Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TNXH (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Phương Thảo
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP BA
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Hồ Thị Phương Thảo
MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO HỌC SINH LỚP BA
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ THỊ ÂN
Thành phố Hồ Chí Minh - 2017
Trang 3quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, được thu thập từ thực tế
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực của luận văn
Người viết
Hồ Thị Phương Thảo
Trang 4tôi nhiều kỉ niệm đẹp và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức hữu ích về chuyên môn cũng như những kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Thị Ân, người đã hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn Cô là một giảng viên hướng dẫn đầy tận tình, trách nhiệm trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn Với lòng biết ơn của mình, tôi kính gửi đến Cô lời chúc sức khỏe để tiếp tục dẫn dắt, truyền dạy cho chúng tôi những kinh nghiệm phong phú của Cô trên con đường giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô trong Khoa đã cho nhiều ý kiến đóng góp quý báu để luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi cũng xin cảm ơn các Thầy Cô, Cán bộ thuộc phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Bên cạnh đó, tôi cũng trân trọng cảm ơn thầy Trương Văn Anh Tuấn, hiệu trưởng trường Tiểu học Âu Cơ, quận Tân Phú; cô Võ Thị Viễn Nguyên, hiệu trưởng trường Tiểu học Hưng Việt, quận 11; thầy Lương Vĩnh Quang, hiệu trưởng trường Tiểu học Hòa Bình đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình tìm hiểu thực tế và thực nghiệm ở trường
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình vì luôn là chỗ dựa vững chắc cho tôi ở mọi thời điểm Và tôi muốn gửi lời cảm ơn cùng lời chúc thành công đến tập thể lớp Cao học Giáo dục học (Tiểu học) K26, bạn bè và người thân vì đã chia sẻ cùng tôi nhiều khó khăn trong quá trình học tập cũng như quá trình thực hiện luận văn này
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Hồ Thị Phương Thảo
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP MRVT TRONG DẠY HỌC MÔN TN&XH LỚP BA 5
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở tâm lý học 9
1.2.1 Tâm lý tiếp nhận từ ngữ của học sinh 9
1.2.2 Chú ý và ghi nhớ có chủ đích 10
1.3 Cơ sở lý luận dạy học 11
1.3.1 Tích hợp và dạy học tích hợp 11
1.3.2 MRVT theo hướng dạy học tích hợp 13
Tiểu kết chương 1 18
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MRVT TRONG DẠY HỌC MÔN TN&XH CHO HS LỚP BA Ở MỘT SỐ TRƯỜNG TIỂU HỌC 19
2.1 Chương trình môn TN&XH3 19
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình 19
2.1.2 Nội dung chương trình 19
2.2 Nội dung mở rộng vốn từ ở lớp 3 21
2.3 Mối liên hệ giữa dạy học MRVT với dạy học TN&XH 21
2.4 Thực trạng dạy học môn TN&XH tích hợp MRVT cho HS lớp Ba hiện nay 24
2.4.1 Nhận thức của GV về tích hợp MRVT trong dạy học TN&XH 24
Trang 6Chương 3 XÂY DỰNG VÀ THỬ NGHIỆM HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
MÔN TN&XH NHẰM PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO
HỌC SINH 36
3.1 Xây dựng hoạt động dạy học môn TN&XH nhằm phát triển vốn từ cho học sinh 36
3.1.1 Hoạt động quan sát 37
3.1.2 Hoạt động liên hệ thực tế 43
3.1.3 Hoạt động thực hành sáng tạo 51
3.1.4 Hoạt động trò chơi 52
3.2 Thực nghiệm 56
3.2.1 Đối tượng, phạm vi thực nghiệm: 56
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 57
3.2.3 Kết quả thực nghiệm và nhận xét 58
Tiểu kết chương 3 62
KẾT LUẬN 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC
Trang 7HS : học sinh
LT&C : Luyện từ và câu
TN&XH3 : Tự nhiên và xã hội lớp 3
Trang 8Bảng 2.2 Sự tương ứng về nội dung các chủ điểm giữa môn Tiếng Việt và môn
TN&XH lớp Ba 23 Bảng 3.1 Bảng phân loại rác thải (được tổng hợp bởi ALPHA Hà Nội) 46 Bảng 3.2 Kết quả xếp loại điểm bài kiểm tra của 2 nhóm ở trường Th HV, Q.11
và trường Th AC, Q.Tân Phú 59 Bảng 3.3 Kết quả xếp loại điểm bài kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm và
đối chứng 59 Bảng 3.4 Biểu đồ kết quả xếp loại điểm bài kiểm tra của 2 nhóm thực nghiệm
và đối chứng 60 Bảng 3.5 Kiểm định độ tin cậy về chênh lệch của hai giá trị trung bình cộng
của hai nhóm ở trường Th HV, Q.11 và trường Th AC, Q.Tân Phú 60 Bảng 3.6 Kiểm định độ tin cậy về chênh lệch của hai giá trị trung bình cộng của
hai nhóm 61
Trang 9Hình 3.2 Hình ảnh về nước thải sinh hoạt gia đình và nước thải công nghiệp 39 Hình 3.3 Hình ảnh con kênh rác và bãi rác mà GV có thể sử dụng trong hoạt
động quan sát 41 Hình 3.4 Hình minh họa giúp HS nhận biết những vật dễ cháy 44 Hình 3.5 Sơ đồ các từ ngữ thuộc về giao thông 49 Hình 3.6 Sơ đồ sử dụng trong hoạt động giúp HS tìm hiểu khái niệm Giao
thông vận tải 50 Hình 3.7 Hình ảnh minh họa trò chơi “Ai tinh mắt hơn” 54 Hình 3.8 Đáp án trò chơi giải ô chữ 56
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tìm hiểu mọi thứ hiện hữu xung quanh là một trong những nhu cầu tất yếu của trẻ em nói chung, trẻ em tiểu học nói riêng Mối quan tâm và sự tò mò của học sinh đến từ thế giới xung quanh: thiên nhiên, cây cối, dòng người và xe cộ di chuyển, mà trẻ thơ bất chợt gặp trên đường Những câu hỏi, những thắc mắc luôn xuất hiện trong đầu các em Chẳng hạn như: Tại sao lá cây có màu xanh, màu vàng mà không phải là màu đen, tại sao trong câu chuyện cổ tích ông bụt luôn là người tốt bụng? Cùng đó là những mong muốn, khát khao tìm kiếm lời giải đáp và được giải đáp Để tự trả lời và được trả lời cần có là một hệ thống từ ngữ phong phú Do đó, chúng ta hiểu vì sao mở rộng vốn từ được xem là một trong những nội dung trọng tâm của môn Tiếng Việt ở tiểu học Mở rộng vốn từ không những giúp học sinh tiếp nhận tri thức qua sách vở, qua bài giảng mà còn giúp cho việc rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ, củng cố và phát triển kĩ năng giao tiếp của các em Hầu như trong tất cả các môn học luôn có yêu cầu giải nghĩa những từ mới, những từ khó hiểu để việc lĩnh hội kiến thức trở nên dễ dàng Một khi có vốn từ phong phú, học sinh có thể tự diễn đạt những điều mình muốn
Ở lớp ba, phân môn Tập làm văn đòi hỏi học sinh phải viết được đoạn văn hoàn
chỉnh về những chủ điểm mới, phải tìm hiểu về chủ đề mình cần Vốn từ vựng của học sinh phải được phát triển mỗi ngày để đáp ứng yêu cầu đó Như vậy mở rộng vốn từ
không chỉ là nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu Tất cả các phân môn trong môn
Tiếng Việt, môn Toán, Đạo đức, TN&XH…, việc mở rộng vốn từ cần phải được quan tâm Mở rộng vốn từ thông qua các môn học chính là một hướng thực hiện quan điểm dạy học tích hợp
Chương trình môn TN&XH (lớp 1, 2, 3) được xây dựng theo quan điểm tích hợp
kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau như: sức khỏe, dân số, môi trường, kỹ năng sống, ngôn ngữ,… Tuy nhiên, việc dạy học tích hợp TN&XH với ngôn ngữ chưa được quan tâm đúng mức Nếu có sự tích hợp giữa môn TN&XH với mở rộng vốn từ sẽ tạo được sự gắn kết chặt chẽ về nội dung giữa hai môn học Việc lĩnh hội kiến thức do vậy thuận lợi hơn, tạo sự hứng thú cho người học
Trang 11Mối liên hệ chặt chẽ về nội dung giữa môn tự nhiên xã hội và mở rộng vốn từ cho ta thấy được tầm quan trọng của việc mở rộng vốn từ cho học sinh tiểu học trên mọi lĩnh vực đời sống Việc học sẽ đạt hiệu quả cao khi học sinh có vốn kiến thức và
vốn từ vựng phong phú Chính vì những lí do nêu trên mà tôi chọn đề tài “Mở rộng
vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua hoạt động dạy học môn TN&XH”
2 Mục đích nghiên cứu
Từ việc khảo sát lý luận và thực tiễn của việc tích hợp MRVT trong dạy học môn
Tự nhiên và xã hội, chúng tôi xây dựng các biện pháp giúp HS MRVT trong dạy học môn TN&XH
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, chúng tôi tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:
1 Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến đề tài;
2 Nghiên cứu thực tiễn, tìm hiểu thực trạng MRVT trong dạy học môn TN&XH cho
HS lớp Ba ở một số trường Tiểu học hiện nay;
3 Xây dựng và thử nghiệm hoạt động dạy học môn TN&XH nhằm phát triển vốn từ cho học sinh
4 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
a Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy học môn TN&XH tích hợp MRVT cho học sinh lớp Ba
b Đối tƣợng nghiên cứu:
Phát triển vốn từ cho học sinh lớp Ba trong dạy học môn TN&XH
5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
a Giới hạn nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu việc MRVT cho HS thông qua hoạt động dạy học các
bài học thuộc chủ đề Xã hội trong chương trình TN&XH lớp Ba Nội dung của các bài
học thuộc chủ đề này gần gũi với học sinh và cũng có nhiều liên quan đến chủ điểm chương trình Tiếng Việt lớp Ba
b Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tiến hành nghiên cứu kế hoạch bài dạy của 16 bài học thuộc chủ đề Xã
hội môn TN&XH của 29 GV lớp Ba ở các trường tiểu học HV Q11, TPHCM; trường
Trang 12HB Q11, TP.HCM và trường AC Q.Tân Phú, TP.HCM; xây dựng và thử nghiệm MRVT cho 59 HS lớp Ba thông qua các hoạt động dạy học môn TN&XH tại trường tiểu học HV Q11, TPHCM và trường AC Q.Tân Phú, TP.HCM.
6 Giả thuyết khoa học
Mở rộng vốn từ cho học sinh lớp Ba thông qua các hoạt động dạy học môn TN&XH sẽ giúp việc mở rộng vốn từ cho học sinh có hiệu quả hơn Không chỉ giúp học sinh tăng cường vốn từ, nâng cao khả năng sử dụng từ ngữ còn giúp các em tiếp nhận nội dung môn TN&XH một cách thuận lợi hơn Vốn từ ngữ được mở rộng ấy giúp các em tự tin, linh hoạt trong giao tiếp
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: để nghiên cứu những tài liệu trong nước và
ngoài nước về vấn đề tích hợp; tích hợp giữa dạy tiếng với các môn học khác; về vấn
đề tích hợp trong dạy học và một số quan điểm, cách thức mở rộng vốn từ; phân tích các kế hoạch bài dạy về mục tiêu giảng dạy và nội dung tích hợp khi giảng dạy các bài
học thuộc chủ đề Xã hội môn TN&XH
- Phương pháp quan sát: Trong đề tài, phương pháp quan sát được sử dụng để thu
thập thông tin về thái độ, khả năng chú ý, sự yêu thích khi tham gia các hoạt động học tập của HS nhóm thực nghiệm trong quá trình thử nghiệm các hoạt động dạy học môn TN&XH tích hợp MRVT cho HS lớp Ba Mặt khác, việc quan sát này còn bao hàm cả quá trình quan sát hoạt động dạy – học của cô và trò trong những tiết học TN&XH để chúng tôi tìm hiểu thêm về thực trạng dạy học tích hợp giữa mở rộng vốn từ với môn TN&XH
- Phương pháp thống kê, phân loại: phương pháp này dùng để xử lý các tư liệu
khảo sát, các kết quả thử nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
Phương pháp thực nghiệm là phương pháp quan trọng trong đề tài dùng để thực nghiệm và đưa ra những đánh giá về mức hiệu quả của các hoạt động dạy học TN&XH có tích hợp MTVT cho HS mà đề tài đã xây dựng Thông qua quá trình thực nghiệm, người nghiên cứu có thể thấy được những ưu điểm, hạn chế của các hoạt động
Trang 13đã thiết kế; từ đó, có hướng thay đổi, phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế để việc tích hợp MRVT trong dạy học TN&XH ngày càng tốt hơn và được GV quan tâm nhiều hơn
Chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu 118 HS gồm 59 HS nhóm thực nghiệm và 59
HS nhóm đối chứng thuộc 2 trường tiểu học Trong đó mỗi trường đều có một nhóm thực nghiệm (trường HV Q.11, TP.HCM: 30 HS; trường AC Q.Tân Phú, TP.HCM: 29 HS) và một nhóm đối chứng (trường HV Q.11, TP.HCM: 30 HS; trường AC Q.Tân Phú, TP.HCM: 29 HS)
8 Đóng góp của luận văn
8.1 Về lý luận
Đề tài một lần nữa góp phần tổng hợp những vấn đề về tích hợp trong dạy học,
về mở rộng và củng cố vốn từ cho học sinh từ môn TN&XH
8.2 Về thực tiễn
Đề tài giúp GV có thêm nguồn tài liệu để tham khảo trong quá trình giảng dạy môn TN&XH, góp phần nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ của HS, giúp HS phát triển thêm vốn từ một cách có hệ thống, tạo điều kiện cho HS tiếp nhận kiến thức môn học một cách thuận lợi hơn, giờ học môn TN&XH sôi động, hứng thú hơn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, đề tài được triển
Trang 14Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TÍCH HỢP MRVT
TRONG DẠY HỌC MÔN TN&XH LỚP BA 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Về dạy học theo hướng tích hợp:
Trong những năm gần đây, tích hợp đã trở thành một trong những xu hướng dạy học hiện đại phổ biến trên thế giới Có khá nhiều công trình, tài liệu, bài viết đề cập đến phương diện tích hợp như thế nào là tích hợp, ý nghĩa của dạy học tích hợp, phân loại tích hợp Những nghiên cứu ngoài nước phải kể đến một số tác giả như Clark, Ed (2002), Linn, M.C (2003), Trong đó, Clark, D Và Linn, M.C (2003)
[26] trong Designing for Knowledge Intergration: The Impact of Instruction Time đã nghiên cứu về cách thiết kế các bài dạy tích hợp khoa học Ngoài ra, tài liệu The
Primary Program: Growing and Learning in the Heartland [27] đã đề cập đến tính
hợp lí của việc tích hợp các chương trình giảng dạy: Tích hợp được thừa nhận và xây dựng trên các mối liên hệ tồn tại trong mọi sự vật Một chương trình giảng dạy mang tính tích hợp hàm ý rằng việc học là tổng hợp các môn học và kinh nghiệm học tập được thiết kế hỗ trợ lẫn nhau Nghiên cứu cũng cho thấy rằng cách tiếp cận học tập tích hợp là phù hợp với não bộ Bộ não càng có nhiều sự kết nối thì cơ hội tư duy bậc cao càng nhiều
Ở Việt Nam, tích hợp và dạy học tích hợp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
chuyên gia về giáo dục Trong bài viết Đào tạo – dạy học theo quan điểm tích hợp:
Chúng ta đang ở đâu?, tác giả Hoàng Thị Tuyết (2012) [23] đã phân tích xu hướng
dạy học tích hợp trong chương trình đại học và cả chương trình tiểu học Theo tác giả, chương trình giáo dục phổ thông bậc tiểu học đã đi vào quỹ đạo tích hợp từ sau năm
2000 Mặc dù vẫn còn những hạn chế do nhiều lý do khác nhau, chương trình tiểu học hiện hành và sau 2015 đã và sẽ tiếp tục được phát triển theo hai định hướng tích hợp
đa môn và tích hợp liên môn Trong một nghiên cứu về Dạy học tích hợp trong trường
phổ thông Australia, hai tác giả Nguyễn Kim Hồng và Huỳnh Công Minh Hùng
(2013) [11] đã đề cập đến sự phát triển của dạy học tích hợp ở trường phổ thông Tác giả đã so sánh chương trình dạy học tích hợp với dạy học truyền thống, và đi sâu vào
Trang 15bàn luận về những thực tiễn đã ứng dụng chương trình tích hợp của nền giáo dục Australia Cũng chung vấn đề về dạy học tích hợp ở trường phổ thông, tác giả Võ Văn
Duyên Em (2014) trong Tích hợp trong dạy học bộ môn ở trường phổ thông, tác giả đã
khẳng định dạy học tích hợp là tuân theo quy luật nhận thức của loài người và quy luật phát triển của khoa học, đáp ứng yêu cầu giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm một cách linh hoạt, từ đó hình thành, phát triển đồng thời các năng lực chung và năng lực
có tính chuyên biệt, đăc thù Xu hướng dạy học tích hợp là một xu thế tất yếu, mang đến nhiều lợi ích cho người học Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung (2014) [25, tr14] đã định nghĩa “dạy học tích hợp là dạy học nhằm hình thành ở HS những năng lực giải quyết hiệu quả các tình huống thực tiễn dựa trên sự huy động nội dung, kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau”
Vấn đề dạy học tích hợp được coi là vấn đề trọng tâm của xây dựng chương trình phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Chính vì thế, nước ta đã tổ chức nhiều cuộc hội
thảo để bàn luận về vấn đề này, chẳng hạn là hội thảo Dạy học tích hợp ở tiểu học:
hiện tại và tương lai [24] do Khoa Giáo dục Tiểu học (Trường Đại học Sư phạm
TP.HCM) tổ chức vào tháng 12 Các báo cáo trong hội thảo tập trung bàn thảo 3 vấn đề: (1) Những thành tựu về nghiên cứu và tìm hiểu lí luận dạy học tích hợp trên thế giới và ở Việt Nam; (2) Những thành tựu về ứng dụng lí luận dạy học tích hợp vào thực tiễn xây dựng chương trình sách giáo khoa, giáo trình, và hoạt động giảng dạy; (3) Định hướng và giải pháp cho việc gia tăng năng lực nghiên cứu và ứng dụng lí luận dạy học tích hợp vào dạy học ở trường tiểu học và đào tạo giáo viên tiểu học trong tương lai Tháng 12/2014, Viện Nghiên cứu Giáo dục (Trường Đại học Sư phạm
TP.HCM) đã tổ chức hội thảo Dạy học tích hợp, dạy học phân hóa ở trường trung học
đáp ứng yêu cầu chương trình và sách giáo khoa năm 2015 [25], các bài viết gửi về
hội thảo tập trung vào cơ sở lý luận của dạy học tích hợp và dạy học phân hóa, thực trạng của dạy học tích hợp và dạy học phân hóa tại Việt Nam và tại một số địa phương, giải pháp đáp ứng yêu cầu của dạy học tích hợp và dạy học phân hóa, kinh
nghiệm tại một số nước trên thế giới
Từ những nghiên cứu trên, ta có thể thấy được tầm quan trọng của dạy học tích
Trang 16hợp trong giáo dục hiện nay Dạy học tích hợp là một giải pháp để khắc phục tình trạng mà các nhà giáo dục gặp khó khăn hiện nay Đó là: kiến thức cần truyền đạt cho học sinh thì quá lớn mà thời lượng có hạn Không những thế dạy học tích hợp còn là một giải pháp tăng cường ứng dụng những điều đã học vào thực tế cuộc sống mà cách dạy học truyền thống khó thực hiện được
họ nắm bắt được những cái tinh tế chứa đựng trong đó” [7, tr.248]
Về dạy học mở rộng vốn từ theo hướng tích hợp:
Ở giai đoạn tiểu học, năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh cần được củng cố và phát triển nhiều nhất Đó là một trong những lí do để việc dạy học ngôn ngữ cần được
áp dụng dạy theo hướng tích hợp Một mô hình tích hợp trong dạy ngôn ngữ đang
được áp dụng ở nhiều nước trên giới là Language Arts (Hoàng Thị Tuyết, 2013) [22]
Cụ thể, trong Language Arts, các kĩ năng ngôn ngữ được tích hợp vào trong tất cả các môn học, hoặc các chủ đề thuộc các môn học khác nhau được tích hợp dưới các tiêu đề
“Chủ điểm” trong SGK về ngôn ngữ Thuật ngữ Language Arts được hiểu trong ba
phạm vi: (1) Tích hợp bốn kĩ năng ngôn ngữ: nghe, nói, đọc, viết; (2) Một môn học trong chương trình liên quan đến các kĩ năng diễn đạt ý tưởng theo hình thức ngôn ngữ nói hoặc viết cũng như kĩ năng hiểu ý tưởng của người nói hay người viết; (3) Các lĩnh vực của chương trình liên quan đến việc phát triển khả năng nghe, nói, đọc và viết của
HS Đây cũng là phạm vi rộng nhất Tương ứng với ba lĩnh vực này là ba cách tiếp cận đối với việc thực hiện tích hợp trong dạy tiếng Cách tiếp cận thứ nhất là để cho HS
Trang 17học từng kĩ năng ngôn ngữ trong mối liên hệ với những kĩ năng còn lại Cách tiếp cận thứ hai là dạy mỗi yếu tố ngôn ngữ như là một bộ phận của tổng thể, chứ không phải là một tập hợp của các thành phần riêng lẻ Cách tiếp cận thứ ba là dạy ngôn ngữ thông qua nội dung các môn học khác [22, phần I, tr.85-86]
Bên cạnh đó, vấn đề tích hợp trong dạy học từ ngữ cũng được rất nhiều nhà
nghiên cứu trong nước quan tâm Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (2012) trong Phương
pháp dạy học Tiếng Việt nhìn từ tiểu học cho rằng dạy học theo quan điểm tích hợp
không chỉ là một giải pháp để xử lý mâu thuẫn giữa khối lượng tri thức ngày càng lớn cần đưa vào chương trình giáo dục với thời lượng học tập có hạn của HS mà còn là một giải pháp để tăng cường ứng dụng những điều học được trong chương trình vào cuộc sống [4, tr.26-28] Tác giả Đỗ Hữu Châu (2007) cho rằng từ ngữ là bộ phận của môn Tiếng Việt dễ dàng giảng dạy theo tinh thần tích hợp nhất Theo tinh thần này, SGK cũng như các GV phải định ra được kế hoạch dạy từ ngữ trong giờ Văn, Tiếng Việt, giờ Làm văn sao cho việc dạy từ ngữ phục vụ trực tiếp cho việc dạy văn học, dạy Tiếng Việt, dạy Làm văn và ngược lại, làm sao cho những tri thức văn học, tri thức về ngữ âm, ngữ pháp, văn bản và các kĩ năng tập làm văn hỗ trợ tích cực, sinh động, có
hiệu quả cho việc dạy từ ngữ [7, tr.248] Tác giả Hoàng Thị Tuyết (2013) trong Lý
luận dạy học Tiếng Việt ở tiểu học đã đề cập đến quan điểm tích hợp trong dạy học từ
ngữ Tác giả cho rằng dạy học theo hướng tích hợp là đặt môn tiếng Việt trong mối quan hệ với các môn học khác (như với Đạo đức, TN&XH, Toán…), mối quan hệ giữa các phân môn tiếng Việt (Tập đọc, LT&C, Chính tả…) Theo hướng này, HS cùng lúc
sẽ tiếp nhận được lượng kiến thức phong phú, tư duy của HS phát triển, tính tích cực học tập của HS được tăng cường, các kỹ năng được lặp đi lặp lại trở nên thuần thục Xây dựng bài tập tổng hợp giữa dạy từ ngữ, với dạy đọc, ngữ pháp và làm văn là một hướng thực hiện quan điểm tích hợp trong dạy học từ ngữ [22, phần II, tr.329] Nguyên tắc tích hợp trong dạy từ và câu đã được các tác giả Lê Phương Nga – Đặng
Kim Nga (2007) đề cập đến trong Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học Theo
các tác giả, lượng từ, mẫu câu và các câu nói cụ thể của HS thu nhận được trong giờ LT&C là rất nhỏ so với lượng từ, mẫu câu tiếp nhận được trong các giờ học khác, trong các hoạt động ngoài giờ học cũng như rất nhỏ so với vốn từ, vốn câu cần có của
Trang 18các em Do đó không thể dạy từ và câu bó hẹp trong tiết LT&C mà cần đề ra nguyên tắc tích hợp trong dạy từ, câu Nguyên tắc này đòi hỏi việc dạy LT&C phải được tiến hành mọi nơi, mọi lúc ngoài giờ học, trong tất cả các môn học, trong tất cả các giờ học khác của các phân môn Tiếng Việt [16, tr.186-187] Tác giả Phạm Phương Anh (2014)
trong Xây dựng bài tập TN&XH hỗ trợ rèn kĩ năng đọc, viết cho học sinh lớp Ba [1]
cũng đã thể hiện rõ tinh thần tích hợp giữa việc rèn kĩ năng ngôn ngữ cho học sinh với một môn học khác đó là TN&XH Nối tiếp hướng tích hợp giữa ngôn ngữ với môn học
khác, tác giả Lương Diễm Linh (2015) với Biện pháp mở rộng vốn từ cho học sinh lớp
Bốn thông qua hoạt động dạy học môn Khoa học [14] đã thể hiện những ưu khuyết
điểm của việc tích hợp mở rộng vốn từ cho học sinh thông qua các hoạt động học tập môn Khoa học
Như vậy chúng ta có thể thấy, những nghiên cứu trên đã khẳng định được vai trò của tích hợp trong dạy học đồng thời nhấn mạnh hiệu quả của việc tích hợp dạy học phát triển vốn từ với các môn học khác Đồng thời, , tác giả đề tài chưa tìm thấy các tài liệu của nước ngoài và Việt Nam nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề tích hợp MRVT trong dạy học môn TN&XH Chính vì vậy, chúng tôi muốn tiếp tục xây dựng một tài liệu về dạy học từ ngữ thông qua môn TN&XH, một môn học với khối kiến thức gần gũi với cuộc sống hàng ngày của học sinh
1.2 Cơ sở tâm lý học
1.2.1 Tâm lý tiếp nhận từ ngữ của học sinh
Theo Jean Piaget, giai đoạn từ 7 - 11 tuổi là giai đoạn trẻ em tư duy hiện thực (concrete operations) Ở giai đoạn này, ngôn ngữ được sử dụng để định nghĩa và giải thích thế giới vật chất Trẻ em ghi nhớ những khái niệm cơ bản dưới dạng ngôn ngữ
Mặc dù lứa tuổi này chỉ có tư duy trực quan cụ thể, chưa có khả năng tư duy trừu tượng nhưng trẻ em có thể hiểu những khái niệm trừu tượng gần gũi, mà chúng nhận thức được trong quá trình hệ thống hóa kiến thức bằng ngôn ngữ về thế giới vật chất; và dùng ngôn ngữ để giải thích những khái niệm trừu tượng đó thông qua những vật chất cụ thể thuộc thế giới bên ngoài Ví dụ, trẻ em có thể giải thích khái niệm gia đình như sau: "Gia đình là ngôi nhà có ông bà, cha mẹ, anh chị em của em và em" Không như lứa tuổi trước, học sinh thuộc lứa tuổi này quan tâm đến những nguyên tắc
Trang 19và quy luật của ngôn ngữ Chúng tìm hiểu văn phạm, cách phát âm, và ngữ điệu Những nghịch lý trong ngôn ngữ cần được giải thích rõ ràng Học sinh có thể tự học Giáo viên không mất nhiều thời gian để giải thích những nguyên tắc và quy luật ngôn ngữ giống nhau hoặc trong cùng một loại Học sinh có thể suy luận ra những cái tương
tự từ những cái đã biết [15]
1.2.2 Chú ý và ghi nhớ có chủ đích
Ở lớp 3, vốn từ của HS ngày càng được mở rộng theo nhiều chủ đề mới Chính
vì vậy, GV cần giúp cho HS tiếp nhận và lưu trữ những từ mà các em đã học một cách khoa học hơn Để thực hiện được điều đó, GV cần quan tâm đến những yếu tố có ảnh hưởng đến kết quả học tập ngôn ngữ của các em như:
* Về ghi nhớ:
Trí nhớ là sự ghi nhớ, giữ lại và làm tái hiện lại những gì cá nhân thu nhận được trong cuộc sống hay trong học tập Trong ba quá trình này của trí nhớ, qua trình ghi nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng vì chất lượng của ghi nhớ sẽ tác động đến việc thông tin thu nhận có được giữ gìn lâu trong trí nhớ vá có được tái hiện dễ dàng khi cần hay không Vì vậy ghi nhớ là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng trong học tập Quá trình ghi nhớ có thể chia thành bốn thành phần chính bao gồm: quá trình chọn lựa thông tin, quá trình tiếp thu thông tin, quá trình xây dựng mối liên hệ bên trong giữa các thông tin và quá trình hợp nhất (Weinstein và Mayer, 1986) [22]
Khi HS thực hiện quá trình chọn lựa và tiếp thu thông tin cũng chính là HS đang thực hiện việc ghi nhớ không chủ định HS ghi nhớ có chủ định chỉ khi chính các
em xây dựng được mối liên hệ bên trong giữa các thông tin và nâng cao hơn là xây dựng mối liên hệ giữa những thông tin mới tiếp nhận với những kiến thức sẵn có của mình Ghi nhớ có chủ định được chia thành hai loại, đó là ghi nhớ máy móc và ghi nhớ
ý nghĩa Nhưng đối với HS lớp 3, việc ghi nhớ có ý nghĩa chiếm ưu thế hơn, vì vốn từ của các em đã được phát triển ở mức độ nhất định, các em có thể trình bày lại những thông tin đã ghi nhận theo cách hiểu của mình và có sự liên hệ với những kiến thức đã học
* Về chú ý:
Chú ý là sự tập trung của ý thức vào sự vật, hiện tượng để giúp HS định hướng
Trang 20hoạt động, tri nhận và phản ánh đối tượng một cách tốt nhất [22, tr.117]
Chú ý bao gồm 2 loại: chú ý không chủ định và chú ý có chủ định
Ở lứa tuổi tiểu học thì chú ý không chủ định chiếm ưu thế hơn hẳn, khả năng điều chỉnh chú ý vào một đối tượng thật sự chưa mạnh GV cần sử dụng những đồ dùng trực quan đẹp, đầy màu sắc để lôi cuốn thu hút sự chú ý của các em HS Nhưng cũng cần lưu ý mức độ sử dụng đồ dùng, vì nếu GV quá lạm dụng cũng sẽ làm hạn chế khả năng phân tích và khái quát tài liệu của các em Ở lớp 3, khả năng tập trung sự chú
Theo từ điển Anh - Anh (Oxford Advanced Learner’s Dictionary), từ intergrate
có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong một tổng thể Những phần, những bộ phận này có thể khác nhau nhưng thích hợp với nhau
Theo từ điển Bách khoa Khoa học Giáo dục của Cộng hòa Liên bang Đức (Enzyklopadie Erziehungswissienscheft, Bd.2, Stuttgart 1984), nghĩa chung của từ intergration có hai khía cạnh:
- Quá trình xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất từ những cái riêng lẻ
- Trạng thái mà trong đó có cái chung, cái toàn thể được tạo ra từ những cái riêng lẻ
Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự kết hợp, sự hòa nhập
Trong lĩnh vực giáo dục, khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì Khai sáng (thế
kỷ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ 400 năm nay) thành một “môn học” mới Ví
dụ môn Khoa học (Science) được hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp của các môn học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên: Vật lý, Hóa học, Sinh học; môn Nghiên cứu xã hội
Trang 21được hình thành từ sự tổ hợp, kết hợp các môn học thuộc lĩnh vực Khoa học xã hội: Lịch sử, Địa lý, Xã hội học, Kinh tế học
Tích hợp cũng được hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn hoc, thí dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường… vào nội dung các môn học: Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống [25, tr.13]
1.3.1.2 Tích hợp trong dạy học
Trên thế giới và Việt Nam, DHTH đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại Tháng 9 năm 1968, “Hội nghị tích hợp về việc giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari), với sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị nêu ra hai vấn đề là vì sao phải DHTH và tích hợp các khoa học là gì [10] Theo đó, DHTH được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [10] Định nghĩa của UNESCO cho thấy DHTH xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập hình thành ở
HS những năng lực ở trình độ cao, đáp ứng yêu cầu của xã hội Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp giúp HS biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống Như vậy có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động
Nói một cách khác, DHTH là dạy cho HS cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể, với mục đích phát triển năng lực người học
Ngoài ra, DHTH liên hệ giữa kiến thức và kĩ năng các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho HS phát huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể Các nhà nghiên cứu đưa ra các tiêu chí quan trọng của DHTH, bao gồm: việc học và nghiên cứu các môn học khác nhau, có thời khóa biểu linh động, GV giảng dạy theo nhóm, quá trình học lấy HS làm trung tâm, có sự tương tác về trình độ giữa HS với HS, giữa HS với GV,
và giữa GV với nhau [29, tr.148]
Trang 221.3.2 MRVT theo hướng dạy học tích hợp
1.3.2.1 Từ và vốn từ
Về Từ
Có nhiều định nghĩa về từ Tiếng Việt:
Theo tác giả Phan Thiều, từ là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo chặt chẽ có thể dùng trực tiếp để tạo câu [18, tr.13]
Theo tác giả Vũ Thị Ân, từ là đơn vị cơ bản nhỏ nhất của ngôn ngữ có khả năng hoạt động độc lập [2, tr.54]
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu [6, tr.16]
Như vậy, từ chính là đơn vị cơ bản của tiếng Việt, có hình thức âm thanh và có
ý nghĩa, nó tồn tại sẵn có, được cộng đồng bản ngữ chấp nhận và qui ước về ngữ nghĩa
và cách dùng Từ cũng chính là đơn vị nhỏ nhất, có khả năng tạo nên câu
Về vốn từ:
“Vốn từ của cá nhân là toàn bộ các từ và các đơn vị tương đương từ của ngôn ngữ được lưu giữ trong trí óc của cá nhân và được cá nhân đó sử dụng trong hoạt động giao tiếp” [20]
Vốn từ được tích lũy trong bộ nhớ của mỗi cá nhân có khác nhau, không ai giống ai Vốn từ nhiều hay ít tùy thuộc vào khả năng lĩnh hội, kinh nghiệm sống, môi trường giao tiếp hay qua quá trình học tập của từng người
Theo tác giả Hoàng Thị Tuyết [22], trong quá trình tích lũy và phát triển vốn từ,
HS có thể học từ ngữ một cách vô thức từ môi trường giao tiếp tự nhiên, từ các nguồn sách báo cũng như phương tiện thông tin đại chúng và HS có thể học từ ngữ một cách hữu thức từ chương trình học tập ở nhà trường hay bất kì đâu đó nhưng có tính kế hoạch, tổ chức và hướng đến việc đạt những mục tiêu cụ thể về phát triển, mở rộng vốn từ cho HS
Trang 231.3.2.2 Các quan điểm về mở rộng vốn từ
Theo tác giả Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh [18], dạy thực hành từ ngữ chính là tổ chức rèn luyện cho HS giúp các em có được vốn từ phong phú và vận dụng nhuần nhuyễn các từ ngữ của mình vào việc đọc, nghe, nói, viết; giúp các em có kĩ năng sử dụng từ ngữ trong giao tiếp
Còn tác giả Lê Phương Nga [16] cho rằng: MRVT cho học sinh chính là làm giàu vốn từ cho HS với 3 nhiệm vụ chính: (1) Dạy nghĩa từ; (2) Hệ thống hóa vốn từ;
và (3) Tích cực hóa vốn từ Các nhiệm vụ này phải được thực hiện đan xen và có sự liên hệ chặt chẽ với nhau
Với tác giả Hoàng Tuyết [22], dạy học từ ngữ là dạy cho HS cách thức phát triển vốn từ/ vốn hiểu biết của mình bằng cách tạo ra những kích thích (câu hỏi, bài tập, các phương tiện dạy học khác…) làm nảy sinh quá trình tạo lập các mối liên tưởng giữa các đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong trí não HS phù hợp với các quy luật vận hành của các trường nghĩa trong ngôn ngữ
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất về nội dung MRVT cho HS Mở rộng vốn từ vựng một mặt là lĩnh hội danh sách các từ ngữ mới cùng với việc hiểu nghĩa của từ Việc tiếp nhận và lưu giữ các từ ngữ này nên theo hệ thống Có như vậy việc lĩnh hội và nhận biết nghĩa từ thuận lợi hơn, việc lưu giữ theo từng hệ thống trong bộ nhớ cũng lớp lang, do vậy việc huy động khi cần cũng nhanh chóng hơn
1.3.2.3 Các cách thức mở rộng vốn từ
* Cách thức giúp HS tìm hiểu ý nghĩa của từ
- Giải nghĩa từ bằng trực quan
Trực quan ở đây bao gồm yếu tồ hình ảnh như ảnh chụp, hình vẽ, vật thật,… lẫn những điệu bộ, cử chỉ, hành động của người Vì có những từ ngữ GV có thể sử dụng hình ảnh minh họa giúp HS hiểu nghĩa, nhưng cũng có những từ ngữ GV cần sử dụng những cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,… để thể hiện rõ ý nghĩa của từ Ví dụ để làm rõ nghĩa của từ vui, buồn người dạy có thể biểu thị bằng nét mặt kết hợp với điệu bộ tương ứng với tâm trạng đó
- Giải nghĩa từ bằng từ đồng nghĩa, trái nghĩa
Theo tác giả Hoàng Thị Tuyết, việc nhóm các từ ngữ theo những kiểu khác
Trang 24nhau tùy theo quan hệ ngữ nghĩa giữa các mục từ là một trong những phương thức chủ yếu để phát triển vốn từ cho người học Vì từ ngữ tồn tại với các mối quan hệ ngữ nghĩa tạo thành từng hệ thống Ở tiểu học, 2 quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ mà HS tiếp cận là quan hệ đồng nghĩa và quan hệ trái nghĩa Việc giải nghĩa từ dựa vào 2 quan hệ này giúp HS nhận biết nghĩa của từ dễ dàng, cặn kẽ qua sự đối sánh giữa chúng Mặt
khác, cùng lúc các em biết nhiều từ Ví dụ: khi giải nghĩa từ rét nếu đặt trong sự đối sánh với từ trái nghĩa với nó là nóng/nực HS sẽ hiểu ngay thế nào là rét (cho dù ở vùng
các em sinh sống không có mùa đông)… Cách giải nghĩa này thường dùng cho những
từ mang nghĩa trừu tượng (hiện thực khách quan không nhận biết được bằng thị giác, thính giác hay khứu giác, không cầm nắm sờ mó được) Trình bày các từ ngữ cho học sinh theo kiểu hệ thống sẽ giúp làm sáng tỏ bản chất có tính tổ chức của từ vựng và đồng thời làm cho HS “nội tại hóa” các từ ngữ một cách mạch lạc, chặt chẽ [22, tr.332]
- Giải nghĩa từ bằng định nghĩa
Giải nghĩa bằng việc nêu định nghĩa của từ cũng là một cách có hiệu quả, nó giúp người học nhận biết trực tiếp nghĩa của mỗi từ, việc xác lập mối liên hệ giữa hình thức ngữ âm, chữ viết với nghĩa nhanh hơn Cách này thường dùng khi giải nghĩa các
từ mang ý nghĩa khái quát, trừu tượng
* Cách thức giúp HS hệ thống hóa vốn từ
Sau khi hiểu được ý nghĩa của các từ, HS cần thực hiện hệ thống hóa vốn từ có được để tạo một sự liên kết nhất định Việc này tạo điều kiện thuận lợi cho các em dễ dàng huy động lại vốn từ ngữ của mình, sử dụng các từ ấy phù hợp với mục đích học tập và hoàn cảnh giao tiếp Có nhiều cách thức giúp HS hệ thống hóa vốn từ, cụ thể:
- HS có thể sắp xếp các từ vào cùng một chủ đề
- HS tìm các từ có cùng lớp từ vựng (từ đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm)
- HS nhóm các từ cùng từ loại, tiểu loại ( từ chỉ đặc điểm, tính chất, từ chỉ hoạt động)
Trang 25Một số dạng bài tập có thể áp dụng là:
Bài tập giúp sử dụng từ phù hợp với ngữ cảnh
- Xác định nghĩa của từ được đặt trong một ngữ cảnh nhất định (trong câu, đoạn, bài
hội thoại Ví dụ: Gạch dưới từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn: Khó có thể tưởng tượng
bàn tay (tinh khôn, tinh xảo) nào có thể hoàn thành một tác phẩm đẹp đẽ như vậy
- Thay thế các từ được xác định trong đoạn văn bằng từ khác mà không làm cho nghĩa của câu, đoạn thay đổi Ví dụ: Thay thế từ được gạch dưới trong câu bằng một từ khác
nhưng không làm thay đổi ý nghĩa của câu: Với thái độ học tập chăm chỉ, Hoa luôn
đứng nhất lớp
Bài tập giúp HS tích cực hóa vốn từ bằng cách sử dụng từ ngữ
- Điền tên gọi tương ứng với hình vẽ
Ví dụ: Viết từ gọi tên vật, con vật trong hình vẽ
- Điền từ vào chỗ trống để hoàn thành ngữ/câu/đoạn
Ví dụ: Điền từ thích hợp vào chỗ trống để hoàn thành câu có nghĩa: Con cháu phái
biết……… với ông bà, cha mẹ
- Tạo lập ngữ/câu/đoạn bằng từ tự tìm hay từ cho sẵn
Ví dụ: Sắp xếp các từ/ cụm từ cho sẵn thành một câu hoàn chỉnh: Cao Bá Quát/nổi
tiếng/là/chữ tốt/văn hay/nhà thơ
- Nói hay viết theo một tình huống giao tiếp cụ thể
- Nói hay viết dựa theo nội dung tranh [22, tr.246-247]
1.3.2.4 Mở rộng vốn từ theo hướng tích hợp liên môn
Tích hợp liên môn nghĩa là liên kết các môn học với nhau dựa trên những chủ
đề, vấn đề chung của các môn học đó
Trang 26Việc tích hợp liên môn tạo cho HS một nội dung kiến thức phong phú làm cơ sở cho học sinh tư duy, tăng cường tính tích cực học tập của HS, giúp cho các em có nhiều cơ hội được vận dụng, được trở đi trở lại những kĩ năng và kiến thức có liên quan gần nhau [22, tr.329]
Như vậy, mở rộng vốn từ cần được thực hiện theo hướng tích hợp liên môn bởi bất cứ môn học nào cũng đòi hỏi HS phải biết giải nghĩa và biết sử dụng từ một cách logic và hợp lý Hơn nữa, trong chương trình Tiểu học, MRVT theo hướng tích hợp liên môn giúp cho HS có một kho từ vựng phong phú, mở rộng sự hiểu biết về thế giới xung quanh, về con người,…; nâng cao năng lực lựa chọn và sử dụng từ ngữ tùy thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp thông qua các môn học
Trang 27Tiểu kết chương 1
Trong nhiều năm trở lại đây, dạy học tích hợp đã trở thành xu hướng phổ biến trên thế giới Tính ưu việt của nó khiến đông đảo các nhà khoa học, giáo dục học quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu Ở Việt Nam, tích hợp và dạy học tích hợp cũng thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia về giáo dục Trong đó phải kể đến việc dạy học ngôn ngữ theo hướng tích hợp Một mặt, các đơn vị ngôn ngữ được dạy theo quan điểm hệ thống: dạy học âm không tách rời tiếng, dạy học từ ngữ được tích hợp trong dạy câu, dạy học câu gắn liền với đoạn, văn bản… Nghĩa là đã có sự tích hợp trong việc dạy học các phân môn tiếng Việt Mặt khác, dạy học tiếng Việt không độc lập với các môn học khác Dạy học từ ngữ luôn được tích hợp trong các môn Văn, Lịch sử, Địa lí, Sinh học, Toán học… Ở tiểu học, tích hợp MRVT trong các hoạt động học tập của các môn học khá phổ biến, đương nhiên việc tích hợp này vẫn đảm bảo mục tiêu chính là cung cấp kiến thức của môn học đó Chẳng hạn, MRVT thông qua các hoạt động dạy học TNXH vừa giúp HS phát triển vốn từ vựng tiếng Việt qua nội dung môn học, vừa giúp các em với vốn từ ngữ cá nhân và từ ngữ mới được cung cấp lĩnh hội nhanh hơn, sâu hơn kiến thức môn TN&XH Qua đó, khả năng tư duy của HS cũng được nâng lên, khả năng vận dụng những điều đã học vào thực tiễn nhạy bén hơn Những điều trên cho thấy: thiết kế các hoạt động dạy học các môn học trong đó có môn TN&XH để MRVT cho HS là cần thiết Các hoạt động này phải phù hợp với tâm lý lứa tuổi, người thiết kế phải tìm hiểu rõ các yếu tố tâm lý (của HS lớp Ba) có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp nhận và lưu giữ từ ngữ, phải nắm được cơ sở lý luận của dạy học nói
chung, dạy học tích hợp nói riêng
Trang 28Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC MRVT TRONG DẠY HỌC MÔN TN&XH CHO HS LỚP BA Ở MỘT SỐ
2.1 Chương trình môn TN&XH3
2.1.1 Quan điểm xây dựng chương trình
Quan điểm tích hợp được thể hiện rất rõ trong chương trình môn TN&XH:
- Thứ nhất, chương trình xem xét tự nhiên - xã hội - con người trong một thể thống nhất, có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau, và con người là yếu tố cơ bản
- Chương trình còn tích hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau
như: Vật lý, Hoá học, Sinh học, Địa lý, Lịch sử, Sức khoẻ, Dân số, Môi trường, Kỹ
năng sống
- Tuỳ theo trình độ nhận thức của HS ở từng giai đoạn mà chương trình môn
TN-XH (lớp1,2,3) được cấu trúc thành 3 chủ đề lớn: Con người và sức khoẻ, Xã hội,
Tự nhiên
2.1.2 Nội dung chương trình
Chương trình môn TN&XH lớp ba gồm 3 nội dung chính là Con người và sức
khỏe; Tự nhiên; Xã hội
Chủ đề Con người và sức khỏe cung cấp những kiến thức về hoạt động của các
hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ tuần hoàn và hệ bài tiết một cách khái quát; một số bệnh thường gặp liên quan đến các hệ cơ quan trên
Chủ đề Tự nhiên bao gồm các kiến thức về động vật và thực vật Phần động vật
bao gồm các kiến thức về đặc điểm sinh học cơ bản, hình thức bên ngoài của động vật được chia theo lớp: côn trùng; giáp xác, lớp cá, lớp chim, lớp thú Phần thực vật cung cấp kiến thức về cấu tạo, các biến dạng; phân loại thực vật, lợi ích và chức năng của cơ quan sinh sản và sinh dưỡng; quá trình quang hợp và hô hấp của cây
Trang 29Chủ đề Xã hội được chia làm 3 nội dung là gia đình, trường học và quê hương
Về gia đình, học sinh được học về các mối quan hệ trong một gia đình, phòng cháy khi
ở nhà Về trường học, học sinh được học về các hoạt động ở trường, cách phòng tránh tai nạn khi ở trường Về xã hội, học sinh được học về các hoạt động ở địa phương, an toàn khi đi xe đạp và nội dung về bảo vệ môi trường Chủ đề gồm 21 bài học, được dạy trong 21 tiết, cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Các bài học thuộc chủ đề Xã hội trong môn TN&XH lớp Ba
Chủ đề Số bài Số tiết Tên bài
Nhà trường
Bài 24 1 Một số họat động ở trường Bài 25 1 Một số hoạt động ở trường (tt) Bài 26 1 Không chơi các trò chơi nguy hiểm
Xã hội
Bài 27-28 2 Tỉnh (thành phố) nơi bạn đang sống Bài 29 1 Các hoạt động thông tin liên lạc Bài 30 1 Hoạt động nông nghiệp
Bài 31 1 Hoạt động công nghiệp, thương mại
Bài 32 1 Làng quê và đô thị Bài 33 1 An toàn khi đi xe đạp Bài 34-35 2 Ôn tập và kiểm tra học kì I Bài 36 1 Vệ sinh môi trường
Bài 37 1 Vệ sinh môi trường (tt) Bài 38 1 Vệ sinh môi trường (tt) Bài 39 1 Ôn tập: Xã hội
Trang 302.2 Nội dung mở rộng vốn từ ở lớp 3
Trong chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học, MRVT là một trong hai nội dung trọng tâm của phân môn Luyện từ và câu Ở lớp 1 chưa có tiết Luyện từ và câu, ở lớp 2 và lớp 3 mỗi tuần có 1 tiết, ở lớp 4 và lớp 5 mỗi tuần có 2 tiết
Nội dung cung cấp vốn từ cho HS được xác định là ngoài các từ ngữ được dạy qua các bài tập đọc, chính tả, tập viết, … học sinh được làm giàu vốn từ một cách có
hệ thống bằng các bài từ ngữ theo chủ đề Hệ thống từ ngữ cần mở rộng cho HS là những từ ngữ thông dụng tối thiểu về hiện thực hiện hữu xung quanh như công việc của HS ở trường và ở nhà, tình cảm gia đình, vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, những phẩm chất và hoạt động của con người Lớp từ ngữ này được dạy gắn với việc giáo dục cho HS tình yêu gia đình, nhà trường, yêu tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động Qua đó, tầm nhìn, nhận thức của các em được mở mang Các em biết nâng niu, trân trọng, yêu quý; biết ghét, xem thường Các trạng thái hỉ nộ ái ố được bộc lộ rõ ràng
Riêng ở lớp 3, HS học thêm khoảng 400 – 450 từ ngữ (kể cả một số thành ngữ, tục ngữ quen thuộc và nghĩa của một số yếu tố gốc Hán thông dụng và một số từ ngữ địa phương) theo các chủ đề: thiếu nhi; gia đình; trường học; cộng đồng; quê hương;
từ địa phương; các dân tộc; thành thị, nông thôn; Tổ quốc, sáng tạo, nghệ thuật, lễ hội, thể thao, các nước, thiên nhiên Ngoài ra, vốn từ còn được mở rộng trong các bài ôn tập về từ chỉ sự vật, từ chỉ hoạt động, trạng thái, từ chỉ đặc điểm, tính chất [16, tr.190]
2.3 Mối liên hệ giữa dạy học MRVT với dạy học TN&XH
Ở mức độ tích hợp liên môn, giáo viên phối hợp quá trình học tập của nhiều môn học khác nhau, xoay quanh những mục tiêu của môn học để tạo thành các chủ đề thích hợp Các chủ đề thường được đưa sẵn hoặc gợi ý trong chương trình bằng tên những chủ điểm ở mỗi tuần Tuy nhiên, GV cũng có thể tự xác định chủ đề tích hợp phù hợp với thực tế khách quan hay năng lực của học sinh Để xác định chủ đề, GV cần dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của từng bài, từng môn và nội dung chương trình
để tìm ra những nội dung gần nhau hoặc có liên quan với nhau Hơn nữa, để việc tiếp thu kiến thức của HS trở nên dễ dàng hơn, GV cần tìm những nội dung gắn liền với thực tiễn, gần gũi với kinh nghiệm sống của HS và phù hợp với trình độ nhận thức của
Trang 31họ Từ đó, GV mới có thể xác định, đặt tên cho chủ đề và tiến hành lập kế hoạch dạy học theo chủ đề
Chẳng hạn, GV có thể xem xét toàn bộ nội dung chương trình và chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học ở lớp 3; sau đó lựa chọn các nội dung có liên quan; thiết lập chủ đề; rồi xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp Tôi xin đưa ví dụ minh họa cụ thể như sau:
Đạo đức Tích cực tham gia những việc ở lớp và ở
trường
Âm nhạc
Các bài hát có nội dung về bạn bè, mái trường, thầy cô (Bài ca đi học, Tiếng hát bạn bè mình, Lớp chúng ta đoàn kết, Em yêu trường em)
Mĩ thuật Vẽ tranh đề tài ngôi trường của em
Có thể thấy các bài học trên tuy thuộc những môn học khác nhau nhưng tất cả đều có nội dung liên quan đến trường học Từ đó GV sẽ xây dựng được một kế hoạch
dạy học tích hợp có chủ đề Trường học và tiến hành giảng dạy trên lớp Nội dung về
trường học vô cùng gần gũi, thiết thực với HS sẽ giúp HS tích cực hơn trong việc huy động và tận dụng tối đa vốn kinh nghiệm của mình
Như vậy, cơ sở của dạy học tích hợp chính là những điểm chung, điểm tương quan có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các nội dung cần dạy Trên cơ sở đó,
Trang 32chúng tôi tìm hiểu những điểm chung, điểm tương quan giữa dạy học môn TN&XH với dạy học MRVT Nội dung kiến thức giữa phân môn LT&C với môn TN&XH lớp
Ba có vài sự tương ứng trong phần nội dung, cụ thể như sau:
Bảng 2.2 Sự tương ứng về nội dung các chủ điểm giữa môn Tiếng Việt và môn TN&XH lớp Ba
MÔN TIẾNG VIỆT
- Tỉnh (thành phố) nơi bạn đang sống
- Các hoạt động thông tin liên lạc
- Hoạt động nông nghiệp
- Hoạt động công nghiệp, thương mại
nhiên - Vệ sinh môi trường
Môn TN&XH và môn Tiếng Việt (cụ thể phân môn LT&C) đều có những bài
học xoay quanh những chủ đề chung về Gia đình, Nhà trường và Xã hội Chính vì vậy
khi giảng dạy, GV có thể phối hợp kiến thức của hai môn giúp HS hình thành kiến
Trang 33thức mới ứng với mục tiêu bài học, mục tiêu môn học Hơn nữa, môn Tiếng Việt luôn
có mối quan hệ mật thiết với tất cả môn học, không riêng gì môn TN&XH Bởi môn Tiếng Việt là môn học về ngôn ngữ mà không một môn học nào không phải sử dụng đến ngôn ngữ Trong mỗi hoạt động học tập, GV dùng ngôn ngữ để giảng bài, đặt câu hỏi, trao đổi,….; HS thì dùng ngôn ngữ để trả lời, thảo luận, khai thác nội dung bài học….Vì vậy, môn Tiếng Việt có thể tích hợp với môn TN&XH và với cả những môn học khác nữa
Ngoài việc tích hợp các kiến thức tự nhiên thì chương trình môn TN&XH còn tích hợp trong việc hình thành và phát triển các kĩ năng nghe – nói, đọc – viết cho HS Các kỹ năng này có quan hệ mật thiết với việc sử dụng ngôn ngữ Chẳng hạn, trong quá trình học tập, HS sẽ nêu thắc mắc, đặt câu hỏi, tìm tòi thông tin để giải đáp, diễn giải những hiểu biết Muốn tìm được thông tin để giải đáp câu hỏi hay thắc mắc về một vấn đề khoa học, HS cần phải có một vốn từ nhất định, đặc biệt là những từ ngữ thuộc về lĩnh vực đó Hoặc là HS sẽ phải phân tích, so sánh đánh giá một số mối quan
hệ đơn giản, những dấu hiệu chung và riêng của một số sự vật, hiện tượng đơn giản trong tự nhiên Những kĩ năng diễn đạt, phân tích, so sánh cũng chính là sự thể hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ Như vậy, song song với các hoạt động nghe, nói, đọc, viết chính là sự huy động vốn từ và củng cố vốn từ Muốn nghe, đọc, nói, viết tốt thì phải
có một vốn từ nhất định Và trong quá trình nghe, đọc, nói, viết, vốn từ cũng được tăng lên đáng kể
2.4 Thực trạng dạy học môn TN&XH tích hợp MRVT cho HS lớp Ba hiện nay
2.4.1 Nhận thức của GV về tích hợp MRVT trong dạy học TN&XH
Như đã nói, ở bậc tiểu học, chương trình môn TN&XH được cấu trúc trên quan điểm tích hợp theo hướng đồng tâm: Chương trình là sự kết hợp thành một thể thống nhất, có mối quan hệ qua lại giữa ba chủ đề lớn Tự nhiên - Con người - Xã hội Theo
đó, chương trình môn TN&XH lớp Ba cũng được xây dựng trên quan điểm tích hợp Kiến thức môn học là sự tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Ngoài ra, chương trình môn TN&XH lớp Ba còn tích hợp thêm một
số nội dung khác như:
Tích hợp giáo dục kĩ năng sống ở các bài Phòng cháy khi ở nhà, Một số hoạt
Trang 34động ở trường, Không chơi các trò chơi nguy hiểm, An toàn khi đi xe đạp, Vệ sinh môi trường, Khả năng kì diệu của cây, Đi thăm thiên nhiên;
Tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường như các bài Vệ sinh hô hấp, Vệ sinh cơ
quan tuần hoàn, Hoạt động bài tiết nước tiểu, Vệ sinh thần kinh, Các thế hệ trong một gia đình, Một số hoạt động ở trường, Hoạt động nông nghiệp, Hoạt động công nghiệp, thương mại, Làng quê và đô thị, Vệ sinh môi trường, Khả năng kì diệu của lá cây, Động vật, Côn trùng, Tôm, Cá, Chim, Thú, Đi thăm thiên nhiên, Mặt trời, Năm, tháng
và mùa, Các đới khí hậu, Bề mặt Trái Đất, Bề mặt lục địa;
Tích hợp giáo dục biển đảo với các bài Hoạt động công nghiệp và thương mại,
Làng quê và đô thị, Vệ sinh môi trường, Động vật, Tôm, cua, Cá, Đi thăm thiên nhiên, Mặt trời, Bề mặt trái đất, Bề mặt lục địa;
Tích hợp giáo dục đạo đức Hồ Chí Minh có các bài Các thế hệ trong một gia
đình, Họ nội, họ ngoại, Phân tích và vẽ sơ đồ mối quan hệ họ hàng, Vệ sinh môi trường;
Tích hợp giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là các bài Phòng
cháy khi ở nhà, Vệ sinh môi trường, Vệ sinh môi trường (tiếp theo), Vệ sinh môi trường (tiếp theo)
Việc tích hợp MRVT trong môn TN&XH lớp Ba thì chưa được nhắc tới Có thể nói bất kì môn học nào, không riêng môn TN&XH thì việc học tập khoa học luôn gắn liền với học tập ngôn ngữ GV luôn phải giải nghĩa những từ mới, những từ khó hiểu, giúp cho việc lĩnh hội kiến thức của HS trở nên dễ dàng, góp phần vào việc rèn luyện năng lực sử dụng từ ngữ, củng cố và phát triển kĩ năng giao tiếp cho HS Việc học sẽ mang lại hiệu quả cao khi HS có vốn kiến thức và vốn từ vựng phong phú Tuy nhiên, hiện nay quan điểm này chưa được nhiều giáo viên đồng tình
Tác giả Lương Diễm Linh [14] trong một khảo sát được thực hiện trên 25 trường tiểu học tại địa bàn TP Phan Thiết với 112 GV lớp Bốn, cho thấy có 23.2% GV đã nói rằng MRVT là nhiệm vụ của riêng phân môn LT&C; 63.4% GV đồng ý rằng MRVT
là nhiệm vụ của môn Tiếng Việt Theo số giáo viên này thì khi dạy các phân môn Tiếng Việt, họ vẫn luôn thực hiện nhiệm vụ MRVT cho HS như giải nghĩa các từ mới trong bài tập đọc, bài kể chuyện hay bài chính tả, giải thích các từ khoá, từ ứng dụng
Trang 35trong môn Học vần hoặc trong môn Tập viết, hướng dẫn HS cách sử dụng những từ ngữ miêu tả khi viết văn, … Chỉ có 13.4% GV đồng ý rằng MRVT là nhiệm vụ của tất
cả các môn học
Thực tế cho thấy, giảng dạy bất cứ môn học nào GV cũng đều phải giải nghĩa từ khó cho HS Chẳng hạn, khi đối diện với một bài toán, việc đầu tiên HS cần thực hiện chính là phân tích từ ngữ trong đề bài, có hiểu được đề bài thì HS mới chọn lựa được cách giải phù hợp Hay khi tiếp cận với các kiến thức khoa học mới, HS cần được giảng giải những thuật ngữ khoa học, những thuật ngữ thuộc về chuyên ngành khoa học đó Thực hiện nhiệm vụ giải nghĩa từ khó chính là GV đang MRVT cho HS Thế nhưng, con số thống kê cho thấy đa phần GV chưa ý thức được rằng mình đang thực hiện tích hợp MRVT khi giảng dạy các môn học như Toán, Đạo đức hay TN&XH… ngoài phân môn LT&C
Qua tìm hiểu mục tiêu và các hoạt động dạy học các bài học thuộc chủ đề Xã
hội môn TN&XH ở trường tiểu học hiện nay, chúng tôi thấy: khi dạy môn học này,
GV hầu như chỉ tập trung cung cấp kiến thức bài học với mục tiêu các em có thể tái hiện lại được những kiến thức ấy, chứ không đề cập đến vấn đề MRVT cho HS Chúng tôi xin đưa một vài mục tiêu bài dạy cụ thể sau:
VD1: Bài 19 Các thế hệ trong một gia đình (SGK TN&XH3, tr 38,39)
Đối với bài học này, mục tiêu dạy học được đưa ra chủ yếu giúp HS hiểu như
thế nào là thế hệ trong một gia đình; phân biệt được gia đình có 2 thế hệ và gia đình có
3 thế hệ; tích hợp giáo dục HS biết yêu thương những người trong gia đình
VD2: Bài 33 An toàn khi đi xe đạp (SGK TN&XH 3, tr 64, 65)
Mục tiêu dạy học tập trung vào vấn đề cung cấp cho HS biết một số qui định đối với người đi xe đạp; tích hợp giáo dục kĩ năng chạy xe đạp an toàn cho HS
VD3: Bài 29 Các hoạt động thông tin liên lạc (SGK TN&XH 3, tr 56, 57)
Sau bài học, HS kể tên được một số hoạt động diễn ra ở bưu điện tỉnh và nêu được lợi ích của hoạt động bưu điện, truyền thông, truyền hình và phát thanh trong đời sống
MRVT cho HS chính là làm giàu vốn từ cho HS với 3 nhiệm vụ mà GV phải thực hiện bao gồm: giúp HS tiếp nhận từ ngữ mới, củng cố vốn từ đã tiếp nhận và tích
Trang 36cực hóa vốn từ Nhưng vì chưa ý thức được những lợi ích của việc tích hợp MRVT trong môn TN&XH nên khi giảng dạy, hầu như GV chỉ mới dừng lại ở việc giúp HS giải nghĩa từ ngữ mới có liên quan đến bài học Còn việc HS tiếp nhận từ ở mức nào, lưu giữ từ trong bộ nhớ ra sao thì chưa quan tâm nhiều GV chỉ yêu cầu HS lặp lại đúng từng chữ, từng lời những ghi nhớ trong sách giáo khoa mà không nghĩ rằng: việc hiểu nghĩa từ chính là bước quan trọng nhất giúp HS hiểu câu và hiểu đoạn HS sẽ dễ dàng diễn đạt lại kiến thức bài học theo cách hiểu của mình nếu HS có một vốn từ về bài học đó Vì vậy, việc củng cố lại vốn từ đã cung cấp và tạo cơ hội giúp HS sử dụng vốn từ đó là hoạt động quan yếu trong mỗi giờ học môn TN&XH cần được chú tâm nhiều hơn
2.4.2 Các tài liệu dạy và học môn TN&XH
Thực hiện giảng dạy tích hợp MRVT với môn TN&XH ở trường tiểu học hiện nay gặp không ít khó khăn từ ý thức GV đến phương tiên dạy học Phương tiện dạy học chủ yếu mà tất cả các GV đang sử dụng là SGK và SGV
Sách giáo khoa TN&XH lớp Ba được cấu trúc theo 3 chủ đề, mỗi chủ đề có các bài học với số lượng khác nhau Mỗi bài học được trình bày gọn trong 2 trang mở liền nhau và có cấu trúc như nhau Có bài bắt đầu bằng những câu hỏi nhằm yêu cầu HS huy động vốn hiểu biết của mình để phát hiện ra kiến thức mới Có bài thì yêu cầu HS liên hệ thực tế, trình bày kinh nghiệm sống của bản thân, hoặc nêu lên những gì em quan sát được trong tranh ảnh SGK để tìm ra kiến thức mới Với cấu trúc như vậy, mỗi bài học là một chuỗi các trình tự hoạt động học tập của HS Việc thiết kế các hoạt động như thế tạo điều kiện thuận lợi cho các em phát triển kĩ năng nghe – nói Thông qua đó, vốn từ của các em được mở rộng thêm
Theo Piagett, từ 7 - 10 tuổi là giai đoạn trẻ thực hiện các thao tác cụ thể, tư duy của trẻ dựa vào những đặc điểm trực quan của những đối tượng và hiện tượng cụ thể
có thực trong thực tiễn Chính vì thế mà thiết kế SGK TN&XH lớp Ba thiên về kênh hình là chủ yếu, kênh chữ chỉ là các câu hỏi yêu cầu HS làm việc cùng với vài dòng kiến thức mà HS cần ghi nhớ trong mỗi bài Kênh hình chiếm đa số cũng là một điểm thuận lợi trong việc MRVT cho HS Thông qua hoạt động quan sát và liên hệ thực tế,
HS sẽ lựa chọn và sử dụng vốn từ có được để trình bày những hiểu biết của mình
Trang 37Cũng như HS sẽ được cung cấp thêm vốn từ từ những trình bày của bạn mình Song song những thuận lợi đó là những hạn chế trong việc phát triển kĩ năng đọc cho HS Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc MRVT cho HS Bởi thông qua hoạt động đọc
HS không những được cung cấp vốn từ mới có trong văn bản mà còn giúp các em phát triển kĩ năng tư duy, giúp các em hiểu và phản ánh nội dung văn bản khoa học một cách cặn kẽ, chi tiết Trong các hoạt động được vận dụng để giảng dạy môn TN&XH,
GV cũng ít chú ý đến việc phát triển kĩ năng viết cho HS Trong khi lợi ích của việc phát triển kĩ năng viết cho HS chính là phát triển kĩ năng tư duy, nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ Kĩ năng viết hạn chế cũng ảnh hưởng đến việc phát tiển vốn từ cho HS
Sách giáo khoa cũng có những điểm bất cập ảnh hưởng đến mạch tư duy và phát triển từ ngữ của HS Chẳng hạn, những bài học thuộc chủ đề Xã hội trong SGK
TN&XH lớp Ba mang tính vùng miền như Phòng cháy khi ở nhà, Tỉnh (thành phố) nơi
bạn đang sống, Không chơi các trò chơi nguy hiểm Hình ảnh được sử dụng trong các
bài này hoàn toàn không phù hợp với các em HS ở Thành phố Hồ Chí Minh Nếu GV chỉ dạy học theo những chỉ dẫn trong SGK thì không sát với thực tế và điều này đồng nghĩa với việc HS khó có thể vận dụng kinh nghiệm sống và vốn hiểu biết của mình để trình bày về nội dung liên quan đến bài học.
Một loạt bài liên quan đến kiến thức về tự nhiên thuộc các chủ đề về thiên văn học (các bài Mặt trời; Trái Đất, Quả địa cầu; Sự chuyển động của Trái Đất; Trái Đất là một hành tinh trong hệ Mặt Trời; Mặt Trăng là vệ tinh của Trái Đất; Ngày và đêm trên Trái Đất; Năm, tháng và mùa; Các đới khí hậu; Bề mặt Trái Đất; Bề mặt lục địa); liên quan đến động - thực vật (các bài Thực vật; Thân cây; Rễ cây; Lá cây; Khả năng kì diệu của lá cây; Hoa; Quả; Động vật; Côn trùng; Tôm, cua; Cá; Chim; Thú) cũng vậy Những hình ảnh được sử dụng để minh họa cho các bài thuộc các chủ đề Gia đình, Trường học, Quê hương chưa phù hợp với thực tế Điều này gây khó khăn cho sự lĩnh hội của HS, vì tư duy của các em ở giai đoạn này là tư duy trực quan cụ thể Vì thế GV cần tạo điều kiện cho HS tiếp cận trực tiếp với những đối tượng học tập này, nó sẽ giúp HS hứng thú hơn với nội dung bài học, giúp cho các em có thêm nhiều hiểu biết
về môi trường TN&XH xung quanh, giúp cho vốn từ cũng tăng lên đáng kể
Hơn nữa, thời lượng 35 phút cho một bài học cũng gây khó khăn cho GV trong
Trang 38việc dạy tích hợp GV chạy theo các hoạt động nhằm đảm bảo mục tiêu bài học nên việc HS tiếp thu nội dung bài học đến đâu cũng như dạy học tích hợp chưa được quan
tâm Chẳng hạn, khi dạy bài Phòng cháy khi ở nhà (SGK tr 44-45), GV phải tập trung
hoàn thành mục tiêu bài học là: 1/ HS xác định một số vật dễ gây cháy và giải thích vì sao không được đặt chúng ở gần lửa 2/ HS nói được những thiệt hại do cháy gây ra 3/
HS nêu được những việc làm để phòng cháy khi đun nấu ở nhà Với thời lượng ngắn ngủi cùng với áp lực hoàn thành đủ và đúng mục tiêu của bài, GV chỉ kịp giảng dạy với những kiến thức sẵn có trong SGK, chưa mở rộng thêm kiến thức từ thực tế cuộc sống và chưa chú trọng đến việc hình thành kĩ năng sống cho HS về vấn đề phòng cháy cũng như những việc làm cần thiết khi gặp đám cháy Trong khi đó, việc mở rộng kiến thức ngoài SGK giúp ích rất nhiều trong việc MRVT cho HS
Một điểm không thuận lợi nữa cho GV khi dạy học tích hợp MRVT với dạy học môn TN&XH là ở chỗ sắp xếp thời gian dạy học hai môn này với cùng chủ điểm không cùng lúc, không trùng nhau Chẳng hạn, ở chủ đề về gia đình, các bài học môn Tiếng Việt được sắp xếp giảng dạy vào tuần 3, 4 trong khi đó các bài có chủ đề gia đình thuộc môn TN&XH lại phân bố ở tuần 10, 11; hay chủ đề về trường học được xếp trong các bài dạy ở tuần 5, 6 của môn Tiếng Việt còn môn TN&XH có cùng chủ
đề lại thuộc tuần 12, 13; hoặc chủ đề về thiên nhiên trong môn TN&XH được dạy vào tuần 18, 19 thì các bài dạy môn Tiếng Việt có nội dung về thiên nhiên lại được dạy ở tuần 33, 34 Với khoảng cách thời gian khá xa cho các bài học có cùng chủ điểm thì việc liên hệ kiến thức giữa 2 môn học sẽ gặp nhiều khó khăn Mà GV thì chưa mạnh dạn trong việc thay đổi thứ tự các bài học khác với khung chương trình có sẵn Việc sắp xếp như vậy rõ ràng không thuận lợi cho việc dạy học tích hợp hai môn học này
GV sẽ khó khăn trong việc kết nối nội dung của chủ đề, HS gặp trở ngại khi phải huy động vốn từ đã học từ trước đó Như vậy, MRVT theo chủ đề bị gián đoạn GV gặp khó khăn trong việc hệ thống vốn từ để HS dễ nắm bắt kiến thức bài học còn HS thì khó khăn trong việc ghi nhớ từ
Ngoài SGK, SGV cũng là một phương tiện dạy học hữu ích mà nhiều GV luôn tin dùng Nếu nói vui SGK là cánh tay trái đắc lực của GV thì SGV chính là cánh tay phải Kế hoạch bài dạy trong SGV bám sát nội dung SGK, hướng dẫn cụ thể và chi tiết
Trang 39từng mục tiêu bài học, từng hoạt động dạy học được tiến hành trên lớp Bám sát SGV, người dạy sẽ không thấy khó khăn khi giảng dạy bất kì tiết học nào ở lớp Từ mục tiêu bài dạy, nội dung của từng hoạt động, đồ dùng dạy học, phương tiện dạy học đến những lời giảng giải, kết luận của GV đều được trình bày sẵn trong mỗi kế hoạch bài dạy của SGV Cũng chính những điểm thuận lợi đó mà sự sáng tạo của GV dần mất đi không theo kịp sự biến đổi không ngừng của cuộc sống xung quanh Để dạy tốt môn TN&XH, GV cần cập nhật, bổ sung những kiến thức thực tế, những điều gần gũi với
HS HS sẽ hứng thú hơn khi trao đổi với thầy cô và bạn bè về những điều mình biết, những vấn đề mình được trải nghiệm Qua trao đổi, vốn từ của HS sẽ được tích lũy nhiều hơn, việc sử dụng từ ngữ cũng tốt hơn
Để làm rõ hạn chế trên, chúng tôi xin đưa một ví dụ cụ thể về bài dạy Các hoạt
động thông tin liên lạc (SGK, tr 56 – 57) Bài này được SGV thiết kế bám sát nội dung
SGK Các hoạt động đưa ra nhằm mục đích giúp HS tìm hiểu kĩ về các hoạt động cũng như lợi ích của bưu điện – một hình thức liên lạc phổ biến trước đây Nếu GV chỉ dựa vào những hướng dẫn có sẵn trong SGV, tiến hành giảng dạy những nội dung không phù hợp với thực tế xã hội hiện đại thì tiết học sẽ trở nên nhàm chán khi chỉ một mình
GV là người truyền tải kiến thức cho HS HS sẽ không có bất cứ phản hồi nào bởi hình thức thông tin liên lạc bằng đường bưu điện khá xa lạ đối với đa số HS tiểu học hiện nay Vì xa lạ nên các em chẳng có gì để nói, để bàn luận trao đổi Tiết học sẽ trở nên nhàm chán, không kích thích được sự hứng khởi, say mê của HS, không phát huy được năng lực của các em, các em mất đi cơ hội để phát biểu, cơ hội để lắng nghe những chia sẻ của các bạn, cùng đó là cơ hội để phát huy và phát triển vốn từ Thay vì bám sát SGV, GV có thể dựa vào SGV kết hợp với kiến thức thực tế để làm mới tiết học, giúp tiết học phong phú, sinh động hơn, thu hút sự tham gia của HS GV có thể giới thiệu về hình thức liên lạc ngày xưa (bưu điện), yêu cầu HS trao đổi nhóm để kể ra những hình thức liên lạc hiện nay mà các em biết Trong quá trình làm việc nhóm, trao đổi với bạn về nội dung bài học, kết hợp nghe GV giải thích, chốt ý, HS có cơ hội tiếp nhận từ mới, học hỏi cách dùng từ, sử dụng câu Vốn từ của HS qua đó cũng sẽ tăng lên đáng kể
Trang 40Như vậy, có thể thấy trong giờ học TN&XH, hoạt động nghe – nói được diễn ra thường xuyên, cơ hội MRVT tăng lên thông qua hai hoạt động này Hoạt động đọc và viết ít được GV quan tâm hơn dẫn đến cơ hội MRVT thông qua hai hoạt động này cũng bị hạn chế Tuy nhiên, cả 4 hoạt động nghe – nói – đọc – viết có liên quan mật thiết cần được tiến hành song song và thường xuyên để việc tiếp thu kiến thức của HS chắc chắn hơn, vốn từ được phát triển một cách hệ thống và lưu giữ bền vững hơn
Ngoài SGK và SGV, VBT TN&XH cũng là một phương tiện hỗ trợ khá tốt cho
GV và HS trong các hoạt động học tập VBT TN&XH được thiết kế nhằm giúp HS rèn luyện các kĩ năng học tập, thực hành, và củng cố, khắc sâu kiến thức VBT TN&XH được thiết kế với 4 dạng chủ yếu là: Nối hình vẽ (hoặc ô chữ) với hình vẽ (hoặc ô chữ) cho phù hợp; Đánh dấu X hoặc viết chữ Đ vào trước câu trả lời đúng, S vào trước câu trả lời sai; Viết vào ô trống những từ hoặc câu phù hợp; Trả lời câu hỏi ngắn Mỗi dạng chúng tôi xin đưa ví dụ minh họa cụ thể như sau:
Dạng nối hình vẽ (hoặc ô chữ) với hình vẽ (hoặc ô chữ) cho phù hợp
VD: Nối những cụm từ thể hiện hoạt động nông nghiệp với vòng tròn ở giữa
Khai thác dầu mỏ Hoạt động nông nghiệp