng vấn 400 khách du lịch trong và ngoài nước đến Phú Quốc, thu thập số liệu phân tích, chạy mô hình hồi quy OLS để xây dựng đường cầu du lịch Kết quả nghiên cứu cho thấy chi phí du hành của du khách tác động nghịch biến lên tỷ lệ tham quan trên 1000 người và biến thu nhập không có tác động đến nhu cầu giải trí tại Phú Quốc Thặng dư tiêu dùng khoảng 792 tỷ đồng và giá trị giải trí ước lượng vào khoảng 19.930 tỷ đồng, thể hiện
sự đánh giá cao về tài nguyên thiên nhiên của du khách đối với Phú Quốc và tiềm năng du lịch rất lớn Qua đó, kiến nghị một số giải pháp thu hút khách du lịch nước ngoài, duy trì phát triển lượng khách du lịch trong nước, nâng cao cơ sở vật chất, con người,v.v để phát triển bền vững du lịch Phú Quốc trong thời gian tới Những hạn chế của nghiên cứu cũng được nêu ra nhằm làm cơ sở để các nghiên cứu sau mở rộng phân tích chuyên sâu
Trang 5MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.3.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.3.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 3
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5
2.1 Lý thuyết về ước lượng phúc lợi trong kinh tế môi trường 5
2.2 Lý thuyết về tổng giá trị kinh tế môi trường 7
2.3 Phương pháp chi phí du hành (TCM) 9
2.4 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan 11
Trang 6CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Phương pháp chi phí du hành theo vùng (ZTCM) 14
3.1.1 Chọn mẫu và tiến hành khảo sát 14
3.1.2 Thu thập số lượt thăm viếng hàng năm 15
3.1.3 Phân chia khách du lịch theo vùng 15
3.1.4 Tính tỉ lệ thăm viếng trung bình theo vùng 16
3.1.5 Tính chi phí du hành trung bình theo vùng 16
3.1.6 Ước lượng đường cầu và tính thặng dư trung bình theo vùng 17
3.2 Mô tả dữ liệu 17
3.2.1 Dữ liệu thứ cấp 17
3.2.2 Dữ liệu sơ cấp 18
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 19
4.1 Đặc điểm huyện đảo Phú Quốc 19
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên 19
4.1.1.1 Vị trí địa lý và thời tiết 19
4.1.1.2 Hệ động, thực vật 20
4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 21
4.1.3 Cơ sở hạ tầng 22
4.2 Tình hình du lịch của đảo Phú Quốc 23
4.2.1 Lượng khách và doanh thu du lịch 23
4.2.2 Thời gian lưu trú và cơ sở lưu trú 24
4.3 Ước lượng giá trị giải trí của đảo Phú Quốc: 25
4.3.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 25
4.3.2 Xác định tỷ lệ tham quan trung bình theo vùng 28
Trang 74.3.3 Xác định chi phí du hành trung bình theo vùng 31
4.3.3.1 Chi phí di chuyển 31
4.3.3.2 Chi phí thời gian di chuyển 32
4.3.3.3 Chi phí sinh hoạt tại điểm du lịch 33
4.3.3.4 Chi phí du hành theo vùng 34
4.3.4 Xây dựng đường cầu du lịch 35
4.3.5 Ước lượng thặng dư tiêu dùng và giá trị giải trí 37
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
5.1 Kết luận 41
5.2 Kiến nghị 42
5.3 Hạn chế của nghiên cứu 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT
ACS : Thặng dư tiêu dùng trung bình theo vùng
AEM : Phương pháp chi tiêu bảo vệ
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CP : Giá Choke Price
CVM : Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HPM : Phương pháp giá hưởng thụ
ICS : Thặng dư tiêu dùng trung bình cá nhân
ICTM : Phương pháp chi phí du hành cá nhân
IUCN : Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên thiên nhiên OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
TCM : Phương pháp chi phí du hành
UBND : Ủy ban nhân dân
ZCTM : Phương pháp chi phí du hành theo vùng
WTP : Giá sẵn lòng trả
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Phân chia khách du lịch trong nước theo vùng 15
Bảng 3.2 Phân chia khách nước ngoài theo vùng 16
Bảng 4.1 Lượng khách và doanh thu du lịch Phú Quốc từ 2010 đến 2015 23
Bảng 4.2 Số khách, thời gian và cơ sở lưu trú của Phú Quốc từ 2010 đến 2015 24
Bảng 4.3 Đặc điểm giới tính, hôn nhân, độ tuổi và học vấn của du khách 25
Bảng 4.4 Thu nhập của du khách 26
Bảng 4.5 Mục đích chuyến đi đến Phú Quốc 26
Bảng 4.6 Cảm nhận về chuyến đi Phú Quốc 27
Bảng 4.7 Cảm nhận về môi trường tự nhiên tại Phú Quốc 27
Bảng 4.8 Số tiền sẵn lòng tài trợ của du khách để bảo vệ môi trường tại Phú Quốc 28
Bảng 4.9 Tính toán số du khách hàng năm theo vùng 29
Bảng 4.10 Tỷ lệ tham quan trên 1000 người 30
Bảng 4.11 Chi phí di chuyển đến Phú Quốc theo từng vùng trong nước 31
Bảng 4.12 Chi phí di chuyển đến Phú Quốc theo khu vực nước ngoài 32
Bảng 4.13 Chi phí thời gian di chuyển đến Phú Quốc của khách trong nước 33
Bảng 4.14 Chi phí thời gian di chuyển đến Phú Quốc của khách nước ngoài 33
Bảng 4.15 Chi phí sinh hoạt của khách trong nước tại Phú Quốc 34
Bảng 4.16 Chi phí sinh hoạt của khách trong nước tại Phú Quốc 34
Bảng 4.17 Chi phí du hành theo vùng của du khách đến Phú Quốc 35
Bảng 4.18 Ước lượng đường cầu cho khách trong nước 36
Bảng 4.19 Ước lượng thặng dư tiêu dùng của khách trong nước đối với Phú Quốc 38
Trang 10Bảng 4.20 Ước lượng thặng dư tiêu dùng và giá trị giải trí của khách nước ngoài 39
Bảng 4.21 Giá trị giải trí của đảo Phú Quốc năm 2015 (triệu đồng) 39
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Quan hệ giữa giá cả và lượng cầu 5
Hình 2.2 Đường cầu giải trí và thặng dư tiêu dùng của phương pháp TCM 9
Hình 4.1 Đường cầu ước lượng chi phí du hành theo vùng ở Phú Quốc 37
Trang 12CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phú Quốc là huyện đảo lớn nhất Việt Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang, là nơi có nhiều
ưu thế và tiềm năng thuận lợi lớn cho phát triển du lịch Ngoài 150 km đường bờ biển mang vẻ đẹp hoang sơ nổi tiếng bao quanh, Phú Quốc sở hữu hệ sinh thái rừng và biển phong phú như: rừng nguyên sinh, rừng ngập mặn, rừng tràm, 30 loài thú, 200 loài chim,
50 loài bò sát, gần 100 loài san hô cứng, gần 20 loài san hô mềm và 62 loài rong biển, các loài cá mú, cá bướm và một số loài khác qúy hiếm như: trai tai tượng, ốc đun cái, đồi mồi, bò biển, v.v Bên cạnh đó còn có những cảnh quan thiên nhiên đẹp khác như suối, làng chài và các nông sản truyền thống gồm nước mắm, hạt tiêu, tạo nên nét du lịch đặc trưng thu hút một lượng lớn du khách, các nhà đầu tư trong và ngoài nước
Phát triển du lịch Phú Quốc đã tạo ra nhiều tác động có lợi cho ngành du lịch và kinh tế của địa phương Theo số liệu của Ủy Ban nhân dân huyện Phú Quốc năm 20151, Phú Quốc thu hút hơn 800 nghìn lượt khách, tăng 50% so với năm 2014; doanh thu du lịch của Phú Quốc (bao gồm dịch vụ lưu trú, ăn uống và bán hàng hóa) tăng khoảng 43%/ năm trong 5 năm gần đây từ năm 2010, chiếm hơn 45% doanh thu du lịch của toàn tỉnh Kiên Giang vào năm 2015 Dịch vụ du lịch đóng góp trên 66% trong cơ cấu GDP của Phú Quốc, giúp kinh tế ở đây đạt tốc độ tăng trưởng cao, thu nhập bình quân đầu người tăng lên và tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống Ngoài ra, trong vòng 10 năm qua, Phú Quốc đã thu hút hơn 200 dự án đầu tư lớn, ước tính tổng giá trị khoảng 8 tỷ USD, trong
đó có 22 dự án FDI với tổng vốn 282 triệu USD, tạo ra những thay đổi vượt bậc về diện mạo và cơ hội mới cho du lịch Phú Quốc
Tuy Phú Quốc có nhiều tiềm năng nổi trội và lợi thế cạnh tranh với các nơi khác, nhưng để khai thác hết những tiềm năng này và thu hút nhiều hơn nữa nhà đầu tư cũng như lượng khách du lịch tương xứng thì cần các cơ chế chính sách đặc thù linh hoạt
1 Phụ lục 4
Trang 13Chính vì vậy đo lường cụ thể lợi ích mà tài nguyên thiên nhiên của Phú Quốc mang lại cho nền kinh tế sẽ đóng góp một phần khá quan trọng cho cơ sở hình thành nên cơ chế chính sách đặc thù phù hợp với phát triển du lịch của địa phương và hội nhập quốc tế
Để thỏa mãn yêu cầu trên đồng thời thử nghiệm một trong những phương pháp đánh giá giá trị của hàng hóa và dịch vụ môi trường trong thực tiễn, tác giả chọn: “Sử dụng phương pháp chi phí du hành theo vùng phân tích giá trị giải trí của đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cuối khóa
1.2 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Khoảng cách từ mỗi vùng đến Phú Quốc ảnh hưởng như thế nào lên số lần tham quan và chi phí du hành của du khách?
(2) Đường cầu dịch vụ giải trí của Phú Quốc được xây dựng như thế nào? Thu nhập trung bình theo từng vùng có tác động gì lên số lần tham quan của du khách?
(3) Giá trị giải trí và thặng dư tiêu dùng mà du khách đạt được khi vui chơi giải trí tại Phú Quốc trong năm 2015 được ước lượng bao nhiêu?
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
(2) Xây dựng đường cầu giải trí của du khách đối với đảo Phú Quốc và tính thặng
dư tiêu dùng, ước lượng giá trị giải trí của Phú Quốc
(3) Đánh giá kết quả và đưa ra những kiến nghị theo đường cầu, giá trị giải trí và thặng dư tiêu dùng đã ước lượng
Trang 141.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài áp dụng phương pháp phân tích định lượng kết hợp thống kê mô tả, phân tích, và phỏng vấn khách du lịch tại Phú Quốc thông qua phiếu điều tra để thu thập thông tin và dữ liệu nghiên cứu gồm:
Dữ liệu thứ cấp: Niên giám Thống kê các tỉnh năm 2015, dữ liệu về du lịch của
Ủy ban Nhân dân huyện đảo Phú Quốc từ năm 2000 đến năm 2015
Dữ liệu sơ cấp: thu thập qua bảng câu hỏi khảo sát về thông tin kinh tế xã hội cá nhân và hành vi du lịch của du khách khi đến Phú Quốc trong năm 2016 Số lượng mẫu khảo sát là 400 du khách (trong đó gồm 200 du khách nước ngoài và 200 du khách trong nước)
1.5 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đường cầu du lịch của du khách với đảo Phú Quốc, chi phí du hành, giá trị giải trí của đảo Phú Quốc, giá sẵn lòng trả của du khách cho việc cải thiện chất lượng môi trường tại đảo Phú Quốc
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Xây dựng đường cầu du lịch của du khách đối với Phú Quốc Uớc lượng giá trị giải trí bằng phương pháp chi phí du hành, từ đó đề xuất những giải pháp để cải thiện chất lượng du lịch và môi trường tại đây
Phạm vi về không gian: nghiên cứu tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Phạm vi về thời gian: số liệu thứ cấp thuộc năm 2015 vì năm 2016 chưa được cập nhật hoàn chỉnh; số liệu sơ cấp thực hiện vào đợt cao điểm du lịch giữa năm 2016
1.6 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu gồm có 5 chương:
Chương 1: Trình bày những nội dung cơ bản của nghiên cứu bao gồm lý do chọn
đề tài, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Trang 15Chương 2: Trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết về đo lường phúc lợi kinh tế, tổng giá trị kinh tế, phương pháp chi phí du hành, tóm tắt các nghiên cứu trước về chủ
đề có liên quan
Chương 3: Các bước thực hiện phương pháp chi phí du hành theo vùng và mô tả
dữ liệu nghiên cứu
Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu theo cơ sở lý thuyết và dữ liệu nghiên cứu để trả lời các câu hỏi nghiên cứu
Chương 5: Đưa ra kết luận và đề xuất chính sách từ kết quả nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 LÝ THUYẾT VỀ ƯỚC LƯỢNG PHÚC LỢI TRONG KINH TẾ MÔI
TRƯỜNG
Trong kinh tế học, phúc lợi của một vật nào đó được xem là những gì mà người
ta sẵn lòng trả để có nó, với những giả định cho trước về phân phối thu nhập và thông tin sẵn có Trong đánh giá về chất lượng môi trường, không thể đánh giá phúc lợi trực tiếp bằng cách sử dụng những kỹ thuật thị trường vì không có thị trường cho những người mua và người bán chất lượng môi trường Vì thế qua cách nhìn kinh tế học vi mô, đánh giá phúc lợi trong kinh tế môi trường sẽ dựa trên lý thuyết về đường cầu
Theo N Gregory Mankiw (2014), cầu là khái niệm biểu thị mong muốn mua và
sự sẵn lòng trả của người tiêu dùng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả và lượng cầu, thể hiện tác động của giá tới lượng cầu Phản ứng của lượng cầu đối với sự thay đổi giá là sự vận động dọc theo đường cầu, khi giá cả tăng thì lượng cầu giảm và ngược lại Chính vì thế, đường cầu là đường dốc xuống về bên phải như hình vẽ
Hình 2.1 Quan hệ giữa giá cả và lượng cầu
Sự thay đổi giá của hàng hóa sẽ gây ra sự vận động dọc theo đường cầu, không làm đường cầu dịch chuyển Ngoài giá, các yếu tố như thu nhập, thị hiếu, giá của hàng hóa liên quan, v.v thay đổi thì đường cầu sẽ dịch chuyển sang trái hoặc sang phải theo lượng cầu
Trang 17Áp dụng vào kinh tế học môi trường, sử dụng đồ thị đường cầu để biểu thị giá sẵn lòng trả (WTP) của con người đối với một hàng hóa môi trường; sử dụng phương pháp tính toán WTP cho việc giảm ô nhiễm/ cải thiện chất lượng môi trường bởi vì giá thị trường của hàng hóa này không hiện hữu Có nhiều kỹ thuật khác nhau để đánh giá WTP nhưng có thể phân thành hai cách tiếp cận:
i) Cách tiếp cận dùng giá thị trường để phản ánh WTP Cách này đo lường thiệt hại dưới dạng mất mát thu nhập hoặc sản lượng, năng suất bị giảm và chi tiêu cần thiết
để bù đắp thiệt hại môi trường Đây là phương pháp đo lường WTP trực tiếp
ii) Cách tiếp cận tính WTP của cá nhân thông qua hành vi tiêu dùng của họ hoặc hỏi trực tiếp Cách này sử dụng khi không có thị trường thực hoặc giá thị trường phần nào phản ánh được giá trị môi trường Đây là phương pháp đo lường WTP gián tiếp Tương ứng với hai cách tiếp cận có những kỹ thuật cụ thể để đánh giá cho các vấn đề môi trường như sau:
Phương pháp trực tiếp
(sử dụng giá thị trường)
Phương pháp gián tiếp (sử dụng giá sẵn lòng trả)
1 Thay đổi năng suất
2 Chi phí chăm sóc sức khỏe
3 Thiệt hại vốn nhân lực
4 Chi phí thay thế/ phục hồi thiệt hại, tài
sản, kinh doanh
1 Chi tiêu bảo vệ/ giảm thiệt hại
2 Đánh giá hưởng thụ
3 Thị trường đại diện
4 Đánh giá ngẫu nhiên
Phương pháp ước lượng trực tiếp tuy sử dụng giá thị trường để đánh giá nhưng
nó không hoàn toàn phản ánh giá sẵn lòng trả WTP của con người cho việc cải thiện chất lượng môi trường Phương pháp gián tiếp khắc phục được hạn chế đó của phương pháp trực tiếp thông qua đo lường WTP bằng sự thay đổi thặng dư tiêu dùng (lợi ích ròng của một người có được từ tiêu dùng một lượng hàng hóa) Lý thuyết kinh tế khẳng định rằng lợi ích xã hội ròng của một hàng hoá hoặc dịch vụ bằng với tổng của thặng dư
của người sản xuất và thặng dư tiêu dùng (Boardman et al, 1996) Trong trường hợp
hàng hóa tư nhân, thặng dư tiêu dùng là sự khác nhau giữa giá sẵn lòng trả cho một
lượng hàng hóa và giá mà người đó thực trả; được đo bằng diện tích nằm dưới đường cầu, trên đường giá, giới hạn bởi lượng hàng hóa từ 0 đơn vị đến đơn vị được tiêu thụ
Trong trường hợp hàng hóa công, phải tìm ra WTP của con người thay vì dùng giá thị
Trang 18trường, người sử dụng sẽ được hỏi WTP về lượng hàng hóa đã có sẵn thông tin, cách đo lường có thể giống như cách đo lường thay đổi thặng dư tiêu dùng cho hàng hóa tư nhân
Khó khăn của phần lớn các phương pháp đo lường phúc lợi là dựa trên việc thiết lập thị trường giả định để suy ra giá sẵn lòng trả WTP, bởi vì WTP không chỉ phản ánh
sở thích và thu nhập mà còn phản ánh những giá trị không sử dụng như giá trị nhiệm ý, giá trị hiện hữu, giá trị lưu truyền, giá trị hỗ trợ Việc xác định tùy thuộc vào nhiều điều kiện phức tạp như cần kỹ thuật kinh tế lượng cao, đo lường các biến số không dễ dàng, nhận thức của các cá nhân về môi trường là chủ quan và chưa chắc phản ánh được giá trị, thiên lệch trong nghiên cứu, v.v Tuy nhiên, đo lường phúc lợi là trọng tâm nghiên cứu của kinh tế học môi trường, nó đánh giá được những giá trị vô hình mà trước đấy không thể thực hiện được, đóng góp hữu ích cho phân tích lợi ích chi phí và rất có ý nghĩa khi làm nền tảng cho các quyết định chính sách
2.2 LÝ THUYẾT VỀ TỔNG GIÁ TRỊ KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Một số giá trị vô hình của những hàng hóa môi trường như không khí hay nước sạch không thể lượng hóa được, nhưng xuất phát từ nhận thức của xã hội về các lợi ích của chất lượng môi trường, các giá trị này tồn tại dưới hai nguồn: giá trị sử dụng và giá trị tồn tại Giá trị sử dụng đề cập đến sự hữu dụng đề cập đến sự hữu dụng hay lợi ích nhận được từ việc sử dụng hoặc tiếp cận một hàng hóa môi trường Giá trị tồn tại là sự thỏa dụng hay lợi ích nhận được từ một hàng hóa môi trường đơn giản qua sự tồn tại của nó như một hàng hóa hay dịch vụ Mitchell và Carson (1989) đo lường tổng giá trị
xã hội chung như sau:
Tổng giá trị của chất lượng môi trường = Giá trị sử dụng + Giá trị tồn tại
Giá trị sử dụng xuất phát trực tiếp từ việc tiêu thụ các dịch vụ do môi trường tự
nhiên cung cấp gọi là giá trị sử dụng trực tiếp, khi đánh giá sẽ giúp xác định giá sẵn lòng trả để duy trì hoặc cải thiện chất lượng môi trường Nếu sự hữu dụng có được từ việc thưởng thức chất lượng mỹ quan của môi trường thì đó là giá trị sử dụng gián tiếp
Giá trị tồn tại gồm hai động cơ: tiêu dùng của người khác và gìn giữ cho thế hệ
tương lai Tiêu dùng của người khác là cá nhân đánh giá một hàng hóa công vì lợi ích
Trang 19mà nó mang lại cho người khác, sự hữu dụng nhận được có tính phụ thuộc lẫn nhau Gìn giữ cho thế hệ tương lai là ý thức phải bảo tồn môi trường cho các thế hệ tương lai và công nhận giá trị nội tại của tài nguyên thiên nhiên
Trong bất kì phương pháp ước lượng phúc lợi xã hội nào cũng tồn tại một số khó khăn, nhất là đối với các giá trị lợi ích vô hình như trên, vì chúng không được trao đổi trên thị trường nên phải tìm cách lượng hóa chúng với những giá trị bằng tiền tương đương Đối với một số phương pháp việc ước lượng đã lượng hóa được những giá trị phúc lợi vô hình này, kể cả khái niệm về giá trị tồn tại Smith and Krutilla (1982) đã xếp các phương pháp đo lường phúc lợi về môi trường thành hai nhóm chung nhất: cách tiếp cận liên hệ vật chất và cách tiếp cận liên hệ hành vi, trong đó các giá trị phúc lợi vô hình được xem xét nhiều hơn ở cách tiếp cận liên hệ hành vi
Cách tiếp cận liên hệ vật chất đo lường các lợi ích dựa trên mối quan hệ vật chất
giữa một tài nguyên môi trường và người sử dụng tài nguyên đó, tiêu biểu là phương pháp hàm thiệt hại sử dụng mối quan hệ hàm số để đo lường lượng giảm thiệt hại từ việc làm giảm chất gây ô nhiễm do chính sách mang lại, giá trị lợi ích sẽ được lượng hóa thành tiền qua lượng giảm thiệt hại này
Cách tiếp cận liên hệ hành vi để lượng hóa các lợi ích thông qua những quan sát
hành vi trong các thị trường thực tế hoặc những câu trả lời từ khảo sát các thị trường giả định cho các hàng hóa môi trường Ngoài ra, phương pháp này còn giải quyết giữa hành
vi hoặc các trả lời được liên kết chặt chẽ như thế nào với hàng hóa môi trường Các phương pháp đánh giá được chia thành các phương pháp trực tiếp gồm: dựa vào thông tin thị trường thực sự có phương pháp trưng cầu dân ý và với dữ liệu thị trường giả định
có phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM); các phương pháp gián tiếp, gồm: phương pháp chi tiêu bảo vệ (AEM), phương pháp chi phí du hành (TCM) và phương pháp giá hưởng thụ (HPM)
Trong phạm vi của luận văn, tác giả sử dụng phương pháp chi phí du hành để đánh giá các lợi ích môi trường của một điểm du lịch
Trang 202.3 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH (TCM)
Đây là phương pháp lâu đời nhất trong các phương pháp đánh giá hàng hóa và dịch vụ phi thị trường Phương pháp này được phát triển chính thức từ năm 1966 bởi Clawson và Knetsch dựa trên ý tưởng của Harold Hotelling (1947).Phương pháp này
sử dụng mối quan hệ bổ sung giữa chất lượng của một tài nguyên thiên nhiên và giá trị
sử dụng cho mục đích vui chơi giải trí của nó, đo lường giá trị sử dụng của một khu vực giải trí hay một địa điểm lịch sử, cũng như ước lượng những gia tăng trong giá trị sử dụng nếu địa điểm đó được cải tạo Khi một người muốn sử dụng các dịch vụ vui chơi giải trí của một địa điểm thì người đó phải đến đó, chi phí du hành khi đến địa điểm được xem như giá ẩn hay giá thay thế của chuyến đi; những thay đổi trong chi phí du hành sẽ dẫn đến một sự biến đổi trong số lượng các chuyến đi; quan sát các biến đổi này qua nhiều cá nhân sẽ ước lượng được các hàm cầu và giá trị của điểm du lịch Kỹ thuật điều tra dựa trên cơ sở phỏng vấn khách du lịch tại điểm vui chơi giải trí để thu thập các thông tin về chuyến đi (chi phí, khoảng cách từ nơi xuất phát đến điểm du lịch, mục đích của chuyến đi và các điểm đến khác trong chuyến đi) và các đặc điểm kinh tế xã hội khác (thu nhập, tuổi, giới tính) Phương pháp chi phí du hành có hai dạng chính: mô hình chi phí du hành theo vùng (ZTCM) và mô hình chi phí du hành theo cá nhân (ITCM)
Hình 2.2 Đường cầu giải trí và thặng dư tiêu dùng của phương pháp TCM
Đường cầu giải trí biểu diễn mối quan hệ giữa số du khách tham gia và chi phí
để thực hiện hoạt động giải trí Đó là giá sẵn lòng trả (WTP) của du khách cho việc cải thiện chất lượng môi trường và thặng dư tiêu dùng là phần diện tích nằm dưới đường cầu trên đường giá như trên đồ thị
Trang 21Chi phí du hành theo vùng (ZTCM) chia nơi xuất phát của du khách thành các
vùng, lấy biến phụ thuộc là tỉ lệ du khách (số chuyến đi từ một vùng nhất định trong khoảng thời gian nhất định trên tổng dân số của vùng đó) Đường cầu về chuyến đi cho một địa điểm vui chơi giải trí từ vùng j sẽ xác định như sau:
Vj/Pj = f (Cj, Xj) (1) Trong đó, Vj là tổng số chuyến đi của các cá nhân từ vùng j đến điểm vui chơi giải trí trên đơn vị thời gian; Pj là dân số vùng j; Cj là chi phí du hành từ vùng j đến điểm vui chơi giải trí; Xj thể hiện các đặc điểm kinh tế xã hội của vùng j Tỉ lệ Vj/Pj là số chuyến đi trên đơn vị dân số, thường được giả định là 1000 người, ở vùng j Khi giả định mối quan hệ của hàm số trên là tuyến tính, để tìm thặng dư tiêu dùng trung bình ở mỗi vùng (ACS) cho tất cả các chuyến đi đến điểm du lịch trong một khoảng thời gian, ta lấy nguyên hàm hàm số sau:
Giữa giá của chuyến đi thực sự được thực hiện từ mỗi vùng và giá tại đó tỷ lệ du khách có thể giảm xuống bằng 0 gọi là Choke Price (CP), là hệ số cắt của đường cầu với trục chi phí du hành TC Khi tìm được hệ số cắt này, ta xác định được thặng dư tiêu dùng trên trên đồ thị, sau đó tình bằng cách lấy tích phân:
ACS1 = ∫ (𝑎 + 𝑏𝑇𝐶)𝑑𝑇𝐶𝑇𝐶𝐶𝑃1 (3) Tổng thặng dư tiêu dùng hàng năm cho toàn bộ hoạt động vui chơi giải trí, được ước tính cho mỗi vùng bằng cách nhân ACS trung bình hàng năm với số đơn vị dân số của vùng; sau đó cộng dồn lại ta được giá trị ước lượng của tổng thặng dư tiêu dùng hàng năm cho toàn bộ hoạt động vui chơi giải trí đến điểm du lịch
Chi phí du hành cá nhân (ITCM) xác định biến phụ thuộc là số lần đến điểm du
lịch của mỗi du khách trong một khoảng thời gian nhất định, có đường cầu như sau:
Vi = f (TCi, Xi) (4) Trong đó, Vi là số lần tham quan trong một khoảng thời gian nhất định bởi cá nhân i đến điểm du lịch; TCi là chi phí chuyến đi của cá nhân i đến điểm du lịch, Xi là tất cả các yếu tố khác quyết định đến số lần tham quan của cá nhân i Giá trị ước lượng của thặng dư tiêu dùng cá nhân hàng năm (ICS) cho cá nhân i sẽ là nguyên hàm:
Trang 222.4 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM LIÊN QUAN
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp chi phí du hành (TCM) để đánh giá giá trị tài nguyên và môi trường của nhiều địa điểm khác nhau, ở các mốc thời gian khác nhau như:
Trần Võ Hùng Sơn và Phạm Khánh Nam (2002) nghiên cứu về giá trị giải trí của cụm đảo san hô Hòn Mun, tỉnh Khánh Hòa bằng phương pháp chi phí du hành, so sánh lợi ích giữa việc mở rộng cảng Nha Trang và thành lập khu bảo tồn biển Nghiên cứu thực hiện với cả khách du lịch trong và ngoài nước, cho thấy cầu giải trí của Hòn Mun phụ thuộc vaò chi phí du hành, chi phí đến điểm thay thế, thu nhập và các đặc điểm kinh
tế xã hội; thu nhập có tác động dương lên số lần viếng thăm, chi phí du hành tác động nghịch lên số lần du lịch đến Hòn Mun nghĩa là khi khách du lịch phải trả chi phí càng cao thì họ sẽ giảm số lần tham quan; chi phí đến điểm thay thế và cầu du lịch không có mối liên hệ thống kê với nhau mặc dù hệ số mang dấu mong đợi, do khó khăn trong quá trình lấy mẫu; biến ‘nam giới’ có dấu dương và có ý nghĩa thống kê, điều này cho thấy nam giới đi du lịch đến Hòn Mun nhiều lần hơn phụ nữ do vấn đề không bình đẳng trong giới tính; biến tuổi không có tác động rõ ràng lên cầu du lịch; biến trình độ học vấn tác động âm nhưng không có ý nghĩa thống kê Kết quả ước lượng cho thấy giá trị giải trí sản sinh ra cho nền kinh tế của Hòn Mun trong năm 2000 vào khoảng 260 tỷ đồng, giá
Trang 23trị này sẽ mang lại nguồn lợi chính cho khu bảo tồn biển ở Hòn Mun nếu nó được thiết lập; thặng dư người tiêu dùng được ước tính vào khoảng 45,4 tỷ đồng, đây là giá trị mà khách du lịch đạt được khi vui vui chơi tại Hòn Mun, trong đó lợi ích bình quân của khách ngoại quốc đạt được gấp đôi so với khách trong nước, chứng tỏ khách du lịch ngoại quốc cảm thấy thú vị hơn với Hòn Mun Tuy nhiên, vấn đề tiềm tàng có thể xảy
ra là lợi ích giải trí bị giảm lớn hơn doanh thu của cảng mới nếu mở rộng cảng Nha Trang nên cần phải xem xét lại
Nguyễn Mạnh Hùng (2014) đánh giá giá trị cảnh quan của Vườn Quốc Gia Ba
Vì bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng Nghiên cứu đã xây dựng hàm cầu du lịch và tính được tổng giá trị giải trí của Vườn Quốc Gia Ba Vì năm 2013 là 3,91 tỷ đồng, tổng thặng dư tiêu dùng của du khách đến tham quan là 3,88 tỷ đồng Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ thực hiện với khách du lịch trong nước, không khảo sát với khách nước ngoài
Một số nghiên cứu sử dụng kết hợp cả hai phương pháp: đánh giá ngẫu nhiên (CVM) và chi phí du hành (TCM) để đo lường giá trị giải trí, ước lượng lợi ích cải thiện chất lượng môi trường và giá sẵn lòng trả của du khách cho việc này:
Trần Thị Thu Hà và Vũ Tấn Phương (2005) đánh giá gía trị cảnh quan của vườn Quốc gia Ba Bể và khu du lịch hồ Thác Bà bằng phương pháp chi phí du hành theo vùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng khoảng cách từ vùng du lịch tới điểm du lịch càng ngắn tỷ lệ dân cư của vùng tới thăm điểm du lịch càng cao; tổng chi phí du hành của các
du khách có sự khác biệt giữa các vùng và tỷ lệ thuận với khoảng cách; giá trị cảnh quan cũng như thặng dư người tiêu dùng của vườn Quốc gia Ba Bể cao hơn khoảng 3 lần so với hồ Thác Bà nguyên nhân do hoạt động du lịch sinh thái của vườn Quốc gia Ba Bể diễn ra sớm, có quy mô và cơ sở vật chất tốt hơn, chứng tỏ du khách đánh giá cảnh quan nơi này cao hơn hẳn Phương pháp CVM được dùng để ước lượng mức sẵn lòng trả (WTP) để bảo vệ cảnh quan tại 2 nơi này của du khách, ở VQG Ba Bể, du khách nước ngoài sẵn lòng trả 90.000đ/ người, khách nội địa khoảng 21.300đ/ người, ở hồ Thác Bà,
du khách nội địa sẵn lòng trả 8.600đ/ người; điều này cho thấy hầu hết du khách sẵn sàng trả cao hơn mức phí vào cửa để được thưởng thức cảnh quan và góp phần cải tạo, duy trì, bảo vệ cảnh quan
Trang 24Phạm Hồng Mạnh (2007) nghiên cứu giá trị giải trí du lịch của du khách trong nước với khu bảo tồn biển vịnh Nha Trang Kết quả nghiên cứu thấy được giá trị giải trí rất lớn trong năm 2007 của vịnh Nha Trang là 23.281 tỷ đồng, thặng dư tiêu dùng là 7.760 tỷ đồng, giá trị này lớn hơn doanh thu của ngành du lịch và đóng góp rất nhiều cho nền kinh tế nơi đây; phương pháp CVM được sử dụng để xác định mức sẵn lòng trả của du khách với việc thành lập quỹ bảo vệ môi trường của vịnh Nha Trang: trung bình 7.875đ/ người/ 1 đêm tại khách sạn, tổng mức sẵn lòng trả của du khách là khoảng 21.224 tỷ đồng Nghiên cứu đã chỉ ra đây là một nguồn lực tài chính khá lớn mà du khách trong nước sẵn lòng chi trả cho việc duy trì cảnh quan, tái tạo và bảo vệ tài nguyên môi trường của vịnh Nha Trang
Trang 25CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 PHƯƠNG PHÁP CHI PHÍ DU HÀNH THEO VÙNG (ZTCM)
Theo số liệu khảo sát và thống kê của UBND huyện Phú Quốc, thời gian trung bình khách du lịch lưu trú chưa đến 3 ngày và số lần du khách quay trở lại Phú Quốc trong vòng 1 năm rất ít (đa số chỉ từ 1 đến 2 lần) nên sự dao động rất nhỏ Vì vậy, bài nghiên cứu chọn phương pháp chi phí du hành theo vùng để ước lượng giá trị du lịch tại đảo Phú Quốc Quy trình ước lượng gồm 8 bước, cụ thể:
i) Chọn mẫu và tiến hành khảo sát
ii) Thu thập số lượt thăm viếng hàng năm
iii) Phân chia khách du lịch theo vùng và xác định số du khách tương ứng với từng vùng iv) Tính tỷ lệ thăm viếng trung bình theo vùng
v) Tính chi phí du hành trung bình đến thắng cảnh theo vùng
vi) Ước lượng phương trình đường cầu
vii) Tính thặng dư trung bình của du khách theo vùng
3.1.1 Chọn mẫu và tiến hành khảo sát
Mẫu gồm 400 lượt khách du lịch, trong đó 200 lượt khách trong nước và 200 lượt khách nước ngoài (mỗi loại du khách lấy cỡ mẫu tối thiểu cần cho một nghiên cứu là 200) Mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu theo phán đoán do không xác định được khung mẫu và giới hạn về khả năng, thời gian cũng như nguồn lực đi điều tra Địa điểm khảo sát tại huyện đảo Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, khảo sát bằng phiếu điều tra2 có sẵn câu hỏi để thu thập thông tin của du khách, phiếu điều tra được gửi đến 20 khách sạn, khu nghỉ dưỡng tiêu biểu tại Phú Quốc với số lượng 20 phiếu/điểm Trước khi tiến hành chính thức đã khảo sát thử 10 phiếu điều tra để chỉnh sửa và hoàn thiện thông tin trong phiếu
2 Xem phụ lục 2
Trang 263.1.2 Thu thập số lượt thăm viếng hàng năm
Số lượt thăm viếng hàng năm đến Phú Quốc thu thập qua nguồn số liệu về du lịch của Ủy ban Nhân dân huyện Phú Quốc
3.1.3 Phân chia khách du lịch theo vùng
So với những điểm du lịch khác trên bản đồ Việt Nam, đảo Phú Quốc thuộc phần cuối và nằm chệch về hướng Tây Nam nên chỉ sử dụng ¼ vòng tròn đồng tâm để phân vùng (tức là vẽ những đường tròn có tâm là đảo Phú Quốc và chỉ lấy những vùng thuộc Việt Nam) Qua đó, khách du lịch trong nước được chia thành 11 vùng tương ứng với khoảng cách thực tế từ vùng đó đến Phú Quốc
Bảng 3.1 Phân chia khách du lịch trong nước theo vùng
5 413,7 Tây Ninh, Bình Dương, Đồng Nai 5.964.500 8
6 702 Đắk Lắk, Ninh Thuận, Lâm Đồng,
Bình Thuận, Nha Trang
6.143.200 18
7 1.144,7 Kon Tum, Bình Định, Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Huế, Đà Nẵng
Trang 27Đối với du khách nước ngoài, những đường tròn đồng tâm từ đảo Phú Quốc sẽ phân lượng khách này thành 3 vùng khái quát như sau:
Bảng 3.2 Phân chia khách nước ngoài theo vùng
(%)
Nguồn: số liệu điều tra
3.1.4 Tính tỉ lệ thăm viếng trung bình theo vùng
Dựa trên số liệu từ bảng câu hỏi khảo sát và công thức tính sau đây:
3.1.5 Tính chi phí du hành trung bình theo vùng
Chi phí du hành của du khách gồm ba loại chi phí sau (theo OECD, 1994):
i) Chi phí di chuyển: dựa vào phương tiện đến Phú Quốc theo đặc điểm từng vùng, khi đến Phú Quốc có 3 cách di chuyển phổ biến đó là xe khách – tàu cao tốc, xe khách – máy bay và máy bay Chi phí di chuyển sẽ được tính dựa vào giá vé trung bình của phương tiện di chuyển đến Phú Quốc theo từng vùng
ii) Chi phí thời gian di chuyển: là chi phí cơ hội khi du khách dành thời gian đi đến điểm du lịch Chi phí thời gian = thời gian du khách di chuyển để du lịch theo vùng
* thu nhập bình quân ngày của từng vùng
Trang 28iii) Chi phí sinh hoạt tại điểm du lịch: là chi phí thuê phòng khách sạn trung bình một đêm nhân với số ngày lưu trú trung bình của du khách theo vùng
3.1.6 Ước lượng đường cầu và tính thặng dư trung bình theo vùng
Xây dựng hàm cầu du lịch dựa trên việc xác định tỷ lệ đến tham quan của du khách trong một vùng VR, chi phí du hành TC của một du khách và thu nhập Y tại vùng
đó, trong đó xem VR là một biến phụ thuộc và TC, Y là biến độc lập Sử dụng phương pháp hồi quy OLS để xác định mối quan hệ của hai biến này Hàm cầu có dạng mô hình tuyến tính như công thức (1)
Trong đó: 𝑪𝑺𝒋 là thặng dư tiêu dùng của vùng j, 𝑻𝑪𝒋 là chi phí du hành của khách
du lịch ở vùng j, 𝑷𝒋 là dân số vùng j, Yj là thu nhập trung bình theo ngày của vùng
3.2 MÔ TẢ DỮ LIỆU
3.2.1 Dữ liệu thứ cấp
Thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, định hướng phát triển, số liệu về
du lịch ở Phú Quốc được thu thập từ các báo cáo của UBND tỉnh Kiên Giang, UBND huyện Phú Quốc, Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang qua các năm
Thông tin về giá vé tàu, xe, máy bay đi đến Phú Quốc thu thập từ trang điện tử của các hãng phương tiện trên; giá vé phòng khách sạn lấy từ số liệu du lịch của UBND huyện Phú Quốc qua các năm
Tình hình về dân cư và lao động của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam được lấy từ Niên giám thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam năm 2015 Khoảng cách từ mỗi vùng đến Phú Quốc tham khảo bằng phần mềm Google Map
Trang 29Ngoài ra, bài nghiên cứu còn tham khảo thêm các thông tin từ các trang điện tử, sách báo và báo cáo chuyên đề về Phú Quốc
Phương pháp điều tra: Phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn và gửi đến tại các khách sạn ở Phú Quốc để tiến hành phỏng vấn 200 du khách trong nước và 200 du khách ngoài nước
Xử lý dữ liệu: Sau khi thu thập đủ lượng phiếu khảo sát, tiến hành tổng hợp xử
lý số liệu và phân tích trên phần mềm thống kê Stata 13 và Microsoft Excel để tính toán chi phí du hành, xây dựng hàm cầu du lịch, ước lượng thặng dư tiêu dùng và giá trị giải trí tại Phú Quốc
Trang 30
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 ĐẶC ĐIỂM HUYỆN ĐẢO PHÚ QUỐC
4.1.1 Đặc điểm tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý và thời tiết
Tổng diện tích tự nhiên của đảo Phú Quốc khoảng 56.700 ha, nằm cách thành phố Rạch Giá khoảng 120 km và thị xã Hà Tiên 50 km Diện tích mặt biển giáp với các nước ASEAN, rất gần với các trung tâm du lịch phát triển và công nghiệp của các nước trong vùng như: Thái Lan, Malaysia, Singapore, v.v Tọa độ địa lý của Phú Quốc gồm: tọa độ vĩ tuyến 10°26’ đến 11°56’ (chiều dài Bắc – Nam dài 50 km), kinh tuyến 103°50’ đến 104°05’ (chiều rộng Đông – Tây 28 km) Vị trí địa lý của Phú Quốc tạo nên những điều kiện tự nhiên và thời tiết thuận lợi cho việc phát triển du lịch cũng như kinh tế tại đây
Nằm trong vịnh Thái Lan nên Phú Quốc được bao bọc và hầu như không bị ảnh hưởng bởi các cơn bão của Biển Đông Khí hậu tại đảo mang tính nhiệt đới gió mùa, khá ấm áp, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô đảo chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc với nhiệt độ cao nhất là 35°C từ tháng 11 năm trước đến tháng 5 năm sau, mùa mưa
ở đảo có gió mùa Tây-Tây Nam từ tháng 6 đến tháng 10 với độ ẩm 90%, nhiệt độ trung bình 27°C Từ tháng 10 đến tháng 1 là thời điểm rất thích hợp để du lịch Phú Quốc vì thời tiết tương đối mát mẻ và ổn định, vì thế nên lượng du khách thường tập trung đông nhất vào khoảng thời gian này
Đảo Phú Quốc nằm riêng biệt và xung quanh giáp với biển nên phần lớn bao quanh đảo là những bãi biển cát trắng trải dài, hoang sơ tạo nên vẻ đẹp đặc biệt thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Những bãi biển đẹp nhất được khai thác phục vụ du lịch tại đảo gồm có Bãi Dài, Bãi Sao, Bãi Trường, Bãi Khem với chiều dài có thể hơn 7
km, nước xanh trong vắt, cát trắng xốp mịn, nguồn hải sản phong phú và khung cảnh hấp dẫn Bãi biển Phú Quốc không chỉ được công nhận của khách du lịch khi đến tham quan mà còn được bình chọn là một trong những bãi tắm đẹp nhất thế giới
Trang 314.1.1.2 Hệ động, thực vật
Thực vật tại Phú Quốc mang nét đặc trưng của vùng hải đảo, phong phú về thành phần loài, có giá trị cho nghiên cứu khoa học và bảo tồn Phú Quốc có 529 loài thực vật thuộc 118 họ và 365 chi, trong đó 42 loài được ghi vào sách đỏ, có 11 loài tuyệt chủng hoặc có nguy cơ tuyệt chủng, 20 loài quý hiếm, 8 loài bị đe doạ và 3 loài nguy cấp Nơi đây có Vườn quốc gia, tổng diện tích 31.422 ha, diện tích rừng là 12.794 ha với 6 kiểu rừng chính: rừng nguyên sinh trên núi, rừng nguyên sinh cây họ dầu, rừng thứ sinh, rừng tràm, rừng ngập mặn, rú lùn trên các đụn cát, đặc biệt rừng ngập mặn và rú lùn là các đối tượng đang bị đe dọa nghiêm trọng cần phải bảo tồn vì đây là hệ sinh thái độc đáo, cực kì hiếm
Động vật ở Phú Quốc gồm hai thành phần đó là động vật rừng và động vật biển Động vật rừng ở đây rất đa dạng do hệ thực vật phong phú, gồm 30 loài thú trong đó 5 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam như, 200 loài chim với 4 loài được ghi vào danh mục Đỏ của tổ chức IUCN và 3 loài ghi vào sách Đỏ Việt Nam, 50 loài bò sát trong đó
9 loài được ghi vào danh mục IUCN và 18 loài ghi vào sách Đỏ trong nước Bên cạnh
đó, Phú Quốc có nguồn tài nguyên biển giàu có với trữ lượng hải sản rất lớn và sự đa dạng các loài san hô Trữ lượng cá hàng năm đạt 464.000 tấn gồm cá nổi chiếm 51% và
cá đáy chiếm 49%; ngoài ra, còn có các nguồn hải sản như mực, tôm, ghẹ, ốc nhảy, trai ngọc, bạch tuột, hải sâm, cá ngựa, v.v được khai thác với sản lượng lớn hàng năm Động vật biển ở Phú Quốc có 152 loài cá thuộc 71 giống và 31 họ, trong đó các giá trị kinh tế cao là cá mú - 13 loài, cá mó - 11 loài, cá dìa - 8 loài, cá hồng – 7 loài, cá đổng - 8 loài; tảo biển có 98 loài thuộc 51 giống, trong đó có 31 loài tảo đỏ, tảo lục và tảo nâu; động vật thân mềm có 132 loài phổ biến là ốc đụn, ngọc trai, trai tai tượng vảy Da gai có 32 loài trong đó hải sâm là phong phú nhất; những loài nằm trong danh mục bị đe dọa tuyệt chủng có dugong (bò biển), rùa biển, cá heo; phía Tây Bắc đảo và Nam đảo tập trung 21 điểm san hô, gồm 252 loài thuộc 49 giống và 14 họ san hô cứng, 19 loài san hô mềm với tổng diện tích là 474 ha, trong đó tập trung chủ yếu ở phía Nam đảo với diện tích 362,2 ha (76%) Năm 2007, Khu bảo tồn biển Phú Quốc chính thức được thành lập nhằm bảo vệ và duy trì bền vững sự đa dạng sinh học của nguồn tài nguyên biển nơi đây
Trang 324.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Huyện đảo Phú Quốc là một trong 15 đơn vị hành chính của tỉnh Kiên Giang, có khoảng 58.927 ha diện tích tự nhiên, nằm cách biệt và khá xa đất liền, dân số là 101.689 người, với 10 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 02 thị trấn và 08 xã: Thị trấn Dương Đông, An Thới; xã Dương Tơ, Cửa Cạn, Gành Dầu, Cửa Dương, Bãi Thơm, Hòn Thơm, Hàm Ninh, Thổ Châu Huyện đảo Phú Quốc bao gồm 27 hòn đảo lớn, nhỏ nằm trong vịnh Thái Lan trong đó lớn nhất là đảo Phú Quốc Đảo Phú Quốc hiện đang nằm trong
đề án “ Thành lập Đơn vị Hành chính – Kinh tế đặc biệt Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang”, được các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương ban hành các chủ trương, chính sách tạo nhiều điều kiện phát triển quan trọng cho đảo
Kinh tế Phú Quốc có tốc độ tăng trưởng 25%/ năm, khá cao trong vòng 10 năm qua, nhất là khu vực dịch vụ chiếm hơn 66% trong cơ cấu GDP Đóng góp phần lớn cho kinh tế- xã hội của tỉnh nói chung và tại đảo nói riêng là nguồn thu từ việc phát triển du lịch của đảo Tổng thu ngân sách trên địa bàn gần 3.200 tỷ đồng năm 2016; thu nhập bình quân đầu người khoảng 71 triệu đồng/ năm (năm 2014), tăng lên 145 triệu đồng (năm 2016); tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 1,79 % (năm 2014) xuống còn 1,26% (năm 2016) Tổng nguồn lực cho đầu tư Phú Quốc từ 2015 đến 2016 từ ngân sách nhà nước là 25.460
tỷ đồng Phú Quốc đã thu hút 254 dự án đầu tư, nhất là đầu tư về du lịch, với tổng vốn đầu tư ước tính là 337.836 tỷ đồng trong đó 22 dự án trực tiếp nước ngoài (FDI) với tổng vốn 282 triệu USD (Theo Báo cáo phát triển Kinh tế xã hội tỉnh Kiên Giang 2/ 2017) Những dự án này là nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển và thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch tại đảo Phú Quốc, tạo việc làm cho người lao động nơi đây, nâng cao mặt bằng lao động và cơ
sở hạ tầng kỹ thuật, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội địa phương
Kinh tế ở Phú Quốc bao gồm các lĩnh vực: (i) Thương mại – du lịch và dịch vụ với dịch vụ du lịch, dịch vụ tài chính và ngân hàng, dịch vụ y tế, dịch vụ vận tải cảng biển và cảng hàng không; (ii) Sản xuất công nghiệp có công nghiệp chế biến hải sản, công nghiệp dịch vụ biển, công nghiệp sinh học; (iii) Nông nghiệp chủ yếu là khai thác nuôi trồng thủy, hải sản, trồng tiêu, chăn nuôi, trồng rừng; (iv) Khoa học – công nghệ
có Trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học rừng và biển của quốc gia, khu vực