1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và cho ví dụ minh họa

17 1K 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 39,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó, Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra n

Trang 1

MỞ ĐẦU

Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định ra đời từ rất sớm trong lịch sử pháp luật thế giới nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng Cùng với sự

ra đời của BLDS 1995 và đến nay là BLDS 2015, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp hợp đồng đã được ghi nhận một cách tương đối đầy đủ, cùng với đó là những văn bản hướng dẫn tạo cơ sở pháp lý cho các Tòa án trong công tác xét xử những tranh chấp liên quan tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng vẫn còn nhiều vướng mắc Chúng ta biết rằng sự nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật có hiệu quả rất khó lường bởi nó ảnh hưởng tới danh dự, nhân phẩm, uy tín, thậm chí là tính mạng con người, chưa kể đến những thiệt hại về tài sản Trong đó, Các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nói riêng là những trường hợp rất dễ nhầm lẫn trong quá trình áp dụng luật, điều này không chỉ xảy ra với sinh viên luật, các chủ thể quan hệ bồi thường mà còn đối với những nhà nghiên cứu, những người áp dụng pháp luật Đặc biệt là sự nhầm lẫn về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Xuất phát từ tình hình trên, việc nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích làm rõ cơ sở

lý luận về các điều kiện phát sinh trách nhiệm bối thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và thực tiễn áp dụng các điều kiện đó một cách có hệ thống là

điều hết sức cần thiết Do vậy em xin chọn đề tài số 14: “Phân tích các điều kiện

phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

và cho ví dụ minh họa” để làm bài tập học kỳ.

NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA.

1 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1.1 Khái niệm

*Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ

Trên cơ sở xem xét về các loại tài sản được coi là nguồn nguy hiểm cao độ trong các văn bản hướng dẫn liên quan chúng ta có thể đưa ra khái niệm về nguồn

nguy hiểm cao độ như sau: Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật, thú dữ,… đó có thể hiểu là những vật trong thế giới tự nhiên hay hoạt động của máy móc, phương

1

Trang 2

tiện khoa học, kỹ thuật mà khi trông giữ, bảo quản, vận chuyển chúng hoặc cho chúng hoạt động thì luôn tiềm ẩn những nguy cơ gây ra thiệt hại bất ngờ cho con người hoặc gây ra thiệt hại về tài sản mà không phải bao giờ con người cũng có thể kiểm soát, lường trước được và có thể ngăn chặn được

*Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại (BTTH) do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Bản thân nguồn nguy hiểm cao độ luôn tiềm ẩn trong đó nó “nguy cơ” gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cho những người xung quanh Tuy nhiên, thiệt hại liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ rất đa dạng và do nhiều nguyên

nhân khác nhau Chúng ta đưa ra khái niệm như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo đó chủ sở hữu hoặc người được giao quản lý, sử dụng hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản cũng như bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người bị thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, ngay cả khi không có lỗi

1.2 Đặc điểm

*Đặc điểm chung: Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là một

loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Do vậy, nó mang đầy đủ những đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn

nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh giữa các chủ thể không có quan hệ hợp đồng hoặc có quan hệ hợp đồng nhưng việc gây ra thiệt hại không thuộc nghĩa vụ hợp đồng

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh trên cơ sở những điều kiện do pháp luật quy định Sự “tự thân” gây ra thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ là điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải hành vi vi phạm nghĩa vụ mà các bên đã cam kết thực hiện

Về chủ thể chịu trách nhiệm: Về nguyên tắc, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra do chủ sở hữu hoặc người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường

Về mức bồi thường: Theo quy định cuả pháp luật phải bồi thường toàn bộ, tuy

nhiên có những trường hợp mức bồi thường theo quy định của pháp luật thấp hơn

Trang 3

thiệt hại thực tế và việc bồi thường thiệt hại sẽ chấm dứt nghĩa vụ của chủ thể gây

ra thiệt hại

*Đặc điểm riêng:

Thứ nhất, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

phát sinh có thể không cần yếu tố lỗi Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, thiệt hại xảy ra là do tự thân nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra, những sự vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ khi gây ra phải đang trong trạng thái vận hành, hoạt động

Thứ hai, Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ là những thiệt hại về

tài sản, tính mạng, sức khỏe mà không bao gồm thiệt hại về danh dự, nhân phẩm,

uy tín, bí mật đời tư Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì thiệt hại là do tài sản mà cụ thể “phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất độc, chất cháy, thú dữ” gây ra Chính vì vậy, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không có thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư mà chỉ có thiệt hại

về tài sản, tính mạng, sức khỏe

1.3 Ý nghĩa

Là loại trách nhiệm pháp lý, có ý nghĩa pháp lý quan trọng và ý nghĩa xã hội sâu sắc, điều đó được thể hiện trên một số phương diện sau đây:

Thứ nhất, Các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong các quan hệ xã hội khác nhau

Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

là chế định góp phần đảm bảo công bằng xã hội Khi hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra những thiệt hại trái pháp luật về quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể khác trong xã hội thì có nghĩa là đã xâm phạm vào các trật tự xã hội được nhà nước bảo vệ Và khi đó trách nhiệm bồi thường sẽ đặt ra đối với chủ

sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ

Thứ ba, Là chế định góp phần răn đe, giáo dục, phòng ngừa các hành vi vi

phạm pháp luật nói chung và gây thiệt hại trái pháp luật nói riêng Thông qua những biện pháp chế tài nghiêm khắc, từ đó, chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ sẽ có ý thức hơn, cũng nhằm giáo dục mọi người về ý

3

Trang 4

thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác

2 Việc xác định điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

Thực tế cho thấy, một chủ thể tham gia các quan hệ xã hội khác nhau nhằm mục đích đạt được những lợi ích nhất định (có thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần) Nhưng nhiều tường hợp, vì lợi ích của mình mà chủ thể này có thể gây ra thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe,…cho chủ thể khác Khi một chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại tới các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể đươc pháp luật bảo vệ thì chủ thể gây thiệt hại phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi của mình gây ra Dưới góc độ luật dân sự, hậu quả pháp lý đó là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của mình gây ra cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, không phải mọi trường thì thiệt hại xảy ra đều do con người mà còn là

do tài sản gây ra Thực tế cho thấy mặc dù với sự thông minh và nhờ vào thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại nhưng bản thân con người rất khó kiểm soát các nguy cơ mang lại rủi ro từ tài sản Xuất phát từ lý do này, dưới góc độ khoa học pháp lý, nguồn nguy hiểm cao độ đã được biết đến với nhận định là sự tiềm ẩn nguy cơ gây ra thiệt hại Trên cơ sở đánh giá sự tiềm ẩn nguy cơ này với sự nhận định mối quan hệ giữa hành vi của con người với thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra, pháp luật dân sự đã đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Trong rất nhiều trách nhiệm thì đâu là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra và khi nào áp dụng loại trách nhiệm này? Để trả lời câu hỏi này pháp luật đã đặt ra điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

II CÁC ĐIỀU KIỆN PHÁT SINH TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO NGUỒN NGUY HIỂM CAO ĐỘ GÂY RA.

Tại Điều 584 BLDS 2015 đã quy định về Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại Như vậy, về nguyên tắc chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ 4 yếu tố sau: Có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật, mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, có lỗi của người gây thiệt hại

Là một trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra có những

Trang 5

điểm cần lưu ý Đó là quy định mang tính nguyên tắc về vấn đề lỗi Theo đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phát sinh ngay cả khi chỉ có 3 điều kiện là: Có thiệt hại xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cho người xung quanh; có hoạt động gây thiệt hạ trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ; có mối quan hệ nhân quả giữa sự hoạt động gây thiệt trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra mà không cần yếu tố “lỗi”

1, Có thiệt hại xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Thiệt hại được hiểu là sự giảm sút những lợi ích về vật chất, danh dự, uy tín của tổ chức; vật chất, danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe,…của cá nhân, những thiệt hại này được xác định bằng một giá trị vật chất nhất định, cụ thể là bằng một khoản tiền

Bởi vì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thì thiệt hại là do tài sản là “phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất độc, chất cháy, thú dữ”, khách thể mà nó xâm phạm là sức khỏe, tính mạng, tài sản của cá nhân, tài sản của tổ chức Chính vì vậy, thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không có thiệt hại

do danh dự, nhân phẩm, uy tín, bị xâm phạm mà chỉ là những thiệt hại do tài sản, tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm Và theo tinh thần của Điều 589, 590, 591, 592 BLDS 2015 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì thiệt hại gồm: Thiệt hại về vật chất và tinh thần

*Thiệt hại về vật chất

Thiệt hại về vật chất được hiểu là “những tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền”

Thứ nhất, Thiệt hại do tài sản bị xâm phậm Theo Điều 589 BLDS 2015 thì

thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được bồi thường gồm: Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lí để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định

Thứ hai, Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm Sức khỏe con người không phải

là hang hóa nên không thể được tính bằng tiền, vì vậy một người bị thiệt hại về sức khỏe trong trường hợp này bản chất là xác định những thiệt hại vật chất để phục hồi tình trạng sức khỏe của người đó

5

Trang 6

Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Khoản 1 Điều 590) bao gồm: Chi phí hợp

lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại Sau khi xác định được thu nhập thực tế, người bị thiệt hại sẽ được bồi thường thiệt hại này, nếu họ thuộc trường hợp bị mất thu nhập hoặc được hưởng phần chênh lệch thu nhập từ việc thu nhập được sau khi bị thiệt hại về sức khỏe thấp hơn thu nhập trước đó Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại; Thiệt hại khác do luật quy định

Thứ ba, Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm Cũng giống như sức khỏe, tính

mạng con người là vô giá không thể tính thành tiền

Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Khoản 1 Điều 591) bao gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 BLDS 2015; Chi phí hợp lý cho việc mai táng; Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng; tùy vào từng trường hợp mà Tòa án quyết định người gây thiệt hại do xâm phạm tính mạng phải bồi thường một khoản tiền bù đắp về tinh thần cho những người thân thích thuộc hang thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà bị người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại

*Thiệt hại về tinh thần

Thiệt hại về tinh thần là sự thiệt hại các giá trị tinh thần, tình cảm hoặc sự suy sụp về tâm lý, tình cảm của cá nhân (sự suy sụp về tâm lý của nạn nhân sau khi bị tổn thất về sức khỏe, tàn tật hoặc lo lắng, lòng đau thương của thân nhân đối với nạn nhân) Thiệt hại về tinh thần do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ gồm thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm và thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm

Thứ nhất, Thiệt hại về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm Theo Điểm b Tiểu mục 1.5 Mục 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định: “trong mọi trường hợp khi sức khỏe bị xâm phạm, người bị hiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp về tinh thần” Như vậy, khi sức khỏe bị xâm phạm, ngoài thiệt hại về vật chất,

người gây thiệt hại còn phải bồi thường một số tiền bù đắp về tinh thần cho người

bị thiệt hại Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu

Trang 7

không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Thứ hai, Thiệt hại về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm Theo Điểm c Tiểu mục 2.4 Mục 2 Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP quy định: “trong mọi trường hợp khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại của người thiệt hại được bồi thường khoản tiền

bù đắp về tổn thất tinh thần” Chủ sở hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ còn

phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng tiền này Mức bồi thường không quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường, nếu không thỏa thuận được

2, Có hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ

Trong xã hội hiện nay, nhà nước sử dụng công cụ pháp luật để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức

Những thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thường đa dạng và do nhiều nguyên nhân khác nhau, tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại cho thế giới vật chất xung quanh, chúng ta đều áp dụng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, mà trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ được áp dụng khi đáp ứng đầy đủ 2 tiêu chí sau đây:

Một là, Những vật, con vật được coi là nguồn nguy hiểm cao độ phải trong

tình trạng vận hành, hoạt động như phương tiện giao thông vận tải đang lưu thông trên đường, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, thú dữ cắn người,…Nếu có thiệt hại xảy ra mà nguồn nguy hiểm cao độ ở trong tình trạng không hoạt động, vận hành thì thiệt hại này không thể coi là thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Ví dụ như ô tô đỗ trên dốc nhưng do quán tính trượt xuống chân dốc gây ra thiệt hại hoặc thú dữ chết thối gây ra dịch bệnh,…

Hai là, Thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra phải là do “tự thân”

nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, mà không phải do bất cứ một sự tác động nào từ

7

Trang 8

phía bên ngoài tác động vào nguồn nguy hiểm cao độ để nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại cho người khác

Ví dụ : T lái xe làm hợp đồng với công ty vận tải X Một lần khi đang lái xe chở

hàng xuống cầu, xe của T đột ngột hỏng phanh T đã cố gắng để kìm tốc độ của xe nhưng kết quả xe của T đâm liên tiếp theo phản ứng dây chuyền 4 chiếc xe liên tiếp theo phản ứng dây chuyền 4 chiếc xe đi trước, khiến các xe này bi hư hỏng nặng Trong ví dụ này, ta thấy chiếc xe do T điều khiển bị hỏng phanh gây ra thiệt hại cho các xe khác khi đang chở hàng xuống cầu, T không có lỗi trong việc điều khiển

vì tình huống bất ngờ xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của T Như vậy việc gây ra thiệt hại trong trường hợp này là do nội tại của chiếc xe, không có sự tác động nào của người lái xe đẫn đến chiếc xe bị hỏng phanh gây thiệt hại cho các xe khác

3, Có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra

Để xác định đúng trách nhiệm bồi thường thiệt hại, điều quan trọng là phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng, mối quan hệ nhân quả mối liên hệ khách quan, tồn tại ngoài ý thức của con người, không phụ thuộc việc chúng ta có nhận thức được nó hay không Trong mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả, nguyên nhân bao giờ cũng là cái có trước, sản sinh ra kết quả; kết quả là cái có sau, là hậu quả của nguyên nhân Do vậy xét

về mặt thời gian, sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ là cái xảy ra trước còn thiệt hại là cái xảy ra sau khi có sự tác động của nguồn nguy hiểm cao độ

Hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ và thiệt hại xảy ra có mối quan hệ biện chứng, hoạt động của tự thân nguồn nguy hiểm cao độ là nguyên nhân gây ra thiệt hại Thực thế xảy ra tình trạng một chiếc xe đang hoạt động thì bị nổ lốp, hỏng phanh gây ra thiệt hại cho người khác, nguyên nhân trực tiếp của việc gây ra thiệt hại cho người khác là do chiếc xe bị hỏng phanh, nổ lốp mà không phải do hành vi

có lỗi của con người, có chủ ý tác động của người vào chiếc xe để gây ra thiệt hại cho những người xung quanh Như vậy, chính hoạt động của nguồn nguy hiểm cao

độ là nguyên nhân gây ra thiệt hại

Trong xã hội có nhiều vụ việc mặc dù việc gây ra thiệt hại có sự tham gia của nguồn nguy hiểm cao độ nhưng không phải tất cả các vụ việc đó đều áp dụng trách

nhiệm BTTH Do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Ví dụ: Nhà ông A có trồng một

ruộng dưa hấu, gần đến ngày thu hoạch do sợ mất trộm, ông A đã mắc dây điện

Trang 9

xung quanh ruộng, anh B có ruộng ở cạnh nhà ông A, một lần đi thăm ruộng ruộng anh B đã dẫm vào dây điện cảu nhà ông A và bị điện giật chết ngay tại chỗ

Trong ví dụ này, ta thấy nguyên nhân gây ra cái chết của B là do dẫm phải dây tải điện, một loại nguồn nguy hiểm cao độ, tuy nhiên, dây điện mà anh B dẫn phải

là do ông A mắc để chống trộm, mà theo như quy định của pháp luạt hình sự, thì hành vi của A là hành vi trái pháp luật, được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp1 Như vậy trách nhiệm dân sự phát sinh trong ví dụ này là trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của ông A gây ra, không phải là trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Nguồn nguy hiểm cao độ là dây điện mặc dù trực tiếp gây thiệt hại, nhưng được ông A sử dụng như là công cụ, phương tiện phạm tội và không phải tự nội tại dây điện gây ra cái chết của anh B Ngoài trách nhiệm dân sự do hành vi trái pháp luật của mình gây ra cho anh B, ông A còn phải chịu trách nhiệm hình sự

Qua đây, ta thấy, mặc dù sự thiệt hại là do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, nhưng không phải tự thân hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại

mà đầu tiên do hành vi có lỗi của con người, nguồn nguy hiểm cao độ được sử dụng như là công cụ, phương tiện phạm tội, như vậy, nguyên nhân gây ra thiệt hại không phải do hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Để xác định được trách nhiệm BTTH thuộc loại trách nhiệm nào, là trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra hay không, chúng ta phải xem xét đến nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại và thiệt hại có phải do nguyên nhân đó gây ra hay không

4, Bàn về điều kiện lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Như đã nói ở trên một trong bốn điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là điều kiện về lỗi nhưng BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là trách nhiệm đặc biệt liên quan đến tài sản thì có phải lỗi là một yếu tố cần thiết khi xem xét loại trách nhiệm này hay không? Có thể nói đây là một vấn đề mà hiện nay đang nhận được rất nhiều tranh cãi, quan điểm khác nhau nhưng chủ yếu chia thành

3 quan điểm sau:

rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mạc cho hậu quả xảy ra”.

9

Trang 10

Quan điểm thứ nhất: Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chỉ

phát sinh khi tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại cho thế giới vật chất xung quanh, việc gây ra thiệt hại là hoạt động nội tại của nguồn nguy hiểm cao độ

và hoàn toàn không có lỗi của con người Việc xác định trách nhiệm theo quan điểm này có ưu điểm bảo vệ được quyền lợi cho nạn nhân nhưng lại có khuynh hướng đè nặng trách nhiệm cho chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ Bởi lẽ có nhiều trường hợp thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật, do lỗi của con người Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

đã được quy định tại Điều 601 BLDS 2015 (Điều 623 BLDS 2005)

Quan điểm thứ hai: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ

gây ra là loại trách nhiệm hoàn toàn loại trừ yếu tố lỗi của chủ sở hữu, người chiế hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ Nếu thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nhưng có một phần lỗi của người đang trông giữ, vận hành, quản lý nguồn nguy hiểm cao độ thì áp dụng trách nhiệm BTTH nói chung Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn không có lỗi của con người thì mới áp dụng trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Quan điểm thứ ba: Theo hướng dung hòa hai quan điểm trên Trách nhiệm bồi

thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên sự suy đoán trách nhiệm đối với người có nghĩa vụ quản lý nguồn nguy hiểm cao độ Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của con người thì không áp dụng trách nhiệm này mà sẽ áp dụng trách nhiệm BTTH nói chung Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao

độ gây ra chỉ được áp dụng khi hoạt động gây thiệt hại của nguồn nguy hiểm cao

độ nằm ngoài khả năng kiểm soát, điều khiển của người chiếm hữu, vận hành và là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thiệt hại Trách nhiệm BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không loại trừ khả năng hiệt hại cũng có thể có một phần lỗi của người quản lý, vận hành, trông giữ nguồn nguy hiểm cao độ nhưng hành vi của người trông giữ, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ không phải là nguyên nhân có tính quyết định đến thiệt hại Chủ sở hữu, người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ không được miễn trừ trách nhiệm BTTH kể cả trong trường hợp

họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc trông giữ, bảo quản, vận hành nguồn nguy hiểm cao độ

Theo em, em đồng ý với quan điểm thứ ba, bởi vì yếu tố “lỗi” không phải là một điều kiện tiên quyết làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

Ngày đăng: 03/04/2018, 21:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w