1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)

131 575 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 131
Dung lượng 3,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)Tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS DƯƠNG MINH THÀNH

Thành phố Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được xuất phát

từ yêu cầu trong công việc để hình thành hướng nghiên cứu

Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập trong quá trình nghiên cứu và không trùng lặp với các đề tài khác

Người viết

Nguyễn Thị Ngọc Bích

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô Phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục tiểu học và quý Thầy Cô giảng dạy lớp Cao học chuyên ngành Giáo dục học tiểu học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giảng dạy và hướng dẫn chúng tôi trong suốt khoá học

Đặc biệt, xin bày tỏ sự biết ơn đến Thầy, Tiến sĩ Dương Minh Thành – người hướng dẫn khoa học đã luôn tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, động viên và khuyến khích tôi rất nhiều trong thời gian thực hiện đề tài

Xin cảm ơn Ban giám hiệu các trường tiểu học ở tỉnh Bến Tre đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho quá trình khảo sát đề tài được thuận lợi, thành công

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG TOÁN Ở CÁC LỚP CUỐI CẤP TIỂU HỌC 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Trên thế giới 6

1.1.2 Ở Việt Nam 8

1.2 Quan điểm về dạy học tích cực 11

1.2.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực 11

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 12

1.2.3 Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh 13

1.3 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm 15

1.3.1 Cơ sở tâm lý học 15

1.3.2 Cơ sở giáo dục học 15

1.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh cuối cấp Tiểu học 15

1.4.1 Tri giác 16

1.4.2 Tư duy 16

1.4.3 Ngôn ngữ 17

1.5 Lý thuyết dạy học theo nhóm 17

1.5.1 Khái niệm dạy học theo nhóm 17

1.5.2 Tầm quan trọng của dạy học theo nhóm 19

1.5.3 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo nhóm 20

1.5.4 Một số cấu trúc tổ chức dạy học theo nhóm 21

Trang 6

1.5.5 Một số cách chia nhóm 29

1.5.6 Nguyên tắc khi tổ chức dạy học theo nhóm 30

1.5.7 Tiến trình tổ chức dạy học theo nhóm 32

1.5.8 Một số lưu ý khi tổ chức hoạt động theo nhóm 35

Kết luận chương 1 36

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC TOÁN LỚP 4 VÀ LỚP 5 TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC 37

2.1 Phân tích chương trình sách giáo khoa Toán ở lớp 4 và lớp 5 37

2.1.1 Mục tiêu dạy học môn Toán ở Tiểu học 37

2.1.2 Nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 4 37

2.1.3 Nội dung chương trình sách giáo khoa Toán lớp 5 39

2.1.4 Đặc điểm của sách giáo khoa Toán lớp 4 và lớp 5 41

2.1.5 Phân tích chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên Toán lớp 4 42

2.1.6 Phân tích chương trình sách giáo khoa và sách giáo viên Toán lớp 5 47

2.2 Thực trạng của việc tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học 51

2.2.1 Mục đích khảo sát 51

2.2.2 Khảo sát giáo viên 51

2.2.3 Kết quả khảo sát 52

2.2.4 Nhận xét các tiết dự giờ Toán 56

Kết luận chương 2 58

Chương 3 XÂY DỰNG CÁC HOẠT ĐỘNG THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC TOÁN Ở CÁC LỚP 4 VÀ LỚP 5 59

3.1 Xây dựng các hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học 59

3.2 Thiết kế một số bài giảng hoạt động theo nhóm trong môn Toán ở các lớp 4 và lớp 5 68

Trang 7

3.3 Thử nghiệm tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán ở các

lớp cuối cấp Tiểu học 78

3.3.1 Chọn mẫu và tổ chức thử nghiệm 78

3.3.2 Kết quả sau thử nghiệm 83

3.3.3 Phân tích hoạt động dạy và học của lớp thực nghiệm và đối chứng 86

Kết luận chương 3 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Mức độ hiểu biết của giáo viên về tổ chức dạy học theo nhóm 52

Bảng 2.2 Mức độ sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm trong môn Toán 52

Bảng 2.3 Hiệu quả của tổ chức dạy học theo nhóm 52

Bảng 2.4 Ưu điểm của tổ chức dạy học theo nhóm 53

Bảng 2.5 Những khó khăn khi tổ chức dạy học theo nhóm 54

Bảng 2.6 Điều kiện để tổ chức tốt dạy học theo nhóm 55

Bảng 3.1 Thống kê kết quả bài làm ở phiếu học tập 83

Bảng 3.2 Thống kê kết quả bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 84

Bảng 3.3 Phân bố tần suất điểm kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 85

Bảng 3.4 So sánh điểm trung bình bài kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 86

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố tần số điểm kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng 84Hình 3.2 Biểu đồ phân bố tần suất điểm kiểm tra của lớp thực nghiệm và lớp

đối chứng 85

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Năng lực hợp tác được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện đại, giúp con người giải quyết được nhiều vấn đề phức tạp mà mỗi cá nhân khó có thể làm được Hợp tác giúp phát huy thế mạnh của từng cá nhân nhưng cũng đồng thời nhằm chia sẻ nguồn lực và lợi thế cho nhau Do đó, năng lực hợp tác trở thành một năng lực cơ bản mà mọi nền giáo dục tiến bộ đều hướng tới Một trong những cách để phát triển năng lực hợp tác là xây dựng các hoạt động học tập theo nhóm Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong nhóm được tạo ra là vì mục tiêu chung của nhóm Để hoàn thành mục tiêu chung đó nên mỗi thành viên phải góp phần cá nhân của mình trong công việc, chia sẻ nguồn lực, giúp đỡ, hỗ trợ cho nhau và nỗ lực cùng học hỏi Các cá nhân sẽ tìm kiếm kết quả có lợi cho bản thân và mang lại lợi ích cho tất cả các thành viên khác trong nhóm Điều đó cho thấy sự hợp tác cần thiết dù ở môi trường xã hội hay trong môi trường học tập Chính vì vậy, phát triển năng lực hợp tác ở trường học đã trở thành một xu hướng giáo dục trên thế giới Trong chương trình giáo dục Tiểu học hiện nay, môn Toán chiếm thời lượng khá nhiều, cung cấp cho học sinh những kiến thức ban đầu, cơ bản về số học, các yếu tố hình học, đo đại lượng và giải toán Những kiến thức này tuy đơn giản nhưng là cơ sở cho quá trình học tập sau này Bên cạnh đó, khả năng giáo dục của môn Toán rất phong phú, giúp học sinh phát triển tư duy, suy luận, trau dồi trí nhớ, giải quyết vấn đề một cách có căn cứ, có cơ sở, có lập luận và chính xác Môn Toán còn góp phần giáo dục ý chí, đức tính chịu khó, nhẫn nại, cần cù trong học tập

Phát huy tính tích cực học tập của học sinh không phải là vấn đề mới mà đã được đặt ra trong ngành Giáo dục nước ta từ những năm 60 của thế kỉ trước [3, tr.79] Trong dạy học truyền thống, người thầy đóng vai trò chủ thể trong hoạt động dạy học, học sinh thụ động trong quá trình tiếp nhận kiến thức, thầy truyền đạt, trò tiếp thu và ghi nhớ Do đó cốt lõi của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là chuyển vai trò chủ thể của quá trình dạy học từ giáo viên sang học sinh nhằm phát huy khả năng tư duy,

Trang 11

tự lực, sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và qua đó làm tăng hứng thú học tập của học sinh Hiện nay có nhiều phương pháp, cách thức tổ chức dạy học toán theo hướng tích cực như dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy học sử dụng sơ đồ tư duy, dạy học theo nhóm, dạy học vận dụng lí thuyết kiến tạo, hình thức tổ chức trò chơi học tập,… Trong đó, dạy học theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng học sinh và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu, nâng cao tính tương tác giữa các thành viên trong nhóm Phương pháp này có những tác động tích cực đối với người học như: tăng cường động cơ học tập, tạo hứng thú, lôi kéo nhiều học sinh làm việc trong cùng một lúc, tiết kiệm được thời gian, tạo sự trao đổi, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau, trong đó giáo viên làm việc với tư cách là người hướng dẫn, tư vấn, khích lệ nhưng cũng có thể tham gia cùng với học sinh Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tinh thần trách nhiệm, ý thức cá nhân trong tập thể, phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp cho học sinh Tổ chức hoạt động học tập theo nhóm là một cách thức tổ chức dạy học tích cực và nó cần thiết cho bất kì môi trường dạy học nào [3]

Việc dạy học Toán ở Tiểu học có thể được chia làm hai giai đoạn: các lớp đầu cấp (lớp 1, 2, 3) và các lớp cuối cấp (lớp 4, 5) Đối với các lớp cuối cấp Tiểu học các

em phải tiếp thu với lượng kiến thức lớn và bắt đầu phức tạp dần Với tình trạng các trường học ngày càng quá tải học sinh như hiện nay, nhiều lớp có sĩ số đông, lớp học khá chật hẹp, cách bố trí lớp học không linh hoạt nên nhiều giáo viên ngại sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động theo nhóm nếu có tổ chức thì cũng thể hiện ở hình thức theo kiểu ngồi chung thành nhóm nhưng vẫn chủ yếu làm việc cá nhân, học sinh chưa thực sự hoạt động theo nhóm, chia sẻ thông tin, cùng hợp tác để đạt được mục tiêu giáo viên đưa ra Diện tích phổ biến 48m2 mỗi phòng học ở trường Tiểu học theo tiêu chuẩn quy định tối thiểu 1,25m2/học sinh [1] thì đối với những lớp đông học sinh, giáo viên khó tổ chức các nhóm nhiều học sinh vì như thế sẽ phải thay đổi cách tổ chức không gian lớp học Việc làm sao để giúp giáo viên vừa phải bao quát hết cả lớp vừa phải dạy học sao cho đảm bảo được khối kiến thức, theo kịp tiến độ, thời gian quy định và không làm xáo trộn lớp học đang là một vấn đề khó và được nhiều người quan

Trang 12

tâm tìm cách giải quyết Từ những lí do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức hoạt

động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học”

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng cách thức tổ chức hoạt động theo nhóm để tổ chức dạy học một số nội dung toán nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và các kĩ năng cho học sinh trong học tập và qua đó góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán của học sinh ở các lớp cuối cấp Tiểu học

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

- Xem xét lại chương trình Toán ở bậc Tiểu học từ mục tiêu, nội dung cho đến chuẩn kĩ năng, kiến thức và mức độ cần đạt Xem xét nội dung sách giáo khoa các lớp 4, 5 Tham khảo các tài liệu dành cho giáo viên như “Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học” (Dự án phát triển giáo viên Tiểu học), “Phương pháp dạy học môn Toán ở Tiểu học” (tác giả Nguyễn Thanh Hưng), “Dạy học tích cực” (tác giả Trần Thị Hương),… để hiểu cách thức dạy học theo nhóm một số nội dung toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học

- Tiến hành tìm hiểu một số cách thức tiến hành dạy nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học; dự giờ, khảo sát tìm hiểu những kinh nghiệm của một số giáo viên

về việc sử dụng phương pháp này

- Đề xuất cách thức và thiết kế bài dạy theo hình thức hoạt động nhóm; sau đó tiến hành dạy thử nghiệm để kiểm chứng các giả quyết và đánh giá hiệu quả giảng dạy

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đề ra, chúng tôi tiến hành các công việc nghiên cứu cụ thể như sau:

- Thu thập các tài liệu phục vụ cho công việc nghiên cứu: chương trình toán bậc Tiểu học, sách giáo khoa Toán, giáo trình phương pháp giảng dạy Toán, những công trình nghiên cứu về những phương pháp hoặc cách thức tiến hành dạy học theo nhóm

Trang 13

- Tìm hiểu các quan điểm và phương pháp dạy học tích cực; nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo nhóm trong giảng dạy Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm sách giáo khoa và một số sách tham khảo Toán Tiểu học ở nước ngoài

- Thiết kế tiến trình dạy học cụ thể một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học theo hướng tổ chức hoạt động theo nhóm

- Khảo sát thực trạng dạy học môn Toán các lớp 4, 5 ở một số trường Tiểu học, dự giờ một số giáo viên Tiểu học về việc sử dụng phương pháp trên

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học và rút ra bài học kinh nghiệm

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: quá trình dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học theo hướng tổ chức hoạt động theo nhóm

Khách thể nghiên cứu: quá trình giảng dạy Toán ở trường Tiểu học

6 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi giới hạn chỉ nghiên cứu việc tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán và trong phạm vi chỉ ở các lớp cuối cấp Tiểu học (lớp 4, 5)

7 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu một số nội dung toán ở các lớp 4, lớp 5 được tổ chức dạy học theo nhóm phù hợp, đáp ứng được các yêu cầu của việc dạy học theo nhóm thì có thể tích cực

hóa hoạt động học tập và góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Toán của học sinh ở các lớp cuối cấp Tiểu học

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu tài liệu về quan điểm dạy học hiện đại và hình thức tổ chức dạy học theo nhóm

Nghiên cứu lý luận dạy học, tâm lí học

Tham khảo các tài liệu, sách, báo, công trình liên quan trong và ngoài nước

Nghiên cứu chương trình, nội dung sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu

Trang 14

tham khảo về nội dung kiến thức môn Toán ở lớp 4, lớp 5

8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp trò chuyện, quan sát, điều tra

Phương pháp thực nghiệm sư phạm

8.3 Phương pháp toán học

Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê để xử lí số liệu thông qua các phiếu khảo sát

9 Ý nghĩa của đề tài

Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của hình thức tổ chức hoạt động theo nhóm trong quá trình dạy học Toán ở các lớp 4, 5

Vận dụng cơ sở lý luận của hình thức dạy học theo nhóm để tổ chức dạy học

cụ thể các nội dung kiến thức Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học

Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo cho giáo viên trong quá trình dạy và học môn Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học

10 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học một số nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học

Chương 2: Thực trạng của việc tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán lớp 4 và lớp 5 tại một số trường Tiểu học

Chương 3: Xây dựng các hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán ở các lớp 4

và lớp 5

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG

THEO NHÓM TRONG DẠY HỌC MỘT SỐ NỘI DUNG

TOÁN Ở CÁC LỚP CUỐI CẤP TIỂU HỌC

Người có cùng tư tưởng với Colonel Francis Parker là James Coleman, ông đề xuất: thay việc thiết lập các tình huống khuyến khích cạnh tranh trong học tập nhà giáo dục nên tạo ra các hoạt động để học sinh cùng nhau hợp tác [54]

John Dewey, một nhà giáo dục người Mỹ, được coi là người khởi xướng ra xu thế dạy học hợp tác vào đầu năm 1900 Chính John Dewey đã đưa các hình thức hoạt động hợp tác học tập vào lớp học nhằm dạy cho con người cùng sống, cùng làm việc với nhau Tác giả đã chú ý phát triển hình thức học tập theo nhóm và đề ra lý thuyết dạy học nhóm Dewey tin rằng điều quan trọng là học sinh phát triển kiến thức và kĩ năng xã hội được sử dụng bên ngoài lớp học Lý thuyết này miêu tả học sinh như những người tiếp nhận kiến thức tích cực bằng cách thảo luận các thông tin và câu trả lời theo nhóm, tham gia vào quá trình học tập với nhau thay vì thụ động thu nhận thông tin [55]

Trang 16

Nhà tâm lí học xã hội Kurt Lewin, người cũng có ảnh hưởng lớn đến lý thuyết về dạy học hợp tác theo nhóm Kurt Lewin là người có ảnh hưởng chính đến sự hình

thành và phát triển của trào lưu “Tương tác nhóm” vào đầu những năm 1940 Ông đề

ra “thuyết phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội” hay còn gọi là “thuyết tương tác xã hội” dựa trên cơ sở của Kurt Koffka, người đã đề xuất khái niệm “Nhóm là phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên” Trong thập niên 1920 – 1930, Kurt Lewin đã đưa

ra khái niệm nhóm phải có hai yếu tố: 1) Phải có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các

thành viên, nhóm phải năng động hơn, có tác động tích cực đến các thành viên; 2) Tình trạng căng thẳng giữa các thành viên trong nhóm là động lực để thúc đẩy hoàn thành mục tiêu chung mong muốn [45], [53]

Năm 1962, Morton Deutsch tiếp tục xây dựng và mở rộng lý luận về sự phụ thuộc lẫn nhau trong xã hội nhằm hoàn thiện lý thuyết hoạt động nhóm với ý tưởng rằng học sinh có trách nhiệm đóng góp vào kiến thức nhóm, ông xây dựng một

lý thuyết về hợp tác và cạnh tranh [53], [55] Lý thuyết của Morton Deutsch được mở rộng và áp dụng cho giáo dục, đặc biệt là các vận dụng của chính tác giả tại trường Đại học Minnesota của Mỹ Ngoài ra còn có một số nhà tâm lí và giáo dục học nghiên cứu về vấn đề dạy học nhóm như: Aronson, hai anh em nhà Johnson Elliot Aronson với

mô hình lớp học Jigsaw được sử dụng đầu tiên ở Austin Texas vào năm 1978 Mô hình này yêu cầu các học sinh phải biết chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm với nhau để cả nhóm học tập đạt kết quả tốt nhất Năm 1989, hai anh em nhà Johnson đã khảo sát và nghiên cứu trên 193 trường hợp và cũng đã đúc kết rằng: học hợp tác theo nhóm thì học sinh học hỏi được nhiều hơn so với cách học truyền thống

Năm 1994, Johnson và Johnson công bố năm yếu tố cần thiết cho việc học nhóm

thành công: sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau, tránh nhiệm của mỗi cá nhân trong nhóm,

tương tác trực tiếp mặt đối mặt, kĩ năng xã hội trong hoạt động nhóm và đánh giá [55],

[53]

Như vậy, trong thời gian dài, các nhà nghiên cứu nước ngoài đã xây dựng, hoàn thiện phương pháp dạy học hợp tác theo nhóm trên cơ sở của ba quan điểm: quan điểm phát triển nhận thức; quan điểm về hành vi; sự phụ thuộc lẫn nhau trong

xã hội Các tác giả đều đã cho rằng tổ chức dạy học nhóm đã góp phần rèn luyện

Trang 17

năng lực hợp tác, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về tổ chức hoạt động theo nhóm trong dạy học các nội dung Toán ở các lớp cuối cấp Tiểu học mặc dù vấn đề này đã được các nhà giáo dục quan tâm và được biết đến trong hệ thống các phương pháp “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”

Tác giả Trần Bá Hoành, một trong những nguời đi đầu trong việc nghiên cứu

về phát triển đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa ở Việt Nam, trong bài viết “Những đặc trưng của phương pháp tích cực” trên tạp chí giáo dục số 32 (6/2002) có đề cập đối với chu yển dạy học thụ động sang dạy học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà còn hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm để họ tự chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình [20]

Tác giả Nguyễn Hữu Châu trong bài viết dạy học hợp tác đăng trên Tạp chí

thông tin khoa học giáo dục số 114, năm 2005 đã bàn đến việc dạy học hợp tác Tác

giả chỉ ra cụ thể hợp tác là việc sử dụng các nhóm nhỏ để học sinh làm việc cùng nhau nhằm tối đa hóa kết quả học tập của bản thân mình cũng như người khác, ngoài ra còn đề cập đến những yếu tố cơ bản để sự hợp tác đạt hiệu quả cũng như những hiệu quả mà dạy học hợp tác mang lại Tác giả cho rằng: Hợp tác nghĩa là cùng chung sức để đạt được những mục tiêu chung Trong các tình huống hợp tác, cá nhân tìm kiếm những kết quả có ích cho họ và cho các thành viên của nhóm

Trong nghiên cứu “Tổ chức hoạt động hợp tác trong học tập theo hình thức thảo luận nhóm”, tác giả Nguyễn Thị Hồng Nam đã đưa ra nhận định chung cho hoạt

động nhóm chính là quá trình tương tác, hợp tác giữa người học trong nhóm dưới sự điều khiển của người dạy và dưới tác động của môi trường nhằm hướng đến mục tiêu chung

và giải quyết các nhiệm vụ nhận thức Trong dạy học nhóm, từng thành viên của nhóm

sẽ hợp tác với nhau không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của bạn bè trong nhóm Sự hợp tác của nhóm học sinh

Trang 18

có đặc điểm cơ bản là: có mục đích chung trên cơ sở cùng có lợi; bình đẳng tin tưởng lẫn nhau và tự nguyện hoạt động

Tác giả Trịnh Thị Thúy Kiều (2008) với đề tài khóa luận tốt nghiệp “Vận dụng

phương pháp dạy học nhóm để dạy bài mới và bài tập Toán học ở Trung học phổ thông” [29] đã nghiên cứu phân tích và làm rõ cơ sở lý luận của phương pháp dạy học

nhóm, nêu ra những cách thông dụng để lập nhóm có hiệu quả và chỉ ra sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học Toán hiện nay ở các trường phổ thông Thông qua các tiết thực nghiệm cho thấy được việc sử dụng phương pháp dạy học nhóm trong dạy học đạt hiệu quả

Nguyễn Thị Thu Trang (2009) với đề tài “Vận dụng dạy học hợp tác

trong dạy học Sinh học 11” tác giả nêu rõ “dạy học hợp tác có thể được hiểu là

mô hình học tập mà trong đó học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên làm việc phối hợp cùng nhau trong những nhóm nhỏ để hoàn thành mục đích chung của nhóm đã được đặt ra” [38, tr.17] Tác giả cho rằng trong quá trình giảng dạy, các

thành tố thầy, trò và tri thức vừa tồn tại độc lập, với các chức năng riêng biệt, vừa

vận động và phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau

Tác giả Trần Thị Thanh Huyền (2010) với đề tài luận văn “Sử dụng phương pháp

hợp tác nhóm nhỏ trong dạy học Hóa học lớp 11- chương trình nâng cao ở trường Trung học phổ thông” [24] đã nghiên cứu về phương pháp giảng dạy tích cực này ở

môn Hóa học và đề xuất quy trình sử dụng gồm 5 bước: phân tích thông tin; xác định mục tiêu bài học; lập kế hoạch bài giảng; tổ chức giờ học và rút kinh nghiệm Tác giả

đã tiến hành khảo sát, thử nghiệm giảng dạy và nhận thấy việc áp dụng phương pháp hợp tác nhóm nhỏ vào dạy và học bộ môn Hóa học ở trường trung học phổ thông là có tính khả thi

Nguyễn Thị Quyên (2010) với đề tài khóa luận tốt nghiệp “Hình thức tổ chức

dạy học theo nhóm trong phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn ở Tiểu học” [34] đã

nghiên cứu về phương pháp tổ chức dạy học theo nhóm, hình thức tổ chức dạy học theo nhóm, vận dụng hình thức này trong dạy học phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn của Tiếng Việt ở Tiểu học

Trang 19

Tác giả Lê Thị Thủy (2011) với đề tài khóa luận tốt nghiệp “Dạy học theo nhóm

trong môn Toán ở Tiểu học” [35] đã nghiên cứu về việc vận dụng hình thức tổ chức

dạy học theo nhóm ở Tiểu học, quy trình và cách thức dạy học theo nhóm Từ sự hiểu biết một cách toàn diện về hình thức dạy học trên mặt cơ sở lí luận, tác giả đã tìm các phương án vận dụng hình thức này trong dạy môn Toán ở Tiểu học

Nguyễn Phạm Thùy Linh (2011), với đề tài Một số biện pháp nâng cao hiệu quả

việc tổ chức hoạt động nhóm trong dạy học Hóa học lớp 11 ở trường Trung học phổ thông [31] đã nghiên cứu một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học hiện nay,

cơ sở lí luận về dạy học bằng hoạt động nhóm và một số hình thức tổ chức hoạt động nhóm thường gặp khi khi dạy Hóa học lớp 11 ở trường Trung học phổ thông, thực nghiệm đạt được hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Hoá học ở Trung học phổ thông

Phạm Thị Dung (2013) với đề tài “Tổ chức dạy học theo nhóm chương “ Dao

động cơ” Vật lí 12” [13] Qua việc nghiên cứu, tác giả đã góp phần làm sáng tỏ một

số luận điểm lí luận như: Tính tích cực, tự lực trong học tập, các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức, dạy học theo nhóm giúp phát huy được những kĩ năng cho học sinh Trên cơ sở vận dụng lí luận dạy học hiện đại về việc tổ chức dạy học theo nhóm, tác giả đã soạn thảo tiến trình dạy học theo nhóm một số bài trong chương

“Dao động cơ” Các tiến trình dạy học này đã giúp phát huy tính tích cực, tự lực và hình thành kĩ năng hoạt động nhóm cho học sinh Kết quả thực nghiệm sư phạm đã rút ra những kết luận về hiệu quả của tiến trình dạy học đối với việc kích thích hứng thú học tập, phát huy tính tích cực, tự lực và kĩ năng làm việc theo nhóm của học sinh

Trần Trịnh Minh Hòa (2013) với đề tài Tổ chức học sinh giải bài tập Vật lí theo

nhóm trong dạy học chương các định luật bảo toàn lớp 10 ban nâng cao” [14], đã

nghiên cứu vận dụng lí thuyết dạy học theo nhóm trong hướng dẫn học sinh giải bài tập Vật lí Kết quả thực nghiệm cho thấy tính khả thi khi áp dụng phương pháp này trong quá trình dạy học sinh giải bài tập Vật lí ở trường phổ thông

Tác giả Đỗ Thành Nhân (2014) với đề tài “Tổ chức dạy học theo nhóm chương

Hạt nhân nguyên tử Vật lí 12 ban cơ bản” [33] đã làm sáng tỏ một số vấn đề về quan

Trang 20

điểm dạy học tích cực, lí thuyết dạy học theo nhóm và tìm hiểu thực trạng tổ chức dạy học chương “Hạt nhân nguyên tử” - Vật lí 12 cơ bản tại các trường Trung học phổ thông hiện nay Ngoài ra tác giả này cũng đã soạn thảo được tiến trình dạy học cho các bài của chương “Hạt nhân nguyên tử” theo hình thức tổ chức dạy học nhóm và vận dụng có hiệu quả trong thực tiễn

Nguyễn Viết Thanh Minh (2015) với đề tài luận án “Khai thác, sử dụng thí

nghiệm tự tạo hỗ trợ tổ chức dạy học nhóm một số kiến thức phần Điện học, Điện từ học Vật lý lớp 9 Trung học cơ sở” [32] đã trình bày về dạy học nhóm, tổ chức dạy học

nhóm với sự hỗ trợ của thí nghiệm vật lí Tác giả đã tiến hành thực nghiệm sư phạm và thấy hiệu quả của phương pháp này đã góp phần tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, qua đó nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy học

1.2 Quan điểm về dạy học tích cực

1.2.1 Quan niệm về phương pháp dạy học tích cực

Ngày nay, giáo viên Tiểu học được khuyến khích sáng tạo và áp dụng những phương pháp giảng dạy khác nhau để cho bài giảng của mình tăng tính tương tác giữa giáo viên và học sinh Phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học ngày càng được lan rộng và được nhiều giáo viên Tiểu học chọn lựa

Có nhiều định nghĩa về phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực là một hệ thống tác động liên tục của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh để học sinh lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu nhất định

[3, tr.80]

Theo các nhà giáo dục học Việt Nam: Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học phát huy được sự chủ động, sáng tạo của người học, giúp giáo viên và học sinh tăng sự tương tác, giúp giáo viên sáng tạo trong giảng dạy và học sinh chủ động hơn trong việc học Tích cực ở đây được dùng theo nghĩa trái ngược với thụ động, không theo nghĩa trái ngược với tiêu cực

Phương pháp dạy học tích cực ở Tiểu học giúp người học chủ động trong việc tiếp thu tri thức từ người dạy, tích cực tìm tòi, khám phá những kiến thức mới bổ trợ cho quá trình học Ngoài ra, trong dạy học tích cực, người học còn được khuyến khích

Trang 21

tham gia các hoạt động trải nghiệm thực tế để củng cố, nâng cao kiến thức và kĩ năng

1.2.2 Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực [3, tr.83-86]

1.2.2.1 Dạy học phải kích thích nhu cầu và hứng thú của học sinh

Hứng thú học tập trước hết được tạo ra bằng cách làm cho học sinh ý thức được lợi ích của việc học để tạo động cơ học tập Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi ích của một số nội dung nào đó

Nhu cầu nhận thức của học sinh càng cao thì tính tích cực học tập của học sinh càng cao Ngoài ra tính tích cực học tập của học sinh còn phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn, lôi cuốn của nhiệm vụ học tập và cách thức diễn đạt, dẫn dắt vấn đề của giáo viên Giáo viên diễn đạt và dẫn dắt lớp học càng hấp dẫn, lôi cuốn thì tính tích cực của học sinh sẽ càng tăng lên

1.2.2.2 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp học sinh

tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, giáo viên không cung cấp, áp đặt kiến thức có sẵn mà là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tậphoặc tình huống thực tiễn

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ đơn giản cung cấp tri thức

mà còn hướng dẫn hành động Chương trình hành động phải giúp cho từng học sinh biết hành động và tích cực tham gia các hoạt động của cộng đồng

1.2.2.3 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

Một trong những yêu cầu của dạy và học tích cực là khuyến khích người học

tự lực khám phá những điều chưa biết trên cơ sở những điều đã biết và đã qua trải nghiệm Giáo viên nên đưa người học vào những tình huống có vấn đề để các em trực tiếp quan sát, trao đổi,…Từ đó giúp học sinh tìm ra những câu trả lời đúng, các đáp án chính xác nhất Có như vậy bên cạnh việc chiếm lĩnh tri thức, người học còn biết làm chủ cách xây dựng kiến thức, tạo cơ hội tốt cho tính tự chủ và óc sáng tạo nảy nở, phát triển

Trang 22

1.2.2.4 Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Đẩy mạnh việc học tập riêng và học tập nhóm Quá trình học là một quá trình đan xen giữa cá nhân trong tập thể, chính vì vậy mà phương pháp dạy học phải giúp cho người học có thể tự thúc đẩy bản thân học tập và hòa đồng tích cực vào hoạt động học tập nhóm của lớp

Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm tạo điều kiện cho học sinh nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn Điều đó

có nghĩa, mỗi học sinh vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

1.2.2.5 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

Khi áp dụng phương pháp dạy học tích cực thì việc đánh giá kết quả của môn học không chỉ là nhiệm vụ của giáo viên mà còn là trách nhiệm của học sinh Việc tiếp nhận đánh giá của thầy về việc tiếp thu của học sinh cũng như sự đánh giá của trò về phương pháp giảng dạy sẽ giúp giáo viên có thể dễ dàng theo dõi và điều chỉnh phương pháp giảng dạy hiện tại của mình một cách tốt nhất, nhằm mang đến những bài học hiệu quả nhất Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò, không chỉ nhằm mục đích nhận biết thực trạng và điều khiển hoạt động học tập mà còn tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động giảng dạy của giáo viên

1.2.3 Một số biện pháp phát huy tính tích cực học tập của học sinh

Để phát huy tính tích cực học tập của học sinh, giáo viên cần tổ chức các hoạt động trong đó học sinh đóng vai trò trung tâm, người thầy đóng vai trò tổ chức hoạt động cho học sinh Thông qua những hoạt động như thế, mỗi học sinh đều có cơ hội được hoạt động, được bộc lộ mình và đều có cơ hội phát triển

Ví dụ [3, tr.97]: Để tìm công thức tính diện tích hình chữ nhật, giáo viên chia học

sinh hình thành các nhóm, mỗi nhóm được phát một tấm bìa trong có kẻ lưới ô vuông

và một bộ các hình chữ nhật khác nhau Nhiệm vụ giao cho các nhóm là dùng lưới ô vuông cạnh 1cm để xác định diện tích hình chữ nhật Các nhóm thảo luận tìm cách tính diện tích hình chữ nhật Các nhóm sẽ làm việc, áp tấm bìa trong có lưới ô vuông

Trang 23

vào từng hình chữ nhật, tìm cách đếm số ô vuông có trong hình chữ nhật, lúc đầu có thể đếm, sau đó nghĩ ra cách nhân chiều dài với chiều rộng Các nhóm thảo luận nêu quy tắc tính, sau đó thống nhất cả lớp Qua đó, mỗi học sinh đều được hoạt động, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, tổ chức hoạt động cho học sinh

Ví dụ trên là một ví dụ điển hình cho hoạt động theo nhóm trong dạy học Toán ở Tiểu học Tuy nhiên trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức lớp học khác nhau như dạy học theo nhóm, dạy học giải quyết vấn

đề, dạy học sử dụng sơ đồ tư duy,…cũng như xen kẽ một số trò chơi, đa dạng hóa hình thức bài tập, phối hợp hình ảnh trực quan để hình thành kiến thức cho các em và tạo không khí lớp học sinh động

Ví dụ: Bài Phép cộng phân số (sách giáo khoa lớp 4 trang 126)

Có một băng giấy, bạn Nam tô màu 3

8 băng giấy, sau đó Nam tô tiếp 2

8 băng giấy Hỏi bạn nam đã tô màu bao nhiêu phần của băng giấy?

Để hướng dẫn học sinh giải quyết bài toán trên, giáo viên phát cho học sinh các băng giấy (có thể đặt ra tình huống có vấn đề hoặc trực tiếp hướng dẫn học sinh chia băng giấy thành 8 phần bằng nhau – bằng cách gấp đôi 3 lần băng giấy)

Học sinh phải thực hiện phép tính 3

28

?

Trang 24

Để phương pháp dạy học tích cực tỏ ra hiệu quả, bên cạnh việc đầu tư vào tổ chức hoạt động cho học sinh, giáo viên cần phải sử dụng thêm đồ dùng, phương tiện dạy học một cách thiết thực, phù hợp để vừa làm tăng hứng thú cho học sinh vừa tạo điều kiện cho học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, hình thành các kĩ năng, trong đó chú ý hình thành khả năng tự học và khả năng hợp tác của học sinh trong học tập; tạo được bầu không khí lớp học sôi nổi, thoải mái, kích thích tối đa sự suy nghĩ và khả năng giải quyết vấn đề ở mỗi cá nhân, khuyến khích tất cả các thành viên cùng tham gia

1.3 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm

1.3.1 Cơ sở tâm lý học [9, tr.197-198]

Dạy học theo nhóm dựa trên cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của con người được hình thành thông qua các hoạt động chủ đạo và sáng tạo, thông qua các hoạt động có ý thức Qua hoạt động theo nhóm, học sinh sẽ giao tiếp, trao đổi, truyền đạt cho nhau những tri thức, kinh nghiệm Việc thu nhận và xử lí thông tin sẽ giúp cho các

em hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách Nhờ có giao tiếp mà học sinh có thể phối hợp hoạt động cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập và các nhiệm vụ khác để đạt tới mục tiêu chung

1.3.2 Cơ sở giáo dục học [7, tr.111-112]

Hình thức dạy học theo nhóm là sự vận dụng nguyên tắc giáo dục trong tập thể

và bằng tập thể Bên cạnh đó, hình thức dạy học này còn dựa trên nguyên tắc phát triển trong dạy học, con người phát triển trong hoạt động và học tập thông qua hoạt động; thống nhất giữa dạy học lí thuyết và kĩ năng Học tập theo nhóm phát huy tính tích cực của học sinh phù hợp với nguyên tắc phát huy tính tích cực và tự giác trong giáo dục, vì nó gợi được động cơ học tập của chủ thể, phát huy nội lực bên trong

1.4 Đặc điểm nhận thức của học sinh cuối cấp Tiểu học

Đối với lứa tuổi học sinh Tiểu học, hoạt động vui chơi ở trường học đã chuyển xuống hàng thứ yếu sau hoạt động học tập Song vui chơi vẫn là một hoạt động không thể thiếu được đối với học sinh ở lứa tuổi này Ngoài học tập, vui chơi, học sinh Tiểu học còn tham gia vào các hoạt động khác, góp phần hình thành nhân cách cho các em

Trang 25

1.4.1 Tri giác

Tri giác của học sinh Tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định, do đó mà các em phân biệt đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và có khi còn lẫn lộn [9, tr.201] Khi tri giác, sự phân tích có định hướng và có

tổ chức của học sinh còn yếu

Tuy nhiên trong quá trình học tập theo nhóm, tri giác của học sinh Tiểu học được

tổ chức lại và mức độ phát triển nâng cao dần lên nhờ các hoạt động diễn ra trong

nhóm Ví dụ: một chi tiết nào đó trong học tập được một học sinh tình cờ phát hiện có

thể lại là chi tiết đáng chú ý với học sinh khác và trở thành tiêu điểm trong thảo luận Hoặc nhiều yếu tố được phát hiện ngẫu nhiên, chưa được tổ chức sẽ được các học sinh

hệ thống lại trong quá trình thảo luận và trình bày

1.4.2 Tư duy

Tư duy của trẻ mới đến trường mang tính trực quan cụ thể, mang tính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của những sự vật hiện tượng cụ thể Nhà

tâm lý học nổi tiếng G.Piagiê cho rằng: Tư duy của trẻ từ 7 đến 10 tuổi về cơ bản còn

ở giai đoạn những thao tác cụ thể [28, tr.12] Do đó các em chưa thể tự mình suy luận

một cách logic mà thường đi chệnh khỏi đối tượng suy luận và thường dựa vào những mối liên hệ ngẫu nhiên của sự vật, hiện tượng [28, tr.13] Do vậy trong trong quá trình dạy học theo nhóm, khi cho học sinh thảo luận nhóm, giáo viên luôn có những hướng dẫn cụ thể để tránh các nhóm đi lệch hướng

Ngoài ra tư duy của học sinh Tiểu học đang trong giai đoạn “tư duy cụ thể”, chưa hoàn chỉnh nên việc nhận thức các kiến thức toán học trừu tượng khái quát là vấn đề khó đối với các em Trong dạy học, cần nắm vững sự phát triển có quy luật của tư duy học sinh, đánh giá đúng khả năng hiện có và khả năng tiềm ẩn của học sinh Từ đó, có những biện pháp sư phạm thích hợp với trình độ phát triển tâm lí và phù hợp việc nhận thức các kiến thức toán học ở Tiểu học [4, tr.220] Trong hoạt động nhóm, giáo viên nên dạy cho các em cách suy luận có cơ sở, căn cứ; phán đoán có dẫn chứng thực tế, kết luận phải có tính chất đúng đắn

Trang 26

1.4.3 Ngôn ngữ

Ngôn ngữ của học sinh Tiểu học có sự phát triển rất rõ rệt cả về số lượng và chất lượng Nội dung học tập đã mở rộng cho nên ngôn ngữ của trẻ vượt khỏi phạm vi những từ sinh hoạt, cụ thể và đã bao gồm nhiều khái niệm khoa học, trừu tượng [28, tr.13] Các hình thức đọc bài, làm bài, trả lời câu hỏi của giáo viên hoặc hình thức thảo luận nhóm là môi trường, điều kiện tốt để phát triển ngôn ngữ cho học sinh Dạy học theo nhóm thông qua trao đổi, thảo luận sẽ góp phần rèn luyện và phát triển vốn ngôn ngữ phong phú và đa dạng cho học sinh Tiểu học

1.5 Lý thuyết dạy học theo nhóm

1.5.1 Khái niệm dạy học theo nhóm

Một trong những phương pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học theo nhóm Khái niệm dạy học theo nhóm được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học hiện nay

Hoạt động dạy học theo nhóm là hoạt động trong đó giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động hợp tác với nhau trong các nhóm nhằm đạt được mục tiêu học tập [3,

tr.90]

Dưới góc độ hình thức dạy học, hai tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier

cho rằng: dạy học nhóm là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó học sinh của

một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp [12,

tr.98] Theo cách hiểu này, dạy học theo nhóm chỉ là hình thức dạy học, có chia nhóm,

có nhiệm vụ, có thảo luận với thời gian được quy định trên cơ sở cùng hợp tác với nhau, sau đó các nhóm trình bày và được đánh giá trước lớp

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hưng, thảo luận nhóm là một hình thức dạy học hợp

tác trong đó giáo viên nêu ra vấn đề, học sinh thảo luận, bàn bạc và giải quyết vấn đề

đó [25, tr.30]

Dưới gốc độ phương pháp dạy học, tác giả Bùi Thị Hường cho rằng, dạy học dựa

trên làm việc nhóm là một phương pháp sư phạm mà theo đó lớp được chia thành nhiều hơn một nhóm, mỗi nhóm được phân công giải quyết một công việc cụ thể

Trang 27

hướng tới một nội dung công việc chung lớn hơn, kết quả của từng nhóm sẽ được trình bày trước lớp để thảo luận chung trước khi giáo viên đi đến kết luận cuối cùng [27,

tr.53]

Đối với tác giả Trần Thị Hương, dạy học theo nhóm là cách thức giáo viên chia

học sinh thành từng nhóm để thảo luận về một vấn đề học tập dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập [26, tr.78]

Theo các tác giả Nguyễn Bá Kim và Bùi Huy Ngọc, dạy học hợp tác theo nhóm

là một thuật ngữ để chỉ cách dạy học trong đó học sinh trong lớp được tổ chức thành các nhóm một cách thích hợp, được giao nhiệm vụ và được khuyến khích thảo luận, hướng dẫn hợp tác làm việc với nhau giữa các thành viên để cùng đạt được kết quả chung là hoàn thành nhiệm vụ cả nhóm [30, tr.161]

Hai tác giả Đặng Vũ Hoạt và Nguyễn Hữu Hợp thì cho rằng: thảo luận là phương

pháp tổ chức cho học sinh trao đổi, bàn bạc nhằm thống nhất ý kiến của mình về giải quyết các vấn đề liên quan hoạt động tập thể, công việc của lớp [21, tr.127] Các tác

giả xem xét dạy học theo nhóm dưới góc độ là phương pháp dạy học

Theo tác giả Nguyễn Hữu Hợp, thảo luận nhóm là phương pháp tổ chức cho học

sinh trao đổi với nhau theo nhóm nhỏ để đưa ra ý kiến chung của nhóm về cách giải quyết vấn đề liên quan đến bài học [22, tr.118] Tác giả cho rằng đây là phương pháp

dạy học mà giáo viên tổ chức cho học sinh thảo luận, trao đổi theo các nhóm nhỏ và cùng tìm giải pháp để giải quyết vấn đề của bài học

Một số tác giả nước ngoài cũng đưa ra khái niệm về dạy học theo nhóm:

Theo Johnson D.W, Johnson R.T, Holubec, học tập hợp tác là việc sử dụng cách

giảng dạy là chia học sinh thành các nhóm nhỏ để các em làm việc với nhau, tối đa hóa việc học tập cùng nhau [44, tr.1-5], [51]

Theo A.Woolfolk, học tập hợp tác là một sự sắp xếp học sinh làm việc theo khả

năng của nhóm và được thưởng trên cơ sở thành công của nhóm mình [50, tr.340],

[51]

Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về dạy học theo nhóm nhưng nhìn chung các định nghĩa trên có điểm tương đồng: dạy học theo nhóm là quá trình dạy học mà giáo viên chia cả lớp thành các nhóm nhỏ và học sinh làm việc theo nhóm,

Trang 28

cùng hợp tác, giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra để đạt được mục tiêu học tập

Theo chúng tôi, dạy học theo nhóm là một quá trình dạy học mà giáo viên chia cả lớp

theo các nhóm để cùng hợp tác, chia sẻ, giải quyết vấn đề mà giáo viên đưa ra, đạt

được mục tiêu học tập

1.5.2 Tầm quan trọng của dạy học theo nhóm

Theo Catherine MeFarhane, thuộc Trung tâm phát triển Giáo dục ở Birmingham (nước Anh), đề xuất 6 lý do khác nhau tại sao học tập nhóm là điều quan trọng đối với học sinh [41, tr.221]

- Hiệu quả học tập

Nếu tổ chức nhóm tốt, hình thức phù hợp, các em sẽ cùng chia sẻ, sáng tạo và tạo

ra nhiều ý tưởng hay trong học tập, dẫn tới hiệu quả học tập sẽ tốt hơn

Học sinh tự tin chia sẻ ý kiến và ý tưởng trong cuộc thảo luận ở lớp học, đặc biệt

khi các em đang sử dụng ngôn ngữ nói với bạn bè Điều này sẽ tạo dựng lòng tin giữa các thành viên trong nhóm Nhiệm vụ của nhóm là thảo luận, giải quyết các vấn đề mà giáo viên giao cho nhóm, xem xét những ý kiến của mình khác với các thành viên nhóm như thế nào và làm rõ các ý tưởng đó

- Xây dựng sự nhiệt tình

Các thành viên nhóm tích cực, nhiệt tình hoạt động thảo luận trong một khoảng thời gian nhất định Sự nhiệt tình sẽ được hình thành và phát triển qua việc trao đổi và giúp đỡ lẫn nhau

- Học cách đánh giá kinh nghiệm của chính mình

Trang 29

Tất cả học sinh đến trường với kinh nghiệm phong phú và hoạt động theo nhóm

cho phép các em có cơ hội để nói chuyện và chia sẻ điều này với người khác

1.5.3 Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo nhóm

1.5.3.1 Ưu điểm [3, tr.90], [41]

Học tập theo nhóm hình thành cho học sinh các kĩ năng trong quá trình thảo

luận nhóm cùng bạn bè như: kĩ năng giao tiếp (học sinh được nêu quan điểm của mình,

được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về

các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm), kĩ

năng tìm kiếm thông tin, quá trình trao đổi cùng bạn bè hình thành được kĩ năng trình

bày và tiếp nhận thông tin, kĩ năng hợp tác phối hợp cùng bạn để hoàn thành nhiệm vụ

được giao, kĩ năng giải quyết vấn đề,…vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học

sinh thêm phong phú

Các thành viên của nhóm chia sẻ các suy nghĩ, kinh nghiệm, hiểu biết của bản

thân, cùng nhau xây dựng, giải quyết vấn đề giáo viên yêu cầu vì vậy kiến thức sâu

sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi các thành viên

trong nhóm

Học sinh chủ động tiếp thu được kiến thức, phát huy được tính tích cực, trách

nhiệm cá nhân trong thảo luận nhóm

Không khí lớp học sôi nổi, sinh động do có nhiều hình thức hoạt động Học

sinh hào hứng hơn khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp

Phát huy được tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp khi trao đổi, thảo

luận giải quyết vấn đề, nâng cao được kết quả học tập

Học tập theo nhóm giúp những học sinh nhút nhát, thiếu tự tin có cơ hội phát

biểu, trình bày ý kiến Do trao đổi cùng bạn bè, học sinh cởi mở hơn, trở nên mạnh dạn

hơn, giúp học sinh dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, từ đó trở nên tự tin, năng động,

hứng thú trong học tập

Qua việc học sinh trình bày kết quả thảo luận, phản hồi, giáo viên hiểu rõ hơn

trình độ học sinh trong lớp, từ đó mà có những giải pháp phù hợp với khả năng của

học sinh

Trang 30

Thảo luận nhóm góp phần giáo dục cho học sinh những tính cách tích cực như tinh thần trách nhiệm với công việc của mình, tự tin hơn, biết lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác, biết giúp đỡ những người xung quanh và đoàn kết với bạn bè

Với diện tích phổ biến 48m2 mỗi phòng học ở trường Tiểu học thì đối với những lớp đông học sinh, giáo viên khó tổ chức các nhóm nhiều học sinh vì phải thay đổi cách tổ chức không gian lớp học, làm xáo trộn chỗ ngồi và mất nhiều thời gian tổ chức

Thời gian thảo luận có thể bị kéo dài mà quy định mỗi tiết học ở các lớp 4, 5 chỉ có 40 phút nhưng giáo viên phải truyền đạt đầy đủ kiến thức

Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán, đi lệch hướng hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau khi thảo luận nhóm

Giáo viên bỏ ra nhiều thời gian, công sức để chuẩn bị Nếu áp dụng cứng nhắc

sẽ gây mất hứng thú với học sinh

Một số thành viên còn ỷ lại, trông chờ vào các bạn trong nhóm hoặc có suy nghĩ chủ quan, hay có hiện tượng tách nhóm [22, tr.118]

1.5.4 Một số cấu trúc tổ chức dạy học theo nhóm

1.5.4.1 Cấu trúc nhóm STAD (Student Teams Achievements Divison - Đội

thành tích) [56], [55]

STAD là một chiến lược của học tập hợp tác, trong đó mỗi nhóm nhỏ học sinh

từ 4 đến 5 thành viên, có trình độ, giới tính, dân tộc, mức độ, khả năng khác nhau và cùng học học tập, kết hợp với nhau để hoàn thành mục tiêu học tập chung Do đó, mỗi nhóm như là một mô hình thu nhỏ của cả lớp Hình thức STAD này thích hợp nhất để giảng dạy các mục tiêu rõ ràng, việc khen thưởng học sinh được nhấn mạnh nhiều hơn

Trang 31

vào nhóm chứ không phải cá nhân Ý tưởng chính của mô hình STAD là khuyến khích học sinh động viên và giúp đỡ lẫn nhau để nắm vững các kĩ năng Mô hình học tập này được sáng tạo bởi Robert Salvin và các cộng sự của ông tại Đại học Johns Hopkins

* Các bước chính khi giáo viên thực hiện triển khai STAD:

Bước 1: Giáo viên giới thiệu chủ đề, mục tiêu bài học

Bước 2: Thành lập nhóm học tập, tổ chức chia học sinh thành các nhóm có các

thành viên không đồng nhất (cả khả năng học vấn và giới tính) Chức năng của nhóm này là khuyến khích hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau tìm hiểu về nội dung của bài học được giao để hoàn thành các nhiệm vụ học tập

Bước 3: Cho học sinh thực hiện bài kiểm tra Sau khi nghiên cứu trong nhóm

xong, các thành viên hoàn thành bài kiểm tra Bài kiểm tra được tổ chức với mục đích xác định hoặc đo lường khả năng học sinh về mức độ hiểu tài liệu đã được nghiên cứu Trong bài kiểm tra này, học sinh làm bài cá nhân, không được phép làm việc với bạn mình Mục đích của bài kiểm tra là để khuyến khích học sinh thử và chịu trách nhiệm cá nhân Ngoài trách nhiệm cá nhân, học sinh cũng phải nhận ra rằng sự thành công của bản thân sẽ rất có giá trị để đóng góp cho sự thành công của nhóm

Bước 4: Tiến hành học nhóm trao đổi về nội dung chưa nắm chắc qua bài kiểm

tra lần 1 Tiến hành làm bài kiểm tra cá nhân lần thứ 2 (bài tập vận dụng ở mức độ cao hơn)

Bước 5: Đánh giá, khen thưởng Khen thưởng được trao cho nhóm, đánh giá

cao những nỗ lực đã được thực hiện trong quá trình nghiên cứu, học tập nhóm

* Các nguyên tắc của STAD:

- Mỗi thành viên của nhóm chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động thực hiện trong nhóm và phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với nhiệm vụ học tập của mình

- Các thành viên của nhóm nên biết rằng tất cả các bạn trong nhóm đều có các mục tiêu, nhiệm vụ học tập

- Tất cả các thành viên sẽ được đánh giá

- Các học sinh của nhóm phải chia sẻ kĩ năng lãnh đạo và cần trao đổi chung trong quá trình học tập

Trang 32

* Ưu điểm:

- Học sinh làm việc cùng nhau, hỗ trợ, chia sẻ trong học tập để đạt được các mục tiêu bằng cách duy trì các tiêu chuẩn của nhóm

- Đánh giá dựa trên sự cố gắng, nỗ lực của cá nhân

- Đề cao sự nỗ lực của học sinh yếu, có thể đem lại sự thành công cho nhóm dựa vào sự nỗ lực của bản thân nên giúp các em tự tin, đoàn kết hơn

- Hạn chế được hiện tượng tách nhóm

* Hạn chế:

- Học sinh phải kiểm tra hai lần

- Để tổ chức giảng dạy theo hình thức này, yêu cầu phải có một thời gian dài cho học sinh hoạt động nhóm, vì vậy khó để đảm bảo được mục tiêu chương trình giảng dạy

- Mất khá nhiều thời gian để tiến hành hoạt động này, đòi hỏi giáo viên phải

có các kĩ năng để tổ chức cho học sinh hợp tác hiệu quả

1.5.4.2 Cấu trúc nhóm Jigsaw (Ghép hình) [57], [55]

- Cấu trúc nhóm Jigsaw là một kĩ thuật học tập hợp tác nghiên cứu được phát

minh và phát triển vào đầu những năm 1970 bởi Elliot Aronson và các sinh viên của ông tại Đại học Texas và Đại học California Từ năm 1971, hàng ngàn lớp học đã sử dụng ghép hình với thành công lớn Hình thức này làm giảm sự xung đột giữa các học sinh và tăng sự trải nghiệm trong học tập, làm tăng kết quả giáo dục tích cực, cải thiện kết quả bài kiểm tra của học sinh, hình thức này đã chuyển một bầu không khí lớp học

từ cạnh tranh sang một sự hợp tác, mang tính phụ thuộc lẫn nhau; không học sinh nào thành công hoàn toàn, trừ khi các các em làm việc với nhau thành một nhóm Sự tương tác giữa các học sinh trong lớp dẫn đến các học sinh đánh giá lẫn nhau như những người đóng góp vào công việc chung của mình

* Các bước chính khi thực hiện Jigsaw:

- Bước 1: Chia học sinh thành các nhóm (5 đến 6 học sinh), các nhóm nên có

sự đa dạng về khả năng, giới tính, dân tộc,…

- Bước 2: Các nhóm chọn một người làm trưởng nhóm (có khả năng lãnh

đạo)

Trang 33

- Bước 3: Giáo viên chia bài học thành nhiều chủ đề nhỏ, phân công mỗi

nhóm đảm nhiệm một chủ đề

- Bước 4: Mỗi thành viên của nhóm chịu trách nhiệm tìm hiểu một khía cạnh hoặc phân đoạn nào đó trong chủ đề của nhóm mình

- Bước 5: Cá nhân học sinh tự tìm hiểu về yêu cầu nhiệm vụ của mình trước

- Bước 6: Hình thành “nhóm chuyên gia” tạm thời bằng cách cho một học

sinh từ mỗi nhóm ghép nối với các học sinh khác được phân công cùng nhiệm vụ, quy

định thời gian thảo luận

- Bước 7: Sau khi thảo luận ở “nhóm chuyên gia” xong, cho học sinh quay trở lại nhóm cũ ban đầu

- Bước 8: Mỗi thành viên ở “nhóm chuyên gia” trình bày lại phần của mình

cho cả nhóm, khuyến khích học sinh trong nhóm đặt câu hỏi làm rõ vấn đề hơn Điều này bắt buộc mỗi thành viên phải chú ý nghe giảng phần của bạn, nếu không sẽ không

làm tốt bài kiểm tra Sự phối hợp này giống như trò chơi ghép hình

- Bước 9: Giáo viên theo dõi, quan sát quá trình hoạt động nhóm, giúp đỡ khi

cần thiết

- Bước 10: Học sinh làm bài kiểm tra cá nhân, bài kiểm tra gồm đủ các nội

dung của bài học

Nếu theo cấu trúc Jigsaw II của Slavin thì bỏ qua bước thảo luận chung của nhóm chuyên gia

* Ưu điểm:

- Dễ thực hiện và có hiệu quả, có thể phối hợp với các chiến lược giảng dạy khác

- Cải thiện được về tình hình học tập của học sinh yếu

- Các thành viên trong nhóm đều bình đẳng, quan trọng như nhau, mỗi người đều phụ thuộc vào tất cả những người khác

- Học sinh đi học đầy đủ, thích thú và không bị áp lực từ giáo viên

- Học sinh tự tìm hiểu được nguồn tài liệu

- Biết lắng nghe, tham gia vào cộng đồng học tập

- Hạn chế được hiện tượng tách nhóm

Trang 34

* Hạn chế:

- Hoạt động thảo luận nhóm tiến hành 2 lần nên mất thời gian di chuyển, dễ gây mất trật tự

- Không gian lớp học: lớp đông, phòng học hẹp sẽ khó tổ chức

1.5.4.3 Cấu trúc nhóm TPS (Think-Pair-Share: cặp đôi chia sẻ) [59], [55]

Think-Pair-Share là một chiến lược giảng dạy hợp tác, trong đó học sinh làm việc theo cặp cùng nhau để giải quyết vấn đề hoặc trả lời câu hỏi ở bài học mà giáo viên yêu cầu Chiến lược này được Frank Lyman của Đại học Maryland đề xuất, được

sử dụng để giúp học sinh hình thành các ý tưởng cá nhân, thảo luận và chia sẻ với thành viên trong nhóm Chiến lược này có thể áp dụng cho rất nhiều hoạt động trong lớp học hàng ngày như đánh giá khái niệm, thảo luận câu hỏi, động não, đánh giá bài kiểm tra, phát triển chủ đề,…Think-Pair-Share giúp học sinh phát triển khái niệm, khả năng lọc thông tin, rút ra kết luận và phát triển khả năng để xem xét các quan điểm khác

Đây là cấu trúc khá đơn giản và dễ thực hiện trong điều kiện thực tế ở các lớp học ở Tiểu học vì khi giáo viên cho học sinh thảo luận theo nhóm đôi, các em chỉ thảo luận với bạn kế bên sẽ không mất thời gian chia nhóm, không làm xáo trộn lớp học và không gây mất trật tự

* Các bước thực hiện:

Bước 1: Think (suy nghĩ): Giáo viên bắt đầu bằng một chủ đề hoặc một câu

hỏi đặt ra cho học sinh Học sinh phải suy nghĩ về một chủ đề đó hoặc suy nghĩ tìm câu trả lời cho câu hỏi của giáo viên đặt ra trong một khoảng thời gian nhất định Giáo viên có thể gợi ý để học sinh định hướng nhanh hơn trong mỗi hoạt động

và có quy định thời gian cho hoạt động

Bước 2: Pair (cặp đôi): Mỗi học sinh được ghép nối với một học sinh khác

(có thể ghép với bạn ngồi cạnh hoặc nhóm nhỏ) để tạo thành nhóm

Bước 3: Share (Chia sẻ): Học sinh chia sẻ suy nghĩ của mình với bạn trong

nhóm, thảo luận ý tưởng và đặt câu hỏi về những suy nghĩ của các em về chủ đề đó ở trong nhóm để hiểu rõ vấn đề hơn Sau đó giáo viên mở rộng chia sẻ thành một cuộc

Trang 35

thảo luận toàn lớp bằng cách đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung thêm ý kiến

- Dễ thực hiện, không mất nhiều thời gian để tổ chức thực hiện

- Không gây xáo trộn chỗ ngồi mà vẫn huy động được học sinh làm việc cùng nhau (nếu cho học sinh thảo luận nhóm cặp với bạn ngồi cạnh)

* Hạn chế:

- Học sinh có thể dựa dẫm, ỷ lại vào thành viên trong nhóm

- Giáo viên khó kiểm soát được mọi hoạt động của học sinh trong cùng một lúc

1.5.4.4 Cấu trúc nhóm kim tự tháp

Đây là hình thức mở rộng của nhóm Think pair share (TPS), sau khi thảo luận theo cặp, hai cặp sẽ kết hợp lại thành nhóm 4 người để hoàn thành một nhiệm vụ có liên quan Nếu cần thiết thì 4 người này sẽ ghép tiếp với 4 người khác để thành nhóm

8 người

Tùy theo nội dung mà giáo viên thiết kế các hoạt động giải quyết vấn đề cuối cùng cần bao nhiêu thành viên trong một nhóm

1.5.4.5 Cấu trúc nhóm GI (Group Investigation - điều tra nhóm) [49]

Mô hình điều tra nhóm được Hebert Thelent mô tả năm 1960, sau đó Sharan và các đồng sự của ông ở trường đại học Tel Aviv mở rộng và cải tiến Điều tra nhóm giúp học sinh tìm hiểu cách điều tra các chủ đề một cách có hệ thống và phân tích Điều tra nhóm cung cấp cho giáo viên một chiến lược giảng dạy để đạt được cả

ba mục tiêu: hỏi đáp, học hỏi nội dung và học tập hợp tác Khi chia nhóm, phải đảm bảo các em học sinh có trình độ khác nhau được kết hợp lại với nhau Ngoài ra, hoạt

Trang 36

động được cung cấp trong điều tra của nhóm phải thú vị để học sinh cảm thấy bầu không khí sinh động trong lớp học và quan tâm đến việc học

* Các bước thực hiện:

Bước 1: Giáo viên sẽ trình bày các chủ đề nghiên cứu trong lớp

Bước 2: Giáo viên chia nhóm, học sinh sẽ chọn chủ đề thảo luận mà giáo viên

đưa ra và tạo thành các nhóm từ 4 đến 5 thành viên dựa trên chủ đề mà học sinh muốn nghiên cứu

Bước 3: Lập kế hoạch hoạt động nhóm hợp tác: nhóm học sinh lập kế

hoạch giải quyết vấn đề được giao, giáo viên cần cung cấp cho nhóm một số tư liệu cần thiết

Bước 4: Thực hiện kế hoạch: mỗi thành viên trong nhóm sẽ tự mình nghiên

cứu, tìm kiếm thông tin cho chủ đề của mình

Bước 5: Khi mỗi thành viên nhóm đã hoàn thành các phần tương ứng, các

thành viên nhóm sẽ tập hợp để thảo luận về những phát hiện của mình và phân tích các thông tin, kiến thức thu được để từ đó có các ý tưởng hay cho bài thuyết trình của nhóm

Bước 6: Báo cáo – thuyết trình kết quả: nhóm sẽ trình bày kết quả thảo luận,

Buổi báo cáo là để thể hiện kết quả quá trình làm việc của nhóm

Bước 7: Sau khi trình bày kết quả thảo luận, mỗi thành viên trong nhóm sẽ

hoàn thành việc đánh giá, tự đánh giá Giáo viên phải thiết kế các tiêu chí đánh giá phù hợp, đề cao tính hợp tác của học sinh

* Ưu điểm

- Học sinh tích cực trong học tập

- Xây dựng cho học sinh các kĩ năng xã hội và giải quyết vấn đề

- Giúp học sinh truyền đạt ý kiến của mình với người khác

- Tránh được tình trạng ăn theo, học sinh sẽ rèn được kĩ năng làm việc theo nhóm

* Hạn chế

Hình thức này mất nhiều thời gian để tổ chức thực hiện

Trang 37

1.5.4.6 Cấu trúc nhóm TGT (Teams-Games-Tournaments) [55], [52]

Teams-Games-Tournaments (TGT) là một trong những chiến lược học tập do Robert Slavin thiết kế, là một loại hình học tập hợp tác giữa các học sinh trong các nhóm học bao gồm 3 đến 4 em có khả năng, giới tính và dân tộc khác nhau để học tập và chơi một trò chơi nhỏ Điều này cho phép học sinh được khuyến khích học hỏi và có một số kiến thức thú vị TGT làm tăng kĩ năng cơ bản, thành tích học tập và sự tương tác tích cực giữa các học sinh Hình thức làm việc nhóm giống như cấu trúc nhóm STAD nhưng thay thế các câu đố với các giải đấu, trong đó học sinh chơi các trò chơi học thuật với các thành viên của các đội khác đóng góp điểm cho điểm số của đội [49, tr.8]

* Các bước thực hiện:

Bước 1: Giáo viên trình bày tài liệu, mục tiêu, nhiệm vụ, cung cấp động cơ học

tập cho học sinh

Bước 2: Chia nhóm theo khả năng học lực của học sinh Học sinh làm việc

theo nhóm từ 3 đến 4 người có khả năng học vấn, giới tính và dân tộc khác nhau Các nhóm thảo luận nhóm để giải quyết vấn đề học tập với nhau

Bước 3: Trò chơi: các thành viên thi đấu với nhau (các thành viên cùng số

kiểm tra cùng một đề) Mục đích của trò chơi này là tìm hiểu xem tất cả các thành viên trong nhóm có nắm được bài học không, trong đó các câu hỏi - những câu hỏi liên quan đến bài học được cung cấp đã được thảo luận trong các hoạt động nhóm

Bước 4: Giải thưởng dựa trên điểm trung bình của nhóm từ trò chơi

- Tạo được thái độ tích cực cho học sinh như hợp tác, trách nhiệm,…

- Giúp học sinh thể hiện ý tưởng hoặc truyền đạt ý tưởng trong học tập

- Phát triển không khí huyên náo trong lớp học; sự tham gia của học sinh vào học tập cao hơn

Trang 38

* Hạn chế:

- Đối với giáo viên mới làm quen mô hình này sẽ mất nhiều thời gian

- Yêu cầu cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng đầy đủ

1.5.5 Một số cách chia nhóm [37, tr.156 -158], [36, tr.78-80], [2, tr.80], [11]

Từ việc nắm chắc nội dung, đối tượng học sinh trong lớp, đồ dùng dạy học,…mà giáo viên chọn cách chia nhóm sao cho phù hợp với điều kiện của lớp học Khi không cần sự phân biệt giữa các đối tượng học sinh, khi mọi học sinh đều phải hoạt động để cùng giải quyết vấn đề, cùng tìm hiểu kiến thức mới, cùng rèn kĩ năng; nhiệm vụ được giao gần giống như nhau Có thể chia nhóm một cách ngẫu nhiên hoặc theo chủ định,

có thể giao cho các nhóm cùng một công việc hoặc các công việc khác nhau

* Chia ngẫu nhiên:

Để chia nhóm ngẫu nhiên, giáo viên có thể chia theo tổ, chia theo bàn, chia theo thứ tự trong danh sách lớp, chia theo số thứ tự giống nhau trong cách đếm lặp đi lặp lại, bốc thăm, phát thẻ,…Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo tất cả học sinh đều có

thể học tập chung nhóm với tất cả các học sinh khác Thường dùng khi không cần sự

phân biệt giữa các đối tượng học sinh, khi mọi học sinh đều phải hoạt động để cùng giải quyết vấn đề, cùng tìm hiểu kiến thức mới, cùng rèn kĩ năng; nhiệm vụ được giao gần giống như nhau

Cách chia này có ưu điểm là khả năng giao tiếp rộng giữa các đối tượng trong lớp Các em thấy cơ hội phân vào các nhóm là như nhau Các nhóm tương đối đồng đẳng về số lượng người

Hạn chế: Một số học sinh không phù hợp, không biết cá tính của nhau trong giai đoạn đầu học tập tương tác có thể chưa thật ăn ý, cũng có thể nhóm toàn học sinh giỏi hoặc còn yếu, trình độ giữa các nhóm sẽ không đều

Nếu chia nhóm theo kiểu này thì giáo viên cần giao nhiệm vụ cho học sinh sao cho phù hợp với nhiều trình độ, mức độ khác nhau Có như vậy mới tận dụng hết được khả năng của mỗi học sinh trong nhóm

* Chia thành các nhóm cùng trình độ:

Thông thường khi cần có sự phân hóa về mức độ khó - dễ của một nội dung bài học, bài tập cho từng loại đối tượng Ta thông thường chia thành 4 nhóm: giỏi, khá,

Trang 39

trung bình và yếu Lần lượt giao nhiệm vụ cho các nhóm theo các mức độ yêu cầu khác nhau

Ưu điểm chính của hình thức chia nhóm này là đảm bảo sự phân hóa đối tượng học sinh, giúp cho mỗi nhóm đều phát triển năng lực theo khả năng có thể

Hạn chế: Nếu giáo viên không khéo léo, một số học sinh sẽ có cảm giác phân biệt đối xử

rõ Ngược lại học sinh khá giỏi thông qua việc sửa lỗi, góp ý cho học sinh yếu cũng rút

ra kinh nghiệm cho bản thân và hiểu sâu, hiểu rõ hơn bài học

Hạn chế: Học sinh yếu có thể ỷ lại vào kết quả làm việc của học sinh khá giỏi [8, tr.53]

* Chia theo vị trí ngồi của học sinh [30, tr.165]

Giáo viên có thể chia các em cùng bàn hay bàn gần nhau thuộc cùng một nhóm Khi đó trình độ học tập của học sinh trong nhóm sẽ là ngẫu nhiên Giáo viên có thể linh hoạt chuẩn bị sắp xếp chỗ ngồi trước khi tiến hành tiết dạy để có thể đảm bảo sự đồng đều về trình độ giữa các nhóm khi tiến hành theo cách chia nhóm này và khi đó học sinh sẽ không quá bỡ ngỡ khi được phân vào nhóm mới vì các em đã có thời gian làm quen với các bạn

Cách chia này có ưu điểm là đơn giản, lớp học ít bị xáo trộn và đỡ mất thời gian nên được sử dụng khá phổ biến

1.5.6 Nguyên tắc khi tổ chức dạy học theo nhóm

Không phải lúc nào các nhóm đều hợp tác với nhau, như đặt mọi người trong cùng một phòng, ngồi lại với nhau, cho rằng đó là một nhóm, không có nghĩa nhóm

Trang 40

này sẽ hợp tác hiệu quả Vì vậy, để dạy học nhóm đạt chất lượng, chúng ta cần lưu ý năm yếu tố cơ bản, cần thiết cho việc học nhóm thành công mà D.W Johnson và R Johnson đã công bố: sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau, trách nhiệm của mỗi cá nhân trong nhóm, tương tác trực tiếp “mặt đối mặt”, kĩ năng xã hội trong hoạt động nhóm

và đánh giá nhóm [42], [45], [55], [53]

1.5.6.1 Sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau

Giáo viên phải cung cấp nhiệm vụ, mục tiêu cho nhóm rõ ràng Mọi thành viên trong nhóm phải nhận thức rằng, nhóm muốn thành công khi mọi người trong nhóm đều cố gắng thực hiện nhiệm vụ được giao, do đó phải cần có sự nỗ lực của tất

cả mọi người trong nhóm Khi hoạt động theo nhóm, một học sinh có hai trách nhiệm: tìm hiểu các tài liệu được giao - phần nhiệm vụ cá nhân và đảm bảo rằng tất cả các thành viên của nhóm phải hiểu được nội dung mà mình đảm nhận - phần hợp tác Chính vì vậy, các thành viên có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau Các điều kiện của nguyên tắc này:

- Mục đích học tập cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ được giao

- Mỗi thành viên đều hoàn thành công việc được giao

- Sự thành công của nhóm cũng là sự thành công của mỗi thành viên nên phần thưởng hoặc điểm chung sẽ cho cả nhóm

- Phân chia công việc cho mỗi thành viên cụ thể

1.5.6.2 Trách nhiệm của mỗi cá nhân trong nhóm

Cả nhóm phải chịu trách nhiệm cho việc đạt được mục tiêu của mình Mỗi thành viên phải có trách nhiệm đóng góp phần của mình trong công việc Trách nhiệm và phần việc cá nhân phải được phân công rõ ràng và có sự kiểm tra đánh giá của các thành viên còn lại trong nhóm Nhóm phải biết từng thành viên trong nhóm đang làm gì, gặp những khó khăn hay thuận lợi gì Nguyên tắc này đảm bảo để không thành viên nào trong nhóm có thể ngồi chơi hay làm hết mọi việc cho bạn Những phương pháp cơ bản để đảm bảo cho nguyên tắc này là:

- Học nhóm nhưng kiểm tra cá nhân

- Chọn một thành viên bất kì để trả lời phần thảo luận nhóm

- Mỗi thành viên tự giải thích được về phần việc của mình

Ngày đăng: 03/04/2018, 15:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa học và Công nghệ (2011), TCVN 8793 Trường tiểu học – Yêu cầu thiết kế, xuất bản lần 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TCVN 8793 Trường tiểu học – Yêu cầu thiết kế
Tác giả: Bộ Khoa học và Công nghệ
Năm: 2011
2. Bộ giáo dục và Đào tạo (2001), Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học môn Toán Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về nội dung và phương pháp dạy học môn Toán Tiểu học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Toán và Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán và Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Dạy lớp 4 theo chương trình Tiểu học mới, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy lớp 4 theo chương trình Tiểu học mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2007
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Dạy lớp 5 theo chương trình Tiểu học mới, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy lớp 5 theo chương trình Tiểu học mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2007
7. Bộ giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo dục học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Tâm lí học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
10. Bộ giáo dục và Đào tạo (2010), Nghiên cứu Khoa học sư phạm ứng dụng, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Khoa học sư phạm ứng dụng
Tác giả: Bộ giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2010
11. Vũ Quốc Chung, Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Nguyễn Hùng Quang, Lê Ngọc Sơn (2007), Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học
Tác giả: Vũ Quốc Chung, Đào Thái Lai, Đỗ Tiến Đạt, Trần Ngọc Lan, Nguyễn Hùng Quang, Lê Ngọc Sơn
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2007
12. Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier (2010), Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Văn Cường, Bernd Meier
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2010
13. Phạm Thị Dung (2013), Tổ chức dạy học theo nhóm chương “Dao động cơ” Vật lí 12, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức dạy học theo nhóm chương “Dao động cơ” Vật lí 12
Tác giả: Phạm Thị Dung
Năm: 2013
14. Trần Trịnh Minh Hòa (2013), Tổ chức học sinh giải bài tập Vật lí theo nhóm trong dạy học chương các định luật bảo toàn lớp 10 ban nâng cao”, Luận văn thạc sĩ giáo dục học, Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức học sinh giải bài tập Vật lí theo nhóm trong dạy học chương các định luật bảo toàn lớp 10 ban nâng cao
Tác giả: Trần Trịnh Minh Hòa
Năm: 2013
15. Đỗ Đình Hoan (2013), Sách Giáo viên Toán 4, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Giáo viên Toán 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2013
16. Đỗ Đình Hoan (2013), Sách Giáo viên Toán 5, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách Giáo viên Toán 5
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2013
17. Đỗ Đình Hoan (2005), Toán 4, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán 4
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2005
18. Đỗ Đình Hoan (2006), Toán 5, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toán 5
Tác giả: Đỗ Đình Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2006
19. Trần Bá Hoành (2007), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
20. Trần Bá Hoành (2002), Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực, Tạp chí giáo dục, số 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w